1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

AGHORA II: Kundalini

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi phunglam, 26/03/2026.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    AGHORA II



    KUNDALINI



    Robert E. Svoboda


    Amritananda chuyển ngữ

    MỤC LỤC


    Lời cảm ơn

    Lời nói đầu

    Chương 1: AGNI

    Chương 2: KUNDALINI

    Tự nhận dạng

    Các lớp Bao phủ

    Các Kinh mạch và Luân xa

    Chín Luân xa

    Định

    Kula Kundalini

    Con Rắn

    Các Luân xa

    Kula Kundalini

    Chương 3: Các bước Sơ Bộ

    Thức ăn

    Panchamakara

    Chương 4: Sadhana (Pháp thực hành)

    Khanda Manda Yoga

    Tên và Hình thức

    Soma Yaga

    “Biến mọi thứ thành một Pháp thực hành”

    Mặt trời, mặt trăng và Lửa

    Gayatri

    Chương 5: Mantra (mật chú)

    Mantra Siddhi (thành tựu mật chú)

    Sử dụng các Mật chú

    Năm chữ S

    Bí mật

    Cách phát âm

    Bốn cấp độ của Lời Nói

    Bốn Lớp

    Chương 6: Mật tông

    Thời gian, Nhật thực và Đêm

    Nyasa

    Thờ phụng bằng tinh thần

    Ganesha

    Chương 7: Âm Nhạc

    Nada Yoga

    Krishna và các Gopi

    Krishna và Shiva

    Chương 8: Các vị Bất Tử

    Siddhas (những người chứng đắc)

    Rishis, Munis, Naths & Siddhas (các nhà hiền triết, ẩn sĩ, đạo sư dòng Nath và thành tựu giả)

    Thời gian và Không gian

    Anasuya

    Avatars (các Hóa Thân)

    Chương 9: Ramayana bí truyền

    Kinh văn

    Người đóng kịch

    Vai trò của Anjaneya

    Chương 10: Các vị Thầy và Môn sinh

    Phụ Lục

    Yantra: Mô tả tổng quan

    Chín vị Thành tựu giả dòng Nath

    Minh họa các thành tựu giả dòng Nath

    Minh họa các Thành tựu giả
  2. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    LỜI CẢM ƠN

    Xin chân thành cảm ơn tới:

    Robert Beer, họa sĩ vẽ thangka Tây Tạng, vị Đạo Hữu, đã cung cấp các tác phẩm nghệ thuật tinh tế cùng sự hỗ trợ không mệt mỏi của ông cho các tập sách Aghora.

    Tiến sĩ Frederic M.Smith đã cung cấp các thuật ngữ và định nghĩa trong bản thuật ngữ.

    Inner Tra***ion International vì cho phép vẽ lại một số hình minh họa Thành Tựu Giả từ cuốn Các Đạo Sư Huyền Thuật của K.Downman và R. Beer.

    NXB Allied, New Delhi, Ấn Độ, vì cho phép tái bản bức tranh Sadashiva làm bìa cuốn sách này.

    Về hình bìa:

    Vimalananda giải thích khái niệm này như sau (từ Chương 2): “Mục đích của Kundalini Yoga là để hợp nhất Shiva và Shakti, để tạo ra hình dáng bất diệt của Shiva, Sadashiva. Bên trái của Sadashiva là nữ còn bên phải là nam, hai nguyên lý đã hợp nhất những chưa hòa nhập. Nếu chúng hòa nhập thì đó là kết thúc của trò chơi, và điều đó sẽ chẳng còn gì thú vị nữa. Sadashiva tồn tại trên quy mô vũ trụ, trong một cá nhân, vị thần này được gọi là Ardhanarishvara (vị Chú tể có một nửa là Nữ). Để biểu hiện Sadashiva, Kundalini phải được làm cho thăng lên trọn vẹn, bởi vì sự biểu hiện cao nhất của Shiva trong con người nằm ở đầu, phần cao nhất của thân thể.”

    “Ở người bình thường, Kindalini ngủ yên ở gốc cột sống, do đó Shiva thiếu Shakti. Người như vậy không phải là Shiva mà chỉ là shova (xác chết). Tôi nhìn mọi người mình gặp như những bộ xương, vì đó chính là họ, khi nào Kundalini Shakti của một người chưa thức tỉnh và bắt đầu nhảy múa cùng Shiva của nàng, người đó chẳng khác nào đã chết”.

    Shri Yantra thiêng liêng là yantra nổi tiếng và lôi cuốn nhất trong tất cả các yantra bởi sự hài hòa về mặt hình học phức tạp của nó. Bao gồm năm tam giác ***g vào nhau, sự kết hợp của năm tam giác yoni hướng xuống (Shakti) với bốn tam giác lửa hướng lên (Shiva), còn được gọi là luân xa Navayoni (chín yoni). Cấu hình này tạo ra một kiểu mẫu gồm mười ba tam giác, tượng trưng cho nữ thần Tripurasundari ở trung tâm, được bao quanh bởi đoàn tùy tùng gồm 42 vị thần. Những tam giác này được sắp xếp thành một chuỗi năm luân xa, chứa lần lượt một, tám, mười, mười và mười bốn tam giác từ trung tâm ra ngoài. Cấu trúc này được bao quanh bởi hai vòng hoa sen đồng tâm gồm tám và mười sáu cánh hoa, nằm trong một hình vuông Bhupura hay mặt bằng”.
  3. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    LỜI NÓI ĐẦU

    Aghora, được mô tả trong tập này như là “siêu tantra”, là con đường sùng mộ Thánh Mẫu Kundalini Vĩ Đại, ở đây biểu lộ với Tên Gọi và Hình Ảnh của Nữ Thần Tara. Con đường này vô cùng kỳ dị và mãnh liệt, ngay cả đối với tantra, mục đích của nó không gì khác hơn là phá hủy những giới hạn của con người ở các hành giả, để người đó trở nên siêu phàm trên thực tế, một dạng thần thánh.

    Aghora II là tập thứ hai trong bộ ba tác phẩm mô tả và giải thích Con Đường này vốn được thực hành bởi Aghori Vimalananda, và được thuật lại bởi đệ tử của ông, y sĩ ayurveda Robert Svoboda. Kết quả chắc chắn là một trong những tác phẩm độc đáo nhất trong toàn bộ kho tàng văn học kỳ diệu của các tôn giáo trên thế giới. Đó cũng là một tác phẩm rất đặc trưng của thời đại này, phá bỏ và chà đạp lên những điều cấm kỵ phổ biến và gần như phổ biến. Aghori đặt mục tiêu vượt qua những giới hạn của con người bằng cách phá vỡ mọi ràng buộc bên trong, bất kể điều cấm kỵ đó cổ xưa hay mạnh mẽ đến đâu, và cũng bằng cách tạo ra một thân tâm có khả năng chứa đựng những kinh nghiệm và cảm xúc, giác quan cùng những trải nghiệm khác mà sẽ nhấn chìm bất cứ ai không được chuẩn bị đúng cách.

    Theo cách diễn đạt của Vimalananda, một Aghori, theo nghĩa đen phải tạo ra, một cách có hệ thống, một cơ thể (và các thân vi tế) với hệ thần kinh và các hệ thống khác có khả năng khám phá các cấp độ ý thức và chịu đựng các thể dạng và cường độ khác nhau của năng lượng, nếu không sẽ bị điên loạn, khổ sở kinh khủng, các thân thể thô và vi tế cùng với các cơ quan tinh thần sẽ bị tàn phá, rồi dẫn đến cái chết. Điều quan trọng để tránh những hậu quả đó là tiếp cận được với những giáo lý và thực hành thiết yếu bí truyền, trên hết là Nữ Thần.

    Như Vimalananda đã nhiều lần nói rằng trong thời đại này, các hình thức bên ngoài của các phương pháp tu luyện tinh thần ít quan trọng hơn nhiều so với hoạt động nội tâm, trên hết là mối quan hệ trực tiếp và cá nhân với thần linh. Có thể thiết lập mối liên hệ với Thánh Mẫu Vĩ Đại theo cách mà hầu hết các yêu cầu, cả về trình tự nghi thức và các loại vật liệu, của một pháp môn tâm linh có thể được gạt bỏ. Tuy nhiên, những gì được lược bỏ về mặt hình thức phải được bù đắp bằng thời gian và cường độ của cả Thực Hành và Lòng Sùng Mộ. Nhiều nghi thức và lễ lạt ngày nay có thể được hiểu như những công cụ hỗ trợ hoặc thậm chí là những chiếc nạng cho những ai thiếu can đảm, sự tận tâm và lòng sùng mộ để tiến hành tương tác trực tiếp với Thần Linh.

    Khi nói về tính mãnh liệt trong những thực hành như vậy, ở đây chúng ta đang đề cập đến điều gì đó vượt xa những trạng thái như “yếu tố hưng phấn tột độ” đã được trải nghiệm qua thực hành trong các tôn giáo. Những cường độ mạnh đó hầu như luôn được dành cho các dịp đặc biệt, có giới hạn về thời gian và được trải nghiệm trong bối cảnh của các dạng bảo vệ khác nhau. Nhưng một Aghori, hoặc một nhân vật tương tự, phải luôn sẵn sàng từ bỏ mọi sự hỗ trợ của con người và mạo hiểm dấn thân vào những thế giới đáng sợ phi nhân loại chỉ với sự hỗ trợ của những năng lực tiềm ẩn đã được kích hoạt và niềm tin vững chắc rằng sẽ được Thánh Mẫu dẫn dắt và bảo vệ. Một hành giả như vậy phải sẵn sàng khám phá bất cứ điều gì hoặc sẽ chẳng có thứ gì, dẫu biết rằng trong cả hai trường hợp, một kinh nghiệm thành công sẽ mạng lại sự cô lập hơn nữa khỏi con người và sẽ đắm chìm trong những thực tại mà từ đó không thể quay lại. Chúng ta thực sự đang nói về một “người thích cảm giác mạnh vô hạn” quen thuộc với những cõi giới kinh hoàng hoặc ngây ngất, một nhà thám hiểm tâm linh tối thượng, đồng thời cũng là vị thánh đương đại chân chính nhất của chúng ta.

    Tuy độc đáo và nhấn mạnh vào nội tâm, cuốn sách này chứa đựng một lượng thông tin khổng lồ có giá trị đối với người học các bộ môn tâm linh phương Đông. Thường thì chỉ một hoặc hai câu cũng có thể làm sáng tỏ những trạng thái tâm thức sâu xa hay những giai đoạn thiền phức tạp hơn nhiều so với những gì người đọc có thể tìm thấy trong toàn bộ những cuốn sách có mục đích làm sáng tỏ cùng chủ đề. Cuốn sách này có giá trị đối với những hành giả yoga cao cấp và những con đường tự hoàn thiện khác, đồng thời, nó cũng sẽ là một cuốn sách hấp dẫn đối với bất cứ ai quan tâm đến những khía cạnh xa hơn trong kinh nghiệm và tiềm năng của con người.

    Cần nói thêm rằng, trong cuốn sách này (Aghora II: Kundalini), và cả cuốn trước đó (Aghora I: Vamachara), có nhiều điều sẽ gây ngạc nhiên và sốc cho hầu hết mọi người. Việc xác định bao nhiều là “sự thật khách quan” còn bao nhiều là “sự thật chủ quan” thường không rõ ràng. Vimalananda nói rằng đối với ông, sự phân biệt này không quá quan trọng và, nếu ông định đưa ra phán xét về vấn đề này, thì “sự thật chủ quan” chắc chắn có giá trị lớn hơn. Vimalananda cũng thuộc truyền thống của các đạo sư, những người cố ý nói năng và hành xử theo cách gây sốc, và thường làm cho người quan sát kinh ngạc. Những vị thầy như vậy có thể được tìm thấy trong nhiều truyền thống của thời đại chúng ta, và bậc thầy thánh thiện của Con Đường Thứ Tư, G.I. Gurdieff là một ví dụ tuyệt vời.

    Có những Đạo Lộ hay Phương Pháp khác có nhiều điểm tương đồng với Aghora, đáng chú ý nhất là những con đường liên quan đến Kundalini và Đại Thần Mẫu trong một số tôn giáo và Truyền thống bí truyền khác. Tôi đặc biệt muốn đề cập đến các ví dụ như trường phái bí truyền cổ xưa và vẫn còn tồn tại đến ngày nay của Nữ thần Sekhmet ở Ai Cập, Hera ở Hy Lạp, Kapo ở Hawaii, Kali ở Ấn Độ, còn nhiều nữa. Mỗi truyền thống bí ẩn mạnh mẽ và chân thực này đều cung cấp những Con Đường có cường độ tương đương, đòi hỏi sự tận tâm và sùng kính đối với Đại Thần Mẫu. Mỗi truyền thống đều kiên quyết yêu cầu hệ thống thân tâm vi tế và thô sơ của hành giả phải được chuyển hóa thành những phương tiện hoặc công cụ có khả năng kinh nghiệm mà theo bất kỳ tiêu chuẩn thông thường nào cũng được coi là “siêu nhân”. Chỉ khi việc này được hoàn thành, người ta mới có thể đạt được trình độ tương tác với thần linh và các chúng sinh phi nhân khác mà Hoạt động cao cấp hơn đòi hỏi.

    Cuối cùng, tôi thấy cần phải nói rằng không biết liệu Vimalananda có phải là một người có thật hay không. Tên của ông, cùng những cái tên khác trong sách, được cho là bút danh nhằm tránh để độc giả bị phân tâm bởi những yếu tố bên ngoài. Chúng ta được biết rằng Vimalananda đã qua đời khoảng mười năm trước, vì vậy không còn chuyện tìm kiếm ông ta như nhiều người đã từng làm với một nhân vật bí ẩn khác, pháp sư Don Juan trong sách của Carlos Castenada.

    Trong cuộc trò chuyện riêng với tác giả, ông ấy khẳng định rằng Vimalananda thực sự là một người có thật và bí ẩn xung quanh danh tính của ông chủ yếu do chính gia đình Vimalananda cố ý tạo ra. Xét đến nội dung gây sốc của giáo lý, điều đó hoàn toàn dễ hiểu. Một số người có thể muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này. Hầu hết mọi người sẽ thấy việc tiếp thu những nội dung phi thường của Aghora II và các tác phẩm trước đó của nó là đủ.

