Chúng ta hảy quay lại chuyện RỒNG theo Tâm lý học chiều sâu (C G Jung - Psychanalyse/ Psychologie approfondie) thông qua qua Bài viết của tác giả Ngô Hương Giang (Báo Điện tử Tổ Quôc/ Đời sống văn học):
http://vanhocquenha.vn/vi-vn/113/49/...ng/108627.html
phần
>>
Ứng dụng phân tâm học trong nghiên cứu
Ứng dụng phân tâm học trong nghiên cứu văn hóa Việt Nam
“Văn hóa” là một thể phức tạp, “là một hệ chuẩn mực, mật mã, giá trị, biểu tượng. Con người -chính vì nó là người- không chỉ có một “thế giới thực” (monde réel) mà còn sáng tạo ra một “thế giới các biểu tượng” (mone de représentations) mô phỏng rồi lại dẫn dắt về hiện thực”
[32].
Định nghĩa về văn hóa có tới hàng trăm cách định nghĩa, cấu trúc về văn hóa có đến hàng chục cách phân chia. Vậy, giới hạn nào của văn hóa là điểm nhìn mà phân tâm học hướng tới? Xác lập vấn đề trên là một điều khó và có tính tương đối. Đứng trên bình diện văn hóa học, có thể phân chia cấu trúc văn hóa ra làm hai phần: văn hóa nhân văn và văn hóa ngoài nhân văn. Văn hóa nhân văn lấy
con người làm đối tượng nghiên cứu và là tiêu điểm để phân tâm học hướng tới. Văn hóa ngoài nhân văn lấy
cảnh quan (nhân tạo và phi nhân tạo) làm đối tượng tìm hiểu và là tiêu điểm để khảo cổ học, lịch sử học hướng tới. Cách phân chia này, ở một mặt nào đó chưa bao quát được tất cả những hằng số kết tạo nên văn hóa, nhưng về cơ bản là rõ ràng, có ranh giới và có điểm nhấn. Trong cấu trúc văn hóa nhân văn lại có thể chia thành những hằng số nhỏ hơn: văn hóa tâm linh, ngôn ngữ, tư duy dân tộc, tính cách dân tộc. Nhiệm vụ của phân tâm học khi đi vào văn hóa Việt Nam là phải mổ xẻ, phân tích và đưa ra những kết luận phù hợp về các hằng số thuộc văn hóa nhân văn này.
Ở Việt Nam do đặc thù, nằm trong vùng ảnh hưởng của tư tưởng Á Đông, cho nên tôn giáo và tín ngưỡng tồn tại trong trạng thái hoà hợp, tôn trọng và tác động lẫn nhau. Vì vậy, nhiều nhà văn hóa khi áp dụng phân tâm học vào nghiên cứu văn hóa Việt Nam thường xem xét, nghiên cứu với cái nhìn qua lại giữa tôn giáo và tín ngưỡng trong một cái
bọc chung là văn hóa tâm linh. Trong văn hóa tâm linh việc tìm hiểu mặc cảm Oedipe và biểu tượng tôn giáo, totem, có thể xem như đã mở ra cho con người cõi sâu thẳm tâm hồn, điều mà Jung cho là một dạng biểu hiện của
Vô thức tập thể. A. Hesnard đặt câu hỏi: “Adam bị Eve xúi giục phạm tội và hai người bị Chúa Cha đầy ải, từ đấy họ biết xấu hổ vì thấy mình không có gì che thân. Thần thoại đó có ý nghĩa gì? Huyền tượng Thánh Nữ Đồng Trinh phải chăng có ý nghĩa gây một ấn tượng thanh khiết về vị thánh nữ, xoá bỏ hình ảnh nhục dục coi như một sự cấm đoán? Ông nghĩ đến những ý nghĩa của thần thoại Oedipe và mặc cảm “bị hoạn”. Nhà Phân tâm học Westerman - Holdstyn nghiên cứu mặc cảm Oedipe, cho rằng tôn giáo nào, nhất là tôn giáo cổ thời, cũng có tác dụng làm rung động sâu xa phần tiềm thức của con người. Qua những trạng thái xuất thần nhập hoá, tham thiền, con người muốn hoà mình với thiên nhiên. Con người phóng rọi những mê vọng của mình vào các đấng thần linh. Người ta phóng rọi những tâm trạng sâu xa thầm kín và gần thiên nhiên nhất. Bởi vậy, người nghiên cứu nghĩ rằng muốn hiểu người xưa có ý nghĩa sâu xa nhất về cuộc đời như thế nào phải tìm hiểu các thần linh và thần thoại của họ”
