A Pa Chải: Một mình vào ngã ba biên giới (P.3)
Nguyễn Huy Minh
8.
Càng vào sâu vùng ngã ba biên giới càng thấy nghèo đói. Trẻ con bản Gò Cứ thấy khách miền xuôi, trần truồng chạy theo đông như kiến. Bản Gò Cứ, theo cách nói của bà con, rẽ cá mới thấy nước, ra vườn hái rau ko nhanh bằng xuống suối quăng chài, mà dân thiếu thốn đủ bề. Người Gò Cứ hầu hết mù chữ, ko nói được tiếng Kinh - cả bản có 82 nóc nhà nhưng chỉ có 9 hộ đủ ăn mùa giáp hạt. Lưỡi cày thiếu, dao phát nương cũng thiếu. Đã thế đêm nào lợn rừng cũng về hàng đàn hai, ba mươi con phá sắn, phá ngô. Lồ Ô Vô mới 32 tuổi đầu mà có tới 10 con, vợ quanh năm chỉ nằm ở nhà mà đẻ. Sốt rét triền miên, mỗi lần cử người về Pác Ma xin thuốc chỉ được 30 viên đựng ko đầy một bát, cả bản dành dụm bẻ đôi chia nhau cũng ko đủ. Trưởng bản Pờ O Xá người như ma rừng, quần áo rách ko có kim chỉ để khâu, phải buộc túm bằng lạt, nửa đêm còn làm thịt một con chó ba cân đãi khách. Anh Xá lo rằng một năm nữa Gò Cứ sẽ ko còn người có trình độ lớp 5, đi họp ở xã biết ghi cái chữ ra giấy về phổ biến lại cho bà con, thay anh làm trưởng bản. Lời nguyền "người Hà Nhì lội qua suối bị lừa ăn mất chữ" đến giờ vẫn còn dai dẳng. Trẻ con giỏi lắm chỉ hết lớp 2, muốn học tiếp phải về Mù Cả theo con đường "ngựa đứt hơi" đến người lớn còn phải mất 9 tiếng, sao đi nổi? Người ta quên mất những bản làng heo hút này, hay ko làm gì nổi? Nghỉ dừng chân ở nhà nào, dù chỉ uống một bát nước đun sôi, tôi cũng vờ để quên một cái gì đó: áo mưa, đèn pin, dao cạo râu, bật lửa... Một chút cũng có thể giúp họ đỡ nhọc nhằn.
Từ Gò Cứ lên Sen Thượng, người ở đây gọi là "con đường khỉ". Đường dài gần 20km dọc suối, bám vách đá bên này chán lại bì bõm cắt dòng sang bám vách đá bên kia suối. Suối Mo Phí có chỗ lội sâu mang bụng, nước lạnh buốt xương, lính biên phòng mới nhập ngũ lên đây dân bản phải túm thắt lưng dắt đi từng bước một. Lội Mo Phí, đã ngã là chết, đầu gối va vào đá sẽ ko đứng lên được nữa, cứ thế bị nước cuốn trôi. Trước ngày tôi đến hai tuần, một thiếu nữ A Pa Chải đội muối bị nước cuốn, dân bản vừa khóc vừa đuổi theo tìm suốt 7 ngày trời mới thấy. Đó ko phải là xác nữa mà là một cái túi da người lổn ngổn xương vụn vì ghềnh thác, tóc rối bời vì nước xoáy.
Trên những doi cát dài bốc hơi ngùn ngụt trong nắng trưa, thỉnh thoảng lại xuất hiện những dấu chân hươu to như miệng bát. Cá suối đuôi đỏ như lửa nghe tiếng chân người, chạy bắn nước. Trong những vực sâu, vẫn còn những con to như đứa trẻ, muốn bắt phải dùng sào đuổi ra dòng cạn rồi dùng súng bắn. Những con rắn khoang đen, khoang trắng nhỏ như chiếc đũa cuộn mình ngủ ngon lành trong các hốc đá, mặc người đi lại; những vạt cỏ gianh dài hai, ba trăm mét muốn vượt qua ko phải là đi, mà là chui, lá sắc cào rách bất kỳ phần cơ thể nào lộ ra ngoài quần áo. "Năm nay mưa nhiều cỏ rậm, rồi hai tháng nữa lửa rừng sẽ lại cháy suốt đêm thôi" - người Sen Thượng nhìn trời bảo thế.
9.
