thuật ngữ tên các chiến thuật dùng trong bài
1. Thí quân, từ gốc là 弃子
tàn cục tinh xảo
thí quân: việc cố ý để cho đối phương ăn một hoặc nhiều quân nhằm giành được mục đích nào đó, gọi là thí quân, nói gọn là "thí".
"thí" là kĩ xảo chiến thuật có thể sát cục, tranh thắng. đó là nền tảng tạo thành những sát thế đẹp mắt, nổi tiếng như đại đao oát tâm, đại đảm xa, dịch xa quải (xe kẹp cổ)
để nắm được cách chơi thí quân, cần xem xét rõ ràng, khôn khéo dũng cảm, tính toán chính xác... mới có thể thình lình chớp nhoáng tấn công tiêu diệt đối phương.
2. Nước chờ, từ gốc là 停着
3. bắt quân, từ gốc là 捉吃
4. điều quân, từ gốc là 运调
5. vây khốn, từ gốc là 围困
vây khốn: nếu có thể thu hẹp hoạt động các quân hoặc một quân của đối phương, khiến nó ngày càng mất tác dụng - chiến thuật đó gọi là vây khốn.
Chiến thuật khá giống với chiến thuật bao vây trong quân sự. Vì vậy, khì dùng "vây khốn" cũng cần đến sự phối hợp và liên kết chặt chẽ của quân bên mình. Đối với các đối tượng bao vây khác nhau, phải có thiết kế vòng vây khác nhau. Đương nhiên, khi sử dụng chiến thuật vây khốn cũng cần phối hợp với các loại chiến thuật khác, vì các loại chiến thuật đều có sự liên quan mật thiết.
6. giam nhốt, từ gốc là 禁锢
Giam nhốt với vây khốn cũng từa tựa giống nhau, khác cái là giam nhốt có vẻ nghiêm cẩn hơn, vòng vây nhỏ hơn, khiến đối phương bị bó buộc chặt chẽ hơn.
Dựa vào luật cờ, nếu đến lượt đi mà không thể đi quân thì dẫu không bị chiếu tướng cũng vẫn xử thua. Nói thế để thấy sự lợi hại của chiến thuật giam nhốt.
7. ngăn chặn, từ gốc là 阻挡
8. thiểm lộ, từ gốc là 闪露
chiến thuật "thiểm lộ" - "thiểm kích" - do sức mạnh tiềm ẩn trong của đòn này rất lớn, nó được ví như "chớp giật". để bạn đọc dễ hình dung, tôi sử dụng thuật ngữ "tháo cản"
ví dụ như trong hình cờ chiếu rút tiền xe hậu pháo...
9. khống chế, từ gốc là 控制
khống chế: tập trung quân bảo vệ cứ điểm quan trọng (có thể là một trục dọc, một hàng ngang hay chỉ là một điểm), khiến cho quân của đối phương không thể tiến vào, gọi là khống chế.
Ví dụ người ta hay nói "khống chế trung lộ" là tác dụng của tấn công bằng pháo đầu.
Trong thực tế, hầu hết các cuộc chiến xảy ra khi 2 bên cố gắng tranh giành quyền khống chế tại các khu vực quan trọng, vì vậy đòn này là một kĩ thuật quan trọng.
Có 2 cách để tăng cường hỏa lực và sức khống chế. 1 là điều động thêm quân, tạo mối liên kết mạnh. 2 là tạo được các đòn liên hoàn của việc phối hợp các loại chiến thuật. Như vậy có thể mở rộng được phạm vi khống chế, toàn cục hô ứng...
10. giằng khóa, từ gốc là 拴链 (thuyên liên, thuyên là buộc, khóa - liên là níu, kéo) - ở vỉa hè ta hay nghe nói "trói quân", "ghim quân", "cô fa cô" - nhưng không đủ diễn đạt độ rộng của chiến thuật này.
Giằng khóa, cũng có tác dụng giống như khống chế. Là chiến thuật thường dùng, dựa vào việc ràng buộc, gò bó quân đối phương, khiến địch bị động. Từ vị thế chủ động, bên sử dụng chiến thuật giằng khóa sẽ dần dần bao vây để bắt quân, bắt tướng đối phương - hoặc nhờ vào ưu thế về binh lực có được khi giằng khóa (thường là 1 trói 2) mà chuyển hẳn sang tấn công ở cánh khác hiệu quả hơn. Cách sử dụng khá đa dạng, cần phải nắm được nhiều kiểu.
Khi sử dụng giằng khóa phải đề phòng những thế cởi trói của đối phương (chuyển thân, rút bắt quân...)
Có
1 người thích bài viết này:
hduc2012 (17/06/13)