[33]. Trong cuốn
Thăm dò tiềm thức, chương nói về siêu tượng, Jung đã trình bày quan niệm của ông về biểu tượng tôn giáo. Siêu tượng, hay “vết tích bàn cổ”, hay “hình ảnh nguyên thuỷ” là “những cách biểu lộ nguồn sống của cái psyché (linh hồn)”. “Psyché là nền móng của tinh thần trong con người”. Theo ông, “siêu tượng không phải là hình ảnh hay ý tượng nhất định về thần thoại, về biểu tượng tôn giáo; nó là những khuynh hướng tạo ra thần thoại và biểu tượng tôn giáo”. Khuynh hướng đó ở “trong thế giới tiềm thức, thế giới của thực thể tâm thần, còn biểu tượng tôn giáo, biểu tượng giấc mơ và thần thoại là những sản phẩm của ý thức... Người ta không biết gì về nguồn gốc của siêu tượng, siêu tượng có thể biểu lộ vào bất cứ thời nào, bất cứ ở đâu trên khắp thế giới”.
Cách nhìn của Jung làm thất vọng những học giả trung thành với thuyết của Freud, vì họ không muốn tìm sự giải thích ở ngoài con người. Trong túi khôn của văn hóa Việt Nam,
truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ với
cái nhạy cảm kích dục sản sinh ra một trăm người con từ lâu trong tâm thức người Việt là huyền thoại đẹp, mở ra tục lệ thờ cúng tổ tiên và trở thành kiêu hãnh, ẩn vào vô thức với lòng tự nhủ “con rồng cháu tiên”.
Và từ lâu,
Rồng đã trở thành biểu tượng được đề cập nhiều trong lĩnh vực văn hóa. Các nhà nghiên cứu đã khai thác ở nhiều khía cạnh của siêu tượng ấy, tìm ra đặc thù biệt hóa.
Rồng là con vật có tính tưởng tượng siêu hình của các dân tộc ở Á Đông. Vậy Totem rồng của người Việt liệu có phải là sản phẩm tất yếu của quá trình ảnh hưởng văn hóa hay nó là biểu trưng của tính cách Việt. Đề cập đến vấn đề này có thể có ý kiến cho là sáo ngữ, nhưng sẽ không phải là nói quá khi khẳng định điều trên.
Thứ nhất, biểu tượng rồng xuất hiện ở Việt Nam gắn liền với huyền thoại về “bọc trăm trứng”, khẳng định nguồn gốc sáng rõ của nó, nó có cơ sở thực tiễn tưởng tượng mà không phải là sự giao thoa ngẫu nhiên.
Thứ hai, thần thoại hay truyền thuyết bao giờ cũng là sản phẩm của tư duy thuần túy
thuở dã man, tất yếu, nó phải biểu trưng cho một mong ước hay niềm kính phục nào đó, điều này được coi là công thức chung khi nhìn nhận về kho thần thoại trên thế giới. Và như vậy, rồng, ở một khía cạnh, có thể xem như là Totem của người Việt, cũng là lẽ hợp lý. N.I.Niculin là nhà Việt Nam học xuất sắc, ông đã áp dụng phân tâm học ở góc độ nhìn nhận những “cổ mẫu” để giải thích về biểu tượng rồng ở Việt Nam, một cách có lý.
