1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

AGHORA II: Kundalini

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi phunglam, 26/03/2026.

  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
  1. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    BÌNH LUẬN

    Con Rắn

    Như Joseph Campbell đã ghi lại trong cuốn Những Vùng Sâu Thẳm của Không Gian Vũ Trụ, sức mạnh mà Tantra gọi là Kundalini đã được biểu tượng hóa thành một con rắn trong nhiều nền văn hóa trên thế giới, bao gồm Sumer, Trung quốc, Ireland cổ, Aztec và Hy Lạp (biểu tượng caduceus). Hình ảnh Kundalini như sức mạnh rắn chủ yếu phản ánh quyền năng chiếm hữu của nó, của Maya. Vũ trụ học Ấn Độ mô tả bảy thế giới ngầm bên dưới bề mặt trái đất, nơi cư ngụ của các asura (các vị thần ích kỷ và ghen tỵ) và naga (chúng sinh mình rắn á thần). Trong hệ vi mô, bề mặt trái đất là luân xa Muladhara, cư ngụ bên dưới bề mặt trái đất có nghĩa là sống hoàn toàn trong thực tại khách quan, trong cõi Maya, tức là lớp da của vũ trụ.

    Chừng nào ahamkara còn chiếm ưu thế trong bạn, Kundalini sẽ tồn tại đối với bạn như một con rắn. Sau khi Kundalini được đánh thức và kiểm soát, con rắn từng nguy hiểm ấy sẽ trở thành người bảo vệ.

    Vimalananda giải thích:

    “Rắn thường có nọc độc, chừng nào cái tôi của bạn, vốn là một mảnh vỡ của Kundalini Shakti, còn đồng nhất với thân thể và cá tính hữu hạn của bạn, thì bạn sẽ đầy rẫy chất độc của luân hồi, đó là chất độc của lòng ích kỷ. Một khi Kundalini tự giải thoát khỏi mọi giới hạn, chất độc đó sẽ được chuyển hóa thành Amrita, cam lộ bất tử. Đạo Jain nó về 24 Tirthankara, hay những người vượt sông. Tirthankara là người mà Kundalini đã thành công đi qua toàn bộ Sáu Luân Xa (24=2+4), người đã học cách vượt qua sông luân hồi, để vượt qua từ sự bất hoàn hảo đến hoàn hảo, bờ bên kia của tồn tại.”

    “Trong nghệ thuật tạo hình của đạo Jain, một số vị Tirthankara luôn được miêu tả với con rắn trùm đầu. Con rắn đó là biểu tượng của Kundalini, năng lượng rắn, còn việc nó ở trên đầu cho thấy Kundalini của họ đã nhập vào Sahasrara. Con rắn đóng vai trò như một chiếc ô che chở cho Tirthankara, ở đây, chiếc ô biểu thị sự bảo vệ. Những chúng sinh như vậy được bảo vệ khỏi sự ô trược nhờ Kundalini đã hoàn toàn thức tỉnh. Con rắn trên đầu Tirthankara đã lấp đầy vị đó bằng Amrita, và nếu đi theo ngài, bạn có thể nhận được Amrita đó, giống như chân phúc của Nirvikalpa Samadhi. Đôi khi bạn cũng thấy đức Phật được miêu tả với con rắn, ý nghĩa như nhau. Tất nhiên, Vishnu ngủ trên Shesha Naga, Rắn Vũ Trụ.”

    Mặc dù rắn được coi là biểu tượng ma quỷ trong truyền thống Do Thái, Thiên Chúa chính thống, nhưng những người theo thuyết Ngộ Đạo, Gnostic, tin rằng con rắn trong Vườn Địa Đàng đang cố gắng giải phóng Adam và Eva khỏi sự trói buộc của một vị thần hạ giới hữu hạn và ban cho họ kiến thức về đấng Tuyệt Đối. Vimalananda, người từ chối chấp nhận ý niệm về Tội Tổ Tông, cũng coi câu chuyện về Adam và Eva là một huyền thoại Kundalini, một biểu tượng cho sự giáng xuống của ý thức vào vật chất. Vì sự tự đồng nhất của Kundalini với vật chất là điều thiết yếu cho cuộc sống hữu hình, Vimalananda lập luận rằng Adam và Eva trước tiên phải rời khỏi Vườn Địa Đàng để cuối cùng có thể sáng suốt quay trở về trạng thái hoàn hảo.

    Một hàm ý khác của Kundalini như con rắn: chừng nào nó còn ngủ, bạn và nhân cách tạm thời của bạn có thể vẫn sống trong sự vô minh và khỏe mạnh, nhưng một khi bạn đánh thức nó khỏi giấc ngủ, bạn phải hấp thụ nọc độc của nó hoặc là chết, không có lựa chọn nào khác.

    Luân Xa

    Mặc dù các luân xa của thân vi tế đã được các nền văn hóa khác, như Ai Cập cổ và Navajo xác định, nhưng chúng chưa bao giờ được giới thiệu trực tiếp vào tôn giáo đại chúng. Điều này có lý do chính đáng. Việc Kundalini của chúng ta chưa được đánh thức, các luân xa bị đóng lại là một hình thức bảo vệ, sự tồn tại của các chúng sinh hữu hình chỉ khả thi khi hệ luân xa thường bị tắc nghẽn. Trên thực tế, nhiều rối loạn do Kundalini gây ra không phải do một luân xa bị tắc nghẽn mà do thiếu đi chính sự tắc nghẽn đó. Ảo tưởng rằng hệ luân xa là nguyên nhân gây ra mất cân bằng sinh lý bắt nguồn từ sự nhầm lẫn giữa chính hệ luân xa và các cấu trúc tồn tại khác liên quan đến chúng. Các luân xa được đề cập ở trên, Muladhara và phần còn lại, chỉ hoạt động khi Kundalini di chuyển bên trong chúng, vào mọi thời điểm khác, những gì hoạt động chỉ là các cấu trúc tương ứng nhưng nông hơn của chúng. Athur Avalon nhận xét:

    Từ điểm nhìn khác quan, các trung tâm vi tế, hay luân xa, điều khiển và duy trì sự sống cho các đường dẫn cơ thể thô sơ được biểu thị bằng những vùng khác nhau của cột sống và các hạch thần kinh, đám rối thần kinh, dây thần kinh, động mạch, cùng các cơ quan nằm tại những vùng tương ứng này. Do đó, chỉ với ý nghĩa là các đại diện bên ngoài thô sơ của các trung tâm trên cột sống thì chúng ta mới có thể liên kết các đám rối thần kinh cùng những thứ tương tự với các luân xa được đề cập tới trong sách Yoga. Theo ý nghĩa này, chỉ có toàn bộ đường dẫn, kéo dài từ trung tâm vi tế đến ngoại vi, với các yếu tố cơ thể tương ứng của nó, mới có thể được gọi là luân xa.(Trích từ cuốn Sức Mạnh Hỏa Xà, trang 161-2).

    Các luân xa là những nút thắt trói buộc ahamkara vào sự tự đồng nhất với các chất liệu cấu thành nên vũ trụ. Mỗi một trong năm luân xa dưới thấp là nơi ahamkara cùng một trong các nguyên tố gặp gỡ và tương tác, luân xa kết nối ahamkara với tần số của nguyên tố đó, về cơ bản là truyền tải nguyên tố đó vào ý thức của sinh vật.

    Ahamkara chỉ tiếp tục nhận thức và điều khiển nguyên tố đó trong cơ thể chừng nào mối liên kết này còn nguyên vẹn. Nỗ lực có ý thức để mở các luân xa, chẳng hạn như quán tưởng chúng rồi tụng niệm các câu mật chú Bija của chúng, có thể khiến một hoặc nhiều luân xa mở ra sớm, việc này sẽ làm gián đoạn khả năng điều khiển nguyên tố đó của ahamkara trong cơ thể. Một khi những nút thắt này được gỡ bỏ, việc thắt lại chúng trong khi năng lượng vũ trụ đang tràn ngập hệ thống cũng khó khăn như việc vá một lỗ thủng trong đập khi hàng triệu tấn nước đang cố gắng chảy ra ngoài. Tốt hơn hết là các luân xa nên tự mở ra khi chúng đã sẵn sàng, điều này xảy ra khi ba lớp vỏ bao phủ của Kundalini đã được loại bỏ thông qua sadhana.

    Kula Kundalini

    Siddhi có nghĩa là thành công trong việc thực hành sadhana. Trong khi về mặt kỹ thuật, siddha là bất cứ ai thành công trong sadhana, nhưng Vimalananda chỉ sử dụng từ Siddha để nói về người đạt đến sự bất tử và các quyền năng siêu nhiên nhờ sadhana. Việc giải phóng Kula Kundalini là một dạng siddhi, mặc dù nó không nhất thiết khiến người ta bất tử.

    Kula, cũng có nghĩa là “toàn thể”, “từ bỏ bản ngã”, “con đường của Sushumna”, là Shakti, vũ trụ biểu hiện. Trong khi Akula, là Shiva, đấng Tuyệt Đối Vô Hình. Một hành giả Kaula cho rằng vì Shiva không có Shakti thì bất động, thậm chí có thể không tồn tại, nên hai thực thể này nhất thiết phải bình đẳng trong thế giới của chúng ta. Trong cơ thể con người cũng như trong vũ trụ, ý thức có thể giáng xuống từ trên cao, nhưng nó phải được biểu hiện từ dưới lên, Adam và Eva phải rời khỏi Vườn Địa Đàng nếu thế giới muốn thịnh vượng. Sáng Tạo xảy ra khi Kundalini giáng hạ từ Akula xuống Kula, còn Hủy Diệt khi nó trở lại Akula. Chính trong bối cảnh này mà Kundalini được gọi là gái điếm, bởi vì nó luân phiên giữa sự hợp nhất với sáng tạo và hợp nhất với Shiva (hủy diệt). Trừ khi Kundalini của bạn được kiểm soát có ý thức, hai trạng thái này dao động nhanh đến mức dường như tồn tại đồng thời.

    Chuyện Vimalananda đề cập đến “gia đình mà bạn được sinh ra” không chỉ giới hạn ở gia đình huyết thống:

    “Yoga hướng đến việc biến mọi gia đình thành nơi hạnh phúc. Khi mỗi thành viên gia đình đều nỗ lực hết mình để gắn kết gia đình và làm cho nó thành công, đó mới là Yoga đích thực. Tôi không nhất thiết chỉ nói đến gia đình mà bạn sinh ra hay kết hôn. Bất cứ ai mà bạn sống cùng đều là gia đình. Như chúng ta nói trong tiếng Phạn, vasudeva kutumbum, chúng ta đều là thành viên gia đình Thượng Đế.”

    Ý tưởng về Kula như một gia đình gồm những người tu luyện có cùng chí hướng, sau khi cải hóa Kundalini lạc lối của mình, cùng theo đuổi những con đường tương tự hướng tới Chân Lý, có thể được lấy cảm hứng từ ý tưởng Veda về gotra, hay dòng dõi. Gotra là một chuồng bò, bảo vệ các con bò, bởi vì một nhóm gia đình thuộc cùng một dòng họ thường cùng nhau bảo vệ đàn bò trong một chuồng duy nhất, nên từ này dần được dùng để chỉ chính dòng họ đó. Gotra cũng có nghĩa là “bảo vệ các giác quan”, mỗi gotra bắt nguồn từ một Rishi, các thành viên của nó chia sẻ gen và nhiễm sắc thể giúp họ dễ dàng thành công trong một loại sadhana cụ thể. Có lẽ theo thời gian, việc truyền lại dòng dõi tâm linh trực tiếp cho con cái thông qua hệ thống gotra trở nên khó khăn hơn, nên hệ thống kula ra đời. Chỉ một vài gia đình có hệ thống gia phả ở Ấn Độ còn giữ được dòng dõi tâm linh của họ, hầu hết các bậc thầy, như Vimalananda, nhận thấy rằng con cái tâm linh của họ đến từ những cha mẹ ruột khác.
  2. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    CÁC PHÁP SƠ KHỞI

    Không lâu sau khi gặp ông, Vimalananda đề nghị tôi thay đổi thói quen ăn uống để giải quyết chứng kiết lỵ thường xuyên hành hạ kể từ khi tôi tới châu Phi. Sau khi thích nghi với chế độ ăn uống nghiêm ngặt chủ yếu là sữa, một chế độ ăn mà tôi tự hào chia sẻ với người Masai, tôi nhận ra rằng mục đích của ông không chỉ giới hạn ở khía cạnh y tế.

    Một ngày nọ, khi hỏi tôi có thích các món ăn đó không, tôi trả lời: “Rất ngon, cám ơn ông, tôi không còn đói như trước nữa.”

    Ông mỉm cười vẻ hiểu biết.

    “Vậy đó có phải là một phần của kế hoạch không?” tôi tiếp tục.

    Ông gật đầu xác nhận.

    “Có nhiều cách để tạo áp lực lên Kundalini nhằm khuyến khích nó di chuyển lên trên”, ông bắt đầu. “Một số tư thế asana, mà các bạn đã biết một phần.”

    Ông dừng lại. Tôi liền xen vào: “Và luyện tập”.

    Ông tiếp tục: “Có thể giúp ích, đặc biệt là những trường hợp mà luân xa Muladhara bị ấn mạnh bằng bàn chân. Tôi nghĩ bạn hiểu tại sao rồi chứ?”

    “Chúng ngăn cản Apana di chuyển xuống dưới.”

    “Chính xác: chúng giúp Apana dâng lên. Tuy nhiên, vì Apana là dạng prana chịu trách nhiệm bài tiết, nên táo bón có thể xảy ra, điều này có thể làm mất cân bằng hệ thống của bạn. Bạn có nhận ra vấn đề này không?”

    “Tôi từng bị như vậy, mỗi khi tập các asana đó quá mức.” Tôi trả lời ngượng ngùng.

