Liên quan đến việc gần đây Việt Nam tiến hành phát triển lực lượng tàu ngầm tiến công siêu hiện đại bằng việc đặt mua các tàu ngầm Kilo-636MV (và có thể cả Amur-1650) mang tên lửa Club-S, Triumf xin lược trích báo cáo có tựa đề:
CUỘC CHẠY ĐUA TÀU NGẦM Ở THÁI BÌNH DƯƠNG:
TRUNG QUỐC THÁCH THỨC VỊ TRÍ SIÊU CƯỜNG Ở DƯỚI MẶT NƯỚC CỦA MỸ
Tác giả: Mackenzie Eaglen and Jon Rodeback
Ngày 02 tháng 02 năm 2010
Xuất bản bởi The Heritage Foundation
Các hạm đội tàu ngầm ở Thái Bình Dương
Các hạm đội tàu ngầm và sự phát triển của chúng đã thay đổi nhanh chóng kể từ sau Chiến tranh lạnh. Trong những năm 1990, Nga đã đưa ra khỏi biên chế hầu hết tàu ngầm của họ và Mỹ cũng thu nhỏ quy mô lực lượng tàu ngầm của mình. Trong khi số lượng tàu ngầm của Mỹ tiếp tục giảm thì Trung Quốc lại nhanh chóng mở rộng và nâng cấp lực lượng tàu ngầm của mình. Để cân bằng cán cân quân sự, các nước khác trong khu vực Thái Bình Dương cũng đang tiến hành mở rộng và hiện đại hóa lực lượng tàu ngầm của mình.
Hoa Kỳ
Lực lượng tàu ngầm tiến công hạt nhân (SSN) của Hoa Kỳ đã giảm từ 102 chiếc năm 1987 xuống còn 53 chiếc năm 2009. Việc cắt giảm số lượng này được thực hiện theo các kế hoạch về cấu trúc của lực lượng Hải quân Mỹ kể từ sau Kế hoạch Hải quân có 600 tàu chiến với 100 tàu SSN của thời Tổng thống Reagan. Kế hoạch đưa ra năm 1991 của cựu Tổng thống Bush cha là duy trì 80 tàu SSN, trong khi nghiên cứu của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ năm 1992 đưa ra mục tiêu chỉ cần 55 chiếc và năm 1997, Kế hoạch điều chỉnh quốc phòng 4 năm 1 lần (Quadrennial Defense Review (QDR) – ?) tiếp tục chỉ ra rằng số lượng cần thiết có thể dưới ngưỡng đề xuất của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, tức chỉ 50 chiếc. Vào năm 2001 QDR lại đề xuất tăng lên thành 55 chiếc. Năm 2006 QDR đặt ra mục tiêu tăng tốc độ đóng mới tàu ngầm lên mức 2 chiếc mỗi năm tới 2012 và biên chế 60% sô lượng tàu ngầm của Mỹ ở biển Thái Bình Dương để bảo vệ lợi ích của Mỹ trong khu vực nhạy cảm này. Thực tế, hải quân Mỹ đang duy trì biên chế 313 tàu chiến bao gồm cả 48 tàu SSN, bất chấp có nhiều ý kiến cho rằng số lượng như vậy không đủ đáp ứng yêu cầu. Nghiên cứu về Cấu trúc lực lượng tàu ngầm của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ công bố năm 1999 đã kết luận rằng số lượng tàu ngầm tiến công lý tưởng để đáp ứng và phục vụ yêu cầu của Hải quân và các hoạt động thông tin tìn báo chiến dịch và chiến thuật phải là 68 chiếc SSN vào năm 2015 và 76 chiếc vào năm 2025. Một lực lượng chỉ gồm 55 chiếc vào năm 2015 và 62 chiếc vào 2025 tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Tuy nhiên, hạm đội tàu ngầm tiến công gồm 53 chiếc thậm chí còn nguy hiểm hơn cả đề xuất đưa ra trước sự kiện 11 tháng 9 năm 2001. Lực lượng tàu ngầm hiện nay đang bị dàn trải, kể cả trong kế hoạch mua sắm dài hạn của Hải quân Mỹ, số lượng tàu ngầm SSN sẽ giảm xuống còn 48 chiếc trong giai đoạn 2022 và 2033, và xuống mức thấp nhất là 41 chiếc vào năm 2028 và 2029.
Để thu hẹp “khoảng cách về tàu ngầm” đã được chỉ ra, hải quân Mỹ hiện đang cân nhắc việc rút ngắn thời gian đóng các tàu ngầm lớp Virginia xuống còn 60 tháng, đồng thời tăng hạn phục vụ của một số tàu ngầm thuộc lớp Los Angeles thêm hai năm, và kéo dài thời gian sử dụng của một số chiếc khác thêm từ 6 đến 7 tháng. Nếu thành hiện thực, các biên pháp tổng thể này có thể nâng số tàu ngầm ở mức thấp nhất lên con số 44 tới 45 chiếc. Dù vậy, những nỗ lực này cũng còn xa mới đáp ứng được yêu cầu của Hải quân Mỹ khi phải đối phó với một kịch bản tương tự như Sự kiện 11/9.
