1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

AGHORA II: Kundalini

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi phunglam, 26/03/2026.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    109
    Đã được thích:
    38
    Tôi đã được biết rằng sự tinh khiết của lễ vật còn thể hiện ở cả loại gỗ được sử dụng, mỗi mảnh gỗ đều được kiểm trả kỹ lưỡng để đảm bảo không côn trung nào có thể bị thiêu cháy khi bắt đầu đốt. Mọi vật liệu cúng dường cũng được sàng lọc, kiểm tra cẩn thận để loại bỏ bụi bẩn và côn trùng trước khi trộn lẫn với nhau thành hỗn hợp cúng cuối cùng, gọi là samagri.

    “Việc lựa chọn lễ vật trong một buổi homa phụ thuộc vào công việc mà bạn muốn ngọn lửa thực hiện, cả tâm linh lẫn trần tục. Trong các lễ hỏa cúng tôi thực hiện với các đệ tử, chúng tôi luôn dâng bơ ghee, lúa mạch, lúa mì, gạo, hạt mè, trái cây khô, tươi, mật ong, đường, kết hợp với nhau theo một tỷ lệ cụ thể. Tất cả đều ngọt vì chúng tôi muôn ngọn lửa mang lại cho mình sự thịnh vượng về cả thế tục cũng như tiến bộ tinh thần. Chúng tôi thêm mía, thứ rất được voi ưa thích. Việc này nhằm xoa dịu thần Ganesha, vị thần luôn phải được xoa dịu đầu tiên bất cứ khi nào bạn thực hiện một hình thức thờ cúng bất kỳ. Ngoài ra chúng tôi còn thêm một số loại thảo dược, khiến tro sau khi đốt có tác dụng chữa bệnh.”

    “Các lễ hỏa cúng được thực hiện trong Sáu lễ Tantra, các pháp thuật để gây ra cái chết, sự mê muội, bất hòa, thù hận, cản trở và mê hoặc, hoàn toàn khác biệt. Mỗi nghi lễ yêu cầu một bộ mật chú cụ thể và thậm chí cả trang phục, cùng các vật phẩm cúng dường như dầu, muối, ớt và các chất cay nồng khác được sử dụng. Đừng bao giờ thử nghiệm những nghi lễ này, nghiệp chướng khủng khiếp sẽ ập đến. Cũng đừng bao giờ thêm những chất đó vào lửa của chính anh.”

    “Vì không biết mình đang làm gì, anh chỉ đang tự làm hại bản thân mà thôi. Không có giới hạn nào cho những điều tốt hay xấu có thể gây ra thông qua hỏa cúng.”

    “Tại sao những nghi lễ như vậy lại tồn tại, nếu Tantra thực sự là một ngành khoa học lương thiện?” tôi hỏi một cách thách thức.

    “Tôi sẽ giải thích điều đó cho anh sau. Hiện tại, vì Sáu Nghi Lễ không nằm trong chương trình của chúng ta, tôi muốn anh tập trung vào những gì chúng ta sẽ làm.”

    Tôi chấp nhận lời khiển trách nhẹ nhàng đó và ra hiệu tỏ lòng kính trọng. Ông tiếp tục:

    “Tôi bắt đầu lễ homa của mình bằng cách tưởng nhớ mẹ: trước tiên là mẹ vũ trụ Smashan Tara, sau đó là mẹ ruột của tôi. Bà đã mất, nhưng ngay cả khi còn sống, tôi vẫn luôn nghĩ về bà. Sau đó tôi tưởng nhớ vị Rishi của gia tộc tôi, Bhrigu: “Những câu mật chú này bắt nguồn từ ngài, xuất phát từ ngài, vì tôi được sinh ra trong dòng dõi của ngài, tôi xin kính cẩn chào ngài. Sau đó, tôi kính cẩn bảy vị Rishi: Pulaha, Pulastya, Devala, Asita, Kratu, Bhrigu và Angiras, cùng bốn vị hiền triết khác mà tôi không thể nêu tên. Tiếp theo, tôi kính cẩn các vị nam và nữ thần khác nhau, các hành tinh, toàn thể các vị thần cai quản làng mạc và khu phố, cả gia đình, nếu tôi đang thực hiện lễ homa tại nhà ai đó. Cuối cùng, tôi dâng lễ vật cho các chúng sinh siêu nhiên khác, những loài tương đối lành tính, như Yaksha, Kinnara, Gandhava và Vidyadhara, cũng như những loài ác hơn như Brhama Rakshasa, cùng những hồn ma khác của người chết.

    “Cuối cùng, tôi hướng về ngọn lửa và cầu khẩn nó nhập vào tôi và nhóm lên Bhuta Agni. Bhuta Agni là ngọn lửa của thân vi tế, nó cần được nhóm lên để đạt được tiến bộ tâm linh. Một lý do quan trọng để thực hiện homa là để đánh thức Bhuta Agni. Nếu thực sự muốn ngọn lửa nhập vào tôi, cái “Tôi” của mình phải biến mất, một khoảng trống tinh thần phải được tạo ra. Để làm được điều đó, tôi dâng hiến tai, mắt và lưỡi mình cho ngọn lửa rồi cầu xin đôi tai thiêng liêng đổi lại, khả năng nghe thấu. Khi nhận được phản hồi tích cực từ ngọn lửa, tôi dâng hiến đôi mắt mình rồi cầu xin đôi mắt thiêng liêng, khả năng nhìn thấy. Khi nhận được phản hồi tích cực, tôi dâng hiến lưỡi mình và cầu xin khả năng nói thiêng liêng. Một khi ngọn lửa nhập vào, tôi có thể tiến hành bất kỳ công việc nào phải thực hiện. Bạn không dâng hiến tai, mắt và lưỡi vật lý của mình cho ngọn lửa, ngoại trừ trong Khanda Manda Yoga mà tôi sẽ nói vào một ngày nào đó, trong homa bạn dâng hiến các giác quan của mình vào ngọn lửa.”

    “Sau toàn bộ các nghi thức chuẩn bị này, tôi cầu khẩn vị thần của mình hiện diện trong hỏa đàn rồi bắt đầu dâng lễ vật. Trong suốt quá trình làm lễ hỏa cúng, lửa đổi khi sẽ kêu lách tách, rót lên hoặc phát ra những âm thanh khác. Đây là cách lửa cố gắng giao tiếp, điều mà bạn chỉ có thể hiểu được nếu giác quan của bạn rất tinh tế. Ngọn lửa cũng cố gắng giao tiếp với bạn bằng những cách khác, màu sắc của nó đặc biệt quan trọng.”

    Nghĩa là sao?

    “Khoa học hiện đại đã chứng minh mỗi màu sắc ánh sáng khác nhau có tác động khác nhau lên cơ thể và tâm trí, bằng cách kích thích tuyến yên, tuyến tùng và vùng dưới đồi, từ đó ảnh hưởng đến phần còn lại của cơ thể. Một màu có thể gây ra sự tức giận, màu khác gây nên niềm vui, màu thứ ba có thể cải thiện sức tập trung. Khi đến gần ngọn lửa và đón nhận nó, bạn dâng hiến bản thân cho nó, rồi nó sẽ đi vào bạn. Khi đó, ngọn lửa bên ngoài đóng vai trò như một thước đo cho hoạt động của ngọn lửa tâm linh bên trong, Bhuta Agni. Bạn phải kiểm soát được Bhuta Agni trước khi có thể hoàn toàn kiểm soát được ngọn lửa vật chất.”
  2. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    109
    Đã được thích:
    38
    “Khi hoàn thành số lượng lễ vật đã định, vào cuối buổi lễ homa, tôi đặt một quả dừa vào lửa. Quả dừa tượng trưng cho đầu của người thờ cúng, với ba con mắt. Nó cũng chứa đầy nước, giống như đầu chứa đầy máu, dịch não tủy và các tuyến tiết dịch. Khi dâng dừa, tôi dâng toàn bộ ý thức của mình cho ngọn lửa với lời thỉnh cầu được chuyển hóa thành ý thức thiêng liêng. Tôi dâng đầu của chính mình để có được một cái đầu thiêng liêng. Sau đó, tôi cúi đầu trước ngọn lửa và cầu xin vị thần của mình trở về nhà của ngài, lễ hỏa cúng của tôi hoàn tất. Sau khi hoàn thành, tôi ngồi bên lửa một lúc rồi giao hòa với nó.”

    “Hãy luôn nhớ điều này: lửa là một sinh vật sống. Một khi đã thổi bùng lên, bạn phải chịu trách nhiệm về nó. Ví dụ, bạn không được phép dập tắt nó, cũng như không được phép dập tắt bất kỳ sinh vật sống nào khác. Bản phải để nó tự tắt. Sau khi thu gom tro, bạn phải rửa sạch khu vực đó để không ai vô tình giẫm phải tro, ngoài ra bất cứ lượng tro nào không sử dụng cũng phải được đổ xuống nước. Điều đó có nghĩa là đổ vào suối hoặc biển, chứ không phải vào mương thoát nước! Thêm nữa: nếu lửa có vẻ như sắp tắt trong khi bạn đang hành lễ homa, đừng bao giờ thổi trực tiếp vào nó. Luôn thổi vào lòng bàn tay trước rồi để luồng khí đó thổi vào lửa. Tại sao lại như vậy, tôi sẽ giải thích sau.”

    “Ông im lặng trong vài khoảnh khắc, để tôi có thời gian tóm tắt và tổng hợp những gì ông đã nói, rồi tiếp tục: “Dĩ nhiên, lần này tôi không mong anh nhớ mọi thứ hoàn hảo, anh sẽ có nhiều cơ hội thực hành homa để tôi sửa chữa những sai lầm của anh, khi tôi còn sống và cả sau này nữa. Tôi luôn nói rằng một nửa niềm vui của sự giác ngộ nằm trên con đường anh phải đi để tới được đó. Khi ý thức của anh tiến bộ từ một con người hữu hạn đến một chúng sinh vô hạn, anh sẽ kinh nghiệm đủ thứ, cả tuyệt vời lẫn kinh khủng. Đừng bao giờ bám chấp vào bất cứ trải nghiệm nào trong số đó, chúng chỉ là những cột mốc chỉ đường cho biết bạn đã đi được bao xa và còn phải đi thêm bao xa nữa. Nếu quá gắn bó với chúng, bạn sẽ bị mắc kẹt ở đó và sẽ ngừng tiến bộ.

    Các đệ tử của tôi thường có những trải nghiệm tốt đẹp khi thực hiện lễ hỏa cúng. Do thiên nhiên nhân từ với tôi, ngài cũng thường nhân từ với các đệ tử tâm linh của tôi, đặc biệt nếu chúng đến với rôi trước và xin phép tôi trước khi làm điều gì đó. Có lần, một trong số chúng đã hoàn thành lễ homa rồi chuẩn bị dâng một ít bánh kẹo cho lửa để nhận lại chút prasad (là phần lễ vật được trả lại cho bạn để có thể hấp thụ một phần năng lượng của vị thần đã thờ phụng). Khi anh ta nhấc hộp bánh kẹo lên, toàn bộ số đó rơi vào lửa cùng lúc rồi cháy. Anh chàng này bắt đầu khóc vì sẽ không có prasad, thì đột nhiên một chiếc bánh rơi ra khỏi lửa xuống chân anh ta.”

