1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

NĂNG LƯỢNG HỎA XÀ Bí mật của Tantra và Shakti Yoga

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi phunglam, 27/04/2026.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    THE SERPENT POWER


    THE SECRET OF TANTRIC AND SHAKTIC YOGA


    ARTHUR AVALON

    (Sir John Woodroffe)



    Amtitananda chuyển ngữ
    MỤC LỤC

    Lời nói đầu

    Giới thiệu

    I. Giới thiệu

    II. Ý thức toàn thể (paratma, đại ngã)

    III. Ý thức cá thể (jivatma, tiểu ngã)

    IV. Mật chú

    V. Các Trung Tâm hay Hoa Sen (Chakra, Padma)

    VI. Thực Hành (Yoga: Laya Krama)

    VII. Cơ sở lý thuyết của Yoga này

    Văn bản (bản dịch)

    Mô tả về Sáu trung tâm (Sat Chakra Nirupana)

    Năm đề mục quán guru (Paduka Panchaka)
  2. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong tác phẩm Shakti & Shakta của mình, tôi đã lần đầu tiên phác thảo các nguyên lý của Kundalini Yoga, một lĩnh vực được bàn luận rất nhiều ở một số nơi nhưng lại ít được biết đến.

    Tác phẩm này mô tả và giải thích chi tiết hơn về Năng Lượng Hỏa Xà (Kundalini Shakti) và ảnh hưởng của Yoga thông qua nó, một chủ đề chiếm vị trí nổi bật trong các Mật Điển (Tantra Shastra). Nó bao gồm bản dịch của hai tác phẩm tiếng Phạn được xuất bản vài năm trước trong tập thứ hai của bộ sách Các Văn Bản Tantra của tôi, mà cho đến nay vẫn chưa được dịch. Tác phẩm đầu tiên có tựa đề Shat Chakra Nirupana (Mô tả và Khám phá về Sáu luân xa) do học giả Tantra (mật tông) nổi tiếng Purnananda Swami viết, một ghi chú ngắn về cuộc đời ông sẽ được trình bày sau. Nó tạo thành chương 6 trong tác phẩm đồ sộ và chưa được xuất bản của ông về Nghi Quỹ Mật Tông có tiêu đề Shritattvachintamani. Đây là chủ đề về các bài luận của Shankara và Vishvanatha, cùng với những người khác được trích dẫn trong Tập II của Các Văn Bản Tantra, và được dùng để thực hiện bản dịch hiện tại. Bài bình luận được dịch từ tiếng Phạn ở đây là của Kalicharana.

    Tác phẩm thứ hai, gọi là Paduka Panchaka (Năm đề mục quán tưởng Guru), đề cập đến một trong những Hoa Sen được mô tả trong tác phẩm lớn hơn. Kèm theo đó là bản dịch từ tiếng Phạn của một bài bình luận của Kalicharana. Tôi đã bổ sung thêm một số ghi chú của riêng mình vào bản dịch của cả hai tác phẩm. Vì hai tác phẩm này có nội dung rất khó hiểu, và bản thân chúng cũng khó hiểu đối với người đọc tiếng Anh, nên tôi đã viết lời tựa cho bản dịch bằng một lời giới thiệu chung, trong đó tôi đã cố gắng (trong phạm vi của một tác phẩm loại này và kiến thức của tôi) mô tả và giải thích về dạng Yoga này. Tôi cũng đưa vào một số hình ảnh về các Trung Tâm (năng lượng), được vẽ và tô màu theo mô tả đưa ra trong tập đầu tiên của văn bản tiếng Phạn này.

    Trong phần Giới Thiệu này, tôi chỉ có thể đưa ra một trình bày tổng quát và tóm lược về các nguyên tắc mà Yoga, và pháp môn chuyên biệt này, dựa trên đó. Những người muốn tìm hiểu sâu hơn về chủ đề này có thể tham khảo các cuốn sách khác của tôi về Tantra Shastra. Trong cuốn Các Nguyên Lý của Tantra, bạn sẽ tìm thấy phần Giới Thiệu chung về Mật luận (liên quan đến chủ đề hiện tại) cùng các chương quan trọng về Shakti và Mantra. Trong tác phẩm gần đây của mình, Shakti & Shakta (phiên bản thứ nhì đang được tái bản), tôi đã tóm lược ngắn gọn giáo lý của Shakta Tantra và các nghi quỹ của chúng. Trong cuốn Nghiên Cứu về Mantra Sastra, ba phần đầu tiên được tái bản từ Vedanta Kesari, nơi chúng xuất hiện lần đầu, bạn sẽ tìm thấy những mô tả chi tiết hơn về các thuật ngữ chuyên ngành như Tattva, Shakti nhân, Kala, Nada, Bindu, vân vân, được đề cập trong cuốn sách này. Các tác phẩm khác đã được xuất bản của tôi về Tantra, bao gồm cả Cơn Sóng Hạnh Phúc, có thể được tìm thấy ở trang giới thiệu sách.

    Những thông tin sau đây về Purnananda, vị tu sĩ Tantra nổi tiếng của Bengal, tác giả cuốn Shat Chakra Nirupana, được thu thập từ hậu duệ của trưởng nam nhà ông, trong đó có hai người liên quan đến công việc của Hội Nghiên Cứu Varendra, Rajshaji. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Giám đốc, ông Akshaya Kumara Maitra, và Thư ký, ông Radha Govinda Baisak, vì các chi tiết sau đây:

    Purnananda là một người thuộc dòng dõi Brahmana Rahri của Kashyapa Gotra, tổ tiên của ông đến từ làng Pakrashi, một ngôi làng mà cho đến nay vẫn chưa được xác định. Tổ tiên đời thứ bảy của ông, Anantacharya, được cho là đã di cư từ Baranagara, thuộc quận Murshidabad, đến Kaitali, thuộc quận Mymensingh. Trong gia đình ông có hai hành giả mật tông (tantrika sadhaka) nổi tiếng, là Sarvananda và Purnananda. Hậu duệ của Sarvananda cư trú tại Mehar, trong khi hậu duệ của Purnananda chủ yếu sống tại quận Mymensingh. Người ta biết rất ít về cuộc sống thế tục của Purnananda, ngoại trừ việc ông mang tên Jagadananda, và đã sao chép một bản thảo của Vishnupuranam vào năm Shaka 1448 (1526 sau Công nguyên). Bản thảo này hiện đang thuộc sở hữu của một trong những hậu duệ của ông, tên là Pan*** Hari Kishore Battacharya, ở Raitali, vẫn còn được bảo quản khá tốt. Nó được học giả Satis Chandra Siddhantabhushana của Hội Nghiên Cứu Varendra mang đến kiểm tra. Phần cuối sách ghi rằng Jagadananda Sharma đã viết Purana vào năm Shaka 1448.

    Jagadananda này lấy tên là Purnananda khi nhận được quán đỉnh (diksha) từ Brahmananda và đến Kamapura (Assam), nơi ông được cho là đã chứng quả thành tựu (siddhi) hay trạng thái tâm linh hoàn hảo trong Ashrama, nơi vẫn còn mang tên Vashishthashrama, nằm cách thị trấn Gauhati (Assam) khoảng bảy dặm.

    Purnananda không bao giờ về nhà, mà sống cuộc đời của một Paramahamsa và biên soạn một số tác phẩm Tantra, trong đó nổi tiếng là Shritattvachintamani, được sáng tác vào năm Shaka 1499 (1577 SCN), Shyamarahasya, Shaktakrama, Tattvanandatarangini và Yogasara. Luận điển của ông về tụng ca Kalikakarakuta cũng rất nổi tiếng. Tuy nhiên, Shat Chakra Nỉupana, được dịch ở đây, không phải là một tác phẩm độc lập, mà là một phần của Patala thứ sáu trong Shritattvachitamani. Theo một bảng phả hệ của gia đình vị Acharya mật tông và hành giả Virachara này, do một trong những hậu duệ của ông cung cấp, Purnananda cách hậu duệ hiện tại của ông khoảng mười thế hệ.

    Tác phẩm này đã được chuẩn bị khoảng 5 năm, do cả độ khó của đề tài lẫn các khó khăn do chiến tranh gây ra đã trì hoãn việc xuất bản. Tôi đã hy vọng có thể đưa thêm một số hình ảnh minh họa gốc khác mà mình đang sở hữu liên quan đến chủ đề này, nhưng điều kiện hiện tại không cho phép, nên tốt hơn là xuất bản như hiện trạng thay vì mạo hiểm gây ra sự chậm chễ lâu hơn.

    Arthur Avalon

    Ranchi, ngày 20 tháng 9 năm 1918
  3. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    SÁU TRUNG TÂM



    NĂNG LƯỢNG HỎA XÀ

    I

    Giới Thiệu

    Hai tác phẩm tiếng Phạn được dịch ở đây, Sat Chakra Nirupana (Mô tả Sáu trung tâm hay Luân Xa) và Paduka Panchaka (Năm đề mục quán tưởng Guru) nói về một dạng Mật tông Yoga đặc biệt có tên là Kundalini Yoga, hoặc, như một số tác phẩm gọi là Bhuta Shuddhi. Những tên gọi này đề cập đến Kundalini Shakti, hay Năng Lượng Tối Cao trong cơ thể con người, nhờ đánh thức được nó mà Yoga được thành tựu, và bàn về sự thanh lọc các Nguyên tố của thân thể (Bhuta Suddhi) sẽ xảy ra thông qua sự kiện đó. Yoga này được thực hiện bằng một quá trình được gọi về mặt kỹ thuật là Sat Chakra Bheda, xuyên thủng Sáu Trung tâm hay Luân Xa (chakra), hoặc Hoa Sen (Padma) của thân thể bởi Kundalini Shakti, mà để đặt cho nó một cái tên tiếng Anh, tôi đã gọi ở đây là Năng Lượng Hỏa Xà. Kundala nghĩa là cuộn tròn. Năng lượng đó là nữ thần (Devi) Kundalini, vốn cuộn tròn, bởi hình dạng của Bà là một con rắn cuộn tròn đang ngủ ở trung tâm thấp nhất cơ thể, ở gốc cột sống, cho đến khi bằng các phương pháp đã được mô tả, bà được đánh thức thông qua Yoga mang tên bà. Kundalini là Năng Lượng Thần Thánh của Vũ Trụ trong thân người. Saptabhumi, hay bảy cõi giới (Lokas), theo cách hiểu phổ biến, là sự biểu thị bên ngoài của Tantra nội (mật điển trình bày giáo lý bên trong), liên quan đến bảy luân xa.

    Yoga này được coi là Mật Tông (tantra) vì hai lý do. Nó được đề cập trong Yoga Upanishad, nói về các Luân Xa, và cả trong một số Purana. Các chuyên luận về Hatha Yoga cũng đề cập đến chủ đề này. Chúng ta thậm chí còn tìm thấy những khái niệm tương tự trong các hệ thống khác ngoài Ấn Độ, mà có thể trong một số trường hợp đã được vay mượn từ đó. Ví dụ trong Risala ihaq numa của hoàng tử Mahomed Dara Shikoh có mô tả về ba trung tâm: “Mẹ của não bộ” hay “Trái tim hình cầu” (Dil i muddawar), “Trái tim cây tuyết tùng (Dil i sanowbari), và Dil i nilofari hay “trai tim hoa huệ”. Các tài liệu tham khảo khác có thể được tìm thấy trong các tác phẩm của Sufi Hồi giáo. Vì vậy, một số nhóm Sufi (như Naqshbandi) được cho là đã nghĩ ra, hay đúng hơn là vay mượn từ các Yogi Ấn Độ phương pháp Kundalini như một phương tiện để giác ngộ. Tôi được biết rằng có thể tìm thấy sự tương ứng giữa các Luận điển của Ấn Độ và kinh văn Maya da đỏ của người Zuni ở châu Mỹ được gọi là Popul Vuh. Người cung cấp thông tin của tôi cho biết kênh năng lượng chính của họ tương ứng với Sushumna, cặp khí mạch của họ tương ứng với Ida và Pingala. Hurakan, hay tia chớp, tương tự Kundalini, còn hệ luân xa được họ mô tả bằng các ký hiệu động vật. Tôi được biết các quan niệm tương tự cũng được lưu hành trong các giáo lý bí truyền của những cộng đồng khác. Chúng ta có thể dự đoán rằng học thuyết và thực hành này sẽ phổ biến rộng rãi nếu nó có cơ sở thực tế. Tuy nhiên, dạng Yoga này đặc biệt gắn liền với Tantra hoặc Agama, trước hết là vì các kinh văn này có liên quan rộng rãi với nó. Trên thực tế, những mô tả có hệ thống và chi tiết về mặt thực hành như đã được viết chủ yếu được tìm thấy trong các tác phẩm Hathayoga và Tantra, vốn là cẩm nang không chỉ về hoạt động thờ cúng trong Ấn giáo, mà còn về nội dung huyền học của nó. Hơn nữa, dạng Yoga tập trung vào luân xa thấp nhất dường như là đặc trưng riêng của hệ thống Tantra, các bậc lão luyện trong hệ thống này là những người nắm giữ kiến thức thực tiễn, nhờ đó các hướng dẫn chung trong sách có thể được áp dụng vào thực tế. Hệ thống này cũng mang đặc trưng Tantra trong việc định vị các trung tâm chủ đạo của tâm thức. Thời cổ, nhiều người đã gán cho các bộ phận khác nhau của cơ thể là nơi trú ngụ của “linh hồn” hay sự sống, chẳng hạn như máu, tim, hơi thở. Nhìn chung, não bộ không được coi trọng như vậy. Hệ thống Vaidik coi tim là trung tâm chính của Ý thức, một tàn tích của quan niệm này chúng ta vẫn còn lưu giữ trong những cụm từ như “đưa vào trong tâm khảm” và “học bằng cả trái tim”. Sadhaka, một trong năm chức năng của Pitta (xử lý cảm xúc, suy nghĩ), nằm ở tim, gián tiếp hỗ trợ hoạt động của các chức năng nhận thức bằng cách duy trì co bóp tim đều dặn, và người ta cho rằng có lẽ chính cách nhìn nhận về cấu này tạo của tim đã khiến các nhà sinh lý học Ấn Độ coi tim là trung tâm của nhận thức. Tuy nhiên, theo Tantra, các trung tâm chính của ý thức được tìm thấy trong các Luân xa của hệ thống tủy sống và ở đỉnh não (Sahasrara), mà họ mô tả, mặc dù tim cũng được công nhận là nơi trú ngụ của Jivatma, hay bản ngã cá nhân, trên phương diện căn nguyên sự sống hay Prana. Chính vì những nguyên nhân vừa nêu mà câu thơ đầu tiên của Sat Chakra Nirupana được dịch ở đây nói về loại Yoga cần đạt được tiêu chí của các Mật Điển (tantranusarena) tức là, như Kalicharana, luận sư, nói “theo thẩm quyền của các Tantra”.