Thờ ơ với khả năng săn ngầm. Việc hạm đội tàu ngầm thu nhỏ quy mô không chỉ ảnh hưởng đến khả năng duy trì sức mạnh dưới mặt nước mà còn kéo theo sự suy giảm khả ănng chống ngầm. Điều này thể hiện rất rõ ở sự suy giảm số lượng các phương tiện săn ngầm. Hiện Hải quân đang vận hành 173 chiếc máy bay tuần tiễu P-3C đã lỗi thời, và việc máy bay P-8A (thay thế cho P-3C) khó có thể được đưa vào trang bị hàng loạt cho tới năm 2013. Hải quân Mỹ cũng đang cho về hưu các máy bay S-3B Viking, vốn đang được sử dụng như một loại máy bay săn ngầm tầm xa của các biên đội tàu sân bay, và không có kế hoạch thay thế. Thêm nữa, Hải quân cũng thiếu các thiết bị trinh sát âm thanh hiện đại (SOSUS), mà vẫn dựa vào hệ thống trinh sát thủy âm vốn được phát triển từ những năm 1950 để truy tìm các tàu ngầm của Liên Xô.
.....
Một số quốc gia chỉ có năng lực tác chiến hải quân giới hạn nay đang nhanh chóng đầu tư để mở rộng tầm ảnh hưởng và khả năng tung phóng sức mạnh nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của họ trên thế giới. Hải quân của chúng ta cần phải vượt lên trước các đối thủ trong môi trường tác chiến biển xanh khi họ cố vươn tầm hoạt động. Điều này đòi hỏi chúng ta cần nâng cấp khả năng đánh chặn tên lửa đạn đạo và chống ngầm trong môi trường biển xanh để cải thiện khả năng đánh chặn chiến lược.
Hải quân thừa nhận khả năng săn ngầm đang suy giảm khi phải đối mặt với những mối đe dọa dưới mặt nước “tái xuất hiện” và đã đặt mục tiêu phát triển các loại vũ khí săn ngầm và hệ thống cảm biến tiên tiến trong những năm sắp tới. Hạm đội Thái Bình Dương đã tăng cường huấn luyện khả năng chống ngầm. Đây là những nỗ lực đáng kể cần được duy trì song song với mục tiêu đẩy mạnh mua sắm thêm các phương tiện chống ngầm – chủ yếu là các tàu ngầm và máy bay trinh sát biển săn ngầm tầm xa.
Trung Quốc
Kể từ sau Chiến tranh lạnh, Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLAN) của Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp đáng kể lực luợng của mình, đặc biệt là hạm đội tàu ngầm, hiện đang được đánh giá là “Sức mạnh tiềm ẩn” nhất của PLAN. Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc có lực lượng hải quân lớn nhất châu Á, bao gồm 60 tàu ngầm tiến công (6 chiếc SSN và 54 tàu ngầm diesel tiến công). Hơn một nửa số tàu ngầm này thuộc loại hiện đại hơn như lớp Kilo, lớp Tống và lớp Yuan-class. Một nhà quan sát đã chỉ ra răng “Trung Quốc hiên này đang có nhiều tàu ngầm hơn cả Nga, và tốc độ phát triển của họ nhanh kinh khủng”.
Phát triển hạm đội tàu ngầm. Trung Quốc đang “chạy trên đường cao tốc” trong mục tiêu xây dựng lực lượng hải quân biển xanh để có thể tung phóng sức mạnh trên các tuyến đường biển của họ:
Để thực hiện được điều đó, Trung Quốc đang phát triển mạnh khả năng chống ngầm, đáng kể nhất là trong giai đoạn 2002–2004, hải quân Trung Quốc đã liên tục đóng 13 chiếc tàu ngầm, trong khi tiến hành đồng thời việc mua tàu ngầm của Nga với số lượng lớn. Thêm nữa, Trung Quốc đã đưa vào biên chế 31 tàu ngầm chỉ riêng trong giai đoạn 1995-2005. Với sự trỗi dậy mạnh mẽ và nhanh chóng, Trung Quốc dần có khả năng khống chế đường biển...... Để phát triển các công nghệ tiên tiến và phức tạp, Trung Quốc cuối cùng cũng dựa chủ yếu vào việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài.
Các ước tính cho thấy quy mô lực lượng tàu ngầm tiến công của Trung Quốc có thể biến thiên rộng từ 58 tàu tới 88 tàu, tùy thuộc vào việc các tàu ngầm thế hệ cũ bị đưa ra khỏi biên chế nhanh hay chậm, và chỉ tập trung vào đóng các tàu SSN đắt tiền hơn, khiến tổng số tàu ngầm được đóng sẽ giảm, và tiến hành mua tàu của nước ngoài nhiều hơn.
Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã đưa vào sử dụng 4 loại tàu ngầm mới tự thiết kế và đóng trong nước như: Jin hay Type 094 (SSBN), Shang hay Type 093 (SSN), Yuan hay Type 041/039A (SSP), và Song hay Type 039/039G (SSK). Thế hệ tàu tiếp theo của lớp Shang đang được triển khai. Có thể kết luận rằng quy mô lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc sẽ rất lớn (khoảng 70 chiếc hoặc hơn) là một ước tính thực tế chính xác về cấu trúc lực lượng Hải quân Trung Quốc trong vài thập kỷ tới.
(còn tiếp)