    “một lần khác, một nhóm người trong số họ đã hoàn thành lễ homa trước khi dùng hết samagri (đồ cúng). Bất cứ đồ thừa nào cũng phải được xử lý đúng cách, vì vậy, do đang ở vùng nông thôn, họ đã cố gắn cho một con bò ăn, nhưng không con bò nào chịu ăn. Bạn đã bao giờ nghe nói về một con bò từ chối ăn hỗn hợp gạo, mè, lúa mạch, mật ông và đường được rắc nhiều trái cây khô cùng các loại hạt chưa? Không chỉ một mà nhiều con bò đã thực sự từ chối. Có một con chó, đi theo các đệ tử từ làng về, cũng sẵn sàng ăn nhưng không được cho chút nào.”

    “Khi chúng trở về Bombay, tôi nhắc nhở các đệ tử này rằng thần Shiva thường đến với các tín đồ của ngài dưới hình dạng một con chó. Những con bò ở nơi họ làm lễ homa đã từ chối ăn vì vị thần ở đó, Shiva muốn họ tiếp tục cúng dường bằng vật phẩm đó, hoặc ít nhất là muốn họ dâng nó cho ngài, dưới hình dạng con chó, thay vì cho những con bò. Khi bắt đầu đến gần vị thần mà bạn đang thờ phụng, vị thần sẽ bắt đầu chơi đùa cùng bạn. Ai cũng thích chơi đùa cả.”

    “Đây là cách bạn nên chăm sóc các đệ tử của mình. Trẻ em cần được bảo vệ cho đến khi chúng đủ trưởng thành để tự làm mọi việc. Trên thực tế, từ tiếng Hindi chỉ trẻ em là baccha, xuất phát bởi một từ có nghĩa là “bảo vệ”.

    “Vậy trẻ em là đối tượng được bảo vệ sao?”

    “Chính xác” ông thừa nhận, “ví dụ, bất cứ khi nào các đệ tử đi vào rừng, sẽ có người mang thức ăn và nước uống cho chúng khi cần. Hãy hỏi chúng nếu bạn không tin. Chuyện đó xảy ra thế nào? Tôi không biết, tất cả những gì tôi biết là nó đã xảy ra. Có lần, một nhóm trong số chúng đang cắm trại trong rừng cảm thấy sợ hãi vào lúc nửa đêm. Đột nhiên một nhóm dân làng cầm đuốc tới, nói rằng bỗng dưng họ muốn đến đó ngủ qua đêm”.

    “Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các đệ tử của tôi được hưởng mọi thứ dễ dàng”, ông nói thêm. “Mỗi khi đứa nào trong số chúng tỏ ra khôn ngoan, lửa sẽ dạy chúng một bài học. Lần trước chúng tôi đi làm lễ homa, một đứa bị bỏng tay đến mức phồng rộp, đứa khác bị bỏng chân rất nặng. Chơi với lửa rất nguy hiểm. Lửa là một sinh vật sống, lạm dụng nó là tự rước họa vào thân. Chừng nào nó còn yêu mến bạn thì không có vấn đề gì, nhưng ngày nào bắt đầu đùa giỡn thì bạn sẽ gặp rắc rối. Hai nhân vật này đầy ghen tị vì Freddy và Katyayani đến làm lễ homa với chúng tôi. Sao chúng dám ghen tị chứ! Theo truyền thống Ấn Độ, khách phải được đối xử như thần thánh. Đó là vì sao chúng phải chịu hình phạt vì ghen tị với thần thánh”.

    Vimalananda chưa bao giờ ngần ngại chịu đau khổ cho bản thân hoặc khiến người khác đau khổ khi ông cảm thấy điều đó là cần thiết.

    “Khi người ta ghen tỵ với anh và các thành tựu của anh, giống như một số người trong đám đệ tử của tôi ghen tị với anh, như anh biết, đừng bận tâm tới điều đó. Sự ghen tị của họ sẽ như một ngọn lửa tuyệt vời thiêu đốt hết những nghiệp xấu của anh. Anh sẽ thấy mình ngày càng nhẹ nhàng hơn, ngày qua ngày, họ sẽ gánh lấy nghiệp của anh. Lửa luôn cháy, nếu anh thờ phụng nó đúng cách, nó sẽ thiêu đốt hết những nghiệp xấu của anh.”

    *****
    Một hoặc hai năm sau lễ homa đầu tiên của chúng tôi ở đó, sau khi đã trở thành những người quen trong cộng đồng, Vimalananda và tôi đang ngồi gần ngôi đền vào sáng sớm sau một đêm dài thờ lửa. Sau khi chúng tôi đến, điều kiện sống trong làng đã dần được cải thiện. Có lẽ đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên hoặc có thể, như Vimalananda đã dự đoán, việc thờ cúng của chúng tôi đã ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống dân làng. Họ chắc chắn có vẻ hài lòng với lễ hỏa cúng của chúng tôi, họ tụ tập quanh các hỏa đàn ngay khi chúng tôi thức dậy, kiên nhẫn chờ đợi đến khi tro từ lửa nguội đủ để thu gom. Một số dân làng dùng tro làm thuốc, một người phụ nữ đã chữa khỏi vết loét khủng khiếp trên đùi chỉ bằng cách bôi tro thường xuyên và những người khác chỉ giữ nó trong nhà để cầu may mắn. Những người nông dân sử dụng tro trên ruộng của họ báo cáo mùa màng bộ thu, sự thịnh vượng của họ cho phép mọi người tiết kiệm được một ít tiền. Dân làng chắc chắn rằng sự thay đổi tích cực này trong vận may của họ là nhờ lễ homa của chúng tôi, nhờ việc cúng tế đúng cách các vị thần của họ, và mỗi khi chúng tôi tạm biệt, họ đều nài nỉ quay lại càng sớm càng tốt.

    Sáng hôm đó, khi quan sát họ thu gom phần tro của mình, chúng tôi cũng giữ lại một ít cho mục đích tương tự, Vimalananda nói với tôi: “Ngay cả những sinh linh ở vùng này cũng thích sự hiện diện của chúng ta. Họ không thể lấy tro trực tiếp như dân làng, vì vậy họ chỉ thổi một ít lên không trung rồi hít vào, tất cả những gì anh thấy chỉ là một làn gió nhẹ.” Ông mỉm cười.

    “Khi chúng ta mới đến làng, người bạn cây trông có vè không thể sống lâu phải không? Giờ hãy nhìn xem: lá mới đã mọc lên, nó đã hồi phục gân như toàn bộ sức sống. Điều này là bởi sinh linh siêu nhiên sống trong đó cũng tận hưởng homa của chúng ta, hương thơm của khói và tiếng vang vọng của những câu chú. Nỗi khổ của sinh linh đó đã tàn phá dân làng khi nó đến, còn giờ đây khi nó đã hạnh phúc trở lại, nó chăm sóc người dân địa phương và giúp họ phát triển thịnh vượng.”

    “Còn những điềm lành khác nữa mà hầu hết mợi người không biết cách giải thích. Đây chỉ là một ví dụ. Anh có nhớ cặp cú nhỏ đã đến chơi với chúng ta vài lần vào đêm khuya khi mọi người đang tập trung làm việc không? Những con cú bay lên và đậu trên cành cây cao, kêu ríu rít với nhau khoảng nửa tiếng rồi bay đi?”

    “Tôi nhớ chứ.”

    “Cú thường không đến gần ánh sáng, nhưng tôi nghĩ việc hai con cú này đến gần là tốt cho tất cả mọi người.”

    “Đây mới là cách thờ phụng đúng đắn, là yoga đích thực, không phải để hoàn thiện các tư thế thể chất, mà là để biến mỗi gia đình thành nơi hạnh phúc thực sự. Nếu một trăm ngôi làng ở Ấn Độ có thể hài hòa như ngôi làng này, toàn bộ lối sống ở Ấn Độ sẽ thay đổi. Tôi không thể làm được điều đó, nhưng có lẽ các đệ tử của tôi sẽ làm được, một người cha sống vì con cái chứ không phải vì bản thân, nếu anh ta là một người cha thực sự.”
  3. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    109
    Đã được thích:
    38
    KUNDALINI

    Vimalananda đã xây dựng mối quan hệ cá nhân thân thiết với những con ngựa đua của ông, thường xuyên đến thăm chúng tạo chuồng đua để cho chúng ăn và thể hiện tình cảm. Ông vẫn tiếp tục đến thăm những con ngựa cái của mình ngay cả sau khi chúng đã được cho nghỉ hưu để làm giống. Chính trong một lần đến thăm trang trại ngựa giống gần Pune, tài xế xe tuk tuk đột ngột từ chối đi tiếp ra khỏi thị trấn, khiến chúng tôi phải lê bước bực bội trên con đường dưới cái nắng gay gắt giữa trưa để đi hết quãng dường nửa dặm còn lại.

    Vài năm trước đó, một cơn đau tim dữ dội đã buộc Vimalananda phải mang theo thuốc để điều trị chứng đau thắt ngực. Có lẽ chính sự kết hợp giữa cái nóng, sự gắng sức và bực bội của ông với người lái xe kéo đã gây ra cơn đau thắt ngực ngày hôm đó, mặc dù cũng có thể còn một lý do bên trong nào đó mà tôi chưa bao giờ được biết. Dù nguyên nhân là gì, cơn đau thắt ngực này dữ dội hơn nhiều so với những cơn thông thường, thuốc không làm giảm bớt được. Tuy có bệnh tim, Vimalananda vẫn tiếp tục hút thuốc, tôi đã châm cho ông một điếu khi ông đứng bất động, cố gắng giảm thiểu đau đớn của mình.

    Chúng tôi đang ở trên một con đường vắng vẻ, không có thuốc men nào khác ngoài những viên không hiệu quả, chẳng có cách nào đưa Vimalananda đến gặp bác sĩ ngoài việc dắt ông đi bộ. Vì cơn đau đã trở nên quá dữ dội khiến ông không thể đi bộ được nữa, điều duy nhất còn lại là rời khỏi con đường nơi chúng tôi đang đứng, tìm một chỗ ngồi yên lặng ở nơi không có bóng râm rồi chờ đợi định mệnh an bài. Khi chúng tôi tiến về phía một cây gai trụi lá, Vimalananda gẩy tàn thuốc vào không khí với vẻ tuyệt vọng.

    Ông ấy ngồi bệt xuống gốc cây còn tôi đứng phía sau, chỉ biết tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo, thì bỗng một ý nghĩ lóe lên khiến tôi ngước nhìn. Trên cây, mẩu thuốc lá vẫn còn âm ỉ của ông, cắm chặt vào một cái gai dài và sắc nhọn của cây keo. Tim tôi như thắt lại: một điềm báo! Tôi kêu lớn bảo Vimalananda nhìn, khi thấy vậy, ông mỉm cười, rồi cười lớn và nói: “Chà, Robby, có vẻ như cuối cùng tôi cũng không chết ở đây đâu. Thiên nhiên vẫn chưa bỏ rơi tôi!” Ngay lập tức cơn đau của ông bắt đầu dịu đi.