    Về phần mình, tôi rất vui khi viết Lời nói đầu này ngay cả khi không có bất cứ sự chắc chắn nào có thể kiểm chứng được về Aghori Vimalananda, và bất chấp sự dè dặt cá nhân mạnh mẽ về một số thực hành được mô tả. Điều tôi biết từ nhiều năm kinh nghiệm trực tiếp là sức mạnh to lớn của con đường sùng mộ Đại Thần Mẫu và cách mà, như cuốn sách này trình bày, con đường đó khác biệt với những con đường phụ thuộc nhiều hơn vào giáo lý của con người và việc sử dụng quá nhiều vật liệu thế gian như các buổi lễ và các nghi thức. Từ kinh nghiệm cá nhân của tôi về con đường Thứ Năm của nữ thần Sekhmet, tôi nhận ra thứ mà ở đây được gọi là “Aghora” là một con đường khác, cung cấp một phương tiện thực tế và mạnh mẽ để tiết lộ chân lý và chuyển hóa hiệu quả.

    Tiến sĩ Robert Master,

    Đồng sáng lập và Giám đốc Nghiên Cứu của Tổ chức Nghiên Cứu Tâm Trí, Pomona, NY, tác giả nhiều cuốn sách: Các loại kinh nghiệm ảo giác, Hành vi tính dục bị cấm đoán và đạo đức, Nữ thần Sekhment, và nhiều cuốn khác.
  4. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    GIỚI THIỆU


    “Việc nghiên cứu triết học mà không có khát vọng giải thoát cũng giống như trang điểm cho một xác chết” – Tripura Rahasya.

    Trước đây, khi kiến thức bí truyền được giữ kín nghiêm ngặt, người tìm kiếm đường đạo thường phải kiên nhẫn chờ đợi nhiều năm trước khi được truyền dạy. Giờ đây, khi thông tin đã trở thành mặt hàng thương mại, dường như mọi loại bí mật đều trở nên dễ dàng tiếp cận đối với bất cứ ai có đủ tiền mua một cuốn sách hoặc bằng ghi âm, tuy nhiên, chỉ vì các giáo lý bí truyền giờ đây có thể được mua và dễ dàng sở hữu không có nghĩa là chúng có thể dễ dàng được hiểu. Mặc dù ngôn từ có thể được mua bán, nhưng trí tuệ sống động, thứ không thể bị giới hạn trong đó, vẫn phải được tích lũy.

    Trong số những bí mật lâu đời được giấu kín nay đang được đóng gói để bán, có cả kiến thức về Kundalini, gốc rễ mà từ đó của mọi kinh nghiệm tâm linh nảy mầm, và hầu hết các tác giả cố gắng trình bày cho thế giới kiến thức sống động này, nguồn gốc của mọi tri thức, chỉ toàn viết ra những lời lẽ khô khan. Như Heinrich Zimmer đã nhận xét: “Những điều tốt nhất không được nói, những điều tốt nhì lại bị hiểu sai”.

    Carl Jung, người đã từng thuyết trình một loại bài giảng về Kundalini cách đây nhiều thập kỷ giải thích lý do tại sao:

    Do đó, con đường Yoga hay triết lý Yoga luôn là một bí mật, nhưng không phải vì mọi người giữ bí mật. Vì ngay khi bạn giữ một bí mật, nó đã trở thành một bí mật công khai, bạn biết về nó và những người khác cũng biết về nó, thì nó không còn là bí mật nữa. Những bí mật thực sự là bí mật bởi vì không ai thực sự hiểu được chúng. Người ta thậm chí không thể nói về chúng, và những kinh nghiệm của Kundalini Yoga thuộc loại như vậy. Xu hướng giữ bí mật chỉ đơn thuần là hệ quả tự nhiên khi kinh nghiệm đó thuộc loại đặc biệt đến mức tốt hơn hết là bạn không nên nói về nó, vì bạn sẽ tự mình gây ra hiểu lầm và giải thích sai lệch lớn nhất.

    Những kinh nghiệm của Kundalini Yoga rất đặc biệt bởi vì Kundalini là nguồn gốc mọi trải nghiệm của bạn. Kundalini là năng lượng nội tại, bằng cách tự đồng nhất với quan điểm và đặc điểm tính cách của bạm tích lũy và bảo tồn bản sắc của bạn. Theo lời Jung:

    Theo giáo lý Tantra, có một thôi thúc tạo ra cá tính, một cái gì đó tập trung và tách biệt khỏi các sinh linh khác. Đó là điều được mô tả trong thuật ngữ triết học phương Tây là thôi thúc hoặc bản năng hướng tới cá nhân hóa. Bản năng cá nhân hóa hiện diện ở khắp mọi nơi trong cuộc sống, bởi vì chẳng có sự sống nào trên trái đất mà không mang tính cá nhân. Sự cá nhân hóa chỉ diễn ra khi bạn ý thức được nó, nhưng tính cá nhân luôn hiện hữu ngay từ khi bạn bắt đầu tồn tại.

    Chừng nào khát vọng cá nhân hóa còn chủ yếu hướng tới lợi ích hạn chế và tạm thời của bản thân, thì nó được gọi là ahamkara, hay tính ích kỷ, lực cho phép bạn chấp nhận thế giới như nó vốn có trên bề mặt mà không hề nghi ngờ. Lực này khi chuyển hướng khỏi những điều trần tục và hướng đến đạo học, sự vĩnh hằng và tính bất diệt thì được gọi là kundalini. Sau khi Kundalini thức tỉnh, điều bất khả là tiếp tục tin rằng thực tại bên ngoài là thực tại duy nhất. Ahamkara tạo nên con người bạn hiện tại, Kundalini biến bạn trở thành con người trong tương lai.

    Kundalini vẫn được giữ bí mật trong thời gian dài vì như Jung đã lưu ý, nó không thể được hiểu, nó chỉ có thể được kinh nghiệm. Quá trình tiến hóa tâm linh không thể được khách thể hóa và tách rời khỏi chủ thể tiến hóa, vì Kundalini hoạt động đồng thời như ý thức mô tả, như đối tượng được mô tả, và như chính sự mô tả đó. Do ngôn ngữ của loài người được tạo thành từ chủ ngữ và tân ngữ, nên các mô tả về Kundalini thường bị lệch lạc, hoặc hướng đến nhận xét khách quan về kinh nghiệm, việc này làm suy yếu nó, hoặc hướng đến mô tả chính kinh nghiệm chủ quan thô sơ, thường bị bóp méo bởi sự mất cân bằng tinh thần, căng thẳng và ảo tưởng của người kinh nghiệm.

    Trong số những tác giả có đóng góp quý giá cho văn học về Kundalini, có Sir John Woodroffe (Athur Avalon), một người Anh được thụ giới Tantra khi đang làm thẩm phán ở Ấn Độ, và Gopi Krishna, một học giả người Kashmir đã phải chịu những hậu quả khủng khiếp khi Kundalini của chính ông đã thức tỉnh trước khi biết cách đối phó. Mặc dù cả hai đều không thể truyền tải trọn vẹn những bí mật khó hiểu của Kundalini, vì ngôn từ của họ cản trở việc đó, trong những đoạn văn đầy cảm hứng, ánh sáng rạng rỡ của Kundalini lóe lên trong chốc lát, như tia chớp xuyên qua bầu trời u ám.

    Những lời giải thích này thành công, dù chỉ một phần, vì thông tin của chúng không bị tách rời khỏi ngữ cảnh. Kundalini chỉ có thể được hiểu trong bối cảnh văn hóa Ấn Độ. Nhưng kể từ thời các nhà thần học đầu tiên, hầu hết các nhà diễn giải Kundalini phương Tây, thật không mau, để đưa vào hệ thống tâm lý học riêng của họ những khái niệm mà họ tin là thuộc về Tantra, đã không ngần ngại gán cho các từ vựng Tantra những ý nghĩa thường khác biệt đáng kể so với nghĩa gốc của chúng.

    Chính Jung đã mượn khái niệm từ Kundalini Yoga, bao gồm cả khái niệm Kundalini, mà ông gọi là anima, và vì vậy ông cũng phải chịu một phần trách nhiệm cho tình trạng này. Ít nhất ông cũng thẳng thắn hơn hầu hết những kẻ xuyên tạc Kundalini:

    Để hiểu được những vấn đề này theo cách tiếp cận của phương Tây, sẽ cần rất nhiều kiến thức tâm lý học, và trừ khi chúng ta cố gắng hết sức và dám phạm nhiều sai lầm trong việc tiếp thu chúng, nếu không chúng ta sẽ bị đầu độc. Bởi vì những biểu tượng này có xu hướng bám víu dai dẳng. Chúng bằng cách nào đó nắm bắt tiềm thức và bám lấy chúng ta. Nhưng chúng là một vật thể lạ trong hệ thống của chúng ta, một thực thể xa lạ, và chúng ức chế sự phát triển tự nhiên của tâm lý chúng ta. Nó giống như một sự phát triển thứ cấp hoặc một chất độc. Do đó, người ta phải nỗ lực để làm chủ những điều này, để chống lại những biểu tượng này, nhằm tước bỏ ảnh hưởng của chúng. Có lẽ bạn không thể hiểu hết những gì tôi nói, nhưng hãy coi đó như một giả thuyết, mặc dù nó còn hơn cả một giả thuyết. Đó là một sự thật. Tôi đã thấy quá nhiều lần ảnh hưởng của chúng nguy hiểm đến mức nào.

    Bác bỏ nhưng khái niệm mà “chúng ta không cần” để mô tả hệ thống về mặt tâm lý học những kinh nghiệm của phương Tây với tiềm thức, Jung đã lý giải như sau:

    Chúng ta chỉ có thể hiểu được quan điểm của họ về thế giới khi chúng ta cố gắng hiểu nó theo cách hiểu của riêng mình. Vi vậy, tôi cố gắng tiếp cận nó từ góc độ tâm lý học. Xin lỗi vì đã làm bạn hoang mang, nhưng bạn sẽ còn hoang mang hơn nếu hiểu những điều này theo nghĩa đen (tốt hơn hết là bạn không nên). Nếu suy nghĩ theo cách này, bạn sẽ xây dựng một hệ thống Hindu giả tạo với tâm lý học phương Tây, và bạn không thể làm điều đó. Bạn chỉ đang tự đầu độc chính mình!

    Có lẽ những người nỗ lực hết mình và dám phạm nhiều sai lầm để tiếp thu các khái niệm từ Kundalini Yoga vào tâm lý học đại chúng đã tránh được số phận của nhiều người phương Tây đã tự đầu độc mình bằng cách khoác lên tâm trí mình những bộ trang phục Ấn Độ. Tuy nhiên, trong khi những bản sao của Kundalini Yoga có thể hoạt động đủ tốt trong thế giới bên ngoài của thực tại đồng thuận để trở thành những công cụ tâm lý hữu ích, chúng không thể thay thế cho ngôn ngữ nguyên bản khi đi vào sự phát triển tâm linh. Điều này đặc biệt đúng đối với những người, do chủ ý hay vô tình, đã vượt qua một số rào cản ngăn cách thực tại khách quan với thực tại chủ quan và sống cuộc sống mà thực tại thức tỉnh và thực tại biểu tượng cạnh tranh với nhau để giành lấy sự chú ý. Những cá nhân như vậy có nguy cơ bị mắc kẹt trên một đại dương vô định trong một con thuyền khái niệm thủng lỗ chỗ nếu họ cố gắng chỉ dựa vào tâm lý học để đựa họ an toàn vào bờ.

    Sử thức tỉnh về thực tại phi vật chất ở một người thiếu chuẩn bị đầy đủ thường dẫn đến một cuộc khủng hoảng cá nhân, những người như vậy có thể trông có vẻ điên rồ, thường bị cho là điên rồ, và đôi khi tin rằng chính họ cũng đang phát điên, tất cả chỉ vì họ không còn chấp nhận một cách vô điều kiện thực tại “tiêu chuẩn” của chúng ta nữa. Tất nhiên, hầu hết nhuẽng người mất liên lạc với thực tại hàng ngày đều thực sự là điên rồ, nhưng trong một số lượng đáng kể các trường hợp, nguyên nhân là do khủng hoảng tinh thần.

    Tiên tri Ezekiel từng nghe một giọng nói thần thánh bảo ông ngủ nghiêng về bên phải trong 390 đêm, rồi chuyển sang ngủ nghiêng bên trái thêm 40 đêm nữa (Ezekiel 4:4-6). Trừ khi bạn biết, như những người tu luyện Yoga, rằng tư thế ngủ có ảnh hưởng sâu sắc đến sinh lý và ý thức của bạn, nếu không bạn sẽ đồng ý với tạp chí Time rằng Ezekiel và thánh Teresa Avila, những người cùng nghe thấy tiếng nói giống như Ezekiel, đều mắc chứng tâm thần phân liệt. Trên thực tế, rất có thể họ được truyền cảm hứng bởi một thực tại mà những người chưa giác ngộ không hề biết đến.

    Sự thức tỉnh tâm linh thay đổi vĩnh viễn cách một cá nhân trải nghiệm thế giới, bởi vì sau khi cơn khủng hoảng ban đầu qua đi, người ta nhận ra rằng không có cách nào quay trở lại trạng thái tâm lý thoải mái trước đây. Một khi đã được đánh thức và giải phóng, Kundalini không thể “bị đánh thức lại”, con quỷ sẽ không thể bị nhốt trở lại vào trong cái chai. “Sau khi thức tỉnh, người sùng đạo luôn sống tùy thuộc vào Kundalini”, Pan*** Gopi Krishna, người đã trải qua nhiều con khủng hoảng mà trong đó tốc độ, sự bất cần và uy quyền từ sức mạnh mà ông đã giải phóng khiến ông kinh hãi, cho biết. Sức mạnh gây ra nỗi kinh hoàng đó, khiến ông phải đối mặt mà không có sự giúp đỡ của bất cứ người hướng dẫn nào, có thể gây kinh sợ hoặc làm tê liệt bất kỳ ai đánh thức Kundalini mà không được chỉ dẫn đúng đắn.

    Chừng nào Kundalini còn nằm trong phạm vi tâm lý học, tính khách quan tương đối của chúng ta có thể bảo vệ mình khỏi ảnh hưởng của sự tồn tại mang tính biểu tượng. Tuy nhiên, một khi bước vào thực tại chủ quan, lĩnh vực mà các biểu tượng “bám víu”, chúng ta sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào chúng trừ khi ta được dạy cách đối phó với chúng. Những hành giả Kundalini mà không biết đích đến của mình sẽ có nguy cơ lạc lối. Kết quả có thể là “lạm phát cái tôi”, xảy ra khi nhân cách hạn chế của một người vẫn còn nguyên vẹn sau khủng hoảng cá nhân và cá nhân đó “tự cho mình sở hữu hào quang của thế giới nguyên mẫu”, hoặc “giảm phát cái tôi”, nếu sự thức tỉnh gây gián đoạn hoàn toàn sự hòa nhập bản thân và làm méo mó hình ảnh bản thân của người đó.

