Bang giao quốc phòng của Việt Nam
và tác động của nó trên chính sách ngoại giao4. Mua sắm Quốc Phòng và Hợp Tác Công Nghệ Quốc PhòngVào khoảng thời gian 1990 và 2004, Việt Nam trao đổi phái đoàn cao cấp quốc phòng với 42 quốc gia. Báo giới cho biết những cuộc thảo luận về một vài khía cạnh của việc mua sắm quốc phòng, hợp tác công nghệ quốc phòng , nghiên cứu và phát triển và huấn luyện kỹ thuật nằm trong lịch trình thảo luận với ít nhất 23 quốc gia. Đoạn này tìm hiểu ý định Việt Nam mua sắm vũ khí, các dàn thiết bị và các trang bị quân sự khác ; thỏa ước bảo quản vũ khí và hợp tác công nghệ quốc phòng.
Việt Nam không dồi dào tài nguyên để cung hiến cho nền quốc phòng quốc gia. Quân Đội Nhân Dân Việt Nam theo truyên thống vẫn bổ sung ngân sách của mình qua những sinh hoạt kinh tế và thương mại ; từ khi áp dụng chính sách đổi mới, các xí nghiệp do quân đội quản lý đã thỏa hiệp hợp doanh với những đối tác ngoại quốc để kiếm tiền mặt. Tình hình tài chánh của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đặc biệt bấp bênh ngay sau thời gian Liên Bang Xô Viết sụp đổ. Những con số do Cơ Quan Kiểm Soát Vũ Khí và Giải Giới của Hoa Kỳ đưa ra cho thấy một sự giảm sút rõ nét trong việc nhập khẩu vũ khí từ 1,1 tỷ Mỹ Kim năm 1991 xuống 10 triệu Mỹ Kim năm 1992 và 10 triệu Mỹ Kim năm1993 tăng lên 90 triệu Mỹ Kim năm 1994.
Năm 1992, Việt Nam xoay xở để bù đắp chi phi nhập khẩu bằng cách xuất khẩu 10 triệu Mỹ Kim trong việc bán vũ khí. Đây là lần xuất khẩu vũ khí đầu tiên ghi nhận được kể từ năm 1988 (13).
Biểu đồ 3 dưới đây cho thấy những chí phí ước định cho quốc phòng theo trị giá đồng, đồng tiên Việt Nam, tính theo phần trăm của tổng số lượng chi phí của chính phủ trong thời gian từ 1993 đến 2003 (14). Chi phí quốc phòng ở vào lưng chừng dưới 30% có phần giảm sút đôi chút vào những năm gần đây. Biều đồ 4 cho thấy ngân sách quốc phòng chính thức chuyển thành Mỹ Kim trong cùng một hời gian. Ngân sách quốc phòng đã gia tăng gấp đôi giữa những năm 1993 và 1997 cho đến 2 tỷ Mỹ Kim, rồi giảm xuống trong vòng hai năm vì khủng hoàng tài chánh Châu Á, rồi kể từ đó gia tăng một cách đều đặn .

Biểu đồ 3: Tỉ trọng ngân sách quốc phòng hằng năm

Biểu đồ 4: Ngân sách quốc phòng hằng năm (quy ra đô la)
Ngân sách quốc phòng của Việt Nam là một bí mật quốc gia. Việt Nam rất hiếm khi cung cấp những thông tin về việc thu mua vũ khí, những thỏa ước bảo quản và hợp tác cộng nghệ quốc phòng. Ví dụ, Việt Nam đã chuyền đạt báo cáo về nhập khẩu và xuất khẩu đề ghi vào Sổ Bạ Vũ Khí Quy Ước của Liên Hiệp Quốc hàng năm kể từ năm 1994. Trong thời gian này Việt Nam báo cáo nhập khẩu vũ khí chỉ có 4 năm, 1995, 1997, 2004, 2005. Việt Nam ghi « không » cho tất cả những năm khác. Những báo cáo này không đầy đủ. Ukraine báo cáo bán cho Việt Nam những năm 1995, 1996, 2002 và 2003, không ghi trong báo cáo của Việt Nam (xem Bảng 1)
Bảng 1
Báo Cáo Sổ Bạ Vũ Khí Quy Ước của Liên Hiệp Quốc [1]

Ghi Chú:
[1] Sổ Bạ Vũ Khí Quy Ước ghi nhận dữ liệu do các nước xuất khẩu và nhập khẩu cung cấp theo bày loại chính : chiến xã, thiết giáp, hệ thống pháo tầm cỡ lớn, chiến đấu cơ, trực thăng xung kích và tên lửa và dàn phóng tên lửa.
