Bí quyết trong đàm phán kinh doanh
Trong cuộc sống, các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau đều được giải quyết thông qua đàm phán. Vì vậy, các nhà quản lý nói một cách hình ảnh rằng: Cuộc đời hiện thực quanh chúng ta là một chiếc bàn tròn và mỗi người chúng ta là một đối tác trong cuộc đàm phán.
Với ý nghĩa đó, các cuộc đàm phán có thể diễn ra trên bàn thương lượng, trong bàn tiệc, hoặc ở cả những cuộc tiếp xúc tay đôi dưới ánh sáng và trong bóng tối. Ðó là những cuộc đàm phán chính trị ngoại giao, quân sự, kinh doanh hay là các cuộc đàm phán tế nhị khác. Ðây là hiện tượng bình thường trong đời sống xã hội. Tuy nhiên mọi cuộc đàm phán đều bị chi phối bởi ba yếu tố sau đây: Bối cảnh-thời gian-quyền lực.
Bối cảnh: Trong hoạt động kinh doanh, trước khi ngồi vào bàn đàm phán ta cần biết đối tác có những yêu cầu gì? Yêu cầu nào mang tính nguyên tắc mà họ kiên quyết đạt bằng được, còn yêu cầu nào có thể nhượng bộ để cho cuộc đàm phán đi đến kết quả như đã dự tính trước. Bối cảnh của đối tác là yếu tố cực kỳ quan trọng, giúp nhà doanh nghiệp quyết định sách lược và áp dụng nghệ thuật trong đàm phán. Việc tìm hiểu bối cảnh đối tác được tiến hành theo các bước sau đây:
- Thu nhập thông tin. Trong hoạt động kinh doanh, thông tin được xem như là một tiềm năng bên cạnh các tiềm năng về lao động, thiết bị, nguyên vật liệu, tiền vốn... Trong lĩnh vực đàm phán kinh doanh, thông tin là yếu tố đặc biệt quan trọng giúp nhà quản lý hiểu rõ đối tác của mình để đưa ra những quyết định kịp thời, chính xác. Có hai nguồn thông tin ta có thể khai thác được:
- Thông tin pháp lý: Là hệ thống văn bản pháp quy do các cơ quan có thẩm quyền ban hành liên quan đến nội dung vấn đề đang đàm phán nhằm kiểm tra tư cách pháp của đối tác, loại trừ khả năng lừa đảo trong đàm phán kinh doanh. Mấy năm qua trong dư luận và báo chí nói nhiều đến những tổn thất của các doanh nghiệp trong cả nước do gặp phải đối tác nước ngoài là các công ty "lừa", công ty "ma". Nguyên nhân chủ yếu là thiếu những thông tin pháp lý cần thiết và chính xác về đối tác. Do đó mới có tình trạng nhiều công ty đã bị các cơ quan luật pháp nước sở tại tuyên bố phá sản hoặc đình chỉ hoạt động kinh doanh, nhưng bằng nhiều thủ đoạn tinh xảo họ vẫn lừa được các doanh nghiệp của ta, ký những hợp đồng trị giá nhiều tỷ đồng.
Thông tin thực tế: Các doanh thương Trung Hoa nêu một kinh nghiệm "muốn làm giàu phải có thông tin". Ðể có nguồn thông tin thực tế trước hết phải dựa vào nguồn thông tin đang lưu hành trong xã hội thông qua dư luận, báo chí, tài liệu, các phương tiện truyền thông đại chúng, các kỹ thuật thông tin trên mạng Internet...''
- Xử lý thông tin: Sau khi thu thập được lượng thông tin cần thiết phải tiến hành việc xử lý thông tin. Ðây là giai đoạn kiểm tra, chỉnh lý, phân loại nguồn thông tin thu được nhằm loại bỏ các thông tin thừa, trùng lặp, thiếu độ tin cậy mà chỉ giữ lại lượng thông tin phục vụ cho việc đàm phán. Có nhiều phương pháp xử lý thông tin như: diễn dịch, quy nạp, phán đoán, ngoại suy... Việc thu thập và xử lý thông tin giữ vai trò quyết định trong việc thăm dò bối cảnh đối phương. Vì vậy làm tốt khâu này sẽ giúp nhà doanh nghiệp chủ động trong việc đề ra sách lược đàm phán, tránh được những sai lầm trên bàn thương lượng.
Thời gian: thời gian trong đàm phán kinh doanh được ghi thành thời gian diễn biến và thời gian kết thúc mà các nhà chuyên môn gọi là "điểm chết".
Ðây là thời điểm buộc đối tác phải đưa ra quyết định cuối cùng. Nói cách khác, áp lực của đối phương đã đạt đến điểm đỉnh buộc đối tác chấp nhận các điều kiện họ đề ra. Ðiều ấy cảnh báo với các nhà doanh nghiệp cần rèn luyện đức tính bình tĩnh, kiên nhẫn, chịu đựng sức ép và các đòn tâm lý của đối phương trên bàn đàm phán để không đặt mình vào hoàn cảnh là người đưa ra thoả hiệp đầu tiên. Ngược lại nhà doanh nghiệp tài năng là người biết dựa vào những hiểu biết về bối cảnh của đối tác để rồi áp đặt "điểm chết" cho họ và khi ấy chắc chắn sẽ dành phần thắng lợi.