Trong tiểu luận
Rồng Việt Nam và dòng sông Vonlga in trong
Dòng chảy văn hóa Việt Nam, ông đã chỉ ra những cơ sở để khẳng định “rồng có thể coi là Totem của Việt Nam” phù hợp với tính cách riêng của người Việt Nam, không lẫn với các nước có biểu tượng Rồng. Dựa vào huyền thoại về lạc long quân in trong
Lĩnh Nam chích quái và đặc điểm văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước, Niculin cho rằng “rõ ràng ở đây có sự so sánh với với những nhân vật xuất hiện dưới dạng người …Tuy nhiên, trong văn hóa truyền thống của người Việt, hình tượng con Rồng - một con vật tưởng tượng- trở thành biểu tượng quan trọng nhất. Điều đó được xây dựng bởi một yếu tố có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với cuộc sống của người Việt: Đồng bằng châu thổ sông Hồng, các sông hồ nói chung đã tạo nên cái nôi của nền văn hóa Việt. Chính người Việt từ xưa đã biết trồng lúa nước và đánh cá”
[34]. Bằng việc thực nghiệm hệ thống sông ngòi chằng chịt, được coi là con đường thông thương chính một thời trong lịch sử kinh tế dân tộc, Niculin đi đến khẳng định: “hoàn toàn có cơ sở để cho rằng hình tượng con rồng trong văn hóa Trung Hoa có nguồn gốc từ phương Nam, từ vùng Đông Nam Á, từ Việt Nam và các quốc gia láng giềng”
[35] và như vậy, Rồng được coi như một dạng Totem của người Việt là có cơ sở. Ông cho rằng điều này hợp lý, bởi vì: “con rồng của người Việt tượng trưng cho nước- thứ vô cùng quý giá đối với người nông dân, rồi, theo logic, nó trở thành biểu tượng của ấm no và hạnh phúc. Một cách tự nhiên, biểu tượng này thuộc về hoàng đế”, trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, “hình ảnh con Rồng cao quý có sự tương phản với con rắn thấp hèn”, như minh chứng về niềm tự hào trong tính cách người Việt- những con người tuy chịu nhiều đau khổ trong đời sống lam lũ, song lại có nguồn gốc cao quý từ “con rồng cháu lạc”.
Chính điều này là điểm gánh, nâng đỡ tâm hồn người Việt trong gian khổ, vẫn đứng vững và sáng ngời tinh thần dân tộc, dù là “nghèo” nhưng “không hèn”, dù “đói” nhưng sống “sạch”, dù “rách” nhưng vẫn “thơm”. Đó là phẩm chất chung mang tính cộng đồng của người Việt. Những kết luận trên của Niculin không chỉ dựa vào tính cách và văn hóa người Việt để xây dựng thành lý thuyết về vật tổ của người Việt, để thuyết phục hơn, ông đã căn cứ vào thực nghiệm lịch sử để kết luận hợp lý: “Rồng trở thành biểu tượng của nhà vua. Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi vào thế kỷ X, một trong các hoàng đế việt (Lê Long Đĩnh) lại có biệt danh là Ngọa Long,
từ thế kỷ XI thủ đô của đất nước có tên là Thăng Long. Những địa danh Long và Rồng xuất hiện khắp Việt Nam…
[những biểu tượng về tên địa danh] có toàn bộ các mối liên kết”
[36]. Tích về Thăng Long vẫn còn như để làm rõ thêm ý kiến trên của Niculin. Thăng Long nghĩa là rồng bay, biểu trưng cho sự phồn hoa cho đất nước, dân tộc. Như vậy, việc sử dụng phân tâm học vào việc nghiên cứu hình ảnh rồng, với tư cách là
siêu tượng, trên cơ sở ấy khái quát về tính cách của dân tộc Việt, ở khía cạnh nào đó có thể xem ứng dụng này của Niculin là thành công. Tiến sĩ H. R. Ferraye cho rằng, “nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam là tính cách
không chối từ (non refus) của nó”
[37]. Nghiên cứu về rồng cũng chính là nghiên cứu sâu về yếu tố “nước” (nước là môi trường sống của Rồng), ở một góc độ nào đó theo phân tâm học cũng có thể coi là một dạng
cổ mẫu, bởi vì nó mang sức nặng tâm linh, tâm hồn và tính cách của cả nhân dân Việt Nam.
