SAu đây em tiếp tục post tiếp các phần sau của luật BÓNG RỔ này.
3.5 Những phương tiện và thiết bị yêu cầu cho những giải quan trọng sau đây của FIBA
Thi đấu Olympic, Giải Vô địch Thế Giới Nam, Nữ, trẻ, Nam, trẻ Nữ, Thiếu niên Nam và Thiếu niên Nữ; Những giải Vô địch Lục địa Nam, Nữ, trẻ Nam và trẻ Nữ. Những phương tiện và thiết bị này cũng đều được sử dụng cho tất cả những giải khác.
3.5.1 Tất cả khán giả ngồi cách cạnh ngoài của sân thi đấu ít nhất là 5m.
3.5.2 Mặt sân thi đấu phải được :
* Được làm bằng gỗ.
* Đường biên rộng 5cm.
* Đường giới hạn được vẽ màu tương phản với mặt sân và rộng ít nhất là 2m (H.10). Màu của đường giới hạn nên cùng màu với vòng tròn giữa sân và khu vực giới hạn.
3.5.3 Có 4 cây lau sàn, mỗi hiệp sử dụng 2 cây lau sàn.
3.5.4 Bảng rổ làm bằng kính an toàn cứng.
3.5.5 Bóng làm bằng da và được ban tổ chức giải chấp thuận. Ban tổ chức phải cung cấp ít nhất 12 quả bóng giống nhau để khởi động.
3.5.6 Ánh sáng trên sân thi đấu không được nhỏ hơn 1.500 Lux. Được đo cách mặt sân 1,5m.
Ánh sáng phải đáp ứng tốt cho yêu cầu của truyền hình.
3.5.7 Sân thi đấu được trang bị thiết bị điện tử như sau và phải được bàn thư ký, sân thi đấu, băng ghế ngồi của đội, và mọi người liên quan đến trận đấu kể cả khán giả được nhìn thấy rõ ràng :
3.5.7.1 Hai bảng (hình khối) đặt ở trên cao giữa sân thi đấu, cũng cần thiết có thêm 2 bảng đặt ở hai đầu sân.
* Một bảng (hình khối) đặt ở trên cao giữa sân thi đấu, cũng cần thiết có thêm 2 bảng đặt ở hai đầu sân.
* Một bảng điều khiển đồng hồ thi đấu cho người theo dõi thời gian thi đấu và một bảng điều khiển riêng cho người phụ tá của thư ký.
* Những bảng điểm có đồng hồ thi đấu có số đếm lùi và âm thanh rất lớn tự động báo khi hết thời gian thi đấu của một hiệp hoặc hiệp phụ.
* Đồng hồ thi đấu và điểm của trận đấu hiện trên bảng điểm phải có chiều cao ít nhất là 30cm.
* Tất cả những đồng hồ hoạt động phải đồng bộ và có tác dụng nhằm thông báo tổng số thời gian còn lại của trận đấu.
* Ít nhất trong 60 giây cuối của mỗi hiệp, tổng số thời gian còn lại phải được thông báo bằng giây và từ 1/10 của giây.
* Một trong những đồng hồ này sẽ được trọng tài chính chỉ định là đồng hồ thi đấu.
* Bảng điểm cũng sẽ thông báo các thông tin : (H.11).
- Số áo của mỗi đấu thủ và, tốt nhất là có họ tên.
- Số điểm đã ghi được của mỗi đội và tốt nhất là có số điểm đã ghi của mỗi đấu thủ.
- Số lỗi đã phạm của đấu thủ của một đội (Thư ký vẫn phải sử dụng các bảng báo lỗi để thông báo số lần lỗi).
- Số lỗi đồng đội từ 1 đến 5 (có khả năng dừng lại ở số cao nhất là sô 5).
- Số thứ tự của hiệp thi đấu từ số 1 đến số 4, và chữ E cho một hiệp phụ.
- Số lần hội ý từ số 0 đến số 2.
3.5.7.2 Đồng hồ 24 giây (H.12), có hai đồng hồ và một đèn màu đỏ, được đặt ở trên, sau mỗi bảng rổ và cách bảng rổ từ 30 ?" 50cm (H.6).