Bản Sen Thượng đón chào tôi bằng hai cô gái trần truồng tắm suối, té nước líu lo rủ khách xuống tắm cùng. Một cô chạy lên bờ chả ngại ngùng gì: "Cán bộ ơi, cho A Nhí xin một ít xà phòng thơm đi". A Nhí đợi tôi cho xà phòng mỏi cả chân trần. Chủ tịch HĐND xã Xín Thầu - Chu Xế Chừ, tiếp khách lạ mà như đón bạn cố tri, mời thịt gà rừng, cá pà xì, tối đến tự tay anh đem cao trăn ra nướng trên than hồng hòa rượu. Sau ngày chiến tranh biên giới, đã gần 20 năm rồi ko có nhà báo dưới xuôi vào Sen Thượng. Đó là một lý do và anh cũng cho riêng mình một lý do nữa. Anh đã từng là một người lính cụ Hồ, ra quân về quê nhà và ko đi đâu thêm được nữa. Xế Chừ coi tôi là một dịp may chưa từng có, có thể đem giùm anh lá thư về Hà Nội cho người bạn một thời điếu thuốc hút chung trên đường hành quân. Khi bà con nghe tin nhà báo về bản kéo đến chật nhà, kể biết bao chuyện buồn vui đã về hết, tôi chứng kiến Xế Chừ ngồi chong đèn, mắt ướt viết thư cho bạn. Sen Thượng xa lắm Hà Nội ơi. Thế mà còn phải một ngày dầm mình trong suối lạnh suốt đoạn đường 24 cây số nữa mới đến được A Pa Chải.
Sáu giờ chiều, trước mặt tôi là A Pa Chải, là bản cực Tây của Tổ quốc, của giống nòi tự do, nơi một con gà gáy ba nước nghe tiếng. Tôi dựa lưng vào vách núi đá ngắm nhìn ước mơ từ thời cấp 3 của mình và nhận thấy đã hoàn toàn kiệt sức. Chấn thủy rất đau vì gan phải làm việc liên tục, uống rượu quá nhiều, ko đêm nào dám ngủ đẫy giấc, ko đỉnh đèo nào dám ngồi nghỉ quá lâu. Hành trình dài mà người làm báo vẫn gọi là "conscience tour - chuyến đi của lương tâm" đã tới được nơi cần đến.
10.
Còn có nơi nào xa xôi hơn A Pa Chải? Một bát muối mang lên được đến đây giá 12.000đ, gia đình nào trong bản có người bệnh tật mà quân y đồn 405 ko cứu nổi, có nghĩa là chết. Dân A Pa Chải cấy được lúa, nuôi được trâu, rau trồng ra để cho già chết đi mà ko bán đi đâu được, ko làm sao giàu có nổi. Năm 1982, thấy dân cõng một tấn lúa nhọc nhằn ra được đến huyện đổi muối, đổi dầu ko bằng xách một cân thuốc phiện, một số vị lãnh đạo đã xót ruột, cho trồng thuốc phiện. Chỉ một mùa rẫy, hoa anh túc nở bạt ngàn trên các sườn đồi. Đó là thảm họa đến nay còn đeo đẳng. Có người hút thuốc phiện ngót nghét hai mươi năm, nằm bẹp trong nhà, ôi thiu quần áo, ko bao giờ sờ tay lại đến cái cày, cái cuốc. Có người bỏ sang Lào đi ở để được hút cho thoải mái, trong 6 tháng trời mà hút hết 38 lạng. Đầu năm, trạm biên phòng đi một buổi chiều thu được 70 bàn đèn thuốc phiện. Đến từng nhà vận động đi cai thì dân oán. Nghiện nặng nhất bản là vợ chồng Vàng Lá Lụ - Pờ Xà Mé, mà người mẹ của 8 đứa con này thời thiếu nữ đi cắt cỏ gianh còn vật ngã được cả thanh niên, nay tàn tạ như con ma rừng. Bộ đội khuyên can gẫy lưỡi cũng ko chịu. Giờ đã đỡ hơn nhiều, cha đã về với con, chồng đã về với vợ, đi đâu cũng tươi tỉnh hát hò, gặp bộ đội ở đâu là chào hỏi.