Bằng việc nghiên cứu đặc trưng “
nghiệm sinh và nội tâm hóa” (intériorité) của nước, Trần Quốc Vượng xem “nước có lòng đại lượng khoan dung (Générosité), biết
gạn đục khơi trong giống như tính người Việt Nam”
[38]. Chẳng vậy, giặc phương Bắc đô hộ hàng nghìn năm mà văn hóa của ta vẫn là văn hóa của dân tộc Việt, làm kẻ thù phải
khóc đứng khóc ngồi, vì sự thất bại trong âm mưu đồng hóa của chúng. Việc coi nước như là một
siêu tượng trong văn hóa Việt Nam, được Trần Quốc Vượng đưa ra vào năm 1987 trong
Một nét bản sắc của văn hóa Việt Nam: khả năng ứng biến.Với tiểu luận này, Trần Quốc Vượng áp dụng nhiều phương pháp nghiên vào cứu văn hóa Việt Nam, trong đó, có phân tâm học. Ông chứng minh thuyết phục về tính linh hoạt, ứng biến của nước cũng giống như tính cách của người Việt. Quan điểm của ông cũng giống như ý kiến của Niculin, khi cho rằng nước chính là biểu hiện của một dạng “cổ mẫu” hay “siêu tượng” của dân tộc Việt Nam. Ông tâm sự: “tôi nghĩ đến cái triết lý chuẩn mực sống của người trí thức thời Trần “hòa quang đồng trần” (hòa ánh sáng và bụi bặm). Sống ở đời, không thể không dính đến chút bụi trần, thì có sao đâu nếu nội lực vẫn thâm hậu và luôn phát sáng. Nghĩ về nước, tôi nghĩ đến hai triều đại quân chủ Việt Nam có gốc gác dân chài: triều Trần và triều Mạc. Cả hai đều có tư duy phóng khoáng, cởi mở, không câu nệ và bảo thủ, không độc đoán và hẹp hòi…Nó dung hòa hay thậm chí làm vật đối trọng của cái căn tính nông dân- địa chủ khá thâm căn cố đế của một nhà Lý ở Đình Bảng xứ Bắc, của một nhà Lê ở xứ Thanh”
[39].
Một điểm đặc biệt cần phải đề cập đến văn hóa Việt Nam, đó là tín ngưỡng dân gian, trong đó tín ngưỡng thờ mẫu được coi là nền tảng tinh thần của văn hóa Việt Nam. Với người Việt, mọi hành vi ứng xử với thiên nhiên, con người đều lấy tính cách hiền hòa, bao dung của người mẹ làm làm trung tâm của mọi nhận thức. Vì vậy, nói đến văn hóa Việt Nam là nhắc đến tín ngưỡng thờ mẫu, dù là ở đâu, bất cứ nơi nào trong cái nôi văn hóa cộng đồng, bên cạnh việc thờ thành hoàng làng với gốc đa, giếng nước, thường đi kèm với hệ thống miếu mạo thờ các đức Thánh mẫu. Ở Nam Định thì có đền thờ chúa Liễu Hạnh, ở Hà Tây có đền thờ bà chúa Kho, người Chăm thì thờ Poh Nagar, Sài gòn thì thờ bà chúa Ngọc, bà chúa Động…Nguyên nhân dẫn đến tín ngưỡng trên là do, người phụ nữ từ lâu đã gắn kết mình với việc sinh nở, mà nguồn gốc của các loài động vật đều sinh ra từ “Yoni” nên việc thờ mẫu hay thờ sinh thực khí âm (âm hộ) là hình thức quay trở về giấc mơ tập thể ngàn năm với ước muốn phồn thịnh. Nghiên cứu về văn hóa thờ mẫu dưới nhãn quan phân tâm học có đóng góp của Trần Quốc Vượng với tiểu luận
Nguyên lý mẹ của nền văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm với
Cơ sở văn hóa Việt Nam, Từ Chi với