    Các học giả Ấn Độ trong hàng nghìn năm đã nỗ lực hoàn thiện những phương pháp dễ sử dụng để phát triển tâm linh, khi được thực hiện đúng cách sẽ chuẩn bị và hướng dẫn cá nhân trải qua quá trình cá nhân hóa mà không gây ra các hậu quả khủng khiếp. Mỗi phương pháp này đều khơi dậy sức mạnh tiến hóa vốn có trong mỗi cá nhân, nhưng sức mạnh này chỉ xuất hiện dưới dạng Kundalini trong một hệ thống duy nhất: truyền thống Tantra. Bất cứ ai muốn hiểu Kundalini đúng nghĩa, trước tiên phải nắm vững Tantra.

    Mặc dù trong nhiều thế lỷ, Tantra đã bị những người chính thống và bảo thủ ở Ấn Độ chỉ trích, nhưng nó không phải là một tôn giáo hưởng lạc giác quan, dạy về việc thỏa mãn tức thời những ham muốn của con người. Một người theo Tantra chân chính sẽ tin vào chân lý và thực tại, và vào việc đối mặt với thực tế, điều đầu tiên và quan trọng nhất trên thực tế rằng chúng ta đều là một phần của vũ trụ biểu thị, tuân theo cách quy luật của nó cho đến khi chúng ta phát triển khả năng định nghĩa lại bản thân theo những thuật ngữ khác. Một người theo Tantra hướng đến việc trở thành svatantra (tự vận hành), để được giải thoát khỏi mọi giới hạn, đặc biệt là những giới hạn của chính cá tính bản thân.

    Tantra không phải là môn học ở trường, còn các văn bản Tantra cũng không phải là sách hướng dẫn thực hành, vì Tantra không phải là kiến thức sách vở, đó là trí tuệ sống động cần được tiếp thu trực tiếp từ một hành giả giàu kinh nghiệm. Một người hướng dẫn giỏi, một vị guru đã từng đi trên con đường này và biết hết mọi khó khăn, là vô cùng cần thiết nếu muốn theo đuổi con đường Tantra và đánh thức Kundalini mà không gặp tai họa, một vị thầy không đủ năng lực hoặc thiếu hiểu biết còn tệ hơn là không có vị thầy nào cả.

    Một chuyên gia như vậy, Aghori Vimalananda, đã dạy những gì tôi biết về Kundalini. Cách nhìn nhận thế giới độc đáo của ông được phát triển nhờ vào sự thức tỉnh Kundalini của chính ông thông qua một nghi lễ lúc nửa đêm trên một xác chết. Khi Kundalini thức tỉnh trong ông, nó hiện thân thành nữ thần mật giáo Smashan Tara, nữ thần của bãi hỏa táng, đấng cho phép người vượt từ thực tại của sự sống sang thực tại của cái chết. Smashan Tara, “vị cứu tinh của nghĩa địa”, đã giúp Vimalananda vượt qua từ ý thức thông thường của ông vào những trạng thái mà ông có thể nhận biết thực tại từ một góc nhìn khác. Những kinh nghiệm của ông vào thời điểm thức tỉnh này và sau đó được thuật lại trong cuốn sách của tôi, Aghora I: Vamachara, bên tay trái của Thượng Đế.
  5. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Aghora đã tóm tắt những con đường mà một Aghori đi theo trong cuộc hành trình của mình từ bóng tối của tồn tại trần tục không được suy xét kỹ lưỡng tới ánh sáng của cõi thiên đàng, trong khi vẫn duy trì nhận thức về cả hai. Aghora là một loại siêu Tantra, trong đó mọi giới hạn đều được loại bỏ. Aghora là Con đường của Bóng tối, “bóng tối” ở đây là tất cả những khía cạnh trong cuộc sống cho phép chúng ta tồn tại như những cá nhân độc lập bằng cách hy sinh những sinh linh khác. Chúng ta chỉ có thể biết được ánh sáng của lòng vị tha khi đã biết đến bóng tối của tính ích kỷ, chỉ sau khi vượt qua Thung lũng Bóng tối của Cái chết, chúng ta mới học được cách sống. Các Aghori là những nhà thám hiểm tâm linh, họ đi sâu vào bóng tối của những ảo tưởng cá nhân để tìm đường đến tự do đích thực. Con đường tâm linh của họ không phải là một kinh nghiệm “ngọt ngào và tươi sáng” yếu ớt, một Aghori phải “cứng như kim cương và mềm như sáp” tùy theo hoàn cảnh. Chỉ sau khi những ràng buộc của bản ngã bị nghiền nát thành nước ép, bạn mới có thể tạo ra thứ rượu ngọt của trí tuệ tinh thần.

    Các Aghori chơi trò chơi cuộc đời với sự tỉnh táo tuyệt đối, hoàn toàn ý thức được những rủi ro đã đặt ra. Không có phương tiện nào dẫn đến sự thức tỉnh là quá ghê tởm hay đáng sợ đối với họ, vị họ tôn thờ cái chết, Đấng Đại Chuyển Hóa. Aghora theo nghĩa đen có nghĩa là “không đáng sợ”, một Aghori đón nhận những kinh nghiệm đáng sợ nhất có thể rồi biến chúng thành lòng sùng mộ đối với thực tại. Truyền thống dạy rằng các Aghori tìm kiếm Thượng Đế ở những bãi hỏa táng, nơi cái chết luôn hiện hữu, nhưng một Aghori tốt nhìn thấy toàn thể thế giới như một phiên hỏa táng rộng lớn đang diễn ra. Aghori nhân cách hóa và thần thánh hóa cái chết, chọn một khía cạnh của Thực Tại Phổ Quát này làm niềm yêu dấu của họ và tôn thờ vị thần này với một tình yêu mãnh liệt và bao trùm. Mỗi ngày đối với Vimalananda là một ngày chơi đùa với vũ trụ, người yêu của ông, và ông không bao giờ mệt mỏi với những trò chơi mà những người yêu nhau thường chơi, bởi vì những trò chơi đó đưa ông đến gần hơn với người yêu của mình.

    Bởi vì khi nữ thần Kundalini thức tỉnh trong ông, người có hình dạng và tính cách mà ông có thể tương tác, Kundalini đã giúp Vimalananda tránh khỏi nỗi đau khổ mà người đã gây ra cho Pan*** Gopi Krishna. Nếu ngài Pan*** tập trung vào một vị thần hoặc nữ thần thay vì một đóa sen, có lẽ ông cũng đã tìm được một nơi nương náu khi bão tố nổi lên. Đối với Vimalananda, Kundalini không phải là một sức mạnh hoang dã khó nắm bắt, tùy tiện xô đẩy ông, đó là người mẹ kính yêu mà ông nương tựa, cho phép bảo vệ ông khỏi mọi nguy hiểm bằng sức mạnh không thể cưỡng lại.

    Vimalananda luôn ưu tiên con đường thờ phụng Thượng Đế hữu hình hơn là con đường thờ phụng Đấng Tuyệt Đối phi cá nhân vô hình. Đối với ông, biểu hiện cao nhất của thần thánh là tình mẫu tử của Thượng Đế, đấng tôn thượng che chở và yêu thương con cái của mình bất kể chúng phạm sai lầm gì. Thái độ này đối với ông là tốt nhất trong mọi thái độ có thể có khi đối phó với Kundalini, bởi vì một khi bạn bước vào mối quan hệ mẫu tử như vậy, mọi nỗi sợ hãi về sự tổn hại bởi năng lượng đều biến mất. Ngoài ra, như ông thường nói, “Bhakti là Shakti”: năng lượng (shakti) mà bạn đưa vào lòng sùng kính (bhakti) đối với hình dạng của Thượng Đế mà bạn lựa chọn sẽ được vũ trụ nhân từ khuếch đại trở lại gấp bội. Khi lòng sùng kính lớn mạnh, sức mạnh cá nhận của bạn cũng vậy, và bạn ít có khả năng lạm dụng nó hơn vì tất cả những gì bạn nghĩ đến là đấng kính yêu.

    Nỗi khắc khoải được thấy linh ảnh của Đấng Kính Yêu của một Aghori mãnh liệt đến nỗi không có phương tiện nào là quá cực đoan để đạt được điều đó. Cơn cuồng nộ linh thiêng này, một dạng tìm kiếm cảm giác mạnh mang tính vũ trụ, là dấu ấn đặc trưng của Aghori. “Các Aghori luôn làm mọi thứ thái quá”, như Vimalananda thường nói, và Aghori ghi lại cách ông thường xuyên làm mọi việc thái quá trong cuộc đời mình. Bị chế ngự bởi khát vọng về Đấng Kính Yêu, ông thờ phụng bằng mọi thành phần và chất liệu, giao du với mọi loài sinh linh siêu nhiên,mọi nghi lễ của ông, thông qua sự biến đổi Tantra, đều trở thành những lễ vật dâng lên thần thánh.

    Lĩnh vực hoạt động của Aghora không chỉ giới hạn ở những thực hành hấp dẫn hay đáng sợ. Aghora là con đường của sự tự phát, mọi hành động phải được thực hiện vào thời điểm thích hợp nhất và phải phù hợp với bối cảnh mà nó được thực hiện. Đối với một Aghori, thờ phụng là thờ phụng, dù ở trong đền thờ hay nghĩa trang, với việc từ bỏ mọi lợi ích cá nhân ngoại trừ khát vọng duy nhất là đạt tới Đấng Kính Yêu, một Aghora có thể đón nhận với tình yêu và lòng biết ơn với mọi thứ mà Thượng Đế ban tặng, cả hạnh phúc lẫn đau khổ, và biến mọi trải nghiệm, thậm chí cả việc đi vệ sinh, thành một hành động thờ phụng đấng Tuyệt Đối. Mọi thứ mà một Aghori chạm vào, dù khao khát hay khinh bỉ, sạch sẽ hay ô uế, vị đó đều kéo từ ngoại vi kinh nghiệm của mình vào sự thanh tịnh của trung tâm để giúp phát triển “khối lượng tới hạn” cần thiết để khơi dậy và duy trì “phản ứng dây chuyền tâm linh”.

    Vimalananda là một người hành động, cả “tay phải” và “tay trái”, và không mấy quan tâm đến quan điểm học thuật về việc cái gì có thể hoặc không thể được phân loại là Aghora. Ông chấp nhận giáo lý khi nó phù hợp với mục đích của mình, đồng thời luôn giữ quyền cải cách bất cứ khi nào cần thiết. Nhiều hệ thống triết học đã đến và đi ở Ấn Độ qua các thời đại, nhưng những suối nguồn tâm linh mà chúng nảy sinh vẫn tiếp tục tuôn chảy. Truyền thống tâm linh Ấn Độ, đặc biệt là Tantra, luôn dao động giữa hai bờ lý thuyết và thực hành. Lý thuyết liên tục điều chỉnh thực hành, còn thực hành không ngừng sửa đổi lý thuyết. Các nhà thần học dựng lên và hợp pháp hóa những ngọn núi giáo điều, trong khi những người bài trừ thần tượng lại phá bỏ chúng bằng những cách giải thích riêng của họ, nhưng dị giáo của ngày hôm qua là những giáo điều chính thống của ngày hôm nay.

    Ấn Độ đương đại đầy rẫy những cá nhân và giáo pháo đang nỗ lực hợp thức hóa hệ thống triết học, vũ trụ học và kỹ thuật độc dao của riêng họ bằng cách đồng hóa các hệ thống đó vào dòng chính của truyền thống Veda, hay Shiva giáo của Kashmir, hoặc bất cứ tên gọi nào khác, trong khi một số cá nhân và giáo phái khác, thường lại, nghịch lý thay, tránh xa những định nghĩa tôn giáo tiêu chuẩn hóa như vậy, gọi chúng là những hư cấu tiện dụng, hạn chế và hây hiểu lầm. Họ cho rằng hoàn cảnh hiện đại (thời gian, địa điểm, con người) quá khác biệt để có thể phục hồi hoặc hồi sinh chính xác những truyền thống cổ xưa, khẳng định rằng điều cần được hồi sinh trong một hệ thống là ngọn lửa mang lại sự sống cho nó, chứ không phải hình thức bên ngoài.

    Về phần mình, Vimalananda vui vẻ kết hợp nhiều lý thuyết và thực hành dương như mâu thuẫn và Aghora của ông, viện dẫn văn bản cổ dạy rằng chỉ những người lạc đường mới tranh luận về chân lý, vì “có mệnh đề nào mà người uyên bác không thể bảo vệ”? Mặc dù được giáo dục cao, kiến thức của Vimalananda về các văn bản tiếng Phạn khá khiêm tốn, ông không biết cũng không quan tâm nhiều về văn học Tantra bằng tiếng Gujarati, Hindi hay bản dịch tiếng Anh, những ngôn ngữ mà ông thông thạo. Sách giáo khoa của ông chính là cuộc sống, ông có thể đọc được từ đo những ý nghĩa mà chỉ những ai biết ngôn ngữ bí mật của tâm linh mới có thể tiếp cận được.

    Tuy tự gọi mình là một Aghori, nhưng sự khinh miệt của Vimalananda đối với tôn giáo có tổ chức đã khiến ông xa rời mọi dòng truyền thừa Aghori được công nhận, mà ông cũng không gọi những người thầy của mình là Aghori (có lẽ họ cũng không tự mô tả mình như vậy). Ông thích đi theo con đường riêng của mình hơn:

    Tôi chưa bao giờ tin vào tôn giáo. Tất cả các tôn giáo đều có giới hạn vì chúng chỉ tập trung vào một khía cạnh của chân lý. Đó là lý do tại sao chúng luôn tranh giành lẫn nhau, vởi vì tất cả đều nghĩ rằng mình nắm giữ chân lý duy nhất. Tuy nhiên tôi nói rằng tri thức là vô hạn, vì vậy chẳng có ích gì khi cố gắng giới hạn nó trong một cuốn kinh, một quyển sách thiêng hay một kinh nghiệm nào cả. Đó là nguyên nhân tại sao khi mọi người hỏi tôi theo tôn giáo nào, tôi nói: “Tôi không tin vào Sampradaya (giáo phái), mà tôi tin vào Sampradaha (sự thiêu đốt). Hãy thiêu trụi mọi thứ cản trở nhận thức của bạn về chân lý”.