    Gần đây, chủ đề này đã được chú ý trong các tài liệu phương Tây thuộc thể loại huyền bí. Nói chung, các tác giả đã cố gắng trình bày những gì họ hiểu là học thuyết của Ấn giáo về vấn đề này, nhưng với nhiều sai sót đáng kể. Việc này không chỉ giới hạn ở các tác phẩm thuộc loại đã đề cập. Ví dụ, chỉ cần nêu ra hai trường hợp thuộc những loại này, chúng ta thấy trong một từ điển tiếng Phạn nổi tiếng (giáo sư Monier William) định nghĩa Luân Xa là “các vòng tròn hoặc vùng trũng trên cơ thể dùng cho mục đích thần bí hoặc chiêm tinh học”, còn vị trí của chúng trong hầu hết các trường hợp đều bị sai đến từng chi tiết. Muladhara được mô tả không chính xác là “nằm phía trên xương mu”. Svadhisthana cũng bị sai là ở vùng rốn. Anahata không phải gốc mũi mà là trung tâm cột sống vùng tim. Vishudha không phải là “khoang giữa các xoang trán” mà là trung tâm cột sống ở vùng cổ họng. Ajna không phải là thóp hoặc chỗ nối của các đường khớp vành và khớp dọc, được cho là Brahmarandhra, mà nằm ở vị trí của con mắt thứ ba, hay Jnanachakshu. Những người khác, tránh được những lỗi nghiêm trọng như vậy nhưng vẫn mắc phải các sai sót nhỏ hơn. Chẳng hạn, một tác giả, theo như tôi được biết, có kiến thức đáng kể về huyền môn, đã nói về Sushumna như một “lực” mà “không thể nạp năng lượng cho đến khi Ida và Pingala được thực hiện trước”, lực này “truyền đi kèm với những cú sốc mạnh mẽ qua từng phần tủy sống”, và khi đám rối thần kinh cùng được đánh thức, nó truyền dọc theo tủy sống và tác động lên não, dẫn đến việc người luyện mới thấy mình là một linh hồ không có thân xác đơn độc trong vực thẳm đen tối của không gian trống rỗng, vật lộ với nỗi sợ hãi và kinh hoàng không thể diễn tả.” Ông ta còn viết rằng “dòng chảy” của Kundalini được gọi là Nadi, rằng Sushumna kéo dài như một dây thần kinh đến Brahmarandhra, rằng Tattva có bảy, và những vấn đề không chính xác khác. Sushumna không phải là một “lực” và không truyền qua hay tác động lên bất cứ thứ gì, mà là mạch ngoài cùng trong ba kinh mạch, tạo thành đường dẫn cho lực, vốn là sự thức tỉnh của Devi tên là Kundalini, năng lượng vũ trụ trong thân thể, lực này tự nó không phải là một kinh mạch, mà truyền qua phần trong cùng của mạch Chitrini, kết thúc ở luân xa 12 cánh bên dưới Sahasrara, từ đó dẫn lên Brahmanandhra. Thật dễ dàng để chỉ ra những lỗi khác trong số các tác giả đã đề cập đến chủ đề này. Sẽ có ích hơn nếu tôi đưa ra một tuyên bố chính xác nhất có thể theo kiến thức của mình về thể loại Yoga này. Nhưng tôi muốn nói thêm rằng một số tác giả Ấn Độ hiện đại cũng đã góp phần lan truyền những quan niệm sai lầm về các Luân Xa bằng cách mô tả chúng chỉ từ góc nhìn duy vật hoặc sinh lý học. Làm như vậy không chỉ là xuyên tạc vấn đề, mà còn làm sai lạc ý nghĩa, vì sinh lý học không biết đến các Luân Xa như chúng vốn tồn tại, nghĩa là, như những trung tâm của ý thức, và hoạt động của Sukshma Prana Vayu hay sinh lực vi tế, mặc dù nó có đề cập đến mối liên hệ giữa thân xác thô và nó. Những người chỉ dựa vào sinh lý học thì phần nhiều sẽ không tương đồng.

    Ở đây, chúng ta có thể lưu ý đến lời kể của một tác giả hội Thông Thiên Học nổi tiếng về những gì ông gọi là “các trung tâm lực”, và “hỏa xà” mà ông viết mình đã có trải nghiệm cá nhân. Tuy tác giả cũng đề cập đến Yoga Shastra, nhưng có lẽ sẽ tránh được sai sót nếu chúng ta chỉ ra ở đây rằng lời kể của ông không phải là sự trình bày lại giáo lý của các yogi Ấn Độ (mà tác giả có vẻ coi thường năng lực Yoga của họ), mà được đưa ra như một lời giải thích độc đáo của riêng tác giả (được củng cố, theo quan điểm của ông, bởi một vài phần của giáo lý Ân Độ) về trải nghiệm cá nhân mà ông viết rằng chính mình đã có. Trải nghiệm này dường như bao gồm việc chủ ý đánh thức Hỏa Xà, với linh ảnh được tăng cường mà ông tin là nó đã cho ông thấy những điều ông nói với chúng ta. Các trung tâm, hay hệ Luân Xa, của thân người được mô tả là những xoáy nguyên tố ở thể ether (các cánh hoa của luân xa được biểu hiện ra bởi sinh khí prana, mỗi luân xa là trung tâm của một dạng nguyên tố (bhuta) chiếm ưu thế), mà từ linh giới tràn vào, và vuông góc với mặt phẳng của đĩa xoáy, là bảy lực sáng tạo mang “sinh mệnh thần thánh” vào cơ thể vật lý. Mặc dù cả bảy lực này đều tác động lên tất cả các trung tâm, nhưng trong mỗi trung tâm, một dạng lực chiếm ưu thế hơn hẳn. Các lực tràn vào này được cho là tạo ra trên bề mặt của xoáy năng lượng các lực thứ cấp vuông góc với chính chúng. Lực ban đầu khi khi thâm nhập vào xoáy năng lượng sẽ bức xạ ra theo đường thẳng, nhưng tỏa ra theo phương vuông góc với chúng. Số lượng các tia bức xạ này của lực ban đầu được cho là sẽ quyết định số cánh hoa (như Ấn giáo gọi chúng) mà Luân Xa hay xoáy năng lượng thể hiện. Lực thứ cấp chuyển động xung quanh xoáy năng lượng, sẽ tạo ra hình dạng của các cánh hoa, hay chính xác hơn là những chiếc đĩa hoặc bình bằng thủy tinh óng ánh gợn sóng. Theo cách mô tả này, bằng giả thuyết về một xoáy năng lượng thể ether chịu tác động của lực sáng tạo thâm nhập vào, cả hệ Luân Xa và số lượng các cánh hoa của chúng như được mô tả trong các sách Ấn giáo đều được tác giả cắt nghĩa, và ông ta đã thay thế Svadishthana bằng một hoa sen sáu cánh ở lá lách, rồi điều chỉnh số cánh hoa trong đầu, mà ông nói không phải là 1000 như các sách Yoga hay nói, mà chính xác là 960. Trung tâm “ether” duy trì sự sống cho thân vật lý được cho là tương ứng với một trung tâm “linh thể” bốn chiều, nhưng giữa chúng là một lớp vỏ hoặc mạng lưới đan xen chặt chẽ, được cấu tạo từ một lớp nguyên tử vật lý nén chặt duy nhất, ngăn cản sự mở ra sớm của việc giao tiếp giữa các cõi. Người ta bảo rằng có một cách để mở ra hoặc phát triển các trung tâm này một cách thích hợp, để đưa nhiều thông tin từ các cõi cao đi qua kênh này hơn mức bình thường. Mỗi trung tâm “linh thể” này có những chức năng nhất định. Ở rốn, khả năng cảm nhận đơn giản. Ở lách tụy, du hành có ý thức bằng linh thể. Ở tim, khả năng thấu hiểu và đồng cảm với rung động của các thực thể khác trong linh giới. Ở cổ họng, khả năng nghe trong linh giới. Ở mi tâm, thị giác linh giới. Trên đỉnh đầu, hoàn thiện mọi năng lực của sinh mệnh linh giới.

    các quyền năng đạt được ở các luân xa. Nhưng đỉnh đầu vượt xa cõi linh giới. Ở đó sẽ có được Samadhi, hay sự hợp nhất với Ý Thức Tối Cao.

    Các trung tâm này do đó thay thế ở một mức độ nào đó các giác quan của linh thể. Ở trung tâm đầu tiên, gốc cột sống, là Hỏa Xà, hay Kundalini, tồn tại trong bảy lớp hay bảy cấp độ lực sáng tạo.

    Parashabda, tức Kundalini trong khía cạnh là căn nguyên của mọi âm thanh, có bảy phương diện từ Kundali đến Bindu.

    Đây là sự hiển lộ trong nguyên tố ether, trên bình diện vật lý, của một trong những lực sáng tạo vĩ đại nhất thế giới, một trong những quyền năng của lực sáng tạo mà sinh lực và điện năng là các ví dụ. Người ta nói rằng nó không giống với Prana, hay sinh lực.

    Kundali là Shabdabrahman hay “âm thanh khởi nguyên” (Vak) trong thân người, và Kundalini biểu hiện trong hình thức riêng của nó (Svarupa) là Ý Thức Thanh Tịnh, và là tất cả Năng Lượng (Sarvashaktimayi). Kundalini thực chất là năng lượng vũ trụ trong thân người, và do đó là nguyên nhân của mọi thứ, tuy biểu hiện dưới dạng đó, nhưng không bị giới hạn bởi bất cứ đối tượng nào mà nó tự đồng hóa.

    Các trung tâm ether khi được Hỏa Xà đánh thức trọn vẹn, được cho là sẽ mang xuống ý thức vật lý bất cứ phẩm chất vốn có nào trong trung tâm linh thể tương ứng với nó. Khi được Hỏa Xà kích hoạt, chúng trở thành những cánh cổng kết nối giữa thể xác và linh thể.
  4. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Khi sự thức tỉnh của linh thể đối với các trung tâm này diễn ra lần đầu, ý thức thể chất chưa biết đến chúng. Nhưng giờ đây, giác quan cảm nhận cơ thể (xúc giác) có thể “được hưởng mọi lợi ích này bằng cách lặp lại quá trình thức tỉnh với các trung tâm ether”. Việc này được thực hiện bằng cách đánh thức Hỏa Xà thông qua sức mạnh ý chí, ngọn lửa này tồn tại dưới dạng “nguyên tố ether trên bình diện vật lý, và ngủ yên trong trung tâm ether tương ứng, ở đáy cột sống”.

    Kundalini được gọi là Rắn (Bhujangi). Nó ngủ trong luân xa Muladhara. Nó ngủ vì đang trong trạng thái nghỉ ngơi. Khi đó, ý thức của con người thức tỉnh với thế gian, vốn là sự sáng tạo mà trong đó nó hiện hữu. Khi nó thức tỉnh và quá trình tu luyện Yoga hoàn tất, con người ngủ quên với thế gian và tận hưởng kinh nghiệm siêu thế gian.

    Khi việc này được thự hiện, nó kích hoạt các trung tâm cao hơn, với hiệu quả là nó đưa vào ý thức thể chất những quyền năng đã được đánh thức bởi sự phát triển của các trung tâm linh thể tương ứng. Tóm lại, người ta bắt đầu sống trong linh giới, điều này không hoàn toàn là một lợi thế, vì người ta nói rằng việc bước vào thiên đàng chỉ đạt được khi chấm dứt cuộc sống trên cõi này.”

    Kết quả cuối cùng của Kundalini vượt trên toàn thể thiên giới. Chẳng có Yogi nào đi tìm “thiên đàng”, mà tìm kiếm sự hợp nhất với cội nguồn của mọi thế giới.

    Như vậy, ở trung tâm thứ hai, người ta ý thức được trong thể xác “tất cả các loại ảnh hưởng linh giới, mơ hồ cảm nhận rằng một số trong đó thân thiện, một số thù địch mà không biết tại sao.” Ở trung tâm thứ ba, người ta có thể mơ hồ nhớ lại “chỉ một phần những chuyến du hành bằng linh thể, đôi khi nhớ mang máng về cảm giác vui thích khi bay lượn trên không trung. Ở trung tâm thứ tư, con người theo bản năng nhận thức được niềm vui và nỗi buồn của người khác, đôi khi tự tái tạo trong mình những cơn đau nhức và khổ sở thể xác của người khác. Khi trung tâm thứ năm thức tỉnh, người ta nghe thấy những giọng nói “đưa ra đủ loại gợi ý cho mình. Đôi khi nghe thấy âm nhạc hoặc “các âm thanh khó chịu khác”. Sự phát triển đầy đủ đảm bảo quyền năng thiên nhĩ bền vững trong linh giới. Sự thức tỉnh của trung tâm thứ sáu mang lại những kết quả ban đầu có tính chất tầm thường, chẳng hạn như “thấy một cách nửa vời các phong cảnh cùng những đám mây màu sắc”, nhưng sau đó đạt được quyền năng thiên nhãn. Ở đây điều được nói đến là có một sự phóng đại bằng một ống mềm ether giống như con rắn nhỏ xíu trên mũ đội đầu của các Pharaon. Sức mạnh để mở rộng hoặc điều khiển con mắt của “con rắn nhỏ xíu” này được cho là ý nghĩa của tuyên bố trong các sách cổ về khả năng tự làm cho mình lớn hoặc nhỏ theo ý muốn. Khi tuyến yên được đưa vào hoạt động, nó tạo thành một liên kết với linh thể, và khi Lửa vươn tới trung tâm thứ sáu, kích hoạt nó trọn vẹn, giọng nói của “Vị Thầy” (trong trường hợp này có nghĩa là bản ngã cao hơn ở các giai đoạn khác nhau của nó) được nghe thấy. Sự thức tỉnh của trung tâm thứ bảy cho phép người ta chủ động từ bỏ cơ thể trong trạng thái ý thức đầy đủ (làm chủ sinh tử theo ý muốn). Khi ngọn lửa đã đi qua tất cả các trung tâm này theo một trình tự nhất định (trình tự này khác nhau đối với từng loại người), người ta sẽ liên tục tỉnh giác cho đến khi bước vào thiên đàng vào lúc kết thúc cuộc sống trong linh giới.”