    Ông lại cười: “Đúng vậy, giống tôi, bạn có xu hướng làm mọi việc quá mức. Tuy nhiên, để phòng ngừa bệnh tật, bạn phải tránh làm bất cứ việc gì làm nặng thêm Apana trong khi đang cố gắng kích thích Kundalini dâng lên, đặc biệt là vì tiền sử bệnh kiết lỵ của bạn. Bằng cách giảm lượng thức ăn, bạn sẽ giảm lượng nước tiểu và phân, nhờ vậy hạn chế tác hại của táo bón. Bằng cách giảm hoặc loại bỏ quan hệ sinh lý, bạn sẽ ngăn ngừa việc mất tinh khí hoặc dịch âm đạo, cả hai đều cần Apana chuyển động mạnh mẽ xuống dưới.”

    Lúc đó tôi vẫn còn trinh nguyên.

    “Giảm thời gian ngủ cũng rất quan trọng. Tôi đã phải kinh qua tác hại của việc thiếu ngủ khi đang tu luyện để trở thành một Aghori. Vị thầy của tôi đã chế giễu và nói: “Cậu nghĩ có thể chịu đựng căng thẳng này sao? Thử xem!” Sau hai ngày không ngủ, bandha koshtha, trạng thái táo bón tuyệt đối bắt đầu. Tôi không thể diễn tả nổi nỗi đau đớn đó. Tôi bắt đầu chảy máu và xuất hiện các vết nứt, nhưng tôi ngoan cố và đã vượt qua được.”

    “Kundalini Yoga thông thường đã đủ khó rồi, nhưng Aghori còn làm cho nó mãnh liệt hơn nữa. Bạn có biết cảm giác tràn đầy dục vọng như thế nào không? Bạn không thể chờ đợi để tận hưởng ân ái, bạn sẽ xé toạc quần áo của mình, rồi xé toạc quần áo của đối tác. Tương tự, một Aghori tràn đầy khát khao kinh nghiệm chân lý, sẽ xé toạc lớp vỏ bọc, lớp áo choàng của vũ trụ khi người đó muốn yêu nó. Nếu thực sự muốn tiến bộ trong Kundalini Yoga, bạn phải quên đi thân xác, thứ đang che phủ ý thức của bạn, và để làm được điều đó, trước tiên bạn phải quên đi thức ăn và nước uống. Sau ba ngày không được uống nước, bạn bắt đầu cảm thấy chóng mặt, máu đặc lại, vân vân. Sau năm ngày, bạn bắt đầu thở hổn hển, trừ khi bạn thực sự quyết tâm, bạn sẽ quyết định rằng mình không muốn chết, rồi bạn sẽ uống. Aghori là con đường nhanh chóng, trực tiếp, nhưng nó quá khó đối với hầu hết mọi người.”

    “Nếu không muốn ép mình bỏ ăn, muốn tiến bộ bằng mưu mẹo, đó là con đường của người tu luyện thông minh, trước hết bạn cần hiểu bản chất của thức ăn. Để làm được việc này, đầu tiên bạn phải hiểu thấu đáo bản chất Ba Lớp Che Phủ của vũ trụ, đó là gì?”

    “Ba Guna, Sáu Vị và Năm Đại Nguyên Tố.”

    “Sáu vị nằm bên trong cơ thể, chứ không phải bên ngoài. Họ đã dạy bạn điều này ở trường Ayurveda chưa?”

    “Họ đã ám chỉ đến điều đó.”

    “Họ đã ám chỉ đến điều đó rồi phải không? Dù sao thì, nếu muốn hoàn toàn không cần thức ăn và đồ uống, chỉ sống bằng không khí, bạn phải tự tạo ra tất cả các vị trong cơ thể, khi đó không cần phải lấy chúng từ bên ngoài. Amrita, cam lộ bất tử, là một chất do tuyến nội tiết tạo ra trong cơ thể, cần thiết cho mụ đích này.”

    Điều đó cũng được nói bóng gió tới trong Ayurveda, nhưng không được giải thích rõ ràng.

    “Sự tồn tại của chúng ta là nhờ Ba Guna: Sattva, Rajas, và Tamas. Hầu hết mọi người không biết rằng Sattva và Tamas là hai mặt của cùng một đồng xu. Sattva và Amrita là tinh túy của nguyên tố Lửa. Amrita trong đầu bạn, chất tuyến nội tiết này là biểu hiện vật chất của Sattva thanh tịnh. Tamas và Visha, chất độc chết người, là tinh hoa của nguyên tố Nước. Các độc tố chuyển hóa trong cơ thể đầu độc cả cơ thể và tâm trí bạn. Khi loại bỏ những đặc tính xấu khỏi chất độc, nó trở thành cam lộ, ngược lại nếu bạn thêm những đặc tính xấu vào cam lộ, nó sẽ trở thành chất độc. Ayurveda có rất nhiều ví dụ về cách các loại cây và khoáng chất độc hại có thể được sử dụng làm thuốc, và cách các loại thuốc bị sử dụng không đúng cách lại hoạt động như chất độc. Điều tôi nói có đúng không?”

    “Vâng, ông đúng!”

    “Rajas là cầu nối giữa hai thứ đó. Rajas có thể chuyển hóa Tamas thành Sattva, và nó cũng có thể làm suy giảm Sattva thành Tamas. Rajas là Shakti thanh tịnh, là năng lượng, chính là hiện thân của huyễn ảo, Maha Maya. Rajas không biết mình đang làm gì, nó chỉ làm thôi, vì vậy nó phải được kiểm soát tốt. Khi Rajas được kiểm soát đúng cách, hầu như mọi thứ đều có thể đạt được. Đấng duy nhất biết kiểm soát Sahkti là Shaktiman: Shiva.”

    “Rudra, một tên gọi khác của Shiva, nghĩa là rơi nước mắt. Rudra mang đến cho bạn không gì khác ngoài nước mắt, nhưng có sự khác biệt lớn giữa nước mắt bình thường và nước mắt phi thường. Trước khi nút thắt Rudra Granthi được xuyên thủng, hành giả rơi nước mắt vì đau khổ, vì ảo tưởng, bởi vì họ không chắc chắn về bản thân mình, hoặc về sự tồn tại của Thượng Đế. Mối nghi này tiếp tục cho đến khi nút thắt đó bị xuyên thủng, thì mọi nghi ngờ được xóa bỏ. Các tuyến trong cơ thể lúc đó bắt đầu tiết ra Amrita, chúng “rơi lệ”. Amrita này khiến người sùng đạo rơi lệ vì niềm vui nhiệm mầu.”
  3. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    “Shiva uống thuốc độc, nhưng ngài biến nó thành Amrita. Để làm được điều này, bạn phải hiểu mối quan hệ giữa visha, tức là chất độc, và vishaya, là đối tượng của giác quan. Thế giới của các đối tượng giác quan mới là độc tố thực sự vì nó không bền vững. Kiếp người ngắn ngủi coi nó là vĩnh cửu, điều này dẫn đến ảo tưởng mê lầm. Ví dụ, trong khi quan hệ sinh lý, người đàn ông cảm thấy: “Ồ, mình đang tận hưởng khoái lạc biết bao! Nhưng đột nhiên: phụt! Rồi anh ta nhận ra nó không còn nữa. Hình ảnh thiên đàng trong mơ của anh ta đã tan biến.”

    “Mọi thứ Shiva hấp thụ đều được chuyển hóa thành Amrita. Được gọi là Amrita vì nó vĩnh cửu, không phù du. Đó là lý do tại sao nó chỉ gắn liền với Shiva, là Chân Ngã của bạn, là linh hồn của bạn. Chừng nào còn ở thế gian, ý thức của bạn còn gắn liền với các đối tượng giác quan, đó là trạng thái phù du của vô minh. Chỉ khi đến với Shiva, bạn mới có thể tìm thấy Amrita.”

    “Để thu được Amrita, ân điển của guru cũng rất cần thiết, nhất là vào giai đoạn cuối, khi bạn chỉ còn ở ngưỡng của tiến bộ. Chuyện này giống như việc một vị Rishi hiến tế con dê để đưa nó lên một cõi cao hơn, nhưng con dê không biết điều đó và ban đầu cảm thấy rất đau đớn. Hành giả muốn nhịn ăn cũng phải chịu khổ, nhưng một vị thầy tốt sẽ không bao giờ bỏ cuộc, cuối cùng sẽ có được Amrita . Đệ tử vượt qua được sự thèm ăn và trở thành một Siddha, một vị bất tử.”

    Dĩ nhiên, đó là một tham vọng thầm kín của tôi vào thời điểm đó, như Vimalananda đã biết. Tôi lắng nghe kỹ hơn.

    “Đây là cách làm nhanh, nhưng ngay cả khi đệ tử không đủ mạnh mẽ để trở thành một Aghori và thực hiện các khổ hạnh khắc nghiệt kèm nhịn ăn, người đó vẫn có thể học cách sống mà không cần thức ăn. Đầu tiên, vị thầy sẽ cho phép người đó ăn bất cứ thứ gì cậu ta thích trong một thời gian ngắn. Khi những cơn thèm khát chính đã được xoa dịu, chế độ ăn uống của cậu ta sẽ bị hạn chế. Dĩ nhiên, cậu ấy vẫn thỉnh thoảng cảm thấy đói dù không muốn. Dù sao, vì điều này không phải lỗi của cậu ta nên vị thầy sẽ cho cậu đi ngủ, chỉ trong khoảnh khắc. Đệ tử sẽ bị chế ngự bởi cơn buồn ngủ không thể cưỡng lại, và giấc ngủ sẽ khiến cậu quên đi cơn đói.”

    Lúc đó, ông liếc nhìn tôi tinh quái khiến tôi bật cười. Tôi vốn nổi tiếng là hay ngủ gật ở bất kỳ tư thế nào, nhưng trong giai đoạn này của cuộc đời, chuyện đó gần như xảy ra hàng ngày, khiến mọi người xung quanh hay trêu chọc tôi về điều đó. Thì ra ông đứng sau tất cả.”

    Vimalananda cũng bắt đầu cười khúc khích, rồi tiếp tục: “Một người đói thường không thể ngủ, đói và ngủ là hai thái cực đối lập, mà đối lập thì có thể rất hữu ích. Sau vài ngày ngủ mất kiểm soát, cơ thể đệ tử sẽ thích nghi với chế độ ăn mới. Hắn sẽ duy trì ở trạng thái đó một thời gian cho đến khi hoàn toàn ổn định, sau đó sẽ có những hạn chế cao hơn và những giai đoạn điều chỉnh tiếp theo. Cuối cùng mục tiêu sẽ đạt được.”

    Tôi không thể nhịn được cười: “Liệu tôi có ngủ gật vào giờ ăn trưa trong vài năm tới không?”

    “Có thể sẽ mất nhiều thời gian như vậy đấy. Thành công với phương pháp này vẫn còn xa vời đối với bạn hay bất cứ ai khác, đặc biệt là hiện nay trong kỷ Kali này, khi hầu hết prana của chúng ta đều đến từ thức ăn. Có một cách khác: bạn tiếp tục ăn, nhưng bạn mất hết vị giác đối với thức ăn. Đó là con đường của Aghora.”

    “Thực ra, để làm được điều này, bạn phải từ bỏ sở thích đối với mọi đối tượng giác quan, bởi vì các đối tượng giác quan có thể làm xáo trộn ý thức của bạn. Do chúng ta đang sống trong Kali Yuga, thời đại mà hầu hết năng lượng sống của chúng ta đều đến từ thức ăn, bạn không thể mong đợi tâm trí mình thanh tịnh nếu thức ăn của bạn không thanh tịnh. Ý thức của bạn là một hiện tượng hóa học vốn tồn tại nhờ vào thành phần hóa học trong chế độ ăn của bạn.”

    “Thức ăn của bạn chắc chắn có thể làm xáo trộn việc tu luyện, nước bạn uống và không khí bạn thở cũng vậy. Đó là lý do tại sao Tantra nhấn mạnh đến việc thanh lọc các yếu tố cấu thành thân thân thể bạn. Ngay cả khi phải bắt đầu với những vật liệu bị ô nhiễm bởi dục vọng và tham chấp của người khác, bạn vẫn có thể sử dụng chúng an toàn sau khi chúng đã được thanh tẩy khỏi mọi ảnh hưởng tiêu cực như vậy. Đó là lý do tại sao một Aghori có thể sử dụng nước thải hoặc nước sông Hằng cho các nghi lễ của mình, vị đó chuyển đổi cả hai thành cùng một chất tinh khiết. Nếu không thì bạn nghĩ tại sao Telang Swami dám thờ cúng Kashi Vishvanatha bằng nước tiểu và phân của chính mình?”

    Vimalananda đã kể cho tôi nghe một vài câu chuyện về Telang Swami, niềm tự hảo của Benaras, một số chuyện có trong Aghora.

    “Ngoài thức ăn ra còn có những thứ khác ảnh hưởng đến chúng ta phải không?” tôi cho là vậy.

    “Mọi thứ đều ảnh hưởng đến chúng ta. Hãy lấy Roshni làm ví dụ. Con bé rất may mắn khi được đeo những chiếc vòng tay của mẹ tôi. Bà đã đeo chúng suốt 65 năm, trong thời gian đó, bà luôn niệm thần chú mà vị guru đã dạy. Chẳng trách tâm trí của Roshni trở nên minh mẫn hơn kể từ khi bắt đầu đeo chúng, bởi vì vòng được đeo ở cổ tay, nơi có một số kinh mạch quan trọng. Nếu tôi bắt Roshni đeo vòng tay của mẹ nó, bạn sẽ thấy chỉ sau vài ngày tâm trí của nó trở nên định kiến và u ám thế nào. Vì vậy, tôi khuyên bạn không nên đeo bất cứ đồ trang sức nào trừ khi bạn biết rõ nguồn gốc của nó.”

    Tôi hiểu rồi. “Tất nhiên việc những chiếc vòng tay được làm bằng vàng có ảnh hưởng nhất định phải không? Ý tôi là, nếu chúng được làm bằng thép thì cô ấy sẽ không đạt được kết quả tương tự, phải không?”