Ví dụ: Hai người bạn thân từ ngày còn để chỏm ở quê nhà. Bây giờ họ là hai nhà doanh nghiệp lớn. Một ở Hà Nội, một ở TP Hồ Chí Minh. Nhà doanh nghiệp Hà Nội vào TP HCM mua nguyên vật liệu của mình để duy trì sản xuất. Cuộc gặp sau hơn mười năm xa cách thật thân thiết và câu hỏi đầu tiên:
- Mày vào với tao được bao lâu?
- Chiều nay làm việc, sáng mai làm việc tiếp, 11 giờ tao ra sân bay về Hà Nội vì sáng ngày kia tao phải báo cáo đề án hoạt động của công ty trước Hội đồng Bộ.
- Vội thế! Sao mày không cử một phó giám đốc đi thay?
- Tao với mày là bạn, tao đang gặp khó khăn về nguyên vật liệu, vào đây với hy vọng mày giúp đỡ.
Thế là nhà doanh nghiệp Hà Nội để lộ hai thông tin quan trọng về bối cảnh và "điểm chết" trong đàm phán. Chắc chắn người bạn không thực hiện chương trình đàm phán theo đúng ý bạn mình. Anh ta sẽ khai thác triệt để các thông tin trên để ép bạn chấp nhận những điều kiện có lợi nhất cho mình.
Ðừng vội trách anh ta thiếu tình nghĩa. Không, đây là sự khắc nghiệt của cơ chế thị trường. Nhà doanh nghiệp khi ngồi vào bàn đàm phán phải chịu một áp lực tâm lý nặng nề. Ðó là nhu cầu thành đạt, là ý thức trách nhiệm đối với tập thể doanh nghiệp. Ví dụ nêu trên chứng minh tính chất quan trọng của yếu tối bối cảnh và thời gian trong đàm phán kinh doanh rất phức tạp. Nếu phát hiện được những sơ hở của đối phương xét thấy có lợi cho ta thì khi ấy ta phải nhanh chóng đưa ra quyết định cuối cùng. Ðây là nghệ thuật kinh nghiệm tích luỹ được trong hoạt động thương trường.
Quyền lực: Là sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh qua tài năng uy tín của người lãnh đạo và của doanh nghiệp. Quyền lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố và có thể chia thành:
Quyền lực tiềm ẩn: là quyền lực được tạo nên bởi chính khả năng và cả những kiến thức khác mà người lãnh đạo thể hiẹen thông qua giao tiếp như: nghệ thuật giao tiếp, tính nhạy cảm trong ứng xử tình huống... tất cả điều đó tạo cho nhà doan nghiệp quyền lực tiềm ẩn khiến đối tác nể trọng, không dám coi thường. Ðây là điều kiện thuận lợi mà các nhà doanh nghiệp phải có những hiểu biết cần thiết khi tiếp xúc với từng loại khách hàng của các quốc gia ở từng vùng trên các châu lục khác nhau.
Ví dụ: Khi tiếp xúc với các nhà doanh nghiệp Ðông Âu như Pháp không nên hỏi chuyện gia đình, đời tư mặc dù tâm lý á Ðông coi đó là sự quan tâm. Lúc trò chuyện với các nhà doanh nghiệp Anh không nên mang chuyện hoàng tộc ra làm trò đùa để khoe khoang kiến thức mặc dù các chuyện ấy đã có trong các tác phẩm văn học.
Khách hàng Ðông Nam á là những người rất coi trọng lễ nghi giao tiếp. Vì vậy cần thận trọng trong cách đi đứng, nói năng khi tiếp xúc.
Quyền lực hợp pháp: Là quyền lực được tạo nên bởi dư luận khách hàng về tính trung thực trong kinh doanh, quảng cáo và chất lượng sản phẩm cũng như mối quan hệ rộng rãi của doanh nghiệp với nhiều cơ sở, đơn vị sản xuất kinh doanh có uy tín trong nước và trên thế giới. Muốn tạo được quyền lực hợp pháp thì mọi thành viên phải gắn liền lợi ích cá nhân với lợi ích doanh nghiệp thể hiện bằng tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật trong việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của đơn vị do tính khắc nghiệt của quy luật kinh doanh và quy luật thị trường đặt ra.
Trong đàm phán kinh doanh, việc ý thức đầy đủ và vận dụng một cách có nghệ thuật các bí quyết bố cảnh-thời gian-quyền lực trên bàn thương lượng sẽ giúp các nhà doanh nghiệp giành thắng lợi.
( ST - Sách Tìm hiểu các phương pháp Kinh doanh )