Trích: CÁC THỂ LOẠI VĂN VẦN (VĂN HỌC DÂN GIAN AN GIANG) Tào Văn Ân
Tục ngữ: Một số lượng khá lớn những câu tục ngữ sưu tầm được tại An Giang đề cập đến những nhận xét, giải thích của nhân dân về các hiện tượng của tự nhiên liên quan đến thời tiết, khí hậu. Từ những nhận xét về thời tiết, người dân liên hệ gắn những hiện tượng đó với hoạt động lao động sản xuất, chủ yếu là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Cũng như các thể loại khác, bên cạnh những câu tục ngữ có tính phổ biến trong
toàn quốc, có một số câu tục ngữ gắn liền với những nét đặc sắc của sản phẩm, cảnh vật, con người trong đời sống của người dân An Giang, cả về phương diện vật chất và tinh thần : ?oNhất núi Sam, nhì Ông Cấm, ba Bảy núi?, ?oTu Phật Phú Yên, tu Tiên Bảy Núi?. ?oBò Châu Giang, Kinh Vĩnh Tế?, ?oMắm Châu Đốc, dốc Nam Vang ?o, ?oTrai Nhơn Ái, gái Long Xuyên? ?oHàng chợ Thủ, lụa Tân Châu?, ?oLụa Tân Châu, trâu Nhà Bàng?, ?oMắm sặc Châu Đốc, mắm lóc Long Xuyên?.
Phần lớn các câu tục ngữ sưu tầm được tại An Giang phản ánh những quan niệm sống của người lao động về đạo đức, tư tưởng, thể hiện rõ sự quí trọng con người với những phẩm chất đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc và phê phán các thói hư tật xấu trong đời sống cộng đồng. Đó là sự coi trọng cội nguồn, lao động, sự thủy chung, nhân hậu, thẳng thắn?, chê bai những tật xấu như lười biếng, cờ bạc, rượu chè?
Một trong những quan niệm mà nhân dân quan tâm đến là vấn đề thuộc về gia đình, cội nguồn, dòng họ: ?oCon có cha có mẹ đẻ, không ai ở lỗ nẻ mà lên?, ?oMáu loãng còn hơn nước lã?, ?oChín đời họ mẹ còn hơn người dưng?,?omột con cháu đánh ngã sáu người dưng?. ?oNghèo không phải là cái tội, đừng vì nghèo mà đánh mất cội, mất nguồn?? Các tác giả dân gian cũng quan tâm đến luật nhân quả trong cuộc sống:
"Trồng cây gì thì hưởng quả nấy?, ?oGieo nhân nào, gặp quả ấy?, ?oĐời cha ăn muối, đời con khát nước?, ?oĐời cha ăn ớt, đời con bị cay?, ?Họ chú trọng đến sự đảm đang, cần cù trong đời sống gia đình. Vì vậy, một trong những vấn đề quan trọng của một đời người là việc dựng vợ gã chồng: ?oLàm ruộng phải có trâu, làm giàu phải có vợ?, ?oLàm ruộng thất, thất chỉ một năm, lấy vợ gả chồng sai, sai cả đời?, ?oLàm ruộng phải diệt cỏ,
lập bề gia thất phải coi theo dòng họ?, ?omua heo chọn nái, mua gái chọn dòng?, ?oMua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi??
Cũng như tục ngữ chung trong phạm vi cả nước, tục ngữ An Giang thể hiện rõ nét tinh thần nhân đạo chủ nghĩa khi ca ngợi lối sống bao dung, nhân hậu của con người: ?oCứu một mạng người, lớn hơn xây bảy tháp chùa?, ?oĐi lễ quanh năm không
bằng ngày rằm tháng giêng?, ?oKẻ có nhân mười phần chẳng khó?, ?omột đồng gian, phá mười đồng ngay?, ?oMột lời nói ngay bằng ăn chay cả tháng?, ?oNgười cậy ở tâm, cây nương vào rễ?, ?oNgười thương người bao nhiêu cũng thiếu, người ghét người bao nhiêu cũng dư??. Người ta chú trọng đến việc giáo dục con người ở nhiều phương diện khác nhau, từ lời ăn tiếng nói, sự học tập cho đến quan hệ bạn bè: ?oChưa hiểu rõ con, hãy
xem bạn bè của nó, Chưa hiểu rõ vua, hãy xem những bề tôi thân cận?, ?oCon cưng chiều khó giữ gìn cơ nghiệp, Vợ ngoa ngoắt khó mà giữ cửa nhà?.
