1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

AGHORA II: Kundalini

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi phunglam, 26/03/2026.

  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
  1. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Tên và Hình thức

    Cứ một hoặc hai tháng một lần, khi nào có hứng, Vimalananda lại dẫn tôi và Roshni đến đền Lakshmi Narayana ở trung tâm Bombay để chiêm bái dung nhan Thượng Đế. Các bức tượng trong đền được chạm khắc từ đá cẩm thạch trắng tinh khiết, vẻ đẹp dịu dàng, cao cả của các ngài dễ dàng chạm đến trái tim của những ai nhìn ngắm với lòng thành kính. Tất cả những người ở đó, các vị quản lý đền, thầy tu, bảo vệ, đều biết Vimalananda, họ đều vui mừng khi thấy ông đến, ngoại trừ các nhạc công, những người ghen tị với tài năng âm nhạc xuất chúng của ông. Sau khi dâng lễ vật, Vimalananda thường ngồi xuống bên cây đàn organ để chơi và hát cho Narayana và Lakshmi. Tiếng hát của ông, mùi hương trầm dịu nhẹ, cùng nét thanh bình siêu nhiên khắc họa trên khuôn mặt của Tôn thượng và Phu Nhân ngài đã lấp đầy đại sảnh bằng nỗi đau ngọt ngào tỏ lộ của người mộ đạo dành cho đấng Bề Trên của mình.

    Sau một trong những buổi chơi nhạc đó, khi trở về nhà, tôi rót cho Vimalananda một ly Scotch, ông bắt đầu nói, nước mắt đôi lúc long lanh khi cảm xúc dâng trào, vượt qua ranh giới của tính cách thường nhật:

    “Tối nay bạn có thấy Naryana ăn mặc thế nào không? Đẹp quá! Bạn biết không, bạn có thể chọn thờ Thượng đế như một đấng Tuyệt Đối vô hình hoặc thờ Thượng đế hữu hình, tôi luôn khuyên mọi người nên thờ Thượng đế hữu hình. Chúng ta đều là con người, Thượng Đế được cho là đã tạo ra chúng ta theo hình ảnh của ngài, vậy tại sao không tạo ra Thượng đế theo hình ảnh của chúng ta. Bạn có thể hiểu được tính bao la vô tận của hàng tỷ vũ trụ không? Không, không. Nhưng bạn có thể hiểu được ánh mắt từ bi của các ngài.”

    “Trên đời này có rất nhiều loại mắt khác nhau. Có mắt quyến rũ, có mắt tàn nhẫn, mưu mô, có mắt ngây thơ, có mắt vô hồn. Nhưng chưa từng có đối mắt nào giống như Krishna. Khi nhìn thấy đối mắt ấy, bạn sẽ phát điên lên, điên cuồng vì kính yêu. Đôi mắt của Krishna đầy mê hoặc, chan chứa dịu dàng đến nỗi khiến bạn trở nên điên dại.”

    “Vậy rốt cuộc một vị thần là gì? Một vị thần là Ý thức Duy nhất được biểu hiện theo cách đặc biệt, một khía cạnh nhất định của thực tại có hình dạng cụ thể. Do đó, toàn thể chư thần đều có những giới hạn nhất định. Rama, Krishna cũng vậy, Shiva cũng thế, bất cứ sinh linh nào có tên và hình thức đều bị giới hạn, nếu chỉ bởi cái tên và hình thức đó.”

    Tôi muốn hỏi: “Chẳng phải triết học Advaita Vedanta dạy rằng, trong khi Tuyệt Đối là thật, thì Tương Đối là vũ trụ hữu hình với tên gọi và hình thức, vốn dĩ là giả, vậy chẳng phải người ta chỉ nên thờ đấng Tối Cao (vô hình) hay sao?”

    “Ai nói vậy?” ông gầm lên. “Chỉ có một phiên bản của Advaita Vedanta dạy điều đó, phiên bản mà Shankaracharya đã truyền ra. Các phiên bản khác của Advaita Vedanta không bị giới hạn như vậy. Tuy nhiên, đúng là đấng Tối Cao vượt trên mọi danh xưng và hình thức, đó là lý do tại sao tôi tin rằng tốt hơn hết là không nên thờ cúng các vị thần.”

    Tôi liếc nhìn ông với vẻ khó hiểu. Ông thích làm tôi bất ngờ, một khi đã là đô vật, mãi mãi vẫn là đô vật.

    “Tôi tin rằng tốt hơn hết là nên thờ phụng đấng Duy Nhất đứng sau các vị thần, nhưng tôn trọng, cảm kích các vị thần vì cách họ hoàn thành xuất sắc vai trò được giao. Bạn hiểu tôi chứ? Có một sự khác biệt tinh tế. Bạn yêu mến các vị thần, nhưng bạn thờ phụng đấng Tuyệt Đối đã tạo ra họ và ngự trong họ. Thờ một vị thần là cách tốt để bắt đầu con đường tâm linh vì nhiều lý do, nhưng chủ yếu là vì sùng kính một đấng có hình dáng thì dễ hơn đấng Vô Hình. Có thể bạn không chọn tưởng tượng Thực Tại Toàn Thể là Shiva, có thể bạn thích Krishna. Điều đó không quan trọng, bạn sẽ đạt tới Thượng Đế trong bất cứ hình dáng nào bạn tưởng tượng ra, miễn là bạn thờ phụng với lòng chân thành và kính yêu.”

    “Vậy chỉ khi nào phân biệt vị thần này với vị thần khác như thể họ thực sự khác nhau thì mới có sự mâu thuẫn?”

    “Cá nhân bạn có thể tiến bộ nhanh hơn nếu thực hành một số sadhana nhất định của Aghora, vì bạn có những đặc điểm tiêu cực trong tính cách cần được loại bỏ.”

    “Có lẽ đây giống như lấy độc trị độc vậy? Dùng biện pháp cứng rắn để loại bỏ sự cứng rắn của chính mình?”

    Ông gật đầu đồng ý khi nhấp một ngụm đồ uống. “Bạn biết đấy, ngay nay những đạo sĩ giả và những người tự xưng là chuyên gia cứ nói mãi về Satya Yuga, Thời đại Vàng và Kali Yuga, Thời đại Sắt. Tại sao họ không thể giải thích được điều đó trực tiếp mà không cần vòng vo?” Ông nhanh chóng trở nên hứng thú với chủ đều của mình.

    “Đó chỉ là sự khác nhau giữa một thanh kiếm vàng và một thanh kiếm sắt. Cả hai đều được dùng để chém đứt Ashta Pasha, Tám Cạm Bẫy trói buộc chúng ta với thế gian: dục vọng, giận dữ, tham lam, ảo tưởng, đố kỵ, xấu hổ, sợ hãi và ghê tởm. Kiếm bằng vàng chém không tốt lắm. Hãy thử đấu kiếm với một thanh kiếm vàng rồi bạn sẽ sớm hiểu ý tôi.” Chúng tôi cùng cười trước hình ảnh đó. “Con người ở Thời Đại Vàng không thể là những sát thủ giỏi, họ tin vào mandana chứ không phải khandana. Họ tin rằng bạn nên loại bỏ Ashta Pasha bằng cách tạo ra những samskara (đặc điểm tính cách) mới có lợi, sau khi bén rễ trong mỗi cá nhân sẽ dần dần lấn át toàn bộ những hạn chế của người đó.”

    “Trong kỷ Kali, người ta tin vào khandana. Một thanh kiếm sắt có thể chém người rất sắc, và chẳng phải hầu hết mọi người ngày nay đều là những tên sát nhân hay sao? Trên thế giới ngày nay, hoặc bạn trở thành kẻ giết người, hoặc bạn sẽ bị giết. Từ pashu có nghĩa là “kẻ bị mắc bẫy của một pasha”. Pashu cũng có nghĩa là thú vật. Chừng nào bạn còn bị mắc kẹt vào một trong Tám Cạm Bẫy, bạn chẳng khác gì, mà có lẽ còn tồi tệ hơn một con vật.”

    “Tất cả chúng ta ngày nay đều là pashus, những con vật bị dùng để hiến tế, bị mắc kẹt trong tám cạm bẫy. Cách tốt nhất để thoát khỏi Ashta Pasha trong kỷ Kali là cắt đứt chúng bằng Tantra và Aghora. Nếu có thể chịu đựng được nỗi đau khi nhân cách bị cắt xẻ, thì bạn có thể hiến tế bản thân, sau đó khi bạn chết đối với thế giới, những samskara mới có thể được tạo ra. Đó chính là ý nghĩa của Aghora.”

    Trong khoảnh khắc thoáng qua, tôi cảm thấy thương hại chính mình, vì đã bị mắc kẹt sâu đến mức chỉ có thể được cứu rỗi bằng cách chém giết.

    Như thường lệ, ông nắm bắt được suy nghĩ của tôi. “Anh có nghĩ rằng chỉ những kẻ dâm đãng, ăn thịt, nghiện ma túy mới là động vật không? Ồ không. Các Mật Điển nói về những pashu tâm linh, những người cũng thú tính như bất kỳ pashu nào khác nhưng theo cách riêng. Pashu tâm linh rất phân biệt giáo phái, họ phỉ báng bất cứ ai không cùng tín ngưỡng với họ, hoặc thờ phụng một vị thần khác. Họ quan tâm đến vẻ thanh tịnh bề ngoài hơn là tính thanh tịnh bên trong, thích phô trương hoạt động thờ cúng của họ. Vì vậy, nhiều người thuộc giai cấp Bà la môn, cái gọi là đẳng cấp tâm linh, là loại pashu tồi tệ nhất.”

    “Chỉ có kẻ man rợ, thú tính, mới nghĩ các vị thần về cơ bản là khác nhau, rồi sẵn sàng giết người vì vị thần này hay vị thần khác. Từ thuở ban đầu, người Hồi giáo nổi tiếng vì tàn sát bất cứ ai không tin theo họ như những kẻ ngoại đạo, nhưng người Thiên Chúa giáo đã làm gì trong nhiều thế kỷ như vậy? Họ đánh nhau và giết người Hồi giáo như những kẻ ngoại đạo, được rồi, nhưng còn tệ hơn cả như vậy, những người Tin Lành và Công giáo còn tàn sát lẫn nhau không thương tiếc. Vì điều gì? Để mỗi bên có thể tuyên bố mình độc quyền về lòng từ ái của chúa Jesu sao? Còn điều gì lố bịch hơn thế nữa không?”

    “Tình trạng đó vẫn đang xảy ra ngày nay, ở Bắc Ireland.”

    “Đúng vậy. Điều đó vẫn đang xảy ra ngày nay, không chỉ ở trong cộng đồng Thiên Chúa giáo. Trong đạo Hồi, người Shia và Sunni vẫn giết hại lẫn nhau. Ở Ấn Độ thì không đến nỗi tồi tệ như vậy, người ta giết nhau vì những lý do khác, nhưng người Ấn giáo và Hồi giáo vẫn thỉnh thoảng giết nhau. Ngay cả tỏng cộng đồng người Ấn giáo, một số người thờ Krishna vẫn lăng mạ những ai thờ Rama và ngược lại, nhiều người thờ Vishnu nghĩ rằng việc thờ Shiva hay Nữ thần chỉ là chuyện vớ vẩn.”

    “Trên toàn thế giới, những người thực sự có đời sống tâm linh sâu sắc không bao giờ nhìn vào vẻ bề ngoài của một người, họ nói ngôn ngữ gì, thờ vị thần nào. Họ chỉ nhìn vào bản chất bên trong. Vì vậy tôi nói hãy quên những thứ vớ vẩn đó đi, để những cuộc tranh luận lại cho các thầy tu, còn các bạn hãy thờ Thượng Đế theo bất kỳ hình thức nào các bạn muốn.”

    “Với điều kiện là tôi biết cách thực hiện” tôi nói thêm, mong chờ thêm các hướng dẫn.

    “Dĩ nhiên. Bạn cần phải có ít nhất hiểu biết cơ bản về quy trình để nó diễn ra đúng cách. Nếu bản thiết kế đúng thì kết cấu chắc chắn cũng sẽ đúng, đó là nguyên lý của tôi. Tôi tin rằng bước đầu tiên trên đường đạo là quên đi việc hòa nhập ý thức của bạn với những thứ bên ngoài. Giữ khoảng cách với thế giới, đặc biệt là với chủ nghĩa giáo phái, để đến gần hơn với đấng tối cao của bạn. Chừng nào bạn còn gắn bó với thế giới, bạn còn xa rời Thượng Đế. Một khi gắn bó với Thượng Đế, điều không thể tránh khỏi là bạn sẽ trở nên xa rời thế giới.”

    “Có người từng nói với tôi rằng bức tượng nổi tiếng Người Suy Tưởng của Rodin là một ví dụ điển hình về sự dứt bỏ (khỏi thế giới xung quanh). Tôi trả lời: “Người suy tưởng chỉ đơn giản là đang suy nghĩ. Ông ấy chưa đi sâu vào nội tâm đến mức hoàn toàn đánh mất (tính trần tục thế gian). Nếu đã đạt được điều đó, ông ấy sẽ không cần phải cố gắng suy nghĩ đến thế. Rõ ràng ông ấy vẫn còn bị mắc kẹt trong các giác quan của mình. Thực tế, tôi nghĩ ông ấy trông rất giống một con khỉ đột.”

    Chúng tôi lại cười sảng khoái và giọng điệu của Vimalananda trở nên gay gắt hơn.

    “Suy nghĩ về những hạn chế của bản thân không phải là cách để thay đổi chúng, trên thực tế, nếu bạn suy nghĩ quá nhiều về chúng, rất có thể bạn sẽ càng củng cố chúng. Đó là lý do tại sao tôi không mấy tin tưởng các nhà tâm lý học. Họ dành toàn bộ thời gian để khiến bệnh nhân nhớ lại toàn bộ những điều tồi tệ đã xảy ra với mình, không bao giờ cố gắng xóa bỏ những ký ức tồi tệ đó để thay thế chúng bằng những samskara tốt đẹp, vốn là điều bạn làm khi quán tưởng một vị thần.”

    Freud từng nói: “Chứng loạn thần kinh là sự hồi tưởng.”