* Đồng hồ 24 giây được tự động đếm lùi, thông báo và thời gian bằng giây và có tín hiệu âm thanh rất lớn để thông báo khi kết thúc một đợt 24 giây.
* Đồng hồ 24 giây được kết nối với đồng hồ thi đấu chính để :
- Khi đồng hồ thi đấu chính dừng lại, đồng hồ 24 giây cũng sẽ dừng lại.
- Khi đồng hồ thi đấu chính bắt đầu chạy, đồng hồ 24 giây được bắt đầu chạy bằng điều khiển tay.
* Màu số đồng hồ 24 giây và đồng hồ thi đấu phải có màu khác nhau.
* Tất cả những đồng hồ thi đấu phải được mọi người liên cũng như khán giả nhìn thấy rõ ràng.
* Bóng đèn ở phía trên và ở phía sau mỗi bảng rổ sẽ :
- Hoạt đồng bộ với đồng hồ 24 giây, đèn đỏ sáng lên khi có tín hiệu âm thanh kết thúc một đợt 24 giây.
Chương III : NHIỆM VỤ CỦA TRỌNG TÀI, BÀN THƯ KÝ VÀ CỐ VẤN KỸ THUẬT
ĐIỀU 4 : TRỌNG TÀI, BÀN THƯ KÝ VÀ CỐ VẤN KỸ THUẬT
4.1 Trọng tài gồm trọng tài chính và trọng tài phụ, giúp việc cho trọng tài có các nhân viên của bàn thư ký và một cố vấn kỹ thuật, nếu có.
Do yêu cầu của FIBA, cũng như là của tổ chức khu vực hoặc của Liên đoàn quốc gia, có thể áp dụng hệ thống ba trọng tài, gồm một trọng tài chính và hai trọng tài phụ.
4.2 Nhân viên bàn thư ký gồm : Một thư ký, một trợ lý của thư ký, một người theo dõi giờ thi đấu, và một người theo dõi đồng hồ 24 giây.
4.3 Có thể có một cố vấn kỹ thuật. Cố vấn kỹ thuật ngồi giữa thư ký và người theo dõi thời gian thi đấu. Nhiệm vụ của cố vấn kỹ trong trận đấu trước tiên là giám sát công việc của bàn trọng tài và giúp cho trọng tài chính và trọng tài phụ điều khiển tốt trận đấu.
4.4 Không nên quá nhấn mạnh rằng trọng tài chính và trọng tài phụ của một trận đấu không được có mối liên hệ nào với thành viên của các tổ chức của đội đang thi đấu trên sân.
4.5. Các trọng tài, nhân viên bàn thư ký hoặc cố vấn kỹ thuật điều khiển trận đấu không có quyền thống nhất với nhau để thay đổi những Điều luật này.
4.6 Đồng phục của trọng tài : Áo thun màu xám, quần tây dài màu đen, giầy bóng rổ màu đen và tất đen.
4.7 Những giải chính thức của FIBA nhân viên bàn thư ký phải mặc đồng phục.
ĐIỀU 5 : TRỌNG TÀI CHÍNH : TRÁCH NHIỆM VÀ CÓ QUYỀN HẠN
Trọng tài chính sẽ :
5.1 Kiểm tra và chấp thuận mọi thiết bị sử dụng trong trận đấu.
5.2 Chỉ định đồng hồ thi đấu chính, đồng hồ 24 giây, đồng hồ điều khiển thời gian nghỉ và cũng như chấp thuận các nhân viên của bàn thư ký.
5.3 Không cho phép bất cứ một đấu thủ nào mang đồ vật có thể gây nguy hiểm cho các đấu thủ khác.
5.4 Điều khiển cho nhảy tranh bóng ở vòng tròn giữa sân để bắt đầu mỗi hiệp của trận đấu và mỗi hiệp phụ.