    Ít nhất về điểm này, ông đồng ý với Jung, người từng nhận xét rằng: “Chức năng của tôn giáo là phòng ngừa chúng ta khỏi một kinh nghiệm về Thượng Đế”. Vimalananda là một Aghori phá bỏ quá mức những quy tắc truyền thống, và quá quyết tâm nhận thức thực tại để có thể bị giam cầm trong giáo điều, Aghora của ông là một tôn giáo của ý thức, những giáo lý của nó không được khắc trên bia đá mà được khắc sâu trong tim của hành giả, người phải sử dụng chúng để tạo ra một hệ thống cá nhân, từ đó tạo nên chỗ đứng tâm linh riêng của mình.

    Hiện nay và trước đây chưa có nhiều Aghori ở nước ngoài và trên thế giới, mà Vimalananda cũng không tạo ra nhiều người như vậy. Ông thường nhanh chóng nói với hầu hết mọi người: “Hãy làm theo lời tôi, chứ đừng làm theo những gì tôi làm” và không bao giờ cho phép bất cứ ai bắt chước ông mù quáng, bởi vì chỉ những ai đủ trình độ ăn cam lộ bất tử từ trong não mới có thể chuyển hóa được thành tiến bộ tinh thần từ chế độ ăn như vậy. Ông chưa bao giờ nghĩ ra bất kỳ hệ thống thực hành tâm linh nào để thế giới ngưỡng mộ noi theo. Sau khi đánh giá cẩn thận từng cá nhân đến với mình, ông sẽ dạy những bài học nhất định, trực tiếp hoặc gián tiến, hoặc ông sẽ không dạy gì cả, tùy thuộc vào nhận thức của ông về mối liên hệ nghiệp quả với người đó, cùng với sự phù hợp cũng như năng khiến của người đó đối với các kỷ luật tinh thần. Ông không bao giờ ngần ngại thách thức những giả định của bất cứ ai về tâm linh và kỷ luật yoga, không ngại là mất lòng người khác nếu ông nghĩ việc đó có thể đánh thức họ khỏi giấc ngủ say sưa.

    Vimalananda muốn quan điểm của mình được lan truyền đến bất cứ ai sẵn lòng nghe vì ông cảm nhận sâu sắc nỗi khổi trước sự trống rỗng của thế giới hiện đại, nơi mà Mammon (thần tiền bạc) được tôn thờ và tôn giáo thống trọng là một nền khoa học kiêu ngạo, vô cảm, dường như chỉ muốn kìm hãm những gì mà nhân tính còn sót lại trong chúng ta. Khi xã hội tan rã và ý nghĩa cuộc sống biến mất, con người thường rơi vào tuyệt vọng hoặc quay trở về nguồn cội. Chúng ta ở phương Tây đã tự tách rời khỏi nguồn cội của mình trong nhiều năm, giờ đây, gần như không còn gốc rễ, chúng ta đang chết dần vì thiếu thốn dưỡng chất văn hóa.

    Một số người phương Tây tìm cách sống không cần gốc rễ, theo kiểu thủy cảnh, thông qua chủ nghĩa vị lai, trong khi những người khác cố gắng tái tạo quá khứ thông qua phòng trào nam giới, thờ phụng Nữ thần, chủ nghĩa hướng Châu Phi, và những thứ tương tự. Còn những người khác tìm kiếm cội nguồn trong những nền văn hóa vẫn tồn tại như Ấn Độ, thổ dân châu Mỹ, Tây Tạng, hoặc Trung Hoa, như thể bằng cách khoác lên mình diện mạo đó, họ có thể đồng hóa lối sống của mình. Tuy nhiên, chúng ta đã trở nên quá hời hợt đến nỗi ít người trong chúng ta biết cách đào sâu vào những nền văn hóa mà mình muốn bắt chước để tìm ra cội nguồn của chúng, và do vậy, như Jung đã lo sợ, chúng ta tự đầu độc chính mình.
  6. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Vimalananda không tin rằng các phòng trào tâm linh quần chúng có thể cứu rỗi chúng ta, cũng như ông không tin tưởng vào các chương trình xã hội, hoạt động phúc lợi hay đạo đức cưỡng chế để giải cứu chúng ta, bởi vì tất cả những giải pháp đó đều hời hợt, chúng chỉ thay đổi vẻ bề ngoài chứ không phải bản chất bên trong. Ông tin rằng sự thay đổi thực sự chỉ có thể đến từ những cá nhân đủ dũng cảm để xem xét lại toàn bộ những giả định về thực tại của mình và thay đổi những điều cần phải thay đổi. Vô số quan niệm sai lầm về đạo học đang lan tràn trong thế giới hiện đại khiến những lời dạy của ông về Kundalini trở nên quý giá đối với tất cả những ai đang cố gắng theo đuổi con đường tâm linh. Trước khi qua đời, Vimalananda đã giao cho tôi trách nhiệm trình bày những suy tư của ông cho những ai sẵn sàng lắng nghe, không chỉ để sắp xếp kiến thức của riêng tôi, trau dồi hiểu biết và thể hiện khả năng sáng tạo của bản thân, mà con để hướng dẫn người khác. Ông cũng muốn tôi có một thứ gì đó chắc chắn để nhớ về ông, để bất cứ khi nào muốn được ở bên ông một lần nữa, tôi chỉ cần mở cuốn sách ra.

    Giống như những bậc thầy vĩ đại khác, Vimalananda là một thiên tài trong việc luôn đúng, cũng như sở hữu khả năng xuất sắc trong việc truyền đạt kiến thức cho những người xung quanh, thường là vào lúc họ ít ngờ tới nhất, thông qua một góc nhìn độc đáo, kết hợp lý thuyết với giai thoại hoặc để giai thoại hé lộ lý thuyết. Vẻ lịch thiệp và khiếu hài hước sẵn có của ông cho thấy tài năng bậc thầy trong việc ứng xử với thế giới, điều thường che giấu một nét sắc sảo phi thường. Ông không bao giờ ngại lên tiếng, đôi khi có vẻ kiêu ngạo, khắc nghiệt, hay chỉ trích, bao thủ, tự phụ và sẵn sàng đưa ra những định kiến, nhưng đôi khi lời nói của ông lại tràn đầy ngọt ngào, lòng trắc ẩn, tình yêu, sự tận tâm, tầm nhìn xa và chú ý đến từng chi tiết. Trong các quan điểm và góc nhìn thường khác kỳ lạ của mình, ông luôn dứt khoát và không lay chuyển, điều này mang lại cho ông cả niềm kính sợ và lòng tôn trọng, cùng với một danh tiếng khác như thiên tài, lập dị và người thông thái như một vị thần. Dù là gì đi nữa, Vimalananda luôn chân thật, trung thực với chính mình và linh ảnh của bản thân về thực tại, khuyến khích bất của ai không chịu nổi sự nóng này của ông hãy rời khỏi “căn bếp”.

    Những ai tin rằng thực tại chỉ giới hạn trong phạm vi cảm thụ của giác quan sẽ hỏi: “Liệu tất cả những sự kiện được Vimalananda mô tả có thực sự xảy ra theo ý nghĩa bên ngoài của thực tại chung mà chúng ta cùng biết, hay chúng chỉ xảy ra trong ý thức cá nhân của ông ấy?” Tốt hơn hết là họ nên tự hỏi mình câu này, vì ít người nhận ra thực tại của họ bị thao túng đến mức nào. Ngày nay, các phương tiện truyền thông đại chúng hàng ngày tổng hợp những hiện tượng kỳ diệu để làm chúng ta kinh ngạc, nhằm mục đích thao túng cảm xúc chúng ta. Những hình ảnh này có thật hay không? Với sự trỗi dậy của thực tế ảo do máy tính tạo ra, chẳng bao lâu nữa ta sẽ thực sự không thể tin vào mắt và tai mình, liệu chúng ta có còn dám dựa vào sự thật khách quan của nhận thức giác quan nữa không?

    Một trong những lập luận chính chống lại thực tại chủ quan là vì nó không có hình thái vật chất nên chỉ tồn tại trong chốc lát. Điều này chắc chắn đúng, ít nhất trên bề mặt (nơi mà thực tại khách quan hoạt động). Nhưng bên dưới bề mặt, chính thực tại khách quan mới là thứ không bền vững, trong khi thực tại của ý tưởng, ký ức, và suy ngẫm thì trường tồn mãi. Chân lý này thường được chứng minh với tôi ở Ấn Độ, nơi người ta khi chỉ đường thường nhắc tới những địa điểm đã bị phá hủy nhiều năm trước. Rõ ràng, thực tại phi vật chất của một công trình có thể tồn tại rất lâu sau khi hình dạng vật chất của nó biến mất.

    Mặc dù mọi sinh vật cuối cùng đều mất đi sự tồn tại thể xác nhưng chúng vẫn tiếp tục sống trong trái tim của những người nhớ đến chúng. Một số sống mãi trong ký ức qua nhiều thế hệ, một số khác, sẽ sống và tiếp tục biến đổi cuộc sống con người mãi. Những vị thần khác, như các vị nam nữ thần của Ấn Độ, được nhớ đến ngay cả khi họ chưa từng sống trong thân xác vật chất. Họ có thật không? Ở Ấn Độ, chúng tôi tin rằng họ có thật hơn cả con người, mặc dù sự tồn tại của họ có thể không được chứng minh bằng các phương pháp khoa học vật chất chấp nhận.

    Không thể nói liệu những hành động mà Vimalananda kể lại có thực sự xảy ra trong thế giới vật chất hay không, bởi vì Ấn Độ thực sự là một đất nước bí ẩn và những điều kỳ lạ vẫn thường xảy ra ở đó. Nhiều người quen biết Vimalananda đã kinh qua những điều bất thường khi ở gần ông, hầu hết họ đều cho rằng những hiện tượng đó là do ông gây ra, trong khi ông lại cho rằng đó là do Đại Nữ Thần: “Tôi nói như thể tôi làm những việc này nhưng thực tế tôi chẳng làm được gì. Chỉ Thánh Mẫu mới có thể làm được, người làm tất cả. Đây là nền tảng cho tất cả sự tự tin của tôi vào khả năng của bản thân. Tôi có khả năng gì không? Tất cả đều đến từ Thánh Mẫu”. Vimalananda là một nghệ sĩ của ý thức, chỉ cần biết rằng những kinh nghiệm của ông vô cùng chân thực và đúng với ông, chúng có thể chân thực và đúng với bất cứ ai cởi mở với khả năng đó. Mỗi lần đọc lại một sự kiện trong đời ông, nó đột nhiên trở nên sống động trở lại với tôi, bất kể nó đã xảy ra từ bao lâu rồi, và Vimalananda tiếp tục sống trong tâm trí tôi.

    Vimalananda đã bị thuyết phục bởi các thí nghiệm của mình, cũng như một số nhà vật lý hiện đại đã bị thuyết phục bởi các thí nghiệm của họ, rằng thực ra không thể nói về thực tại khách quan mà không cần đến sự hỗ trợ của một người quan sát chủ quan, một “người biết” mà sự quan sát của người đó làm thay đổi thực tại được quan sát một cách không thể đảo ngược. Sự thay đổi trong nhận thức cho pháp các Aghori biết rằng người biết, đối tượng được biết, và quá trình biết là một, và cùng một Thực tại, cho phép họ cảm nhận được những hiện tượng kỳ diệu, dù rõ ràng với người khác hay không. Các Aghori tự kiểm soát suy nghĩ và cảm xúc của mình để họ có thể tận hưởng tốt hơn thực tại mà họ khao khát: sự hiện diện của đấng Kính Yêu.

    Vì ý thức con người cần có các đối tượng, cuốn sách này nói về Kundalini như thể nàng có thể được xem xét độc lập với cá nhân mà nàng tồn tại. Kundalini không thể được khách thể hóa, nhưng cho đến khi nàng được đánh thức trong một cá nhân, nàng chỉ tồn tại đối với người đó như một khái niệm, do vậy nàng có thể được khách thể hóa tương đối. Khi nàng thức tỉnh, sự khách thể hóa tương đối này dần được chuyển đổi thành chủ thể hóa tương đối, cho đến khi Kundalini được đánh thức hoàn toàn, người ta chuyển hoàn toàn sang ý thức chủ quan, và các mô tả mất đi tính hữu dụng của chúng.

    Đây là một trong những lý do khiến Vimalananda thích giao tiếp với mọi người riêng lẻ và không bao giờ diễn thuyết trước công chúng. Khi gặp ai đó, ông sẽ dùng lười nói để diễn đạt phần khách quan của điều mình muốn truyền đạt, rồi diễn đạt phần chủ quan bằng những phương tiện khác. Vì ý thức mỗi cá nhân được tạo thành từ một tỷ lệ nhất định giữa nhận thức chủ quan và khách quan, nên người được nhắm đến thường sẽ hiểu được thông điệp, trong khi những người khác cùng phòng có thể bỏ lỡ hoàn toàn điều đó. Tôi đã cố gắng chọn lọc từ rất nhiều thông điệp khách quan hướng đến tôi trong những năm qua, những thông điệp đủ tổng quát để có ích cho những độc giả không quen biết cả hai chúng tôi, và cố gắng biên soạn chúng theo cách cho phép một số thông điệp chủ quan của ông ấy cũng được truyền tải.

    Vimalananda khăng khăng giữ kín danh tính trong những cuốn sách này bởi vì càng ít người biết về những chi tiết bên ngoài cuộc đời ông thì họ càng ít bị phân tâm khỏi điều ông muốn họ thấy: những chi tiết bên trong. Sự ẩn danh bảo vệ thông điệp của ông, câu chuyển chủ quan về cuộc đời ông, khỏi bất kỳ sự soi mói nào của giới học giả về những chi tiết khách quan. Là một diễn viên tài ba, ông đã biên soạn những lời dạy của mình trong cuốn sách cuộc đời, bằng hành động hơn là lời nói, mỗi hành động của ông đều là một tuyên bố được suy nghĩ kỹ càng trong các chương của câu chuyện đời mình. Mặc dù ông kiên quyết giữ kín danh tính cả cho bản thân và cho các thầy mình, nhưng cái tên Vimalananda không hoàn toàn là bút danh, ông thỉnh thoảng sử dụng nó khi còn trẻ. Nó có nghĩa là “con trai của Vimala” (tên mẹ ông là Vimala) và “người có hạnh phúc không tì vết”. Trải qua mọi thăng trầm cuộc đời, trong những ngày buồn khổ hay hân hoan, niềm hạnh phúc của Vimalananda luôn không tì vết, bởi vì ông là một Aghori chân chính, luôn say đắm trong tình yêu dành cho Thượng Đế.