    Có một số điểm tương đồng giữa lời tường thuật này với giáo lý của các kinh điển Yoga, mà tác giả đã có hiểu biết nhất định, và có thể chúng đã gợi ý cho ông một số đặc điểm trong lời kể của mình. Trước hết, có bảy trung tâm, ngoại trừ một trung tâm, tương ứng với các Luân Xa đã được mô tả. Tác giả nói rằng có ba trung tâm thấp hơn khác, nhưng việc tập trung vào chúng rất nguy hiểm. Những trung tâm này là gì thì không được nêu rõ. Theo như tôi biết, không có trung tâm nào thấp hơn Muladhara (như chính tên gọi là trung tâm gốc đã ngụ ý), và trung tâm duy nhất gần đó bị loại trừ trong mô tả ở trên là Apas Tattva, hay Svadishthana. Tiếp theo là Lực, Hỏa Xà, mà người Ấn Độ gọi là Kundalini, ở trung tâm thấp nhất Muladhara. Cuối cùng, tác dụng của việc đánh thức lực này được thực hiện bằng sức mạnh ý chí (Yogabala) được cho là nâng cao ý thức thể chất thông qua các tầng thăng tiến đến “thiên đàng”. Theo cách diễn đạt của người Ấn, mục tiêu và đích đến của Sat Chakra Bheda là Yoga. Cuối cùng đây là sự hớp nhất với Bản Ngã Tối Thượng, hay Paramatma, nhưng rõ ràng là, vì cơ thể ở trạng thái tự nhiên của nó đã ở trong Yoga, tuy là vô thức, nếu không thì nó sẽ không tồn tại, mỗi bước tiến lên có ý thức đều là Yoga, và có nhiều giai đoạn như vậy trước khi đạt được giải thoát hoàn toàn hay Kaivalya Mukti. Điều này và thực tế là nhiều giai đoạn trước đó đều vượt xa “thiên giới” mà tác giả đề cập đến. các Yogi không quan tâm đến “các thiên đàng” mà tìm cách vượt qua nó, nếu không, họ hoàn toàn không phải là yogi. Theo lý thuyết này, sức mạnh được hiển lộ dường như thực hiện việc này, nó tự động tăng cường các phẩm chất tinh thần và đạo đức vào thời điểm nó được phát hiện. Nhưng nếu đúng như vậy, sự tăng cường đó có thể không đáng mong muốn như trạng thái ban đầu. Ngoài sự cần thiết phải có sức khỏe và thể lực, tư tưởng, ý chí và đạo đức mà người ta cho rằng sẽ chịu ảnh hưởng của nó, trước tiên phải được thanh lọc và củng cố trước khi chúng được tăng cường bởi ảnh hưởng làm sống động của sức mạnh được đánh thức. Hơn nữa, như tôi đã chỉ ra trong bản dịch mật điển Đại Niết Bàn (Mahanirvana Tantra), các Yogi nói rằng sự sự xuyên thủng các Brahmagranthi, hay ba nút thắt (nơi mà sức mạnh của Maya đặc biệt mạnh mẽ), đôi khi gây ra đau đớn đáng kể, rối loạn thể chất, thậm chí là bệnh tật, điều này không khó xảy ra khi tập trung vào một trung tâm như rốn (Nabhipadma).

    Theo thuật ngữ Hindu, hành giả (sadhaka) phải có đủ năng lực (adhikari), một vấn đề do Guru quyết định, chỉ từ Guru mới có thể học được phương pháp Yoga đích thực. Tuy nhiên, những nguy hiểm tiềm ẩn mà tác giả nêu ra còn vượt xa bất cứ điều gì mà chính người Ấn Độ đã đề cập với tôi, những người dường như nói chung không biết về chủ đề “pháp thuật Linga” mà tác giả đã đề cập đến, nói về các trường phái “ma thuật đen” (dường như là phương Tây) được cho là sử dụng Kundalini để kích thích trung tâm sinh dục. Một tác giả khác nói: “Người nghiệp dư mò mẫm vào những thứ giả huyền môn sẽ chỉ làm suy thoái trí tuệ của mình bằng tâm lý non nớt, trở thành con mồi của thế lực tà ác trong huyễn ảnh ma quỷ, hoặc hủy hoại linh hồn mình bằng những thực hành xấu xa của pháp thuật Linga, như hàng ngàn người lầm lạc đang làm ngay cả trong thời đại này.” Có phải vậy không? Điều đó khả thi khi sự tập trung lệch lạc hoặc sai lầm vào các trung tâm sinh dục hay các trung tâm liên quan có thể gây ra những hiệu ứng như vậy. Và có thể nhà bình luận Lakshmidhara đã ám chỉ điều này khi nói về các Uttara Kaula, những người đánh thức Kundalini trong Muladhara để thỏa mãn ham muốn hưởng lạc thế gian và không cố gắng dẫn dắt nó lên luân xa cao nhất, vốn là mục tiêu của Yoga đi tìm hạnh phúc siêu thế gian. Đối với những người như vậy, một câu thơ tiếng Phạn viết rằng “họ là những gái điếm thực sự”. Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ nghe người Ấn Độ đề cập đến chuyện này, có lẽ vì nó không thuộc về Yoga theo nghĩa thông thường, cũng như do kỷ luật cần thiết trước đó, những người thực hành Yoga này, trong bản chất việc tu luyện và mục tiêu mà họ hướng tới, khả năng đó không được xem xét. Người Ấn Độ thực hành Yoga tâm linh này hoặc bất cứ loại Yoga nào khác thường tu luyện không phải vì tò mò về huyền bí học hay mong muốn đạt được những kinh nghiệm linh dị.

    Những người thực hành loại pháp thuật đã đề cập chỉ hoạt động ở trung tâm thấp nhất, có thể ám chỉ đến Prayoga, dẫn đến thành tựu Nayika, bằng cách giao kết với một thực thể tâm linh nữ. Quá trình được mô tả trong tác phẩm này là con đường dẫn đến giải thoát, không liên quan gì đến ma thuật đen sắc dục.

    Thái độ của họ trong vấn đề này cũng như trong mọi vấn đề khác về cơ bản là một thái độ tôn giáo, dựa trên niềm tin vững chắc vào đấng Chí Tôn (Brhaman, Sthiranishtha) và được truyền cảm hứng bởi khát khao được hợp nhất với nó, đó chính là Giải Thoát. Điều kiện để thực hành Tantra (tantrashastradhikara) được mô tả trong chương hai của Gandhava Tantra như sau: người tầm đạo phải thông minh (daksha), kiểm soát được các giác quan (Jitendrya, phòng hộ các căn), không gây hại cho chúng sinh (Sarvahimsavinirmukta), luôn làm việc tốt cho tất cả (Sarvapranihite ratah), thanh tịnh, là một tín đồ của Veda (Astika), có niềm tin và nương tựa vào Brahma (Brahmishtha, Brahmavadi, Brahmi, Brahmaparayana) và là người theo thuyết bất nhị(Dvatahina). “Người như vậy mới đủ năng lực trong Mật điển này, nếu không thì chẳng phải là một hành giả”. Với thái độ như vậy, có thể như một tác giả người Ấn đã chỉ ra, việc tập trung vào các trung tâm thấp hơn liên quan đến sắc dục, thay vì kích thích, lại làm dịu chúng xuống. Mặt khác, thái độ, thực hành và mục đích khác, sẽ tạo ra một kết quả hoàn toàn khác. Tuy nhiên, nói về việc tập trung vào trung tâm sinh dục tự nó đã gây ra hiểu lầm, vì các Luân Xa không nằm trong cơ thể vật lý, và sự tập trung được thực hiện vào trung tâm vi tế, với ý thức chủ quản của nó, mặc dù các trung tâm đó có thể có mối liên hệ căn bản với chức năng thô của cơ thể. Không còn nghi ngờ gì nữa, ngoài ra, có mối quan hệ tương ứng giữa các Shakti của trung tâm tinh thần và sinh dục, và sức mạnh của trung tâm sinh dục nếu được hướng lên trên, sẽ làm tăng cường đáng kể mọi chức năng tinh thần và thể chất. Trên thực tế, những người “nội thủ” biết cách làm cho toàn bộ sức mạnh của họ hội tụ vào đối tượng tập trung, tu luyện và sử dụng tất cả sức mạnh dó mà không bỏ sót bất kỳ loại nào. Tuy nhiên, những ai có kinh nghiệm trong phương pháp này, như đã nói, thừa nhận rằng có thể đi kèm một số bất cập hoặc nguy hiểm, nên nó được coi là không nên áp dụng trừ khi người đó hoàn toàn đủ điều kiện (adhikari).

    Mặt khác, có nhiều điểm khác biệt đáng kể giữa phần tóm tắt đã được trình bày và lý thuyết nền tảng của loại Yoga mà tác phẩm này đề cập đến. Thuật ngữ và cách phân loại được sử dụng trong phần tóm lược có thể được gọi là Thông Thiên Học, những người quen thuộc với cả các thuật ngữ này và thuật ngữ Ấn Độ có thể tìm ra điểm tương đồng giữa hai hệ thống, nhưng không nên cho rằng ý nghĩa trong những trường hợp như vậy luôn hoàn toàn giống nhau. Bởi vì tuy giáo lý Thông Thiên Học phần lớn được lấy cảm hứng từ các ý tưởng của Ấn Độ, nhưng ý nghĩa mà nó gán cho các thuật ngữ Ấn Độ không phải lúc nào cũng giống với ý nghĩa mà chính người Ấn Độ gán cho. Việc này đôi khi gây nhầm lẫn và hiểu sai, một kết quả có thể tránh được nếu các tác giả của trường phái này luôn sử dụng các thuật ngữ và cách định nghĩa riêng của họ.

    Do đó, nhà Phạn học Shisha Chandra Vasu của hội Thông Thiên Học trong tác phẩm Giới Thiệu Triết Học Yoga đã gọi Linga Sarira là “bản sao ether” (trang 85). Theo cách sử dụng thông thường của thuật ngữ này trong văn hóa Ấn Độ, Linga Sarira là thân vi tế, được vận chuyển bởi Tamatras, hay là năm loại Prana. Ở chỗ khác (trang 51) nó được gọi là “thể vía”, và một số tuyên bố về các Luân Xa không phù hợp với các văn bản mà tôi biết.

    Như vậy để hình dung các khái niệm của chúng ta, thuật ngữ “các cõi” khá tiện lợi và có thể được sử dụng như vậy, phân chia các “nguyên lý” theo các phác thảo gần gũi hơn với sự thật. Thật chẳng dễ dàng cho tôi khi liên hệ chính xác các lý thuyết của Ấn giáo và Thông Thiên Học về các nguyên lý của con người. Tuy nhiên, có tuyên bố (trong cuốn Trí Tuệ Cổ Xưa) rằng thân vật lý có hai phần, thân thô đặc và thân ether, chúng tương ứng với Annamaya và Pranamaya Kosha, còn thể vía tương ứng với Kamik hay phương diện ham muốn của Manomaya Kosa hay lớp vỏ tinh thần. Giả sử sự tương ứng là có, thì theo lý thuyết này, “các trung tâm ether” hay các Luân Xa dường như là các trung tâm năng lượng của Pranavayu hay Sinh Lực. Các Hoa Sen cũng chính là nó, là các trung tâm của ý thức vũ trụ. Kundalini là dạng tĩnh của năng lượng sáng tạo trong cơ thể, là nguồn gốc của mọi dạng năng lượng, bao gồm cả Prana. Theo lý thuyết của tác giả này, Kundalini là một lực khác biệt với Prana, hiểu thuật ngữ này có nghĩa là sức sống, hay căn nguyên sự sống, khi đi vào thân người sẽ thể hiện ra thành các biểu hiện khác nhau của sự sống, đó là các Prana nhỏ, trong đó sự thở được gọi bằng tên chung của chính lực đó (prana). Các câu 10 & 11 nói về Kundalini như sau: “Chính Bà là đấng duy trì toàn thể chúng sinh (tức là Jiva và Jivatma) trên thế giới bằng hơi thở vào và ra.” Như vậy, Bà là Prana Devata, nhưng vì Bà là Srsthi sthiti layatmika, tất cả các loại năng lượng đều nằm trong Bà.
  5. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Bà thực chất là Sahbdabrahman hay “Âm thanh sáng tạo vũ trụ” trong thân thể. Lý thuyết được thảo luận dường như khác với lý thuyết của các Yogi khi chúng ta xem xét bản chất của các luân xa và vấn đề về sinh khí của chúng. Theo lời của tác giả người Anh, các luân xa đều là những xoáy nguyên tố ether, dường như cùng loại và chịu cùng một ảnh hưởng bên ngoài của bảy lực sáng tạo tràn vào, nhưng khác nhau ở chỗ, trong mỗi luân xa, một hoặc một số trong bảy lực của chúng chiếm ưu thế. Hơn nữa, nếu như đã nói, thể vía tương ứng với Manomayakosa, thì sinh khí của các luân xa, dường như theo lời của ông, là sự đánh thức phương diện Kamik của lớp vỏ tinh thần. Theo học thuyết Ấn giáo, những luân xa này là các trung tâm khác nhau của ý thức, sinh khí và năng lượng Tattva. Mỗi một trong năm luân xa thấp hơn là trung tâm năng lượng của một Tattva thô, tức là của dạng hoạt động Tattva hay Tanmatra biểu hiện Mahabhuta hay nguyên tố có thể nhận thức được. Luân xa thứ sáu là trung tâm của Tattva tinh thần vi tế, còn Sahasrara hoàn toàn không được gọi là luân xa. Như đã nói, trung tâm lách tụy cũng không được bao gồm trong sáu luân xa được đề cập ở đây.

    Trong hệ thống Ấn Độ, tổng số cánh hoa tương ứng với số lượng chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Phạn (khoảng 50 – 51), còn số lượng cánh hoa của bất kỳ luân xa cụ thể nào được xác định bởi sự sắp xếp của các “dây thần kinh vi tế” hay các kinh mạch (Nadi) xung quanh nó. Hơn nữa, những cánh hoa này mang theo năng lượng âm thanh vi tế, có số lượng là 50, giống số lượng chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Phạn.

    Tác phẩm tiếng Phạn này (được dịch ở đây) cũng mô tả một số điều nhất định sẽ đạt được nhờ thiền về từng luân xa. Một số trong đó mang tính chất tổng quát, chẳng hạn như sống lâu, thoát khỏi ham muốn và tội lỗi, kiểm soát giác quan, tri thức, tài hùng biện và danh tiếng. Một vài phẩm chất này và hơn nữa là kết quả thường thấy khi tập trung vào nhiều hơn một luân xa. Những kết quả khác được đề cập liên quan đến việc quán tưởng vào chỉ một trung tâm duy nhất. Những tuyên bố như vậy dường như không nhất thiết nhằm mục đích ghi lại chính xác kết quả cụ thể, nếu có, đạt được khi tập trung vào một trung tâm nào đó, mà là để ca ngợi việc tăng cường khả năng tự chủ, hay Stutivada, như trong câu 21, nói rằng quán tưởng Nabhipadma mang lại cho Yogi quyền năng hủy diệt và sáng tạo thế giới.

    Cũng có nói rằng việc làm chủ các trung tâm có thể phát sinh nhiều thần thông hay quyền năng khác nhau liên quan đến các nguyên tố bị chi phối ở đó. Điều này, trên thực tế là có cơ sở.

    Xem Yogatattva Upanishad, có nói thiền về nguyên tố Đất sẽ đảm bảo làm chủ được nguyên tố đất, vân vân. Cùng lúc nó cũng chỉ ra rằng các quyền năng chính là các chướng ngại cho Giải Thoát.