    “Không.” Ông trả lời. “Chúng sẽ có tác dụng khác. Đeo vòng tay bằng sắt hoặc thép giúp bạn tránh bị một số loại hồn mà thấp kém chiếm hữu, nhưng chúng cũng làm mờ trí óc của bạn. Bất cứ thứ gì bạn đeo đều sẽ làm ảnh hưởng đến ý thức của bạn theo những đặc tính vốn có của chất liệu cấu thành nên nó. Nhưng quan trọng hơn cả bản thân món đồ trang sức là những rung đông gắn liền với nó. Mẹ tôi tụng kinh cả ngày, những rung động của mật chú đó đã thấm sâu vào chiếc vòng tay của bà. Dó là vì sao những chiếc vòng tay của bà có giá trị, không phải vì chúng được làm bằng vàng. Chúng cũng sẽ có giá trị nếu được làm bằng đất sét. Điều này áp dụng cho bất cứ món trang sức nào, bất kỳ quần áo nào, mọi thứ bạn đang sử dụng, nhưng tác dụng rõ rệt hơn đối với thức ăn vì thức ăn đi vào bên trong bạn rồi trở thành một phần của bạn.”

    “Việc này cũng áp dụng cho nơi trồng trọt lương thực. Bạn có biết rằng chính mảnh đất mà Bombay được xây dựng trên đó lại bị nguyền rủa không? Đúng vậy, bản thân mảnh đất này đã bị nguyền rủa, điều đó có nghĩa là trọng lực của Bombay ảnh hưởng đến tâm trí của tất cả những ai sống ở đây. Vì lời nguyền này hiện diện trong lòng đất, mọi thực phẩm được trồng ở đây, bất kỳ nguồn nước nào được lấy từ đâu đều truyền những rung động tiêu cực vào bất cứ ai tiêu thụ chúng. Một trong những tác động của lời nguyền này là hễ có ai đến Bombay thì đều quên hết mọi chuẩn mực đạo đức và ngay lập tức nghĩ đến việc kiếm tiền nhanh nhất có thể, thậm chí bằng cách bán cả bà nội nếu cần thiết.”

    Một ý tưởng đáng để suy nghĩ. “Vậy hiệu ứng này có liên quan tới những gì ông đề cập trước đó về tính ô trược đến từ ham muốn và bám chấp của người khác không?”
  4. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Thức Ăn

    “Đó là vấn đề riêng biệk, nhưng nguyên tắc vẫn giống nhau, thức ăn đóng vai trò là chất dẫn, là phương tiện trung gian cho bất kỳ rung động nào được thêm vào. Hãy nhớ rằng Shaktipat Diksha có thể được truyền cùng với nước, hoặc với một chất nào đó mà đệ tử ăn vào. Mỗi lần ăn thứ gì đó, bạn đang vô tình hấp thụ đủ loại rung động, đủ loại shakti, một trong số đó có thể gây mất cân bằng cho hệ thống của bạn.”

    “Người lớn tuổi ở Ấn Độ phàn nàn về chất lượng thực phẩm được sản xuất trong nước hiện nay, có nhiều sự thật trong đó. ví dụ, trong quá khứ, hạt lúa mì nhỏ nhưng nặng, một chiếc roti (bánh tỏtila làm từ lúa mì nguyên cám) sẽ làm cho bạn no hơn ba chiếc roti làm từ những hạt lúa mì lớn, nhẹ, được bón phân quá mức như ngày nay. Đúng là ngày xưa lương thực ít hơn nhưng người ta ăn ngon hơn.”

    “Có ít nhất sáu lỗi trong thực phẩm chúng ta ăn ngày nay. Thứ nhất đến từ người nông dân tham lam muốn bán mùa màng với giá cao hơn nên đã bón quá nhiều phân, dẫn đến hậu quả như đã thấy. Ngũ cốc đóng vai trò như một phương tiện truyền tải lòng tham của họ đến chúng ta.”

    “Lòng tham này càng trầm trọng hơn bởi bên trung gian mua hàng từ nông dân. Hắn lừa gạt nông dân bằng cách gian lận trong việc cân đo, lỗi thứ hai, rồi lại thêm trấu hoặc tạp chất vào sản phẩm để tăng lợi nhuận khi bán cho thương lái, lỗi thứ ba. Chính người bán hàng là nguyên nhân cho lỗi thứ tư, vì họ gian lận trong việc đo lường khi bán cho công chúng.”

    “Lỗi thứ năm đến từ đầu bếp, người đang vội vã đi làm việc khác nên không tiếp cận thức ăn với lòng tôn kính đúng mực. Ăn đồ nhà nấu vẫn tốt hơn ăn ở nhà hàng, đầu bếp nhà hàng vốn là người làm thuê, chẳng quan tâm gì đến sức khỏe của bạn cả. Nếu anh ta giận ông chủ vì lương thấp thì chẳng ai biết anh ta có thể cho thêm thứ gì vào thức ăn của bạn.”

    “Lỗi lầm thứ sáu khi người ăn quên tạ ơn đấng Tạo Hóa trước khi ăn. Với toàn bộ những lỗi lầm này, liệu có gì đáng ngạc nhiên khi thức ăn không còn bổ dưỡng như xưa nữa? Đây chính là hậu quả của kỷ Kali.”

    Đây là một ý tưởng mới mẻ đối với tôi, cho rằng suy nghĩ và ham muốn của một người được phản chiếu và bám vào những gì người đó có, hay những thứ người đó muốn có. Tôi không hoàn toàn hiểu tại sao điều này lại trở nên quá đặc trưng đến vậy trong Kali Yuga, nhưng tôi biết Vimalananda cuối cùng sẽ giải thích nếu tôi bày tỏ thắc mắc đó, vì vậy tôi đã không ngắt mạch trình bày của ông.”

    “Tôi luôn thích những món ăn đơn giản”, ông tiếp tục, “vì bạn có thể nếm thử hoặc thậm chí chỉ cần nhìn vào, và rất dễ để biết chính xác người nấu đang nghĩ gì khi chế biến món ăn đó. Vì vậy, bạn ngay lập tức có được một số ý tưởng về những gì đang diễn ra trong gia đình, bởi những suy nghĩ đó được truyền đến bạn thông qua thức ăn. Đó là vì sao việc lựa chọn kỹ thức ăn mà bạn sẵn lòng chia sẻ lại quan trọng đến vậy. Bạn không muốn những ý đồ đen tối hủy hoại tâm thức của mình phải không? Chắc chắn là không, nếu bạn đang có gắng thực hành một vài sadhana.”

    “Đây là một lý do vì sao ăn chay thường là lựa chọn tốt nhất nếu muốn thực hiện bất kỳ sadhana nào, nó giúp tâm trí bạn trở nên thanh tịnh hơn nhiều. Bạo lực liên quan đến việc giết hại động vật sẽ được truyền vào tâm thức của bạn khi ăn thịt chúng. Những người muốn biện minh cho việc giết hại động vật nói rằng: Nhưng thực vật cũng sống. Chẳng phải ông cũng giết và ăn chúng hay sao? Tôi đáp: Đúng vậy, chúng cũng sống, chúng cảm thấy đau đớn khi bị chặt để nấu. Mỗi khi cầm một cây bắp cải trong tay, tôi nghĩ: Ôi, thánh mẫu, giờ con sẽ cắt ngài. Đừng lo nó sẽ không đau đâu, con sẽ chăm sóc ngài.”

    Tôi không thể nhịn cười, vì đã thấy ông làm điều này nhiều lần đến nỗi tôi cũng bắt chước theo. Lòng từ bi sẵn có của Vimalananda vốn dành cho vạn vật, ngay cả những hộp diêm rỗng và lớp sơn bong tróc, thật tự nhiên, chân thành, thành tâm đến nỗi khó mà không noi theo tấm gương của ông.

    “Vấn đề là thực vật có khả năng biểu cảm kém hơn động vật, do đó nghiệp chướng từ việc ăn chúng cũng ít hơn. Lời nguyền mà chúng dành cho bạn vì ăn chúng sẽ nhẹ hơn lời nguyền mà một con vật giáng xuống bạn vì giết nó.”

    “Vấn đề khác của việc ăn mặn, sau tất cả, là thịt, khi bạn để Jathara Agini đồng nhất với thịt để tiêu hóa nó, bạn đang khuyến khích ahamkara của mình tự đồng nhất mạnh mẽ hơn với chính xác thịt của bạn, việc này sẽ không giúp bạn gỡ bỏ Kundalini khỏi những trói buộc của chính nó. Ít nhất thì thực vật cũng cung cấp ít thứ để ahamkara tự đồng nhất với chúng. Thực ra, thịt đôi khi được sử dụng trong nghĩ lễ Tantra, gọi là Panchamakara Sadhana, nhưng đó là chuyện hoàn toàn khác.”

    “Đó là gì vậy?”

    “Tôi sẽ kể cho bạn sau. Bây giờ hãy nghĩ về thức ăn. Cách tốt nhất để tránh mọi ảnh hưởng tiêu cực trong thức ăn của chúng ta là hoàn toàn không ăn gì cả. Để làm được việc này, bạn phải tiến hành từng bước: trước hết bạn trở thành người ăn chay, sau đó chỉ ăn củ và quả, rồi đến sữa. Sữa được bò cho đi tự do, nó truyền một phần tình mẫu tử từ bò đến người uống, đây là lý do thực sự vì sao các yogi thích uống sữa. Tiếp theo bạn chuyển sang chỉ uống nước, và sau cùng là không khí. Những người sống chỉ bằng không khí nhận được prana trực tiếp từ bầu khí quyển. Họ không dùng miệng để ăn, họ ăn bằng mọi lỗ chân lông trên cơ thể. Tuy nhiên việc tiếp nhận ánh sáng mặt trời là rất cần thiết đối với họ, cũng như đối với thực vật.”

    “Ồ. Đó là một lý do khác khiến các Rishi thờ mặt trời” tôi nói đùa.

    “Đúng vậy. Một Rishi có thể tụng niệm Gayatri và sống nhờ năng lượng mặt trời. Nhưng điều đó quá xa vời. Người bình thường như bạn và tôi phải ăn. Bây giờ tôi đang đói, vậy chúng ta ăn thôi!”

    ***

    Vimalananda luôn thích tự nấu ăn để bảo vệ tính thanh tịnh của tâm thức. Món ăn của ông luôn được nấu hoàn hảo, nhẹ nhàng, dễ tiêu hóa, là một bữa tiệc cho cả mắt lẫn dạ dày. Chẳng bao lâu sau tôi dành khá nhiều thời gian trong bếp. Rồi ông bắt đầu dạy tôi nấu ăn theo phong cách riêng của ông, mặc dù vì những giới hạn về chế độ ăn uống, tôi hiếm khi được ăn bất cứ thứ gì do ông hay tôi nấu. Một vài người bạn lắm chuyện của ông than vãn: “Robby tội nghiệp chắc đói lắm!” Nhưng tôi thích các sản phẩm từ sữa nên không mấy nhớ những món ăn bình thường. Vimalananda đôi khi nói với tôi, sau khi những người lắm chuyện đó rời đi: “Những người như vậy cố gắng hết sức để thể hiện họ quan tâm đến bạn, nhưng thực ra họ không quan tâm, đó chỉ là một mánh khóe để khiến con nghĩ tốt hơn về họ. Tất cả chỉ là vẻ bề ngoài, chỉ là một bong bóng phù phiếm tinh vi.” Tôi biết ông nói đúng, nên tôi phớt lờ họ rồi tiếp tục tận hưởng công việc nấu nướng của mình.

    Một hôm sau buổi trà chiều, khi chủ đề lại quay về thức ăn cùng những tác hại của nó, tôi lại hỏi làm sao để ngăn chặn chúng ảnh hưởng đến mình, với hy vọng tìm được một góc nhìn mới về vấn đề này, Vimalananda bắt đầu giải thích cách thanh lọc Năm Đại Nguyên Tố cấu thành nên thân thể. Như thường lệ, ông bắt đầu bằng cách xem xét phương pháp thanh lọc cực đoan nhất: Panchamakara. Ngay khi ông nhắc đến Panchamakara, tai tôi lập tức chú ý, vì ông đã gián tiếp đề cập đến nó nhiều lần mà không giải thích chi tiết, biết rằng tôi sẽ đặc biệt lắng nghe khi cuối cùng ông cũng giải thích cho tôi hiểu.
  5. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Panchamakara

    “Các bạn biết đấy, toàn bộ mục đích của Tantra là giải thoát chúng ta khỏi mọi giới hạn. Thế giới đầy rẫy những ảnh hưởng tiêu cực hạn chế ý thức của chúng ta, một trong những giới hạn lớn nhất chính là Năm Nguyên Tố cấu thành nên vũ trụ. Nếu có thể thanh lọc những nguyên tố này bên trong mình, các bạn có thể giải thoát bản thân khỏi ảnh hưởng của chúng, khi đó Kundalini của các bạn sẽ được tự do trỗi dậy không bị cản trở. Như đã nói với các bạn trước đây, Bhuta Shuddhi (thanh lọc tâm linh) là bản chất của Tantra. Mọi puja (nghi lễ thờ cúng) thực chất đều là Bhuta Shuddhi. Không thể thờ phụng Shakti trừ khi các bạn sử dụng những đại diện của Năm Nguyên Tố dưới hình thức này khác để giúp thanh lọc chính những nguyên tố đó.”

    “Puja khả thi đơn giản nhất, được hàng chục triệu người thực hiện mỗi ngay bao gồm việc dâng hoa lên Thượng Đế, tượng trưng cho nguyên tố Ether, hương trầm cho Không Khí, đèn cho Lửa, thức ăn cho Nước, bột gỗ đàn hương hoặc một loại mỡ thơm khác cho Đất.”

    “Panchamakara cũng sử dụng các đại diện của Ngũ Đại, nhưng chúng khác với những đại diện mà hầu hết mọi người sử dụng. Panchamakara nghĩa là năm chữ M: mamsa, matsya, mudra, madira và maithuna. Thông thường, chúng được dịch là thịt, cá, ngũ cốc rang, rượu và giao hợp. Một trong những lý do khiến Tantra mang tiếng xấu ngày nay là do mọi người đã đọc hoặc nghe về nghi lễ này rồi tin rằng bạn phải là một kẻ say xỉn, ăn thịt bừa bãi mới có thể là một hành giả Tantra.”

