Bất ngờ thăm trường
Phan Châu Trinh vào trường chụp ảnh, quay phim
vội vàng như sợ ai tìm đuổi ra
giữa trưa chợt nổi da gà
cả tâm thân dậy khúc ca học đường
con chim sè sẻ thân thương
bay nghiêng đầu ngó, dễ thường nhận ra
nhón chân phủi sợi bụi già
đóng trên khung cửa mở ra hững hờ
tôi nhìn trong nỗi bơ vơ
không thấy mà gặp thầy cô bạn bè
tim tôi ngó, lòng tôi nghe
gót guốc, quay nón săm se sợi tình
tôi đi lững thững một mình
bóng nghiêng chìm giữa ảnh hình ngát hương
lòng không ngăn nổi buồn buồn
vô danh trở lại thăm trường, hổ ngươi
ngắt lòng ươm cụm ngậm ngùi
ước chi xanh mãi tình người thư sinh
Luân Hoán
50 Năm Nhớ Lại Nguyễn Hữu Thứ
Sau khi làm hiệu trưởng trường Quốc Học hai niên khóa 1948-1950, tôi trở về cơ quan Tư pháp, được giữ chức Dự thẩm Tòa Sơ thẩm Huế. Giữa năm 1952, tôi được bổ nhiệm Phó Chánh án Tòa Sơ thẩm Quảng Nam Ðà Nẵng. Lúc bấy giờ dân số Ðà Nẵng cao hơn dân số Huế; ngoài ra tỉnh Quảng Nam là tỉnh đông dân nhất miền Trung, các thị trấn Hội An, Tam Kỳ không xa Ðà Nẵng bao nhiêu. Thế mà cả một vùng đông dân cư ấy không có một trường Trung Học.
Ðã làm hiệu trưởng trường Quốc Học trong giai đoạn khó khăn, tự nhiên tôi thấy cần góp ý với nhà cầm quyền về việc mở một hay hai trường Trung Học ở Ðà Nẵng và phụ cận.
Thị truởng Ðà Nẵng là ông Bữu Ðài, lớn tuổi hơn tôi nhưng rất thân với tôi, cho nên lúc đến viếng thăm Tòa Thị Chính, tôi đưa ra nhiều đề nghị với những lý do khả dĩ thuyết phục ông Thị Trưởng mở trường. Ngoài những lý do thông thường về giáo dục, tôi nói ra một câu chuyện liên hệ đến các hải cảng. Thời 1847, Trung tướng Pháp Rigault de Genouilly tới bắn phá Ðà Nẵng, khởi đầu cuộc chiến tranh xâm lược. Sáu năm sau, 1853, đô đốc Mathew Calbright Perry của Mỹ cũng bắn đại bác vào vịnh Tokyo (Nhật Bản) và làm một cuộc đảo chánh hộ cho người Nhật (bãi bỏ chế độ Tướng quân, và bắt đầu cuộc duy tân lịch sử). Không đầy 30 năm sau, Nhật trở thành cường quốc đánh bại Trung Hoa và Nga. Nhật làm được, Việt Nam cũng có thể làm được với điều kiện là mở rộng giáo dục, tức làm trường. Tôi trao đổi ý kiến với ông thị trưởng rất hăng say, và cuối cùng ông quyết định mở trường.
Sau đó, tôi đến viếng thăm ông Lê Khắc Giai, Trưởng ty Học vụ, góp nhiều ý kiến thiết thực về việc mở trường, rút king nghiệm những năm ở Quốc Học.
Tôi đề cập trong chi tiết đến trường ốc, giáo sư và hứa, nếu cần, vợ chồng tôi sẽ dạy một số giờ. Và đầu niên khóa 1952-1953, trường chính thức mở cửa, ông trưởng ty Tiểu học Lê Khắc Giai quyền nhiếp chức vụ hiệu trưởng Trường Trung Học tân lập.