Tìm hiểu văn hóa và tộc người hay trước đó nữa là Phạm Quỳnh, và đặc biệt là hai học giả Pháp nghiên cứu về văn hóa Việt Nam là M. Durand và P. Huard với
Về Việt Nam (Connaissance du Việt Nam)… Nhìn chung những công trình của các tác giả trên, tuy với hướng đi khác nhau, nhưng về đại thể đều nhấn mạnh đến thuộc tính sinh nở của người phụ nữ với triết lí “phồn thực” quen thuộc, từ đó quy định tính cách phụ nữ Việt Nam: “nhất vợ nhì trời”, “tháng chín thì quýt đỏ trôn/ tháng ba ngái mọc cái con tìm về”, “con dại cái mang”…Đặc biệt là lí giải của Trần Quốc Vượng với
Nguyên lý mẹ của nền văn hóa Việt Nam, giải thích cặn kẽ tại sao nhân tố nữ giới có ảnh hưởng mạnh đến văn hóa Việt. Ông lục lại truyền thuyết Lạc long quân và Âu cơ để minh chứng, trong đó có đoạn ông lập luận, “ từ thế kỷ XV trở về trước, trong sử sách (Toàn thư Lĩnh Nam chích quái) khi ghi lại huyền thoại khởi nguyên luận đều chép đến cặp vợ chồng Âu Cơ- Lạc Long Quân: Mẹ Tiên Âu trách chồng mải rong chơi không chăm sóc con cái
khiến con cái không biết mình có bố và quyết định chia đôi con cái: 50 theo bố xuống miền sông biển, 50 con theo mẹ lên vùng đồi núi. Sơn Tinh (Thánh Tản Viên- Ba Vì) ban đầu theo cha xuống biển sau vì
nhớ mẹ lại ngược sông về non theo mẹ rồi cho đến hôm nay vẫn là vị thần Đệ nhất (Bách thần nguyên thủy) đứng đầu “tứ bất tử” của thần điện Việt- Mường”
[40]. Các con của Âu Cơ sau thời gian dài chưa phân chia đôi ngả, ở một khía cạnh nào đó có thể lí giải bằng
mặc cảm ấu thơ, việc gần mẹ là để thỏa mãn vô thức được bú, được ẵm trên đùi thỏa mãn khát dục ấu thời và đó cũng là khi Anima, Animus đang ở dạng nguyên hợp trong mỗi chất thể, chưa có sự phân định rõ ràng. Với Sơn Tinh, cái cảm giác
nhớ mẹ có thể xem như là biểu hiện của mặc cảm Oedipe (Complexe d’Œdipe), là hình thức về với những giấc mơ ấu thời được ân ái, gần gũi cùng mẹ, là "hình thức thỏa mãn cơn
khát dục vốn có mầm mống từ vô thức của hầu hết mọi bé trai".
>>
31] Nhiều tác giả (2000), Phân tâm học và văn học nghệ thuật, Sđd, tr. 71.
[32] N.I.Niculin (2006), Dòng chảy văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin H, tr. 39.
[33] Vũ Đình Lưu (1969), Áp dụng phân tâm học vào các ngành học vấn, Tổ hợp GIÓ xuất bản.
[34] N.I.Niculin (2006), Dòng chảy văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin H, tr. 487.
[35] N.I.Niculin (2006), Dòng chảy văn hóa Việt Nam, Sđd, tr. 488.
[36] N.I.Niculin (2006), Dòng chảy văn hóa Việt Nam, Sđd, tr. 488.
[37] Dẫn theo Trần Quốc Vượng (2003), Văn hóa Việt Nam- tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn học, Hà Nội.
[38] Trần Quốc Vượng (2003), Văn hóa Việt Nam- tìm tòi và suy ngẫm, Sđd, tr. 36.
[39] Trần Quốc Vượng (2003), Văn hóa Việt Nam- tìm tòi và suy ngẫm, Sđd, tr. 37.
[40] Trần Quốc Vượng (2003), Văn hóa Việt Nam- tìm tòi và suy ngẫm, Sđd, tr. 468.
[FONT=Arial]
![[r32)]](images/smilies/smlove2.gif)
@}