Sống vắt vẻo trên những sườn non cao như người Mông, nhưng người Hà Nhì luôn quần cư ở những nơi thuận tiện với phương thức canh tác của mình. Đồng bào ở nhà đất có tường trình chắc chắn dày 30-40cm chống sương gió lạnh. Nhà người Hà Nhì ở vùng Y Tí, A Lú (Bát Xát - Lào Cai) tường cao đến 3-4m, mái dốc, ngắn, ko hiên và chỉ có một cửa ra vào. Bên trong lại dựng thêm một lần tường có tác dụng phòng thủ và hỗ trợ chống rét. Lớp tường ngoài và tường trong cách nhau chừng 1m50, tạo nên khoảng trống gọi là hiên trong. Ở bức tường thứ hai mở một hoặc hai cửa để vào nhà. Hai gian ở hai đầu được ngăn thành hai buồng riêng cho vợ chồng chủ gia đình và con cái. Khoảng 1/3 chiều rộng của hai gian giữa là phần đất, còn lại được dựng thành sàn. Phần đất có bếp lò nấu cơm, cám lợn, có chạn bát. Phần sàn là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, nơi ngủ của con gái, khách đến chơi nhà. Trên sàn có bếp lửa cháy suốt ngày đêm. Nhà người Hà Nhì ở ngã ba biên giới thì lại có tường và mái thấp hơn với hàng hiên phía trước, nhà chỉ có một tường, thường chia ba gian, độ rộng dài tùy theo sức người, sức của. Rất nhiều kiểu nhà được xây dựng ở A Pa Chải với vật liệu, kiến trúc khác nhau mà tôi chưa từng gặp trong suốt dải hành trình. Có nhà dựng hai lầu, lầu trên mở cửa bốn hướng, lại là nơi sinh hoạt chính của cả gia đình, được dựng bởi thợ xây từ bên biên giới sang làm giúp - kiểu kiến trúc giao thoa của rất nhiều dân tộc anh em chỉ có ở bản cực Tây của Tổ quốc này. 40 giờ ở A Pa Chải, Chủ tịch xã Pờ Dần Sinh vai đeo đài pin đưa tôi đi ngó nghiêng, thăm thú khắp nơi. Anh có một vóc dáng hoàn hảo làm người ta kinh ngạc và một ước mơ cũng làm người ta ko quên được: "Một ngày nào đó, mảnh đất này sẽ là... thành phố A Pa Chải". Nhưng trước hết Pờ Dần Sinh mong mỏi một con đường để ngựa có thể chở lúa, người có thể dắt trâu đi lại suốt ngày đêm.
11.
Ở A Pa Chải ko ai ko biết đến "hai con hổ xám" của một thời: Pờ Xí Tài và Tô Minh Điến. Pờ Xí Tài cao tới gần mét tám, ngày còn trai trẻ sức vật trâu ngã, một mình một súng trận, một ngựa chiến suốt 10 năm rong ruổi, ngủ tai phải thức tai trái tiễu phỉ, gọi hàng. Tô Minh Điến là trưởng đồn biên phòng, sống 26 năm với bà con A Pa Chải. Tôi vào thăm Pờ Xí Tài, huyền thoại một thời bây giờ ngồi suốt ngày trên ghế mây giữa nhà, vì bệnh tật. Năm ngoái Pờ Xí Tài tự mình đi đánh bẫy gấu lớn, mổ ngay lấy mật nuốt sống mà bệnh cũng ko đỡ được là bao. Thích nhất là nghe Pờ Xí Tài kể chuyện các chuyến đi săn. Có chuyến đi rình hổ dữ thì gặp nó đang rình lại mình trong rừng sạt. Con hổ gầm lớn rồi quật đuôi chồm tới. Pờ Xí Tài giật bắn mình ngã ngửa ra sau, theo phản xạ thả bừa một loạt liên thanh. Con hổ thành tinh khiến dân A Pa Chải phải đi sơ tán đổ vật xuống người Pờ Xí Tài như một cây gỗ nặng. Hôm tôi đến, hổ dữ lại về A Pa Chải, người ta thấy vết chân nó ngang ngược dẫm cả vào những lối mòn xung quanh bản. Tôi theo dõi Pờ Xí Tài lồng lộn khi nghe tin báo có tiếng gầm của hổ chỉ cách bản một giờ đường, vào buồng lôi cây súng trận của ông giờ chỉ giành riêng để bắn ác thú, vuốt ve mãi cái nòng thép xanh biếc có lỗ tỏa nhiệt mà thở dài bất lực. Ko ai bảo vệ nổi người A Pa Chải trước thiên nhiên hoang dại, ngoại trừ chính họ.