    Học giả Ananta Shastri nói trong Anandalahari, trang 35: “Mỗi ngày chúng ta đều gặp nhiều người chen lấn trên đường xá hay phố chợ, những người thành tâm có gắng đạt đến cảnh giới hạnh phúc cao nhất, nhưng lại trở thành nạn nhân khi sa vào các ảo tưởng của thế giới tâm linh và dừng lại ở một trong sáu luân xa. Họ đạt được các mức độ thành tựu khác nhau và được cho là sở hữu một vài quyền năng mà ngay cả những trí thức xuất sắc nhất trong số những người bình thường cũng không thấy có. Rõ ràng là trường phái tâm lý học thực hành này đã từng hoạt động rất hiệu quả ở Ấn Độ, điều này được chứng minh bằng các ví dụ sống động (chưa kể đến vô số chuyên luận về chủ đề này) của những người đi khắp mọi nơi trong nước.” Việc chỉ đơn thuần đánh thức năng lượng Hỏa Xà, từ quan điểm Yoga tâm linh, không có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, từ quan điểm của một Yogi cao cấp, chẳng có gì thực sự quan trọng cho đến khi đạt đến luân xa Ajna. Ở đây, một lần nữa, điều được nói là Atma (bản ngã bất diệt) của hành giả chẳng là gì ngoài việc thiền về luân xa này (cho đến khi) “trở thành đấng sáng thế, bảo tồn và hủy diệt của tam giới”. Tuy nhiên, như luận giả đã chỉ ra (câu 34): “Đây chưa phải là Prashamsavada, hoặc Stutivada cao nhất, mà chỉ là phần bổ sung cho thứ mà trong văn hệ tiếng Phạn thường thiếu phần thực tại bản nhiên (ứng dụng) trong cuộc sống thường nhật của chúng ta. Tuy đạt được nhiều điều ở luân xa này, nhưng chỉ khi các Tattva của trung tâm này được hấp thụ, rồi đạt được kiến thức hoàn chỉnh về Sahasrara, thì Yogi mới đạt được thứ vừa là mục tiêu, vừa là động cơ tu luyện của mình, đó là chấm dứt tái sinh theo sau sự kiểm soát và tập trung tâm ý vào Shivasthanam, cực lạc cung.

    Rõ ràng mục tiêu này chỉ đến sau một quá trình dài nỗ lực, sau những kinh nghiệm và kết quả chưa hoàn thiện. Theo các quan niệm của Ấn Độ, thành tựu Yoga có thể là kết quả do kinh nghiệm tích lũy từ rất nhiều kiếp trước. Kundalini phải được dần nâng lên từ trung tâm này đến trung tâm khác cho tới khi vươn tới luân xa trong não. Thời gian cần thiết khác nhau tùy từng người, thông thường có thể là nhiều năm hoặc ngoại lệ chỉ vài tháng.

    Không nên cho rằng chỉ vì Hỏa Xà đã được đánh thức mà người ta đã trở thành một Yogi hoặc đã đạt được mục đích của Yoga. Còn có những điểm khác biệt mà người đọc sẽ tự khám phá nhưng tôi không đi sâu vào đó, vì mục đích của tôi khi so sánh hai tài liệu này là để thiết lập sự tương phản chung giữa tài liệu hiện đại này và tài liệu (cổ điển) của các trường phái Ấn Độ. Tuy nhiên, tôi có thể nói thêm rằng sự khác biệt không chỉ nằm ở chi tiết. Phong cách tư duy cũng khác biệt theo cách không dễ để mô tả ngắn gọn, nhưng sẽ nhanh chóng được nhận ra bởi những ai quen thuộc với các Kinh Văn và mô thức tư tưởng Ấn Độ, vốn luôn có xu hướng diễn giải mọi quá trình và kết của của chúng từ quan điểm chủ quan, mặc dù đối với mục đích thực hành, khía cạnh khách quan không bị bỏ qua. Lý thuyết Ấn Độ mang tính triết học cao. Người Ấn cho rằng mọi quyền năng (siddhi) đều là thuộc tính (Aishvara) của đấng Chí Tôn Ishvara, hay Ý Thức Sáng Thế, cho nên ở cấp độ mà Jiva (cá nhân) giác ngộ được ý thức đó, anh ta sẽ được chia sẻ các quyền năng vốn có (của Tạo Hóa) ở cấp độ thành tựu của mình.

    Đây là ân điển của thánh mẫu Devi. Bà được gọi là “đấng ban phát tám thần thông” (Ishvadyastasiddha).

    Đặc điểm chung của các hệ thống Yoga Ấn Độ, và cũng là chiều sâu thực sự của chúng, chính là tầm quan trọng hàng đầu được gán cho Ý thức và các trạng thái của nó. Chính các trạng thái này sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt thế giới. Brahma, Vishnu, Shiva là những tên gọi cho các chức năng của Ý Thức Vũ Trụ duy nhất đang vận hành bên trong chính chúng ta. Bất kể phương pháp nào được sử dụng, việc chuyển hóa từ các trạng thái ý thức “thấp hơn” sang các trạng thái “cao hơn” chính là quá trình (tu luyện) và kết quả của Yoga, và là nguyên nhân cho mọi kinh nghiệm của nó. Tuy nhiên, trong vấn đề này và khác, chúng ta phải phân biệt giữa thực hành và kinh nghiệm với lý thuyết. Một kinh nghiệm tương tự có thể đạt được thông qua nhiều phương pháp thực hành khác nhau, và một kinh nghiệm có thể thực sự là đúng, mặc dù lý thuyết được đưa ra để giải thích nó là không chính xác.

    Những phần tiếp theo sẽ giúp người đọc tự mình thực hiện việc so sánh.

    Liên quan đến thực hành, tôi được biết rằng Kundalini không thể được đánh thức ở đâu khác ngoài Muladhara, và bằng các phương pháp được chỉ ra ở đây, mặc dù việc này có thể xảy ra ngẫu nhiên khi tình cờ một người bị va đập vào đúng vị trí thiết yếu, ngoài ra thì không còn cách khác. Từ đó mới có câu chuyện được kể về một người thân lạnh như xác chết mà đỉnh đầu vẫn còn hơi ấm (Đây là trạng thái Samadhi trong Kundalini Yoga). Ông ta được xoa bóp bằng bơ ghee (bơ đã lọc) và đầu ấm dần lên. Hơi ấm lan xuống toàn thân, khiến cơ thể nhanh chóng ấm trở lại. Ông lấy lại ý thức rồi kể lại tình trạng của mình, do đã thực hiện một số động tác, bắt chước tư thế của một yogi, thì đột nhiên “ngủ thiếp đi”. Được phỏng đoán hơi thở đã ngừng lại, do ở đúng tư thế và điều kiện, ông đã vô tình đánh thức Kundalini, nó đã đi lên não ông. Tuy nhiên, vì không phải là một yogi nên ông không thể đưa nó xuống. Hơn nữa, việc này chỉ có thể được thực hiện khi các kinh mạch thông và sạch. Tôi kể cho vị học giả (người đã kể cho tôi câu chuyện này, am hiểu về loại Yoga này, có anh trai cũng thực hành nó) về trường hợp người bạn châu Âu của tôi, không quen thuộc với các quy trình Yoga được mô tả ở đây, tuy anh ta đã đọc một số điều về Kundalini trong các tài liệu dịch từ tiếng Phạn, anh vẫn tin rằng mình đã đánh thức Kundalini chỉ bằng các quy trình thiền định. Thực tế, như anh đã viết cho tôi, đối với một người châu Âu như anh, việc đi sâu vào chi tiết của Yoga phương Đông là vô ích. Tuy nhiên, anh đã nhìn thấy các dây Ida và Pingala và ngọn lửa trung tâm với một vầng hào quang rung động của ánh sáng hồng, xanh lam, cùng một ngọn lửa trắng bốc lên não rồi bùng cháy thành bức xạ chói lọi có cánh ở hai bên đầu. Ngọn lửa được nhìn thấy lóe lên từ trung tâm này sang trung tâm khác với tốc độ rất nhanh khiến anh ta có thể nhìn thấy chút ít linh ảnh, và chuyển động khí lực bên trong thân thể người khác. Bức xạ chói lọi hay hào quang xung quanh mạch Ida được nhìn thấy như ánh trăng, màu lam nhạt, còn quanh Pingala là màu đỏ vang nhạt óng ánh. Kundalini hiện ra trong linh ảnh như một ngọn lửa trắng như ánh kim dữ dội, xoắn ốc. Một đêm nọ, khi đang trong trạng thái thoát khỏi ảnh hưởng của ham muốn thể xác một cách bất thường, anh cảm thấy con rắn duỗi ra, chạy lên, và anh thấy mình “ở trong một đài phun lửa”, cảm thấy “ngọn lửa lạn rộng như cánh chim quanh đầu tôi”, có tiếng va chạm du dương như tiếng chiêng, trong khi vài ngọn lửa trong số này dường như mở rộng rồi gặp nhau như những đôi cánh hội tụ trên đầu tôi. Tôi cảm thấy một chuyển động lắc lư, cảm thấy sợ hãi, vì năng lượng này có vẻ là thứ gì đó có thể thiêu cháy tôi. Bạn tôi viết trong thư rằng trong lúc kích động, anh ta đã quên tập trung tâm trí vào đấng Tối Cao, do đó đã bỏ lỡ một cuộc phiêu lưu thần thánh. Có lẽ vì vậy mà anh ta không coi việc đánh thức năng lượng này là một trải nghiệm tâm linh cao siêu hay ngang tầm với những trạng thái ý thức mà anh từng trải qua. Tuy nhiên, trải nghiệm đó khiến anh tin rằng có tính khoa học và phép màu thực sự trong những cuốn sách Ấn Độ bàn về sinh lý học huyền môn.

    Những quan sát của vị học giả về kinh nghiệm này như sau: nếu nín thở và hướng tâm xuống dưới, sẽ cảm nhận được hơi nóng. Có thể nhìn thấy Kundalini bằng con mắt tinh thần, và bằng cách này trải nghiệm nó mà không cần thực sự đánh thức và đưa nó lên, việc chỉ có thể thực hiện được bằng các phương pháp Yoga đã được quy định. Kundalini có thể đã được nhìn thấy ở trung tâm gốc (Muladhara). Chính tâm trí (buddhi) đã nhận thức được nó, nhưng vì người thực nghiệm chưa được dạy thực hành nên đã bị nhầm lẫn. Có một cách kiểm tra đơn giản để xem Shakti có thực sự được “đánh thức” hay không. Khi shakti thức tỉnh, người ta cảm nhận được sức nóng dữ dội tại điểm đó, nhưng khi nó rời một trung tâm cụ thể, phần còn lại trở nên lạnh lẽo, dường như không còn sự sống, giống như một xác chết. Quá trình đi lên, vì vậy, có thể được người khác xác minh từ bên ngoài. Khi Shakti (năng lượng) đã lên đến đỉnh não (Sahasrara), toàn bộ cơ thể sẽ lạnh lẽo như một xác chết, ngoại trừ đỉnh đầu, nơi người ta cảm nhận được chút hơi ấm, đây là nơi mà các phương diện tĩnh và động của Ý thức hợp nhất.
  6. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Tác phẩm này được xuất bản không nhằm mục đích xác lập tính đúng đắn hay tính hữu ích của các nguyên lý và phương pháp của loại Yoga này, một vấn đề mà mỗi người tự quyết định, mà một nỗ lực đầu tiên nhằm cung cấp, đặc biệt là cho những ai quan tâm đến huyền môn và chủ nghĩa thần bí, một bản thuyết trình đầy đủ, chính xác và hợp lý hơn về đề tài này.

    Tuy nhiên, để hiểu được những vấn đề sâu xa trong luận văn được dịch ở đây, trước hết chúng ta cần tóm tắt ngắn gọn một số lý thuyết triết học và tôn giáo làm nền tảng cho tác phẩm này, và tác giả giả định rằng độc giả đã có kiến thức về những học thuyết đó.

    Các mục tiếp theo của phần Giới Thiệu này trước tiên sẽ đề cập đến các khái niệm về Ý thức và Vô thức, bao gồm Tâm trí, Nguyên tố và Sự sống, cùng mối liên kết của chúng trong bản ngã cá thể, hay Jivatma. Tiếp theo, phương diện động học của Bản Ngã, hay Shakti, sẽ được xem xét, sự hình thành và biểu hiện sáng tạo của nó trong tiến trình Đại Vũ Trụ và trong cơ thể con người hay Tiểu Vũ Trụ (Kshudrabrahmanda), vốn là một bản sao thu nhỏ của thế giới rộng lớn hơn. Bởi như đã được nói trong Vishvasara Tantra: “Cái gì ở đây thì cũng ở nơi khác. Cái gì không ở đây thì cũng không ở đâu cả.” (yad ihasti tad anyatra yannehasti na tat kvachit). Sau khi trình bày về “Thánh Âm nguyên thủy” và các chữ cái của ngôn ngữ, tôi kết luận bằng phương pháp nội luyện hay Yoga. Phương pháp này sẽ không được hiểu nếu chưa nắm vững nội dung của những phần trước.

    Bạn đọc cần được giải thích và hiểu rõ thuyết tiến hóa vũ trụ ngay cả trong những vấn đề thực tiễn mà tác phầm này đề cập đến. vì như luận giả đã nói ở câu 39, khi bàn về thực hành Yoga, quy luật là vạn vật tan biến trở về cội nguồn của chúng, còn phương pháp Yoga được mô tả ở đây chính là sự tan biến đó (Laya Yoga). Quá trình trở về hay tan biến (Nivritti) trong Yoga sẽ không được hiểu nếu quá trình tiến triển hay sáng tạo (Pravritti) không được hiểu. Những nội dung khác cũng được áp dụng sự cân nhắc tương tự.

    Một phân tích ngắn về Năng lượng tâm linh của phái Shakta cũng có giá trị ở đây.

    Mọi thứ biểu hiện ra như Tâm trí, Sự sống, Vật chất đều là Năng lượng (Shakti). Năng lượng này hàm ý về một đấng nắm giữ năng lượng (Shaktiman). Không có đấng nắm giữ năng lượng nếu không có năng lượng, hoặc không có năng lượng nếu không có đấng nắm giữ năng lượng. Đấng nắm giữ năng lượng là Shiva. Năng lượng là Shakti, đại thánh mẫu của vũ trụ. Không có Shiva nếu không có Shakti và ngược lại. Hai phạm trù này, như chúng vốn có, là một. Chúng có trong từng phạm trù Bản Thể, Ý Thức và Hạnh Phúc. Ba thuật ngữ này được chọn để biểu thị Thực Tại Tối Hậu, bởi vì Bản Thể hay “Bản Tính Hiện Hữu”, (trong sự bao trùm toàn thể) khác với các hình thức cá thể của nó, không thể được tư duy. “Tồn tại” một lần nữa là “có ý thức” và cuối cùng, Ý Thức Hiện Hữu hoàn hảo là cái Toàn Thể, và Hiện Hữu vô hạn không bị trói buộc là chân Hạnh Phúc. Ba thuật ngữ này đại diện cho Thực Tại sáng tạo tối hậu như chính nó vốn như vậy. Bằng cách áp đặt lên các phạm trù này Tên gọi (Nama, danh) và Hình thức (Rupa, sắc) hay Tâm trí và Vật chất, chúng ta có Ý thức hữu hạn và Hạnh phúc hữu hạn, đó chính là Vũ Trụ (hiện tượng).

