Thôi thì làm tiếp đến đời nhà Lê cho hoành tráng.
Cũng trích từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản Kỷ, Quyển 8, trong đó có đoạn nói về cuộc chiến chống Liễu Thăng ở Ải Chi Lăng: -
" Ngày 18, nhà Minh sai Tổng binh Chinh lỗ tướng quân Thái tử thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng, Tham tướng Bảo Định bá Lương Minh, Đô đốc Thôi Tụ, Binh bộ thượng thư Lý Khánh, Công bộ thượng thư Hoàng Phúc, thổ quan Hữu bố chính sứ Nguyễn Đức Huân đem hơn 10 vạn quân và 2 vạn ngựa đánh vào cửa Pha Lũy.
Chinh Nam tướng quân thái phó Kiềm quốc công Mộc Thạnh, Tham tướng Hưng An bá Từ Hanh, Tân Ninh bá Đàm Trung đem 5 vạn quân và 1 vạn ngựa đánh vào cửa Lê Hoa. Cả hai đều đã tới đầu địa giới nước ta.
Vua họp các tướng bàn rằng:
"Giặc vốn khinh ta, cho là ngưới nước ta nhút nhát, sợ oai giặc đã lâu, nay nghe tin đại quân sang, hẳn là ta rất hoảng [40a] sợ. Huống chi lấy mạnh nạt yếu, lấy nhiều lần ít đó là lẽ thường. Giặc không thể tính được hình thế được thua của người của mình, không thể hiểu được cơ vi qua lại của thời của vận. Vả lại, quân đi cứu nguy cấp phải lấy mau chóng làm quý, giặc nhất định phải hành quân gấp vội. Binh pháp có nói: Hành quân 500 dặm mà chỉ vội hám lợi thì sẽ què thượng tướng. Nay Liễu Thăng đến, đường sá xa xôi, quân lính tất mỏi mệt. Ta đem quân nhàn khỏe, đợi đánh quân mỏi mệt, nhất định sẽ thắng".
Bèn sai bọn Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê Lãnh, Lê Liệt, Lê Thụ đem 1 vạn quân tinh nhuệ, 5 thớt voi, bí mật mai phục trước ở ải Chi Lăng [1] để đợi giặc.
Trước đó, Lê Lựu giữ cửa Pha Lũy, thấy giặc đến, lui giữ cửa ải [Lưu][2]. Giặc tiến đánh, Lưu lại bỏ cửa [Ải] Lưu lui về đóng ở Chi Lăng. Giặc lại tiến quân đánh phá uy hiếp Chi Lăng. Bọn Sát và Nhân Chú mật sai Lựu ra [40b] đánh rồi giả cách thua chạy. Giặc quả nhiên rất mừng.
Ngày 20, Liễu Thăng đốc suất đại quân đuổi theo. Đến chỗ có mai phục, bọn Sát và Nhân Chú tung hết quân mai phục, bốn mặr đều nổi dậy xung vào đánh giặc. Quân giặc thua to. Chém được Liễu Thăng ở núi Mã Yên [3] và hơn 1 vạn thủ cấp quân giặc.
Ngày 25, vua lại sai Lê Lý và Lê Văn An đem 3 vạn quân tiếp đến ải núi Mã Yên. Bọn Sát và Nhân Chú chỉ huy các quân tung hết binh sĩ ra đánh giặc, chém Bảo Định bá Lương Minh tại trận[4].
Ngày 28, Lý Khánh cũng chết. Thôi tụ và Hoàng Phúc dẫn quân miễn cưỡng tiến lên. Nhân Chú lại đánh bại bọn chúng, chém được hơn 2 vạn thủ cấp, bắt được lừa ngựa, trâu bò, quân tư khí giới nhiều không kể xiết [5]. "
Chú thích:
[1] Chi Lăng: là ải hiểm trở nhất trên con đường từ Pha Lũy đến Đông Quan, cách Pha Lũy khoảng 60 km, thuộc xã Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn ngày nay.
[2] Ải Lưu: (nguyên văn thiếu chử Lưu) cũng là cửa ải trên đường từ Khâu Ôn đến Chi Lăng, nằm ở khoảng Lạng Nắc, hoặc trên đó không xa lắm, vùng giáp giới hai xã Nhân Lý và Sao Mai, huyện Chi Lăng ngày nay.
[3] Mã Yên: tên nôm là núi Yên ngựa, một hòn núi đá cao khoảng 40m so với mặt đất, chu vi 300m, nằm ở phía nam cánh đồng lầy lội, muốn qua phải bắc cầu mới đi được.
[xx] Ải Pha Lũy: tức là cửa Nam Quan sau này, ngày nay là Hữu Nghị Quan.
Bản đồ tỉnh Lạng sơn

Căn cứ vào đoạn trích dẫn trên và đối chiếu với bản đồ thì trận chiến sảy ra nằm sâu trong lãnh thổ của VN chứ đâu phải ở cửa ải Nam Quan [Ải Pha Luỹ].
Thêm nữa, việc "Lê Lựu giữ cửa Pha Lũy" ám chỉ biên giới VN và TQ đi qua cửa ải này. Nói cách khác ải [cửa] Pha Luỹ là cửa ngõ biên giới giữa hai bên. Điều này hoàn toàn phù hợp với những gì đã có từ thời nhà Trần. Tuy nhiên, vị trí thực sự của cái cửa Pha Luỹ hồi đó ở đâu thì cũng không xác định được và điều chắc chắn là sẽ không trùng địa điểm với cái Mục Nam Quan (ải Nam Quan) mà Thành Nam đưa ra mãi sau đó hàng trăm năm mới được xây. Tóm lại, bằng chứng lịch sử của thời hậu Lê cũng chưa làm sáng tỏ đường biên giới Viet - Trung qua khu vực này, đồng thời không có khẳng định cái toà cổng Nam Quan thuộc chủ quyền của VN.
Tôi biết khá nhiều người không thích ĐCS muốn tìm tài liệu để chứng minh chủ quyền của VN về cái ải Nam Quan nhưng hầu như kết luận cuối cùng của họ là không tìm được bằng chứng. Văn bản có giá trị pháp lý có thể được sử dụng đó là hiệp định Pháp - Thanh, và nếu theo văn bản này thì ải Nam Quan lại là của TQ. Thiết nghĩ, nếu ông cha ta đã từng có phân định rõ ràng về đường biên giới thì người Pháp sẽ chẳng cần ký hiệp đinh biên giới với nhà Thanh và sau này con cháu cũng khỏi cần ký các hiệp định biên giới mới.
ATB,