    Trong quá trình vật lộn với cuốn Aghora, tôi nhận ra rằng không một góc nhìn nào có thể phản ánh chính xác Vimalananda, vì vậy tôi quyết định sử dụng ba góc nhìn. Trong Aghora, Vimalananda tự kể câu chuyện của mình một cách chủ quan, trình bày cuộc đời và sự nghiệp bằng chính lời lẽ của ông, giống như cách ông đã nói với tôi, người ghi chép lại những suy nghĩ của ông. Trong cuốn sách này, ông xuất hiện giống như cách tôi đã nhìn nhận và khách thể hóa ông, còn trong tập thứ ba sẽ xuất hiện hình ảnh người nghệ sĩ Vimalananda, người luôn miệt mài làm việc trong xưởng vẽ của thế giới xung quanh ông.

    Cuốn sách này chủ yếu đề cập đến cách tiếp cận của Vimalananda đối với các chi tiết của Tantra, như đã được trình bày trong lời giới thiệu của Aghora, có ba nhân vật chính: vị thầy (Vimalananda), học trò (tôi), và giáo lý. Phần lớn nội dung là đối thoại, hay đúng hơn là tam thoại, vì giáo lý có giọng điệu riêng của nó. Trí tuệ sống động không thể bị giới hạn trong ngôn từ, như nó có thể được gợi ý thông qua các tình huống, giống như một đặc điểm cụ thể của phong cảnh không mấy nổi bật thường có thể được nhận ra bằng cách lần theo con đường được chỉ ra bởi một ngón tay. Bất cứ ai “nghe” được ý nghĩa sâu xa trong lời của Vimalananda đều có thể “nhìn thấy” ý nghĩa bên trong của chúng.
  7. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    AGNI

    Khi gặp Vimalananda, tôi đã sống ở thành phố Pune hơn một năm, nghiên cứu Ayurveda, hệ thống y học cổ truyền của Ấn Độ, và yoga. Tôi có những khát vọng tâm linh nhưng dù được các bậc thánh hướng dẫn, tôi vẫn không thực sự biết mục tiêu con đường đạo của mình là gì. Tuy nhiên, tôi vẫn cần mẫn dành nhiều giờ mỗi ngày cho các tư thế và bài tập thở, kinh sách, hương trầm và thiền định trong khi chờ đợi sốt ruột điều gì đó xảy ra.

    Để trang trải chi phí học tập, tôi đã tham gia cuộc thi và giành được một khoản tài trợ để viết báo cáo về cách thực thực hành Ayurveda ở Pune. Tôi đã phỏng vấn các bác sĩ thuộc mọi chuyên khoa trong khu vực cho mục đích này, và một ngày nọ, giáo sư tiếng Phạn của tôi, người đã giúp tôi tìm kiếm các đối tượng phỏng vấn, thông báo rằng ông đã tìm thấy một bác sĩ rất khác thường, người này cũng là một hành giả Tantra, đồng thời cũng là chủ sở hữu ngựa đua, đáng được gặp gỡ.

    Tôi đón nhận tin này với thái độ thận trọng, vì đã được cảnh báo về những nguy hiểm tiềm ẩn trong Tantra. Nhưng vì nhiệm vụ của tôi là thu thập thông tin từ nhiều tầng lớp thầy thuốc và nhà trị liệu khác nhau, chắc chắn tôi cần ít nhất một người theo Tantra, bởi vì nhiều phương thuốc Ayurveda thông dụng ngày nay có nguồn gốc trực tiếp từ thuật giả kim Tantra, còn Tantra giống như Ayurveda có nguồn gốc từ Atharvaveda.

    Lúc đó, Vimalananda đang ở cùng một gia đình kiều dân Ba Tư, chỉ cách nhà tôi vài dãy phố. Lần đầu tiên tôi đến gặp thì ông đã tới trường đua ngựa, nơi con ngựa cái già mà ông mới mua đang chạy. Khi quay lại để gặp vào cuối ngày, tôi thấy vẻ mặt rạng rỡ, đạp trai của ông hiện lên niềm vui chiến thắng.

    Tôi nhớ rất ít về cuộc gặp đó, ngoài việc khi đề cập đến một bảng câu hỏi muốn sử dụng, ông ấy đề nghị nói chuyện đó vào ngày hôm sau. Khi nghĩ lại, tôi nhận ra rằng ông đã trả lời mọi câu hỏi của tôi mà không cần tôi phải hỏi, tôi đã ấn tượng đến mức háo hức quay lại vào ngày hôm sau, rồi ngày tiếp theo nữa. Trong những ngày đầu tiên đó, ông đã dự đoán (hóa ra là đúng) rằng không một người thân nào của ông sẽ đến dự tang lễ của ông, và rằng tôi sẽ hỏa táng ông. Viễn cảnh đó có vẻ kỳ lạ như chính dự đoán của ông, nhưng ông đã coi tôi như con nuôi gần như ngay lúc gặp nhau, và chẳng mấy chốc, việc coi ông như một người bạn thay vì người cung cấp thông tin, rồi sau đó chấp nhận vai trò con cái mà ông đề nghị đã trở nên tự nhiên.

    Chẳng bao lâu tôi trở thành khách quen của cộng đồng người Ba Tư. Đây là những tín đồ Hỏa giáo, rời Ba Tư muộn hơn so với những người đồng hương của mình, những người đã sống ở Ấn Độ hơn mười ba thế kỷ. Giống như Vimalananda, tôi nhanh chóng trở thành một viên phụ tá trong gia đình, dạy kèm cho con gái út của gia đình theo yêu cầu của ông và dành nhiều giờ phút dễ chịu, yên tĩnh trò chuyện khi ông từ Bombay đến xem đua ngựa.

    Mới chỉ quen được một hai tuần thì ông mời tôi cùng đi ra ngoài Pune nhân dịp nguyệt thực để xem, như ông nói, “cách ông thực hiện các nghi lễ của mình”. Một tháng trước đó, tôi sẽ đi với tư cách là một người quan sát hoài nghi, nhưng giờ đây tôi đã nhận lời nhanh chóng, không chắc mình sẽ thấy gì nhưng chắc chắn đây là việc làm đúng đắn.

    Chúng tôi rời Pune vào một buổi sáng bằng xe tuk tuk, một loại taxi ba bánh có động cơ, sau ba phần tư giờ đồng hồ xóc nảy, tới Alandi, điểm dừng chân đầu tiên. Alandi là quê hương của Jnaneshwar Maharaj, người đã sống ở đó bảy trăm năm trước cùng với các anh chị em của mình. (Một vị guru thường được gọi là Maharaj, “đại đế”, bởi vì ông đã trở thành bậc thầy của chính mình, và là người thầy tuyệt đối của đệ tử).

    Jananeshwar đã dịch Bhagavad Gita từ tiếng Phạn sang tiếng Marathi, ngôn ngữ địa phương, và biên soạn một bản chú giải để giúp người dân thường dễ tiếp cận với những giáo lý của nó. Cuốn sách Jnaneshwari của ông được yêu thích thích nhất ở bang Maharashtra, còn câu chuyện của ông được mọi người dân biết đến.

    Jananeshwar, người nổi tiếng vì khiến một con trâu nói kinh Veda, làm cho một bức tường bay lên không trung, đã chán ghét thế gian vào lúc 21 tuổi và đạt đến trạng thái jeevan samadhi (nhập định khi còn sống): ông vào một hang động và cho đóng kín lối vào phía sau để có thể tiếp tục thiền mà không bị gián đoạn. Nơi an nghỉ của ông bị lãng quên cho đến vài trăm năm sau, khi một vị thánh nổi tiếng khác của Maharashtra, Eknath Maharaj, nằm mơ thấy Jnaneshwar cầu xin ông đến Alandi cứu ông khỏi cái cây trên đầu có rễ mọc quấn quanh cổ. Eknath Maharaj đã tìm thấy Alandi, phát hiện ra hang động, tìm thấy Jnaneshwar và nhổ bỏ rễ cây. Trước khi bịt kín hang động lại, ông đã mang theo bản thảo Jnaneshwar, đang nằm trên đùi của Jnaneshwar. Vì vậy, nhờ Eknath Maharaj mà Jnaneshwar, vốn đã bị thất lạc cho đến lúc đó, lại được tìm thấy.

    Một ngôi đền hiện nay tọa lạc trên đỉnh Jnaneshwar, cùng nhiều người thường xuyên đến đó để thờ phụng Thượng Đế và cầu xin sự giúp đỡ của Jnaneshwar trong việc giải quyết các vấn đề của họ. Hàng trăm người hành hương chen chúc tại ngôi đền mỗi sáng, đi vòng quanh từng bức tượng, bày tỏ lòng tôn kính với tảng đá đen mà người ta cho rằng ngài vẫn đang ngự trị bên dưới. Năm 1974, một nhóm người theo chủ nghĩa duy lý yêu cầu chính phủ khai quật khu vực bên dưới ngôi đền để xác định xem Jnaneshwar có thực sự vẫn còn hiện diện ở đó bằng xương thịt hay không. Sự phản đối mạnh mẽ của công chúng đã ngăn cản điều này xảy ra, Jnanneshwar vẫn ngự trị ở đó, tạn hưởng sự hòa quện giữa tiếng hát thánh kinh của những người hành hương tập trung ở sân trước của ngài với tiếng thì thầm của những người sám hối khác đang tụng kinh Jananeshwar dưới những cành cây mảnh khảnh mà rễ của nó chính là nguyên nhân khiến ngài xuất hiện.

    Sáng hôm đó, chúng tôi cùng các thành viên trong nhóm ngồi bên tảng đá của Jnaneshwar hơn một giờ, thực hiện nghi lễ cầu khẩn trợ giúp của ngài cho lễ cúng riêng của chúng tôi dự định diễn ra vào tối hôm đó. Sau khi cúi chào Siddheshwar Mahadev, Shiva Linga (biểu tượng của Shiva, vị thần của cái chết và sự biến đổi) trong ngôi đền liền kề với Jnaneshwar, tất cả chúng tôi cùng đến nhà của vị thầy té chủ trì buổi lễ ở gần đó. Sau một bữa ăn đạm bạc và một thời gian nghỉ ngơi ngắn, Vimalananda kéo tôi sang một bên để giải thích một số điều.

    - “Anh là học viên của Ayurveda”, ông bắt đầu, “anh đã học Sankhya chưa?”​

    Triết lý Sankhya là nền tảng lý thuyết của Ayurveda, tôi tự cho mình là người am hiểu các nguyên lý của nó, vì vậy tôi trả lời: “Rồi”.

    - “Vậy anh có biết rằng toàn thể thế giới được tạo thành từ Năm Nguyên Tố lớn, và chúng là gì không?”
    - “Có, tôi biết: Đất, Nước, Lửa, Khí và Ether. Những nguyên tố lớn này không phải là các nguyên tố theo nghĩa hóa học như hydro và heli, chúng đúng hơn là các trạng thái của vật chất. Nguyên tố Đất chiếm ưu thế trong mọi thứ rắn chắc trong vũ trụ, nguyên tố Nước trong chất lỏng, Khí trong các loại hơi, Ether là không gian mà mọi thứ xuất hiện, Lửa là lực chuyển đổi từ rắn sang lỏng sang khí và ngược lại. Mọi thứ trong vũ trụ biểu hiện, bao gồm cả con người được cấu thành từ năm nguyên tố này.”
    - “Chừng nào anh còn sống, ý thức của anh bị giới hạn bởi cái vỏ bọc chứa đựng nó: cơ thể. Vì cơ thể được cấu tạo từ năm nguyên tố nên ý thức của anh cũng bị giới hạn bởi chính những nguyên tố đó. Biết rằng ý thức của anh bị giới hạn là điều tốt, nhưng anh sẽ làm gì để thay đổi điều đó? Anh không muốn bị giới hạn mãi phải không?”
    - “Ít nhất thì không”.
    - “Kiến thức lý thuyết là thứ cần thiết, nhưng chưa đủ, kiến thức thực tiễn, kinh nghiệm cũng rất cần thiết. Chúng ta có một câu tục ngữ trong tiếng Hindi: Nơi nào mặt trời (ravi) không thể tới, nơi đó sẽ có nhà thơ (kavi). Nhưng câu đó vẫn chưa đủ. Tôi nói: Nơi nào nhà thơ (kavi) không thể tới, nơi đó sẽ có người trải nghiệm (anubhavi). Tôi tin rằng anh nên ra ngoài trải nghiệm những gì mình đã học, để nó có giá trị thực tiễn trong cuộc sống của anh. Đó là lý do tôi đưa anh theo hôm nay.
    Bản chất của Tantra là thanh lọc Năm Nguyên Tố, để đánh thức Kundalini Shakti, tức là Shakti (sức mạnh, năng lượng) của cá nhân anh. Bất kỳ thực hành đạo học nào, trong bất cứ tôn giáo nào, về cơ bản đều là một quá trình nào đó để đánh thức Kundalini, và Kundalini chỉ có thể được đánh thức khi các Nguyên Tố trong cơ thể anh đã được thanh lọc. Anh hiểu chứ?”​

    Tôi giữ im lặng, như thế muốn đáp lại với câu “Phần nào đó”.

    - “Tôi sẽ giải thích tất cả những điều này cho anh sau này. Bây giờ, hãy cứ nghĩ về Năm Nguyên Tố. Anh có thể tiến bộ về tâm linh bằng cách thờ phụng bất cứ nguyên tố nào trong số này, nhưng tôi nghĩ tốt nhất nên thờ nguyên tố Lửa. Thờ Đất có thể mất hàng nghìn năm, bởi vì đặc tính chính của Đất là sự ổn định. Thờ Nước ngày nay là không khôn ngoan vì Nước là chất chính cấu tạo nên cơ thể, và hầu hết chúng ta đều quá gắn bó với cơ thể mình. Thờ Khí có thể khiến anh mất ổn định nghiêm trọng, còn việc thờ Ether cũng gặp nhiều khó khắn. Tôi nghĩ Lửa là tốt nhất.