    “Thật không may, chính Freud lại là một người mắc chứng loạn thần kinh, nếu không thì ông ta sẽ chẳng bao giờ nghĩ ra những điều nhảm nhí mà ông ta gán cho là kiến thức. Ông nghĩ mình hiểu về (tình) dục, nhưng tất cả những gì ông hiểu chỉ là sự bất thường về (tình) dục, lại còn hiểu sơ sài. Nhưng câu nói đặc biệt của ông thì lại đúng: chứng rối loạn thần kinh xảy ra khi bạn bị mắc kẹt trong ký ức của mình, khiến bạn cứ mãi duy trì những hạn chế của bản thân. Đó là lý do tại sao sadhana lại cần thiết đến vậy, đặc biệt là trong kỷ Kali, khi ai cũng có những hạn chế riêng.”

    “Tôi tin vào luật Trùng (catterpillar) và Hồ Điệp (butterfly) của Ấn Độ cổ đại, Kita Bhramari Nyaya. Bên trong con trùng dị dạng là một hình ảnh. Có lẽ đó không phải là một hình ảnh thực sự trong tâm trí, mà chỉ hiện diện trong gen và nhiễm sắc thể, nhưng chẳng phải đó cũng là một hình ảnh sao? Bạn đang có tình lý giải nếu nói không phải, bởi vì hình ảnh đó phải tồn tại đâu đó trong ý thức của con trùng để nó có thể hóa hồ điệp. Nó tồn tại ở đó, ở cấp độ sơ khai đó, là do cái tôi. Cái tôi của con trùng liên tục tập trung vào cơ thể của nó, cũng giống như cái tôi của bạn liên tục tự đồng nhất với cơ thể và nhân cách của chính bạn. Nếu không thì bạn chẳng thể tồn tại.”

    “Tuy nhiên đến một lúc nào đó, cái tôi của con trùng ngừng tự đồng nhất với hình dạng trùng của nó và bắt đầu tự đồng nhất với hình dạng hồ điệp. Nó tưởng tượng mình là một con hồ điệp trong thời gian dài đến nỗi cuối cùng nó trở thành một con hồ điệp. Thực ra nó luôn là một con hồ điệp, chỉ cần thời gian và sự tập trung là đủ để nguyên nhân tự bộc lộ trong kết quả. Nguyên nhân là kết quả bị che giấu, kết quả là nguyên nhân được bộc lộ. Điều đó cũng tương tự với sadhana: bất cứ điều gì bạn quán tưởng, bạn chắc chắn sẽ trở thành điều đó. Bạn có thể không thành tựu nhanh như một số người, trừ khi bạn đã thực hành sadhana rất nhiều trong các kiếp trước và bạn có một vị guru đầy quyền năng để điểm đạo cho bạn vào mật tông trong kiếp này. Dù thế nào, cuối cùng chắc chắn bạn cũng sẽ thành tựu, nếu kiên trì và bền bỉ. Không có phần thưởng tức thì nào trong việc thờ phụng Thượng Đế.”

    “Vậy thì về cơ bản, sadhana chỉ là việc ngăn chặn Kundalini đồng nhất với một nhân cách con người hữu hạn để nó có thể đồng nhất với một nhân cách vũ trụ?”

    “Đúng vậy, thực tế là nếu đồng nhất bản thân với hình ảnh mới đủ mạnh mẽ, bạn thậm chí sẽ bắt đầu trông giống vị thần mà bạn tôn thờ. Tôi biết một tu sĩ ở Gimar, là một tín đồ sùng bái Anjaneya, tôi thích gọi Hanuman là Anjaneya vì gợi nhớ tới mẹ của ngài, Anjani. Tu sĩ này tập trung vào Anjaneya với lòng nhiệt thành sốt sắng đến nỗi ông ta mọc ra một cái đuôi nhỏ. Một người khác bắt đầu uống thuốc độc giống như Shiva, cuối cùng ông ta trở nên miễn nhiễm với thuốc độc. Nếu bạn cứ lặp đi lặp lại “Coca Cola, Coca Cola” suốt ngày, bạn có thể không nếm được vị Coke, nhưng cuối cùng bạn sẽ trở thành Coke.”

    Hừm, lại một hình ảnh bất thường nữa làm gián đoạn dòng chảy tâm trí bình thường của tôi, khiến tôi chợt nhận ra rằng phương Tây chúng tôi có gần như nhiều vị thần như Ấn Độ. Chúng tôi có các ngôi sao nhạc rock, người hùng thể thao, ngôi sao điện ảnh, nhân vật hoạt hình, đủ loại hình ảnh để bắt chước cùng với những câu thần chú và bài thánh ca phù hợp, để chúng rôi có thể tái tạo bản thân theo hình ảnh của họ. Bằng cách nào đó, tôi lại thích những hình ảnh mà Vimalananda cung cấp cho tôi hơn.

    “Việc quán tưởng và tụng niệm các câu mật chú sẽ củng cố hình ảnh mới đang được tạo ra bên trong” tôi nói.

    “Đúng đó! Mọi thánh điển đều bảo chúng ta rằng trong kỷ Kali, sadhana cao cả nhất là niệm hồng danh của Thượng Đế, nhưng tại sao? Hãy luôn hỏi tại sao! Lý do vì danh hiệu và hình thức là đồng nhất, khi gọi tên, bạn tạo ra hình thức. Mỗi vị thần đều có một cái tên bởi vì mỗi cái tên là một câu mật chú, một cách để tạo ra vị thần đó.”

    “Mantra có nghĩa là man ki tarana, thứ cứu rỗi tâm trí khỏi những hiểm họa của luân hồi. Trong Tantra và Aghora, chúng tôi tin vào việc sử dụng sức mạnh của tâm trí để đạt được mục tiêu. Một số Yogi nói: Hay tiêu diệt tâm trí! Nhưng tôi nói: Tại sao phải tiêu diệt thứ có thể rất hữu ích? Hãy kiểm soát tâm trí! Bạn chỉ nên tiêu diệt những thứ nguy hiểm khiến bạn sợ hãi, mà những người duy nhất sợ hãi tâm trí lại chính là những người không kiểm soát được nó. Rất nhiều “yogi” này thực chất là những kẻ đạo đức giả.”

    “Khi tụng niệm danh hiệu của Thượng Đế, bạn thực sự tạo ra hình dáng của ngài trong ý thức của mình, điều này mang lại cho Kundalini Shakti của bạn một thứ tốt đẹp để tự đồng nhất. Việc tụng niệm danh hiệu của vị thần trong khi quán tưởng ngài là cách thờ phụng tốt nhất mà chúng ta có thể thực hiện.”
  2. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Soma Yaga

    “Nếu nỗ lực đánh thức Kundalini và cố gắng tự mình làm mọi thứ, chỉ cần một sơ suất nhỏ thôi là bạn sẽ mất tất cả, nhưng nếu bạn tôn thờ và đồng nhất mình với một vị thần, ngài sẽ bảo vệ bạn khi năng lượng trở nên quá mạnh mẽ mà bạn không thể kiểm soát được. Điều này đặc biệt đúng nếu, giống như một Aghori, bạn vội vàng để thành công rồi quyết định thực hành những sadhana nguy hiểm như Panchamakara. Thịt, cá, rượu, ngũ cốc rang và giao hoan đều là các chất gây say (intoxicant), và mục đích của các chất gây say là để kích thích dây thần kinh của bạn có thể chịu đựng được sức mạnh của Kundalini Shakti. Rượu, (ái) dục, cùng những thứ khác chỉ có thể giúp phát triển tâm linh nhanh chóng nếu bạn biết sử dụng chúng đúng cách, nếu không, chỉ càng trói buộc bản thân chặt hơn vào luân hồi.”

    “Nếu chọn sử dụng chúng, bạn tuyệt đối không được mất tỉnh táo. Đó là lý do vì sao tôi chỉ cho phép một câu nói, một chủ đề duy nhất trong suốt buổi trị liệu có sử dụng chất gây say.”

    “Giống như tối nay vậy” tôi nói vui vẻ.

    “Giống như tối nay. Nếu dùng chất gây say rồi chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác, tâm bạn sẽ lang thang, tập trung vào một chủ đề sẽ giúp bạn kiểm soát tốt hơn. Kiểm soát là vô cùng cần thiết khi dùng chất gây say, bất kể ai nói gì với bạn. Nếu bị ảo giác khi say, điều đó cho thấy hệ thống cơ thể bạn chưa sẵn sàng cho năng lượng đó.”

    “Vài năm trước có một số người cố gắng rót độc vào tai cha mẹ tôi, bảo với họ rằng tôi là một kẻ nghiện rượu, uống rượu cả đêm. Tôi đúng là có uống rượu, như mọi người đều thấy.”

    Ông nói mà không hề tự hào hay tự ti, đưa ly cho tôi để được rót thêm.

    “Nhưng tôi không phải là một tên nghiện rượu, tôi hoàn toàn kiểm soát được bản thân. Vì vậy, một buổi tối, tôi quyết định chứng minh cho song thân thấy mình đang làm gì với rượu.”

    “Sau bữa tối, tôi lấy ra một chai Scotch cùng một chiếc ly, rồi bắt đầu uống rượu Scotch nguyên chất. Cụ ông khó chịu nhưng không nói gì, chỉ trừng mắt nhìn. Cụ bà muốn nói với tôi rằng uống rượu là sai, vân vân, nhưng tôi tuyên bố: “Giờ chúng ta hãy bàn luận về Upanishad.”

    “Cha tôi rất thích kinh Veda và Upanishad, ông thường tự hào với kiến thức của mình về chúng. Nhưng sau khi tôi thuyết trình xong, mắt ông rưng rưng và nói: Chưa bao giờ nghĩ con lại biết nhiều đến vậy! Mẹ tôi tuy không nói gì nhưng lần sau khi tôi đến thăm họ, bà lấy ra một chai Schotch sau bữa tối và nói: Này con, cầm lấy chai này rồi nói chuyện đi! Tôi tự hào vì các cụ đã trân trọng những bài thuyết trình và hiểu rằng tôi đã không tự hủy hoại bản thân bằng việc uống rượu.”

    “Lý do tôi không tự hủy hoại bản thân bằng rượu” ông vừa nói vừa nhấp một ngụm rượu, “là vì tôi thực hiện Soma Yaga, hay lễ hiến tế Soma, mỗi khi tôi uống.”

    Mọi người vẫn đang tranh cãi về ý nghĩa của lễ hiến tế Soma trong kinh Veda trong nhiều năm qua, nhiều học giả đã tuyên bố tìm ra loại cây dùng để chế biến thức uống Soma, thứ đồ uống có tác dụng thần thánh. Vimalananda không chấp nhận tính tự phụ của giới học giả, ông cho rằng tác dụng thần thánh của Soma có thể được tạo ra từ nhiều chất khác nhau, mỗi chất củ có thể được dùng để chế biến Soma trong bối cảnh cụ thể về địa điểm, thời gian, phương pháp điều chế và đối tượng tiêu thụ.

    “Lễ Soma Yaga không liên quan gì đến việc uống nước ép của một loại trái cây nào đó, mặc dù nghi lễ bên ngoài đó vẫn còn tồn tại ở một số nơi. Tôi thực hiện Soma Yaga theo cách hoàn toàn khác. Khi uống rượu, tôi chuyển hóa nó thành Soma với sự trợ giúp của một câu thần chú. Câu chú là cần thiết bởi vì Soma chứa đầy Sattva còn rượu chứa đầy Tamas. Ngoài nghiệp chướng do việc nghiền nát sự sống của tế bào nấm men trong quá trình ủ rượu, còn có những lời nguyền mạnh mẽ cần phải được loại bỏ khỏi rượu trước khi bạn uống. Rượu đã bị nguyền rủa ba lần: bởi Brahma, đấng Tạo Hóa, bởi Shukracharya (thần sao Kim) thầy của các asura, và bởi chính Krishna. Nếu uống vào mà không có câu thần chú thích hợp, bạn sẽ phải chịu ảnh hưởng của cả ba lời nguyền, sau đó bạn sẽ bị đọa.”

    “Rượu phát triển Sattva, khi tất cả các tế bào nấm men nhỏ bé khốn khổ đã hy sinh mạng sống của mình trong quá trình ủ rượu, được ban cho trí tuệ. Khi việc này được thực hiện, chúng đi vào cơ thể tôi, thay vì làm lệch lạc ý thức của tôi, chúng bắt đầu nhảy múa trong niềm vui. Sau đó, cả chúng và tôi đều nhận được một số lợi ích từ việc uống rượu. Điều này chỉ có thể xảy ra nếu tôi dâng thức uống vào lửa Bhuta Agni, để nó có thể đến được với Smashan Tara. Đây là phần hiến tế, rượu được hiến tế cho ngài, rồi ngài nhận lấy prana mà toàn bộ các tế bào nấm men nhỏ bé khốn khổ đã đóng góp cho rượu để rồi sau đó cứu những tế bào đó. Ý tôi muốn nói gì khi dùng từ “cứu”? Là ngài lấp đầy chúng bằng trí tuệ, khiến chúng được tái sinh trong những bào thai cao hơn. Quá trình này hoàn toàn diễn ra bên trong, đó là cách tốt nhất để thực hiện một yajna.”

    Tôi bắt đầu đọc Athur Avalon nên đã thấy đoạn này: “Và đây là lý do tại sao các Tantra gọi rượu là Tara Dravamayi, chính là Đấng Cứu Thế ở thể lỏng.”

    “Vâng, thật tuyệt khi cảm nhận được ngài đang nhảy múa bên trong bạn, tôi không thể diễn tả được. Chất gây say rất tuyệt nhưng bạn không thể bắt đầu sử dụng chúng ngay lập tức, bạn phải thực hành rất nhiều sadhana trước, để đảm bảo khả năng kiểm soát của bạn đã vững vàng.Tôi sẽ còn nhắc lại điều này nhiều lần: trừ khi hiểu rõ quy trình này, nếu không bạn đừng uống rượu, bởi vì sớm muộn gì lời nguyền cũng sẽ ập đến, rượu sẽ bắt đầu nuốt chửng bạn, và bạn sẽ bị kết liễu.”
  3. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Biến mọi thứ thành một Sadhana

    “Nhưng trước đây ông từng nói rằng không cần phải từ bỏ mọi thứ để thành tựu.”