    Vimalananda thích thiên nhiên, thiên nhiên cũng thích ông. Có một trật tự trong tự nhiên, một nhịp điệu vĩ đại mà tiếng Phạn gọi là rtam, dẫn dắt tất cả các thiên thể. Vì Vimalananda thường xuyên hòa hợp với nhịp điệu vũ trụ này, nên vũ trụ đã quen hợp tác với ông. Khi ông vứt điếu thuốc lá đi với một lời cầu nguyện thầm lặng, tuyệt vọng gửi đến thiên nhiên, có lẽ đại loại như: “Đừng để tôi chết bên vệ đường này!”, câu trả lời đã đến như một dấu hiệu từ thiên nhiên: “Đừng lo lắng, bạn vẫn an toàn bên cạnh tôi!”

    Những điếu thuốc sắp tàn thường không tự tìm đường đến và đâm vào cây gai cây keo. Có lẽ một sự trùng hợp cực kỳ khó xảy ra đã ngẫu nhiên xảy ra ở đó, vào lúc đó, nhưng những “sự trùng hợp” như vậy xảy ra ngày này qua ngày khác với Vimalananda, vì vậy cần một lời giải thích tốt hơn là “ngẫu nhiên”. Đường bay không hề chệch hướng của vật thể không hợp lý về mặt khí động học là sự phản ánh bên ngoài của sự kiện bên trong đã gây ra nó: một lời kêu cứu trong lúc cùng cực. Lời cầu nguyện của Vimalananda đã trúng đích vũ trụ với độ chính xác và sức mạnh tương tự như điếu thuốc của ông đã trúng đích, sự kiện sau đã chứng minh, trên bình diện vật lý rõ ràng cho tất cả mọi người thấy, sự kiện trước đó vốn ẩn giấu bên trong, giống như những mạt sắt trên một mảnh giấy tuân theo các đường sức từ được chiếu bởi một nam châm đặt bên dưới chúng.

    Luật cổ xưa về Tiểu Vũ Trụ và Đại Vũ Trụ cho chúng ta biết rằng không có sự khác biệt thực sự giữa vũ trụ rộng lớn bên ngoài và vũ trụ hữu hạn bên trong của cơ thể con người, ngoại trừ việc cá nhân tin rằng mình khác biệt. Con người là một tiểu vũ trụ sống động của vũ trụ, còn vũ trụ là một đại vũ trụ sống động của con người. Mỗi vũ trụ ảnh hưởng đến vũ trụ kia, vũ trụ ảnh hướng đến chúng ta trong từng khoảnh khắc, còn mỗi người chúng ta, bằng hành động của mình, ảnh hưởng đến toàn bộ vũ trụ, dù tốt hay xấu. Vũ trụ là thân thể của đấng Tuyệt Đối, là vật chứa mà qua đó đấng Tuyệt Đối tự biểu hiện. Mọi vật được tạo ra trong vũ trụ đều chứa đựng ít nhất một tia sáng của ý thức vũ trụ, đó chính là đấng Tuyệt Đối, nhưng hầu hết mọi vật không thể biểu hiện đầy đủ ý thức này.

    Vimalananda giải thích:

    “Chit Shakti (sức mạnh của ý thức hay tính chủ quan) đồng nhất với đấng Tuyệt Đối Không Biểu Hiện, còn Maya Shakti (sức mạnh vô thức hay tính khách quan) đồng nhất với thế giới, sự biểu hiện của đấng Tuyệt Đối. Hai Shakti này không thể tồn tại nếu thiếu nhau. Ngay cả trong vật chất thô sơ nhất cũng có một tia sáng của ý thức, đó là lý do tại sao tôi nói ngay cả đá cũng sống, và ngay cả trong trạng thái ý thức cao nhất cũng có một phần Maya, miễn là còn có, cho dù chỉ là, cảm giác cá nhân nhỏ nhất. Một khi hiểu được chân lý của vũ trụ, bạn sẽ quên đi tính cá thể của chính mình và nhớ ra bản thể chân thực của mình, chỉ lúc đó, khi bạn không còn tồn tại nữa, Maya mới không còn tồn tại đối với bạn.”

    Cái Một tồn tại trong cái Toàn Thể, còn cái Toàn Thể định nghĩa cái Một, tính thống nhất và tính nhị nguyên tồn tại đồng thời. ở đâu Chit Shakti được biểu hiện, ở đó có trí tuệ và cảm giác, ngược lại, ở đó có vô minh và vô cảm. Cơ thể con người là một vật chứa mà ý thức đổ vào, tùy theo khả năng của mỗi cá nhân, lấp đầy cơ thể thông qua hệ thần kinh. Cột sống và tủy sống mở rộng ý thức từ não bộ, cực của nhận thức cao nhất được gọi là Shiva, đến xương cụt, cực của năng lượng lớn nhất. Mỗi tế bào trong cơ thể biểu hiện loại ý thức riêng của nó theo khả năng của chính nó.

    Ở gốc tủy sống, trong thân vi tế, có tàng shakti còn sót lại của sự cá thể hóa, một nguồn năng lượng không thể tiếp cận được đối với cá nhân chừng nào ý thức của người đó còn bám chặt vào những điều trần tục. Năng lượng này là mảnh ghép cá nhân của chúng ta về sức mạnh vũ trụ của sự tự nhận dạng. Chỉ nhờ vào cảm giác về cái Tôi được gọi là ahamkara (nghĩa đen là “người tạo ra cái Tôi”) mà chúng ta tồn tại với tư cách là những cá nhân. Khi Vimalananda nói về cái tôi, ông muốn nói đến ahamkara, chứ không phải cái tôi theo quan điểm của Freud.

    Cũng như khả năng phân biệt là đặc điểm chính của trí tuệ, đặc điểm chính của Ahamkara là tính chiếm hữu, sự thống trị độc quyền đối với cơ thể, ghi nhớ định nghĩa về bản thân bạn và cho phép bạn giữ vững vị thế của mình trong thế giới. Ahamkara đồng nhất với mọi tế bào trong cơ thể bạn từ khi thụ thai cho tới lúc chết, bạn sẽ chết ngay lập tức khi Nó ngừng đồng nhất với bạn. Bạn càng đồng nhất với tính cá thể của bạn, với tiểu vũ trụ của mình, Nó càng hoạt động như Maya cá nhân của bạn và càng ít phản ánh thế giới vĩ mô, khi bạn càng ít đồng nhất với tính cá thể của mình, Nó càng được giải phóng để phản ánh nhiều hơn thế giới vĩ mô, để tăng cường nhận thức về cái Một. Ahamkara và Kundalini là hai tên gọi cho cùng một sức mạnh được biểu hiện theo hai hướng khác nhau: Ahamkara hàm ý Maya Shakti còn Kundalini hàm ý Chit Shakti.

    Maya Shakti khiến bạn thức tỉnh với việc đời và ngủ mê với đấng Tuyệt Đối, trong khi Chit Shakti đánh thức bạn với Thực Tại và ru ngủ bạn đối với các vấn đề trần tục. Vì ý thức của một sinh vật sống bị chi phối bởi vật chất mà nó cư ngụ, nên Maya mạnh nhất mà chúng ta trải nghiệm là Maya của vất chất cấu thành nên cơ thể mình. Chừng nào còn sống trong thân xác, mỗi người trong chúng ta đều tham gia vào trò chơi của Tự nhiên, rằng buộc bản thân với thế giới bằng những thứ mà ta thêm vào trong nhân cách của mình. Không một sinh vật nào có thể hoàn toàn trần tục hoặc hoàn toàn tâm linh, cho dù có tràn ngập ánh sáng đến đâu, bạn cũng không bao giờ hoàn toàn vượt qua được mặt tối của mình chừng nào bạn còn sống trong thân xác.

    Biểu hiện của shakti trong thân thể vật chất là prana, sinh lực, sức mạnh giúp thân, tâm và linh hồn hoạt động cùng nhau như một thể thống nhất sống động. Toàn thể các bộ phận của con người đều cần prana. Cuộc sống, thể chất, sức khỏe và tuổi thọ đòi hỏi ahamkara tự đồng nhất mạnh mẽ với cơ thể cá nhân để có đủ prana làm cho cơ thể sống động, trong khi sức khỏe tinh thần đòi hỏi ahamkara phải từ bỏ phần lớn sự ràng buộc này. Cũng như mỗi loài thực vật cần lượng ánh nắng và mưa vừa đủ để phát triển, con người cũng cần lượng ánh sáng mặt trời của sự tỉnh giác tinh thần và lượng mây che phủ của sự dính mắc bản ngã vừa đủ để phát triển mạnh mẽ. Quá nhiều tinh thần sẽ thiêu đốt thế giới bên ngoài và khiến bạn không thể giữ được thân xác, quá nhiều dính mắc sẽ nhấn chìm ý thức của bạn trong thế tục.

    Ở con người bình thường, cái tôi hoàn toàn đồng nhất với thân thể và nhân cách hạn chế, mọi hành động đều xoay quanh bản ngã tạm thời này. Mỗi thực tại vi mô đều bị ảnh hưởng bởi mọi thực tại khác, tất cả chúng ta đều bị mắc kẹt trong những hình chiếu của nhau và được định nghĩa phần lớn bởi chúng. Nhân cách ý thức mà chúng ta thích nghĩ là ổn định và bất biến thực chất chỉ là tập hợp các ý tưởng mà ta tạm thời tự đồng nhất. Nhân cách ý thức giống như một bảo tàng mà người quản lý, ahamkara, chọn các vật trưng bày cho người khác từ kho của bảo tàng, tức là tiềm thức. Những vật trưng bày này được tập hợp thành các triển lãm, các mảnh vỡ nhân cách, mỗi mảnh hoạt động như thể nó là nhân cách duy nhất trong khi nó vận hành. Các triển lãm phổ biến được trưng bày lâu hơn trong khi các triển lãm ít được khách tham quan hơn được thay đổi nhanh chóng. Cuối cùng, bảo tàng sẽ ngừng hoạt động vào thời điểm chết chóc, khi cái tôi hoàn toàn từ bỏ nhân cách hạn chế, giới hạn mà nó đã duy trì trong nhiều năm.

    Hầu hết mọi người không bao giờ nhận biết sự biến động của quá trình hình thành và hoại diệt không ngừng nghỉ trong tính cách của họ, cũng giống như họ không nhận thấy các khung hình riêng lẻ trong một bộ phim. Sự thay đổi liên tục trong việc tự nhận dạng bản thân này giữa toàn bộ những mảnh nhân cách này tiêu tốn một nguồn năng lượng khổng lồ và khiến ahamkara luôn bận tâm. Chỉ khi một sự kiện thay đổi cuộc đời buộc bạn phải thức tỉnh khỏ giấc ngủ say của sự hài lòng với Maya, giống như đứa con hoang đàng tỉnh dậy thấy mình đang ăn trong máng lợn, thì mới bắt đầu những bước đi chập chững đầu tiên hướng tới ánh sáng của Chit.