Bên cạnh sự ca ngợi những đức tính tốt đẹp, tục ngữ An Giang cũng đồng thời phê phán những thói hư tật xấu mà con người đã mắc phải. Đó là sự lười biếng, hoang phí, ham hưởng thụ, sự vô ơn: ?oNgồi dưng ăn hoang, Mỏ vàng cũng cạn?, ?oThế gian
giàu bởi chữ cần, có mà lười biếng thì thân chẳng còn?, ?oĂn như xáng múc, Làm như lục bình trôi?, ?oĂn thì có, ó thì không?. ?oĂn thì cúi trước, đẩy nước van làng?; ?oCó the quên lụa, có vàng quên thau?, ?oCủa đời cha mẹ để cho, làm không ăn có của kho cũng rồi?, sự tức giận làm con người mất khôn: ?oGiận bằng bò, mất bò; giận bằng trâu, mất trâu?, "Giận con rận, đốt cái áo??
Bên cạnh phần lớn các câu tục ngữ nêu lên những nhận xét, phán đoán về sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội, những đặc điểm tiêu biểu, có ý nghĩa phổ quát, một số câu tục ngữ cũng thể hiện khá rõ tư tưởng biện chứng, có cái nhìn nhiều chiều về sự việc, con người của nhân dân: ?oCây ngọt sinh trái đắng, cây đắng sinh trái ngọt?, ?oMía sâu có lóng, nhà dột có nơi?, ?oĐời cha vo tròn, đời con bóp méo??., Mặc dù ngợi ca những con người siêng năng, ham làm, họ đồng thời cũng nhận thấy những trớ trêu trong cuộc sống hằng ngày : ?oMần cho lắm tắm không áo quần thay, Mần lai rai ngày thay hai bộ?, ?oMần cho lắm ăn mắm với cà, Làm tà tà ăn cà với mắm?. Dường như người dân nhận ra rằng không phải ai siêng năng, cần kiệm cũng có được một cuộc sống dư dã, sung túc?.và họ đã thể hiện điều đó với một thái độ ít nhiều mĩa mai, bỡn cợt. Thái độ đó cũng được bộc lộ trong những câu: ?oCủi mục dễ đun, chồng khùng dễ khiến?, ?oCủi mục dễ nấu, chồng xấu dễ xài, chồng khùng dễ sai?.
Câu đố: Cũng như những câu đố trong văn học dân gian Việt Nam, những câu đố mà chúng tôi sưu tầm được tại An Giang gắn liền với những sự vật, con người, thiên nhiên, cây cối, địa danh mà phổ biến nhất là những sự vật, cây cối thiết thân trong cuộc sống sinh hoạt bình thường hằng ngày của người dân, đặc biệt là với người nông dân. Bên cạnh những câu đố liên quan đến những đồ vật có tính chất phổ biến chung, nhiều câu
đố gắn liền với sự vật, thiên nhiên của vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long nói chung hoặc của An Giang nói riêng như trái nhàu, trái ấu, cây bần, mù u?, Ba Thê, núi Két, núi Cấm, núi Sập, Long Sơn, Long Thuận, Mỹ Luông? thể hiện khá rõ nét đặc thù của một vùng đất. ??oXót thân hai tật đeo
mang, Kêu trời nào thấu hỡi chàng cây chi?? Hoặc ?oThân tôi đứng giữa đất trời, Lại mang tên gọi tật nguyền âm u? (cây mù u), ?oThân xanh xanh lá cũng xanh xanh, Bông trên cành, trái dưới nước? (củ ấu), ?oTrước sinh thủy hai bên giáo đóng, Giữa lưng trời mấy ngọn đèn chong, Gia tài của cải đều không, Mấy chú chệt ngồi trông chi đấy?? hoặc ?oCây gì nghèo suốt một đời, Cha sinh mẹ đẻ không lời thở than?? (cây bần), ?oHòn đảo bao bởi rừng gai, Không trèo mà té, họ hàng cười chê ?o (trái nhàu), ?oThảnh thơi tủi phận riêng mình, Vợ con xa vắng, gia đình vỡ tan? (sầu riêng), ?oCần câu trúc, cái màu thạch lục, Tứ ngũ gia, ở chung một nhà, Nhưng lạ thay mùng ai nấy ngủ?(gương sen)?
Bên cạnh những câu đố theo dạng chơi chữ có tính chất chung, một số câu đố gắn liền với hoạt động của con người, các nhân vật, địa danh gắn liền với An Giang: ?oAn Giang có một ông đây, Chữ dạ ngay thầy ái quốc ưu quân? (Đức Cố Quản), ?oCon bê con đi ăn cỏ, Gặp con chuột nhỏ tha về? (Ba Thê),?Núi gì tên một loài chim, Lại còn biết nói huyên thuyên suốt ngày; Núi gì tên lạ lắm thay, Nghe ra cứ tưởng chẳng ai ra vào, Núi gì ở cạnh kênh đào, Mang tên Vĩnh Tế Ngọc Hầu đào nên? (Núi Két, núi Cấm, núi Sam).