    “Những người lảm nhảm những chuyện như vậy chẳng hiểu mình đang nói gì. Mỗi chữ M trong Ngũ Đại đại diện cho một nguyên tố khác nhau. Ngũ cốc tương ứng với Đất, cá với Nước, rượu với Lửa, thịt với Không Khí, ái dục với Ether. Theo cách này, chính vũ trụ được sử dụng như những vật phẩm thờ cúng. Đó là vì sao hành giả Tantra có thể nói: Sự giải thoát đạt được bằng cách sử dụng những thứ gây ra sự trói buộc. Thông thường, việc sử dụng thịt, cá và các loại thực phẩm kích thích khác, rượu hoặc ái dục sẽ trói buộc bạn chặt chẽ hơn với thế giới, nhưng nếu bạn sử dụng những thứ này theo cách của Tantra, chúng có thể là nguồn gốc giải thoát khỏi các trói buộc, bằng cách kích thích sự vận động tự do của Kundalini. Dĩ nhiên, điều quan trọng là phải sử dụng chúng đúng cách.”

    “Trong phương pháp Panchamakara vật chất, hầu hết sự kích thích đến từ chính các chất. Với lượng nhỏ, rượu làm tăng cảm giác thèm ăn, nó là một chất rất nóng, những thứ nóng luôn kích thích lưu thông máu trong cơ thể. Cá chứa nhiều phốt pho. Khi nhớ rằng phốt pho sẽ cháy khi tiếp xúc với không khí, bạn có thể tưởng tượng nó nóng đến mức nào. Phốt pho làm tăng cảm giác thèm ăn bằng cách tăng lưu lượng máu đến tất cả các cơ quan, bao gồm cả não. Sự kích thích thèm ăn này khiến bạn đói đến mức muốn ăn thịt và ngũ cốc rang, việc này càng làm tăng lưu lượng máu. Lượng máu lưu thông thêm làm giãn các mao mạch trong não, cung cấp thêm năng lượng cho các tế bào, khiến cho đời sống ái dục tốt hơn gấp mười lần bình thường, do hưng phấn tột độ hiện hữu. Sự hưng phấn tối đa cải thiện cảm giác no và khiến tâm trí không còn hướng đến nhục dục chỉ vì bản thân nó. Nếu biết mình đang làm gì, mọi hưng phấn sẽ giúp bạn đánh thức Kundalini của mình.”

    “Chỉ ít người đủ khả năng sử dụng năm chữ M này”, ông kết luận, giáng một đòn vào tham vọng tâm linh của tôi. “Những người khác có thể sử dụng các phương pháp thay thế, hoặc tốt hơn nữa, nếu đã tiến bộ vượt bậc, họ có thể trực tiếp thực hiện Panchamakara tâm linh trực tiếp. Bạn có thể tưởng tượng điều đó sẽ như thế nào không?”

    Tôi lắc đầu.

    “Trong Panchamakara tâm linh, mamsa là lưỡi (khechari mudra). Bạn ăn thịt bằng cách giữ im lặng. Matsya là hơi thở, ăn cá nghĩa là nín thở thông qua pranayama. Mudra, ăn ngũ cốc là giữ cơ thể ở một tư thế nhất định để khuyến khích chuyển động tự do của Kundalini bên trong. Madira là rượu của cam lộ Amrita nhỏ xuống từ các tuyến bên trong đầu xuống cơ thể, còn Maithuna là sự hợp nhất của Kundalini Shakti với Shiva trong luân xa Sahasrara.”

    “Thậm chí còn có một phiên bản Adhidaivika của Panchamakara, nhưng có quá cao siêu để cho bạn có thể nghe nói đến ngay lúc này. Chỉ cần biết rằng Adhidaivika Panchamakara liên quan đến việc can thiệp vào gen và nhiễm sắc thể. Thế giới của Adhidaivika rất khó hiểu đối với hầu hết con người vì đó là thế giới của các vị nam nữ thần, những hiện thân của các lực lượng vũ trụ đã mang lấy những cá tính để tương tác với những sinh linh khác.”

    Ghi chú:

    Trong truyền thống Mật tông (Tantra) của Ấn Độ giáo, Adhidaivika Panchamakara là mức độ giải thích tâm linh cao nhất và trừu tượng nhất của nghi lễ "Năm chữ M" (Panchamakara).

    Ở mức độ này, các thực thể vật chất không còn được hiểu theo nghĩa đen mà được coi là các lực lượng vũ trụ hoặc các vị thần cai quản các quá trình sinh học và tâm linh tinh vi trong cơ thể con người.

    Ý nghĩa của các thành tố trong Adhidaivika Panchamakara

    Khác với mức độ vật chất (Adhibhautika - thực hành với rượu, thịt thật) hay mức độ tâm linh (Adhyatmika - liên quan đến các luân xa), Adhidaivika tập trung vào sự tương tác của các vị thần và các yếu tố di truyền:

    · Bản chất: Liên quan đến thế giới của các vị thần (Devas), nơi các lực lượng vũ trụ được cá nhân hóa để tương tác với các sinh vật khác.

    · Tác động: Nó được cho là có liên quan đến việc chuyển hóa hoặc "falsification" (làm giả/thay đổi) các gen và nhiễm sắc thể ở mức độ vi mô.

    · Mục tiêu: Vượt qua các rào cản từ số phận hoặc các lực lượng siêu nhiên (daiva) vốn gây ra đau khổ (adhidaivika duhkha).

    Sự khác biệt giữa các cấp độ Panchamakara

    Việc hiểu đúng cấp độ Adhidaivika giúp phân biệt rõ các cách thực hành Tantra:

    1. Adhibhautika (Vật chất): Sử dụng rượu (Madya), thịt (Mamsa), cá (Matsya), ngũ cốc (Mudra) và ******** (Maithuna) theo nghĩa thực.

    2. Adhyatmika (Tâm linh): Thay thế bằng các quá trình Yoga như kiểm soát hơi thở (Matsya), kiểm soát lời nói (Mamsa), và sự hợp nhất của Kundalini với Shiva tại luân xa vương miện (Maithuna).

    3. Adhidaivika (Vũ trụ): Sự tương tác của các vị thần trong cơ thể và sự thay đổi ở mức độ bản chất tinh vi nhất của con người.

    Khái niệm này thường rất khó hiểu và chỉ được giảng dạy bởi các bậc thầy (Guru) có trình độ cao vì nó liên quan trực tiếp đến các thực thể tâm linh ngoài tầm kiểm soát thông thường.
  6. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    “Lễ puja trong đó Panchamakara được thực hiện được gọi là Chakra Puja. Chakra ở đây là vòng tròn hoặc hình nhẫn, vì trong Chakra Puja, những người tham gia ngồi thờ cúng trong một vòng tròn lớn. Có những phiên bản Sattva của Chakra Puja, như Bhairavi Chakra, cũng có các phiên bản Rajas và Tamas. Hầu hết các hình thức của Chakra Puja đều là các biến thể của Panchamakara sadhana.”

    “Từ chakra có bao gồm cả các luân xa trong cơ thể không?”

    “Chắc chắn có. Những các tên như vậy không bao giờ được chọn tùy tiện. Tôi từng muốn sang phương Tây để thành lập một đạo tràng Chakra Puja, nhưng dĩ nhiên các vị thầy của tôi không cho phép.”

    Khi không muốn trả lời câu hỏi, ông sẽ chuyển sang chủ đề khác.

    “Tôi thực sự ngưỡng mộ người phương Tây, đặc biệt là người Mỹ, vì thái độ thực tế của họ. Họ mới là những hành giả Vedanta đích thực về mặt này, không giống như những kẻ thuyết giảng Vedanta ba hoa ở Ấn Độ chúng ta. Người phương Tây, hoặc ít nhất là một vài người trong số họ, có thể học cách thực hành Panchamakara đúng đắn vì họ không bị gò bó như người Ấn Độ ngày nay. Vấn đề duy nhất là, tôi không chắc họ có thể sống thiếu sắc dục đủ lâu để kiểm soát được nó, bởi vì ái dục đã trở nên quá tự do và phổ biến ở đó.”

    “Tantra cho biết rằng ăn uống, bài tiết, quan hệ tính giao và tu luyện đều phải được thực hiện nghiêm ngặt trong không gian riêng tư. Cả phương Tây và Ấn Độ đều đã đi chệch khỏ lý tưởng này nhưng theo những cách khác nhau. Người phương Tây quan niệm thoáng về chuyện quan hệ sinh lý công khai, ở bất cứ nơi công cộng nào nhưng họ rất nghiêm khắc trong việc nhấn mạnh rằng bạn phải bài tiết chất thải của cơ thể. Người phương Tây đi vệ sinh riêng tư. Ở Ấn Độ thì ngược lại, chúng tôi không quan tâm bạn tiểu tiện ở đâu. Nếu là một ông già thì sao? Bạn sẽ khó chịu nếu phải nhịn tiểu quá lâu. Chúng tôi không cổ súy vào ân ái công khai, mà tin rằng tình yêu nên được giữ kín. Chúng tôi tin vào việc loại bỏ những thứ ô uế bên trong mình, còn người phương Tây lại tin vào việc giữ lại những thứ ô uế đó rồi phô bày các “của quý” của họ trước mặt mọi người để người khác có thể lấy trộm.”

    Chuyện đó hơi quá đáng, nhưng tôi biết ông đang phóng đại để gây ấn tượng nên tôi bỏ qua.

    “Cách duy nhất để tiến bộ, ít nhất trong giai đoạn đầu, là hoàn toàn loại bỏ nhu cầu sinh lý. Hãy quên đi sự tồn tại của nó và bạn sẽ có thể tiến bộ, nếu không, bạn sẽ luôn đầu hàng trước cám dỗ, ít nhất về mặt tinh thần nếu chưa phải là thể xác. Đó là nguyên nhân tại sao hầu hết các hành giả, thử nghiệm với các nghi quỹ thực hành tính giao với phối ngẫu trước khi thực sự đạt được trạng thái vững vàng bên trong, đều khiến bản thân trở nên phóng đãng. Thực hành với phối ngẫu là một chuyện, quan hệ sinh lý thông thường là chuyện khác, đừng trộn lẫn hai thứ này với nhau. Nếu cố gắng vừa đánh thức Kundalini vừa tiếp tục với quan hệ sinh lý thông thường cùng một lúc, bạn có thể sẽ phát triển một ham muốn ân ái mãnh liệt.”

    “Tôi vẫn tin rằng cách tốt nhất để giải quyết vấn đề là ban đầu hãy phớt lờ người khác giới cho đến đến khi tâm thức bạn vững vàng. Lúc ngoài 20 tuổi tôi vẫn chưa bao giờ có bất cứ mối quan hệ nào với phụ nữ. Tôi là một đô vật, mà các đô vật được cho là phải tránh xa chuyện ân ái. Có lần tôi chuẩn bị đấu với một đô vật tên là Imam Bux, tôi đã đến gặp một ông lão để xin lời khuyên về cách đấy với anh ta. Ngay khi nhìn thấy tôi, ông nói: Thằng nhóc này thậm chí chưa bao giờ nhìn thấy xxx chứ đừng nói đến chuyện dùng nó, làm sao Imax Bux có thể đấu với nó được? Thực tế là tôi không gặp khó khăn gì khi đánh bại Bux trong trận đấu với hắn.”

    “Ông lão có thể nói vậy vì biết rằng trước khi vướng vào chuyện ái dục này, bạn hoàn toàn vô tư, nếu quyết tâm làm việc gì đó, bạn có thể dễ dàng đạt được mà không bị xao lãng. Nhưng một khi nhìn thấy bộ phận sinh dục nữ hoặc nam nếu bạn là nữ, nó sẽ có tác động kỳ lạ lên tâm trí bạn đến nỗi đôi khi chẳng vì lý do nào, bạn sẽ nhớ đến nó khiến cho sự tập trung của bạn bị gián đoạn. Điều này đúng với tất cả mọi người, không riêng bạn và tôi. Ngay cả một vị hiền triết đầy quyền năng như Vishvamitra cũng đã trở thành con mồi của một apsara.”

    Các apsara là những vũ nữ trong cung điện của Indra, vua của các vị thần. Nổi tiếng với vẻ đẹp mê hoặc, họ là những sinh linh quyền năng mà Indra đôi khi phái xuống hạ giới để quyến rũ các thầy tu sa vào dục vọng thái quá.

    “Vishvamitra đã thiền định với sự chú tâm tuyệt đối trong suốt mười ngàn năm, cho đến một ngày, vũ công thiên nữ Menaka đi dạo ngang qua. Bất chợt một cơn gió thổi bay chiếc áo mỏng manh mà nàng đang mặc để lộ thân hình đầy đặn săn chắc, quyến rũ trước mắt ông. Không báo trước, ánh mắt Vishvamitra đã dẫn ông lạc lối, rồi ông bị dục vọng chế ngự. Ông đưa Menaka sang một bên để lấy làm vợ.”

    “Mối quan hệ ân ái của họ kéo dài hàng ngàn năm, cho đến một ngày Vishvamitra nói: Này mỹ nhân, thật thú vị khi vui đùa cùng nàng ở đây trong vài giờ qua, nhưng giờ ta phải chuẩn bị cho puja tối nay.”

    “Thiên nữ nói: Ngài đang nói gì vậy Maharaj? Chiều hôm đó khi chúng ta lần đầu gặp nhau đã cách đây nhiều thế kỷ. Đây là con gái của chúng ta, Shakuntala. Khi Vishvamitra đột nhiên nhận ra mức độ sâu sắc của ảo ảnh mà mình đã sa vào, Menaka lặng lẽ rời đi, biết được lời nguyền của một Rishi có thể mạnh mẽ đến mức nào.”

    “Ai cũng có thể kể câu chuyện này, nhưng bao nhiêu người có thể giải thích ý nghĩa huyền bí của nó? Indra nghĩa là indiya, cơ quan cảm giác. Indra là chúa tể của các giác quan. Apsara, theo mật nghĩa, là một phương thức vận động đặc biệt của prana trong một nadi cụ thể, khiến bạn đột nhiên bị kích thích dục vọng mà chẳng có lý do nào cả. Một khi prana bắt đầu chuyển động trong nadi đó, việc loại bỏ nó sẽ là địa ngục. Tâm trí Vishvamitra không bao giờ thực sự hồi phục hoàn toàn sau khi bị Menaka lay động, cuối cùng ông ta lại kết hôn. Ông không cần phải kết hôn, vì từng là một vị vua khi còn trẻ và đã có rất nhiều vợ, nhưng ông đều đã từ bỏ họ để tu luyện. Tuy nhiên, sau khi từ bỏ nhục dục rồi lại bị gợi nhớ về đàn bà, ông không bao giờ có thể quên họ được nữa. Quên đi ái dục quả thực là một việc khó khăn.”