    Kundalini cuối cùng sẽ thức tỉnh trong mọi sinh linh trong vũ trụ. Nếu muốn tận hưởng những thăng trầm của nghiệp báo, bạn có thể chờ đợi sự thức tỉnh đó ló rạng, nếu không, bạn có thể chủ động tìm đường đến trạng thái đó. Vi malananda đã vạch ra những lựa chọn:

    “Bất cứ điều gì mong muốn cuối cùng sẽ đến với bạn, đó là sự hào phóng của Tự nhiên. Tự nhiên luôn ban cho bạn những gì bạn cầu khẩn, chỉ là vấn đề thời gian. Nếu mong muốn là sản phẩm của một tâm trí được kiểm soát và nhất quán, bạn sẽ đạt được nó nhanh chóng. Đây là cách mà Rishi Vishwamitra đã tạo ra cả một vũ trụ song song: sức mạnh từ sự khổ hạnh của ông mạnh mẽ đến nỗi khi ông tập trung tâm trí vào nó, nó lập tức thành hình.”

    “Nếu bạn khao khát Thượng Đế, cuối cùng bạn sẽ đến được với Thượng Đế, điều này không có một chút nghi ngờ nào. Thời gian bạn đến được với Thượng Đế, khoảng cách giữa mong muốn và thành tựu của bạn phụ thuộc vào việc bạn khao khát đến mứa độ nào. Một khi thực sự khao khát tìm kiếm Thượng Đế và tâm trí tập trung vào mong muốn này, bạn có thể đạt được điều đó mà không cần chờ đợi lâu.”

    “Krishna nói: Bahunam janmanam ante, chỉ sau hàng triệu kiếp sống, linh hồn mới có khát vọng trở về với Thượng Đế. Chỉ sau rất nhiều vòng luân hồi trong thế giới vật chất, linh hồn cuối cùng mới nói: Tôn Thượng, con mệt mỏi rồi, mệt mỏi với tất cả những cuộc sinh tử này. Xin hãy đưa con ra khỏi toàn bộ những điều này. Khi linh hồn càng tuyệt vọng, nội tâm càng phát triển, nếu kiên trì, cuối cùng linh hồn sẽ đạt được điều đó.”

    “Kinh đầu tiên của Brahma Sutra là Atha ato brahma jijnasa, có nghĩa là Giờ đây có một khát vọng chân thành về tri thức tối thượng. Brahma Sutra đã tồn tại hàng ngàn năm, và có lẽ sẽ tiếp tục tồn tại thêm hàng ngàn năm nữa. Việc dùng từ atha (bây giờ) ở đây cho thấy không có giới hạn về thời gian khi nói đến sự tiến bộ tâm linh. Cho dù là hôm nay, mười ngàn năm trước hay một triệu năm trong tương lai, atha có nghĩa là bất cứ khi nào có một khát vọng chân thành về tri thức tâm linh. “Bây giờ” vì vậy khác nhau với mỗi người. Ngay bây giờ chính là “bây giờ” của Brahma Sutra đối với tất cả chúng ta, những người đang cố gắng dò dẫm tìm đường trở về với Thượng Đế bất chấp ảo ảnh Maya khủng khiếp đang vây hãm chúng ta.”
  4. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    109
    Đã được thích:
    38
    Maya đang tấn công chúng ta dĩ nhiên là Maya của chúng ta, của bạn bè, hàng xóm, những kẻ đồng mưu khác, những người cùng chia sẽ một thực tại chung. Hầu hết, mọi người không muốn gây xáo trộn, càng không muốn làm quá lên, nhiều người không hài lòng với việc đồng đội rời bỏ hàng ngũ. Vimalananda từng nói: “Con người chẳng khác gì bầy cừu. Tôi từng ở trong bầy cừu, nhưng tôi đã bỏ chạy, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi tất cả những người khác, được gọi là bình thường, đều nghĩ tôi bị điên hoặc ít nhất là bất thường. Tôi cũng nghĩ như vậy về họ. Chỉ có một trong số chúng ta có thể đúng.”

    Chỉ những ai đủ can đảm để phá vỡ sự tĩnh lặng của thế giới xung quanh và hét lên rằng hoàng đế đang trần truồng mới có đủ sức mạnh để chịu đựng sự chỉ trích của những người còn lại. Những kẻ la hét: “Hãy coi chừng Maya!”, đang phỉ báng Maya, bởi vì thánh mẫu Ma luôn chỉ ban cho những gì chúng ta cầu xin. Khi cầu xin Nữ thần những ân huệ trần tục, những thứ ràng buộc chúng ta vào các hình thức hữu hạn. Người hiện ra với chúng ta dưới hình dạng Maya: khi cầu nguyện với sức mạnh và năng lượng của ngài, ngài biểu hiện dưới hình dạng Shakti, còn đối với một số ít người có mối liên hệ với ngài theo kiểu mẫu hệ, ngài tự bộc lộ mình là Ma. Những người vẫn mắc kẹt trong Maya là vì họ không cố gắng chuyển hướng khát vọng cá nhân hóa của mình từ Maya sang Chit, họ để mặc cho dòng chảy cuộc sống của mình và của những người xung quanh bị cuốn trôi.

    Các Aghori không bao giờ cho phép bản thân bị định nghĩa thụ động bởi môi trường bên ngoài, họ tự định nghĩa chính mình, bằng cách đó, họ định nghĩa cả môi trường xung quanh. Khả năng kiểm soát Kundalini đã thức tỉnh của Vimalananda mang lại cho khả năng tự biểu đạt của ông độ chính xác và sức mạnh đến mức những sự việc tưởng chừng như bất thường đối với hầu hết chúng ta, như chuyện điếu thuốc lá lại trở nên bình thường trong cuộc sống của ông. Ông không bao giờ ngần ngại định nghĩa môi trường xung quanh mình, ngay cả khi điều đó khiến ông gặp rắc rối.

    “Một ngày nọ, một trong những người tự xưng là Bhagawan (Thượng Đế) tổ chức một cuộc họp lớn ở Chowpatty (bãi biển trung tâm Bombay). Họ thu phí vào cửa 25 rupee. Ban đầu tôi không muốn đi, nhất là khi phải chứng kiến người ta bán tâm linh như vậy, nhưng một người bạn của tôi lại khăng khăng đòi tôi phải gặp vị đại thánh nhân đó, anh ấy đã trả tiền cho tôi.”

    “Ai đến gặp vị thánh đều được cho là phải mang theo một bông hoa. Tôi thì lại mặc kệ chuyện đó và không mang theo hoa hay bất cứ thứ gì khác. Khi đến nơi, vị tự xưng là Bhagawan bảo mọi người hãy lấy cái ngã của mình, đặt vào trong bông hoa, rồi đặt dưới chân thầy. Ông ta gọi đây là Mohini Prayoga vĩ đại.”

    “Đến lượt tôi tiến lại gần, ông ấy nhìn tôi ra hiệu như muốn nói: “Hoa của anh đâu?”

    Tôi nói với ông: “Làm ơn cho tôi biết một điều: Nếu đặt cái ngã của mình vào một bông hoa, tôi sẽ chết ngay ở đây, chính vì cái ngã mà tôi còn sống. Cái ngã của tôi đồng nhất với cơ thể này, nếu nó rời khỏi, cơ thể tôi sẽ trở nên mềm nhũn và chết ngay lập tức. Vậy thì làm sao tôi có thể nói chuyện với ông ở đây? Ông có thể giải thích cho tôi cách làm điều đó không? Làm sao để đưa cái ngã của tôi vào một bông hoa?”

    “Ông ta nhìn tôi kỳ lạ rồi nhìn sang một đệ tử, người này hiểu ý rồi bảo tôi đi chỗ khác. Tôi nghĩ mình có thể bị đánh, vì tất cả đệ tử của ông vây quanh chúng tôi đe dọa. Vì vậy chúng tôi đã bỏ đi. Đây chính là người khuyên các đệ tử của mình rằng họ có thể đạt đến trạng thái nhập định bằng cách dồn toàn bộ năng lượng vào trung tâm sinh dục, đánh thức Kundalini và đạt được cực khoái vũ trụ vĩ đại. Thật vớ vẩn! Kundalini đã trở nên rẻ mạt đến vậy sao? Ở Ấn Độ, người ta có thể làm bất cứ điều gì nhân danh tôn giáo mà không bị trừng phạt.”

    Ahamkara sử dụng thân thể như một vật giữ thăng bằng cho tâm trí, để nó không trôi dạt rồi lạc mất như một quả bóng bay mất kiểm soát trong một ngày nhiều gió. Khi Kundalini thức tỉnh trước lúc chết, nó sẽ cố gắng trở về và hợp nhất với cực đối lập của mình, cực của nhận thức tối cao là Shiva, bằng đảo ngược sự phóng chiếu năng lượng ra bên ngoài dẫn đến sự đầu thai. Trong khi ngủ, nó nâng đỡ thân thể, một khi nó tỉnh giấc và vén tấm màn che phủ mình, phức hợp thân – tâm – hồn sẽ tan rã khi sinh lực được giải phóng khỏi khỏi sự trói buộc đối với sinh thể.

    Nếu Kundalini thức tỉnh hoàn toàn hợp nhất với Shiva, bạn sẽ không còn tồn tại nữa, vì không còn gì để đồng nhất với cơ thể bạn. Nếu nó thức tỉnh chậm rãi đủ để bạn có thể tiêu thụ được nguồn năng lượng khổng lồ được giải phóng khi nó buông bỏ mọi thứ đã kìm hãm nó, bạn sẽ trở thành một người đàn ông hoặc phụ nữ của Thượng Đế. Tuy nhiên, nếu nó thức tỉnh quá nhanh để có thể kiểm soát, hoặc quá chậm để giết chết bạn ngay lập tức, bạn sẽ bị cuốn vào vòng xoáy của một “tình trạng khẩn cấp tâm linh”, một cuộc khủng hoảng Kundalini.

    Một số nhà văn hiện đại đã sai lầm khi đổi lỗi cho bệnh tật của con người là do những khủng hoảng tâm linh như vậy. Mặc dù đúng là mọi bệnh tật đều do, trực tiếp hoặc gián tiếp, ahamkara, do tri giác về bản ngã và sự đồng nhất (với cái ngã) của mỗi người, nhưng không phải mọi chứng rối loạn thần kinh đều là dấu hiệu của sử thức tỉnh Kundalini, trong khi một cuộc khủng hoảng Kundalini có thể gây ra suy nhược thần kinh, thì không phải mọi sự suy nhược thần kinh đều là một tình trạng khẩn cấp về tâm linh. Hầu hết những người cho rằng sự thức tỉnh Kundalini là nguyên nhân gốc rễ của mọi sự mất cân bằng của họ, chỉ đơn thuần là đang trải nghiệm hậu quả của những rung động đầu tiên của nó từ giấc ngủ, đây là một cuộc khủng hoảng ahamkara hơn là Kundalini.