5.5 Có quyền dừng trận đấu khi điều kiện cho phép.
5.6 Có quyền quyết định cho một đội bỏ cuộc nếu đội đó từ chối thi đấu sau khi được giải thích để dàn xếp một điều gì đó hoặc nếu bằng hành động của họ nhằm ngăn cản trận đấu tiếp tục.
5.7 Kiểm tra cẩn thận tờ ghi điểm khi kết thúc hiệp thứ hai hoặc hiệp thứ tư hoặc bất kỳ hiệp phụ nào, hay bất cứ lúc nào thấy cần thiết sẽ kiểm tra tờ ghi điểm, chấp thuận số điểm và thời gian còn lại của trận đấu.
5.8 Có quyết định sau cùng bất cứ khi nào cần thiết hoặc khi các trọng tài bất đồng ý kiến. Để có quyết định cuối cùng, trọng tài chính có tham khảo ý kiến với trọng tài phụ, cố vấn kỹ thuật hoặc với Ban trọng tài.
5.9 Có quyền quyết định về tất cả các điều không được ghi cụ thể trong những Điều luật này.
ĐIỀU 6 : TRỌNG THỜI GIAN VÀ VỊ TRÍ CHO NHỮNG QUYẾT ĐỊNH
6.1 Trọng tài có quyền quyết định đối với những vi phạm luật trong hay ở ngoài đường biên kể cả ở khu vực bàn thư ký, khu ghế ngồi của đội và khu vực sát ngay sau đường biên.
6.2 Quyền xử phạt có hiệu lực từ khi trọng tài đến sân thi đấu, đó là 20 phút trước khi trận đấu bắt đầu và quyền xử phạt kết thúc cùng với sự kết thúc của trận đấu được chấp thuận của trọng tài. Sự chấp thuận của trọng tài chính và ký vào tờ ghi điểm khi hết thời gian thi đấu cũng sẽ kết thúc nhiệm vụ của trọng tài với trận đấu.
6.3 Nếu có hành động phản tinh thần thể thao của đấu thủ, huấn luyện viên, huấn luyện viên phó hoặc người đi theo đội xảy ra giữa thời gian kết thúc thời gian thi đấu và trọng tài ký tên vào tờ ghi điểm, trọng tài ký tên vào tờ ghi điểm, trọng tài chính phải ghi được sự việc xảy ra ở bên lề trái của tờ ghi điểm trước khi ký tên trong tờ ghi điểm và cố vấn kỹ thuật hoặc trọng tài chính phải gửi một bản báo cáo chi tiết cho Ban tổ chức giải.
6.4 Nếu một đội thông báo là có sự phản đối về kết quả của trận đấu, trong vòng một giờ sau khi kết thúc thời gian thi đấu cố vấn kỹ thuật hoặc trọng tài chính phải có văn bản báo cáo sự việc xảy ra cho ban tổ chức giải.
6.5 Nếu có hiệp phụ, khi xảy ra thực hiện một hoặc nhiều quả ném phạt do một lỗi vi phạm đồng thời hoặc ngay trước khi kết thúc thời gian thi đấu của hiệp thứ tư hoặc một hiệp phụ, như vậy tất cả các lỗi phạm sau tín hiệu âm thanh báo cáo kết thúc giờ thi đấu, nhưng trước khi hoàn tất một hoặc nhiều quả ném phạt thì sẽ được coi như lỗi đã xảy ra trong thời gian nghỉ của trận đấu và được xử phạt theo Điều luật tương ứng.
6.6 Không một trọng tài nào có quyền bác bỏ hoặc nghi ngờ những quyết định nằm trong giới hạn nhiệm vụ riêng của từng trọng tài như đã ghi trong những Điều luật này.
ĐIỀU 7 : TRỌNG TÀI : NHIỆM VỤ KHI CÓ SỰ VI PHẠM.
7.1 Định nghĩa :
Tất cả những vi phạm luật hoặc phạm lỗi của đấu thủ chính thức, đấu thủ dự bị, HLV,HLV phó, hoặc người đi theo đội đều được coi là những vi phạm các Điều luật.