    Vậy thì Năng Lượng có ý nghĩa gì khi không có Vũ Trụ? Khi đó nó là Sức Mạnh để tồn tại, để tự bảo toàn, và chống lại sự thay đổi. Trong quá trình tiến hóa, đó là Quyền Năng để trở thành và biến đổi, còn trong sự hiển lộ của nó dưới dạng các hình thái, nó là căn nguyên vật chất, sự tạo thành và biến dịch không ngừng của các thế giới. Sự tạo thành không phải là Thượng Đế, vì nó là hình thái hữu hạn, còn Ngài là vô hình vô hạn. Tuy nhiên, bản thể của những hình thái này Năng Lượng vô hạn, là đấng nắm giữ năng lượng vô hạn. Chính ngài là người ban phát Năng Lượng và sáng tạo Vũ trụ.

    Tĩnh (tamas) bao hàm Động (rajas) và Động hàm chứa Tĩnh. Đằng sau mọi hoạt động là một nền tảng tĩnh lặng. Shiva đại diện cho phương diện Tĩnh của Thực Tại, còn Shakti đại diện cho phương diện Động. Hai yếu tố này, như trong tự thể của chúng, là một. Tất cả đều là Thật, cả Bất Biến và Thường Biến đều là thật. Trong hệ thống này, Maya không phải là “ảo tưởng hay huyễn ảo”, mà theo lời của hành giả phái Shakta, Kamalakanta, một cách ngắn gọn: “Maya là Hình Thể của đấng Vô Hình” (Shunyasya akara iti Maya). Thế giới là hình thức bên ngoài của chính nó và do đó những hình thức này là Thật.

    Con người, về bản thể là phương diện tĩnh của đấng Nắm giữ Năng lượng, Shiva, hiện thân của Ý thức Thanh tịnh, còn về phương diện động của Thân và Tâm là biểu hiện của Năng Lượng, hay Shakti. Con người do đó là Shiva Shakti. Con người hiện diện như một biểu hiện của Năng Lượng. Mục đích của Sadhana hay nghi quỹ và Yoga là nâng cao Năng Lượng này lên tới biểu hiện hoàn hảo của nó, hoàn hảo theo nghĩa là kinh nghiệm vô hạn. Một phương pháp để làm điều đó là Yoga được mô tả ở đây, qua đó con người đánh đổi kinh nghiệm thế tục, hữu hạn, của mình để lấy kinh nghiệm Toàn Thể vô hạn (Purna) hay chân Hạnh Phúc.
  7. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    II

    Ý THỨC TOÀN THỂ

    Nền tảng của Yoga này mang tính chất siêu hình và khoa học cao độ. Để hiểu được nó, cần có sự am hiểu đầy đủ về triết học, giáo lý tôn giáo, nghi quỹ thực hành tổng quát, và đặc biệt là về cách trình bày ba vấn đề này trong các mật điển hệ Shaiva thuộc phái Shakta và Advaita (Nhất Nguyên). Cần nhiều hơn một cuốn sách đồ sộ để mô tả và giải thích chi tiết bản chất và ý nghĩa của Yoga này, cũng như nền tảng của nó. Vì vậy, tôi phải giả định rằng người đọc hoặc có kiến thức tổng quát này hoặc mong muốn có được nó, và chỉ giới hạn bản thân trong việc trình bày các nguyên lý chung và các sự kiện chính để cung cấp chìa khóa mở ra cánh cửa dẫn đến kiến thức về chủ đề này cho những người muốn vượt qua chúng, và do đó tạo điều kiên thuận lợi cho việc hiểu các tài liệu khó nắm bắt được dịch ra ở đây. Về thực tiễn, tôi chỉ có thể tái hiện lại các chỉ dẫn được đưa ra trong sách cùng với các lý giải mà tôi đã được nghe. Những ai muốn tiến xa hơn và thực hành Yoga này trên thực tế, trước tiên phải tự mình đánh giá giá trị và tính phù hợp của nó, sau đó học trực tiếp từ một vị Guru đã tu chứng (Siddha). Chỉ có kinh nghiệm của vị Guru như vậy mới cho biết liệu hành giả có khả năng thành công hay không. Người ta nói rằng trong số một ngàn người cố gắng, chỉ có một người có thể thành công. Nếu người này bước vào đạo lộ, chỉ có Guru mới có thể cứu người đó khỏi những rủi ro đi kèm, bằng cách uốn nắn và hướng dẫn thực hành dựa trên khả năng và nhu cầu cụ thể của đệ tử. Vì vậy, mặc dù có thể giải thích một số nguyên tắc chung ở phần này, nhưng việc áp dụng chúng phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng trường hợp cụ thể.

    Thực tại tối hậu là Chân Ngã theo nghĩa Ý Thức Thuần Khiết (Chit, Samvit), từ đó, nhờ Năng Lượng của nó (Shakti), Tâm Trí và Vật Chất phát sinh. Chân Ngã là một.

    Chân Ngã là Atma, biểu hiện hữu hình dưới dạng cái Ngã hay cái Tôi. Các phương tiện chuyên chở nó là Tâm Trí (Antahkarana) hoạt động cùng với Manas và các Giác quan (Indriyas) và Vật chất, cụ thể là năm Bhuta hay các nguyên tố có thể nhận biết.

    Không có các cấp độ hay sự khác biệt nào trong Chân Ngã. Ngã trong con người là Ngã duy nhất trong mọi thứ, là đối tượng để thờ phụng, là Chúa tể hay Thượng Đế. Tâm trí và Vật chất thì đa dạng và có nhiều cấp độ và phẩm chất. Atma hay Chân Ngã là cái Toàn Thể (Purna) không có cấu phần (Akhanda).

    Tâm trí và Vật chất là các thành phần trong cái Toàn Thể đó. Chúng là cái phi toàn thể (Apurna) và là các cấu phần (Khanda). Ngã là vô hạn (Aparichchhinna) và vô hình (Arupa). Tâm trí và Vật chất là hữu hạn (Parichchhinna) và hữu hình (Rupa). Atma bất biến và bất động. Năng lượng (Shakti) của nó hoạt động và biến đổi dưới hình thái của Tâm trí và Vật chất. Ý Thức Thuần Khiết là Chit hay Samvit. Vật chất tự thân là vô thức. Tâm trí cũng là vô thức theo triết học Vedanta. Bởi vì tất cả những gì không phải là tự thể nhận thức thì đều là đối tượng vô thức. Ngược lại, mọi thứ về bản chất đều là ý thức, nhưng lại là vô thức vì nó là đối tượng của tự thể nhận thức. Vì tâm trí giới hạn ý thức để cho phép con người có những kinh nghiệm hữu hạn. Không có tâm trí nếu không có ý thức làm nền tảng, mặc dù Ý thức Tối cao là Không tâm trí (Amana). Nơi nào không có tâm trí (amana) nơi đó không có giới hạn. Ý thức, khi giữ nguyên một phương diện, sẽ biến đổi ở một phương diện khác thành Năng lượng hoạt động, biểu hiện thành Tâm và Thân. Con người khi đó là Ý thức Thuần khiết (Chit) được điều khiển bởi Năng lượng của nó dưới dạng Tâm và Thân.

    Trong Thần học, Ý thức thuần khiết này là Shiva, còn Năng lượng của ngài (Shakti) người mà trong tự thể vô hình của mình, là một với ngài. Bà là MahaDevi, mẹ của Vũ trụ, là Sinh Lực cư ngụ trong cơ thể con người ở trung tâm thấp nhất, dưới đáy cột sống, cũng giống như Shiva được nhận biết ở trung tâm đỉnh não, hay hoa sen Sahasrara. Yoga hoàn hảo là sự hợp nhất của Bà bà Ngài trong thân thể hành giả. Đây là Laya hay sự hòa tan, ngược lại với “Srishti” hay sự thoái hóa của Bản Ngã vào trong Tâm trí và Vật chất.

    Một số người chủ yếu thờ phụng phía nam tính hoặc bên phải của hình tượng nam nữ kết hợp (Ardhanarishvara). Một số khác, như phái Shakta, chủ yếu thờ phụng phía bên trái và gọi là Thánh Mẫu, vì bà là MahaDevi, người thụ thai, sinh nở và nuôi dưỡng vũ trụ phát sinh từ tử cung (Yoni) của bà. Điều này vì bà là khía cạnh hoạt động 1 của Ý thức, tưởng tượng ra thế giới như thế nào (Srishtikanpana) 2, theo các dấu ấn nghiệp (Samskara) nảy sinh từ các cảm giác sướng và khổ trong các kiếp thế giới trước đó.

    1. Theo định nghĩa, khía cạnh tĩnh của Shiva là bất động. Chính vì vậy mà trong các Tantra, Devi được biểu tượng hóa là ở trên thân thể của Shiva, người nằm dưới bà như một xác chết (Shava). Trong mật điển Kubjika, chương 1 đã nêu, không phải là Brahma, Vishnu, Rudra (Shiva) tạo ra, duy trì và hủy diệt, mà là Shakti của họ, Brahmani, Vaishnavi, Rudrani. Hoạt động là bản chất của Prakriti (Samkhya Pravacana Sutra, III.66). Vì lý do tương tự, hình dạng nữ được biểu thị trong sự kết hợp tính giao là ở trên (Viparita) nam. Khi Devi đứng trên Shiva, biểu tượng này cũng biểu thị (đặc biệt trong trường hợp của Kali) khía cạnh giải thoát của Thánh Mẫu.
    2. Thế giới được gọi là trí tưởng tượng (Kalpana) bởi vì nó là sự hình thành ý niệm dựa trên ký ức về vũ trụ trong quá khứ. Như trong mật điển Yogini Hridaya nói: “Hình ảnh thế giới được tạo nên bởi ý chí của chính nó.” (

    Việc thờ phụng bà như thánh mẫu là điều tự nhiên. Câu mantra đầu tiên mà tất cả mọi người được khai tâm là Ma (mẹ). Đó là từ đầu tiên và thường là từ cuối cùng của họ. Người cha chỉ là người trợ giúp (Sahakari matra) của mẹ 1. Toàn thể thế giới năm nguyên tố cũng bắt nguồn từ Ý Thức Động (Shakti), và là sự hiển lộ của Bà (Purna vikasha). Vì vậy con người tôn thờ thánh mẫu,2 không có ai dịu dàng bằng người,3 nghiêng mình cung kính trước vẻ đẹp tươi tắn của người như hồng nhan Tripurasundari, cội nguồn của vũ trụ, vẻ uy nghi đáng kính của người như Kali, đón nhận nó trở lại vào chính mình. Ở đây chúng ta quan tâm đến Yoga, là giác ngộ về sự hợp nhất của các phương diện Shakti và Shiva trong trạng thái Ý thức của đấng Tuyệt Đối.

    Kinh Veda nói: “Tất cả những thứ này (thế giới đa dạng) đều là Brahman (Sarva khalvidam Brahma).4 Làm thế nào mà nhiều thứ lại có thể là một 5 được giải thích khác nhau bởi các trường phải khác nhau?

    1. Đấng Tối Thượng (Shiva) ban giác quang của ngài (Prakasa). Bà (Shakti) là Vimarshashakti, sản sinh, nhưng không đơn độc (Vimarshashakti prakashat mana paramashivena samarasya vishvam srijati na tu kevala. Yogini Hridaya Tantra).
    2. Trong Matribhava, theo thuật ngữ tiếng Phạn. về mặt triết học, điều này cũng đúng, vì tất cả những gì con người biết (ngoài trạng thái xuất thần nhập định) là thánh mẫu trong hình dạng thế giới của bà. Shakti tối thượng, không khác Shiva (
    3. Tương truyền không có gì dịu dàng hơn Prakriti, người phụng sự Purusha bằng mọi cách để ngài hưởng lạc, cuối cùng ban cho giải thoát (mukti) bằng cách rời bỏ ngài khi ngài không còn sủng ái Bà nữa.
    4. Như mật điển Mahanirvana nói (VII.98) đây là mục đích và ý nghĩa cuối cùng của hành giả mật tông Kulachara, sự giác ngộ này được mật điển Prapanchasara gọi là trạng thái thứ năm hay trạng thái tối cao (chương XIX, tập III, các văn bản Tantra).
    5. Vì vậy người ta nói về Devi rằng bà ở dạng một và nhiều (