    Quá trình sinh lý – Kundalini, được một số người ca ngợi như một hình thức giải tỏa căng thẳng tự nhiên, chỉ đơn thuần là quá trình thanh lọc sơ bộ các kinh mạch mà Kundalini cuối cùng sẽ di chuyển qua. Sự thức tỉnh của Kundalini chỉ là “giải tỏa căng thẳng” theo nghĩa, khi các ràng buộc giữa cơ thể và nhân cách được giải phóng, thứ giữ chặt Kundalini được giải tỏa, năng lượng từng được sử dụng để tự đồng nhất với những “căng thẳng” này được giải phóng để cơ thể có thể phẩn bổ cho những mục đích khác. Sự thức tỉnh của Kundalini giải phóng toàn bộ các căng thẳng, không chỉ là những căng thẳng gây ra chứng rối loạn thần kinh, giải tỏa chứng rối loạn thần kinh không phải là tái tạo lại bản sắc.

    Nếu Kundalini đột ngột được kích hoạt trong một hệ thần kinh chưa được chuẩn bị, cú sốc tạo ra sẽ giống như đối với một đứa tre mới biết đi không hề hay biết khi nắm lấy dây điện trần. Khi một nhân cách chưa được tái cấu trúc cố gắng chống lại Kundalini, dù có ý hay vô ý, nó có thể làm tổn thương các dây thần kinh và phá vỡ cái cầu nối nội tiết, làm doản mạch hệ thần kinh ở điểm yếu nhất và tạo ra một lỗ hổng trong hào quang của nạn nhân. Vì nhiệm vụ của hào quang là cách ly chúng ta về mặt tâm linh khỏi nhau và khỏi những ảnh hưởng phi vật thể, những lỗ hổng trong hào quang cho phép tất cả những loại rung động tinh thần tiêu cực, hỗn loạn, bao gồm cả các ký sinh trùng siêu nhiên, xâm nhập vào trường năng lượng của cá nhân tùy tiện rồi lan rộng việc hủy hoại.

    Nếu cá nhân đó vẫn hoạt động bình thường, Kundalini có thể khuếch đại và làm tăng cường những hạn chế của họ. Ví dụ, người mà Kundalini bị chuyển hướng mạnh mẽ vào bộ phận sinh dục sẽ bắt đầu sống, ăn và thở bằng nhục dục, và có thể nhầm lẫn những kinh nghiệm tâm linh với những ham muốn mãnh liệt nảy sinh. Hoặc, nếu Kundalini trú ngụ trong các cơ quan tiêu hóa, cơn đói không thể thỏa mãn có thể xuất hiện.

    Ngay cả khi tránh được thảm họa rõ ràng, những nguy hiểm tồi tệ hơn vẫn đang chờ đợi, bởi vì sự thanh lọc sau đó thực sự có thể củng cố những hạn chế của nhân cách thay vì giải phóng chúng. Những người tìm kiếm tâm linh nửa vời (được gọi là ardha dagha, nghĩa đen là “cháy sém”, chảy dở chưa hết, trong tiếng Phạn) những người để cho năng lượng mạnh khiến mình kiêu ngạo, giống như khi làm phồng một quả bóng bay, có thể tin rằng mình đã đạt được những trạng thái cao siêu. Do sức mạnh của Kundalini nâng đỡ họ mang lại cho lời nói của họ một hào quang dường như là chân lý, họ có thể vươn lên đỉnh cao tự tin như những bậc thầy giả mạo, ra lệnh cho người khác bằng sự thuyết phục đầy tự tin để đi theo họ cho đến một ngày, áp lực của sự cám dỗ trở nên quá lớn, và sẽ sa ngã thảm khốc.

    Việc tự thổi phồng như vậy có thể diễn ra âm thầm, Gopi Krishna đã nhận xét: “Lòng tham quyền lực, khát vọng chinh phục tinh thần, vân vân, thường đồng hành với hoạt động của Kundalini ở trung tâm trí tuệ, gây ra một trạng thái say nhẹ ở não, quá tinh tế đến mức người đóc hoặc những bạn đồng hành thiếu hiểu biết, dù thông minh uyên bác đến đâu cũng không nhận ra.” Một người tìm kiếm tâm linh có thể không cố ý làm điều sai trái, nhưng sức mạnh của Kundalini, ngay cả khi chỉ thức tỉnh một nửa, thường tỏ ra nguy hiểm.

    Điều này minh hoa cho mối nguy hiểm lớn trong quan niệm rằng mọi vấn đề của một người sẽ được giải quyết nếu người đó có thể đánh thức Kundalini, vấn đề được giải quyết khi và chỉ khi Kundalini được đánh thức chậm rãi và có kiểm soát. Khi được đánh thức trong sự kiểm soát, nó thức tỉnh từ từ và dần dần bộc lộ bản thân, chỉ rất hiếm khi, như trường hợp của Vimalananda, nó mới tỏa sáng ở dạng gần như hoàn thiện ngay từ đầu. Điều mà nhiều người tin là đỉnh cao trong các thực hành tâm linh của họ thực ra chỉ là sự khởi đầu, chỉ là một sự tách rời ngắn ngủi, đầy hấp dẫn của Kundalini khỏi sự tự đồng nhất bình thường của nó với thế giới trần tục. Nếu điều này xảy ra với bạn, bạn phải kiên trì thực hiện các biện pháp để hướng dẫn và điều khiển nó nếu bạn muốn tồn tại vì Kundalini dần tháo gỡ mọi nút thắt ràng buộc nhân cách lại với nhau.

    Tuy tôi đã được giới thiệu khái niệm về Kundalini trước khi gặp Vimalananda, nhưng chỉ khi bắt đầu nhìn thấy con đường đặc biệt của nó qua cuộc đời ông thì Kundalini mới trở nên thực sự hiện hữu đối với tôi. Do muốn loại bỏ ý nghĩ về thành tựu nhanh chóng ra khỏi tâm trí tôi, ông không bao giờ ngồi xuống và nói: “Đây là toàn bộ những gì về Kundalini.” Thay vào đó, ông cung cấp cho tôi từ từ từng chút thông tin, khuyến khích tôi hấp thụ kỹ lưỡng từng phần và tiếp thu hiệu quả. Như ông thường nói: “Đừng bao giờ vội vàng, hãy bắt đầu bằng một ngụm rồi kết thúc bằng cả chai.” Cuộc trò chuyện dài được ghi lại bên dưới không diễn ra trong một lần, nhiều đoạn trích được ghép lại với nhau để cung cấp một cái nhìn tổng quan về cách tiếp cận của ông đối với Kundalini Yoga.
  5. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    109
    Đã được thích:
    38
    Tự Đồng Nhất

    “Thực ra không có khác biệt nào giữa Kunmdalini Shakti và Adya, Shakti nguyên thủy của vũ trụ, ngoại trừ việc Kundalini Shakti đã trở nên cá thể hóa.”

    Vimalananda không phải là người hay lặp lại lời nói của mình, ngay khi ông bắt đầu nói về điều gì đó mà tôi quan tâm, tôi được kỳ vọng sẽ bỏ dở mọi việc đang làm và lắng nghe. Thường thì ông chọn những lúc tôi đang mải mê với những việc thường nhật như đọc báo, bời vì việc thu hút sự chú ý của tôi vào lời nói của ông sẽ giúp tâm trí tôi tạm thời thoát khỏi sự ràng buộc của những chuyện tầm thường.

    “Đó là lý do tại sao tôi gọi Kundalini Shakti là bản ngã. Khả năng đồng nhất, coi thứ gì đó như một phần của bản thân, chính là bản ngã. Chừng nào Kundalini Shakti còn đồng nhất với cơ thể, thì nó vẫn còn ngủ. Một khi nó thức tỉnh, nó sẽ tìm kiếm người bạn đời của mình: Shiva, mảnh ghép của ý thức vũ trụ mà nếu thiếu nó thì một cá nhân không thể tồn tại. Khi chúng hợp nhất, vậy là xong, vở kịch kết thúc. Giống như một electron tìm thấy proton của mình và hợp nhất với nó.”

    “Các Rishi, những sinh linh duy nhất trong vũ tụ có khả năng du hành đến mặt trời, sở hữu toàn bộ sức mạnh của Kundalini Shakti. Họ có thể đến mặt trời ngay lập tức nếu muốn, nhờ vào sức mạnh đáng kinh ngạc của nó. Bạn có biết tốc độ của Kundalini Shakti là bao nhiêu không? Nó vô cùng lớn, nhưng vì các Rishi có thể di chuyển từ đây đến mặt trời trong chưa đầy một giây, nên tốc độc của nó phải hơn một trăm triệu dặm mỗi giây.”

    Tôi phải nhìn ông với vẻ tò mò, nên ông nhấn mạnh: “Vâng, tôi đã học đại học, có vài bằng cấp, nên tôi biết về tốc độ ánh sáng, nhưng không có gì nhanh hơn tốc độ suy nghĩ.”

    “Kundalini Shakti là biểu hiện cao nhất có thể từ sức mạnh ý chí của một cá nhân. Khi bạn đã thanh lọc ý chí của mình đến mức hoàn toàn có thể hướng nó vào một mục tiêu duy nhất tại một thời điểm, mạch lạc như một tia lazer, thì Kundalini Shakti mới hoạt động trong bạn, chứ không phải trước đó. Bất cứ thứ gì di chuyển nhanh như vậy đều phải có một lực cực lớn đằng sau nó, và rất ít người có thể kiểm soát được sức mạnh như vậy. Đó là lý do tại sao tôi rất tức giận khi đọc về tất cả những người Mỹ tuyên bố đã đánh thức Kundalini Shakti của họ mà không đau đớn, hoặc đang đánh thức Kundalini Shakti của tất cả mọi người dễ dàng. Đừng bắt tôi tin vào những điều nhảm nhí đó. Nếu đúng như vậy thì toàn bộ nước Mỹ đã hòa nhập với cái vô hạn từ lâu rồi.”

    Cố gắn kiềm chế cơn giận, ông tiếp tục.

    “Tại sao tôi lại tức đến vậy? Bởi vì người bình thường, ở trạng thái tốt nhất, sau thời gian dài khổ hạnh, chỉ có thể phần nào tự đồng nhất với vũ trụ hoặc với một vị thần, khi sự tự đồng nhất đó trở nên hoàn hảo, cái tôi sẽ mất đi mọi khái niệm về nhân cách và mọi liên hệ với cơ thể, dẫn đến sự tan rã. Một khi mất đi khả năng đồng nhất với cái bất toàn, làm sao bạn có thể tiếp tục tồn tại trong thế giới bất hoàn hảo này? Mọi vị swami và sadhu ngày nay nói về sự thức tỉnh của Kundalini đều thực chất đang nói về việc đánh thức một phần của nó mà thôi, cho dù họ có nhận ra điều đó hay không. Bạn có thể vô tình đánh thức Kundalini một phần, hoặc một vị thánh có thể đánh thức một phần cho bạn, nhưng đó không phải thứ kết thúc, đó chỉ là sự khởi đầu. Đó là lý do tại sao rất nhiều người tìm kiếm chân lý bị lạc lối.”

    Một khoảng lặng ngắn cho thấy điều này đặc biệt áp dụng cho tôi.

    “Ở một người bình thường, cái tôi cư ngụ ở phần dưới của tủy sống vì trọng lực hoàn toàn chi phối nó. Chừng nào cái tôi còn nằm đó ngủ yên, cá nhân đó vẫn còn trong vòng vô minh. Nếu muốn giải phóng cái tôi khỏi những trói buộc của nó, bạn phải tạo ra một lực bên trong cơ thể để chống lại lực hấp dẫn, điều này chỉ có thể thực hiện được bằng sự khổ hạnh vất vả. Mục đích của tất cả thực hành tâm linh trong mọi tôn giáo là để tách rời cái tôi khỏi sự đồng nhất với nhân cách hữu hạn, để nó có thể tái hợp với nhân cách vĩnh hằng của mình.”