    “Không, bạn không cần phải làm vậy, nhưng bạn phải biến mọi thứ thành một sadhana. Dâng hiến từng miếng ăn cho vị thần của bạn, đi ngủ mỗi đêm hãy nhớ đến vị thần của bạn. Đối với phối ngẫu, bạn không cần phải biết bất cứ nghi lễ song tu phức tạp nào để có thể niệm chú với mỗi lần đưa linga vào yoni. Luôn dâng cúng mọi việc làm cho vị thần của bạn, và ngài sẽ luôn che chở cho bạn. Tuy nhiên, việc nhớ niệm chú trong cuộc song tu có dễ dàng không khi nó đang lên đỉnh cao? Đó là lý do tôi nói rằng bạn càng loại bỏ được nhiều thói nghiện tiềm ẩn thì tiến bộ của bạn sẽ càng nhanh.”

    “Theo những gì tôi đã tìm hiểu, thức ăn ít nhất có tiềm năng tạo ra Sattva, giấc ngủ chắc chắn tạo ra Tamas, hợp hoan tạo ra Rajas rất lớn” tôi nói thêm.

    “Và điều tôi đã học được là bất kỳ chất hoặc hoạt động nào cũng có thể tạo ra một trong ba Guna, tùy thuộc vào việc bạn tiếp nhận nó tốt đến mức nào. Ban đầu bạn phải tích lũy Sattva, chuyện này thì rõ ràng. khi ý thức đã tràn đầy Sattva, khả năng phân biệt của bạn trở nên chiếm ưu thế, bạn có thể dễ dàng đánh giá điều gì tốt cho mình. Nếu để cho Rajas hoặc Tamas dư thừa tích tụ trong ý thức, hoặc cái tôi của bạn sẽ trở nên mất kiểm soát, hoặc bạn sẽ trở thành nô lệ cho các giác quan của mình, hoặc cả hai.”

    “Trong các Tantra Sattva, bạn được ban cho một câu mật chú cùng với mô tả về hình dạng trực quan của nó để thiền. Với hình ảnh tinh thần đó, bạn xây dựng vị thần trong thể vía (astral) của mình, cuối cùng vị thần đó sẽ tự hiện hình và hiển lộ cho bạn thấy. Việc quán tưởng là rất cần thiết vì tầm quan trọng hàng đầu của đôi mắt. Không phải ai cũng có khả năng quán tưởng, nhưng nếu làm được, cuối cùng bạn sẽ nhận thấy vị thần ở ngay trước mắt mình. Những gì bạn nhìn thấy không phải là vị thần thực sự, mà được tạo thành từ chính bạn, từ thể vía của chính bạn. Bạn có biết về Bimba Pratibimba Nyaya không?”

    Hãy xem nào: “Luật về Hình ảnh và Phản chiếu?”

    “Đúng vậy. Khi mặt trăng mọc trên một ao nước tĩnh lặng, bạn sẽ thấy hình ảnh phản chiếu hoàn hảo của nó trên mặt nước. Nó trông giống như mặt trăng nhưng không phải. Những gì bạn tạo ra bên trong mình bằng phương pháp tu tập Tantra chỉ là sự phản chiếu của hình ảnh vị thần mà bạn tôn thờ. Nhưng vì bạn đã trao cho hình ảnh đó toàn bộ sức mạnh của vị thần đó nên hình ảnh chiếu đó có thể làm những việc bạn muốn cho bạn, rồi cuối cùng nó sẽ dẫn bạn đến với vị thần thực sự. Đây là con đường chắc chắn, nó cần chút thời gian.”

    “Trong Aghora, thuần túy là Tamas, bạn không cần phải ngọt ngào mời gọi thần linh đến với mình. Bạn yêu cầu Thượng Đế đến, bạn túm tóc kéo lê ngài nếu cần thiết. Các Aghori sử dụng chất gây say và các chất hỗ trợ khác vì họ muốn một tiến trình đột phá chợp nhoáng. Việc này lại dẫn đến dư thừa Rajas và Tamas, nếu phạm sai lầm dù nhỏ nhất, bạn sẽ rơi xuống vực sâu. Bạn có nghĩ rằng Thượng Đế thích bị kéo lê bằng tóc không? Thượng Đế nói: “Được rồi, nếu tên này nghĩ hắn vĩ đại đến vậy, để xem chuyện gì sẽ xảy ra khi cho hắn nếm mùi vị chính thứ thuốc của hắn. Sau đó, tốt hơn hết là bạn nên chuẩn bị tinh thần để chịu đựng trò chơi Tamas của Thượng Đế, nó không phải là trò chơi. Aghora và Tantra là những thứ nguy hiểm không nên đùa giỡn.”

    “Vậy thì tôi nên kiên nhẫn” tôi nói với một chút cay đắng.

    “Bạn phải kiên nhẫn. Tôi thừa nhận trường hợp của tôi khác biệt, khá khác so với hầu hết mọi người. Tôi chưa từng có ý định để cho bất cứ điều gì xảy ra, từ khi bắt đầu sự nghiệp tu đạo cho đến nay, tôi chưa bao giờ yêu cầu bất kỳ pháp luyện cụ thể nào từ bất cứ ai. Jina Chandra Suri đã lừa tôi ngồi trên xác chết đó, nhưng nếu ông ấy không làm vậy, tôi sẽ chẳng bao giờ nhận ra Thánh Mẫu nhanh đến thế. Tôi luôn tin tưởng rằng thánh mẫu sẽ dạy tôi những gì cần thiết, và bà đã làm như vậy. Niềm tin là chìa khóa, cách tốt nhất để có được niềm tin là tụng niệm hồng danh ngọt ngào của Thượng Đế, rồi dâng hiến toàn bộ sự tồn tại của bạn cho Thượng Đế. Đây là bản chất của sadhana.”

    “Một lý do bạn cần kiên nhẫn là các vị thần không thích đến với bạn nếu Họ có thể tránh được. Họ giống muông thú ở điểm này. Trong rừng, liệu một con nai có lập tức đến gần bạn, ngay cả khi bạn gọi nó trìu mến? Không, bời vì sâu thẳm trong lòng nó sợ rằng một ngày nào đó bạn sẽ đến và nắm lấy cổ họng nó. Tương tự, vị thần sợ rằng nếu ngài đến gần bạn, bạn sẽ bắt được ngài rồi giao việc cho ngài. Để vượt qua nỗi sợ hãi này, bạn phải biết những gì vị thần của bạn thích và không thích. Nếu bạn dâng cúng cho ngài những gì ngài khao khát, thì làm sao ngài có thể từ chối? Các vị thần thích đùa giỡn, và có thể sẽ giở trò với bạn để đáp trả. Nếu không để bất cứ điều gì ảnh hưởng đến mình, bạn sẽ ổn. Nếu dao động hoặc lúng túng, bạn sẽ gặp rắc rối.”

    “Các vị thần thực ra rất đơn giản. Họ giống như những đứa trẻ. Khi họ yêu mến bạn, sẽ là vô điều kiện, nhưng nếu bạn lừa gạt hoặc quấy rối họ, họ sẽ không bao giờ quên điều đó. Nếu thực sự muốn trở nên gần gũi với vị thần của mình, bạn phải trở nên giống như một đứa trẻ nhỏ.”

    “Bạn phải có khả năng nói với vị thần của mình chân thành rằng: Con rất cô đơn, con không có bạn chơi nào khác. Xin hãy đến chơi với con. Nhưng tôi phải nói với bạn rằng, việc quên đi vị trí, cái tôi, những gì bạn có và trở thành một đứa trẻ. Phải mất nhiều năm tháng nỗ lực để đạt đến giai đoạn này.”

    “Vì vậy một trong những tên gọi của Shiva là Smarahara, Đấng Diệt Trừ Ký Ức.”

    “Đúng vậy. Chỉ ngài mới có thể xóa sạch mọi ký ức về bản thân bạn, đó là cách ngài giết bạn, ngài khiến Kundalini của bạn yêu ngài đến mức ngay lập tức quên mất việc đồng nhất với bạn.”

    “Và nếu bạn cố ý làm điều này trong quá trình tu luyện, nếu bạn chết đi trong khi vẫn còn sống, thì ngài có thể đồng nhất với một nhân cách mới.”

    “Đúng vậy. Một trong những lý do các vị thánh thích sống ẩn dật là vì họ cần thời gian tránh xa con người để có thể quên đi bản thân mình. Bạn biết không, để thành công trong Tantra, cần có sinh lực mạnh mẽ, phải có sức mạnh để thực hành sadhana. Bạn càng thực hành sadhana nhiều, bạn càng tạo ra nhiều ojas. Tôi có cần nói cho bạn biết ojas là gì không?”

    “Không”. Ojas là một khái niệm trong Ayurveda, đó là tinh chất của năng lượng vật lý tạo ra hào quang và khả năng miễn dịch của bạn chống lại sự xâm nhập của bệnh tật hoặc những vị khách không mời khác.

    “Khi bạn có nhiều ojas, hào quang của bạn sẽ được tăng cường đáng kể, thu hút nhiều người đến làm phiền bạn. Điều này đã từng xảy ra với Ramakrishna Paramahamsa. Ngài thậm chí phải cầu xin thánh mẫu Bhavatarini giúp ngài trở lại vẻ ngoài bình thường, thay vào đó là sự hấp dẫn từ bên trong. Do giữ trọn vẹn ojas bên trong, ngài đã hoàn toàn hòa nhập và tan biến vào thánh mẫu.”

    “Mọi người thường đến và nói với tôi: Càng niệm chú nhiều, tôi càng thấy bình an hơn. Bất cư skhi nào khó khăn gia tằng như vậy trong quá trình tu luyện, bạn có thể chắc chắn rằng mình đang đến gần vị thần hơn. Bạn không thể nhận ra vị thần của mình cho đến khi ý thức của bạn trở nên sáng tỏ và tinh khiết, điều này đòi hỏi bạn phải đốt cháy hết nghiệp xấu. Khi càng vững vàng trong sadhana, ngày càng nhiều nghiệp xấu từ kiếp này và hàng ngàn kiếp trước sẽ được giải phóng khỏi thân nhân quả của bạn. Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến bạn, ai cũng thích tiêu tiền, nhưng không ai thích trả tiền, đừng để điều đó ngăn cản bạn. Hãy tục cho đến khi đạt được mục tiêu, khi đó bạn sẽ hiểu rằng nó 100% xứng đáng.”

    “Đây là kỷ Kali, dường như, ngay khi mọi người bắt đầu gặp phải tác động tiêu cực từ việc loại bỏ nghiệp xấu, hầu hết họ nghĩ rằng đó là lỗi của thần chú và bỏ bê toàn bộ việc thực hành, đúng vào thời điểm họ cần thực hành tích cực hơn. Có gì đáng ngạc nhiên khi họ không bao giờ nhận được bất cứ kết quả nào từ việc tu luyện của mình?”

    “Chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả” tôi đáp lại.

    “Ngày xưa có một người đàn ông đã khổ tu pháp Shiva suốt một trăm năm mà không hề có bất kỳ kinh nghiệm cá nhân nào về ngài. Khi hấp hối, ông tự nghĩ: “Chuyện này là sao? Công sức tu hành của mình vô ích sao?” Ông ta lẽ ra phải nhớ rằng, cũng như vật chất là bất diệt, mọi hành động đều phải cho ra kết quả, vấn đề chỉ là thời gian. Thời gian chỉ tồn tại đối với chúng ta là những người phàm, chứ không phải đối với các đấng bất tử. Bánh xe của Tự Nhiên quay rất chậm, giống như bánh xe lu, nhưng cũng giống như bánh xe lu, Tự Nhiên nghiền nát mọi thứ trên đường đi của nó.”

    “Người đó tái sinh thành một con ong, quên mất câu thần chú thường niệm, quên mất nghi lễ, quên hết mọi thứ, nhưng sâu trong tâm thức vẫn còn vương vấn khuynh hướng thờ phụng Shiva, ít nhất điều đó vẫn còn sót lại từ kiếp trước.”

    “Có lẽ chính khuynh hướng dai dẳng này đã khiến con ong một ngày nọ bay đến Benaras, thành phố của chính Shiva. Nó đến khu vường của một thương gia, nhìn thấy những bông sen tuyệt đẹp nên bắt đầu hút mật. Nó đã quên hết Shiva và mọi thứ khác, chỉ nghĩ đến mật hoa. Nó say sưa với mật hoa đến nỗi không nhận thấy màn đêm buông xuống và những bông sen khép lại trong khi nó đang ở bên trong một bông sen. Nó bị mắc kẹt. Phải làm sao đây? Nó phải đợi đến sáng để thoát ra.”

    “Sáng hôm sau, trước bình minh, vị thương nhân đi ra vườn, cắt bông sen có con ong bên trong, mang vào phòng thờ, nói “Bhole!” rồi đặt bông sen lên trên tượng Shiva.”

    “Khi mặt trời mọc, những tia nắng chiếu xuống bông sen, làm cho bông sen hé nở và cho phép con ong bay ra. Shiva, người biết quá khứ, hiện tại và tương lai tự nhủ: “Ồ đây là người đã thờ ta, khổ tu suốt trăm năm rồi chết đi, đầu thai làm con ong đậi trên đầu ta! Varam Bruhi!”