    Cách giải thích được đưa ra ở đây có trong các mật điển của Shakta hoặc Agama. Trước hết, Thực Tại duy nhất xuất hiện dưới nhiều hình thức là gì? Bản chất của Brahman như vốn có trong tự thể (Svarupa) là gì? Câu trả lời là Sat Chit Ananda nghĩa là Bản Thể Tuyệt Đối, Ý Thức Thanh Tịnh, Hạnh Phúc Vĩnh Hằng. Ý thức hay cảm nhận như thế nào (Chit hay Samvit) thì sẽ đồng nhất với Bản Thể như thế ấy. Mặc dù trong kinh nghiệm thông thường, hai phạm trù này về bản chất gắn bó chặt chẽ với nhau, nhưng chúng vẫn khác biệt hoặc dường như phân ly với nhau. Con người theo bản tính cố hữu của mình luôn tin vào một sự tồn tại khách quan siêu việt và độc lập với chính mình. Và đối tượng khách quan đó vẫn còn tồn tại đến chừng nào Bản Ngã Cá Nhân (Jivatma, tiểu ngã), ý thức của người đó còn bị che khuất hay hấp dẫn bởi Maya. (Cái Toàn Thể bị che khuất để có thể kinh nghiệm được các hợp phần riêng lẻ). Nhưng trong nền tảng tối hậu của kinh nghiệm, đó là Đại Ngã Vũ Trụ (Paramatma), sự phân ly đã biến mất, vì trong đó tồn tại sự hợp nhất vô phân biệt giữa người kinh nghiệm, kinh nghiệm và đối tượng được kinh nghiệm. Tuy nhiên, khi nói về Chit như là Cảm Nhận Ý Thức, cần nhớ rằng những gì chúng ta biết và quan sát được chỉ là một biểu hiện biến dịch hữu hạn của Chit, vốn trong tự thể là căn nguyên bất biến vô hạn, là nền tảng của mọi kinh nghiệm. Ý thức Bản thể này là Hạnh Phúc Tuyệt Đối (Ananda) được định nghĩa là “an trú trong bản ngã” (Sva rupa vishranti). Nó Hạnh Phúc vì nó là cái Toàn Thể vô hạn (Purna), nó chẳng thiếu thốn thứ gì. Ý thức hạnh phúc này là tự tính tối hậu, bất khả phân ly hay Svarupa, hoặc hình thái riêng của Thực Tại duy nhất, vừa là Toàn Thể của Thực Tại bất phân, vừa là Hợp Phần của Thực Tại khả phân. Svarupa là tự tính của bất cứ sự vật nào như nó vốn có trong tự thể, khác với những gì nó có thể biểu hiện ra. Ý thức tối cao là Đại Shiva Shakti (Parashiva Parashakti) không bao giờ biến đổi, mà trường tồn vĩnh cửu trong mọi biến dịch tác động lên phương diện sáng tạo của nó là Tiểu Shiva Shakti.
  8. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Tất cả những gì biểu hiện (trong thế giới hiện tượng) đều gắn liền với sự hiện diện của vô thức. Tâm trí hiển nhiên không phải là ý thức thuần khiết, mà là một ý thức có giới hạn. Thứ giới hạn nó phải là một cái gì đó, hoặc tự nó vô thức, hoặc nếu có ý thức, thì có khả năng tạo ra sự xuất hiện của ý thức. (Phương án thay thế được đưa ra nhằm đáp ứng những quan điểm khác nhau giữa Mayavada và Shaktivada). Trong thế giới hiện tượng, không có gì hoàn toàn có ý thức, cũng chẳng có gì hoàn toàn vô thức. Ý thức và vô thức luôn đan xen vào nhau. Tuy nhiên, một số thứ dường như có ý thức hơn, và một số thứ dường như vô thức hơn. Điều này là do Chit, thứ không bao giờ vắng mặt trong bất cứ sự vật nào, nhưng lại biểu hiện theo nhiều cách và mức độ khác nhau. Mức độ biểu hiện này được xác định bởi bản chất và sự phát triển của tâm trí và cơ thể mà nó được lưu giữ. Bản Ngã vẫn giữ nguyên trạng, thân và tâm thì lại thay đổi. Sự biểu hiện của ý thức nhiều hay ít là do bị giới hạn khi con người tiến hóa từ khoáng chất lên con người. Trong thế giới khoáng vật, Chit biểu hiện như hình thức tri giác thấp nhất được chứng minh bằng phản xạ đáp ứng với các kích thích, ý thức vật lý đó ở phương Tây gọi là ký ức nguyên tử. Tri giác ở thực vật phát triển hơn, mặc dù, như Chankrapani nói, trong Bhanumati, nó là một ý thức đang ngủ. Điều này còn được thể hiện rõ hơn ở các vi sinh vật, vốn là giai đoạn trung guan giữa thế giới thực vật và động vật, chúng có đời sống tâm lý riêng. Trong thế giới động vật, ý thức trở nên tập trung và phức tạp hơn, đạt đến sự phát triển đầy đủ nhất ở con người, sở hữu tất cả các chức năng tinh thần như nhận thức, tri giác, cảm xúc và ý định. Đằng sau tất cả các dạng biến đổi riêng biệt về tri giác hay ý thức này là một Chit duy nhất vô hình và bất biến như vốn có trong tự thể (Svarupa), tức là khác biệt với các hình thức biểu hiện cụ thể của nó.

    Vì Chit hiện hữu trong tất cả các giai đoạn tiến hóa này của sự sống mà vẫn không thay đổi, nên bản thân nó không thực sự phát triển. Sự phát triển xuất hiện là do nó lúc bị che khuất, lúc lại bị thu hẹp bởi Tâm trí và Vật chất. Sự che khuất này do Năng Lượng (Shakti) của chính Ý Thức đã tạo lập ra thế giới. Vậy thì thứ gì che khuất ý thức và do đó tạo ra kinh nghiệm về thế giới?

    Câu trả lời là Năng Lượng hay Shakti dưới dạng Maya. Maya Shakti dường như biến cái Toàn Thể (Purna) thành cái Phi Toàn Thể (Apurna), vô hạn thành hữu hạn, vô hình thành hữu hình, vân vân. Đó là sức mạnh cắt đứt, che khuất và phủ nhận. Phủ nhận cái gì? Ý thức hoàn hảo. Shakti trong tự thể là giống hay khác với Shiva hay Chit? Nó phải giống, nếu không thì tất cả chẳng thể là một Brahman duy nhất. Nhưng nếu giống nhau thì nó cũng phải là Chit hay đại Ý thức. Do đó nó là Sachchidanadamayi 1 và Chidrupini.2

    1. Tức là, bản chất của nó là Sat Chi Ananda. Các hậu tố Mayi và Rupini chỉ ra một khác biệt tinh tế, cụ thể, Shakti trong tự thể là Chit, nhưng ở bề ngoài, tác động của năng lượng lại là cái gì đó khác biệt với Chit.
    2. Trong cả hình dạng và bản chất của Chit. Như Kubjika Tantra nói: “Parama Kala vừa là Chit (Chidrupa) vừa là Nada (Nadarupa).

    Tuy nhiên, ít nhất ở bề ngoài, vẫn có một số khác biệt. Shakti xuất phát từ gốc Shak, “có năng lượng”, “có khả năng”, nghĩa là sức mạnh. Vì bà là một với Shiva với tư cách là người nắm giữ năng lượng (Shaktiman), nên sức mạnh của bà chính là sức mạnh của Shiva hay của đại Ý thức. Không có sự khác biệt giữa Shiva với tư cách là người sở hữu năng lượng và chính bản thân Năng Lượng. Năng lượng của đại Ý thức chính là Ý thức trong phương diện Động của nó. Do đó, trong khi cả Shiva và Shakti đều là Ý thức, thì Shiva là khía cạnh tĩnh tại bất biến của Ý thức, còn Shakti là khía cạnh hoạt tính năng động của cùng một Ý thức đó. Loại năng lượng cụ thể mà nhờ đó thế giới nhị nguyên được đưa vào vận hành là Maya Shakti, vừa là Shakti che khuất (Avarana), vừa là Shakti phóng chiếu (Vikshepa). Ý thức tự che khuất chính bản thân nó, và phóng chiếu từ kho tàng kinh nghiệm trước đó (Samskara) khái niệm về một thế giới mà nó trải nghiệm khổ hay sướng. Vũ trụ do đó là trí tưởng tượng sáng tạo (Srishtikalpana) của đấng Tư Duy Thế Giới Tối Cao (Ishvara). Maya là sức mạnh mà nhờ đó vạn vật được “đo lường”, tức là được tạo lập và được biết đến. (Miyate anaya iti maya). Đó là cảm quan về tính khác biệt (Bhedabuddhi), hay thứ khiến con người nhìn thế giới, với toàn thể nhân và vật trong đó, là khác biệt với chính mình, trong khi về bản chất, người đó và tất cả là một Ngã thể duy nhất. Chính điều này thiết lập nên sự phân đôi trong những gì lẽ ra là một kinh nghiệm đơn nhất không phân ly, và là nguyên nhân của tính nhị nguyên vốn có trong mọi kinh nghiệm hiện tượng. Shakti, ở thể Động, che khuất tiểu ý thức bằng cách phủ nhận chính mình là đại Ý Thức ở nhiều cấp độ khác nhau.

    Trước khi vũ trụ hình thành, chỉ có Bản Thể, Ý Thức, Hạnh Phúc, đó là Shiva Shakti dưới dạng Chit và Chidrupini.

    Đây là kinh nghiệm Toàn Thể (Purna) mà trong đó, như Upanishad nói: “Cái Ngã biết và yêu cái Ngã”. Chính tình yêu này là Chân Phúc, hay “an trú trong tự ngã”, do đã được nói ở một nơi khác: “Tình yêu tối thượng là chân phúc” (Niratishayapremaspadatvam anandatvam). Đây là Parashiva, người trong hệ thống 36 Tattva được gọi là Parasamvit.

    Đây là Paramashiva, hay Nirguna (không thuộc tính), hoặc Nishkala (không có Shakti biểu lộ), Shiva hay Parabrahman trái ngược với Saguna (có thuộc tính), hay Sakala (có các hợp phần, hay shakti), Shiva hay Shaddabrahman (Brahman dưới dạng âm thanh nguyên thủy).

    Thuyết Nhất Nguyên này đề xuất một phương diện kép của Ý Thức nhất thể, một là phương diện siêu việt bất biến (Parasamvit), hai là phương diện sáng tạo biến dịch, gọi là Shiva Shakti Tattva. Trong Parasamvit, “cái Tôi” (Aham) chủ thể và “cái khác” (Idam), hay vũ trụ các đối tượng khách thể, hòa quyện không thể phân biệt được trong kinh nghiệm thống nhất tối cao.

    Mật điển Yoginihridaya nói: “Para Devi là Prakasha vimarsha samarasi yarupini. Đây là trạng thái Nivirkalpa Jnana, trong đó không có sự phân biệt giữa “cái này” và “cái kia”, giữa “Tự” và “Tha”. Trong Vikalpa Jnana vẫn còn có sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng.

    Trong Shiva Shakti Tattva, Shakti, phương diện phủ nhận của Parasamvit, chức năng của nó là phủ nhận (Nisheddha vyapara rupa shaktih), tự phủ nhận chính mình như là đối tượng của kinh nghiệm, để lại ý thức Shiva như một “cái Tôi” đơn thuần, “không nhìn về phía cái khác”(Ananyonmukhah aham pratyayah). Đây là trạng thái nhận thức chủ thể đơn thuần (Prakasha matra)1 mà Shakti, được gọi là Vimarsha,2 một lần nữa tự thể hiện bản thân, nhưng giờ đây với sự phân biệt giữa “cái tôi” và “cái khác” vẫn được giữ chung như một phần trong bản ngã.

    1.Paramashiva có hai khía cạnh: Prakasha và Vimarsha, hay Kameshvara và Kameshvari Paralinga. Prakasha tương đương asputasputi kara, sự hiển lộ của của thứ không biểu hiện.
    2. Bắt nguồn từ gốc mrish, nghĩa là xúc chạm, tác động, suy nghĩ. Nó là cái được nghiền nhỏ hoặc xử lý bởi tư tưởng, là đối tượng của tư duy phản chiếu. Pradhana và Prakriti cũng bao hàm nghĩa “đặt ở phía trước”, cái được đặt như vậy là đối tượng. Cả ba thuật ngữ đều biểu thị nguyên lý khách quan.

    Tại điểm này, giai đoạn sơ khai đầu tiên của thuyết nhị nguyên, có sự biến đổi ý thức đầu tiên, được gọi là Sadashiva hay Sadakhya Tattva, tiếp theo là Tattva thứ hai hay Ishvara Tattva, sau đó là Tattva thứ ba hay Shuddhvidya Tattva. Trong Tattva thứ nhất, trọng tâm được đặt vào “cái khác”, trong Tattva thứ hai vào “cái Tôi”. Trong Tattva thứ ba, cả hai đều được đặt ngang nhau. Rồi Maya cắt đứt ý thức thống nhất, khiến cho đối tượng khách thể được nhìn nhận là khác với chủ thể tự ngã và sau đó bị chia tách thành vô số đối tượng trong vũ trụ.

    Trong phần Mật chú (Mantra) của Mật Luận (Tantra Shastra) đề cập đến Mantra và nguồn gốc của nó, hai Tattva xuất phát từ Shakti thuộc về phương diện âm thanh được gọi là Nada và Bindu. Parashiva và Parashakti là bất động (Nihspanda) và không có âm thanh (Nihshabda).

    Nada là chuyển động đầu tiên được tạo ra trong sự hình thành ý niệm của ý thức vũ trụ, dẫn đến Brahman Âm Thanh (Shabda Brahman), từ đó phát nguyên mọi ý niệm và ngôn ngữ mà chúng được biểu đạt (Shabda), cùng các đối tượng (Artha) mà chúng biểu thị.

    Bindu theo nghĩa đen là một điểm và dấu chấm (Anusvara), trong tiếng Phạn biểu thị hơi thở qua mũi (0 ). Nó được đặt trong hơi thở qua mũi Chandrabindu phía trên Nada (0 ). Theo nghĩa kỹ thuật của Mantra, nó biểu thị trạng thái Động của Ý thức, hay Shakti, trong đó cái “Tôi” trên phương diện giác ngộ của Ý thức tự đồng nhất hoàn toàn với cái “Khác”.

    Cho đến khi Maya vận hành ở giai đoạn sau, cái “Khác” này vẫn được kinh nghiệm như một phần của cái “Tôi”. Vì vậy, không có sự biểu hiện hay nhị nguyên.

    Nó chủ thể hóa cái “Khác”, do đó trở thành một điểm Bindu của ý thức với nó. Khi Ý thức nhận thức một đối tượng khác với chính nó, nó thấy đối tượng dàn trải trong không gian. Nhưng khi đối tượng đó được chủ thể hóa toàn bộ, nó được kinh nghiệm như một điểm không dàn trải. Đây là kinh nghiệm vũ trụ của người trải nghiệm Thượng Đế dưới dạng Bindu.

    Vì lý do tương tự, Shakti được gọi là Ghanibhuta, nghĩa đen là đồ sộ hoặc tụ lại. Đó là trạng thái năng lượng gom tụ ngay trước khi vũ trụ bùng nổ (Sphurana).

    Vũ trụ sẽ đi về đâu khi tan rã? Nó bị hút vào Shakti, thứ đã tạo ra nó. Có thể nói, nó sụp đổ thành một điểm toán học không có độ lớn.

    Giống như mọi thứ cùng loại, hình ảnh nhất thiết phải bất toàn, vì một điểm như vậy tuy không có độ lớn, nhưng được cho rằng có một vị trí. Ở đây, không có gì cả, hoặc chúng ta đang ở trong không gian vô định.

    Đây là Shivabindu, một lần nữa lại được rút vào Shiva Shakti Tattva đã tạo ra nó. Được nhận thức rằng xung quanh Shiva Bindu có Shakti cuộn tròn, giống như ở trung tâm nguyên tố Đất, luân xa Muladhara trong thân, một con rắn cuốn quanh Linga tự sinh (Svayambhu Linga). Shakti cuộn tròn này có thể được mường tượng như một đường thẳng toán học, cũng không có độ lớn, mà vì luôn tiếp xúc với điểm mà nó cuộn tròn xung quanh, nên bị nén lại cùng với điểm đó, vì vậy cũng tạo thành một điểm duy nhất. Có một sự hợp nhất bất khả phân giữa hai phương diện, cũng được hình dung trong Tantra như một hạt đậu xanh (Chanaka), có hai hạt dính chặt vào nhau đến nỗi trông như một hạt được bao bọc bởi một lớp vỏ ngoài.

    Hai hạt giống là Shiva và Shakti, lớp vỏ là Maya. Khi chúng tách rời nhau thì sẽ có sự “sáng tạo”. Tuy nhiên, hình ảnh này lại sai sót ở chỗ có hai hạt giống, trong khi Shiva và Shakti là Một với hai phương diện.