    “Dù thực hiện chậm hay nhanh, bạn đều phải tách rời cái tôi ra khỏi các dây thần kinh khi luyện tập Kundalini Yoga, điều này sẽ gây ra một cú sốc lớn cho cơ thể bạn. Cái tôi có sức ảnh hưởng quá mạnh đến cơ thể đến nỗi hầu hết mọi người không thể làm được việc này. Trên thực tế, một số người chết vì sốc khi Khundalini được đánh thức, còn những người khác bị bệnh nặng. Việc đánh thức Kundalini bừa bãi rất nguy hiểm. Tất nhiên, ai cũng sẽ chết, nhưng chết trong trạng thái mất phương hướng, đau đớn, sợ hãi, sẽ phá hỏng cơ hội tái sinh tốt đẹp của bạn.”

    “Nếu hệ thần kinh của bạn mạnh mẽ, nó có thể chịu đựng được một khối lượng lớn của shakti trước khi tan rã, đó là lý do tại sao cần phải tu luyện. Nếu bạn thực hành những bài tập mà người thầy hướng dẫn để kiểm soát được lưỡi và dương quan của bạn.”

    “Còn nếu bạn là phụ nữ thì sao?”

    “Hoặc (kiểm soát) âm vật của bạn, bạn có thể tạo ra những dây thần kinh thép. Rất tiếc, nếu nghĩ rằng mình dám đánh thức Kundalini rồi sống sót trong một cơ thể đã bị suy yếu bởi tính phóng túng thì bạn đang sống trong ảo tưởng hão huyền.”

    “Kundalini được mô tả là vidyut lata, dây leo như tia chớp. Hãy tưởng tượng một dây leo bám vào cây, rồi hãy nghĩ đến dây leo đó như một tia sét, một luồng năng lượng hàng tỷ vôn có thể xé toạc hoặc thiêu rụi bất kỳ cây cối hay bụi rậm bình thường nào.”

    “Nếu có thể trải nghiệm sức mạnh của Kundalini Shakti được thức tỉnh hoàn toàn chỉ trong giây lát, bạn sẽ hiểu những lời nói dối của các yogi giả mạo, những người nói rằng Kundalini có thể được cảm nhận như một cảm giác rùng mình ở cột sống, hoặc như một làn gió mát trong lòng bàn tay. Cảm giác rùng mình sao? Thật nực cười! Và việc kiểm soát Kundalini bạn nghĩ là một trò đùa sao? Không bao giờ! Đối với người bình thường, việc kiểm soát Kundalini là điều không thể, hoặc gần như không thể. Chỉ các đấng bất tử mới có thể kiểm soát nó một cách đúng đắn.

    “Việc đánh thức Kundalini mà không được kiểm soát chẳng phải là giải pháp. Bạn không thể giác ngộ hay trở thành một yogi chỉ vì Kundalini của bạn đã được đánh thức. Có một tiềm năng rất lớn cho việc lạm dụng sức mạnh này. Chừng nào nó còn hoạt động thì không sao, nhưng khi suy yếu, nó sẽ sụp đổ như một tia sét.”

    “Cái tôi mà không kiểm soát được giống như ma quỷ, thứ cám dỗ chúng ta đắm chìm trong những thú vui của thế gian. Chẳng phải cuộc sống ở thế gian này thực sự là địa ngục sao? Đó là sự giày vò vô tận, bởi vì chúng ta cứ tái sinh vào đó hết lần này tới lần khác. Để vượt lên trên mọi đau khổ này, bạn phải đánh thức Kundalini của mình một cách có kiểm soát.”

    LỚP BAO PHỦ

    “Khi Kundalini ngủ yên trong luân xa Muladhara ở gốc cột sống, bạn tỉnh thức với thế giới nhưng ngủ yên với thực tại. Khi nó thức tỉnh để hợp nhất với Shiva trong não bạn, lúc đó bạn mới tỉnh thức với thực tại, bạn ngủ yên với thế giới. Một người vô minh tin rằng mình đang ở trong thế giới, Kundalini của hắn đồng nhất với chất độc của Maya. Một jnani, người hiểu biết, thì nói rằng: “Thế giới ở trong tôi”, bởi vì Kundalini của hắn đồng nhất với Shiva.”

    “Chúng ta nói rằng Kundalini đang “ngủ” bởi vì nó, cái tôi, đang tự đồng nhất với nhân cách hạn chế của cá thể. Vì sự tự đồng nhất này, nó chấp nhận những giới hạn của nó như là giới hạn của chính mình. Ở dạng thuần khiết, cái tôi là shakti thuần khiết nhất, nhưng chừng nào nó còn tự đồng nhất với thân thể, nó vẫn nằm dưới ba lớp bao phủ ngăn cản nó nhớ lại nó là ai và nó thuộc về đâu. Ba lớp che phủ này là ba Guna (sattva, rajas, và tamas), sáu vị (ngọt, chua, mặn, đắng, cay, chát) và năm nguyên tố (đất, nước, lửa, không khí, ether).”

    “Các Guna điều khiển tâm trí chúng ta, các Nguyên tố định hình cơ thể và thế giới xung quanh, còn các Vị điều khiển hóa học bên trong chúng ta, liên kết tâm trí và cơ thể lại với nhau. Cùng mười giác quan, năm giác quan mà chúng ta đều biết cộng thêm lưỡi, tay, chân, hậu môn, và bộ phận sinh dục, có đến 24 giới hạn làm méo mó ý thức con người.”

    “Bên ngoài, Bản Ngã Vũ Trụ được bao phủ bởi Maha Maya (đại huyễn ảo), bên trong, Maya xuất hiện dưới dạng 24 giới hạn này. Bước đầu trong Tantra tâm linh là làm việc ở cấp độ cá nhân nhằm khám phá cái tôi và giúp nó tái hợp với Shiva, Chân Ngã. Về mặt số học, 24 có nghĩa là 2+4=6, sáu luân xa (trung tâm năng lượng). Sáu luân xa cũng là biểu hiện của 24 giới hạn này, có nghĩa là chỉ khi bạn vượt qua các luân xa thì mới vượt qua được những giới hạn này, và ngược lại. Cả hai cuối cùng đều giống nhau, tất cả chỉ là vấn đề góc nhìn, về quan điểm.”

    “Vậy từ Kundalini có nghĩa là gì? Kundala có nghĩ là một chiếc khuyên tai xoắn, vậy Kundalini có nghĩa là “Nữ thần với một chiếc Kundala”. ở đây, vòng xoắn nằm ở đầu cột sống, cái tôi bị cuộn lại vì nó bị siết chặt bởi ba lớp vỏ. Chừng nào Kundalini còn ngủ yên trong luân xa Muladhara thì nó vẫn bị cuộn lại.”

    “Và đó là lý do tại sao đôi khi nó được gọi là Kubjika (người gù)?”

    “Đúng vậy. Tuy nhiên, một khi đi vào luân xa Ajna, nó hoàn toàn mất đi những vòng xoắn và trở thành thẳng, không bị cản trở bởi ba lớp bao phủ, nó có thể biểu lộ bản thân trọn vẹn. Tri thức có điều kiện luôn bị bóp méo một chút, chỉ khi tri thức vô điều kiện mới thực sự thẳng.”

    “Trong Kundalini Yoga, chúng ta thường bắt đầu với Bhuta Shuddhi, thanh lọc Năm Nguyên Tố, để cho phép Kundalini di chuyển lên trên qua các luân xa. Bhuta Shuddhi thực sự là tinh hoa của Tantra. Sức mạnh chuyển động của shakti, nếu không bị cản trở, sẽ nâng đỡ các lớp che phủ khác rồi cuối cùng tạo ra trí tuệ tâm linh đơn giản hoặc bình thường: jnana.”

    “Jnana là trí tuệ tâm linh bình thường phải không?”

    “Jnana là kiến thức rằng toàn thể vũ trụ thực sự là Đại Nhất Thể, bất chấp việc chúng ta thấy sự đa dạng trong thế giới: tất cả trong một, một trong tất cả. Khi bạn tiến bộ từ jnana bình thường đến khả năng tác động đến vị trí hoặc việc loại bỏ những lớp che phủ này trên quy mô vũ trụ, sự sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt, bạn sẽ có được kiến thức tâm linh thực tiễn, một giai đoạn cao hơn, được gọi là vijnana. Chữ “vi” trong vijnana có nghĩa là vishesha (đặc biệt, phi thường). Khi đó bạn là một Siddha, một vị bất tử, bởi vì bản ngã của bạn đã được thanh lọc hoàn toàn. Chỉ có các Siddha, và những bậc cao hơn như Rishi, mới có thể sở hữu loại tri thức thực tiễn hoặc chuyên biệt này, một người vijnana hoàn toàn khác với một jnana bình thường.”

    “Sau khi ba lớp che phủ Kundalini được gỡ bỏ, nhận thức của bạn sẽ trở nên hoàn toàn khác biệt. Đó là sự khác biệt giữa chữ “I” và “eye”. Con mắt tượng trưng cho thế giới của các đối tượng giác quan. Chừng nào cái tôi còn bị che phủ, nó sẽ không biết gì ngoài các giác quan và đối tượng của chúng, cảm thấy bằng lòng với chúng. Tuy nhiên chúng là những thứ ở bên ngoài, nên không bền vững. Cái tôi phải nhận ra chữ “I”, Bản Ngã, nằm bên trong, do đó, điều đầu tiên cần tu luyện là sự hướng nội, sự rút lui của tâm trí khỏi các đối tượng bên ngoài. Tình yêu, bao gồm cả cực khoái, là bên trong. Nếu tìm kiếm tình yêu bên ngoài, như hầu hết người phương Tây vẫn làm, bạn sẽ hoặc trở nên buồn chán lệch lạc, hoặc thất vọng và tuyệt vọng. Chỉ có sự hướng nội mới có thể mang lại cho bạn hạnh phúc.

    “Khi phát triển nội tâm, tâm trí bạn sẽ dần trở nên tĩnh lặng và nhận thức sẽ được phát triển. Cuối cùng bạn sẽ nhận ra rằng hiệu quả, công cụ và hành động đều là một. Bạn sẽ thấy chính mình trong con dê bị giết thịt, trong hành động giết thịt và trong người giết thịt, rồi bạn sẽ thấy tất cả chỉ là biểu hiện của Bản Ngã. Toàn thể là trò chơi của Ngài. Khi thấy chính mình ở khắp mọi nơi, thì con từ bi ở đâu nữa? Đây là jnana, tri thức tâm linh bình thường.”