7.2 Thủ tục :
7.2.1 Khi có vi phạm luật hoặc có lỗi, trọng tài sẽ thổi còi và đồng thời làm dấu hiệu thích hợp để dừng đồng hồ thi đấu và bóng trở thành bóng chết (Xem sổ tay của Trọng tài, phần 7, những dấu hiệu và thủ tục).
7.2.2 Trọng tài sẽ không thổi còi khi bóng vào rổ do ném phạt hoặc bóng vào rổ được tính điểm trong khi đang thi đấu.
7.2.3 Sau một lỗi hoặc quyết định nhảy tranh bóng, trọng tài phải luôn luôn thay đổi vị trí trên sân.
7.2.4 Trong tất cả các trận đấu quốc tế, nếu cần thiết phải dùng lời nói để làm rõ quyết định của mình, trọng tài phải sử dụng tiếng Anh.
ĐIỀU 8 : TRỌNG TÀI BỊ CHẤN THƯƠNG
Một trọng tài bị thương hoặc vì bất kỳ lý do nào không thể tiếp tục làm nhiệm vụ trong vòng 10 phút, trận đấu sẽ được tiếp tục. Trọng tài kia sẽ làm nhiệm vụ một mình cho đến khi trận đấu kết thúc, trừ khi có khả năng thay thế trọng tài bị thương bằng một trọng tài khác có đủ tư cách. Sau khi trao đổi cố vấn kỹ thuật, trọng tài còn lại sẽ quyết định sự thay thế trên.
ĐIỀU 9 : THƯ KÝ VÀ TRỢ LÝ CỦA THƯ KÝ : NHIỆM VỤ
9.1 Thư ký sử dụng tờ ghi điểm chính để :
* ghi tên và số áo của các đấu thủ thi đấu đầu tiên và các đấu thủ dự bị vào sân thi đấu. Khi có sự vi phạm luật liên quan đến 5 đấu thủ thi đấu tiên, các đấu thủ dự bị hoặc số áo của các đấu thủ, thư ký sẽ thông báo cho trọng tài gần nhất càng sớm càng tốt khi phát hiện sự vi phạm đó.
* Ghi tóm tắt trình tự thời gian, tổng điểm được ghi và ghi lại những bàn thắng và những quả ném phạt được thực hiện.
* Ghi lại lỗi cá nhân và lỗi cá nhân và lỗi kỹ thuật của mỗi cá đấu thủ. Thư ký phải thông báo cho trọng tài ngay khi có bất kỳ một đấu thủ nào phạm lỗi lần thứ 5. Tương tự như vậy thư ký sẽ ghi lại những lỗi kỹ thuật của mỗi huấn luyện viên và đồng thời thông báo ngay cho trọng tài khi một huấn luyện và đồng thời thông báo ngay cho trọng tài khi một huấn luyện và đồng thời thông báo ngay cho trọng tài khi một huấn luyện viên bị trục xuất và phải rời khỏi trận đấu.
9.2 Thư ký cũng sẽ :
* Thông báo cho trọng tài khi có cơ hội hội ý của đội đã yêu cầu, ghi lại những lần hội ý của đội đã yêu cầu, ghi lại những lần hội ý qua trọng tài thông báo cho HLV khi đã hết lần hội ý trong mỗi hiệp.
* Thông báo số lần của mỗi đấu thủ . Mỗi lần có lần thủ phạm lỗi, thư ký giơ bảng số lần lỗi của đấu thủ đó để cho cả 2 HLV đều nhìn thấy.
* Vị trí của bảng báo lỗi đồng đội được đặt ở trên và cuối bàn thư ký gần băng ghế ngồi của đội, ngay khi bóng sống trở lại sau lỗi đồng đội lần thứ tư, do kết quả của lỗi cá nhân hoặc lỗi kỹ thuật của các đấu thủ của đội đó đã phạm trong mỗi hiệp.
* Cho thay người.
* Thư ký chỉ báo tín hiệu âm thanh khi bóng đã chết, và trước khi bóng sống trở lại. Tín hiệu âm thanh của thư ký không làm cho bóng trở lại. Tín hiệu âm thanh của thư ký không làm cho trở thành bóng chết.