Có một số điểm đáng để ý, là vào thời đó, cuối thập niên 1940, Huế đã có nhiều trường tư tái hoạt động, hoặc mới thành lập: Providence (Thiên Hựu), Pellerin (Bình Linh), Jeanne D''arc, Bình Minh, Nguyễn Du, Bồ Ðề... Trong lúc đó, Ðà Nẵng chỉ mới có trường Tây Hồ, nên việc mở trường Phan Châu Trinh được dân chúng nhiệt liệt đón mừng . Tuy vậy, Tòa Thị Chính chỉ mở hai lớp Ðệ Thất, vì thiếu phòng ốc, và cũng không tìm đủ giáo sư; giáo sư đa số là công chức đến dạy giờ. Tôi và vợ tôi, Thân Thị Giáng Châu, nhận dạy Pháp văn và Anh văn
Sau đây là một số học sinh đã ghi vào cuốn lưu niệm của tôi:
Phan Ngọc Tiếu Nguyễn Văn Mảng
Lê Văn Cử Trương Thị Diệu Phương
Nguyễn Thị Anh Lý Thị Hạnh
Dương thị Diệu Trần Hữu Hội
Vương Văn Mau Ðinh Văn Quý
Võ Tình Trương Duy Hy
Phạm Thái Lâm Quang Thị
Huỳnh Ngọc Hổ Trần Văn Xuân
Nguyễn Như Hàn Trần Trưng
Phan Ứng Thời Nguyễn Thị Hóa
Lâm Thị Nguyễn Ngọc Kỳ
Trần Công Sinh Ðỗ Hữu Tùng
Nguyễn Văn Ðiềm Tôn Nữ Như Tâm
Nguyễn Thị Trai Tôn Nữ Lệ Tuyết
Ðỗ Thị Như Lài Ngô Thị Ánh Tuyết
Phạm Hồng Khang Dương Thị Mỹ
Dương Thị Xuân Hướng
Sau một thời gian, tôi được thuyên chuyển làm chánh án Ðồng Hới (Quảng Bình), nên không theo dõi được sinh hoạt của các học sinh này. Tuy nhiên trong nhiều phạm vi, vẫn gặp lại các em đã trưởng thành , lúc đem đoàn bóng bàn Huế, vào đấu với Ðà Nẵng. Vài học sinh cũ đã tái ngộ trong trường hợp khá hi hữu: người đã để lại nhiều kỷ niệm là anh Ðỗ Hữu Tùng, đã trở thành sĩ quan , nổi tiếng trong vụ Mậu Thân, và tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị.
Trong vụ Mậu Thân, 1968, anh chỉ huy một đơn vị đóng ngay trong vùng nhà tôi, cạnh khách sạn Hương Giang I ở Huế. Gặp lại tôi, anh mừng và ôm choàng, hỏi tin tức mọi mặt về tôi trong mấy ngày đầu tiên. Sau đó anh giới thiệu tôi với các binh sĩ trong Lữ đoàn, dặn dò cẩn thận giữ gìn sinh mạng và tài sản của dân chúng địa phương.
Có lẽ giờ phút vinh quang nhất của anh Tùng, là chiến thắng Cổ Thành Quảng Trị, khi Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến của anh tái chiếm thành Ðinh Công Tráng, mùa hè đỏ lửa, thành tích mà cơ quan truyền thông quốc gia và quốc tế đã loan báo rộng rãi.
Anh Vương Văn Mau là cựu học sinh mà chúng tôi đưọc gặp nhiều nhất. Anh thường xuyên ở Ðà Nẵng nên những lần tôi lánh nạn vào, anh thường đến thăm và giúp đỡ. An cũng nhiều lần ra Huế đến nhà chúng tôi hỏi thăm sức khoẻ.