    Trở lại sự so sánh trước đó, Shakti cuốn quanh Shiva, tạo thành một điểm Bindu duy nhất, chính là Kundalini Shakti. Từ này xuất phát từ Kundala, nghĩa là “cuộn”, “vòng tay”. Người ta nói về nó như đang cuộn tròn vì được ví như một con rắn (Bhujangi) khi nghỉ ngơi và ngủ thường nằm cuộn tròn, và do tính chất năng lượng của nó là hình xoắn ốc, tự biểu hiện như vậy trong các thế giới, các cõi hình cầu, hay “những quả trứng của Brahma” (Brahmanda), trong quỹ đạo tròn hoặc quay của chúng, và theo những cách khác. Do đó, các Mật điển nói về sự phát triển của đường thẳng (Rijurekha), từ một điểm khi đã đi hết chiều dài của nó như một điểm, thì bị xoay (Vakrarekha amkushakara) bởi lực của lớp vỏ Maya hình xoắn ốc mà nó hoạt động để tạo lập một hình ảnh hai chiều, hình này lại tự xoay, vươn lên như một đường thẳng vào mặt phẳng ba chiều, do đó tạo thành hình tam giác hoặc hình chóp gọi là Shringataka.

    Hình dạng của quả mướp Singara, loài cây mọc tự do trong các hồ ở Kashmir. Ở đây hãy lưu ý rằng các Yantra tuy được vẽ trên mặt phẳng, nhưng phải được hình dùng trong khối rắn. Bản vẽ mặt phẳng chỉ là một gợi ý về hình khối ba chiều mà Yantra đại diện.

    Nói cách khác, Kundalini Shakti này xuất hiện trong vũ trụ khi chuyển động để tự hiển lộ. Nói rằng nó “cuộn tròn” có nghĩa là nó đang trong trạng thái nghỉ ngơi, tức là năng lượng tiềm tàng ở thể Tĩnh. Shakti cuộn tròn quanh Shiva tối cao được gọi là Mahakundalini (năng lượng cuộn tròn vĩ đại), để phân biệt nó với năng lượng tương tự tồn tại trong các cơ thể cá nhân, là Kundalini.

    Do dáng người uốn cong nên Devi được gọi là Kubjika (lưng gù)

    Chính nhờ thông qua năng lượng cuối cùng này mà Yoga có hiệu quả. Khi hoàn thành, Shakti cá nhân (Kundalini) được hợp nhất với Shakti đại vũ trụ (Mahakundalini), và Shakti này hợp nhất với Shiva, vốn là một với nó trong bản thể. Kundalini là một phương diện của Brahman vĩnh cửu (Brahmarupa Sanatani), vừa không thuộc tính, vừa có thuộc tính (Nirguna và Saguna). Trên phương diện Nirguna, nó là Ý Thức Thuần Khiết (Chaitaniyarupini), tự thể chính là Chân Phúc (Ananda rupini), và sự sáng tạo (Brahmananda prakashini). Trên phương diện Saguna, chính nhờ năng lượng của nó mà mọi tạo vật được hiển thị (Sarvabhuta prakashini). Kundalini Shakti trong mỗi thân hình cá thể là năng lượng ở trạng thái nghỉ, hoặc là trung tâm tĩnh mà xung quanh nó mọi hình thái tồn tại như năng lượng chuyển động xoay quanh. Trong vũ trụ, luôn có một nền tảng tĩnh tại bên trong và đằng sau mọi hình thức vận động. Nhất thể Ý thức được phân cực thành các khía cạnh Tĩnh (Shiva) và Động (Shakti) với mục đích “sáng tạo”. Kundalini Yoga là cách giải quyết tính nhị nguyên này để quay về lại với nhất nguyên.

    Theo lời của Herbert Spencer trong tác phẩm “Các Nguyên Lý Ban Đầu”, nói rằng vũ trụ là sự phát triển (Srishti) từ trạng thái đồng nhất (Mulaprakriti) đến trạng thái không đồng nhất (Vikriti) rồi lại quay về trạng thái đồng nhất (Pralaya hay sự tan rã). Như vậy, có các trạng thái hình thành và tan hoại xen kẽ, sự biểu lộ diễn ra sau một chu kỳ nghỉ ngơi. Tương tự, giáo sư Huxley, trong tác phẩm Tiến Hóa và Đạo Đức cũng nói về sự biểu lộ của năng lượng vũ trụ (Maya Shakti) xen kẽ giữa các giai đoạn tiềm năng (Pralaya) và các giai đoạn diễn hóa (Srishti). Ông nói: “Có thể, như Kant gợi ý, mỗi magma vũ trụ được định trước để tiến hóa thành một thế giới mới cũng chính là kết cục được định trước của một tiền thân đã biến mất.” Kinh điển Ấn Độ khẳng định điều này trong học thuyết của họ rằng không có cái gọi là khởi nguyên tuyệt đối, vũ trụ hiện tại chỉ là một trong chuỗi các thế giới đã trôi qua và sẽ còn tiếp diễn.”

    Vào thời điểm Tan Rã (Pralaya), đã có Ý thức dưới dạng Mahakundalini ở thể tiềm năng hay hạt giống mà vũ trụ sẽ trở thành, mặc dù không thể phân biệt được từ khối hỗn độn của nó. Maya, thế giới hiện tượng, tồn tại tiềm ẩn như Mahakundalini, chính là một với Ý thức hay Shiva. Maya này chứa đựng, và thực chất được cấu thành bởi Samskara tập thể (cộng nghiệp) hay Vasana, là các dấu ấn tinh thần và các khuynh hướng tâm lý sản sinh bởi Karma (nghiệp) đã hoàn thành trong các thế giới đã tồn tại trước đó. Chúng cấu thành tập hợp tiềm năng của vô minh (Avidya) do chính Ý thức tự che phủ. Chúng được sinh ra bởi ham muốn hưởng lạc trần tục, và chính chúng lại tạo ra ham muốn đó. Các thế giới tồn tại bởi vì chúng, trong toàn thể của chúng, muốn tồn tại. Mỗi cá thế tồn tại do ý muốn của họ khao khát của sống thế tục. Do đó, hạt giống này là ý muốn tập thể, hay vũ trụ hướng tới cuộc sống được biểu hiện, tức là cuộc sống của hình thức và hưởng thụ. Vào cuối chu kỳ nghỉ ngơi, tức là Tan rã, hạt giống này chín muồi trong Ý thức.
    Lần cập nhật cuối: 04/05/2026
  9. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Ý thức do đó có hai phương diện: giải thoát (Mukti) hay vô hình, trong đó nó chỉ đơn thuần là Ý Thức Hạnh Phúc, và vũ trụ hay phương diện hữu hình, trong đó nó trở thành thế giới lạc thú (Bhukti). Một trong những nguyên tắc cốt lõi của mật giáo Shakta là đạt được cả Giải Thoát (Mukti) và Hưởng Lạc (Bhukti) thông qua thực hành.

    Bhogena moksham apnoti bhogena kulasadhanam
    Tasmad yatnad bhogayukto bhaved vỉavanah sudhih

    (Kularnava Samhita, khổ thơ 219.)

    Thông qua kinh nghiệm tận hưởng thế gian (Bhoga Bhukti) người ấy đạt được Giải Thoát hay nói cách khác khoái lạc trần gian là phương tiện để thành tựu Kula (shakti). Vì vậy Vira (hành giả can đảm) khôn ngoan và thiện đức nên giữ gìn tỉnh giác kết hợp với kinh nghiệm lạc thú trần tục.

    Điều này có thể thực hiện được bằng cách đồng nhất Tiểu Ngã khi hưởng thụ với Đại Ngã của thế giới. Khi hạt giống này chín muồi, Shiva được cho là sẽ giải phóng Shakti của ngài. Vì Shakti này chính là ngài, nên chính ngài trong khía cạnh Shiva Shakti của mình xuất hiện (Prasarati) và tự ưu đãi cho mình mọi hình thức của đời sống trần tục. Trong Ý thức Thuần khiết, hoàn hảo, vô hình, bỗng nảy sinh khao khát biểu lộ trong thế giới hữu hình, khao khát về sự thỏa mãn khi có được hình thức. Điều này diễn ra như một áp lực có giới hạn trên bề mặt bất động tối hậu của Ý thức thuần khiết, đó là Nishkala Shiva, nhưng không ảnh hưởng đến phần còn lại. Như vậy có biến đổi trong bất biến và bất biến trong biến đổi. Shiva trong khía cạnh siêu việt của ngài không thay đổi, nhưng Shiva (Sakala) trong khía cạnh nội tại của ngài như Shakti thì có thay đổi. Khi ý muốn sáng tạo nảy sinh, Shakti rung động như Nada,1 rồi mang hình dạng Bindu, là Ishvara Tattva, từ đó mà toàn thể các thế giới khởi nguyên. Chính vì sự sáng tạo mà Kundali mở cuộn. Khi Karma (nghiệp) chín muồi, Devi (nữ thần), theo lời của Nigama 2 “trở nên khao khát sáng tạo, và tự bao phủ mình bằng Maya của chính mình.”

    1. Nghĩa đen là “âm thanh”, hoạt động sáng thế là nguồn gốc đầu tiên của Shabda (âm thanh) được biểu hiện theo sau (sự khởi nguyên), là Chân Ngôn nguyên thủy (Vach) tương ứng với Artha hay Đối tượng.
    2. Kulachidamani, tập IV. Văn Bản Tantra, chương I.

    Một lần nữa, “Devi, vui sướng trong khoái lạc điên cuồng từ sự hợp nhất của bà với Akula 1 tối thượng, trở thành Vikrani”,2 nghĩa là, các Vikara hay Tattva của Tâm và Vật, cấu thành nên vũ trụ, xuất thiện.

    1. Akula là tên gọi của Shiva trong Tantra, Shakti được gọi là Kula, tức là Matri, Mana, Meya. Mật điển Yogini Hridaya nói (chương I): “Kulam meyamanam matrilakshanam, kaulastatsamastih”. Ba thứ này là Người Biết, Sự Biết và Cái Được Biết, vì đó là Ý thức dưới dạng Shakti.
    2. Kulachudamani, tập IV. Các văn bản Tantra chương I.

    Các Luận Điển đã đề cập đến những giai đoạn sáng tạo chi tiết từ cả góc nhìn chủ thể và khách thể, như những thay bổi trong ý thức hữu hạn hoặc như sự vận động (Spanda), hình dạng và âm thanh (Shabda). Cả hai phái Shaiva và Shakta đều chấp nhận 36 loại Tattva, gồm Kala, Shakti Unmani và phần còn lại trong Tattva, Shadadhva, các khái niệm Mantra về Nada, Bindu, Kamakala, vân vân.

    Xem các thuật ngữ này trong sách cùng tác giả: Tràng Hoa Chủng Tự (Garland of Letters)

    Các tác giả của Bắc phái Shaiva, trong đó mật điển Malinivijaya là một tác phẩm hàng đầu, đã mô tả rất sâu sắc các Tattva này. Tuy nhiên, ở đây chỉ tóm lược các kết luận chung. 36 Tattva này trong các mật điển được chia thành ba nhóm, là Atma, Vidya và Shiva Tattva. Nhóm thứ nhất bao gồm tất cả các Tattva, từ Prithivi (đất) thấp nhất đến Prakriti, được gọi là các loại bất tịnh (Ashuddha Tattva). Nhóm thứ hai bao gồm Maya, Kanchukas * và Prusha, là các loại nửa bất tịnh nửa thanh tịnh (Shuddha Ashuddha Tattva).

    Các dạng của Shakti, nơi mà tính hoàn hảo tự nhiên của Ý Thức bị giới hạn. Do đó, từ toàn tri trở thành vô tri, từ toàn năng trở thành thiểu năng, vân vân (xem Tràng Hoa Chủng Tự).

    Thuật ngữ Samkocha (co lại) thể hiện ý tưởng tương tự. Devi là Samkuchadrupa thông qua Matri, Mana, Meya, do đó Shiva dưới dạng Jiva cũng như vậy. (

    Nhóm thứ ba bao gồm năm Tattva cao nhất được gọi là Tattva thuần tịnh (Shuddha Tattva), từ Shiva Tattva đến Shuddha Vidya. Như đã nêu, trạng thái bất biến tối tượng (Parasamvit)* là kinh nghiệm thống nhất trong đó cái “ Tôi” và cái “Khác” hòa làm một.

    Đây không được coi là Tattva, vì nó là Tattvatita (siêu việt 36 tattva)

    Trên phương diện Động hay Shakti, như được trình bày bởi nhóm thanh tịnh, kinh nghiệm nhận ra cái “Tôi” và cái “Khác”, nhưng cái Khác được coi không phải là đối lập và nằm ngoài cái Tôi, mà là một phần của bản ngã duy nhất có hai mặt, Tôi (Aham) và Khác (Idam). Thay đổi từ việc nhấn mạnh vào cái Tôi đến nhấn mạnh vào cái Khác, rồi sau đó là cân bằng giữa nhấn mạnh vào cái Tôi và cái Khác như sự chuẩn bị cho sự phân đôi trong ý thức diễn ra sau đó.

    Nhóm nửa bất tịnh nửa thanh tịnh nằm giữa thuần tịnh và bất tịnh. Đặc tính trọng yếu của kinh nghiệm được cấu thành bởi nhóm bất tịnh là tính nhị nguyên của nó được tạo ra thông qua Maya, và những hạn chế của nó, là kết quả hoạt động của Kanchukas. Ở đây, cái Khác không được nhìn nhận như một phần của cái Tôi, mà đối lập với cái Tôi và không đi kèm với cái Tôi mà như một đối tượng được nhìn thấy bên ngoài. Mỗi ý thức (về cái Tôi và cái Khác) do đó trở nên loại trừ lẫn nhau. Các nhóm được mô tả như vậy gồm ba loại: cái Tôi và cái Khác hòa quyện siêu việt, trong đó các yếu tố kinh nghiệm nhị nguyên chưa phát triển, và một dạng kinh nghiệm thanh tịnh nằm giữa nhóm đầu và cuối, trong đó cả cái Tôi và cái Khác đều được kinh nghiệm như một phần của bản ngã duy nhất, thứ ba, trạng thái hiển lộ riêng biệt, khi có sự chia tách hoàn toàn giữa cái Tôi và cái Khác, trong đó một đối tượng nhận thức ở bên ngoài được trình bày cho ý thức của người biết khác với chủ thể nhận thức. Giai đoạn cuối cùng này gồm hai tiến trình. Trong phần thứ nhất, Prusha kinh nghiệm một vũ trụ đồng nhất, mặc dù có Prakriti khác với chính ngài. Trong Prakriti thứ hai, nó được chia tách thành các hiệu ứng của nó (Vikriti), đó là Tâm và Vật, rồi đến vô số chúng sinh trong vũ trụ mà tổ hợp này cấu thành. Shakti dưới dạng Prakriti trước tiên phát triển tâm trí (Buddhi, Ahamkara, Manas) và các giác quan (Indriya), rồi sau đó là vật chất có thể tri giác được (Bhuta) với năm nguyên tố (ether, không khí, lửa, nước, đất)* bắt nguồn từ siêu giác quan tổng hợp của các giác quan riêng lẻ, gọi là Tamatra.

