Cảm ơn HKT...
Vật quyền là tuyệt đối và không phải là do luật định nó khác với quyền đối nhân là quyền của một trái chủ đối với người thụ trái.
Và quan trọng, trên hết tất cả là chia tài sản thành ĐỘNG SẢN VÀ BẤT ĐỘNG SẢN.
Vậy căn cứ nào để phân loại bất động sản và động sản? Cách thức phân loại này được các hệ thống luật chấp nhận dựa trên tính chất di dời hay không di dời được của tài sản. Các hệ thống pháp luật thường đưa ra các quy định chi tiết hơn đối với bất động sản, có lẽ bởi các lý do sau đây:
1. Về mặt vật lý: bất động sản thường gắn bó chặt chẽ với lãnh thổ quốc gia, trong khi động sản di chuyển tự do dễ bị mất mát, phá huỷ, nhầm lẫn và rất khó quản lý.
2. Về mặt kinh tế: Đất đai là nguồn của cải thiết yếu cho cuộc sống và được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác.
3. Về mặt tâm lý: Đất đai, nhà cửa luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống của con người, do đó họ hường có tình cảm và chú ý hơn.
Tiếp theo phần này nhé...
Các ảnh hưởng của phân loại tài sản thành BĐS và ĐS như sau: cách phân loại này được áp dụng cho mọi nguồn của cải kể cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
Đối với BĐS
Thông qua đó, người ta thiết kể các quy định chi tiết hơn về BĐS. DO tính không di chuyển được, nên pháp luật dễ đàng áp đặt một hệ thống đăng ký BĐS để công khai các quyền nhằm thông báo cho các chủ nợ. Vì vậy, các quyền trên BĐS thường phức tạp hơn.
Khi nghiên cứu về vai trò của ĐS ngày nay người ta thấy rằng: trong nền kinh tế nông nghiệp, đất đai có giá trị đặc biệt. Còn nền kinh tế công nghiệp và hậu công nghiệp, kinh tế tri thức làm động sản có giá trị ngày càng lớn. Ngày nay, động sản cũng được cá thể hoá bằng cách đăng ký như máy bay, tàu biển, ô tô...
Ở các nước theo Civil law, BĐS và ĐS được quy định gồm có 4 phân loại chính như sau:
- Bất động sản hữu hình
- Bất động sản vô hình
- Động sản hữu hình
- Động sản vô hình
Nghiên cứu về bất động sản cho thấy có các dạng là BĐS do bản chất, BĐS do dụng đích, BĐS bởi lý do có đối tượng trên BĐS, BĐS do luật định...
BĐS do bản chất, có đặc tính gắn liền với đất, đất đai, nhà cửa, công trình, cây cối hoặc đồ vật là một phần không thể tách rời của dạng bất động sản này ví dụ như ống dẫn khí, đường điện, nước...
BĐS do dụng đích, có đặc tính gắn với đât một cách yếu ớt, thực chất là động sản được gắn với BĐS do bản chất một cách có ý thức. Bao gồm các dạng như đồ vật có chung một mục đích với BĐS do bản chất và những đồ vật gắn với BĐS nhằm mục đích hoàn thiện cho BĐS.
BĐS bởi lý do có đối tượng trên BĐS, bao gồm các vật quyền (quyền sở hữu, hưởng dụng...) và các tố quyền đòi các vật quyền, và đòi chiếm hữu BĐS...
BĐS do luật định tức là pháp luật có thể định ra một số loại vật quyền.
Phần quan trọng và mấu chốt nhất là nghiên cứu các vật quyền trên BĐS, bao gồm:
Quyền chiếm hữu
Quyền sở hữu (đây là quyền thống trị với tài sản)
Quyền hưởng dụng và thu lợi (quyền dụng ích)
Quyền cư ngụ và quyền hành dụng
Quyền thuê mướn trường kỳ
Quyền địa dịch
Quyền thế chấp
Quyền ưu tiên hay đặc quyền
Vật quyền được chia ra làm hai loại gồm vật quyền chính yếu và vật quyền phụ thuộc. Trong đó, vật quyền chính yếu là vật quyền được hưởng dụng trực tiếp trên vật và vật quyền phụ thuộc là quyền dùng để bảo đảm cho các trái quyền (như cầm cố, thế chấp...)