9.3 Trợ lý thư ký điều khiển bảng báo điểm và phụ giúp cho thư ký.
Trong trường hợp có bất kỳ sự khác nhau nào giữa bảng điểm và tờ ghi điểm chính mà không thể giải quyết, tờ ghi điểm chính sẽ là cơ sở và bảng điểm sẽ được sửa theo.
9.4 Những sai lầm đáng chú ý sau đây có thể xảy ra trong khi ghi điểm :
* Qủa ném rổ 3 điểm nhưng chỉ ghi 2 điểm.
* Qủa ném rổ 2 điểm nhưng ghi 3 điểm.
Nếu sai lầm như trên được phát hiện trong trận đấu, thư ký phải chờ cho đến khi có lần bóng chết đầu tiên mới thông báo cho trọng tài để dùng trận đấu .
Nếu sai lầm được phát hiện sau khi kết thúc trận đấu, trong khi trọng tài kiểm tra tờ ghi điểm nhưng trước khi trọng tài ký tên vào tờ ghi điểm, trọng tài chính phải sửa chữa sai lầm, và có thể, kết quả trận đấu có thể bị thay đổi, nếu điều này bị ảnh hưởng bởi cùng một sai lầm.
Nếu sau khi trọng tài ký tên vào tờ ghi điểm mà sai lầm mới được phát hiện. Trọng tài chính không còn được sửa chữa sai lầm mà trọng tài chính phải làm báo cáo trình bày sự việc xảy ra gửi cho Ban tổ chức giải.
ĐIỀU 10 : NGƯỜI THEO DÕI THỜI GIAN THI ĐẤU : NHIỆM VỤ.
10.1 Người theo dõi giờ điều khiển đồng hồ thi đấu và đồng hồ theo đõi thời gian nghỉ sẽ :
* Ghi lại thời gian thi đấu và thời gian dừng.
* Thông báo cho hai đội và các trọng tài còn ít nhất là 3 phút trước khi hiệp 1 và hiệp thứ 3 bắt đầu.
* Cho chạy đồng hồ theo dõi thời gian nghỉ và báo tín hiệu âm thanh khi hiệp 1 và hiệp thứ 3 bắt đầu.
* Cho chạy đồng hồ theo dõi thời gian nghỉ và báo tín hiệu âm thanh khi 50 giây của lần hội ý đã trôi qua.
* Thông báo bằng tín hiệu âm thanh rất lớn hoặc tự động báo khi kết thúc thời gian thi đấu của một hiệp chính hoặc hiệp phụ. Nếu tín hiệu của người theo dõi giờ bị mất hoặc không nghe thấy thì người theo dõi ngay bị mất hoặc không nghe thấy thì người theo dõi giờ ngay lập tức phải bằng mọi cách có thể được để thông báo cho trọng tài chính.
Tín hiệu âm thanh của người theo dõi giờ làm cho bóng trở thành bóng chết và đồng hồ thi đấu dừng. Tuy nhiên, tín hiệu âm thanh của người theo dõi giờ thi đấu dừng. tuy nhiên, tín hiệu âm thanh của người theo dõi giờ thi đấu không làm cho bóng chết khi bóng đang bay trong 1 lần ném rổ hoặc ném phạt.
10.2 Đồng hồ thi đấu bắt đầu chạy khi :
* Nhảy tranh bóng, bóng được chạm đúng luật bởi người tranh bóng.
* Sau lần ném phạt bóng không vào rổ và bóng tiếp tục sống, bóng chạm vào một đấu thủ ở trên sân.
* Phát bóng biên, bóng chạm một đấu thủ trên sân.
10.3 Đồng hồ thi đấu bắt đầu chạy khi :
* Kết thúc thời gian thi đấu của một hiệp hoặc hiệp phụ.
* Một trọng tài thổi còi khi bóng sống.
* Có tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây trong khi bóng sống.
* có tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây trong khi bóng sống.
* Bóng vào rổ ở hai phút cuối của hiệp thứ tư và hiệp phụ.