    “Con ong nói: Varam Bruhi bây giờ làm gì? Nó có ích khi tôi còn là người. Giờ hãy khiến tôi giống như ngài. Ngay lập tức nó trở nên giống hệt Shiva. Thậm chí nó trở thành một trong những người hầu thân cận của Shiva, một đấng bất tử.”
  4. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Mặt Trời, mặt Trăng và Lửa

    Vào các buổi chiều, cuộc trò chuyện của Vimalananda thường xoay quanh trường đua ngựa, vì hầu hết những người đến gặp ông vào thời điểm đó đều quan tâm đến những lời mách bảo nóng hổi, vốn là nguồn sống của những người cá cược đua ngựa. Những ai quan tâm hơn đến việc nghe ông thảo luận về tâm linh sẽ đến vào buổi tối, khi ông thư giãn và để tâm trí tập trung vào Thực Tại. Một đêm nọ, sau khi tình cờ nghe thấy vài đệ tử của mình nói một cách hiểu biết về “lòng sùng đạo” và “kiến thức”, ông cảm thấy cần phải làm rõ vấn đề:

    “Trong sadhana, có thể có “ước muốn của tôi” hoặc có thể có “ước muốn của ngài”. Nếu ước muốn của tôi tồn tại, tôi theo con đường jnana (trí tuệ), cố gắng trở thành một jnani, nếu chỉ có ước muốn của ngài tồn tại, tôi theo con đường bhakti (sùng kính), hướng đến trở thành một bhakta. Đây là hai khả năng duy nhất. Ước muốn “của chúng ta” không thể tồn tại, bởi vì khi đó sẽ có nhị nguyên. Nhị nguyên là một cái gì đó ở giữa, không đây cũng không kia, ở giữa không có ích gì trong tâm linh. Nếu bạn ở đây, thờ phụng thần thánh trong chính hiện thể của mình, thì bạn là một jnani, và ước muốn của bạn tồn tại. Nếu bạn ở đó, bạn thờ phụng một hình thức bên ngoài của thần thánh, và bạn là một bhakta. Không có con đường thứ ba.”

    “Trên con đường jnana, vị thầy giúp đệ tử tách rời linh thể (astral body) trong khi thể xác vẫn còn sống. Việc này khiến đệ tử hơi đau một chút, bởi vì linh thể của họ đã hoàn toàn quên đi bản chất thực sự của nó. Nó tự đồng nhất hoàn toàn với thể xác đến nỗi rất khó để tách rời. Nhưng khi cuối cùng việc đó được thực hiện, đệ tử biết rằng điều đó đáng giá, bởi vì giờ đây anh ta có thể nhập vào thân nhân quả của chính mình rồi lựa chọn những nghiệp mà anh ta muốn trả theo tốc độ và điều kiện của riêng mình. Tất cả những gì anh ta phải làm bây giờ là tuân theo adesha (yêu cầu, hướng dẫn) của vị thầy bên trong. Adesah có nghĩa là Adya Isha, vị Thần Đầu Tiên, tiếng nói bên trong mách bảo đệ tử làm gì và khi nào.”

    “Trên con đường bhakti, vị thầy sẽ sắp xếp mọi thứ, nhiệm vụ duy nhất của học trò là duy trì lòng sùng mộ liên tục.”

    “Cái nào tốt hơn?” một người nghe pháp thỉnh thoảng đến thất của Vimalananda hỏi.

    “Không có con đường nào tốt hơn hay kém hơn, nó hoàn toàn phụ thuộc vào hành giả và đạo sư. Kết quả thì như nhau. Ngày xưa, Jnaneshwar Maharaj đang hành hương cùng một nhóm các vị thánh khác. Hôm đó trời rất nóng, mọi người đều khát nước. Giếng duy nhất họ tìm thấy lại không có xô. Làm sao để lấy nước?”

    “Trước tiên, Nivritti Nath, anh của Jnaneshwar, người đã dạy Jnaneshwar con đường jnana, đã dùng các quyền năng yoga của mình để tự xuống giếng múc nước lên. Tiếp theo, Namdev, người đã dạy Jnaneshwar con đường bhakti bắt hát một bài ca ngợi Thượng Đế. Lòng sùng kính của ông sâu sắc đến nỗi mọi sinh vật xung quanh, thậm chí cả cây cối đều tràn ngập cảm tình của Thượng Đế. Sau đó, Jnaneshwar nhận ra rằng mình đã thấy được kết quả cuối cùng của cả hai con đường trí tuệ và sùng mộ, nên đã xin phép thần Vithala kính mến của mình được rời bỏ thân xác, vì ông không còn gì để nhìn trong thế giới này nữa.”

    “Hãy suy nghĩ về điều này trên phương diện thân vi tế, các kinh mạch và Kundalini. Bhakti và Jnana là hai con đường dẫn đến luân xa Ajna. Bất cứ ai theo con đường jnana đều phải tập trung vào mặt trời. Các nhà Veda cổ đại đều theo con đường jnana, về cơ bản họ đều là những người thờ mặt trời. Điều gì xảy ra với một người nhìn thẳng vào mặt trời? Anh ta sẽ bị mù, mù theo nghĩa đen nếu nhìn trực tiếp vào mặt trời, và mù với thế gian nếu nhìn chăm chú vào mặt trời trí tuệ jnana. Khi bị mù với mọi sự phân biệt, mọi tên gọi và hình thức, bạn không thể nhìn thấy gì ngoài Thực Tại Duy Nhất. Người thời mặt trời đi theo dòng sông Ganga (Hằng), ở đây tượng trưng cho lỗ mũi phải, kinh mạch Surya Nadi.”

    “Người theo con đường bhakti sử dụng lỗi mũi trái trong các nghi thức của mình, sông Yamuna, tượng trưng cho mặt trăng. Con đường này mất nhiều thời gian hơn jnana, ngay cả trong thế giới bên ngoài, sông Yamuna cũng dài hơn Ganga,, nó uốn khúc trong khi sông Ganga chảy thẳng. Yama, sứ giả thần chết, người anh em của sông Yamuna, nói rằng nếu ai đó tắm trong sông Yamuna vào ngày Bhau Bija (ngày của Anh Em) thì mọi nghiệp chướng của người đó sẽ được gột rửa. Vì vậy mọi người đổ xô đi tắm ở sông Ymuna vào hôm đó, nhưng họ là những kẻ ngu dốt. Yama có nghĩa là sông Yamuna của thân thể, là lỗ mũi trái.”

    Sau khi tạm dừng một lát để chúng tôi suy ngẫm về ý tưởng tắm mình trong một kinh mạch, ông đã chuyển hướng câu chuyện:

    “Dĩ nhiên, chuyện một người đàn ông bị cuốn hút bởi lòng sùng kính bhakti là rất hiếm, mà điều đó dễ dàng hơn đối với một phụ nữ. Một người đàn ông phải phát triển một trái tim bằng sáp, một tình yêu thầm kín, bí mật. Điều gì xảy ra với người cứ nhìn chăm chú vào luna, mặt trăng? Điên cuồng (lunacy), mất trí. Khi đạt được Maha Bhava Samadhi, cảm xúc thăng hoa, bạn sẽ phát điên, điên cuồng vì tình yêu và niềm vui đến mức mất kiểm soát. Mặt trăng tượng trưng cho tâm trí, nó mát mẻ. Bạn nhận được cảm giác mát mẻ và điên cuồng đến mê mẩn từ mặt trăng. Chính cơn điên cuồng ngọt ngào này khiến cho chuyện yêu đương trở thành tuyệt diệu. Mặt trời cũng yêu bạn, nhưng mặt trời quá mãnh liệt đến nỗi nó thiêu đốt bạn thành tro bụi, không có bất kỳ khoảng lặng nào cho trò chơi tình yêu. Mặt trời dạy bạn tính vị tha. Tính ích kỷ là kẻ thù tồi tệ nhất, đúng vậy, nhưng nếu không có ít nhất một chút ích kỷ thì sẽ không có tình yêu.”

    “Rama, Kỷ Luật Tối Thượng (Maryada Purushottama) thuộc dòng dõi mặt trời, con đường của ngài là khổ hạnh. Krishna, Hóa Thân Tối Cao (Purnamada Purushottama), thuộc dòng dõi mặt trăng, ngài thích chơi trò trốn tìm với các tín đồ của mình, không bao giờ để họ bắt được ngài cho đến tận cùng. Mặt trăng nhận ánh sáng từ mặt trời, nhưng bạn sẽ không thể nhìn vào mặt trời, bạn sẽ bị mù. Bạn có thể nhìn vào mặt trăng nhưng bạn sẽ phát điên. Sự lựa chọn là của bạn.”

    “Vì vậy, bên nào tốt hơn tùy thuộc vào bạn. Nhưng hãy nhớ rằng, nếu chọn con đường jnana, bạn sẽ sử dụng kinh mạch Surya , thứ sẽ làm bạn nóng lên. Đạo lộ kiến thức ngày nay rất nguy hiểm vì có quá nhiều cám dỗ. Nếu ham muốn thể xác của bạn bị kích thích dù chỉ một chút, việc kiểm soát chúng sẽ trở nên vô cùng khó khăn. Rất nhiều yogi giỏi đã đến phương Tây rồi tự làm bản thân bị suy đồi. Họ có ý định tốt, nhưng không nhận ra, hoặc có lẽ đã quên rằng một yogi không thể cùng lúc làm một bhogi (người thưởng thức các khoái lạc giác quan). Bhakti an toàn hơn nhiều so với Jnana, do bạn sử dụng kinh mạch Chandra , thứ giúp bạn mát mẻ. Nó mất nhiều thời gian hơn nhưng không có nguy cơ sa ngã.”

    “Chính vì những nguy hiểm trên con đường jnana mà các Bà la môn, giai cấp tư tế, được cho là phải đeo sợi chỉ thiêng, jahnavi hay yajnopavita. Jahnavi cũng là tên gọi của sông Hằng, ở đây đề cập đến sông Hằng bên trong, Surya Nadi. Mục đích của sợi chỉ thiêng này là để kiểm soát và tăng cường hoạt động của kinh mạch mặt trời, giúp ích cho việc nghiên cứu kinh Veda, kinh Veda là con đường jnana, mà các Bà la môn được cho là “người hiểu biết về đấng Tuyệt Đối.”

    “Tôi thấy ông đang mặc một chiếc jahnavi,” Vimalananda nói với khách của mình, “vậy ông có biết ý nghĩa của nó không?”

    “Người đàn ông chắp tay cung kính rồi trả lời bằng tiếng Anh: Thưa ngài, tôi sinh ra là một người Bà la môn, tôi đã mang danh hiệu này nhiều năm, nhưng chưa ai giải thích cho tôi thỏa đáng. Tôi hy vọng ngài sẽ giải thích cho tôi!”

    “Làm ơn đừng gọi tôi là ngài, tôi chưa được hoàng hậu phong tước hiệp sĩ” Vimalananda vừa cười vừa nói tiếng Anh. “Dây jahnavi luôn được đeo từ vai trái xuống eo phải, trừ những lễ như Pitri Tarpana (cúng tổ tiên) thì đeo ngược lại (vải phải xuống eo trái). Những người quan trọng như vua, hoàng tử, tướng lĩnh thường đeo kiếm, dây đeo hoặc thắt lưng từ trái sang phải. Thắt lưng tạo ra cảm giác chỉ huy về tinh thần lẫn thể chất, dây jahnavi tạo cảm giác uy quyền về tâm linh, điều cần thiết cho con đường jnana. Đây là tác dụng của nó đối với tâm trí.”

    “Một chiếc jahnavi đích thực được dệt thủ công từ bông thô, chứ không phải len hay lụa, vì các chất liệu này có điện thế khác nhau. nó có ba sợi chỉ, với ba nút thắt đặc biệt được thêm vào. Rất ít người ngày nay biết tại sao lại như vậy. Điều này liên quan đến ba kinh mạch quan trọng nhất của thân thể và ba nút thắt chính cần phải được xuyên thủng nếu muốn Kundalini được đánh thức hoàn toàn.”

    “Vậy cụ thể jahnavi tác động thế nào đến thân thể? Chắc chắn nó làm cho phía bên phải, hay phía nam tính của thân trở nên nổi bật hơn. Bằng cách đeo nó qua vai trái, nó giúp người đàn ông tích lũy và khai thác shakti. Phụ nữ hoàn toàn không cần đeo jahnavi, bời vì họ là hiện thân của shakti. Thật không may, tôi cá là bạn chỉ nghĩ đến jahnavi của mình khi gom nó lại rồi quàng quanh tai phải mỗi khi vào toilet thôi phải không?”

    Người kia gật đầu lia lịa, ngượng ngùng và mạnh mẽ.

    “Điều này cần thiết vì nó có liên hệ với Apana, dạng năng lượng hướng xuống của thân thể. Mối liên hệ đó là gì? Chúng ta sẽ thảo luận về chuyện đó sau.”

    “Trở lại thời kỳ Vệ Đà, jahnavi là một phần không thể thiếu của sadhana. Khi một cậu bé sẵn sàng học với một guru, vào một ngày cát tường, cậu sẽ trải qua nghi lễ Upanayana, nhập môn học Veda, trong đó cậu sẽ mặc jahnavi trước tiên, rồi guru sẽ chỉ cho cậu cách đóng khố, đó là một mảnh vải dài, chứ không phải loại vải may liền như được dùng ngày nay. Nó phải được buộc đúng cách để ấn vào đốt sống nhất định, nhờ đó kích thích một số kinh mạch. Việc này đánh dấu sự khởi đầu cho giai đoạn sống độc thân trong đời cậu bé. Sống độc thân để ngăn Kundalini bị tắc nghẽn ở trung tâm sinh sản.”

    “Sau đó, cậu bé sẽ phủ phục hoàn toàn trước đạo sư, người sẽ chạm vào đầu cậu ban phúc. Trong khi giữ đầu, vị thầy sẽ dùng thuật xem tướng để kiểm tra xem phần nào của não bộ phát triển nhất, nhằm xác định lĩnh vực kiến thức nào cậu bé nên theo đuổi. Vùng chẩm phát triển tốt cho thấy năng khiến toán học, vân vân.”

    “Đây là thời điểm thích hợp để kiểm tra những khả năng khác của cậu. Giả sử guru muốn biết liệu cậu bé có thành công trong thuật giả kim hay không, ông sẽ đổ thủy ngân vào lòng bàn tay cậu rồi bảo cậu đổ lại vào chai mà không làm rớt giọt nào. Nếu làm được việc này, cậu đủ điều kiện. Việc này chỉ có thể làm được nếu bàn tay có một đường thẳng dài, nên đây là cách xem chỉ tay. Vì các đường chỉ tay được tạo ra bởi một số gen nhất định, nên việc xem chỉ tay có nghĩa là xem các gen, mà chúng lại có liên quan mật thiết đến nghiệp của một cá nhân, nên sẽ có một ý tưởng khá rõ ràng về những gì sẽ xảy ra với người đó trong tương lai.”

