1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

NĂNG LƯỢNG HỎA XÀ Bí mật của Tantra và Shakti Yoga

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi phunglam, 27/04/2026.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    CÁC LUÂN XA HAY HOA SEN

    Ở giai đoạn này, chúng ta có thể chuyển sang xem xét các Luân xa (Chakra), có thể được mô tả ngắn gọn là các trung tâm vi tế hoạt động trong thân thể của Shakti hay Năng Lượng của các Tattva, các nguyên tố cấu thành nên lớp vỏ thân thể. Như vậy, năm Luân xa thấp hơn từ Muladhara đến Vishudha là trung tâm của các nguyên tố (Bhuta), hay năm dạng vật chất hữu hình. Ajna và các Luân xa khác trong vùng giữa nó và Sahasrara là các trung tâm của Tattva cấu thành nên lớp vỏ tinh thần, trong khi đó, Sahasrara hay hoa sen ngàn cánh ở đỉnh não, là nơi cư ngụ hạnh phúc của Parama Shiva Shakti, tức là trạng thái của Ý thức thanh tịnh.

    Việc mô tả về các Luân xa trước hết bao gồm giải phẫu và sinh lý học phương Tây về hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh giao cảm, thứ hai, mô tả về hệ kinh mạch và các Luân xa trong Tantra, cuối cùng, mối tương quan, trong chừng mực có thể, giữa hai hệ thống về mặt giải phẫu và sinh lý, vì phần còn lại nhìn chung là đặc thù của huyền học Tantra.

    Lý thuyết Tantra về các Luân xa và Sahasrara * tập trung vào khía cạnh sinh lý, hay Bhogayatana, liên quan đến hệ thống cột sống trung ương, bao gồm não bộ nằm trong hộp sọ và tủy sống nằm trong cột sống (Merudanda).

    Sahahrara chỉ được coi là hoa sen mà không phải là luân xa vì nó không có trục ánh sáng quay quanh tâm luân (người dịch).

    Cần lưu ý rằng, cũng giống như có năm Luân xa được mô tả dưới đây, bản thân cột sống cũng được chia thành năm khu vực, bắt đầu từ vùng thấp nhất là xương cụt, gồm bốn đốt sống không hoàn chỉnh, thường hợp nhất thành một gọi là xương cụt, vùng xương cùng, vùng thắt lưng, gồm năm đốt sống, vùng lưng, mười đốt, cổ bảy đốt. Như được thể hiện qua các đoạn tủy sống cho thấy những đặc điểm khác nhau ở các vùng khác nhau. Nói khái quát, các đặc điểm này tương ứng với những vùng được chỉ định để điều khiển các trung tâm (hay luân xa hoặc hoa sen) Muladhara, Svadhishthana, Manipura, Anahata, và Vishuddha. Hệ thần kinh tủy sống và 12 dây thần kinh sọ não, bao gồm cả dây thần kinh hướng tâm và ly tâm, hay cảm giác và vận động, gây ra cảm giác hoặc kích thích hành vi. Trong số các dây thần kinh sọ não, sáu dây cuối cùng xuất phát từ hành tủy (tủy sống), sáu dây còn lại, ngoại trừ dây thần kinh khứu giác và thị giác, xuất phát từ các phần của não ngay phía trước hành tủy. Tác giả của các phái Yoga và Tantra thường dùng thuật ngữ Nadi để chỉ các dây thần kinh. Được biết rằng họ dùng thuật ngữ dây thần kinh sọ não khi nói về Shiras, mà không bao giờ dùng thuật ngữ này để chỉ các động mạch, như trong y văn.