[2] Báo cáo của Liên Bang Nga cho tài khoá 2004.
[3] Báo Cáo của Cộng Hòa Czech cho tài khoá 2005.
[4] Báo cáo của Ukraine cho tài khoá 2005.
Cho đến tháng 11 năm 1998, Việt Nam bị ngăn cấm trong việc mua bán vũ khí và trang bị quân sự vì luật pháp an ninh Hoa Kỳ cấm cản việc buôn bán thiết bị quân sự cho Việt Nam trong đó có kỹ thuật của Hoa Kỳ. Cho đến khi lệnh cấm vận của Hoa Kỳ gỡ bỏ, Việt Nam buộc phải tìm những nước có những thiết bị tương hợp với thiết bị của Xô Viết. Tuy nhiên, điều này không ngăn cấm Việt Nam tham dò thị trường. giá cả và sự tương hợpthiết bị quyết định việc thu mua vũ khí và thiết bị quân sự của Việt Nam.
Liên Bang Nga. Vào giữa năm 1992, Nga thay đổi đột ngột chính sách của mình và rút ra khỏi vịnh Cam Ranh và bắt đầu một loạt thương thảo với Việt Nam về những kỳ hạn và điều kiện để lưu lại đây. Hai bên không thỏa hiệp được và tháng 5 năm 2002 Nga rút toàn bộ ra khỏi Cam Ranh. Tháng 6 năm1994, Nga và Việt Nam ký một hiệp định hữu nghị thay thế cho Hiệp Định Hữu Nghị và Hợp Tác năm 1978. Tháng 8 năm 1998, Việt Nam và Liên Bang Nga tuyên bố « tinh thần đối tác chiến lược mới », và hai năm sau, cả hai bên cuối cùng đạt thỏa thuận về việc giải quyết những món nợ đặc biệt.
Liên Bang Nga vẫn tiếp tục là nguồn cung cấp chính vũ khí và thiết bị quân sự, nhưng đã có chỉ dấu vấn đề giá cả đã khiến Việt Nam phải đa hoá nhập khấu. Năm 1994, Việt Nam và Nga đã ký ba khế ước mua bán quan trọng (15). Khế ước đầu tiên bao gồm việc bán 6 chiến đấu và oanh tạc cơ Sukhoi Su 27, một máy thiết bị bay mô hình hoá và một chương trình huấn luyện cho phi công và nhân viên bảo trì. Báo cáo do Nga và Việt Nam gời cho Sổ Bạ Vũ Khí Quy Ước Liên Hiệp Quốc xác nhận việc giao 5 chiếc Su 27 SK và một chiếc Su 27 UBK chiến đấu cơ cho Việt Nam năm 1995. Việt Nam tiếp tục mua thêm 6 chiếc Su 27s (16). Khế ước thứ hai liên quan đến việc bán hai loại chiến hạm nhanh1241RA (Fast Attack Craft ?" FAC) ; khế ước thứ ba liên quan đến việc bán 4 hệ thống ra đa phòng không.