    “Còn Indra thì sao? Ngài được mô tả là có một ngàn con mắt, nhưng bạn có biết rằng một nghìn con mắt đó từng là âm hộ không? Ông ta mang trên mình một ngàn âm hộ vì đã quyến rũ Ahalya, vợ của hiền nhân Gautama. Indra để cho ý thức của mình bị các giác quan dẫn dắt, kết quả là bị Gautama nguyền rủa. Indra vô cùng xấu hổ khi thấy mình bị bao phủ bởi âm hộ, vì vậy ông ta ngoan ngoãn cầu xin hiền nhân, người đã hóa giải lời nguyền khiến những âm hộ đó biến thành con mắt. Bạn có đoán được câu chuyện này có ý nghĩa gì không?”

    “Tôi không thể.”

    “Một ngàn (-) đạo đó tượng trưng cho hàng nghìn vực thẳm mà bạn có thể sao vào, hàng ngàn, hàng triệu tử cung có thể giam cầm khiến bạn tái sinh khi khao khát khoái lạc mà chúng mang lại. Chúng trở thành đôi mắt vì bạn thường bị cám dỗ bởi chính đôi mắt của mình.”

    Ông im lặng một lát để suy nghĩ điều này, rồi tiếp tục.

    “Xu hướng bị cám dỗ bởi những khoái lạc giác quan đã tồn tại cùng chúng ta ngay từ lúc khởi nguyên, tất nhiên, nhưng nó mạnh mẽ hơn rất nhiều trong kỷ Kali. Bạn chắc đã nghe về bốn Yuga rồi phải không?”

    Tôi đã từng nhận được câu hỏi: “Bốn Yuga là bốn kỷ nguyên mà thế giới trải qua, lặp đi lặp lại. Mỗi kỷ nguyên kéo dài hàng nghìn hoặc hàng triệu năm. Kali Yuga, kỷ nguyên hiện tại của chúng ta, được cho là kéo dài 432 000 năm. Liệu đây có phải là những tính toán thực tế, hay những con số này chủ yếu mang ý nghĩa về mặt số học?”

    “Chúng chủ yếu dựa trên số học.”

    Joseph Cambell phát hiện ra rằng trong khi con số 432 (4x108) có ý nghĩa về mặt số học trong thần thoại Ấn Độ, Bắc Âu, Babylon và Do Thái, thì nó cũng có ý nghĩa trong thế giới vật lý. 432 là kết quả khi ta chia 25 920 năm trong một chu kỳ tiến triển của cung hoàn đạo cho 60. Một trái tim đạp 60 lần trong một phút sẽ là 86 400 lần một ngày (864:2=432), còn phổi thở 15 lần một phút sẽ là 21 600 lần một ngày (216x2=432). Ngay cả công ty Wilson, sau thời gian dài nghiên cứu, cũng kết luận rằng quả bóng golf của họ cần có chính xác 432 vết lõm để đạt được độ bay tối đa.”

    “Mỗi chu kỳ sáng tạo, hay “ngày” trong cuộc đời của đấng Tạo Hóa, được gọi là một kalpa. Mỗi kalpa đều có tên, kalpa hiện tại của chúng ta được gọi là Sveta Varaha Kalpa, Kiếp Lợn Rừng Trắng. Mỗi kalpa kéo dài hàng tỷ năm và được chia thành 14 thời kỳ gọi là manvantara, được cai quản bởi một manu, một thực thể là thủy tổ của các chủng tộc sống trên trái đất trong thời kỳ đó. Chúng ta hiện đang ở trong Vaivasvata Manvantara, là manvantara thứ bảy của Kalpa này.”

    “Mỗi manvantara được tạo thành từ khoảng 70 chu kỳ của Bốn Yuga. Bốn Yuga là Satya, Treta, Dvapara, và thời đại của chúng ta Kali. Hiện chúng ta đang sống trong Kali Yuga thứ 28 kể từ khi bắt đầu manvantara hiện tại.”

    “Vào cuối mỗi Kali Yuga đều có một pralaya, một thời kỳ mà tất cả các xã hội và cộng đồng bị hủy diệt, thường do thiên tai. Sau đó là một thời kỳ nghỉ ngơi, rồi Satya Yuga lại bắt đầu. Vào cuối mỗi manvantara đều có đợt hủy diệt trên diện rộng hơn, còn vào cuối mỗi kalpa, toàn bộ vũ trụ tạm thời bị phân rã thành các nguyên tố trong khi đấng Tạo Hóa “đi ngủ”. Khi ngài thức dậy, vũ trụ lại được tái tạo bởi tư tưởng của ngài. Chúng ta đều là các diễn viên trong giấc mơ của đấng Tạo Hóa.”

    “Vào lúc cuối đời, ngay cả đấng Tạo Hóa cũng hòa tan vào cái Tuyệt Đối, mặc dù hiện tại ngài đang ở nửa sau cuộc đời, không cần phải lo lắng vì ngài sẽ chết sau hàng nghìn tỷ năm nữa. Ngay cả sau khi ngài chết, một đấng Tạo Hóa khác cuối cùng cũng sẽ được sinh ra và chu kỳ sẽ tiếp tục. Sáng tạo và hủy diệt, hủy diệt và sáng tạo, thời gian cứ thế trôi đi.”

    “Ảnh hưởng của thời đại mà chúng ta đang sống tác động đến cả khát vọng hướng tới Thượng Đế và khả năng thực hiện khát vọng đó. Chừng nào còn là người phàm, bạn còn chịu sự chi phối của thời gian, và sẽ bị nhào nặn bởi bất cứ Yuga nào mà bạn sinh ra. Trong Satya Yuga, kéo dài ít nhất gấp bốn lần thời đại hiện nay, con người có sự chính trực gấp ít nhất bốn lần so với ngày nay. Không có tôn giáo nào trong Satya Yuga, mọi người thờ phụng bằng cách đồng nhất Bản Ngã cá nhân với Linh hồn Vũ trụ. Trong Satya Yuga (còn được gọi là Krita Yuga) con người đạt được mọi thứ họ cần bằng quyền năng ý chí. Không có bệnh tật, không có bất hòa, và chẳng có gì cản trở việc tu luyện của bạn.”

    “Trong kỷ Treta, một phần tư sự công chính này đã bị mất đi. Các nghi lễ hiến tế bắt đầu, con người đạt được những điều mình muốn thông qua hiến tế. Rồi đến kỷ Dvapara, một phần tư sự chính trực nữa lại biến mất, nhiều bệnh tật và tai họa xuất hiện, vì vậy khổ hạnh trở nên cần thiết. Con người trong Dvapara Yuga đạt được điều mình muốn nhờ vào sự khắc khổ của họ.”

    “Hiện nay trong kỷ Kali, chỉ có một phần tư lượng chính trực còn lại, hoặc có thể ít hơn, nếu xét đến những gì tôi đang thấy diễn ra trên thế giới này. Mọi thứ đều biến động và luôn thay đổi, bạn có thể nhận được những tác dụng trái ngược từ bất kỳ nghi lễ tôn giáo nào bạn thực hiện. Tuy nhiên, các kinh sách nói rằng Kali Yuga là thời kỳ tốt nhất trong tất cả các kỷ nguyên, đó là lúc mà mọi người, bất kể đẳng cấp hay nghiệp chướng, đều có thể giác ngộ Thượng Đế. Vấn đề là, hầu hết mọi người đều bị ảo tưởng Maya chi phối đến nỗi họ không còn khao khát muốn biết đến Thượng Đế.”

    “Cuối kỷ Kali sẽ là thời kỳ Ghora (khủng khiếp), khi mọi thứ trở nên thực sự tồi tệ trên thế giới, lúc đó cống rãnh tràn ngập rác rưởi. Tự nhiên sẽ làm sạch cống rãnh bằng bất cứ phương tiện nào mà ngài cho là phù hợp, rồi kỷ Satya lại bắt đầu.”

    “Những kỷ nguyên này dường như là một dạng mùa vũ trụ nào đó” tôi xen vào.

    “Đúng vậy, cũng như mỗi mùa đều có những đặc điểm riêng, mỗi yuga cũng vậy. Ngay cả các loài sinh vật chiếm ưu thế trong vũ trụ cũng khác nhau tùy theo yuga. Trong Satya Yuga, các deva (nghĩa đen là những người tỏa sáng) có cơ hội thể hiện vai trò của mình. Các deva hay sura là những gì mà hầu hết mọi người gọi là thần thánh. Họ là những sinh linh siêu phàm rất cao cấp thích giúp đỡ con người nếu chúng ta cầu xin sự giúp đỡ của họ theo cách đúng đắn. Họ có lượng Sattva dư thừa trong bản chất của mình, vì vậy họ là những sinh linh rất nhân từ. Nhưng họ không phải là Sattva thanh tịnh, bởi vì chúng ta thấy rằng họ luôn gặp rắc rối theo cách này hay cách khác. Không chỉ vậy, họ còn tự mãn. Một khi đã đạt được điều gì đó, họ cố gắng giữ lấy nó, họ không muốn tiến bộ hơn nữa. Tính tự mãn là đặc điểm của Tamas. Vì sự tự mãn của mình, họ luôn bị các asura chinh phục.”

    “Các asura (anti sura) cũng là những sinh linh tâm linh tiến hóa cao, nhưng họ hay ghẹn tị và ích kỷ. Họ là những sinh linh của Tamas, luôn âm mưu gây chiến với các deva để thách thức quyền thống trị vũ trụ. Nhưng họ cũng sở hữu một phần Sattva, nếu không có nó, họ sẽ không bao giờ có ý định tu luyện khổ hạnh, và họ có thể thực hiện những hình thức tu luyện khổ hạnh khủng khiếp, những sự khắc khổ kinh hoàng mà các deva không bao giờ dám mơ tới việc thực hiện. Thật không may, khi có được shakti nhờ các khổ luyện này, họ luôn lạm dụng nó. Ví dụ, họ đã học được cách điều khiển tâm trí của các sinh linh khác. Nếu sử dụng quyền năng này cho điều tốt đẹp, họ có thể mang lại lợi ích rất lớn cho vũ trụ. Nhưng họ chỉ dùng nó để lừa gạt.”
  7. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    “Có sự khác biệt lớn giữa trí tuệ Sattva với trí tuệ Tamas, giữa trí tuệ của các deva và asura. Một người (có tố chất) Sattva khi sở hữu một con vật sẽ coi nó như một món đồ chơi sống và ngắm nhìn nó tận hưởng cuộc sống của nó. Một asura, với trí tuệ Tamas, nhìn vào món đồ chơi đó liền muốn nghiền nát, giết chết và ăn thịt. Các asura không cần đến loại tình cảm đó. Họ không ngốc mà là những kẻ gian xảo. Phải làm gì với một kẻ gian xảo? Hãy cho tôi biết: kẻ ngốc có thể tha thứ nhưng kẻ gian? Tốt hơn là cứ bỏ mặc hắn để hắn tiếp tục như vậy. Sao lại phải bận tâm?”

    “Có thể nói rằng sura nghĩa là “su” (chính) + “ra” (Mật chú Chủng tự của nguyên tố Lửa), như vậy các deva có “chính hỏa”, trong khi các asura nghĩa là “không có sura” thì có “tà hỏa” không?”

    “Đó chính xác là những gì tôi vừa nói. Các deva có trí tuệ Sattva, lửa tâm linh của họ mạnh mẽ, họ không quá chú trọng đến tồn tại vật chất như các asura, vốn có lửa tiêu hóa mạnh và bộ não tràn ngập Tamas. Các asura hướng hầu hết năng lượng của họ vào thân thể chứ không phải ý thức.”

    “Đó là lý do vì sao chúng ta không thờ cúng các asura?”

    “Có một số người thờ các asura nhưng cuối cùng họ thường hối hận.”

    “Vũ trụ chẳng lẽ không thể tồn tại mà thiếu họ, chỉ cần những vị thần vị tha thôi có được không?”

    “Không thể có cái này mà thiếu cái kia. Nếu chỉ có các deva tồn tại, vũ trụ sẽ trì trệ và không có gì thay đổi vì các deva tin vào hiện trạng, chỉ thay đổi khi các asura ép buộc họ. Asura tin vào sự thay đổi, họ luôn sẵn sàng thử những điều mới, trong khi các deva lại giữ mãi nguyên trạng. Tuy nhiên nếu chỉ có asura tồn tại, họ sẽ hủy diệt vũ trụ nhanh chóng vì tính ích kỷ của mình. Tự nhiên đã tạo ra hai nhóm để cân bằng lẫn nhau. điều đó là tự nhiên, nếu không có cái ác, liệu có thể có cái thiện không?”

    “Các asura có cơ hội thể hiện vai trò của mình trong kỷ Kali. Kỷ Satya kéo dài hàng triệu năm, còn kỷ Kali chỉ vài ngàn năm. Satya Yuga vận động chậm chạp, gần như tĩnh tại, phản ánh tình trạng gần như vắng bóng hoàn toàn sức mạnh của asura. Vì vậy, nếu muốn chứng nhập Thượng Đế trong kỷ Satya, bạn phải tu khổ hạnh ít nhất mười ngàn năm. Mặt khác, kỷ Kali cho thấy sự trỗi dậy của quyền lực asura, sự thay đổi nhanh chóng và rất khó để duy trì. Bạn thấy đấy, sự khác biệt cơ bản giữa các deva và asura là deva có trí tuệ thức tỉnh và tầm nhìn xa. Một asura thường làm đúng những gì hắn không nên làm, và sẽ không hiểu lỗi lầm của mình. Asura khá giống trẻ con, chúng có thể vừa rất tốt bụng, vừa rất tàn nhẫn.”