    Tiến sĩ Brojendranath Seal, trang 387, Phụ lục cuốn Nền Tảng Tích Cực của Xã Hội Học Hindu, của giáo sư Benoy Kumar Sarkar. Từ “Dhamani” cũng được dùng để chỉ dây thần kinh. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tác phẩm hiện tại sử dụng Shiras cho các dây thần kinh khác ngoài dây thần kinh sọ não, vì trong tập I, nó gọi là các Nadi Ida và Pingala hay Shiras.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các Nadi trong Yoga không phải là các dây thần kinh vật chất thông thường, mà là các đường dẫn vi tế hơn, dọc theo đó các luồng sinh lực di chuyển. Các dây thần kinh tủy sống, sau khi thoát ra khỏi lỗ liên đốt sống, đi vào liên lạc với các dây hạch của hệ thần kinh giao cảm, nằm ở mỗi bên cột sống. Tủy sống kéo dài trong thân người, từ bờ trên của đốt sống cổ thứ nhất (atlas), bên dưới tiểu não, đi vào hành tủy, cuối cùng mở ra vào não thất thứ tư, rồi xuống đến đốt sống thắt lưng thứ hai, nơi nó thu hẹp lại thành một điểm gọi là dây chằng tận cùng (filum terminale). Tôi được biết rằng các khảo sát bằng kính hiển vi của tiến sĩ Cunningham đã tiết lộ sự tồn tại của chất xám rất nhạy cảm trong dây chằng tận cùng, vốn trước đây được cho chỉ là một sợi mô xơ đơn thuần. Điều này rất quan trọng, xét đến vị trí được gán cho Muladhara và Năng lượng Hỏa Xà. Nó tiếp tục trong chỗ này với một khoảng cách thay đổi, và kết thúc ở đó không rõ ràng. Bên trong lớp vỏ xương là dây thần kinh, là một hợp chất của chất xám và chất trắng trong não, chất xám ở bên trong của cả hai, ngược lại với vị trí trên não. Tủy sống được chia thành hai nửa đối xứng, nối với nhau bởi một dây chằng, ở giữa dây chằng có một ống nhỏ gọi là ống tủy trung tâm (nơi có Brahma Nadi), được cho là phần còn lại của ống rỗng mà từ đó dây tủy và não bộ phát triển. Ống này chứa dịch não tủy. Chất xám nhìn theo chiều dọc tạo thành một cột kéo dài suốt chiều dài tủy sống, nhưng chiều rộng không đồng nhất. Có những chỗ phình to đặc biệt ở vùng thắt lưng và cổ, chủ yếu do lượng chất xám nhiều hơn ở những vị trí này. Nhưng dọc theo toàn bộ tủy sống, chất xám đặc biệt phong phú ở các khớp nối của các dây thần kinh cột sống, do đó có thể nhìn thất cấu trúc dạng chuỗi hạt, rõ ràng hơn ở các đột vật có xương sống bậc thấp, tương ứng chuỗi hạch bụng của động vật không xương sống. Chất trắng bao gồm các bó hoặc cột sợi thần kinh. Ở bờ trên của đốt sống cổ thứ nhất (đốt atlas), tủy sống đi vào hành tủy bên dưới não. Ống trung tâm mở vào não thất thứ tư của não bộ. Tiểu não là sự phát triển của thành sau của phần phình ra to nhất trong ba phần phình to chính của ống tủy phôi thai, não thất thứ tư tạo ra phần còn lại của khoang ban đầu. Phía trên tiểu não là đại não, cùng với các phần bên dưới nó tạo thành phần trên được mở rộng và biến đổi rất nhiều của trục thần kinh não tủy. Tủy sống không chỉ đơn thuần là một dây dẫn giữa ngoại vi và các trung tâm cảm giác và ý muốn, mà còn là một trung tâm độc lập hoặc một nhóm các trung tâm. Có nhiều trung tâm trong tủy sống, mặc dù ở một mức độ đáng kể là tự chủ động, nhưng được kết nối với các trung tâm cao hơn bởi các bó liên hợp và bó dọc của tủy sống. Tất cả các chức năng được gán chủ yếu cho các trung tâm tủy sống cũng thuộc về các trung tâm não theo một nghĩa nào đó. Tương tự, toàn bộ các “chữ cái” phân bổ trên cánh hoa sen đều tồn tại trong Sahasrara. Các trung tâm này không chỉ ảnh hưởng đến các tổ hợp cơ bắp liên quan đến những vận động có chủ ý, mà còn ảnh hưởng đến chức năng dẫn truyền thần kinh mạch máu, bài tiết, cùng các chức năng khác có trung tâm tương tự trong tủy sống. Tuy nhiên, các trung tâm trong não được cho là chỉ kiểm soát những chức năng này liên quan đến những biểu hiện của ý muốn, cảm giác, cảm xúc, trong khi các trung tâm tủy sống với hệ thống phó giao cảm được cho là tạo ra cơ chế thích nghi vô thức, phù hợp với các điều kiện kích thích khác nhau cần thiết cho sự tồn tại liên tục của cơ thể. Hành tủy, một lần nữa, vừa là con đường liên lạc giữa các trung tâm cao hơn và ngoại vi, vừa là trung tâm độc lập điều chỉnh các chức năng quan trọng nhất trong hệ thống.

    Cần lưu ý rằng các sợi thần kinh mang xung lực vận động từ não xuống tủy bắt chéo khá đột ngột từ bên này sang bên kia trên đường đi qua hành tùy, một điều đã được ghi nhận trong các Tantra khi mô rả Mukta Triveni. Hành tủy được kết bởi nhiều đường dẫn truyền, hướng tâm và ly tâm, với tiểu não và hạch não. Phía trên tiểu não là đại não, hoạt động của nó thường gắn liền với ý muốn và tư duy có ý thức cũng như khởi nguồn của các vận động theo ý muốn. Tuy nhiên, khái niệm về Ý thức, là chủ đề nội quan của tâm lý học, không được nhầm lẫn với khái niệm có chức năng sinh lý. Do đó, không có cơ quan ý thức nào, đơn giản vù “ý thức” không phải là một khái niệm hữu cơ, và không liên quan gì đến khái niệm sinh lý về năng lượng, mà nó thể hiện khía cạnh nội quan bên trong. Ý thức, trong tự thể là Atma. Cả thân và tâm, trong đó não bộ là một phần, đều là những biểu hiện ẩn giấu của Ý thức, mà đối với vật chất thì lại bị che giấu đến mức khiến nó mang vẻ bề ngoài của vô thức. Bộ não sống được cấu tạo từ vật chất thô có thể cảm nhận được (Mahabhuta) được thấm nhuần bởi Prana hay sinh khí. Vật chất của nó đã được xử lý để tạo thành một phương tiện thích hợp cho sự biểu hiện của Ý thức dưới dạng Tâm trí (Antahkarana). Vì Ý thức không phải là một thuộc tính của thể xác, nên nó cũng không chỉ đơn thuần là một chức năng của não bộ. Thực tế là tâm thần bị ảnh hưởng hoặc biến mất khi não bị rối loạn, cho thấy tính cần thiết của não đối với sự biểu hiện của ý thức, chứ không phải là ý thức vốn sẵn có trong não, hoặc là thuộc tính của não.

Chia sẻ trang này