Vè: Qua những bài vè sưu tầm được, có thể thấy được phần lớn phản ánh những sự kiện và những vấn đề thiết thân liên quan đến người dân, nhất là nông dân ở các làng quê.
Một số ít bài vè thể hiện lòng yêu nước, quyết tâm đánh đuổi kẻ thù trong các giai đoạn lịch sử.Các bài vè này thể hiện rõ nét nhất thái độ quyết tâm và hành động của nhân dân đối với
cuộc kháng chiến, đối với những kẻ thù của dân tộc (Vè đánh giặc, vè đấu tranh trong tù, vè phụ nữ đánh Tây, vè giặc Mĩ, vè thời sự, vè Quan Thánh?). Số lượng các bài vè thuần túy loại này không nhiều so với các đề tài khác và cũng không thể hiện rõ nét lắm đặc trưng của vùng đất An Giang.
Bên cạnh những bài vè yêu nước là các bài vè tố cáo bọn cường hào gian ác, sưu cao thuế nặng, chuyện giặc tàn phá xóm làng gây cho dân chúng nhiều lầm than, cực khổ.
Một trong những bài tiêu biểu cho loại này là ?oVè Tổng Huyền?:
?oNghe vẻ nghe ve,
Nghe vè xóm Bột
Rạng ngày mồng một
Đầu tháng năm Tây
??..
Có thầy cai nọ
Tục gọi Tổng Huyền
Sung sướng nhiều tiền
Ai ai cũng dạ
Tổng Long, Vĩnh, Hạ
Quyền thế dọc ngang
Con gái mười một làng
Cũng đều bị thảy
Nếu không cho lấy
Kiếm chuyện làm go
Ăn ở so đo
Nhiều điều tác tệ.?
Nhiều bài vè loại này có ghi lại thời gian và những địa danh cụ thể (vè tố cáo, vè tản cư, vè giặc Ất dậu, vè Cao Lãnh: giặc Mậu Thân 1968, vè phú ông, vè Tổng Huyền, vè thuế nặng?) nên có thể nói thể hiện khá rõ nét một đặc trưng cơ bản của loại vè là
tính địa phương và tính thời sự nóng hổi. Nhiều bài vè gắn liền với những con người và sự kiện lịch sử diễn ra trên đất An Giang, như Phong Mỹ, Mỹ Hiệp, Mỹ Hưng, Tấn Mỹ, Kiến An, Long Kiến, Vĩnh Thông, Vĩnh Tế, Ba Chúc, Phú Thạnh, Chùm Dùm, Bà Bài, Bình Di, Châu Đốc, Tân Châu, Thới Sơn... Những bài vè chạy giặc (Vè giặc Cao Miên, vè giặc Ất Dậu?) nói về một sự kiện nhân dân phải tản cư, thể hiện khá rõ cảnh chạy giặc ở
một số làng của An Giang. Đây là cảnh chạy giặc Cao Miên của nhân dân ở Vĩnh Thông, Vĩnh Tế, Bà Bài, Chùm Dùm.:
?oTừ năm Ất Dậu bước sang
Tháng tư, mười sáu vậy là giặc Miên
??..
Nhân dân mất vía kinh hồn
Bỏ nhà mà chạy bon bon ra đồng
Người thời gánh chạy xuống bưng
Mẹ con thất lạc tưng bừng khóc la
Tan hoang sự nghiệp cửa nhà
Trâu bò xiêu lac, vịt gà chắt chiu?
(Vè giặc Ất Dậu)
Đây là cảnh tản cư trong bài ?oVè tản cư?
?oTối hăm ba rạng ngày hăm bốn
Mười một giờ có lệnh tản cư
?
Qua Phong Mĩ đến làng Mỹ Hiệp
Kẻ đi không kịp người ở lại sau
Làng Mỹ Hưng qua ở Cả Dầu
Xuống Cả Lách, Cả Chanh đình trú
Bên Tấn Mỹ kéo qua đầy đủ
Làng Kiến An, Long Kiến cũng sang
Trong nhân dân chẳng biết mấy ngàn
Cũng hội hiệp qua làng Tấn Mỹ?? (Vè tản cư)
Không chỉ phê phán, đả kích kẻ thù xâm lược, bọn cường hào địa chủ quan lại thời trước, một số bài vè cũng đồng thời thể hiện rõ thái độ chê bai, dè bĩu những cán bộ thiếu dũng cảm, hèn nhát trong công cuộc bảo vệ đất nước. Bài ?oVè chạy giặc Pôn-pốt? kể lại sự kiện giặc Pônpốt đánh chiếm xã Phước Hưng vào rạng sáng mùng 1 tháng 2 (âm lịch) năm 78 (?):
Rạng ngày mùng một tháng hai
Toàn dân đất Phước nạn tai mất mùa
Giặc Miên chạy đến xóm chùa
Me, Lùn, Xuyên, Bích chạy ùa lên trên
Giặc Miên chẳng được mấy tên
Mà sao cán bộ chạy lên ào ào
Cầm súng chạy trước đồng bào
Mình làm như vậy coi sao được nè??