    Từ đầu tiên trong Rig Veda, bộ kinh Veda cổ nhất, là Agni, nghĩa là Lửa. Tôn giáo Veda về cơ bản là một tôn giáo thờ lửa. Các Rishi, những nhà hiền triết đã viết kinh Veda, đều thờ lửa vì nó là hiện thân của mặt trời trên trái đất. Sự sống không thể tồn tại trên trái đất nếu thiếu mặt trời, hầu hết mọi người nghĩ rằng các Rishi đang cố gắng xoa dịu mặt trời bằng việc thờ lửa. Trên thực tế họ đang nuôi dưỡng mặt trời. Nếu ngừng việc dâng cúng liên tục cho mặt trời, toàn bộ tạo vật sẽ đi đến địa ngục. Như một sản phẩm phụ của sự phục vụ mà họ thực hiện vì lợi ích của toàn thể chúng sinh, họ được nhận sức mạnh của mặt trời”.​

    Dù thấy rằng mọi câu chuyện về các vị hiền triết và những thú vui của họ thật tuyệt, tôi vẫn giữ im lặng vì muốn nghe hết những gì ông nói, vì các vị thầy Ấn Độ nổi tiếng là không khoan nhượng với việc bị ngắt lời.

    - Ông tiếp tục: “Các vị hiền triết sử dụng lửa trong thờ cúng vì lửa vừa thanh lọc vừa khuyếch đại bất cứ thứ gì đưa vào. Ngay cả NASA (cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ) cũng nhận ra rằng ngọn lửa của tên lửa khuyếch đại bất cứ âm thanh nào được đưa vào. Đối với những người trong chúng ta không phải là hiền triết, việc thờ lửa nhằm mục đích thanh lọc nguyên tố Lửa trong cơ thể và thanh lọc ý thức bằng cách khuyếch đại các câu thần chú mà chúng ta tụng niệm”.​

    (Một nhà khoa học đã phát triển buồng đốt cộng hưởng với năng lượng âm thanh, nhờ đó tiếng gầm của chính lò nung sẽ thổi bùng ngọn lửa. Các câu thần chú, là những từ ngữ quyền năng có thể có hoặc không mang ý nghĩa trong những ngôn ngữ mà con người biết, sẽ thổi bùng các ngọn lửa khác nhau theo những cách khác nhau).​

    “Một vị tu sĩ chân chính sống vì ngọn lửa của mình, một Aghori luôn ở gần ngọn lửa. Mỗi vị tu sĩ đều duy trì ngọn lửa riêng của mình, được gọi là dhuni, và không ai ngoại vị tu sĩ đó được phép ngồi bên cạnh. Bạn bước vào một mối quan hệ mật thiết với ngọn lửa đến mức chỉ có hai bên mới có thể chia sẻ trải nghiệm đó. Bạn có mời người thứ ba vào phòng ngủ của mình để xem bạn và vợ ân ái không?”​

    Tôi lắc đầu nhanh chóng rồi hỏi để làm rõ: “Tôi tin rằng sadhu là một là tu hành lang thang, vậy mọi sadhu đều có dhuni sao?”

    - Không phải tất cả, thực ra ngày nay, chỉ còn lại một số ít người làm như vậy. Nhưng Naga thì có. Naga, một vị tu sĩ lõa thể từ bỏ mọi thứ, từ bỏ tất cả mọi thứ ngoại trừ ngọn lửa của mình. Do những giờ phút anh ta dành cho ngọn lửa, ý thức anh ta cuối cùng trở thành ý thức của ngọn lửa, và ngọn lửa trở thành một phần của anh ta. Ngọn lửa của một vị tu sĩ giống như ngai vàng của một vị vua, bất cứ ai ngồi lên đó đều được thấm nhuần sức mạnh tích lũy của nó. Khi tôi sống như một vị tu sĩ ở núi Girnar, tôi luôn giữ một ngọn lửa, và bất kỳ ai cố gắng ngồi vào đó đều phải bỏ chạy, vì nó là của tôi.”​

    Tại sao phải giữ lửa? Câu hỏi của tôi dù không được nói ra, vẫn được nghe thấy.

    - “Thứ nhất, vì lửa tạo ra sự sống, nó là hiện thân của chúa tể sáng tạo, vị thượng đế mà các đạo sĩ thờ phụng. Thứ hai, vì nó đóng vai trò như chiếc tivi của ngài, như phương tiện truyền thông để ngài thu thập thông tin từ khắp mọi nơi trên trái đất. Trong những lần tôi lang thang khắp nơi với tu cách là một đạo sĩ, tôi đã giữ liên lạc với tất cả những người yêu mến mình nhờ vào ngọn lửa riêng.”​

    “Người Hỏa giáo thờ lửa nhưng họ không hiểu nguyên tắc ngày, tôi đã thấy các thầy tế của họ ngồi quạt mát cho mình trong khi dâng lễ vật, như thể họ đang bị ngọn lửa làm cho khổ sở. Điều tôi muốn nói là, nếu bạn không chịu được sức nóng, hãy rời khỏi nhà bếp. Nếu bạn không yêu ngọn lửa, đừng thờ lửa.”​
  8. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Con đường của tôi hoàn toàn khác. Tôi coi lửa như người bạn thân yêu của mình. Khi ngồi thờ lửa, tôi chơi đùa với nó. Tối nay bạn sẽ hiểu ý tôi. Tôi gọi nó đến và để nó hôn tôi. Chẳng phải bạn cũng hôn người mình yêu sao? Vì tôi không sợ nó, nên nó không thiêu đốt tôi. Nó sẽ không bao giờ thiêu đốt tôi, nó yêu tôi, vì tôi đã thay đổi tính chất căn bản của nó. Bạn có thể dùng thần chú để điều khiển lửa, bạn cũng có thể dùng thủy ngân hoặc nhiều thứ khác, nhưng cách cao nhất là chế ngự lửa bằng tình yêu đến nỗi nó cũng yêu lại bạn. Bất kỳ phương pháp nào khác đều liên quan đến việc thay đổi bản tính của nó trái với ý muốn của nó. Bạn nên khiến lửa tự nguyện từ bỏ đặc tính thiêu đốt của nó. Đó mới là thành tựu thực sự.”

    “Khi thờ bất cứ thứ gì, ngay cả một hòn đá, bạn sẽ luôn nhận được kết quả tốt hơn nếu bạn nhân cách hóa nó. Lửa cũng không khác. Hãy cho nó một nhân cách, rồi bạn có thể yêu nó, chơi đùa với no. Làm sao bạn có thể yêu lửa như chính ngọn lửa, thứ nóng bỏng, tán phá và thiêu đốt bất cứ thứ gì nó tiếp xúc? Phải nâng nó lên một mức độ mà bạn có thể liên kết và yêu quý nó. Mọi sadhana, nghi quỹ thực hành (tên gọi chung cho bất cứ pháp môn phát triển tâm linh nào, sadhu là một tu sĩ khổ hạnh rèn luyện sadhana) chỉ là bước chuẩn bị để sa vào tình yêu với vị thần bản tôn của bạn.”

    “Giờ tôi lại đang sống ở Bombay nên không thể lúc nào cũng đốt dhuni được, vì vậy tôi bù lại bằng cách thường xuyên đi ra ngoài và thực hiện homa (hỏa cúng). Việc thờ lửa trong kinh Veda gọi là yajna, vô cùng chi tiết và phức tạp. Mỗi nghi lễ đòi hỏi một hỏa đàn có hình dạng độc đáo, các vật phẩm cúng dường độc đáo, các câu thần chú độc đáo, vân vân. Ngày nay, không cá nhân nào có thể tự mình thực hiện yajna ngoại, nhưng bạn vẫn có thể thờ lửa và nhận được lợi ích từ đó bằng cách thực hiện lễ hỏa cúng. Những gì chúng ta sẽ làm tối nay là hỏa cúng, rất giống với yajna nhưng đơn giản hơn nhiều.”​

    Tôi rụt rè tự hỏi vì sao ông lại nghĩ tôi đủ điều kiện để tham gia vào nghi lễ này, và như mọi khi, ông đã trả lời câu hỏi trước khi tôi kịp nói ra.

    - “Bằng cách thực hiện homa, bạn sẽ tiến bộ trong lĩnh vực tâm linh bất chấp nhiều khiếm khuyết trong thân và tâm bạn. Trên thực tế, ngọn lửa sẽ dần thiêu đốt tất cả các khiếm khuyết của bạn. Sau khi thực hiện homa, bạn luôn cảm thấy nhẹ nhàng và tràn đầy năng lượng vì mọi nghiệp xấu đã bị ngọn lửa thiêu đốt. Điều này sẽ không xảy ra nếu bạn thờ Khí, là việc mà bạn làm khi kiểm soát prana, sinh lực, trong thực hành pranayama.”

    Tôi vừa dành một năm rưỡi để luyện tập pranayama, và đã dừng lại sau khi tập quá sức vì làm suy yếu hệ thống cơ thể đáng kể, do đó tôi biết ông ám chỉ riêng đến tôi.

    - “Tôi biết rằng bạn đã tập luyện tư thế asana và kỹ thuật thở pranayama dưới sự hướng dẫn của người tự xưng là đang dạy bạn yoga. Tôi rất tiếc phải thông báo với bạn rằng hệ thống các động tác giật cục về thể chất như vậy không phải là loại yoga phù hợp với thời đại ngày nay.”

    “Chẳng phải bạn đã được dạy rằng mọi khuyết điểm phải được loại bỏ trước khi thực hành pranayama sao? Nếu mắc lỗi trong pranayama, bạn có nguy cơ bị bệnh về thể chất hoặc tinh thần, bạn có thể hoàn toàn quay về thế giới trần tục, hoặc bạn có thể hoàn toàn mất liên lạc với thế giới trần tục. Cả hai trạng thái đều không lành mạnh. Tôi biết rằng Patanjali trong Yoga Sutra của ngàu có nói về việc thực hành pranayama, nhưng Patanjali không phải là một Rishi. Ông ấy quên rằng mình không sống trong Thời Đại Hoàng Kim (Satya Yuga), và con người ngày càng trở nên tồi tệ hơn khi Kali Yuga tiến triển (kỷ nguyên đen tối mà chúng ta đang sống). Trong Kali Yuga, việc thực hành quá nhiều pranayama là thực sự nguy hiểm. Nước và không khí của chúng ta bị ô nhiễm, hệ thần kinh của chúng ta bị tấn công bởi tiếng ồn và bức xạ. Rất ít nơi ngày nay có được sự yên bình và thanh tịnh cần thiết cho việc thực hành pranayama thành công. Thờ lửa thì tốt hơn nhiều.”

    “Những đệ tử tâm linh của tôi không phải là các sadhu nên chúng không thể giữ dhuni, vì vậy tôi khuyến khích chúng thực hiện hỏa cúng. Mỗi đệ tử đều niệm một câu thần chú nhất định. Có thể học được từ sách vở, hoặc có thể một vị guru nào đó đã truyền dạy, hoặc bất cứ điều gì khác, đều không quan trọng. Quan trọng là chúng đang niệm những câu chú đó với sự thành tâm, và bất kể ai thường xuyên niệm một câu chú đều nên thực hiện hỏa cúng thường xuyên để thanh tẩy câu chú đó và khuếch đại hiệu ứng của nó.”

    “Mỗi năm tôi và các đệ tử của mình có vài lần tụ họp để thực hiện homa. Có một số lý do cho việc này. Thứ nhất, nhiều người trong số họ nghèo và không đủ khả năng tự mua tất cả bơ ghee (bơ đã lọc) và các nguyên liệu đắt tiền khác cần thiết cho lễ hỏa cúng. Vì vậy, những người khá giả hơn trong số họ sẽ trả tiền cho những người khác, bằng cách này, ngay cả những người nghèo nhất cũng có thể hoàn thành phần homa hàng năm của họ.”

    “Thứ hai, việc ở cùng nhau khuyến khích họ tập trung hơn. Ai cũng muốn thể hiện bản thân khi có người khác quan sát, đó là bản chất con người. Ban đầu điều này có tác động tiêu cực, mật vài người coi toàn bộ việc này như một buổi dã ngoại và chỉ lo lắng về việc ăn uống. Không thể thờ phụng khi bụng no. Một ngày nọ, tôi nổi nóng và nói với họ: “Chúng ta đến đây để sám hối, không phải để ăn. Nếu không thể nhịn đói dù chỉ một ngày, thì đừng đến”. Giờ thì những người như vậy đã bị loại khỏi nhóm, còn những người khác đều tiến bộ hơn nhiều so với trước đây.”

    “Thứ ba, các đệ tử của tôi nghĩ rằng chúng đang thực hiện lễ hỏa cúng trên chính cơ thể mình, con người thường tự đồng nhất bản thân với những gì mà cơ thể họ làm, nhưng họ chỉ là những con rối. Một thực thể siêu nhiên đến rồi ngồi bên trong mỗi con rối mà chúng không hề hay biết, rồi thực hiện lễ homa với sự tập trung cao độ hơn nhiều so với khả năng của chính chúng, và các đệ tử của tôi được hưởng lợi từ sự thờ phụng này.”​

    “Chắc hẳn phải có những hạn chế khác đối với lễ hỏa cúng ngoài việc tránh ăn quá no”, tôi nhận xét.

    - “Có rất nhiều điều cấm kỵ. Như phụ nữ trong kỳ kinh nguyệt không bao giờ được vào đền thờ, họ không được ngồi và làm lễ homa, họ thậm chí không được chạm vào lễ vật, vì mùi hôi của họ sẽ truyền sang. Chúng sinh mà chúng ta đang cố gắng làm hài lòng vốn ăn bằng khứu giác, họ hoàn toàn không thích mùi máu kinh nguyệt. Đây cũng là lý do tại sao bạn không bao giờ được ngửi lễ vật trước khi dâng cúng. Bạn có ngoạm một miếng lớn vào chiếc bánh mà bạn đang mời ai đó không? Chi khi bạn muốn xúc phạm họ mà thôi.”

    “Nếu là một Aghori thì không có điều này trong số những hạn chế này được áp dụng, nhưng khi bạn chưa phải là một Aghori thì tất cả đều áp dụng. Trừ khi là một Aghori kỳ cựu, tuyệt đối không được ăn thịt, cá hoặc thậm chí trứng vào ngày bạn dự định cúng lửa. Nếu có thể, bạn phải tắm ngay trước khi thực hiện homa, tốt hơn hết là bạn nên thanh tẩy bên trong bằng cách thực hiện các kỹ thuật như rửa ruột trước đó (varisana dhauti, basti, nauli). Tuyệt đối không được tự thực hiện homa mà chưa có người hướng dẫn cách làm đúng trước đó, nếu không, bạn có thể mắc phải những sai lầm gây hậu quả nghiêm trọng. Tôi đưa bạn đến đây hôm nay vì muốn chỉ cho bạn cách thực hiện homa đúng đắn, để cuối cùng bạn có thể tự mình thực hiện và tiến bộ.”​

    Đêm đó, dưới sự giám sát của ông, Vimalananda và tôi cùng thực hiện lễ hỏa cúng, dưới ánh trăng khuyết. Sau đó, tôi luôn tháp tùng ông trong các chuyến hành hương homa bất cứ lúc nào có thể.