    “Khi guru đã quyết định ai phù hợp để học môn gì, ông sẽ dạy cho phiên bản mật chú Gayatri phù hợp nhất với người đó, bắt cậu phải mặc jahnavi. Cha mẹ sau đó sẽ nài nỉ cậu bé trở về nhà. Nếu thực sự muốn thành công, cậu sẽ phớt lờ họ rồi ở lại với guru. Những người khác, chỉ làm vậy để trình diễn, ngay nay ai cũng vậy, vì không ai biết quy trình thực sự, sẽ trở về với cha mẹ, theo thời gian sẽ quên mật chú và tháo khố. Vậy việc họ tiếp tục mặc jahnavi có ích gì?”

    “Ngày nay, nhiều người đeo jahnavi nhưng hầu hết không biết chúng có tác dụng gì. Làm sao có thể là một người hiểu biết, một jnani, nếu bạn không hiểu gì về thứ mình đang thực hành? Không, ngày nay tốt hơn nên đi theo con đường sùng kính.”
  5. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Gayatri

    “Ông có tin rằng niệm chú Gayatri là một việc tốt không?” vị khách thắc mắc.

    “Tôi thực hành nghi quỹ smashan” Vimalananda trả lời, “bời vì tôi phù hợp với nó, và nó cũng phù hợp với kỷ nguyên này mà chúng ta đang sống. Tuy nhiên một số người vẫn cố gắng tu luyện các sadhana phù hợp hơn với kỷ Satya. Rất nhiều người tuyên bố trì tụng thần chú Gayatri rồi khẳng định đạt được đủ loại lợi ích, cả đáng tin lẫn không đáng tin từ đó. họ lảm nhảm về việc “Ai thành tựu mật chú Gayatri sẽ đạt được giác ngộ tối thượng”, vân vân. Nhưng liệu họ có biết rằng thần chú mà họ đang trì tụng tưởng là Gayatri nhưng thực chất không phải là chú Gayatri đích thực? Còn hình ảnh mà họ quán tưởng lúc trì tụng không phải là hình ảnh thực sự của Gayatri?”

    “Ngoài ra, liệu họ có biết điều gì sẽ xảy ra nếu họ niệm chú Gayatri quá nhiều không? Nếu bạn nghĩ tôi đang nói đùa thì hãy thử một lần xem, đầu bạn sẽ nóng bừng lên đấy. Có một người đàn ông đến gặp tôi để học chú Gayatri. Tôi nói với ông: “Gayatri chắc chắn là một trong những mật ngôn cổ xưa và mạnh mẽ nhất của chúng ta, nhưng thần chú được in trong sách không phải là Gayatri thật, mà là Savitri. Ông chưa ở vào vị trí để có thể biết Gayatri thật, vậy làm ơn đừng cố gắng niệm nó. Nó chỉ dành cho các Rishi, không phải cho ông.”

    “Khi ông ta nài nỉ, tôi nói cho ông ta chỉ một âm tiết duy nhất của câu chú Gayatri gốc rồi bảo: “Tuy không nên cố gắng làm việc này, nhưng vì ông khăng khăng nên tôi sẽ cho ông một phần của câu chú gốc. Ông không đủ mạnh để tải được hết cả câu chú.” Tôi dặn ông chỉ cần lặp lại mười một lần mỗi ngày.”

    “Vì đã tu luyện nhiều sadhana nên nghĩ mình vượt xa giới hạn của người mới bắt đầu nên đã làm quá sức, ông niệm 108 lần vào buổi sáng đầu tiên. Tối hôm đó, đột nhiên ông bảo vợ: “Ta là Narayana còn nàng là Lakshmi của ta. Xoa bóp chân cho ta!” Khi bà làm vậy, ông lẩm nhẩm: “Tất cả trong một, một trong tất cả.” Sau đó ông bước vào phòng tắm, than phiền về một cơn đau đầu.”

    “Khi không thấy ông ra khỏi phòng tắm một lúc khá lâu, bà vợ hoảng sợ gọi hàng xóm đến phá cửa. Họ thấy ông đang ngồi, dí đầu vào vòi nước, cố gắng làm dịu cơn nóng kinh khủng đang bùng lên trong đầu. Ông ấy không sống được lâu sau đó. Ông đã chứng ngộ tự ngã bản thân và rũ bỏ “xiềng xích thế gian”.

    “Gayatri luôn phải được thực hiện dưới nước. Vì Gayatri là sức mạnh của mặt trời, nên mạch Surya sẽ hoạt động mạnh mẽ hơn khi được trì tụng. Việc chỉ có một nadi hoạt động liên tục là không tốt, do đó, nước, được cai quản bởi mặt trăng, được khuyến khích để thúc đẩy mạch Chandra chống lại bất cứ tác động xấu nào từ ảnh hưởng quá mức của mặt trời. Việc này giữ cho mặt trời và mặt trăng ở trạng thái cân bằng. Nếu người này chỉ niệm âm tiết đó mười một lần như đã được chỉ dẫn, thì sự thái quá của lửa gây nên cái chết của ông sẽ không bao giờ xảy ra.”

    (Minh họa Gayatri Yantra)

    Tôi lại nghĩ đến học giả Gopi Krishna và những đau khổ mà mạch Surya gây ra cho ông khi nó hoạt động liên tục.

    Khi gặp vị guru thiếu niên Maharaj lần đầu, ngài bảo tôi tụng chú Gayatri, và phải tụng dưới nước. Tôi đã thông minh và tụng trong bồn tắm ở nhà cho thoải mái, nhưng ngài đã bác bỏ ý tưởng đó rồi khăng khăng rằng tôi phải tụng ở biển. Mỗi đêm trong hơn ba năm rưỡi, tôi đều xuống biển Ả Rập vào khoảng nửa đêm và kết thúc vào lúc bình minh. Dòng hải lưu đưa tôi đi vài dặm về phía nam trong đêm, sóng đôi khi cao tới nửa mét trong đợt gió mùa. Do luôn được Smashan Tara che chở trong lòng bàn tay nên tôi chưa bao giờ gặp nguy hiểm nào, thậm chí không bị cá cắn. Tôi đã quen với việc này đến nỗi guru Maharaj phải quay lại Bombay để ra lệnh cho tôi ngừng lại. Ngài không muốn tôi đi quá xa quá nhanh.”

    “Về lợi ích của việc thực hành Gayatri, bạn sẽ nhận được sức mạnh của mặt trời. Để tôi giải thích, bậc thánh vĩ đại Samartha Ram Das, người sống ngay tại Maharashtra này, đã thực hành Gayatri trong mười hai năm, ông ấy có thể làm cho người chết sống lại. Vị thầy tuổi thiếu niên Maharaj của tôi, đã thực hành Gayatri hơn 60 năm, thậm chí còn lâu hơn nữa. Hãy nghĩ xem ông ấy có thể làm được những gì. Ông ấy cũng cúng lửa, nhưng không hề phô trương và quá khôn ngoan để làm điều đó. Ông không muốn ai biết mình có thể làm được gì, hay nói đúng hơn là ông đang làm gì.”

    “Gayatri là mật chú duy nhất được tụng niệm trong kỷ Satya. Khi các kỷ nguyên khác diễn ra, mọi thần chú kém hơn mới bắt đầu xuất hiện. Gayatri là mẹ của toàn thể các kinh Veda. Chỉ có các Rishi, không ai khác, biết tất cả mọi điều về Gayatri. Có 28 loại Gayatri, mỗi Rishi chuyên về một loại, đó là kiến thức đặc biệt của họ, là vijnana của họ. Ví dụ, chỉ có một Rishi biết dạng đầy đủ của Gayatri dùng để sáng thế, là Brahma Gayatri. Các Rishi có được sức mạnh của mặt trời là nhờ tụng niệm Gayatri mantra.”

    “Tôi nghĩ giờ đây bạn có thể thấy các Rishi có trình độ rất cao trên con đường tâm linh. Một vị Rishi thực sự “thấy” Chân Lý. Nhận thức này về Chân Lý tự nhiên biểu hiện dưới dạng mật chú. Chỉ một phần của Chân Lý mới có thể được hiển lộ ở thế giới này, thế giới của Tử Thần, nơi mọi thứ đều không hoàn hảo và buộc phải không hoàn hảo để duy trì sự tồn tại. Mỗi phương diện của Chân Lý đều có giá trị ngữ âm riêng, được thể hiện qua các nguyên âm, phụ âm, nhịp điệu, cao độ và ngữ điệu của mật chú. Các mật chú được nhận ra theo cách này đã được tập hợp lại mạch lạc để tạo thành kinh Veda.”

    “Người ta nói rằng Rishi Vasistha đã soạn ra nhiều mantra cho Rig Veda, còn Angiras đã soạn rất nhiều cho Atharva Veda, vân vân, nhưng tôi không tin các kinh Veda là sản phẩm của nhiều Rishi. Tôi nghĩ mỗi kinh Veda là sản phẩm của chỉ một Rishi. Làm sao có sự mạch lạc hoàn chỉnh trong nội dung của chúng nếu có nhiều Rishi khác nhau chịu trách nhiệm, mỗi người lại có vijnana riêng, Gayatri độc nhất của riêng mình? Ban đầu chắc chắn phải có một kinh Veda cho mỗi Rishi, bởi vì mỗi kinh Veda trình bày kiến thức của chính họ.”

    “Điều tôi đang cố làm cho bạn hiểu là bản chất của các kinh Veda và các giáo lý căn bản của chúng. Các kinh Veda là một mê cung đối với những người không biếy ý nghĩa bên trong của các mật chú, và chỉ có một số ít người được chọn biết về nó hiện nay, hoặc đã từng biết. Đó là nguyên nhân một số vị Rishi trẻ có nghĩa vụ viết các kinh Upanishad, để giải thích về bản chất đó. Khi mọi người không còn hiểu được trực tiếp Chân Lý, các tôn giáo mọc lên để giải thích Chân Lý đó cho họ. Một số người sau đó lợi dụng tình hình và trở thành thầy tu để trục lợi cho bản thân.”

    “Một thầy tu sẽ không nói với bạn rằng mục đích của ông ta là duy trì quyền kiểm soát đối với quần chúng, mà ông ta sẽ bảo với bạn rằng mình là người trung gian được ủy nhiệm giữa bạn và Thượng Đế, điều đó cũng tương tự (với mục đích của ông). Khi mọi người phải thông qua các thầy tu để đến với Thượng Đế, tự nhiên các thầy tu sẽ trở nên đầy quyền lực. Nhưng tất cả những điều đó đều là vô nghĩa. Bạn phải quên hết các thầy tu rồi tự mình đi tìm Thượng Đế, bạn phải tự tạo ra con đường cho riêng mình.”

    “Tuy nhiên, nếu bạn tự gánh vác trách nhiệm tạo dựng chỗ đứng riêng cho mình, bạn phải nghiêm ngặt tuân theo chỉ dẫn của thầy. Điều xảy ra khi bạn không tuân thủ hướng dẫn chính là thứ đã xảy đến với người mà tôi đã dạy Gayatri. Tôi biết người đó có thể chịu đựng đến mức nào, nhưng anh ta đã không làm vậy. Giờ thì anh ta hạnh phúc, không nghi ngờ gì nữa. Không phải hạnh phúcm mà là chân phúc. Anh ta đã là một với Narayana. Nhưng còn người vợ đang khóc than mà anh ta bỏ lại thì sao? Ai chịu trách nhiệm vì đã khiến bà ấy trở thành góa phụ? Chính là tôi. Giờ đây tôi không còn trao mật chú cho mọi người nữa. Nếu mọi người biết việc truyền trao mật chú nguy hiểm đến mức nào, họ sẽ suy nghĩ kỹ hàng trăm lần trước khi làm việc đó.”

    “Điều này áp dụng cho cả những câu chú tưởng chừng vô hại như chú để điều khiển rắn, hoặc chú dành cho Svapneshvari, nữ thần của những giấc mơ. Ngay cả Svapneshvari cũng có thể bị lạm dụng. Bạn có thể sai khiến bà ta quấy rối người khác vô cớ trong giấc mơ của họ, hoặc bạn có thể nói với bà: “Bây giờ tôi muốn nhìn thấy Marilyn Monroe”. Bạn sẽ nhìn thấy người đó, nhưng nếu sau đó bạn nói: “Bây giờ tôi muốn nhìn thấy labia minora của người này”, bạn chắc chắn cũng sẽ thấy, nhưng việc đó cuối cùng sẽ không tốt cho bạn. Thần chú không phải thứ để sử dụng tùy tiện.”

    “Tuy nhiên, nếu được sử dụng đúng cách, thần chú có thể tạo nên những điều kỳ diệu. Chúng ta phải cảm ơn các vị Rishi vì mọi phương pháp tu luyện đều bắt nguồn từ họ. Như bạn thấy, mỗi vị Rishi đều là một nhà khoa học, với những nghiên cứu riêng của mình, khi thành công trong nghiên cứu, kết quả sẽ mang lại lợi ích theo nhiều cách khác nhau, giống như “dầu rán ba trong một”.

    “Ví dụ, rắn có nhiều loại nọc độc khác nhau. Một loại làm tê liệt các dây thần kinh. Loại khác làm loãng máu dẫn đến xuất huyết nội. Một số làm đặc máu: nó đông lại, tạo thành cục máu đông khiến cho các mô không được nuôi dưỡng thích hợp. Đôi khi cục máu đông có thể gây tắc mạch, dẫn đến tử vong.”

    “Người bình thường khi học được thần chú chống rắn cắn sẽ chỉ dùng nó để chống lại rắn cắn. Có thể mỗi năm hoặc hai năm một lần, anh ta sẽ có cơ hội sử dụng nó và cứu sống ai đó. Tuy vậy, với người có trí tuệ thức tỉnh sẽ xem xét câu chú và nhận ra mục đích lớn hơn của nó. Anh ta có thể thấy một câu chú riêng cho rắn cắn còn giúp làm loãng máu và khiến máu lưu thông nhanh hơn trong mạch. Sau đó, anh ta sẽ nhận ra rằng câu chú này có thể được sử dụng trong mọi trường hợp cần tới hiệu quả đó, chẳng hạn như tắc mạch, xơ cứng động mạch, cùng những bệnh tương tự. Có bao nhiều người mắc những căn bệnh này? Hàng triệu.