    Những thuật ngữ này không có nghĩa thông thường, mà biểu thị các trạng thái vật chất ở các thể như rắn, lỏng, khí, lửa. Trong lễ cúng (Puja) chúng được tượng trưng bởi các thành phần (Upachara) sau: Hoa (Pushpa) ether, Hương (Dhupa): không khí, Đèn (Dipa): lửa, thực phẩm (Naivedya): nước, Gỗ đàn hương (Chandana): đất.
  10. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Khi Shakti đã thâm nhập vào Tattva cuối cùng và thô nhất (đất), tức là vật chất thể rắn, thì không còn gì để cho bà làm nữa. Hoạt động sáng tạo của bà sau đó chấm dứt, rồi bà nghỉ ngơi. Bà nghỉ ngơi trong sự hóa thân cuối cùng, nguyên lý “đất”. Bà lại cuộn tròn và ngủ. Giờ đây, bà là Kundalini Shakti, nơi cư ngụ trong thân người là trung tâm Đất, hay luân xa Muladhara. Cũng như ở trạng thái tối hậu, bà nằm cuộn tròn như Mahakundalini quanh Shiva tối cao, ở đây bà cuộn tròn quanh Svayambhu Linga trong luân xa Muladhara. Trung tâm hay luân xa cuối cùng này và bốn trung tâm phía trên nó là trung tâm của năm dạng vật chất. Trung tâm thứ sáu thuộc về Tâm trí. Ý thức và các quá trình của nó thông qua Shakti trước khi Maya xuất hiện được nhận ra trong hoa sen thứ bảy (Sahasrara padma) và các trung tâm nằm giữa nó và trung tâm thứ sáu hay Ajna.

    Sự phát triển của mật chú, điều cần phải biết để hiểu được tài liệu này, được trình bày rất rõ ràng trong Sharada Tilaka, trong đó nói rằng từ Sakala Shiva (Shiva Tattva), là Sat Chit Ananda, đã phát sinh ra Shakti (Shakti Tattva), từ Shakti ra Nada (Sadakhya Tattva), từ Nada phát triển ra Bindu (Ishvara Tattva),* để phân biệt nó với Bindu nguyên thủy tối cao (Parabindu) mà nó theo sau. Nada và Bindu, giống như tất cả những thứ khác, là những khía cạnh của Năng Lượng hay Shakti, là những trạng thái tạo điều kiện phù hợp (Upayogavastha) để Shakti có xu hướng (Uchchunavastha) “sáng tạo”. Trong những Tattva đó, mầm mống của hành động (Kriya Shakti) nảy nở hướng tới sự biểu hiện đầy đủ của nó.

    Các Tantra, trong số các kinh luận về Mantra, liên quan đến Shabda hay “âm thanh”, một thuật ngữ sẽ được giải thích sau. Mantra là Shabda đã được biểu hiện. Nada cũng có nghĩa đen là âm thanh, là thể nhân quả trung gian đầu tiên được tạo ra từ Shabda được biểu hiện. Bindu, đã được giải thích trước đây, được mô tả là trạng thái của chữ Ma trước khi biểu hiện, bao gồm Shiva Shakti Tattva được bao bọc bởi Maya hay Parama Kundalini. Nó bao hàm cả khoảng không (Shunya) là trạng thái Brahman (Brahmapada) trong không gian trống rỗng bên trong vòng tròn của Bindu, cũng như các Guna được chứa đựng ngầm trong đó, vì nó ở trong sự kết hợp không thể tách rời với Shakti vốn chứa đựng các Guna hay các nguyên tố cấu thành nguồn gốc vật chất của vạn vật.

    Xem Todala Tantra và Kamakalamalini Tantra

    Parabindu được gọi là Ghanavastha hay trạng thái hỗn độn của Shakti. Đó là Chidghana hay Ý thức hỗn mang, tức là Chit liên kết với Shakti vô phân biệt (là Chidrupini), được tiềm tàng trong một khối hỗn độn (Ghana), tuy không thể phân biệt được cái này với cái kia, nhưng toàn thể các thế giới và chúng sinh sẽ được tạo thành. Đây là Paramashiva, từ đó hóa sinh ra tất cả chư thiên. Chính Bindu này là Chúa tể (Ishvara) người mà một số thuyết thư nhân Purana gọi là Mahavishnu, số khác gọi là Brahmapurusha. Như Luận giả nói, tên của ngài không quan trọng, ngài là chúa tể (Ishvara) được toàn thể chư thần thờ phụng trong bí mật, và được nhắc đến trong các giai đoạn khác nhau của Chandrabindu, hay Nada, Bindu, Shakti và Shanta của Om và các chủng tự mật chú (Bija) khác. Nơi ở là Satyaloka, tồn tại trong thân người ở vỏ hoa sen ngàn cánh (Sahasrara) trong luân xa đỉnh não. Sharada sau đó nói rằng Parabindu này, có bản chất là Shakti tối cao, tự phân chia thành ba, tức là xuất hiện dưới ba khía cạnh. Như vậy có ba Bindu, đầu tiên gọi là Bindu *, còn lại là Nada và Bija.

    Karya, hay Bindu kết quả, để phân biệt nó với Bindu nguyên nhân (Karapa) hay Parabindu.

    Bindu trong bản chất là Shiva, còn Bija là Shakti.

    Trong trường hợp của các Mantra, (theo Kulachudamapi, khổ thơ 58) Bija là chữ cái đầu tiên của một Kuta hay một nhóm và thứ theo sau là Shakti. Do đó trong mantra “KRIM”, K là Bija còn R và I là Shakti. Nhờ có Bija mà hình dạng (của bản tôn) được tạo ra (Bijena murti kalpana).

    Nada là Shiva Shakti, là liên hệ chung hay tương liên (Mitha samavayah)1 hay sự hợp nhất như Prayogasara gọi nó.2

    1. Bindu này là cả Shiva và Shakti tự phân chia một lần nữa thành ba phần. Bindu, Nada và Bija là phần thứ ba của nó. Bindu là Shivatmaka, Bija là Shakti, còn Nada được cho là mối quan hệ tương hỗ giữa chúng bởi tất cả những người thông thạo các kinh luận Agama.
    2. Xem bình luận Raghava Bhatt của Sarada: Shiva vĩnh cửu được biết đến vừa là Nirguna (không thuộc tính) vừa là Saguna (có thuộc tính). Từ không thuộc tính, Mahesvari đã sinh ra ba Bindu là Brahmabindu, Vishnubindu và Rudrabindu.

    Câu thơ được trích dẫn trong Pranatoshini có âm thanh là Nirgunashchaiva nhưng đây chắc chắn là một lỗi sai vì bản thân Bindu không phải là Nirguna mà bắt nguồn từ nó.

    Bindu ba phương diện (Tribindu) là tối cao (Para), vi tế (Sukshma) và thô (Sthula).

    Từ Bindu nhân (Karana) này lại phát sinh Bindu quả (Karya), rồi đến Nada rồi sau đó là Bija. Ba thứ này được gọi là Para (siêu việt), Sukshma (vi tế) và Sthula (thô thiển).
    Chúng đại diện cho các khía cạnh Chit, Chidachit, Achit của tự nhiên.

    Nada do đó là sự hợp nhất của hai yếu tố này trong sự sáng tạo. Như văn bản có nói (câu 40) chính nhờ sự phân chia giữa Shiva và Shakti mà nảy sinh ý niệm sáng tạo (Sristi kalpana). Bindu nhân đến từ phương diện Shakti, Shakti không phân biệt (Abhedarupa Shakti) với toàn bộ năng lượng (Sarvashaktimaya), từ phương diện Prakriti là Trigunamayi Mulaprakriti, từ phương diện Devata là không biểu lộ (Avyakta), từ phương diện Devi là Shanta. Ba Bindu riêng biệt biểu thị vận hành của ba năng lực Ý Chí (Ichchha), Kiến Thức (Jnana) và Hành động (Kriya), và ba Gunas (Rajas, Sattva, Tamas), cũng như sự biểu hiện của ba Devi (Vama, Jyestha, Raudri) và ba Devata (Brahma, Vishnu, Rudra) vốn xuất phát từ đó. Trong Prayogasara và Sharada có nói rằng Raudri xuất phát từ Bindu, Jyeshtha từ Nada, còn Vama từ Bija. Từ những vị thần này sinh ra Rudra, Vishnu, Brahma, mang bản chất của Jnana, Kriya, Ichchha, cùng với Mặt trời, mặt Trăng và Lửa. Ba Bindu được biết đến là mặt trời (Ravi), mặt trăng (Chandra) và Lửa (Agni), những thuật ngữ liên tục xuất hiện trong tác phẩm được dịch ở đây.

    Trong mặt trời có lửa và mặt trăng. Nó được gọi là Mishra và Bindu, ở dạng đó không khác gì Paramashiva, và là Kamakala. Kamakala là Tam Giác của Ham Muốn Thiêng Liêng được hình thành từ ba bindu, đó là tập hợp của chúng. Kamakala này là gốc rễ (Mula) của tất cả các mật chú. Mặt trăng (Soma, Chandra) là Shiva Bindu, và trắng (Sita Bindu), Lửa (Agni) kà Shaktibindu, và đỉ (Sonabindu), mặt trời là một hỗn hợp của cả hai. Lửa, Mặt trăng và mặt trời là Ichohha, Jnana, Kriya Shakti (ý chí, kiến thức, hành động). Trên bình diện vật chất, Bindu trắng là hình tượng của tinh dịch (Shukra), còn Bindu đỏ của kinh nguyệt (Rajasphala, Shonita). Mahabindu là trạng thái trước khi biểu hiện của Prakriti. Cả ba Bindu là kamakala, là Shakti, mặc dù người ta có thể ám chỉ chủ yếu là Shiva, khác với phương diện Shakti. Đôi khi Mishra Bindu được gọi là Shakti Tattva, để biểu thị tính chất tối cao của Shakti, và đôi khi Shiva Tattva để biểu thị tính chất tối cao của người sở hữu năng lượng (Shaktiman). Nó là hình thái phối kết (Yamalarupa). Không có Shiva mà thiếu Shakti, cũng không có Shakti mà thiếu Shiva.

    Hình thái phối kết của Shiva Shakti này được gọi là “hợp xứ”. Đó là Shakti chân phúc mà từ đó sự sáng tạo xuất hiện.

    Để chia tách họ là điều bất khả thi cũng như chia tách một cơn gió đang chuyển động khỏi trường ether ổn định mà nó thổi trong đó. Trong mỗi Shiva Shakti có một sự hợp nhất (Maithuna), rung động của Nada, nơi nào Mahabindu được sinh ra, tự nó trở thành Bindu ba phương diện (Tribindu), đó là Kamakala.

    Trong Sri Chakra, đây là khu vực của luân xa Baindava, chỗ cao nhất, bao quanh bởi Tam giác Luân xa, đó là Kameshvari, Bhagamalini, Vajreshvari. Xem thêm về Kamakala, bài đăng.

    Như đã nói trong Sharada Tilaka rằng trong sự “bùng nổ” hay sự chia tách của Bindu Tối Cao, có một “âm thanh” vô hình (Shabda).

    Có thể quan sát trong câu thơ này, Bindu đầu tiên được gọi là Para và để làm cho điều này rõ ràng, tác giả của Pranatoshini thêm vào lưu ý sau: “Do Parabindu là Bindu đầu tiên, nên đó là một trạng thái của Shakti.” Xem Tràng Hoa Chủng Tự.

    Shabda vô hình này, thông qua hoạt động (Kriya Shakti), là nguồn gốc của Shabda và Artha hữu hình sẽ được mô tả sau.

    Kularnava Tantra (Khanda 5, Ullasa 1) nói, nhất thể Brahman có hai phương diện thống nhất: Parambrahman (siêu việt) và Shabdabrahman (nội tại).

    Một mặt, Brahman với tư cách là nguồn gốc của ngôn ngữ (Shabda) và các ý niệm, mặt khác, là các đối tượng (Artha) mà chúng biểu thị, gọi là Shabdabrahman. Từ Bindu phân tách này dưới dạng Prakriti mà các Tattva của Tâm và Vật được phát triển trong mọi hình thái khác nhau của chúng, cũng như chúa tể của Tattva (Tattvesha), tức là các trí tuệ điều khiển chúng, Shambhu,* vị thần cai quản luân xa Ajna , trung tâm của các chức năng tinh thần.

    Trong Pranatoshini, trang 22, có nói rằng Shambhu là “người cộng sự của thời gian” (Kalabandhu) bởi vì Kala dưới hình thức Nada hỗ trợ việc sinh ra ngài và các chư thiên khác.

    Còn có Sadashiva, Isha, Rudra, Vishnu, Brahma, chư thần của năm nguyên tố, kết thúc với Prithivi (đất) trong luân xa Muladhara, trong đó Shakti sáng tạo, đã hoàn thành công việc của mình, một lần nữa nghỉ ngơi, và được gọi là Kundalini.

    Giống như nguyên tử bao gồm một trung tâm tĩnh mà xung quanh đó có các lực chuyển động quay, trong thân người cũng vậy, Kundalini trong luân xa nguyên tố Đất là trung tâm tĩnh (Kendra) mà xung quanh đó, nó ở khía cạnh Động như các lực của thân thể, hoạt động. Toàn thân giống như Shakti luôn chuyển động không ngừng. Kundalini Shakti là điểm tựa bất động cho tất cả các hoạt động này. Khi nó được đánh thức và tự di chuyển lên trên, nó thu rút vào bản thân những shakti chuyển động này, rồi sau đó hợp nhất với Shiva trong hoa sen Sahasrara. Quá trình đi lên (tiến hóa) ngược lại với quá trình thoái hóa đã mô tả ở trên. Các thế giới tan hoại (Laya) theo thời gian đối với toàn thể chúng sinh. Yogi hoàn hảo hòa tan vũ trụ vào mọi thời điểm cho riêng mình. Yoga do đó là Laya.

    Trước khi đi vào mô tả về các luân xa, trước hết cần phải mô tả đầy đủ hơn về những thành phần cấu tạo nên cơ thể, tức là Năng Lượng được biểu hiện dưới dạng các Tattva đã đề cập, trải dài từ Prakriti đến Prithivi. Chính nhờ các Tattva này mà các Luân xa thành các trung tâm. Thứ hai, cần giải thích về lý thuyết “âm thanh” (Shabda) tồn tại trong cơ thể ở ba trạng thái nội tại (Para, Pashyanti, Madhyama) và được thể hiện qua lời nói (Vaikhart). Điều này giúp người đọc hiểu được ý nghĩa của từ Mantra hay Shabda được biểu hiện, và Tràng Hoa Chủng Tự được phân bổ khắp sáu luân xa của thân thể.

Chia sẻ trang này