    Alandi là một thị trấn nhỏ bên sông Indrayani, giống như hầu hết các con sông trên cao nguyên Deccan, chỉ chảy mạnh trong và ngay sau mùa mưa. Vùng đất gần sông màu mỡ và được canh tác thâm canh, nhưng bao quanh vùng đất thịnh vượng này là một khu vựa rộng lớn hơn gồm những ngọn đồi đá trơ trụi, nơi ngay cả dê cũng khó khăn lắm mới gặm được cỏ. Nhóm chúng tôi đã tìm hiểu thêm về các đền thờ và những địa điểm kỳ lạ khác trong vùng lân cận. Một ngày nọ, khi vị thầy tế của chúng tôi kể câu chuyện kỳ lạ về một ngôi đền Shiva ở gần đó, Vimalananda lập tức quyết định đến thăm nơi này với ý định thực hiện lễ hỏa cúng tại địa điểm độc đáo như vậy.

    Theo truyền thuyết, ngôi làng này là một trong những nơ được cho là chỗ cư ngụ của Kubera, vị thần tài, và người ta đồn rằng có một kho báu khổng lồ được chôn giấu gần đó. Một dòng chữ khắc trên đá, hiện đang chìm dưới sông, ghi rằng nếu thực hiện một lễ hiến tế người theo cách nhất định ở đó, người ta có thể nhận được mức giàu có không tưởng.

    Ngày xưa, có một vị vua nghe nói về dòng chữ khắc này đã quyết định thực hiện một lễ hiến tế người để chiếm đoạt tiền cho mình. Ông chỉ tìm được một nạn nhân thích hợp duy nhất trong toàn vương quốc: một cậu bé Ba là môn trẻ tuổi, con trai của thầy tế trong đền thờ, cha mẹ cậu bé đã bán con trai mình cho nhà vua vì lòng tham.

    Khi đến giờ hiến tế, cậu bé tội nghiệp ôm chầm lấy Shiva Linga khóc nức nở: “Tôn Thượng, những người này muốn lấy mạng con chỉ để làm giàu. Con đã làm gì mà phải chịu hiến tế theo cách này?”

    Trong toàn vũ trụ, sinh linh mà Shiva yêu thích nhất là Lallu, Krishna baby, vì tính ngây thơ. Ngài nhìn thấy Lallu trong mỗi đứa trẻ. Khi cậu bé này cầu khẩn Shiva chân thành như vậy, làm sao ngài có thể từ chối giúp đỡ? Bỗng có tiếng sấm vang lên, chúa tể Shiva hiển lộ trong một hình dáng đáng sợ tại nơi tế lễ. Ngài đáng sợ đến nỗi nhà vua và cha mẹ cậu bé đều chết ngay tại chỗ.

    Shiva dịu dàng nâng cậu bé lên hỏi: “Giờ ta có thế làm gì cho con nữa? Ta đã cứu con khỏi bị hiến tế, vua cùng cha mẹ con đã chết vì sự độc ác của họ. Con còn muốn gì nữa không?”

    Cậu bé đáp: “Xin ngài hãy hồi sinh nhà vua và cha mẹ con.”

    Shiva hỏi: “Nhưng chính chúng vừa định giết con cách đây vài phút. Tại sao ta lại phải tha cho chúng? Chúng sẽ trở thành hồn ma và hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của ta, ta sẽ đảm bảo chúng phải trả giá cho tội ác của mình.”

    Nhưng cậu bé nói: “Không, chính nhờ vua và cha mẹ mà con mới có thể dễ dàng nhìn thấy ngài. Con có lẽ sẽ không bao giờ có được trí tuệ để thờ phụng ngàu, ngay cả khi có được thì con cũng không thể nào thành tựu nhanh như vậy. Cho nên, xin ngài hãy hồi sinh họ, con rất biết ơn họ.”

    Shiva mỉm cười trước khả năng phân biệt đúng sai của cậu bé rồi hồi sinh ba xác chết. Nhưng không ai tìm thấy kho báu, và cũng không ai tìm ra nó kể từ đó, nhiều người đã thử, tất cả đều gặp tai ương. Một tu sĩ đến và nghĩ rằng có thể kho báu nằm bên dưới đền thờ, nên đã di chuyển tượng Linga, một người khác thì quan hệ ******** với một cô gái địa phương gần đền thờ. Những hành vi này bị cấm đoán nghiêm ngặt này đã khiến những người đó phải hứng chịu phẫn nộ từ cộng động và khiến dân làng nghi ngờ mọi tu sĩ. Thậm chí có một vị tu sĩ đến thị trấn mặc một chiếc khố bằng bạc nguyên chất, nhưng cuối cùng ông cũng phải bỏ trốn giống như tất cả những người khác. Họ nói rằng thậm chí có những nghi lễ hiến tế người được thực hiện ở đó, những cũng không mang lại kết quả gì.

    Khi tôi hỏi Vimalananda về điều này, ông ấy nói với tôi: “Có một lý do chính đáng tại sao mọi người đều thất bại. Shiva Linga trong đền thờ đã hơn 2600 năm tuổi. Nó được Gahani Nath, một đệ tử của Gorakh Nath lập nên, người không muốn nơi này bị quấy rầy bởi một đám đông tìm kiếm kho báu. Bất chấp tất cả những nghiệp xấu đã xảy ra trong khu vực lân cận, đây vẫn là một nơi rất linh thiêng để thực hiện các nghi lễ bởi vì ở đó chúng ta có thể khai thác sức mạnh của Gahani Nath, và thông qua ông là Gorakh Nath. Đó là lý do tại sao việc thờ cúng đúng cách ở đó mang lại lợi ích to lớn, việc thờ Linga đó sẽ mang lại cho chúng ta lợi ích từ sự khổ hạnh của các vị Nath.”

    Tôi đã từng nghe nói về Gorakh Nath, nhưng trước khi hỏi về các thành tựu giả dòng Nath, ông đã nói tiếp: “Anh biết đấy, ngôi làng này độc đáo vì những lý do khác ngoài sự giàu có của thần tài Kubera. Bên kia sông đối diện với làng có một hang động, trong đó có hình ảnh Ma (Thần Mẫu). Bây giờ chỉ có dơi tới đó, nhưng trước đây hình ảnh này được thờ cúng thường xuyên. Có một số chiếc nồi bạc trong hang, vào những dịp lễ hội, dân làng sẽ đến đền thờ và bằng cách nào đó, những chiếc nồi sẽ được tìm thấy đầy ắp thức ăn. Không có ai nấu nướng cả, thức ăn cứ thế xuất hiện. Cho dù có bao nhiều người cần được nuôi ăn, luôn có đủ thức ăn trong nồi để nuôi tất cả mọi người. Điều này chỉ có thể xảy ra nhờ phúc lành của Annapurma, nữ thần thực phẩm. Việc này diễn ra trong nhiều năm cho đến khi có người đánh cắp những chiếc nồi khỏi hang động. Sau đó, nữ thần nổi giẩn, kể từ đó không ai dám vào hang nữa. Lòng tham luôn phá hỏng mọi thứ.”

    Chắc chắn dân làng hiểu rõ sự nguy hiểm của lòng tham, xét đến số lượng các nhà tu khổ hạnh mờ ám đã đến rồi đi. Nhìn chung, người dân làng Ấn Độ rất hào phóng, với cả người lạ và bạn bè, nhưng ngay cả trong điều kiện lý tưởng, cũng khó mà tự nhiên đi vào một ngôi làng rồi tuyên bố rằng mình sẽ đào hàng chục hỏa đàn để thực hiện một nghi thức Tantra. Tôi nghi ngờ rằng chúng tôi sẽ không được đón tiếp nồng nhiệt, và vô cùng tò mò muốn xem Vimalananda sẽ xin phép trưởng làng thế nào để thực hiện công việc của mình.”

    Vài cây số đường đến làng trôi qua chậm chạp, vì mùa mưa mới kết thúc, con đường còn hằn những vết sâu từ những trận mưa gần đây. Tất nhiên, chúng tôi là tâm điểm chú ý khi đến làng, một đoàn người Bombay, đi cùng một gã ngoại quốc, khiến nhiều dân làng, đặc biệt là trẻ em, há hốc mồm kinh ngạc. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã tìm thấy trưởng làng, ngồi xuống trò chuyện. May mắn thay, ông ấy đã sống nhiều năm ở Bombay, vì ông và nhiều người hàng xóm trông hoa để bán ở các chợ tại đó, do đó chúng tôi cảm nhận được sự thân thiết ngay lập tức mà những người dân BomBay thường có.

    Như tôi đoán, cả ông ta lẫn dân làng đều không muốn một nhóm người lạ xâm phạm vào ngồi đền của họ vì những kinh nghiệm cay đắng trong quá khứ. Họ sợ chúng tôi đến để tìm kiếm tiền bạc và những nỗ lực của chúng tôi sẽ làm tăng thêm nỗi khổ của họ. Không ai sống sung túc ở đây, bệnh tật hoành hành khắp mọi nhà, mùa màng thất bát. Người ta có thể thấy hồn ma người chết lang thang ngay cả ban ngày.

    Vimalananda nhanh chóng kiểm soát tình hình. Trước hết ông trấn an họ rằng chúng tôi không quan tâm tới kho báu, hãy để nó yên đó. Chúng tôi chỉ quan tâm đến việc thờ phụng Thượng Đế. Thứ hai, lễ hỏa cúng của chúng tôi sẽ tạo ra tro có thể dùng làm thuốc cho người bệnh, và như một loại phân bón siêu mạnh cho cây trồng vốn đang không được tốt khi kiểm tra. Chúng tôi sẽ không làm bất kỳ điều gì bí mật, mà sẽ thực hiện mọi thứ công khai. Sau đó, ông mời bất cứ ai muốn đến ngồi cùng và xem công việc của chúng tôi, nếu bất kỳ điều gì bị phản đối, chúng tôi sẽ chào tạm biệt và không quay lại.

    Vimalananda luôn là một người nói năng thuyết phục, ông nhấn mạnh những lời mình nó bằng cách sử dụng một số khả năng đặc biệt của mình để kể cho trưởng làng một số điều mà chỉ mình ông biết. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã có được sự cho phép cần thiết, rồi sai người đến Alandi để lấy một xe bò chở đầy củi. Trong khi đó, các thành việc khác trong nhóm đào hỏa đàn, trộn các vật phẩm cúng dường và pha trà. Một lúc sau, Vimalananda gọi tôi đến ngồi cùng ông trên nền ngôi đền nơi cậu bé từng suýt bị hiến tế. Tôi có thể nhận thấy từ cử chỉ rằng ông có một số chỉ dẫn dành cho tôi, và tôi cũng thể hiện bằng cử chỉ rằng đã biết điều đó nên sẵn sàng lắng nghe.

    Ông bắt đầu: “Cho đến nay, các anh chỉ làm theo những gì được bảo mà không được giải thích nhiều. Các anh đã hỏi rôi rất nhiều về homa, và tôi đã nói với các anh những gì cần biết. Giờ tôi muốn các anh biết nhiều hơn nữa về việc chúng ta đang làm, tại sao chúng ta lại làm điều đó ở đây.”

    “Chúng ta sẽ làm lễ hỏa cúng ngay dưới bờ sông, chỉ ngay bên dưới ngôi đền, đối diện với hang động mà tôi đã kể với anh. Có vẻ như nơi chúng ta sẽ ngồi đã từng là nghĩa địa của làng, điều này khiến tôi cảm thấy như đang ở nhà. Nhiều thi thể đã được hỏa táng dưới gốc cây đa lớn ở đó, dưới bóng cây mà các hỏa đàn của chúng ta được đặt. Cây này rất nhiều tuổi, như anh thấy, bằng cách sử dụng rễ trên không, nó đã tạo ra một thân cây thứ hai cách thân đầu một khoảng, và giờ nó đã di chuyển vài mét đến vị trí thứ ba. Trông nó không được vui vẻ cho lắm, phải không? Nó không vui, hay đúng hơn, linh hồn sống trong nó không vui.”

    “Một trong những mục đích của chúng ta khi thực hiện lễ homa này là lam cho cây này và cư dân của nó hạnh phúc. Chúng ta có nghĩa vụ đối với ngôi làng này, khi họ đã hào phóng mời chúng ta ở lại và thực hiện các nghi lễ ở đây, nên chúng ta phải cố gắng hết sức để làm cho cuộc sống của họ hạnh phúc hơn. Nếu được thực hiện đúng cách, lễ hỏa cúng tập thể sẽ dung hòa bầu không khí trong phạm vi nhiều dặm xung quanh nơi thực hiện, tạo ra sự bình yên cho những người sống gần đó, cả con người và các linh hồn. Giờ đây anh là một phần của nhóm chúng ta, anh phải làm công việc của mình tốt nhất có thể. Bây giờ là thời điểm tốt để học hỏi, bởi vì khi tôi đi rồi, anh sẽ phải tự lo liệu.”

    Tôi bắt đầu phản đối rằng ông sẽ còn sống thêm nhiều năm nữa, lúc đó tôi còn rất trẻ và không mấy quan tâm đến sự hữu hạn của cuộc sống, nhưng ông gạt bỏ những lời phản đối của tôi và tiếp tục.
  9. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    “Anh sẽ thấy rằng ở đây, cũng như những nơi khác, chúng tôi đào một vài hỏa đàn, và thông thường mỗi đàn có hai người ngồi. Nói đúng ra, mỗi người nên có hỏa đàn riêng. Khi một người trở thành agnihotri, người thờ lửa theo nghĩa của kinh Veda, không ai được phép chạm vào ông ta, chứ đừng nói đến việc ngồi cùng một đống lửa, ngoại trừ duy nhất vợ của ông. Nhưng vì sự tiện lời, và vì khi hai người ngồi cùng nhau, họ có thể hỗ trợ nhau, nên chúng tôi vận dụng cách sắp xếp này.”