    “Một người như vậy có thể chữa lành cho hàng ngàn người bằng thần chú đó, trong khi người bình thường kia cả đời chỉ giúp được mười hoặc hai mươi người. Đây mới là kiến thức đích thực về thần chú. Nếu biết thần chú này, dù đi đến đâu, bạn cũng có thể tự bảo vệ mình trước bất cứ ai, nhờ vào vị Rishi đã “Thấy” câu chú đó.”

    Ông im lặng một lúc rồi quay sang nhìn tôi.

    “Robby biết không, tất cả các mật chú và mật điển này rất hay, nhưng chúng có giới hạn. Có những thứ vượt xa mật chú, những thứ mà lưỡi không thể diễn tả. Khi bạn đạt tới điểm đó thì không cần tới mật chú nữa. Khi nhận ra những điều đó, cậu nhận ra mật chú chỉ là một món đồ chơi. Khi có sức mạnh của mặt trời trong tầm tay, liệu bạn có bao giờ bận tâm dùng pin Energizer nữa không? Không, bạn sẽ không. Sự so sánh ở đây cũng tương tự. Một mặt, Gayatri và sức mạnh của mặt trời, kiến thức của các Rishi, mặt khác là Aghora.”

    “Nhưng khi chưa đạt đến giai đoạn đó, chúng ta vẫn phải sử dụng mật chú”, tôi lên tiếng.

    “Bạn không có lựa chọn” Vimalananda đáp, rồi chúng tôi cùng cười lớn.

    (Minh họa Năm nguyên tố)
    (Minh họa Shiva Linga)
  6. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    MẬT CHÚ

    “Tên của Thượng Đế mang lại kết quả trong bất cứ ngôn ngữ nào mà bạn tụng niệm. Khi đến gần Thượng Đế, ngài bắt đầu nói chuyện với bạn. Ngài sẽ nói bằng tiếng mẹ đẻ của bạn, ngôn ngữ mà bạn cảm thấy thoải mái nhất. Thầy tu của các tôn giáo khác nhau sẽ nói với bạn: “Không, Thượng Đế chỉ nói bằng tiếng La tinh, tiếng Phạn, tiếng Ả Rập, Do thái, hoặc Pahlavi, nhưng điều đó không đúng. Ai đã tạo ra tất cả các ngôn ngữ? Chính ngài. Vậy tại sao ngài không thể nói bằng bất kỳ ngôn ngữ nào ngài muốn?

    Tương tự, bạn có thể nói với Thượng Đế bằng bất kỳ ngôn ngữ nào bạn muốn, và ngài sẽ nghe, nếu bạn thành tâm. Tuy nhiên, vì mỗi nhóm âm thanh đều có giá trị ngữ âm riêng, nên một số ngôn ngữ tốt hơn các ngôn ngữ khác trong một số mục đích nhất định. Ví dụ, tiếng A Rập rất tốt cho phép thuật thế gian. Tiếng Phạn rất hoàn hảo để tạo ra các vị thần. Mỗi âm thanh trong bảng chữ cái tiếng Phạn là một Bija Mantra. Bija Mantra là một hạt giống, khi gieo vào ý thức sẽ tạo ra một hiệu ứng nhất định. Việc lặp lại Bija Mantra thích hợp là một cách nhanh chóng để tạo ra hình dạng của vị thần mà bạn đang thờ phụng, bởi vì chính rung động của âm thanh sẽ tạo ra hình dáng đó.”

    “Nhưng tất nhiên việc này chỉ áp dụng cho các vị thần Ấn Độ thôi” tôi xen vào.

    “Hoàn toàn không. Người nào biết giá trị ngữ âm của các âm thanh khác nhau có thể tạo ra một câu thần chú áp dụng cho bất kỳ vị thần nào. Bạn đã thờ Chúa Jesus nhiều năm rồi, cũng có một Bija Mantra cho Chúa Jesus, nếu bạn biết nó cùng với cách sử dụng nó, bạn có thể đến gần Chúa Jesus rất nhanh chóng. Thần chú có thể rất hữu ích.”

    “Nếu vậy tại sao không có nhiều tín đồ Công giáo & Tin lành đi theo con đường này và đạt được kết quả tương tự?” tôi hỏi.

    “Ai mà quan tâm đến chuyện này chứ?” ông đáp lại phẫn nộ. “Tất cả các cha xứ đều quá bận rộn với việc cải đạo người khác mà chẳng màng đến sự phát triển tâm linh của chính mình. Tôi nói, hãy quên người khác đi và lo lắng về việc cải đạo chính bản thân. Hãy tự cải đạo mình theo hình dáng vị thần của bạn, đói mới là cải đạo thực sự. Đó chính là vẻ đẹp của Tantra.”

    Thành tựu Mật Chú (Mantra Siddhi)

    “Nhiều người nói về Mantra Siddhi (sự hiển lộ của thần linh ẩn chứa sẵn trong mật chú), nhưng tôi e sầu hết họ đã hiểu sai vấn đề. Giả sử tôi muốn tìm bạn, và tôi biết tên bạn. Nhưng nếu chỉ có vậy thôi thì chưa đủ. Tôi cũng cần biết bạn trông như thế nào và sống ở đâu, vì có thể nhiều người cùng tên. Chỉ khi tôi biết bạn thích hay không thích điều gì, tính khí ra sao, mọi phương diện trong tính cách của bạn, thì tôi mới thực sử hiểu bạn. Khi đó tôi mới có thể tìm thấy bạn.”

    “Trong sadhana cũng vậy. Khi bạn kêu gọi một vị thần cụ thể bằng mật chú, mà câu chú đó không gì khác ngoài tên của vị thần ấy, bạn phải có một hình ảnh trong tâm trí về hình dáng của vị đó. Ngày qua ngày bạn kêu gọi, vị thần kính yêu của bạn sẽ đi đâu? Vị thần phải đến với bạn và sẽ đến ngay khi bạn quên đi mọi thứ khác. Lúc đầu, bạn chỉ có thể thỉnh thoảng gây chú ý được vị thần của mình. Sau đó, khi bạn đạt được bước sóng của ngài, bạn sẽ ở bên vị thần đó mọi lúc. Giai đoạn này được gọi là tanmayata hay “gắn kết”.

    “Cuối cùng, tính cá thể của riêng bạn sẽ hoàn toàn tan biến, bạn cùng với vị thần của bạn trở thành một ý thức duy nhất. Khi trở nên đồng nhất với vị thần của mình, bạn đã đạt đến giai đoạn Tadrupata. Giai đoạn này có Mantra Chaitanya: sự hợp nhất hoàn toàn giữa ý thức của bạn với thần chú của bạn. Mỗi tế bào trong cơ thể trở thành một bộ cộng hưởng cho thần chú của bạn, mỗi lỗ chân lông trở thành một cái miệng mà bạn dùng để ca tụng hồng danh Thượng Đế.”

    Các Tantra cho rằng ý thức của một vùng nhất định trong cơ thể vật lý chính là vị thần của khu vực đó. Do mỗi câu chú đều là một vị thần nên toàn bộ cơ thể con người được cấu thành từ các câu chú, và chính bản thân nó cũng là một câu chú. Bằng cách tụng niệm các câu thần chú, bạn liên tục tái tạo bản thân mình trong một hình ảnh mới. Cuối cùng, khi đã được thanh tẩy thực sự, nhân cách ban đầu của bạn bị xóa bỏ hoàn toàn, chỉ còn lại hình ảnh vị thần của bạn. Vimalananda đã minh họa điều này bằng một câu chuyện:

    “Một hôm trên đường đi, vị tu sĩ lang thang gặp cậu bé chăn trâu. Ông đói bụng nên xin sữa uống, cậu bé vui vẻ cho ông. Khi đã uống no, vị tu sĩ cảm thấy rộng lượng và hỏi mục đồng: “Cậu muốn gì? Tôi đang rất khỏe, tôi sẽ cho cậu!”

    “Cậu bé cười khúc khích: “Tôi thực sự không cần gì cả. Suốt ngày tôi chẳng làm gì ngoài chăn trâu, tôi hài lòng với điều đó. Hơn nữa, Maharaj, ngài đến với tôi như một kẻ ăn xin và tôi đã bố thí cho ngài. Làm sao tôi có thể mong đợi điều gì từ ngài đáp lại? Tôi là người cho chứ không phải ngài.”

    “Tu sĩ ngạc nhiên và nhận ra đây không phải là một mục đồng bình thường. Ông nghĩ dù sao cũng nên làm một việc tốt cho người này nên hỏi: “Cậu thích cái gì nhất trên đời này?”

    “À, con trâu này” cậu hồn nhiên đáp, “con trâu mà ngài vừa uống sữa ấy. Nó là con lớn nhất tôi có. Nó cho tôi hơn mười gallon sữa mỗi ngày, nó lại to khỏe, hiền lành, xinh đẹp, ngoan ngoãn đến nỗi tôi quý nó hơn tất cả.”

    “Được rồi” tu sĩ nói, “hãy làm việc này. Cậu đi ra ngồi trong hang động đằng kia rồi tưởng tượng rằng mình là con trâu này. Hãy nghĩ về nó, giữ hình ảnh nó trong tâm trí. Hãy hoàn toàn đồng nhất mình với nó, hãy trở thành nó. Khi ngồi, hãy tự niệm: “Bjaisoham, Bhaisoham” (Tôi là một con trâu). Đừng lo lắng gì cả, tôi sẽ chăm sóc đàn trâu của cậu.”

    “Mục đồng làm theo, sau ba ngày, khi vào hang kiểm tra, ông thấy cậu ngồi bất động, nhắm mắt, trì tụng Bhaisoham Bhaisoham. Tu sĩ liền nói: “Này mục đồng! Cậu tiến triển đến đâu rồi? Hãy xả thiền ngay!”

    Mục đồng đáp: “Đừng gọi tôi là người chăn trâu! Tôi là một con trâu. Ngài không thấy sao? Nhìn tấm lưng rộng của tôi này! Làm sao tôi có thể ra khỏi hang được? Sừng của tôi quá rộng để lọt qua cửa hang. Đừng có dại, hãy đi chỗ khác và để tôi yên, nếu không tôi sẽ húc ông rồi ném ông ra ngoài bằng cặp sừng tuyệt đẹp này của tôi.”

    “Nhưng tu sĩ vẫn kiên trì: “Cố gắng nhớ lại đi cậu bé. Tôi đã bảo cậu ngồi xuống và làm việc này. Bây giờ, thay vì niệm: “Ta là một con trâu”, hãy đồng nhất mình với Shiva. Hãy trì tụng: “Shivoham, Shivoham” (Tôi là Shiva). Mục đồng làm theo, khoảng mười lăm phút sau, cậu vào trạng thái thiền định sâu sắc. Cậu nhận ra mục tiêu của mình: Linh hồn Vũ trụ dưới hình dạng thần Shiva.”

    “Tu sĩ kinh ngạc. Nước mắt trào ra, ông tự nhủ: “Anh bạn nhỏ này chỉ ngồi thiền ba ngày rưỡi mà đã thành tựu, còn mình thì lang thang khắp nơi tu luyện rất nhiều năm mà vẫn không thành công. Sau đó ông phải bái mục đồng làm thầy và cuối cùng cũng giác ngộ.”

    “Việc cậu bé chăn trâu có thể thành tựu nhanh như vậy dĩ nhiên là kết quả của sự chuẩn bị từ những kiếp trước. Chuyện tương tự cũng xảy ra với Ramakrishna Paramahamsa. Điều mà người thầy của ông mất tới 30 năm để đạt được, thì Ramakrishna thành tựu chỉ trong vài ngày. Thời gian không phải là tiêu chí, nếu khát vọng đủ mạnh, kết quả sẽ đến ngay lập tức. Bạn phải quên đi mọi thứ ngoại trừ tên và hình dáng của vị thần mà bạn tôn thờ, khi đó bạn mới có thể chứng đạt quả vị tối thượng.”

    “SoHam có giống với Shivoham không?” tôi hỏi.

    “Không hẳn vậy. Nhiều vị thánh dặn các học trò của mình niệm thầm SoHam, có nghĩa là “Sa aham”, “Tôi là ngài”. “Ngài” ở đây nghĩa là Tự Ngã Vũ Trụ trong phương diện vô hình. Điều này rất tốt, ngoại trừ việc nó không hoàn toàn là thứ được khao khát. Không dễ để đồng nhất với Tự Ngã Vũ Trụ, vốn là thứ không thể hình dung nổi, chứ đừng nói đến việc diễn tả bằng lời. Tuy nhiên, nếu câu mật chú được đảo ngược, nó sẽ trở thành “HamSah”, là chủng tự mật chú, Bija Mantra của Saraswati, nữ thần tri thức. Bất cứ ai niệm thầm mật chú đó sẽ nhận được lợi ích từ Shakti của Saraswati, việc này sẽ dẫn dắt người tụng niệm từng bước đến SoHam. Luôn luôn là người mẹ cho đứa con thấy dung mạo của người cha, như thánh mẫu Bhavatarini đã làm cho Ramakrishna.”

    “Vị tu sĩ đã cho cậu bé một cái tên và một hình dạng để tập trung tâm trí vào đó, bởi vì cậu phải thực hiện một số công việc chuẩn bị ban đầu, dù nhỏ đến đâu, với sự hỗ trợ của một hình dạng. Cả tên và hình dạng đều thiết yếu cho việc thờ phụng. Một phần tâm trí mang hình dạng của một đối tượng, đó là hình thức. Một phần khác của tâm trí đồng nhất và phân biệt, đó là tên. Việc đi thẳng đến loại thiền định cao nhất là không thể. Ngay cả Ramakrishna cũng phải thờ phụng thánh mẫu Bhavatarini trong nhiều năm trước khi ý thức của ông đủ tập trung để hội nhập với đấng Vô Hình.”

    “Tại sao là một con trâu?”

    “Một con trâu là lựa chọn hợp lý đối với người chăn trâu, vì người đó sống gần chúng và yêu quý chúng, thân thiết với trâu. Còn bạn không nên chọn trâu để tập trung, vì suy cho cùng, trâu là hiện thân của sự trì trệ ngu dốt, nó là hiện thân của Tamas. Có lẽ bạn sẽ thích sử dụng một vị thần để chuẩn bị cho bản thân, đó cũng nên là vị thần mà bạn có mối liên hệ chặt chẽ.”
  7. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Sử dụng các mật chú

    “Làm sao biết tôi có mối liên hệ với hình thức nào?”