    “Các asura có thể đạt được những điều vĩ đại, nhưng họ cũng phạm phải những sai lầm lớn và không được tin tưởng với thẩm quyền được giao phó. Theo cách của mình, họ có thể trở thành những Thành Tựu Giả phi thường. Họ thậm chí có thể trở thành Nath và Muni (các đấng bất tử siêu phàm) nhưng không bao giờ trở thành Rishi.”

    “Tại sao không?” Tôi bắt đầu hiểu khái niệm về thứ bậc giữa các đấng siêu nhiên của ông.

    “Sao có thể? Các Rishi đang chịu trách nhiệm cho vũ trụ. Nếu một asura trở thành Rishi thì cả thế giới sẽ diệt vong ngay lập tức. Một asura không bao giờ có thể thay đổi bản chất của mình đến mức trở thành một deva, mặc dù hắn có thể hợp nhất với đấng Tối Thượng, điều đó gần như là tốt. May mắn thay cho chúng ta, không phải mọi asura đều là chuyên gia tu luyện. Phần lớn họ rất ngu xuẩn. Có lúc họ tuân thủ các quy tắc và giới hạn của pháp tu khá chuẩn mực, rồi đột nhiên họ phá vỡ chúng, ăn thịt, quan hệ ***, hoặc bất cứ việc gì khác. Điều này là do họ không có tri giác nội tại về tính thanh tịnh.”

    “Được làm đạo sư cho một đám asura, hoặc làm vua của chúng là một phúc báu lớn lao, bởi vì khi đó bạn có thể biến chúng thành những kẻ hiểu biết thực sự về Thực Tại. Điều đó thật tuyệt! Không may, chúng thường quay trở lại thói quen cũ, do bản tính bẩm sinh không thể thay đổi, vì vậy ngay cả guru của các asura cũng cảm thấy mệt mỏi với chúng sau một thời gian. Tôi gọi hầu hết người Mỹ và nhiều người Ấn Độ là asura, ngay cả khi có khát vọng tu luyện, họ cũng rất khó thành công vì họ không thể kiên trì tuân thủ các giới luật cơ bản. Vậy nên tôi cũng cảm thấy mệt mỏi với họ.”

    Ông im lặng một lúc. Tôi nhớ đến một câu chuyện trong Brihadanarykaya Upanishad: loài người, thiên thần và a tu la đến gặp cha mình là Prajapati rồi cầu xin: “Hãy chỉ dạy chúng con!” Prajapati nói với các vị thần: “Da” rồi hỏi: “Đã hiểu chưa?” Nghĩ rằng ông muốn nói đến từ dama, có nghĩa là kiềm chế, họ nói: “Vâng, chúng con đã hiểu. Ngài đang bảo chúng con phải tự kiềm chế bản thân.” Prajapati nói: “Đúng vậy, các con đã hiểu” vì các vị thần vốn dĩ ngang bướng. Sau đó, Prajapati nói với loài người: “Da” mà họ hiểu là dana, cho đi, vì loài người vốn dĩ tham lam. Ông cũng nói với a tu la: “Da” mà họ hiểu là daya, có lòng trắc ẩn, vì a tu la vốn dĩ tàn nhẫn. Câu chuyện kết thúc bằng gợi ý rằng một người nên học cả ba chữ Da, vì tính ngang bướng, tham lam và độc ác đều hiện diện ở một mức độ nào đó trong mỗi người.

    Tôi hỏi: “Nếu các deva có trí tuệ Sattva, asura có trí tuệ Tamas, thì có phải con người có trí tuệ Rajas không?”

    “Tất nhiên, thế giới chúng ta là nơi mọi thứ có thể thay đổi. Đó là lý do vì sao ngay cả các vị thần cũng tranh giành để được sinh ra ở đây, để họ có thể tiến bộ. Ở đâu có thay đổi, ở đó có Rajas. Thay đổi xảy ra do ham muốn, toàn thể vũ trụ được tạo ra do ham muốn, mỗi con người được tạo ra từ kết quả của ham muốn ái dục. Nếu đi theo con đường của chư thiên, bạn sẽ hướng tới Sattva, nếu theo các a tu la, bạn sẽ phát triển ngày càng nhiều Tamas.”

    “Tất cả những điều này đều ở cấp độ vũ trụ. Ở cấp độ vi mô, các vị thiên thần của bạn chính là những suy nghĩ tốt đẹp, vị tha. Mọi suy nghĩ và thái độ ích kỷ mà bạn có đều là các a tu la của bạn. Khi nói rằng các a tu la rất giỏi tu luyện vì hầu hết những người có lý do ích kỷ khi tu luyện, tin rằng họ sẽ thu được lợi ích gì đó từ nó, đều rất nhiệt tình thực hiện.”

    “Liệu mọi điều được viết về chư thiên và a tu la có thể được giải thích theo nghĩa nội tại?”

    “Mọi thứ. Tôi sẽ đưa ra một số ví dụ cụ thể về chư thiên deva và các tà thần Asura vào một ngày khác, nhưng bây giờ, chúng ta hãy tập trung vào các Yuga cùng ý nghĩa bí ẩn của chúng. Hầu hết những người nói về Bốn Yuga đều không nhận ra rằng chúng cũng tồn tại bên trong mỗi chúng ta, trong đầu chúng ta. Satya Yuga chính là tâm trí. Treta Yuga được hình thành bởi ba con mắt, hai con mắt vật lý, còn con mắt thứ ba ẩn giấu, treta có nghĩa là “thứ ba”. Dvapara Yuga được biểu thị bằng hai lỗ mũi, dvapara xuất phát từ tiếng Phạn có nghĩa là “hai”. Kali Yuga là miệng.”

    “Bây giờ hãy xem tại sao lại như vậy. Trong Satya Yuga, kỷ nguyên tinh thần hoàn hảo, chẳng ai buồn nói chuyện vì mọi giao tiếp đều bằng thần giao cách cảm. Mọi thứ đều thuộc về tinh thần trong thời đại đó, không cần sử dụng bất kỳ giác quan nào. Con người ăn bằng tinh thần, hấp thụ prana, sinh lực, trực tiếp bằng tâm trí. Ngay cả việc sinh sản cũng thuộc về tinh thần. Trong kỷ Satya, một người đàn ông có thể nhìn một người phụ nữ mãnh liệt đến mức cô ấy sẽ thụ thai, hoặc anh ta có thể khiến cô ấy thụ thai chỉ bằng cách lau mồ hôi trên trán rồi đưa cho cô ấy. Sức mạnh tinh thần khả dụng trong thời đại đó kinh khủng đến mức con người thậm chí có thể tạo ra sinh linh mà không cần dùng đến tử cung.”

    “Trong kỷ Treta, người ta thực hành trataka. Trataka là một hình thức thiền định trong đó hành giả nhìn chằm chằm vào một vật thể. Nếu thực hiện đúng cách, trataka có thể khai mở con mắt thứ ba. Trong kỷ Treta, người ta sử dụng trataka để hấp thụ prana từ mặt trời, họ ăn bằng mắt. Họ giao tiếp bằng ánh nhìn và tạo nên tính lãng mạn bằng những cái nhìn đầy ý nghĩa. Khả năng này tồn tại cùng với thần giao cách cảm, thứ chỉ có thể xảy ra sau khi khai mở con mắt thứ ba.”

    “Chất lượng thời gian tiếp tục thay đổi trong kỷ Dvapara, việc chỉ dùng mắt để làm mọi việc trở nên khó khăn hơn. Người trong kỷ Dvapara thu nạp prana qua mũi thay vì qua mắt hay tâm trí như trước đây, họ thực hành pranayama như pháp tu luyện chủ đạo của họ. Việc nhấn mạnh vào hơi thở này một phần vẫn còn tồn tại đến ngày nay, như ở người Eskimo và Hawaii, nơi lời chào truyền thống là việc trao đổi hơi thở.”

    “Trong kỷ Kali, chúng ta nhận được phần lớn dưỡng chất từ thức ăn, qua đường miệng. Hơn nữa, ta nói chuyện chứ không phải thần giao cách cảm. Do đó người ta nói rằng trong kỷ Kali, hình thức tu hành tốt nhất là tụng niệm danh hiệu của Thượng Đế, bởi vì nó kiểm soát mọi thứ chúng ta làm bằng miệng và thanh lọc prana mà ta hấp thụ.”

    “Vậy tại sao phải bận tâm tới những thứ như Panchamakara?”

    “Hãy nhớ rằng tôi đã nói Panchamakara không dành cho tất cả mọi người, nó chỉ dành cho những ai có thể không bị cấu nhiễm bởi kỷ Kali.”

    “Cũng giống như Bombay chỉ dành cho những ai không bị vấy bẩn bởi nó.”

    “Chính xác. Mặc dù kỷ Kali bao quanh chúng ta khắp mọi nơi, nhưng không nhất thiết kỷ Kali phải tồn tại bên trong. Chỉ cần bạn có tâm trí và các giác quan, bạn kiểm soát và tu luyện chúng bằng sadhana, bạn có thể tạo ra và sống trong bất kỳ Yuga nào: Satya, Treta, Dvapara, thậm chí Kali, tùy theo ý muốn của bạn, từ bên trong.”

    “Đây là cách các Rishi đã làm khi họ sống trên trái đất. Họ bắt đầu trước bình minh bằng cách thực hành nhập định, trạng thái cân bằng hoàn hảo của tâm thức, trong đó tâm trí hoàn toàn tĩnh lặng, không hoạt động, trong ba giờ. Điều này tương đương với Satya Yuga. Khi bình minh lên, họ thực hành ba giờ dhyana,dharana, pratyahara, thiền, tập trung, thu rút các giác quan, đại diện cho Treta Yuga. Trong ba giờ cho đến trưa là Dvapara Yuga: pranayama và asana.”

    “Ba giờ ngay sau buổi trưa được dành cho việc ăn uống, trò chuyện và giao tiếp với chúng sinh khác theo các quy tắc hành vi thiện ác, yama và niyama. Hai điều cuối cùng này đặc biệt cần thiết trong kỷ Kali, khi con người phải sống theo quy tắc. Lúc hoàng hôn, Rishi sẽ thực hiện một số nghi lễ nhất định, còn sau khi màn đêm buông xuống, ông ta sẽ dùng thêm một bữa nữa, tận hưởng giao hoan rồi đi ngủ, tất cả đều thuộc về kỷ Kali. Bạn có nhận ra toàn bộ các thực hành này không?”

    Tám nhánh Ashtanga Yoga của Patanjali chính là tám phần thực hành đó, theo thứ tự ngược lại: yama, niyama, asana, pranayama, pratyahara, dharana, samadhi. Vì ông ấy đã nói rõ với tôi rằng phương pháp của Patanjali như được giảng dạy ngày nay không phù hợp với kỷ Kali, nên giờ đây ông nhấn mạnh rằng ông tôn trọng nó khi được thực hiện đúng cách vào đúng thời điểm.
  8. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    “Chúng ta, không phải là Rishi, có thể không hoàn toàn bắt chước cuộc sống của họ, nhưng chúng ta có thể học hỏi từ tấm gương của họ. Hãy bắt đầu từ nơi chúng ta đang ở, trong kỷ Kali, hướng ngược về kỷ Satya. Bước đầu tiên là học yama, những giới luật bên ngoài. Bạn có biết Năm giới luật Yama mà Patanjali đề cập trong Yoga Sutra không?”

    Oops. “Uhm, không bạo lực, nói thật, không trộm cắp, tiết dục, hoặc nếu đã kết hôn thì chung thủy, và uhm”.

    “Và không tham. Sau khi thiết lập các kỷ luật này để ngăn ngừa thói quen xấu, bạn phải hình thành những thói quen tối, được gọi chung là niyama. Năm Niyama của Patanjali là: thanh tịnh thân, tâm, linh hồn, bằng lòng với những gì mình đang có, khổ hạnh, nghiên cứu và tụng đọc kinh sách, sùng kính Thượng Đế.”

    “Niyama là một từ rất có ý nghĩa. Ni đại diện cho sự ràng buộc hoặc kiểm soát. Bỏ chứ Ni khỏi niyama thì còn lại gì? Yama, những ràng buộc thiết yếu của cuộc sống. Yama cũng là một trong những tên gọi của Thần Chết, điều đó có nghĩa là nếu từ bỏ kiểm soát trong việc tu luyện của mình, bạn sẽ thất bại. Cho dù một con sư tử đói đến đâu, nó cũng sẽ không bao giờ ăn cỏ. Nó là động vật ăn thịt chứ không ăn gì khác, nếu không nó sẽ chết. Bạn cũng nên như vậy, khi tuân theo niyama, bạn nên tuân thủ nghiêm ngặt. Nếu một ngày nào đó không thể kiếm được thức ăn phù hợp với giới luật, thà nhìn đói ngày hôm đó còn hơn là vi phạm. Cuối cùng bạn sẽ thấy rằng tất cả đều có có giá trị.”

    Điều đó hoàn toàn hợp lý với tôi.

    “Bạn có biết câu chuyện về Nachiketas không?”

    “Có. Cha cậu ấy làm một lễ cúng tế, trong đó ông ấy bố thí những con bò già, gầy gò, đói khát. Nachikates đau lòng vì tính keo kiệt của cha mình, buồn bã hỏi: Cha định cho con cho ai? Ông ấy nổi giạn vì con trai mình hỗn xược, đáp: Giao con cho Yama!”

    “Nghe vậy, Nachiketas không đợi bị câu triệu mà đi thẳng đến chỗ ở của Yama. Yama, người thu hồn xuống thế giới bên kia, đang đi làm, nên Nachiketas phải ngồi một mình bên bậc cửa nhà Yama suốt ba ngày ba đêm mà không có thức ăn hay nước uống.”

    “Khi cuối cùng Yama trở về nhà, ông kinh ngạc vì một người phàm có thể tìm thấy nhà mình. Sau đó ông lo lắng về nghiệp xấu do bắt một cậu bé Bà la môn nhỏ tuổi phải chịu đói khát suốt ba ngày. Suy cho cùng, một vị khách cũng ngang với Thượng Đế. Để đền đáp, Yama đã ban cho cậu ba lời thỉnh cầu, tượng trưng cho ba ngày Nachiketas đã phải đợi.”