Còn Tô Minh Điến là một quân nhân quê ở Thái Bình, biết kích từng treo giải rất hậu cho ai chặt được đầu ông. Tô Minh Điến ra quân từ năm 1988, suốt từ đó đén nay ko quay trở lại. Người ở đây nghe tin dữ rằng, Tô Minh Điến ở quê thấy côn đồ hành hung hàng xóm bước ra can, bị dao xuyên qua người thiệt mạng. Cả A Pa Chải làm ma cho Tô Minh Điến. Trong cuộc rượu uống với thịt nai tươi vừa bắn được khi chiều, già Chang Vang Sinh, chú Sừng Sừng Khai nhờ tôi về xuôi hỏi lại tin của Tô Minh Điến. Nếu gặp được ông thì nhắn là già Sừng Là Vù đã mất rồi, gửi hộ lời bà con mời ông đến chơi, lên say. Người ta ko tin một người như Tô Minh Điến lại có thể sớm qua đời như vậy được. Chiến tranh đã lùi xa, Pờ Xí Tài và Tô Minh Điến, hai nhân vật huyền thoại của ngã ba biên giới đang dần đi vào ký ức. Bây giờ, ai giàu có, ai học hành nên người ở A Pa Chải sẽ là những huyền thoại mới. Nhưng biết đến bao giờ mới có, khi những đứa trẻ A Pa Chải quần áo ko có mà mặc, muối ko có mà ăn, suốt ngày nô đùa trong phân trâu, bò tù đọng?
Tôi ở hai đêm với những người lính trấn giữ cửa khẩu quốc gia A Pa Chải, những người ba, bốn năm trời ko thấy một bóng phụ nữ mặc quần hai ống; những người nghỉ phép một tháng mà ko dám về quê vì đường dài đi ko kịp. Có người sau khi nhập ngũ đã ở đây vừa đúng 6 năm tròn. Ko có sức mà chuyển lương, tám người lính A Pa Chải phải tự đục đẽo cày bừa, làm tất tật để nuôi mình. A Pa Chải là nơi những lá thư nhà hai tháng mới gửi lên được đến nơi, có bức vợ giận chồng rằng: "Mẹ đang ốm, con đang ốm, em trăm lần xin anh, ngàn lần xin anh mau gửi tiền về cho mẹ, cho con". Ko có người về từ A Pa Chải thì đau lòng bao nhiêu cũng đành phải chịu.
Chia tay, có đêm mất ngủ ở A Pa Chải của những người lính nhớ nhà, có rượu mật ong, cao sơn dương, cao hổ cốt, rượu lục phủ ngũ tạng hổ bà con mời uống để tôi đủ sức mà về. Già Chang Vang Sinh gọi tôi qua nhà bảo:"Con à, Ata đặt cho con một cái tên để ở trên này bà con dễ gọi. Chang là họ của Ata, Hừ Giá là to, là nhanh nhẹn. Ata đặt cho con tên này để về sau con còn về uống rượu với Ata. Có trở lại ko con?". Tôi cúi đầu ko biết thưa lại ra sao. Từ xưa đến nay, người đã ra đi chưa ai một lần quay lại A Pa Chải. Còn tôi, lời thề khi đi lạc rừng vừa đói vừa khát ở Ma Ký - đến bằng được để ko bao giờ quay lại A Pa Chải - bây giờ tan thành nước. Tôi đã là người Hà Nhì, là con của ngã ba biên giới. Có thể hàng chục năm nữa, một khách lữ thứ ghé thăm A Pa Chải, sẽ vẫn được nghe những câu hỏi ngây thơ đau xé ruột gan:"Từ đây về Hà Nội có xa đến một tỉ cây số ko con? Có phải người Liên Xô biết bay cả rồi phải ko cán bộ?". Nhưng anh ta có thể sẽ được nghe kể thêm về một nhà báo đã một mình lặn lội lên đây, đã được là máu thịt của A Pa Chải. Người ấy tên là Chang Hừ Giá. Người ấy ko làm được gì cho những cuộc đời tăm tối và ngay cả những dòng chữ như chắt từ nỗi xót đau này cũng ko biết bao giờ mới đến được với A Pa Chải. Với người ấy, một lần nữa quay lại Gò Cứ, Sen Thượng, Tả Long San, Lỳ Mà Tá, A Pa Chải... ko còn là một khái niệm vô cảm như "conscience tour", mà chỉ giản đơn hai chữ: Trở về.
( Hết )