    “Đó là nhiệm vụ của guru bạn, chỉ cho bạn câu chú và hình thức phù hợp. Thầy sẽ biết câu chú nào hợp với bạn. Nếu bạn mang bản chất quá yếu đuối và bắt đầu niệm chú của một vị thần đáng sợ nào đó như Brahman Tara, bạn có thể tự làm mình sợ đến chết. Nếu bạn tham lam mà lại thờ Lakshmi, nữ thần tài, bạn chỉ làm tăng thêm lòng tham của mình, điều này sẽ không giúp bạn tiến bộ. Đó là nguyên nhân cần một đạo sư để dạy bạn những gì cần học. Ngày nay, con người thật đáng kinh ngạc, họ nói với thầy những gì muốn học, thay vì cố gắng tìm hiểu những gì họ cần biết từ thầy. Còn điều gì đáng cười hơn thế nữa không?”

    “Bạn cũng phải chắc chắn rằng bạn đã chọn đúng hình dáng của vị thần tương ứng với câu chú, nếu không có thể sẽ lãng phí nhiều năm vào những nỗ lực vô ích. Hầu hết các vị thần đều có nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ, có thể thờ Krishna dưới hình thức một em bé, một thiếu niên, một chàng trai khôi ngô, một người yêu, một ông vua, một chiến binh, bạn của Arjuna. Bạn có thể nhìn thấy ngài trong nhiều hình thức khác nhau, kể cả hình dạng vũ trụ của ngài. Nhưng tên và hình thức là giống nhau, vì vậy mỗi hình thức khác nhau phải có một cái tên kahsc nhau, một thần chú khác nhau. Không có sự trợ giúp của một guru, làm sao bạn biết được điều gì tốt nhất cho mình? Bạn chí có thể biết điều gì tốt nhất cho bản thân nếu đã hiểu bản chất của chính mình lẫn bản tính nội tại của vị thần.”

    “Có thể phải mất mười năm khổ hạnh để một người thành tựu câu chú của Anjaneya, vì hầu hết đàn ông coi Anjaneya là người hùng vĩ đại nhất, nhưng một người phụ nữ có thể làm hài lòng Anjaneya trong mười ngày. Hầu hết mọi người nói rằng phụ nữ không nên thờ Anjaneya vì ngài sống độc thân, nếu điều này theo nghĩa của tình yêu lãng mạn hay nhục dục, thì đúng là sẽ vô dụng. Tuy nhiên Anjaneya cũng phải tôn trọng và kính yêu một người phụ nữ: mẹ của ngài, Anjani. Cho nên nếu một người phụ nữ thờ Anjaneya như thể cô ta là Anjani, còn ngài là một chú khỉ con bé bỏng thì cô ta sẽ đạt được kết quả rất nhanh chóng. Thật kỳ diệu phải không? Mọi người thờ Krishna theo cách tương tự, dưới hình thức Lallu hay Gopala. Đàn ông cũng có thể làm điều tương tự, nhưng đàn ông không có bản năng làm mẹ như phụ nữ, đàn ông có thể mất nhiều năm để phát triển tình mẫu tử thực sự.”

    “Bạn không chỉ cần biết hình thức đúng của vị thần mà còn phải có lòng trung thành tuyệt đối vào phương diện độc nhất của Thần Tính nếu muốn thành công. Một người tôi quen đã nhiều năm gần đây đến thăm tôi và khoe khoang rằng ông ta thờ một vị thần, niệm chú của một vị thần thứ hai, cầu nguyện với vị thứ ba, và thỉnh thoảng còn tiếp cận các vị khác nữa. Làm sao ông ta có thể thành công trong việc làm hài lòng một vị thần trong khi phân tâm tới quá nhiều vị khác?”

    “Mà ông ấy lại không phải người duy nhất, hãy nhìn vào phòng thờ của hầu hết người Ấn Độ, bạn sẽ thấy hình ảnh của mười lăm hoặc hai mươi vị thần, nữ thần, thánh, người biểu diễn phép lạ, và đủ thứ khác. Đây là dấu hiệu của một tâm trí hỗn loạn. Nếu hy vọng đạt được điều gì đó, bạn phải chọn một hình mẫu rồi gắn liền với nó, đó là một phần của niyama. Hãy xem thánh thi vĩ đại Tulsidas. Khi Krishna đến gặp ông, ông nói: “Tôn Thượng, con biết ngài không gì khác ngoài Vishnu trong một ngoại hình khác, và ngài không khác gì Rama, thực ra ngài là Tự Ngã Vũ Trụ, nhưng con vẫn muốn nhìn thấy diện mạo kính yêu nhất trong tim con, Raghuvira, Rama anh hùng của con.” Krishna mỉm cười và cho ông thấy điều đó.

    Sau khoảng thời gian ngắn tạm nghỉ, lúc đó gạo được đặt lên bếp để nấu chín, Vimalananda tiếp tục:

    “Ngay cả khi đã được ban cho một câu chú phù hợp, biết cách niệm đúng, tuân thủ niyama tốt, bạn vẫn không thể hy vọng thành công chỉ bằng cách trì tụng mà không có kỷ luật. Việc niệm hồng danh Thượng Đế luôn tốt, do đó, tụng niệm thần chú suốt cả ngày, dù bạn đang ăn, ngủ, quan hệ sinh lý, hay ngồi trong nhà vệ sinh, cũng đều tốt. Nhưng đừng mong rằng điều này là đủ để đạt được Mantra Siddhi. Muốn đạt được điều đó, bạn cần tuân theo một quy trình cụ thể gọi là purashcharana.”

    “Với một purashcharana, bạn quyết định số lần tụng niệm mà bạn có thể thực hiện trong một năm. Bạn phải niệm bao nhiêu biến giống nhau mỗi ngày. Sau khi hoàn thành, mười phần trăm số đó phải được dâng cúng như lễ vật, tức là dâng vào một lễ hỏa cúng. Sau đó, mười phần trăm số lễ vật phải được dâng cùng với nước, đây gọi là tarnapa. Mười phần trăm số đó lại phải được đọc khi bạn rắc nước lên người theo cách cụ thể, đây gọi là marjana. Cuối cùng, mười phần trăm số đó được dâng cúng như bhojana, quà tặng thực phẩm, thường là cho trẻ em. Khi tất cả những phần này hoàn tất thì purashcharana của bạn cũng hoàn thành.

    “Trong kỷ Kali, họ nói rằng bạn chỉ cần thực hiện đúng ba lần purashcarana để đạt được hiệu quả tối đa của câu chú. Thực tế, nếu thực sự khao khát Thượng Đế đến, ngài có thể đến trong ba ngày, ba giờ, hoặc thậm chí là trong khoảnh khắc ngắn ngủi nhất. Nhưng ngày nay, Maya quá mạnh đến nỗi rất ít người có thể thực hiện đúng dù chỉ một purashcharana. Bạn nghĩ tại sao Maya thử thách mọi người? Không phải vì bà muốn hủy hoại chúng ta. Không! Bà là mẹ. Bà đã ban cho chúng ta tất cả mọi thứ. Chính vì muốn biết liệu lòng sùng kính của chúng ta có thực sự dành cho bà hay chỉ dành cho những tạo vật của bà, nên mới cám dỗ chúng ta, bà quan tâm chúng ta đến nỗi luôn muốn chúng ta đạt được chính xác những gì mình muốn.”

    “Vì một năm là khoảng thời gian quá dài để tuân thủ kỷ luật nghiêm ngặt trong kỷ Kali, nên Thượng Đế với trí tuệ của ngài đẽ thiết lập một cách khác, dễ dàng hơn để thực hiện purashcharana. Theo cách tính này, một purashcharana bao gồm ba anushthana. Một anushthana bao gồm số lần trì tụng (japa) tối thiểu cần thiết để hoàn thiện một mật chú. Trước khi trở nên vĩ đại đến mức có thể thực hiện một purashcharana hoàn chỉnh, trước tiên bạn phải thành công trong một anushthana.”

    “Khi nói về việc hoàn thiện một câu chú, tôi muốn nói đến việc thanh lọc nó, và cả bản thân chúng ta, để nó có thể phát huy tác dụng mà không gặp bất cứ trở ngại nào, để năng lượng shakti của nó trở nên khả dụng với chúng ta. Số lần niệm cần thiết để hoàn thiện một câu chú thay đổi tùy thuộc vào từng câu, nhưng thường là 100 000 lần trở lên.”

    “Tôi đang trì chú này bao nhiêu lần rồi?” Tôi đã niệm câu chú này trong nhiều tháng, điều này khiến tôi hiểu ra mình đã không để ý đến số lần trì tụng. Làm sao có thể thành tựu bằng cách này?”

    “Hiện tại, giả sử bạn đang niệm một câu chú cần 100 000 tụng. Giả sử bạn quyết định thực hiện một anushthana, niệm câu chú này 100 000 biến một cách có kiểm soát và nhất quán. Bạn có thể thực hiện chúng trong bao nhiêu ngày tùy thích, nhưng mỗi ngày phải thực hành cùng một số lần. Sau đó, bạn phải dâng 10% số đó, tức là 10 000 làm lễ Homa. 10% của số tiếp theo, 1000 làm lễ Tarpana, 100 làm lễ Marjana, cuối cùng bạn phải mời mọi người ăn. Mỗi vị thần yêu cầu một loại “miệng” người khác nhau, Anjaneya cần những cậu bé, Maa cần các cô bé, vân vân.”

    “Vậy nên tôi hiểu tại sao mình cần theo dõi số lượng lễ vật dâng cúng ở mỗi lễ hỏa cúng” tôi nói, “liệu tôi có nên làm một số việc như tarpana, marjana, mời mọi người ăn, sau lễ hỏa cúng không?”

    “Tất nhiên nên làm vậy. Khi đó việc thờ cúng của bạn sẽ được trọn vẹn. Mỗi phần của purashcharana hay anushthana đều liên quan đến một trong các nguyên tố. Japa thanh lọc nguyên tố Khí và Ether trong bạn, Homa thanh lọc Lửa, Tarpana thanh lọc Nước, Marjana thanh lọc Đất. Bhojana là lễ vật cuối cùng bạn dâng lên vị thần, người mà bạn nhìn thấy trong tất cả những ai bạn mời ăn. Nếu không biết cách áp dụng loại kiến thức này, bạn sẽ không bao giờ thành công với bất kỳ mật chú nào. Đây là Bhuta Shuddhi thực hành, thanh lọc Năm Đại Nguyên Tố cấu thành nên vũ trụ, đó là bản chất của Tantra. Vì chưa sẵn sàng cho Panchamakara nên bạn có thể bắt đầu với điều này.”

    Năm chữ S

    “Cả anushthana và purashcharana đều yêu cầu bạn tuân thủ con đường Năm Chữ S trong tiếng Phạn: sthana, samaya, sankhya, samagri, samyama. Mục đích của những quy tắc này là để đạt được saguna hay sự hiển lộ hình tướng của thần linh. Bạn biết tiếng Phạn, hãy dịch những từ này.”

    “Sthana có nghĩa là vị trí.”

    “Vậy trước hết bạn phải ở yên một chỗ trong suốt kỳ ẩn tu và không được đi xa. Hơn nữa, bạn phải ngồi cùng một chỗ mỗi ngày, quay mặt về cùng một hướng, nếu có thể thì ngồi ở cùng một tư thế.”

    “Samaya nghĩa là thời gian.”

    “Hãy cố định thời gian cho chương trình của bạn, mười một ngay, bốn mươi ngày hay bất cứ khoảng thời gian nào, rồi tuân thủ nó. Ngoài ra, bạn phải ngồi tập trung vào cùng một thời điểm mỗi ngày. Chênh lệch năm phút là được phép, nhưng không nhiều hơn. Nếu bỏ lỡ thời gian quy định, bạn không thể tính số biến niệm chú trong ngày đó vào tổng số lần đã tích lũy.”

    “Sankhya nghĩa là số.”

    “Bạn phải quyết định tổng số biến mà bạn sẽ thực hiện, sau đó chia số đó cho số ngày (của kỳ nhập thất) để xác định số lần bạn sẽ trì tụng mỗi ngày. Đừng quyết định niệm 500 lần một ngày nào đó rồi lại chỉ niệm 100 lần vì bận rộn, rồi hy vọng bù lại bằng cách niệm 1000 lần vào hôm sau. Bạn phải thực hiện cùng số lần tối thiểu mỗi ngày. Có thể niệm nhiều hơn nhưng không được niệm ít hơn, nếu không thì ngày đó sẽ không được tính.”

    “Samagri có nghĩa là các vật phẩm cúng dường.”

    “Những thứ này phải giống nhau mỗi ngày, không được phép thay thế. Còn Samyama thì sao?”

    “Tôi không chắc lắm, có lẽ liên quan tới niyama?”

    “Đúng vậy. Ở đây, samyama có nghĩa là kiểm soát hoàn toàn cơ quan sinh dục, có nghĩa là kiêng cữ. Ngoài ra, phụ nữ không được đếm số lần niệm chú trong kỳ kinh nguyệt. Cô ấy thậm chí không nên ngồi ở vị trí niệm chú thông thường của mình. Thực tế, cô ấy thạm chí không nên chú tâm quán tưởng vì việc đó có thể làm mất cân bằng Prana và Apana trong cơ thể. Kinh nguyệt là thời kỳ để cơ thể tự thanh lọc, sau khi kết thúc, cô ấy có thể quay lại lịch trình trước đó.”

    “Chỉ khi cả năm chữ S này được đáp ứng thì việc thực hành mới mang lại kết quả. Một sadhaka phải nghiêm khắc về điều này. Ngoài ra bạn phải tập trung vào những gì mình đang làm khi japa, không thể chỉ niệm vào lần rồi bắt đầu lo lắng về việc con trai mình đang ở đâu hay vợ mình có đang nấu ăn tối hay không. Bạn phải loại bỏi mọi chú ý bên ngoài và tập trung vào bên trong. Phải cẩn thận với tâm trạng của mình. Trong lúc trì chú, tâm bạn hướng về Thượng Đế, nếu sau đó bạn nổi giận, mọi thứ bạn đạt được trong căn phòng đó sẽ lập tức mất đi.”