    “Trước khi ngồi xuống, chúng tôi cúi chào Mẹ Trái Đất, người đã nâng đỡ chúng tôi, rồi cầu xin người ban phúc lành cho việc thờ cúng. Sau đó, tưởng nhớ tới Ganesha (con trai đầu voi của Shiva), cầu khẩn ngài loại bỏ mọi chướng ngại, chúng tôi bắt đầu chuẩn bị hỏa đàn. Dưới đáy hỏa đàn là yantra. Tôi biết rằng yantra là một loại biểu đồ thần bí nhằm kiểm soát và chứa đựng năng lượng được đưa vào nó trong nghi lễ. Yantra cũng đại diện cho vị thần được cầu khẩn trong buổi lễ. Tôi thường sử dụng yantra là một ngôi sao sáu cánh, được tạo thành từ hai hình tam giác, một hướng xuống và một hướng lên, chồng lên nhau, bởi vì tôi đang thực hiện loại lễ cúng này vì lợi ích chung của mọi chúng sinh trong khu vực, đặc biệt là những người tham gia nghi lễ. Ngôi sao sáu cánh, ngôi sao David, có ý nghĩa quan trọng đối với người Ấn Độ chúng tôi cũng như đối với người Do thái.”

    Thiết kế và Cấu tạo của Hỏa Đàn (Homa Kunda)
    a. Bản vẽ mặt bằng một hỏa đàn hình vuông được sử dụng trong các lễ cầu bình an và thịnh vượng. Vành của Kunda được xây dựng bằng ba bậc gạch, ở chân đế và hướng về phía đông là biểu tượng Yoni (âm hộ) hình tam giác. Ở trung tâm của hố lửa là một yantra sáu cạnh như được Vimalananda sử dụng.

    b. Thiết kế của Tripura Yantra thường được sử dụng trong việc thờ cúng Devi (nữ thần)

    c. Vị trí và cách bố trí các thanh lửa phía trên Devi Yantra.

    Sáu Yantra được sử dụng trong sáu lễ Homa của Tantra
    d.Yantra hình tròn được dùng trong các lễ cầu may và bình an.

    e. Yantra hình vuông được dùng trong các lễ cầu thịnh vượng.

    f. Yantra hình bán nguyệt dùng trong các lễ khuất phục.

    g. Yantra hình Yoni để trừ tà

    h. Chín tam giác dùng trong các lễ cản trở và gây oán hận.

    i. Năm tam giác dùng trong các lễ tiêu diệt và giết chóc.


    “Anh có thấy tầm quan trọng của các hình tam giác trong cuộc sống không?” Vimalananda rấ thích những câu hỏi tu từ (không nhằm tìm kiếm câu trả lời), và tôi thậm chí không cố gắng trả lời câu này.

    “Hãy nhìn vào cơ thể con người, lông mu của đàn ông tạo thành một hình tam giác với đỉnh hướng lên trên. Lông mu của phụ nữ cũng có hình tam giác, nhưng đỉnh hướng xuống dưới. Hình tam giác của phụ nữ hướng xuống dưới vì họ chịu trách nhiệm sáng tạo ra nhị nguyên. Từ một, họ trở thành hai khi sinh con. Hình tam giác của đàn ông hướng lên trên vì họ có nhiệm vụ kiểm soát và cuối cùng vượt qua nhị nguyên. Chỉ khi hai yếu tố này kết hợp nhay thì sự sáng tạo mới có thể xảy ra. Khi một người đàn ông và phụ nữ cùng nhau tận hưởng ân ái, hai hình tam giác kết hợp tạo thành một ngôi sao sáu cánh. Anh không nghĩ điều này hẳn phải có ý nghĩa nào đó sao?”

    “Trong cơ thể còn có những hình tam giác khác nữa. Hai bầu vú và âm hộ của phụ nữ hướng xuống dưới. Dương cụ và tinh hoàn của đàn ông hướng lên trên. Túi tinh và dương cụ, có thể kể ra rất nhiều nữa. Bốn hình tam giác khi ghép lại với nhau tạo thành một kim tự tháp, vật này có công dụng đặc biệt riêng, như các nền văn mình Ai Cập cổ, Inca và Maya đã biết rõ. Tất cả chúng đều là các yantra. Một yantra bên ngoài luôn có thể bị mất hoặc đánh cắp, đó là lý do tại sao anh nên biến cơ thể mình thành một yantra, khi đó sẽ không có nguy cơ mất yantra chừng nào anh còn sống. Anh có thể thực hiện rất nhiều nghi lễ bên trong mà không ai biết, giống như các Rishi đã làm. Chẳng phải điều đó tốt hơn sao?”

    “Ngọn lửa cũng có hình một tam giác hướng lên trên. Ngọn lửa biến mọi thứ thành tro tàn, mọi sự đối lập trở thành một thực thể duy nhất khi chúng bị thiêu rụi. Chúng ta dâng cúng sự đối lập nhị nguyên lên ngọn lửa, vật liệu cúng dường của ta, và ngọn lửa biến đổi nó. Đầu của con người cũng có một tam giác hướng lên trên: ba con mắt. Hai con mắt bên dưới nhìn thấy sự đối lập nhị nguyên, con mắt bên trên chỉ nhìn thấy sự thống nhất. Do đó, thật hợp lý khi kết luận rằng việc thờ lửa đúng cách sẽ giúp khai mở con mắt thứ ba của anh.”

    Nó có vẻ hợp lý.

    “Sau khi chuẩn bị xong yantra, đã đến lúc thờ cúng nữ thần Ma. Mỗi hỏa đàn phải có một biểu tượng tượng trưng cho âm hộ gắn liền với nó. Một hỏa đàn có sẵn biểu tượng này. Tôi thường chỉ vẽ hai đường song song trên thành hố lửa bằng bột màu đỏ. Anh phải thờ Shakti trước khi bắt đầu, bởi vì nếu không có người thì không thể hoàn thành bất cứ công việc nào, không có sự sáng tạo nào tồn tại nếu thiếu nguyên lý nữ tính. Vì sự sáng tạo là chức năng của bộ phận sinh dục, nên chúng phải được thờ cúng. Lửa là Shaktiman, người điều khiển Shakti, nhưng những ngọn lửa thông thường đã mất đi Shakti của chúng, anh phải trả lại Shakti cho lửa, để nó có thể làm việc cho anh. Shiva và Shakti về nghĩa tuyệt đối là giống nhau, tất nhiên, giống như lửa và sự đốt cháy là giống nhau, nhưng trên thực tế chúng lại khác nhau.”
  10. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Điều này thật khó hiểu nhưng không được phép ngắt lời Vimalananda khi đang trong tâm trạng như vậy.

    “Rồi ngọn lửa được nhóm lên. Anh đã bao giờ tự hỏi làm thế nào một tu sĩ sống sâu trong rừng rậm hoặc giữa vùng hoang mạc băng giá trên Himalaya có thể nhóm lửa chưa? Ngay cả khi tìm được nhiên liệu khô, người đó lấy đâu ra tia lửa để nhóm? Người đó không mang theo hộp diêm bên mình. Câu trả lời nằm ở việc sử dụng đúng cách mật chú Vishnu Sudarshana.”

    “Mật chú Vishnu Sudarshana?” Tôi chưa từng nghe đến nó, nhưng tôi biết rằng Vishnu, đấng bảo tồn vũ trụ, sử dụng một chiếc đĩa làm vũ khí, tên nó là Sudarshana, nghĩa đen là “tầm nhìn tốt”. Dường như tên của mật chú này có một ý nghĩa huyền bí nào đó, đặc biệt là khi Vimalananda vừa nhắc đến con mắt thứ ba, khiến tôi hy vọng hiểu thêm được phần nào.

    Kích thước của Hỏa Đàn

    j. Dùng cho lễ chuộc tội, chiều rộng một cubit, sâu nửa cubit.

    k. Dùng cho lễ tăng ích, rộng hai cubit, sâu một cubit.

    l. Đối với các lễ phẫn nộ, có 20 angula chiều ngang, 10 angula sâu.

    (Một angula là chiều rộng một ngón tay, một cubit bằng 24 angula)


    Tuy nhiên Vimalananda chỉ nói: “Đúng vậy, khi anh niệm mật chú này, ngọn lửa sẽ tự động bùng cháy dữ dội bất kể nhiên liệu có ướt đến đâu. Tôi đã thử nghiệm việc làm cho giàn hỏa táng cháy sáng rực trong mưa tầm tã bằng mật chú này.”

    À! Hồi mới ở Pune được vài tuần thì tôi thấy một bài trang nhất trên một tờ báo địa phương về một người đàn ông có khả năng tạo ra lửa bằng cách lặp đi lặp lại một câu mật chú. Nhiều nhà vật lý nổi tiếng đã kiểm tra xem có gian lận không và đều kết luận với vẻ kinh ngạc tột độ rằng khả năng của ông ta là có thật. Nhưng khi được hỏi cách làm bởi những người muốn học hỏi khả năng đó, ông trả lời rằng tất cả học viên tiềm năng nên đi cùng ông đến một khu vực hẻo lánh trên núi, nơi họ sẽ đứng bằng một chân trong mười hai năm rồi tụng niệm mật chú, sau đó nó sẽ được nạp đủ năng lượng để hoạt động. Tuy nhiên không ai nhận lời.

    Vì đã từng nghe chuyện như vậy, nên lời khẳng định của Vimalananda không có vẻ phi lý đối với tôi. Ông tiếp tục:

    “Tại sao lại có sự sáng tạo? Do ma sát. Không có ma sát thì không có sự sáng tạo. Ở đâu có ma sát thì ở đó có lửa. Bạn có thể tạo ra lửa mà không cần ma sát chăng? Không, trừ khi bạn lấy trực tiếp từ mặt trời, ví dụ như bằng kính lúp. Lửa được tạo ra trong các nghi lễ cúng tế Veda bằng ma sát, nhờ cọ xát hai thanh gỗ vào nhau, giống như cách người da đỏ châu Mỹ từng làm.”

    “Ma sát có thể chứa đựng sự dư thừa của một trong ba Guna: Tamas, Rajas, hoặc Sattva.” Các Guna là một phần quan trọng của triết học Sankhya mà tôi đã biết rõ từ các nghiên cứu về Ayurveda, chúng là ba khuynh hướng của ý thức được biểu hiện thông qua tâm trí. Sattva là cân bằng, Rajas hoạt động, còn Tamas trì trệ. Tâm trí luên tục dao động giữa ba trạng thái này cho đến khi, nhờ thực hành sadhana, nó được kiểm soát và tập trung vào một điểm duy nhất.

    “Sự cọ xát Tamas là tranh cãi, bất hòa giữ người với người. Nó tạo ra những cảm xúc dữ dội như hận thù, giận dữ, trả thì và cuồng nộ bạo lực. Cọ xát Rajas là ********, xuất phát từ ngọn lửa dục vọng. Kinh Upanishad giải thích rằng người phụ nữ chính là ngọn lửa, dương quan là nhiên liệu, còn lông mu là khói. Âm hộ tượng trưng cho ngọn lửa, cọ xát là than hồng, còn khoái cảm là tia lửa. Việc này tốt hơn nhiều so với cọ xát Tamas vì cả hai người tham gia đều nhận được một chút khoái cảm từ đó. Dĩ nhiên là không nhiều, không kéo dài. Điều gì được tạo ra? Nhiều dục vọng hơn và một đứa con. Ma sát Sattva, tức là Sadhana, là tốt nhất trong tất cả. Khi thực hành sadhana, bạn đang chống lại tất cả những khuynh hướng và thói quen cũ của mình do nghiệp của hàng triệu kiếp sinh ra. Việc này chắc chắn sẽ tạo ra ma sát và bạn sẽ nóng lên. Từ tapas (khổ hạnh) theo nghĩa đen nghĩa là nhiệt. Anh có để ý tôi thường xuyên chườm đá lên đỉnh đầu không?

    Sao tôi lại có thể thất bại trong việc đó?

    “Giác ngộ đạt được bằng cách đốt cháy nghiệp chướng thông qua tapas, khổ hạnh. Khi thực hành khổ hạnh nhiều, tâm trí bạn sẽ nóng lên và bạn trở nên dễ cáu gắt. Nếu để cho giận dữ hay dục vọng chi phối, ngọn lửa của chúng sẽ thiêu rụi toàn bộ năng lượng (shakti) mà bạn đã tích lũy được, còn nếu giữ vững thệ nguyện và kiểm soát được tính khí và dục vọng của mình, giác ngộ đạt được sẽ khiến mọi thứ trở nên đáng giá.”

    “Hãy nhớ rằng tính chất căn bản của lửa là thiêu đốt. Anh có biết rằng ngọn lửa trong lưỡi sẽ thiêu trụi bất cứ thứ gì nó nói ra không? Điều này có nghĩa là anh nên luôn thú nhận mọi nghiệp xấu tự gây ra. Việc này sẽ giải thoát anh khỏi chúng, chúng sẽ bị đốt cháy hết. Ngoài ra anh cũng không bao giờ nên kể về những việc thiền nào đã làm, hay về những kinh nghiệm tâm linh, vì nếu làm vậy chúng chắc chắn sẽ bị hủy hoại. Thật không may bây giờ là kỷ Kali, hầu hết mọi người làm điều ngược lại. Họ giấu tội lỗi sâu trong lòng, nơi không thể gột rửa, khoe khoang với mọi người về các thành tựu tinh thần và giác ngộ tâm linh của mình. Tôi không cần phải nhắc lại điều gì sẽ xảy ra nếu anh nói với bất cứ ai về câu mật chú mà anh tụng niệm. “ Đây là một trong những lời cảnh báo đầu tiên ông dành cho tôi.

    “Nếu muốn phô trương trước mặt những người này,” ông nói rồi chỉ tay về phía chủ nhà, “chúng tôi cũng có thể nhóm lửa bằng cách cọ xát các que gỗ vào nhau theo phương cách Veda được chấp thuận, nhưng chúng tôi không muốn phô trương, cũng không cử hành một lễ yajna nào ở đây mà cần phải duy trì những tiêu chuẩn nghiêm ngặt như đối với một lễ tế Veda. Lửa thanh tẩy bất kỳ thứ gì nó đốt, nhưng cũng hấp thụ một số phẩm chất của bất cứ thứ gì được dâng lên nó. Là một Aghori, tôi không thể phân biệt giữa giàn hỏa táng hay lửa tế lễ, nhưng với tư cách một người chủ gia đình, tôi cảm thấy có trách nhiệm với các đệ tự tâm linh của mình, những người đến thờ phụng cùng tôi. Hầu hết bọn họ chưa sẵn sàng để thực hiện homa trên giàn hỏa táng. Chúng tôi bằng lòng duy trì sự thanh tịnh nghiêm ngặt của các lễ vật, nhưng dùng diêm để nhóm lửa cho tiện lợi.”

Chia sẻ trang này