Năm 1996, Nga và Việt Nam thiết lập một công ty hợp doanh để đồng sản xuất những chiến hạm KBO 200 và loại BPS 500 tại xưởng hải quân Ba Son tại thành phố Hồ Chí Minh. Loại đầu tương đương với tàu hộ tống nhỏ và loại thứ hai là một loại chiến hạm nhanh nhỏ hơn có trang bị tên lửa hải đối hải (SSM ?" Surface to Surface Missile). Việt Nam cũng đề nghị đồng sản xuất ra đa phòng không và tên lửa hải đối hải. Sau đó, Việt Nam mua thêm 4 chiến hạm nhanh 1241RA và tên lửa SSM (17) . Giữa hai năm1996 và 1998, Nga tân trang 32 chiến đấu cơ bình địa một chỗ ngồi Su 22M4 và hai chỗ ngồi Su 22UM3.
Năm 1997, nguồn tin từ công nghệ quốc phòng Nga cho biết đã bán mốt số chiến đấu xa BP 3A và chiến xa T 8OU cho Việt Nam. Văn Phòng Thiết Kế Hàng Hải Trung Ương Almaz của Nga giao hai loại tàu tuần tra 14310 Svetlyak vào tháng 12 năm 2002 để dùng cho việc Tuần Tra Bờ Biển.
Mối liên hệ quốc phòng giữa hai nước được củng cố thêm qua chuyến viếng thăm tháng Hai, tháng ba năm 2001 tại Việt Nam của Tổng Thống Nga Vladimir Putin. Thời gian ông ở lại đây, cà hai nước đều đồng ý « thắt chặt hợp tác về thiết bị quân sự để đáp ứng nhu cầu của Việt Nam ». Năm 2002, Liên Bang Nga liệt kê đã bán 8 tên lửa và dàn phóng tên lửa cho Việt Nam trong bản báo cáo hàng năm gởi cho Sổ Bạ Vũ Khí Quy Uớc Liên Hiệp Quốc.(18). Năm 2003, Nga và Việt Nam ký kết thỏa ước mua bán ba vũ khí quan trọng : 4 chiến đấu cơ Su 30 MKK (có thể thêm 8 chiếc nữa) ; hai tàu phóng tên lửa Molnya 1241.8 (hạng Ho A của Việt Nam), cộng thêm với tám chiếc lắp ráp tại Việt Nam (19) và hai khẩu đội (gồm 12 dàn phóng mỗi cái) hệ thống tên lửa hải không S 300PMU1 trong một khế ước trị giá 200 triệu Mỹ Kim. Giao dịch về 12 hệ thống này trị giá vào khoảng 300 triệu nếu tất cả các thiết bị được cung cấp. Tổng số chi phí mua vũ khí năm 2003 đước ước chừng vào khoảng 480 triệu Mỹ Kim.
Năm phi cơ Su 30 được giao vào cuối năm 2004. Tuy nhiên, việc mua 8 tám chiếc còn lại xem ra quá đắt đối với Việt Nam. Nhưng chiếc SU 27 và SU 30 cần được tân trang để có thể hoạt động với những tên lửa không đối không, không đối hải và đối hạm, đặc biệt tên lửa R 77 vượt xa tầm nhìn AAM. Khẩu đội S 300PMU1 được giao vào tháng 8 năm 2005.
Tháng 3 năm 2005, được biết Việt Nam có thể mua thêm 8 đến 10 chiến đấu cơ, với loại ưa chuộng SU 27 hoặc SU 30MK. Thiếu hụt ngân sách xem ra là một ngăn trở lớn và là yếu tố quyết định năm đó Việt Nam mua 40 chiến đấu cơ Sukhoi SU 22 đã dùng. Chương trình Dự Án 2100 lắp ráp tàu hộ tống nhỏ của Nga hình như đã bị bãi bỏ. Người ta luôn luôn nghi ngờ khả năng Việt Nam có những kỹ năng bản xứ để lắp ráp những chiếc tàu tương đối phức tạp như thế. Cộng thêm vào những món « cỡ bự » này, Nga cung cấp cho Việt Nam những phụ tùng và trợ giúp bảo trì và tân trang thiết bị quân sự. Nhân công quân sự Việt Nam tiếp tục học tại các trường Cao đẳng quân sự Nga.