    “Điều đầu tiên của Nachiketas là cầu cho cha mình hài lòng. Điều thứ hai là được biết bí mật của ngọn lửa dẫn đến thiên đàng. Yama sẵn lòng ban cho hai điều ước này. Thứ ba là: Nói cho cậu biết sự thật về việc nhận dạng Bản Ngã. Bằng cách yêu cầu điều này, Nachiketas thực chất đang hỏi thần chết ông ấy là ai, cho cậu biết về bản chất của ông. Yama biết rằng trả lời câu hỏi như vậy sẽ tương đương với việc bạn cho Nachiketas toàn bộ kiến thức về sinh tử, nên ông đã hứa hẹn với cậu đủ loại lợi ích vật chất nếu chịu rút lại yêu cầu. Nhưng Nachiketas vẫn kiên quyết nói: Tất cả những gì ông hứa hẹn đều vô ích, bởi vì các giác quan của tôi yếu ớt, cuộc đời có hạn và sẽ có ngày kết thúc. Tôi đã đưa ra yêu cầu của mình rồi. Cuối cùng, Yama phải trả lời câu hỏi, nhận ra Bachiketas là một học trò xứng đáng. Do kết quả từ những điều được học, Nachiketas trở nên bất tử.”

    “Nhiều người biết câu chuyện này, nhưng ít ai đặt câu hỏi hiển nhiên: Khi Yama có thể bắt giữ hàng ngàn người và hàng triệu con thú mỗi ngày trên khắp thế giới, tại sao ông không thể tìm thấy một cậu bé trong suốt ba ngày? Câu trả lời rất đơn giản: Nachiketas đã tuân thủ Niyama. Bất cứ ai giữ niyama vững chắc đều luôn được bảo vệ, Yama không bao giờ có thể đến được với người như vậy. Nachiketas đã thực hành một loại sadhana đặc biệt, đó là niyama của cậu và cậu đã tuân thủ nó chặt chẽ. Khi phá vỡ niyama của mình, nó sẽ mất đi âm tiết đầu tiên, lúc đó bạn sẽ trở thành con mồi của Yama.”

    “Câu chuyện này không chỉ có vậy phải không? Chắc hẳn phải có một ý nghĩa huyền bí sâu xa nào đó.”

    “Tất nhiên là có”. Nhưng ông không có ý định nói ra vào lúc này.

    “Những pháp tu và niyama khó nhất lại thường là những điều đơn giản nhất. Ví dụ, Ajagara Sadhana rất dễ mô tả nhưng lại cực khó thực hành. Ajagara nghĩa là con trăn. Loài trăn không ăn thường xuyên. Nếu ăn một bữa no nê hôm nay, nó có thể không ăn gì trong nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần. Bất cứ khi nào không ăn, nó sẽ nằm im một chỗ, hoàn toàn bất động.”

    “Trong Ajagara Sadhana, bạn trở nên giống như một con trăn, không được phép di chuyển khỏi vị trí mình đang nằm. Mọi ham muốn về ăn uống, ngủ nghỉ, ân ái hay bất kỳ chuyện gì khác, đều phải biến mất, bạn phải mất hết ham muốn ăn uống. Bạn chỉ được phép ăn khi có người đến gần, thương hại và đút thức ăn vào miệng bạn, ngay cả khi đó, bạn chỉ được chấp nhận những gì được dâng lên mà không được đòi hỏi thêm bất cứ thứ gì khác. Việc này nghe có vẻ đơn giản và dễ dang với bạn?
  9. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Nhưng không! Các Aghori còn đi xa hơn nữa. Họ chẳng những học cách không di chuyển, giống như loài trăn, họ học cách làm tan chảy xương của mình để không thể di chuyển ngay cả khi muốn. Tất nhiên, những giới luật khắc nghiệt như vậy nằm ngoài tầm với của hầu hết chúng ta, vì chúng ta phải dành phần lớn sự chú ý chỉ để giữ cho mình không bị tổn thương.”

    “Tôi chỉ có thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra với mình nếu thực hành Ajagara Sadhana ở tầng dưới đường phố Bombay ngày nay.”

    Chúng tôi cười thầm khi nghĩ đến những gì sẽ xảy ra tiếp theo.

    “Tuy nhiên còn nhiều niyamas khác mà bạn có thể tuân theo. Ví dụ, ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại mà ai gặp cũng sẵn sàng lừa bạn bằng cách này hay cách khác, nên học cách không lừa gạt lại là một niyama tốt. Còn những người bán hàng rong thì sao? Họ thực hành một niyama đích thực, thiết thực cho ngày nay. Họ là một minh họa tuyệt vời về sức mạnh của niyama.”

    “Còn các dhabawalas thì sao, những người mang bữa trưa nóng hổi tự nấu đến cho hàng trăm ngàn công nhân ở Bombay mỗi ngày. Mỗi sáng, họ chở những giá dài đựng những hộp cơm trưa bằng kim loại được xếp gọn gàng trên tàu hỏa từ ngoại ô vào trung tâm thành phố Bombay, rồi đội chúng trên đầu đi tới các văn phòng để phân phát. Do hầu hết những người bán cơm hộp đều mù chữ nên những hộp cơm được nhận biết bằng một loạt các ký hiệu phức tạp, nhưng hệ thống này hoạt động hiệu quả đến mức hầu như không bao giờ xảy ra nhầm lẫn.”

    “Còn họ thì sao?” ông ta giận dữ phản bác. “Họ sống ở Bombay, vậy mà không bị ảnh hưởng bởi lời nguyền hủy hoại tâm trí của những người khác. Họ chưa bao giờ đình công, nếu làm vậy, Bombay sẽ tê liệt vì không có cách nào để mọi người có thức ăn.”

    Điều đó tôi biết chắc chắn.

    “Họ chưa bao giờ bị phát hiện quấy rối phụ nữ, mặc dù họ có rất nhiều cơ hội vì khi thu gom rồi trả lại hộp cơm trưa từ nhà công nhân mỗi ngày, chỉ có vợ và những người thân nữ khác ở nhà. Những người giao cơm trưa thận chí còn không nhìn phụ nữ với ánh mắt dâm dục, hãy so sánh điều này với nước Mỹ, nơi những người giao sữa nổi tiếng là hay vào nhà để hưởng thụ bà vợ sau khi ông chồng đi làm. Chuyện này không bao giờ xảy ra với những người giao cơm trưa của chúng tôi.”

    Được rồi, tôi gật đầu đồng ý thông cảm.

    “Tại sao lại như vậy?” ông tiếp tục. “Vì tất cả họ đều là tín đồ của Jnaneshwar Maharaj của chúng ta. Họ đều thờ Vishnu dưới hình thức Vithala, đối với người thờ Vishnu, tất cả đều là thành viên trong gia đình, của vasudeva kutumbam. Ai trong số những người như vậy lại đi lừa gạt hay ngoại tình chứ? Những dhabawalas thường xuyên hành hương, dành thời gian đọc kinh Jnaneshwan và hát vang tên thánh của Thượng Đế. Tôi nghĩ đây mới là những người đáng được tôn trọng, chứ không phải tất cả các thầy tu, cùng những người được gọi là thánh hay các vị swami mọc lên khắp nơi. Các dhabawalas đã thực sự áp dụng những lời dạy của Krishna: Hãy làm việc của mình và dâng hết mọi thành quả lao động cho ta.”

    Khi ông im lặng, chúng tôi cùng tưởng tượng đến đền thời Jnaneshwar ở Alandi và cúi đầu trước vị thánh có lòng từ vô song, đến nỗi ngay cả sau 700 năm, ngài vẫn tiếp tục dẫn dắt và truyền cảm hứng cho bất cứ ai đến với ngài.

    “Eknath Maharaj, người mà nhờ ông chúng ta có được Jnaneshwari, là một ví dụ khác. Các vị Bà la môn đồng đạo căm ghét ông vì lòng trắc ẩn ông dành cho tiện dân. Một ngày nọ, khi Eknath về nhà sau khi tắm ở sông Godavari linh thiêng, một trong những vị Bà la môn độc ác đã nhổ nước bọt vào ông. Eknath không nói gì, quay lưng lại, đi về phía sông rồi tắm lần nữa. Tiếp tục, khi ông bước ra khỏi nước, vị Bà la môn lại nhổ nước bọt vào ông, ông lại quay đi để tắm. Việc này xảy ra rất nhiều lần, một số phiên bản của câu chuyện nói rằng có tới một trăm lần. Nó cứ tiếp tục cho đến lúc cuối cùng, kẻ nhổ nước bọt đã nhận ra sự vĩ đại của Eknath và quỳ xuống dưới chân ông cầu xin tha thứ. Eknath nói: Bạn tôi, tôi nghĩ rằng nên cảm ơn bạn, nhờ bạn mà tôi đã được ban phúc lành tắm nhiều lần ở dòng sông Godavari linh thiêng này.”

    “Khả năng kiềm chế cơn giận của Eknath thật phi thường, là sản phẩm của một niyama mạnh mẽ. Dâng hiến bản thân đến mức không bao giờ nổi giận dù bị khiêu khích đến đâu là một niyama khủng khiếp, không dễ giữ vững. Tuy khả năng kiểm soát như vậy rất cần thiết trong kỷ Kali ngày nay, nhưng rất khó đạt được, trừ khi bạn có người giúp đỡ, giống như tôi. Trước đây tôi là một người nóng tính, nhưng giờ đây, nhờ các đạo sư của mình, tôi đã điềm tĩnh hơn rất nhiều. Tôi nghĩ mình cần điều đó.”

    Tôi hiểu chính xác ý ông muốn nói.

    “Mặc dù tôi đã sống với gia đình Roshni nhiều năm, nhưng mẹ của Roshni vẫn không thay đổi. Bà ấy sẽ không thay đổi, cho dù có nói gì đi nữa. Nếu tâm trí hướng về Thượng Đế, bà ấy đã có thể thực hiện những pháp tu độc đáo, nhưng điều đó là bất khả. Tôi đã cố gắng hàng chục năm, nhưng đã phải bỏ cuộc, tôi mệt mỏi rồi.”

    “Sử thi Ramayana nói rằng bạn nên luôn sống gần người mà bạn không hòa hợp, vì họ sẽ giúp bạn nhớ đến Thượng Đế, còn người đàn bà này chắc chắn không giúp tôi nhớ đến Thượng Đế. Bạn biết rõ rằng thường thì tôi mong đợi bữa trưa sẽ được chuẩn bị xong vào một giờ nhất định, nhưng khi tôi hỏi thì thấy bà ấy đã quên mất điều gì đó. Chuyện này xảy ra hết lần này tới lần khác, khi tôi hỏi, tất cả những gì bà ấy có thể nói chỉ là: Tôi quên rồi. Vậy thì tôi biết nói gì đây? Tôi phải giữ im lặng rồi nhớ tới niyama.”

    “Như tôi rất may mắn, bởi vì mỗi khi chuyện này xảy ra, dù gọi đó là trùng hợp hay gì đi nữa, trong vòng mười lăm phút sau sẽ có tiếng gõ cửa và một người sẽ đứng đó mang thức ăn đến cho tôi, chẳng vì lý do gì cả. Tara sẽ không để tôi đói. Bạn biết điều này đó Robby, bạn đã thấy nhiều lần rồi.”

    Vâng, tôi đã từng chứng kiến, và tôi vẫn tiếp tục thấy điều đó. Có lần, tôi cùng ông đi tầu từ Copenhagen đến Paris, tôi quên mua tiền Pháp lúc ở Đan Mạch. Hôm đó là Chủ nhật, không ngân hàng nào mở cửa, những người bán hàng trên tàu từ chối nhận bất kỳ loại tiền tệ nào khác. Chúng tôi đói. Rồi một người phụ nữ lên tàu ở Namur, Bỉ, sau vài dặm, bà mở túi của mình ra mời mỗi người một chiếc bánh Giáng Sinh. Bánh rất ngon. Ở Tokyo, khi mọi nơi đều đóng cửa, chính đầu bếp đã gọi chúng tôi từ một nhà hàng rồi mời vào, những gì Vimalananda cần làm là nhìn bà chủ quán với một ánh mắt ngọt ngào nào đó để được phục vụ món chay dù nó không có trong thực đơn. Thánh mẫu chưa bao giờ làm ông thất vọng.

    “Tất cả là do niyama. Trong hệ thống Patanjali, các asana chỉ được thực hành sau khi yama và niyama đã được hoàn thiện. Đây là một điều khiến tôi phẫn nộ: những người đã làm Yoga suy thoái đến mức giờ nó chỉ còn là một hệ thống các động tác thể chất vụng về. Đồng ý rằng một cơ thể dẻo dai rất có ích trong sadhana, nhưng bạn không thể đạt được giác ngộ chỉ nhờ cách đứng bằng đầu. Các asana còn có những mục tiêu khác nữa.”

    “Từ asana trong tiếng Phạn nghĩa là ngồi. Thực hành asana hoàn hảo nghĩa là học cách ngồi thoải mái mà không cựa quậy hau bồn chồn trong ít nhất ba giờ liền. Trước đây, các guru yoga thực thụ thường khuyên học trò: Hãy vào căn phòng đó rồi ngồi ít nhất sáu tháng.” Sau khi ngồi lâu như vậy, tâm trí và hệ thần kinh của học viên sẽ tự động trở nên bình tĩnh hơn, điều này sẽ giúp cho bước tiếp theo, pranayama, an toàn và dễ dàng hơn.”

    Vài năm sau, tôi nghe Baba Han Dass kể về một vị đạo sư già thường thử thách các đệ tử bằng cách bắt họ ngồi khoanh chân, rồi đổ đất vào lòng họ để gieo hạt cỏ. Vài ngày sau, khi quay lại kiểm tra, chỉ những đệ tử nào có mầm mọc thẳng tắp mới vượt qua bài thử thách, rõ ràng là chúng chẳng hề xê dịch. Còn những đệ tử nào có mầm mọc lan tràn khắp nơi thì đều thất bại.”