    “Để vượt qua điều này đến vijnana, bạn phải vượt qua cơ thể, trước tiên bạn phải hiểu mối quan hệ giữa cơ thể và bản ngã. Các dây thần kinh của cơ thể là những đầu dò, những xúc giác của bản ngã. Đây là điều Krishna muốn nói khi ông đề cập trong Bhagavad Gita về cái cây có rễ ở trên và cành ở dưới, rễ của các dây thần kinh nằm trong não, rồi các dây thần kinh phân nhánh để bao phủ toàn bộ cơ thể.”
  6. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    109
    Đã được thích:
    38
    CÁC KINH MẠCH VÀ LUÂN XA

    “Cái tôi hay ahamkara thực chất không cư ngụ trong thân vật lý, bởi vì cái tôi hoàn toàn không phải là vật chất. Nó cư ngụ trong thân vi tế và di chuyển trong các kinh mạch (nadi), các dây thần kinh vô hình. 72 000 kinh mạch của thân thể hoạt động như những đường dẫn cho khí vi tế (prana), có liên quan mật thiết đến cái tôi. Theo số học, 72 000 nghĩa là 7+2=9: Chín cánh cửa mà qua đó prana có thể đi vào hoặc rời khỏi thân thể. Hầu hết các kinh mạch bắt đầu hoặc kết thúc tại những cánh cửa này, đó là các cơ quan cảm giác: hai mắt, hai lỗ mũi, hai tai, miệng, hậu môn, và cơ quan sinh dục. Prana di chuyển cùng với hơi thở, nhóm lên ngọn lửa trong thân thể, giống như cách dùng ống thổi để nhóm lửa trong lò rèn, và tâm trí được prana đưa đi qua những cánh cửa này để nó có thể kinh nghiệm thế giới. Kiểm soát các nadi cho phép bạn kiểm soát cái tôi, tâm trí và các giác quan.”

    “Trong số hàng nghìn kinh mạch, có ba nadi quan trọng nhất: Surya Nadi (kinh Mặt Trời), Chandra Nadi (kinh Mặt Trăng), và Sushumna (kinh Lửa). Lỗ mũi phải liên quan đến Surya Nadi, lỗ mũi trái Chandra Nadi. Sushumna liên hệ mật thiết với cột sống và tủy sống.”

    “Vậy, ở cấp độ vật chất có một cấu trúc vật chất, còn ở cấp độ vi tế có một kinh mạch, chúng ít nhiều cùng chiếm một không gian, vì vậy chúng ảnh hưởng lẫn nhau, có phải không?” Tôi có thể hình dung ra nó, ít nhiều là như vậy.

    “Ừ, gần đúng rồi. Mặt trời làm nóng mọi thứ lên, trong khi mặt trăng làm chúng nguội đi. Khi lỗ mũi phải của bạn, còn được gọi là Ganga (sông Hằng), hoạt động hiệu quả hơn lỗ mũi trái, sự thèm ăn cùng các thú vui khác sẽ tăng lên. Khi lỗ mũi trái, còn được gọi là Yamuna (nhánh chính của sông Hằng), hoạt động hiệu quả hơn lỗi mũi phải, hiệu ứng ngược lại sẽ xảy ra, cơ thể bạn mát mẻ và thư giãn, sự thèm ăn giảm đi. Nếu chịu khó quan sát cơ thể mình, bạn sẽ thấy mỗi lỗ mũi hoạt động khoảng một tiếng rưỡi mỗi lần.”

    Trước đây tôi chưa từng để ý đến điều này, nhưng kể từ lúc đó tôi bắt đầu nhận ra.

    “Suốt ngày đêm, cơ thể bạn liên tục dao động từ trạng thái hưng phấn đến thư giãn và ngược lại. Các yogi kiểm soát dao động này bằng cách thực hành pranayama. Họ điều khiển lỗ mũi trái khi muốn trở nên phục tùng, ví dụ như khi thờ phụng Thượng Đế, còn điều khiển lỗ mũi phải khi muốn ra lệnh. Họ cũng muốn tạo ra sự cân bằng giữa hai lỗ mũi, vì chỉ khi các kinh mạch Surya và Chandra hoạt động với lực bằng nhau thì prana mới có thể được đẩy vào kinh Sushumna để đưa Kundalini lên.”

    Pan*** Gopi Krishna đã phải chịu đựng nhiều tuần liền với tình trạng cơ thể quá nóng do cơn lốc khí prana được giải phóng bởi Kundalini thức tỉnh chỉ di chuyển trong Surya Nadi của ông, chỉ khi Chandra Nadi cuối cùng được khai mở và làm dịu lại thì ông mới cảm thấy dễ chịu hơn.

    “Chúng ta cần phân biệt giữa Bhuta Agni, thanh hỏa, và Jathara Agni, thực hỏa (lửa tiêu hóa). Bhuta Agni chiếm ưu thế, chính Bhuta Agni làm cho Jathara Agni bùng cháy. Jathara Agni chịu trách nhiệm về tiêu hóa vật lý, còn Bhuta Agni chịu trách nhiệm về tiêu hóa tinh thần. Khi bạn tiếp nhận những ý tưởng mới, bạn “ăn” chúng, Bhuta Agni “tiêu hóa” chúng để bạn có thể hiểu được. Một yogi kiểm soát tốt ngọn lửa tiêu hóa của mình có thể sử dụng Surya Nadi trong sadhana (thực hành hàng ngày) của mình vì anh ta sẽ hướng năng lượng để chỉ kích hoạt Bhuta Agni, chứ không phải Jathara Agni. Những người bình thường kích thích hệ thống của họ bằng Surya Nadi chủ yếu sẽ làm tăng Jathara Agni và làm suy yếu Bhuta Agni.”

    “Các kinh mạch gặp nhau và kết nối với nhau tại các đám rối vi tế gọi là luân xa (chakra). Các luân xa chỉ tồn tại trong thân vi tế và chỉ có thể được nhận thức bởi tâm trí đã được khai quang, tuy nhiên ngày nay, bất cứ ai đọc vài cuốn sách đều viết về luân xa, lặp lại những mô tả trong Tantra mà không hiểu ý nghĩa bên trong. Rất ít người thực sự hiểu những gì họ đang viết. Họ nói về hình dạng và màu sắc của các luân xa và nói quả quyết về các chữ cái tiếng Phạn trên mỗi luân xa, trong khi trên thực tế, những chữ cái tồn tại đích thực ở bất cứ luân xa nào cũng là những chữ do chính bạn tạo ra.”

    “Tuy nhiên, tôi có thể nói với bạn điều này: nếu bắt đầu thiền trực tiếp vào các luân xa, bạn sẽ có nguy cơ kích thích các dây thần kinh và kinh mạch ở khu vực mà bạn được cho biết là có luân xa nằm tại đó. Ví dụ, giả sử một vị guru nói với bạn: Này đệ tử, hãy thiền và luân xa Muladhara, nằm ở vùng đáy chậu. Nếu chưa được dạy kỹ về luân xa Muladhara, nếu chưa được cho biết chuyện gì sẽ xảy ra khi đến đó, rất có thể bạn sẽ không bao giờ xác định được vị trí của luân xa đó, bạn chỉ làm viêm các dây thần kinh ở vùng đáy chậu và tăng cường sức mạnh của Apana (dạng prana chuyện động xuống dưới). Điều này có thể biến bạn thành một kẻ cuồng dâm, hoặc một dạng điên cuồng nào đó.”

    Trong thân thể có năm loại prana: Prana hấp thụ mọi thứ, Apana thải bỏ mọi thứ, Samana tiêu hóa, Vyana lưu thông phân phối, còn Udana biểu đạt, nhất là qua lời nói. (Trong cuốn sách này, prana, chữ thường, dùng để chỉ sinh lực chung, và Prana, chữ hoa, là loại prana hấp thụ). Mỗi loại này xuất hiện ở một bộ phận khác nhau trong thân: Udana ở đầu, Apana ở vùng chậu, vân vân. Bất kỳ sự tắc nghẽn nào đối với việc lưu thông tự do của năm loại prana này đều gây ra mất cân bằng và bệnh tật.

    “Đây là lý do tại sao một người thầy giỏi lại quan trọng đến vậy. Khi Kundalini bắt đầu thức tỉnh, một luồng năng lượng khổng lồ được giải phóng. Trừ khi người thầy đủ mạnh để kiểm soát nó, nếu không đệ tử sẽ bị choáng ngợp bởi dục vọng và trở nên gắn bó mạnh mẽ với những điều trần tục, chính xác là vì các luân xa vẫn bị tắc nghẽn. Ví dụ, nếu trung tâm ******** bị kích thích, bạn có thể trở nên say mê một người phụ nữ đến mức bạn sẽ tạo ta một trò chơi ghép hình để chứng minh rằng có tồn tại một mối ràng buộc nghiệp chướng (ranubandhana) giữa bạn và cô ấy. Có lẽ nó thực sự tồn tại, là nguyên nhân gây ra sự thu hút ngay từ đầu, nhưng tất cả chỉ là tưởng tượng cho đến khi bạn có thể nhớ lại những kiếp sống trước đây của mình, điều đó cho phép bạn thực sự biết được những mối ràng buộc nghiệp báo.”

    “Sự biến dạng này có thể xảy ra với bất cứ luân xa nào ở tầng dưới. Tôi tin rằng người Tây Tạng dành cả đời để niệm Om Mani Padme Hum, câu chú này dành cho luân xa Manipura, vị trí của nguyên tố Lửa. Hầu hết người Tây Tạng không phải là những bậc thầy yoga hoàn hảo, vì vậy tác dụng chính của thần chú này là khởi dậy ngọn lửa trong cơ thể họ, điều này tốt cho họ vì sống ở một đất nước lạnh giá có rất ít thức ăn, nên ngọn lửa nội tại mạnh mẽ giúp họ giữ ấm. Tuy nhiên, những người có nhiều thức ăn lại có xu hướng phát triển tính tham ăn uống một cách ám ảnh. Thậm chí một số lama tốt cũng trở nên tham ăn, do sự kích thích quá mức của luân xa đám rối dương (vùng thượng vị).

    “Nếu các lama, những người thực hành khổ hạnh chuyên cần vẫn có thể sa ngã bất chấp mọi sự phòng ngừa, thì bạn nghĩ điều gì có thể xảy ra với bạn nếu tập trung vào luân xa Manipura ở một đất nước nóng bức, hoặc ở một quốc gia có nhiều thức ăn? Có lẽ bạn sẽ phát điên và ăn ngấy nghiến mọi thứ trước mắt, điều đó chỉ càng trói buộc bạn chặt hơn vào vòng luân hồi, vũ trụ hiện tượng.”

    “Tôi hiểu ý thầy rồi”, tôi xen vào, hào hứng với một nhận thức bất chợt. “Một số người phương Tây theo Phật giáo Tây Tạng khẳng định rằng tôn giáo của họ yêu cầu họ phải ăn thịt, nhưng Phật giáo tin vào sự bất hại (ahimsa) nên điều đó vó vẻ không hợp lý với tôi.”

    “Điều đó hoàn toàn vô lý. Họ không nói chuyện, mà chính những ham muốn mãnh liệt của họ, khao khát tính nặng nề của thịt, mới đang nói. Khi đánh thức Kundalini trước khi tâm trí được kiểm soát vững chắc, Kundalini rất có thể sẽ tự đồng nhất mạnh mẽ với những hạn chế của bạn, điều này có thể tàn phá quá trình tiến hóa của bạn. Một vị guru giỏi sẽ đóng cánh cửa của ba luân xa thấp nhất để Kundalini không bao giờ có thể quay lại đó. Khi ấy, nguy hiểm sẽ rất ít, nếu không, người đệ tử rất có thể sẽ bị choáng ngợp bởi ham muốn ăn uống, ngủ nghỉ hoặc ái dục.”