Bên cạnh những sản vật phổ biến
trong cả nước mà các bài vè đề cập, có thể bắt gặp nhiều loại chủ yếu chỉ có ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hoặc rộng hơn là Nam bộ (hoặc theo cách gọi tên của người miền Nam). Chẳng hạn nhiều bài vè đê cập đến các loại bánh: bánh khổ qua, bánh cam, bánh phồng?, các loại rau quả: rau ngành ngạnh, bình bát, rau nhớt, rau co; các loại sản vật ở dưới nước: cá linh, cá nhái, cá vồ, tôm sắt, tôm chông, tôm lóng, tôm lang, tôm nghệ, tôm tu?; các loài cầm thú, chim chóc: sua đũa, chàng nghịch, xa xả, chằng chài, diệc móc, chão chẹt, chắc (chốt ) chó, cúm núm, chích cồ, còng cọc, ô rô, cóc kèn?
Một trong những cảnh vật được nhắc đến nhiều trong vè và các thể loại khác là bài Núi Sam. Bên cạnh việc miêu tả cảnh đẹp của vùng đất này, tác giả dân gian cũng nhắc đến công lao của tiền nhân:
Ai về Châu Đốc
Nhớ ghé núi Sam
Thắng cảnh danh lam
Miền quê sông nước
Mấy trăm năm trước
Chùa vía sững sờ
Nằm trên dốc núi
Nhìn qua con suối
Nước chảy xuôi dòng
Trang sử tươi hồng
Công lao gian khổ
Quan Thoại Ngọc hầu
Thủy lợi mở đầu
Con kinh Vĩnh Tế
Sông Tiền, sông Hậu
Đưa nước bạc về
Phù sa bồi đắp
Thủy sản dồi dào
Người người phấn khởi.?
Vè có số lượng phong phú nhất sưu tầm được tại An Giang là những bài vè nêu lên các loại đặc điểm, phẩm chất, mà nhiều nhất là nhắc đến các thói hư, tật xấu của con người, từ những tệ nạn vốn có từ lâu đời: cờ bạc, rượu chè, hút xách, mê tín dị đoan, ngồi lê đôi mách, lười biếng, xảo trá (vè về những người cờ bạc, vè đánh bạc, vè đánh số, vè bài tới, vè mười vợ, vè Ba Huynh, Ba Năng, Bà Núi, vè ấp Ngoạn, vè cà, vè gái hư, vè đi chợ, vè gia đình, vè làm biếng?) đến những sự kiện xuất hiện phổ biến hơn trong thời gian gần đây như những vấn đề về môi trường, đường sá, chuyện chạy xe lạng lách ngoài đường, chuyện quay cóp trong trường học?(vè anh dựa, vè dân số,
vè môi trường, vè đường sá, vè honda, vè kinh mới, vè khuyên học trò?).
Chẳng hạn Vè Ba Huynh:
?oNghe vẻ nghe ve
Nghe vè Ba Huynh,
Nghe tin bốn chục
Bắt vịt mần ăn
Đang mần lăng xăng,
Nghe ra hai mốt,
Trong lòng không tốt,
Đánh vợ đánh con??
Trên đây là những nội dung cơ bản của các thể loại tục ngữ, câu đố và vè sưu tầm được tại An Giang. Không phải tất cả những gì sưu tầm được đều gắn liền với những đặc trưng của vùng đất An Giang bởi vì, văn học dân gian vốn mang tính truyền
miệng, có quan hệ, giao lưu với tất cả các vùng miền khác nhau trong cả nước. An Giang nói riêng cũng như Đồng bằng sông Cửu Long nói chung không thể không lưu giữ những vốn văn hoá, văn học truyền thống chung của cả nước. Tuy vậy, cũng như
những thể loại khác, các thể loại tục ngữ, vè, câu đố cũng thể hiện khá rõ những nét đặc thù của con người và vùng đất này trong cách nghĩ, cách cảm và cả cách diễn đạt đậm đà chất Nam Bộ. Đây cũng chính là sự thống nhất trong đa dạng của văn học dân gian Việt Nam.
www.ou.edu.vn/vietnam/files/tapsankhoahoc/2006/PDF/So%2004(10)/tskh04(10)_page84.pdf