Tháng 12 năm 2007, Nga và Việt triệu tập một buổi họp thường niên của Ủy Ban Liên Chính Hợp Tác Kỹ Thuật Quân Sự. Giám đốc của Cục Liên Bang Hợp tác Quân Sự và Kỹ Thuật đứng đầu phái đoàn Nga. Hình như Việt Nam đang muốn thương lượng với Nga để mua thêm 6 tàu hộ tống «Tarantul 3 ». Nhưng loại 3s được trang bị tên lửa SS N 22 Sunburn giống như những chiến hạm « Sovremmeny » của Trung Hoa. Việt Nam mong muốn có được tàu ngầm tầm cỡ lớn của Nga, khởi sự từ hai hoặc ba dàn dựng. Chưa thấy hợp đồng nào được ký hay sắp được ký cả.
Ukraine. Có lẽ Ukraine đứng hàng thứ hai sau Liên Bang Nga là quốc gia cung cấpo thiết bị quân sự và huấn luyện kỹ thuật tại Việt Nam. Hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Ukraine khởi sự vào tháng 3 năm 1994 khi Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân viếng thăm Kiev. Tổng Tham Muu Phó Quân Đội Nhân Dân tháp tùng vị thử tướng trong một chuyến viếng thăm tháng 6 năm đó. Sau đó, được biết Ukraine bán cho Việt Nam 14 tên lửa R27R1 (470 1) và dàn phóng tên lửa năm 1995 và 6 phi cơ huấn luyện MIG 21 năm 1996. Tổng tham mưu trưởng của quân đội Ukraine viếng thăm đáp lễ tháng 9 năm 1997 và bàn thảo hợp tác về việc mua bán thiết bị, kỹ thuật và huần luyện nhân sự. Kết qua của việc viếng thăm của bộ trưởng quốc phòng Việt Nam tháng 5 năm 2002, Việt Nam và Ukraine đạt thỏa thuận về một chương trình hợp tác kỹ thuật quan sự dài hạn cho đến năm 2005. Theo quy định của hiệp định này, Ukraine sẽ trợ giúp Việt Nam tân trang hệ thống phòng không của Việt Nam (ra đa, hệ thống liên lạc và tên lửa địa đối không), chiến đấu không phận, lực lượng thủy quân, xe bọc sắt và pháo binh. Đặc biệt, các chuyên viên Ukraine đã thiết lập kế hoạch để canh tân lực lượng thủy quân và phòng không Việt Nam. Những kế hoạch này đòi hỏi sự can thiệp sâu sát của Ukraine trong một số những lãnh vực như cải tiến xưởng đóng tàu Ba Son tại thành phố Hồ Chí Minh ; khai triển những thiết bị thử nghiệm hàng hải ; đồng sản xuất vũ khí ; trao đổi sĩ quan hạng trung ; sửa chữa, tân trang và cung cấp tất cả mọi loại thiết bị và vũ khí. Ukraine sẽ huấn luyện từ 30 đến 40 sĩ quan cao cấp Quân Đội Nhân Dân cho đến cấp tướng tại trường cao đẳng quân sự. Theo báo cáo Ukraine gởi cho Liên Hiệp Quốc, họ bán 10 phi cơ huấn luyện chiến đấu cho Việt Nam vào năm 2002 và 2003.
Năm 2005, Việt Nam mua 3 chiếc phi cơ « Fitter » không rõ kiểu nào của Ukraine.
----------------
Vàng: cần phải quan tâm thảo luận thêm (BALOO1000)
--------------
Được BALOO1000 sửa chữa / chuyển vào 18:43 ngày 13/12/2008