    CHÍN LUÂN XA

    “Hầu hết mọi người sẽ nói với bạn rằng có sáu luân xa. Một Aghori sẽ nói với bạn là có chín luân xa, để hiểu được điều này, ít nhất bạn phải biết sự khác nhau giữa một nara (người) và một khara (con lừa). Nếu nghĩ đây là chuyện đùa thì bạn chính là một khara.”

    “Một kharachir tin vào ba luân xa thấp nhất, những luân xa chịu trách nhiệm về ăn uống, sinh sản và bài tiết. Dương cụ dài của con lừa là biểu tượng tốt cho những người có ham muốn lớn đối với các khoái lạc trần tục.”

    “Khi tôi nói với Roshni (con gái nuôi) rằng con bé cần kết hôn để có thể ổn định cuộc sống, nó đáp: Sao cha lại nói vậy với con khi biết thế giới này đầy rẫy khara? Cha có gả con gái mình cho một con lừa không? Nếu tìm được một người đàn ông tốt cho con thì sẽ kết hôn, không thì trò chơi này không đáng để mạo hiểm.”

    “Tối rất hài lòng với câu trả lời này nên nói: Được rồi, cha thậm chí sẽ không để con kết hôn với một nara, sẽ lo liệu để con kết hôn trực tiếp với Narayana.”

    “Một nara chỉ sống riêng cho ba luân xa trên cùng. Chỉ có một vài nara tồn tại trên thế giới trong bất kỳ thời điểm nào, chỉ một nara mới có thể trở thành Narayan, chính là Thượng Đế, bằng cách đi đến ba luân xa cao nhất. Ba luân xa dưới dành cho thế tục, adhibhautika, ba luân xa trên dành cho tinh thần, adhyatmika.”

    “Ba luân xa cuối cùng dành cho những gì vượt ra ngoài cả thể xác lẫn tinh thần. Một số người gọi đó là cõi astral, còn trong tiếng Phạn, chúng ta gọi đó là adidaivika. Ba luân xa này nằm trong đầu, chúng cho phép những người bất tử duy trì hiện diện trong thân xác họ, nếu họ có thể giữ được ân sủng của thánh mẫu Ma. Những luân xa này rất bí ẩn, không thể được mô tả theo cách của sáu luân xa kia. Chúng chỉ có thể được kinh nghiệm sau khi Kundalini được đánh thức hoàn toàn. Trước đó, việc thảo luận về chúng là vô ích, nhưng tôi sẽ cho bạn biết tên của chúng: Golata, Lalata, và Lalana.”

    “Trong sáu luân xa có thể mô tả được, đầu tiên là Muladhara, nằm ở vùng đáy chậu. Tiếp theo là Svadhisthana ở vùng mu, Manipura ở rốn, Anahata gần tim, Vishudha ở cổ họng, còn Ajna ở giữa trán. Từ Ajna người ta chuyển đến Sahasrara, đây hoàn toàn không phải là một luân xa. Tôi tin là bạn đã từng nghe về điều này rồi phải không?”

    “Vâng tôi đã nghe.”

    “Vậy bạn biết đấy, mỗi luân xa đều có hình dạng của một bông sen với màu sắc và số cánh nhất định. Bạn đã bao giờ tự hỏi: Tại sao lại là sen? Tại sao không phải là một loài hoa khác, hoặc thứ gì đó khác ngoài hoa?”

    “Tôi chưa”. Ông đã khiến tôi chú ý.

    Ông cười nhếch mép đắc thắng: “Hoa sen được dùng làm biểu tượng cho tính thanh khiết bởi vì mặc dù sống trong bùn nhưng nó không bị vấy bẩn bởi bùn mà vươn lên trên đó. Vì vậy, ta có thể ví hoa sen tương tự như trí xét đoán, còn bùn lầy thì như Maya huyễn ảo. Còn nhiều điều hơn thế nữa.”

    “Hoa sen chỉ nở khi được ánh nắng mặt trời buổi sáng chiếu vào và khép lại khi mặt trời lặn. Tương tự, những bông sen của sáu luân xa chỉ nở khi Kundalini Shakti hiện diện bên trong chúng, nếu không, chúng vẫn khép kín. Hơn nữa, ngay cả khi mặt trời đang chiếu sáng, hoa sen cũng khép lại nếu bị nước bắn vào.”

    “Bạn cũng phải học cách giống như hoa sen trong nước, khép kín bản thân trước những ảnh hưởng bên ngoài để ngăn chặn ba Guna quấy rầy. Hãy thử điều này khi bạn tràn đầy shakti xem nó khó khăn thế nào.”

    “Mỗi luân xa có số cánh hoa khác nhau: bốn, sáu, mười, mười hai, mười sáu và hai, theo thứ tự tăng dần, do các phương thức phân biệt khác nhau liên quan đến luân xa đó. Mỗi cánh hoa là một Bija Mantra (âm thanh gốc) riêng biệt cho luân xa cụ thể đó. Bằng cách thực hiện nghi lễ thích hợp với Bija Mantra đó, kiến thức về phương thức xét đoán đó sẽ được thu nhận.”

    “Sahasrara, hay còn gọi là hoa sen ngàn cánh, nằm ở đỉnh đầu. Mặc dù là hoa sen nhưng thực chất đó không phải là một luân xa, vì không có mạng lưới kinh mạch ở đó, chỉ có một kinh mạch duy nhất kết nối Sahasrara với luân xa Ajna.”

    “Giống như thân cây sen vậy.”

    “Quả đúng. Hoa sen của Sahasrara có số cánh nhiều nhất. Vishudha có số cánh nhiều thứ hai với mười sáu cánh. Tất cả các bija của nó đều là nguyên âm, vì nguyên âm là nền tảng cho phát âm, bắt nguồn từ cổ họng, vị trí của luân xa Vishudha.”

    “Kundalini nằm cuộn tròn như một con rắn trong luân xa Muladhara. Nó có ba vòng rưỡi: ba vòng tượng trưng cho ba Guna, còn một nửa tượng trưng cho miệng rắn hổ mang, nơi ngự trị của bản ngã. Một nửa vì bản ngã là Shakti, chỉ là một nửa của Shiva, Shaktiman hay người điều khiển Shakti. Mục đích của Kundalini Yoga là để hợp nhất Shiva với Shakti nhằm tạo ra hình dáng vĩnh hằng của Shiva, Sadashiva.”

    “Bên trái Sadashiva là nữ, bên phải là nam, hai nguyên tắc này đã hợp nhất nhưng chưa hòa nhập. Nếu chúng hòa nhập thì vở kích sẽ kết thúc, điều đó sẽ chẳng còn gì thú vị nữa. Sadashiva tồn tại trên quy mô vũ trụ, trong một cá nhân, vị thần này được gọi là Ardhanarishvara (Nữ Chúa Tể). Để Sadashiva hiển lộ. Kundalini phải được đánh thức hoàn toàn, bởi vì sự hiển lộ cao nhất của Shiva trong con người nằm ở đầu, phần cao nhất của cơ thể.”

    “Ở người bình thường, Kundalini ngủ yên ở gốc cột sống, vì vậy Shiva thiếu Shakti. Người như vậy không phải Shiva mà là shava (xác chết). Tôi nhìn mọi người như một bộ xương vì đó chính là bản chất của họ, trước khi Kudalini Shakti của một người thức tỉnh và bắt đầu nhảy múa với Shiva, người đó chẳng khác nào đã chết.”

    “Từ trung tâm của thân vi tế, kinh mạch Sushumna (lửa) đi lên, bên trái và bên phải nó lần lượt là mạch Chandra (mặt trăng) và Surya (mặt trời). Các kinh mạch này được mô tả là có độ dày bằng một phần nghìn sợi tóc. Hai kinh mặt trời và mặt trăng đi vào hoặc hợp nhất với Sushumna ở luân xa Muladhara rồi đi lên khu vực luân xa Ajna, từ đó chúng đi xuống lỗ mũi trái và phải, trong kho Sushumna đi lên luân xa Sahasrara. Từ hai lỗ mũi, các khí mạch kéo dài, mang hơi thở đi xa bằng mười hai ngón tay.

    Dưới đáy của Sushumna là luân xa Muladhara (vùng đáy chậu), nơi Kundalini cuộn tròn và ngủ yên, đầu của nó bịt kín phần đầu (Kanda) hay lối vào của Sushumna. Luân xa Muladhara được mô tả là có bốn cánh hoa (mạng lưới các kinh mạch) được bịt kín bằng hình vuông màu vàng tượng trưng cho yếu tố đất. Phía trên đó là luân xa Svadisthana (vùng mu) có sáu cánh hoa, được bịt kín bằng hình trăng khuyết tượng trưng cho nguyên tố nước. Ở rốn là luân xa Manipura có mười cánh hoa, được bịt kín bằng tam giác đỏ, tượng trưng yếu tố lửa. Gần tim là luân xa Anahata có mười hai cánh hoa, được bịt kín bằng hình lục giác màu xanh lam tượng trưng nguyên tố không khí. Ở cổ họng là luân xa Vishudha có mười sáu cánh hoa, được bịt kín bằng hình tròn màu trắng tượng trưng cho yếu tố không gian. Ở giữa trán là luân xa Ajna có hai cánh hoa và không được bịt kín bởi bất cứ nguyên tố thô nào trong năm nguyên tố, mà bởi tinh chất vi tế của tâm. Trên đỉnh đầu là Sahasrara, đóa sen ngàn cánh rực rỡ.

    Mỗi luân xa được mô tả là có nhiều vị thần và âm tiết bija ở trung tâm và trên mỗi cánh hoa của chúng.

    Ba luân xa bí mật: Golata, Lalata và Lalana được cho là nằm ở lưỡi gà phía sau cổ họng, phía trên Ajna và bên trong vòm miệng mềm phía trên. Thực hành yoga bên trong chủ đạo của chúng là trong ấn Khecari, mặc dù Vimalananda có thể đề cập tới một thực hành thậm chí còn vượt xa hơn thế. Trong Khecari mudra, phần gốc lưỡi được tách rời dần dần rồi lưỡi được kéo dài bằng cách căng ra cho đến khi có thể vươn tới điểm giữa hai mắt. Sau đó, lưỡi được uốn cong vào trong, ấn lên trên để đi vào ống dẫn của “con rắn hai đầu rồi đóng kín cánh cửa thứ mười” bên trong khoang sọ phía trên vòm miệng mềm. Áp lực của lưỡi lên “Ama Kala” nơi chứa cam lộ mặt trăng (amrita, soma) chảy xuống dồi dào và thấm đẫm toàn bộ cơ thể với niềm hạnh phúc tối thượng. Đạt được Khecari Siddhi mang lại một thân thể bất tử thần thánh, không bị lão hóa, hư hoại, bệnh tật, được ban tặng tám đại thần thông biến hóa.

Chia sẻ trang này