Tố quyền là cách thức luật định cho phép người có quyền lợi đòi hỏi toà án xác nhận và bảo vệ quyền lợi cho họ (các quyền khởi kiện...)
Đối với ĐỘNG SẢN
Động sản là các dạng tài sản còn lại sau khi xác định xong BĐS. Động sản có hai loại bao gồm:
1. Động sản do bản chất (là tài sản có thể di dời được mà không phải là BĐS (toàn bộ những vật là bộ phận của thế giới khách quan, có thể di dời được nhưng không phải là BĐS do dụng đích hoặc BĐS bởi lý do đối tượng trên BĐS) và
2. Động sản do luật định (là các quyền trong đó có những vật quyền trên động sản, tố quyền...
Đến đây, chúng ta lại phải liếc qua về phân loại vật bao gồm:
Vật chính và vật phụ
Vật chia được và vật không chia được
Vật tiêu hoa và vật không tiêu hao
Vật cùng loại và vật đặc định
Vật đồng bộ
Vật tự do lưu thông, vật cấm lưu thông và vật hạn chế lưu thông (do ý chí của nhà làm luật)
Ngoài ra còn có hoa lợi và lợi tức. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại trong khi lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản.
Tiếp tục là đi vào phần quan trọng nhất mà chúng ta đang bàn: QUYỀN SỞ HỮU
Quyền sở hữu là một chế định quan trọng và nổi bật của hệ thống pháp luật XHCN, là loại vật quyền thống trị nhất, là chế định nổi trội nhất của họ pháp luật này (hiện nay còn 3 nước duy trì là VN, CuBa, Bắc Triều Tiên ?" còn Trung Quốc vừa sửa đổi Hiến pháp được vài ngày, trong đó HP mới đã công nhận sở hữu tư nhân là thiêng liêng).
Trong bộ luật dân sự ở các nước tư bản, chế độ và hình thức sở hữu thường khôgn được quy định rõ ràng, tuy nhiên, quyền tư hữu được coi là thiêng liêng và bất khả xâm phạm (sự công nhận quyền này có thể coi là động lực của sự phát triển).
Các luật gia XHCN quan niệm quyền sở hữu phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định. Pháp luật sở hữu xác nhận, quy định và bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu. Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu sử dụng và định đoạt tài sản.
Theo đó, mục tiêu của pháp luật sở hữu theo quan niệm của các luật gia XHCN là:
-Xác nhận và bảo vệ việc chiếm hữu tư lieuẹ sản xuất chủ yếu của giai cấp thống trị
-Bảo vệ những quan hệ sở hữu phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị
-Tạo điều kiện cho giai cấp thống trị khai thác được nhiều nhất tư liệu sản xuất đang chiếm hữu phục vụ cho sự thống trị
-Xác định mức độ xử sự và các hạn chế cho các chủ sở hữu
Quyền sở hữu theo nghĩa rộng được hiểu như sau: Quyền sở hữu là một tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt TLSX, TL tiêu dùng và các tài sản khác.
Quyền sở hữu theo nghĩa hẹp là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định. Quyền sở hữu là quyền dân sự chủ quan.
Ngoài ra, quyền sở hữu còn có thể được quan niệm khác với hai khái niệm trên, coi quyền này là quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu. DO đó, nó bao gồm 3 yếu tố chủ thể, khách thể và nội dung.
Xin xem thêm một vài định nghĩa về quyền sở hữu sau đây:
A.M. Honoré cho rằng: ?oSở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền quản lý, quyền thu hoa lợi từ vật, quyền làm vốn, quyền bảo đảm, các quyền và các sự kiện chuyển nhượng không có thời hạn, nhiệm vụ ngăn cản thiệt hại, trách nhiệm đối với sự kiện bắt giữ và sự kiện phân chia?
Với Felix Cohen, quyền sở hữu là quan hệ giữa người với người mà trong đó người được gọi là chủ sở hữu có thể loại trừ những người khác thực hiện hành vi nhất định hoặc cho phép những người khác thực hiện những hành vi như vậy, và cả hai trường hợp cần có sự trợ giúp của pháp luật trong việc thực hiện những quyết định đó.
