Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Thành phố Hồ Chí Minh)
Lịch sử
Từ 1954 đến 1975
Đến ngày 14 tháng 6 năm 1954, Bảo tàng được Bộ Quốc gia Giáo dục của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiếp thu trọn vẹn, sau khi 3 chuyên gia người Pháp rút về nước.
Ngày 16 tháng 5 năm 1956, theo nghị định 321-GD/NĐ, đổi tên Bảo tàng là Viện bảo tàng Quốc gia Việt Nam thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục. Dưới chế độ VNCH, về mặt quản lý, Bảo tàng cũng có quy chế riêng trực thuộc Viện Khảo cổ của bộ Quốc gia Giáo dục (sau là bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên) chính quyền Sài gòn nhưng căn phòng phía sau đại sảnh bát giác vẫn còn dành cho hội Nghiên cứu Đông Dương làm thư viện hội.
Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài gòn được quy định rất đơn giản:
- Nghiên cứu sưu tầm và trưng bày trong viện những di tích và các tài liệu cổ thời thuộc về mỹ thuật, sử học, cổ học và nhân chủng học gồm chung của nước VIệt Nam cũng như của các nước lân cận hoặc đồng hóa: Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Ly, Cao Miên, Phù Nam, Lào ,Thái Lan, Tây Tạng , Ấn Độ, Cổ Chiêm Thành…
- Tập trung về một chỗ và tàng trữ chung tại Viện những cổ vật hoặc di tích còn ẩn tàng trên lãnh thổ Việt Nam…[6]
Lúc này, diện tích trưng bày của Bảo tàng vẫn như trước nhưng quan điểm trưng bày đã được thay đổi với sự chú trọng hơn về mỹ thuật Việt Nam, cụ thể là hệ thống trưng bày được “chỉnh đốn lại, thay đổi các phòng, trang hoàng cho có mỹ thuật, sơn phết tất cả từ ngoài lẫn trong”. Trong thực tế, hệ thống trưng bày chỉ thay đổi chút ít, chủ yếu vẫn là trưng bày về mỹ thuật của các nền văn hóa cổ Đông Á gồm 8 phòng như sau: mỹ thuật Phù Nam, mỹ thuật Việt Nam, mỹ thuật Nhật Bản, mỹ thuật Việt - Hoa, mỹ thuật cổ điển Cam Bốt, mỹ thuật tiền Đế Thiên, mỹ thuật Chiêm Thành, mỹ thuật Thái Lan.
Có lẽ vì theo một hệ thống lý luận nào đó hiểu về các việc làm trong Bảo tàng một cách đơn giản nên bộ máy tổ chức của Viện Bảo tàng quốc gia (Sài gòn) tương tự như thời kỳ trước, với nhân sự 12 người gồm chủ yếu là bộ phận hành chính và bảo vệ nên không bảo đảm được đầy đủ các mặt hoạt động của Bảo tàng nhất là về vấn đề lưu trữ, bảo quản: Bảo tàng chỉ có một phòng nhỏ 36m2 làm kho. Việc nghiên cứu hiện vật Bảo tàng cũng chủ yếu là của viện Khảo cổ. Công tác sưu tầm tuy có được lưu ý nhưng không có người chuyên trách nên kết quả không cao, từ năm 1954 cho đến tháng 4 -1975 trong 21 năm, tổng số hiện vật của Bảo tàng là 5.000 hiện vật, chỉ hơn một ít so với thời Pháp thuộc.
Từ năm 1959, Bảo tàng mới bắt đầu “thực hiện những cuộc viếng thăm Viện Bảo tàng có giải thích” tức bắt đầu tổ chức được công tác thuyết minh nhưng việc “giải thích” rất hạn chế vì chỉ có 2 nhân sự phụ trách công việc này trong đó có Quản thủ Viện Bảo tàng. Tuy nhiên khách đến Bảo tàng cũng rất đông, hàng năm có hàng trăm ngàn lượt khách vào tham quan Bảo tàng, cao nhất là năm 1956 đã có 333.831 lượt khách.
 | This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 912x600. |
Viện bảo tàng Quốc gia Việt Nam