Qua Bắc Mỹ, 1991, chúng tôi sớm liên lạc được với anh Võ Tình , qua thư từ và điện thoại, thường xuyên đến nỗi trong gia đình mọi người đều biết giọng nói của anh. Anh vốn là thiếu tá chiến tranh chính trị; hiện anh
Năm 1964, họa sĩ Ðỗ Toàn về dạy vẽ tại trường Phan Châu Trinh và ông có ý định tạc tượng cụ Phan. Tại căn nhà số 5 Ðống Ða, ông tự tay đi lấy đất sét, dựng cốt và tạc tượng. Việc làm này đã được học sinh của trường đóng góp phế liệu, được bà Nguyễn Thị Châu Liên - con gái cụ Phan và nhà văn Nguyễn Văn Xuân góp ý sửa chửa nhiều lần cho đến khi hoàn thành. Sau này ông kể lại một cách dí dỏm: "Cụ Phan là một lãnh tụ của phong trào Duy Tân, trong chân dung của cụ tôi xin bộc bạch một điều mà ba mươi năm qua tôi dấu kín. Khi tạc đến bộ ria mép của cụ - các cụ thời xưa để ria mép thường hay vuốt xuống, nhưng trong chân dung của cụ tôi lại cuốn lên như râu của các nhà bá tước. Tôi bổng thích thú thầm và một niềm vui sướng dâng trào, bởi vì cụ Phan là một mẫu hình tiên phong trong
phong trào cắt tóc ngắn, mặt đồ Tây vì thế tôi cũng mạo muội làm một cuộc "cách tân" nhỏ. Ðến nay nếu cụ sống lại, chắc cụ gõ lên đầu tôi một trăm gậy, xong, cụ sẽ cho tôi một chầu nhậu bia Sông Hàn chết bỏ".
Công việc này hoàn thành với kinh phí 37.000 đồng là tiền trả cho thợ đúc đồng. Còn họa sĩ Ðỗ Toàn không nhận bất cứ một thù lao nào mà ông vẫn thấy "vui như ngày hội" vì đã hoàn thành chân dung của vĩ nhân mà mình tôn kính và ngưỡng mộ.
source: Lê Minh Quốc
cùng gia đình ở tại Houston, Texas. Anh thích làm thơ, đã có nhiều bài thơ hay văn, tiếng Việt, hoặc tiếng Anh, viết tặng chúng tôi và đăng ở nhiều tạp chí; mặc dầu, 50 năm qua, chúng tôi chưa gặp lại anh được lần nào.
Một cựu học sinh khác của lớp Ðệ Thất đầu tiên của trường Phan Châu Trinh là anh Phan Ngọc Tiếu, nguyên Trưởng ty Xã hội Khánh Hòa- Nha Trang, đã được tu nghiệp tại Hoa Kỳ. Sau 1975 , anh đã học và đạt được cấp bằng Tiến sĩ Xã hội học, làm việc nhiều chục năm cho chính phủ Hoa Kỳ. Anh đã xuất bản nhiều sách truyện, hồi ký, và làm nhiều bài thơ được ngâm trên các đài phát thanh (sách truyện như: Cuối đường, Mái tóc hoa râm, Tiếng tiêu sầu, Một kiếp trầm luân, bút hiệu Thanh Vinh). Anh còn hoạt động nghệ thuật (tổ chức Ðại Nhạc Hội 50 năm của Hoàng Thi Thơ, chủ tịch Ban Trình diễn Văn hóa các Cộng đồng Ðông Nam Á v.v..). Ngoài ra nhờ một đề tài nghiên cứu anh được cấp hàm Ðại tá Quân lực Hoa Kỳ; trong bộ quân phục và với mái tóc bạc, trông anh không có gì khác biệt với các sĩ quan cao cấp của Mỹ.
Nhìn lại trường Phan Châu Trinh từ thời xa xưa đến nay, quả là nơi đào tạo nhiều nhân tài hữu ích cho quốc gia, xã hội.
Canada, ngày 21-8-2002
NGUYỄN HỮU THỨ