    “Tôi tin rằng bạn đã được học asana Shavasana, thế xác chết, trong các lớp yoga của mình đúng không?”

    “Tôi đã học.”

    “Tôi chắc rằng giáo viên đã dạy bạn làm điều đó vào cuối mỗi buổi tập asana để thư giãn.”

    “Đúng vậy.”

    “Nhưng asana xác chết có phải chỉ được tạo ra để giúp bạn thư giãn? Tất nhiên là không. Đó là một ví dụ khác cho thấy việc giảng dạy tâm linh ngày nay đã trở nên hời hợt như thế nào. Mục đích của Shavasana là biến bạn thành một shava, một xác chết, để giúp bạn dễ dàng kiểm soát prana và tách rời tâm trí khỏi thế giới bên ngoài. Khi thực hiện Shavasana, bạn trở nên giống như một xác chết, không chỉ về cơ bắp và cả về tâm trí. Trong Aghora, chúng tôi tin vào việc ngồi trên xác chết, điều đó là sự thật, chúng tôi tin vào việc ngồi trên chính xác chết của mình. Chúng tôi nói: hãy biến cơ thể bạn thành một xác chết sống, hãy để cơ thể sống, thực hiện các hành động của nó và bạn hãy tách rời khỏi nó.”

    Việc đó tạo nên ý nghĩa lớn lao.

    “Bây giờ hãy nghĩ về pranayama, có nghĩa là kiểm soát prana. Không cần thiết phải nín thở để kiểm soát prana, nếu tâm trí của bạn được kiểm soát, hơi thở sẽ chậm lại và cuối cùng tự động dừng lại. Bất cứ phương thức nào làm chậm nhịp thở đều là một hình thức của pranayama. Mục đích của pranayama là làm chậm nhịp thở càng lâu càng tốt. Khi hơi thở của bạn sâu, chậm và bình thản, tâm của bạn cũng chậm và bình thản, hơi thở nhanh, nông và bồn chồn, tâm bạn cũng sẽ như vậy.”

    “Sau pranayama là pratyahara, nghĩa là dứt bỏ, thu rút các giác quan khỏi đối tượng của chúng. Các giác quan thích “ăn” mọi thứ, tiếp nhận các ấn tượng từ thế giới bên ngoài. Pratyahara (cũng có thể hiểu là “chống lại việc ăn”) xảy ra khi tâm trí tĩnh lặng ngừng thèm khát các khoái lạc giác quan. Một khi tâm trí đã thoát khỏi các ham muốn, nó mới sẵn sàng cho dharana, dhyana, samadhi: tập trung, thiền, và sự cân bằng hoàn hảo của ý thức (định), vốn là mục tiêu của sadhana thông thường.”

    “Nhưng việc nhập định là điều khó đạt được trong kỷ Kali. Có quá nhiều thứ gây xao lãng. Có đủ thời gian hay không chẳng phải là vấn đề, tuy nhiên ngược lại, bạn có thể tiến bộ rất nhanh trong kỷ Kali. Trong kỷ Satya, phải mất mười ngàn năm tu luyện mới có thể thoáng thấy được Thượng Đế, bởi vì mọi người trong kỷ Satya đều chính trực và thành tâm trong việc thờ phụng, nên Thượng Đế không vội vàng xuất hiện trước mặt họ, ngài thử thách họ kỹ lưỡng. Còn trong kỷ Kali, sức mạnh của ảo tưởng mê lầm quá lớn đến nỗi chỉ có một số ít người muốn thờ phụng Thượng Đế, họ hầu hết không biết cách làm việc đó hiệu quả. Trong Kali Yuga, Thượng Đế cảm thấy cô đơn đến nỗi không ai nhớ đến và yêu mến ngài, vì vậy ngài sẽ dễ dàng xuất hiện trước mặt bạn. Đó là lý do tại sao Kali Yuga là kỷ nguyên tốt nhất trong mọi thời đại để tu luyện. Trong Satya Yuga, bạn phải quét sàn nhà cho guru rất nhiều năm trước khi ông ấy chiếu cố tới để làm lễ điểm đạo nhập môn cho bạn, chưa nói tới việc dạy cho bạn bất cứ điều gì.”

    Tham chiếu tới trường hợp của tôi, tôi rất trân trọng việc ông ấy sẵn sàng dành thời gian dạy tôi, trong khi tôi không thể tự nhận mình là một học trò xứng đáng.

    “Thực tế, kỷ Kali là thời điểm mà mọi chuyên gia trong tất cả các lĩnh vực đều viết sách và bán kiến thức của mình, năn nỉ mọi người hãy thu nhận nó từ họ. Chỉ với một khoản tiền nhỏ, bạn có thể có được kiến thức mà họ đã dành cả đời để tích lũy, mà bạn thậm chí không cần phải học trộm. Hãy đọc đi Robby, hãy tiếp tục đọc, bạn không bao giờ học đủ, vì luôn có những điều mới để học. Chỉ cần nhớ rằng học tập cũng là một dạng của Maya. Nó rất có giá trị, không nghi ngờ gì nữa, nhưng bạn vẫn có thể bị trói buộc vào nó, giống như bạn có thể bị trói buộc vào bất cứ hình thức Maya nào khác.”

    “Sức mạnh của ảo tưởng rất mạnh trong kỷ Kali, khiến người ta dễ bị cuốn vào việc học mà quên mất việc vận dụng những gì đã học. Đây là lúc niyama phát huy tác dụng. Chừng nào bạn còn biến mọi việc mình làm thành một pháp thực hành, chừng nào bạn còn dồn toàn bộ năng lượng của mình để đạt được mục tiêu, miễn là bạn muốn học những điều giúp mình phát triển (tâm linh), thì tự nhiên bạn sẽ muốn sử dụng chúng để cải thiện sadhana của mình. Nếu muốn thực hành các sadhana của Tantra, bạn phải bắt đầu với một niyama vững chắc.”
  10. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    SADHANA

    Khanda Manda Yoga

    Tiềm năng bẩm sinh để phát triển tâm linh chỉ trở nên có giá trị khi được vun đắp cẩn thận. Mọi thực hành tâm linh đều là sadhana, nhưng không phải mọi sadhana đều giống nhau. Vimalananda giải thích:

    “Các Rishi, những hiền triết của Ấn Độ, đã thấu hiểu hoàn cảnh khốn khổ của chúng ta, với tấm lòng đại lượng vô bờ, họ đã tạo ra các sadhana giúp chúng ta thoát khỏi các hạn chế và phát triển. Các Rishi đã tạo ra nhiều pháp tu luyện khác nhau bởi vì có rất nhiều loại người khác nhau, mỗi người đều có những nhu cầu riêng, chúng tôi, các Aghori, tin vào việc sử dụng những pháp thực hành nhanh chóng và khắc nghiệt vì chúng tôi khao khát được trở về với Thượng Đế ngay lập tức, chúng tôi không thể chịu đựng được việc bị tách rời khỏi ngài.”

    Một Aghori thiền quán về những tử thi bốc lửa để buộc ý thức vượt qua mọi giới hạn của nhân cách. Những thành phần cứng rắn nhất của bản ngã là những thứ kháng cự mạnh nhất, phải cần đến bùi nhùi thép để cọ rửa chúng. Các Aghori không có cơ hội cho tiềm năng phát triển ngã mạn, nghi quỹ thực hành của phái Aghora phá hủy mọi thứ xuống tới tận gốc rễ của ý thức rồi xây dựng lại từ dưới lên trên. Khi đó không còn gì phải sợ hãi, bởi vì nhân cách mới được tạo ra để hoàn toàn quy phục ý chí của Thượng Đế. Khanda Manda Yoga là một minh họa tốt cho cách tiếp cận của Aghora đối với sự phát triển nhân cách. Vimalananda mô tả nó như sau:

    “Một trong những sadhana đáng sợ và khó khăn nhất của Aghora là Khanda Manda Yoga. Hành giả Khanda Manda Yoga tự chặt tay và chân mình bằng một con dao sắc bén, rồi ném chúng vào ngọn lửa đang cháy dữ dội. Sau mười hai giờ, những chi này sẽ trồi lên từ lửa rồi nối lại với cơ thể. Một số sadhu có thể thực hiện Eka Khanda Yoga, tức là chặt một phần của một chi, chẳng hạn như bàn chân, một số ít như Tailang Swami có thể thực hiện Tri Khanda Yoga, liên quan đến ba phần, như bàn chân, cẳng chân và đùi. Nhưng rất, rất ít người, có lẽ chỉ một hoặc hai người cho đến nay, có thể thực hiện Nava Khanda Yoga, sử dụng chín bộ phận cơ thể, bao gồm cả đầu.”

    “Thậm chí vượt xa cả Nava Khanda Yoga là Agni Khanda Yoga, trong đó một vị guru nung nóng những chiếc kẹp lửa của mình đến mức trắng xóa, rồi luồn chúng vào dưới da của đệ tử ở gáy, di chuyển song song xuống dọc theo cột sống. Một yogi thực sự vững vàng trong bản thể sẽ không hề nao núng khi điều này xảy ra.”

    “Đây là Khanda Manda Yoga thể chất, nó mang lại nhiều lợi ích, bao gồm khả năng miễn nhiễm với mọi loại vũ khí, thậm chí là bất tử về thể xác. Đây thực sự là một phương pháp tu luyện tuyệt vời, mặc dù tôi nghi ngờ bạn có thể ngất xỉu khi nhìn thấy toàn máu nếu bạn từng chứng kiến ai đó thực hiện. Hầu hết mọi người đều rất gắn bó với cơ thể mình, sẽ không thích ý tưởng rằng một phần nào đó của thân xác có thể bị chặt bỏ. Rõ ràng bạn chỉ có thể thực hiện Khanda Manda Yoga khi đã phát triển được một cái nhìn khách quan nhất định về cơ thể mình. Nhưng chuyện này không dễ dàng, bạn biết đấy, nó chỉ có thể thực hiện được khi bạn hoàn toàn kiểm soát được Kundalini Shakti của mình.”

    “Khanda Manda Yoga về tinh thần thì hơi khác một chút, nó liên quan đến suy nghĩ. Bạn có biết rằng mandana (sáng tạo) và khandana (phá hủy) của suy nghĩ diễn ta liên tục bên trong bạn không? Ví dụ, nếu người bạn yêu không ở bên cạnh, bạn sẽ liên tục phát ra từ trái tim mình những ước muốn được gặp cô ấy, được ở bên cô ấy, được ôm, vân vân. Bạn tiếp tục phóng chiếu những mong muốn này cho đến khi gặp được cô ta và thỏa mãn những mong muốn của mình, lúc đó những hình ảnh được phóng chiếu sẽ bị phá hủy. Đây là một hình thức của khandana, nhưng nó không hoàn hảo. Bạn sẽ chỉ thoát khỏi ham muốn đó trong một thời gian ngắn trước khi nó bắt đầu vì bạn chỉ đang phóng chiếu một hình ảnh về cách bạn muốn cô ấy như thế nào, để thỏa mãn bản thân. Hình ảnh này sẽ luôn thay đổi do ham muốn của bạn luôn thay đổi, và vì cô ấy cũng luôn thay đổi.”

    “Hầu hết mọi người không bao giờ nhận ra rằng những suy nghĩ này chỉ là những khởi hiện tạm thời của tâm. Họ cố gắng bám víu vào chúng hoặc tránh né chúng, tùy thuộc vào việc chúng mang lại sung sướng hay đau khổ cho tâm trí. Khandana đích thực là sự tiêu diệt tuyệt đối và vĩnh viễn nhân cách giả tạo của bạn, được cấu thành từ tất cả các khao khát, thị hiếu, ác cảm, cùng đủ thứ khác đã tích lũy qua hàng triệu kiếp sống. Chỉ khi loại bỏ hết những phóng chiếu tâm thức khiếm khuyết, bạn mới có thể nhìn thấy điều gì là thật. Mặt khác của khandana là mandana. Mandana đích thực là sự phóng chiếu của một hình thái vĩnh cửu, việc xây dựng một nhân cách chân chính. Khandana và mandana tinh thần tạo nên Khanda Manda Yoga đích thực.”

    “Chỉ có hai cách để thực hiện khandana và mandana, cũng như chỉ có hai loại thuốc: thuốc bên ngoài và thuốc bên trong. Hoặc bạn nhờ bác sĩ chữa trị, hoặc bạn tự chữa bệnh bằng sức mạnh ý chí của chính mình, không có cách thứ ba. Tương tự, khandana có thể là thuốc bên ngoài, bằng cách hoàn toàn thỏa mãn dục vọng, hoặc có thể là thuốc bên trong, bằng cách hoàn toàn kiểm soát dục vọng. Việc kìm nén dục vọng sẽ không hiểu quả. Giống như lò xo cuộn, dục vọng bị kìm nén chỉ bất động chừng nào nó còn bị đè nén. Khi áp lực giảm bớt, nó sẽ bật trở lại với sức mạnh lớn hơn. Mandana đích thực chỉ có thể xảy ra sau khi ham muốn của bạn đối với những sắc thái hữu hạn, vô thường đã bị loại bỏ, hoặc thông qua sự thỏa mãn, hoặc thông qua sự kiểm soát.”

    Sau khi khắc sâu ý niệm về niyama vào đầu tôi, vimalananda bắt đầu bài học dài hạn về sadhana, là một dạng Khanda Manda tinh thần đối với tôi, ở mức độ non nớt. Sau khi phá bỏ một trong những quan niệm đã hình thành sẵn của tôi về các thực hành tâm linh, ông sẽ cung cấp cho tôi những mẩu thông tin nhỏ, rải rác đây đó, từ đó tôi được kỳ vọng sẽ tổng hợp thành một khái niệm mới. Sau đó, ông sẽ kiểm tra định kỳ, không báo trước, để đảm bảo rằng tôi đã hiểu, vì ông tin rằng chìa khóa để kiểm tra ai là lúc họ ít ngờ tới nhất, ít chuẩn bị nhất. Khi đó sẽ có một ý tưởng chính xác về việc họ thực sự biết bao nhiêu. Chỉ sau khi tin chắc rằng tôi đã học được điều gì đó, ông mới tiến đến bước tiếp theo.”

Chia sẻ trang này