Điều 679 BLDS California quy định, quyền sở hữu tài sản là tuyệt đối khi một người có quyền thống trị tuyệt đối với tài sản, và có thể sử dụng nó hoặc định đoạt nó phù hợp với ý muốn của anh ta, chỉ phụ thuộc vào luật chung.
Đối với các nước theo họ Civil law, quyền sở hữu bao gồm ba quyền:
Quyền sử dụng (usus)
Quyền thu lợi (fructus)
Quyền định đoạt (abusus)
Quyền sở hữu bao gồm tất cả các lợi ích của vật, quyền chiếm hữu là một quan hệ thực tế. (BLDS Đức quy định? chiếm hữu một vật được thủ đắc bởi việc nắm quyền kiểm soát thực tế đối với vật?.
Điều 903 BLDS Đức quy định: Chủ sở hữu của một vật có thể, trong chừng mực không trái với pháp luật hoặc quyền của người thứ ba, thực hiện những việc theo ý của mình và loại trừ những người khác từ bất kể một sự can thiệp nào; chủ sở hữu của một con vật phải tuân thủ những quy tắc pháp lý đặc biệt về việc bảo vệ thú vật khi thực hiện quyền sở hữu của mình.
Điều 206 BLDS Nhật bản quy định, chủ sở hữu có quyền, phụ thuộc vào các giới hạn của luật và sắc lệnh, tự do sử dụng, thu lợi và định đoạt vật thuộc sở hữu của mình.
Điều 544 BLDS Pháp quy định: ?oQuyền sở hữu là quyền hưởng dụng và định đoạt tài sản một cách tuyệt đối, miễn là không sử dụng tài sản vào việc pháp luật cấm? (Điều 462 BLDS Bắc Kỳ năm 31 cũng quy định tương tự.)
Khi nghiên cứu chế định này dưới dạng là một quan hệ pháp luật, có thể thấy Quan hệ pháp luật sở hữu bao gồm:
Chủ thể: Tham gia quan hệ pháp luật dân sự về quyền sở hữu
Khách thể: Có thể là đối tượng của thế giới vật chật hoặc kết quả của những hoạt động sáng tạo tinh thần
Nội dung của quyền sở hữu: Quyền chíêm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt
Trong đó, quyền chiếm hữu là quyền năng của chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình. Bao gồm quyền chiếm hữu pháp lý và chiếm hữu thực tế, chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu khôgn có căn cứ pháp luật.
Quyền sử dụng bao gồm quyền khai thác công dụng và những lợi ích vật chất của tài sản. Chủ sở hữu trực tiếp sử dụng hay chuyển giao việc sử dụng cho người khác và tài sản có thể bị trưng dụng.
Quyền định đoạt là quyền năng của chủ sở hữu quyết định số phận của vật, quyết định số phận thực tế và quyết định số phận về mặt pháp lý. Việc thực hiện quyền định đoạt đối với vật làm thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật liên quan tới vật đó. Và việc định đoạt phải thông qua một hành vi và phải hợp pháp.
Quyền sở hữu chỉ phát sinh khi có căn cứ hợp pháp, các căn cứ này là sự ghi nhận các hiện tượng xảy ra trong đời sống thực tế. Theo giáo trình luật DS VN của ĐHL HN có ba nhóm căn cứ xác định quyền sở hữu:
- Theo hợp đồng hoặc giao dịch một bên
- Theo quy định của pháp luật
- Theo những căn cứ riêng: Bản án, quyết định của toà án
Chúng ta xem xét tới căn cứ xác lập quyền sở hữu đầu tiên và phái sinh dựa vào quy trình hình thành và thay đổi quyền sở hữu, qua đó có thể thấy:
Căn cứ đầu tiên không phụ thuộc vào chủ sở hữu trước đó trong khi căn cứ phái sinh thì quyền sở hữu được chuyển dịch theo ý chí của chủ sở hữu cũ.
Phần tiếp theo là các tố quyền để bảo vệ quyền sở hữu - nhưng sẽ post tiếp sau vậy, đêm đã khuya quá rồi...
Được no-fear sửa chữa / chuyển vào 03:19 ngày 22/03/2004