    “Cũng có thể còn các hạn chế khác. Ví dụ, một chế độ ăn uống cụ thể sẽ được chỉ định. Bất kể chế độ ăn nào, bạn không nên niệm chú trong vòng hai giờ sau khi ăn no. Thậm chí không nên thảo luận về thần chú, chiêm tinh học, hay bất cứ chủ đề liên quan nào trong vòng hai giờ sau bữa ăn. Tại sao? Bởi vì tâm trí bạn chỉ có thể tập trung vào một thứ tại một thời điểm, nếu trong dạ dày bạn còn thức ăn, tâm trí bạn sẽ phải tập trung vào thức ăn đó để tiêu hóa nó.”

    “Thế còn trái cây hoặc sữa thì sao” tôi hỏi vì đó là chế độ ăn của tôi lúc bấy giờ.

    “Ít nhất một giờ sau khi ăn trái cây, và ít nhất nửa giờ sau khi uống sữa hoặc nước ép. Thậm chí bạn nên đợi mười lăm phút hoặc lâu hơn sau khi uống nước. Khi không còn cần đến trí óc để tiêu hóa thức ăn nữa thì hạn chế này không còn áp dụng, nhưng bạn phải có khả năng chết khi vẫn còn sống để làm được việc đó.”
  8. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Bí mật

    Vài ngày sau, khi ở Bombay, tôi cùng Vimalananda đến thăm K, một người bạn cũ của ông, nhưng chuyến thăm đó không có gì đặc biệt. Sau đó tôi nhận thấy Vimalananda trầm lặng hơn thường lệ nên sau khi về nhà, uống trà, tôi hỏi: “Ông quen người đó lâu chưa?”

    Ông đáp: “Có rất nhiều điều cần tuân thủ nếu bạn thực sự muốn hoàn thành một câu chú. Một trong những điều quan trọng nhất là bạn không bao giờ được nói cho bất kỳ ai biết câu chú mà bạn niệm. Khi nói cho người khác biết thần chú của mình, bạn cho phép họ tiếp cận với Shakti mà bạn đang cố gắng tích lũy, điều này tương đương với việc đưa cho họ một tấm séc trắng và yêu cầu họ vét sạch tài khoản ngân hàng của bạn. Bất cứ ai cần biết câu chú của bạn đều có thể tìm ra mà không cần hỏi bạn, ai chẳng thể tìm ra mà không cần hỏi thì không cần phải biết.”

    “Khoảng hai mươi năm trước, K muốn tôi cho anh ta một câu thần chú để niệm. Anh ta nài nỉ tôi rất lâu và rất kiên quyết đến nỗi cuối cùng, trái với suy nghĩ của mình, tôi đã nhượng bộ. K rất tự hào về điều mới mẻ này. Khi guru của tôi, Maharaj đến Bombay năm 1959, K đã đến để tỏ lòng kính trọng, guru Maharaj hỏi anh ấy đang thực hành loại sadhana nào. K nói: “Vimalananda đã ban cho tôi một câu chú mà tôi đang niệm đều đặn với sự cẩn thận.”

    “Lúc đó, guru Maharaj không hỏi vì muốn biết về sadhana. Ngài biết rồi, việc tìm hiểu những điều như vậy với ngài dễ như trò chơi trẻ con. Ngài hỏi vì muốn biết sự thành tâm của K đối với sadhana đã vững chắc đến đâu. Khi biết rằng nó không hề vững chắc, ngài quyết định dạy cho K một bài học.”

    “Ý ông là ngài biết nó không vững chắc vì K sẵn sàng nói về nó, phải không?”

    “Đúng đó. Anh ta đã biết quy tắc phải giữ bí mật rồi. Dù sao thì, guru Maharaj nổi nóng và nói với K: Babuji là ai, nghĩa là tôi, tên đó lúc nào cũng gọi tôi là Babuji. Babuji là Thượng Đế sao? Hắn dám ban phát thần chú à? Mà hắn cũng chưa nói cho cậu toàn bộ câu chú. Hắn đang cố giấu cậu điều gì đó, hắn đã bỏ sót một âm tiết.”

    “K trở nên lo lắng, nếu câu chú không hoàn chỉnh, anh ta có thể niệm nó trong nhiều năm mà cũng chẳng có tác dụng gì. Nên anh nói: Ôi Maharaj, xin hãy mở lòng từ. Hãy cho con nghe phần còn lại!”

    “Guru Maharaj đã đóng vai của mình rất tốt. Ban đầu ông từ chối, nhưng K đã van xin, nài nỉ chân thành đến nỗi cuối cùng guru đã thương hại và cho anh ta thêm một âm tiết nữa.”

    “Kết quả là gì? Từ 1959, K đã trung thành trì tụng thần chú đó mỗi ngày từ mười đến mười hai tiếng đồng hồ. Ông ấy đã vượt qua mốc mười triệu biến từ lâu rồi, và có lẽ hiện giờ đã gần đạt mốc hai mươi triệu lần mà chẳng có kết quả cụ thể nào. Âm tiết thừa đó đã làm thay đổi toàn bộ hiệu ứng ngữ âm của sự rung động của câu thần chú. Tất nhiên, nó không nên có ở đó, guru Maharaj chỉ thêm vào để dạy cho K một bài học. Nhưng đó là một bài học thật đáng giá!”

    “Hai, ba mươi năm tu luyện đổ sông đổ biển! Với guru Maharaj, tất nhiên, hai ba mươi năm chẳng là gì, nhưng với chúng ta, những người phàm, đó là cả cuộc đời. Thật đáng đời K vì đã nói to câu chú của mình.”

    Tôi đã từng nghe những mẩu chuyện về guru Maharaj trước đây, sau khi gặp, tôi thấy ông nghiêm khắc đúng như Vimalananda mô tả. Tuy nhiên ở giai đoạn này trong đời, những câu chuyện đó khiến tôi mất hết hứng thú muốn gặp guru Maharaj, đó cũng chính là hiệu ứng mà Vimalananda mong muốn. Ông ấy tất nhiên đã đúng, nếu tôi gặp guru Maharaj, có lẽ may mắn lắm tôi mới thoát chết mà vẫn còn khoác được lớp da của mình.

    “Đây là lý do mọi người ghét guru Maharaj của tôi” Vimalananda tiếp tục, nhận thấy phản ứng của tôi với vẻ hài lòng. Khi mọi người đến với ông ấy, ông sẽ đảm bảo họ được thanh tẩy triệt để những nghiệp xấu khỏi thân nhân quả của họ. Tất cả những gì người đó biết là họ đã đến gặp guru Maharaj rồi đột nhiên mọi thứ bắt đầu trở nên tồi tệ, do vậy, guru bị đổi lỗi. Nhưng guru không quan tâm. Bạn có thể nói rằng ông ấy chỉ đang làm nhiệm vụ của mình. Ông ấy rất nghiêm khắc trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình và hiếm khi cho phép ai thoát tội nếu phát hiện ra họ vượt quá giới hạn. Những bài học của ông thực sự khắc nghiệt.”

    “Giữ bí mật luôn là khế ước tốt nhất trong tu luyện. Thậm chí còn có một câu tục ngữ nói về điều này: manuam sarvatha sadhana. Hãy dịch giúp.”

    “Uhm, Im Lặng Giải Quyết Mọi Việc.”

    “Đúng vậy. Hãy suy nghĩ thế này, mỗi khi chúng ta đang có một cuộc thảo luận tốt đẹp về đạo học, luôn có một tên ngốc nào đó xen vào phá hỏng nó. Tại sao? Vì Thượng Đế không thích các bí mật của ngài bị bàn tán dễ dàng như vậy. Vậy thì ngài còn ghét hơn đến mức độ nào khi các mật chú của ngài bị nói ra?”

    “Biết rõ mọi chuyện nhưng tôi vẫn cho phép K giữ câu chú đó. Thật ra, guru Maharaj cũng đã dạy tôi một bài học quý giá từ kinh nghiệm này: hãy thử thách học trò thật kỹ trước khi dạy họ bất cứ điều gì. Nếu bạn đưa cho con khỉ một chiếc dao cạo, bạn nghĩ nó sẽ cạo râu hay tự cắt cổ mình? Rất ít người có thể hiểu được kiểu chơi đùa mà tôi có với các đạo sư của mình.”

    Tôi hoàn toàn không hiểu điều đó.

    “Nếu tôi thực sự quyết tâm” ông tiếp tục, “thì không ai, kể cả anh có thể moi được gì từ tôi. Có lần khi tôi sống đời đạo sĩ lõa thể ở Girnar, một ông già nghe nói về tôi và đến gặp tôi để xem ông có thể moi được kiến thức gì từ tôi không. Ông ta mang theo chiếc tẩu thuốc năm nhánh, đổ đầy mỗi ống bằng một loại chất gây say khác nhau: một chứa marijuana, một chứa hashish, một opium, một chendool, còn lại tôi không nhớ ống thứ năm chứa gì. Chendool chắc chắn là tệ nhất, tôi không biết chất tương đương ở phương Tây là gì, nhưng nó rất dễ dây nghiện.”

    “Lão đó, tự cho mình là thông minh, không nhận ra đang đối phó với ai. Tôi hút hết tẩu thuốc đó rồi đòi thêm. Ông ta châm thêm, tôi hút tiếp, rồi lại đòi thêm. Đến lần thứ ba, tất cả những gì ông ta còn lại là một mẩu marijuana nhỏ bằng quả óc chó. Tôi cũng hút hết chỗ đó.”

    “Sau khi hút xong, tôi bảo: “Hết thuốc rồi hả? Rất tiếc, những gì định nói với ông đã bị khói thuốc thiêu trụi hết rồi. Giờ thì đi đi!” Tôi làm thế nào? Đó là bí quyết của tôi. Nó có liên quan đến những câu thần chú.”

    Cách phát âm

    Tôi nhận ra thần chú thực sự rất có ích.

    “Nói cho người khác biết câu chú của bạn là điều tai hại, nhưng còn nhiều sai lầm khác cũng có thể hủy hoại bạn. Phát âm sai là một trong những sai lầm tồi tệ nhất. Cách phát âm một từ có ảnh hưởng rất lớn đến ý nghĩa của nó. Ví dụ, khi bạn bước vào và tôi nói: “Chào Robby, khỏe không?” với một giọng nói dễ chịu và khuôn mặt mỉm cười, bạn cảm thấy thế nào?”

    Tôi cảm thấy ông đang có tâm trạng dễ chịu.

    “Dĩ nhiên, sự tự tin của bạn sẽ tăng lên rồi bạn sẽ hỏi tôi nhiều câu. Còn nếu tôi chỉ nói: “Chào buổi sáng” bằng giọng lạnh lùng, bạn sẽ lập tức nghĩ: “À, hôm nay ông ta không vui lắm” nên bạn sẽ im lặng hoặc bỏ đi. Có phải không?”

    Chắc chắn rồi. Tôi đã làm vậy trước đây.

    “Phải rồi, tôi biết. Điều đó cũng tương tự với thần chú. Khi thần chú được phát âm chính xác và đúng cách, hiệu quả là tất yếu. Một thần chú được phát âm theo hai cách khác nhau sẽ có hai tác dụng rất khác nhau, thậm chí có thể hoàn toàn trái ngược nhau. Đó là lý do kinh Veda nhấn mạnh đến ngữ điệu và cách phát âm. Bạn không thể nhận được bất cứ lợi ích nào từ kinh Veda trừ khi nó được phát âm hoàn hảo mà không có lỗi lầm nào. Ngày nay, không ai biết làm điều này đúng cách, vì vậy, mặc dù tôi thích nghe bạn và Freddy đọc một số bài thánh ca Veda nhất định, tôi vẫn không muốn các bạn đọc to hầu hết các phần khác của kinh Veda. Trờ chơi này không đáng để mạo hiểm.”

    Ông dừng lại để tôi có thể chứng minh việc tuân thủ yêu cầu của ông, nên tôi làm vậy bằng cách nói: “Tôi sẽ ghi nhớ lời khuyên đó, sẽ truyền đạt lại cho Freddy.”

    “Tốt. Tôi dặn mọi đệ tử của mình luôn niệm chú thầm lặng, tôi muốn các bạn cũng làm giống như vậy. Ngày nay bao nhiêu người có thể phát âm đúng tiếng Phạn? Rất ít. Tiếng Phạn được coi là ngôn ngữ thần chú bởi vì mỗi từ của nó có thể được sử dụng như một câu chú. Đó là lý do tiếng Phạn không nên được dạy cho tất cả mọi người. Nó chỉ nên được dạy cho người có thể phát âm chuẩn, bởi vì nếu tên gọi không chính xác thì hình tướng (của vị thần) cũng sẽ sai, rồi mọi thứ sẽ trở nên rối tung.”

    “Ngày xưa, điều kiện khác hẳn. Đôi khi, hai vị Rishi gặp nhau, tập hợp các đệ tử giỏi nhất của mình lại. Một Rishi sẽ nói: “Cậu bé này đã tụng đọc một đoạn kinh Veda với ngữ điệu như vậy, hãy xem kết quả. Sau đó, cậu bé sẽ đọc và kết quả dẽ được chứng minh. Vị Rishi kia sẽ cử một đệ tử ra chỉ cách đạt một kết quả hoàn toàn khác bằng cách sử dụng ngữ điệu khác cho cùng một đoạn kinh. Đó là các vị Rishi thi đấu với nhau.”
  9. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Bốn cấp độ của lời nói

    “Tất nhiên các vị Rishi và đệ tử của họ biết cách phát âm tiếng Phạn chính xác.”

    “Đúng vậy, họ đã biết, họ còn biết nhiều thứ khác, bao gồm cả cách sử dụng bốn cấp độ lời nói. “

    Khi tôi vắt óc suy nghĩ xem mình có thể nhớ được thông tin gì về chuyện đó, ông tiếp: “Bạn biết không, lời nói không phải là sản phẩm của tâm trí, mà là khả năng sáng tạo độc lập, một giác quan hoạt động thông qua tâm trí. Kundalini là sức mạnh tự biểu hiện của cá thể, điều đó có nghĩa lời nói đơn giản là sự biểu hiện bằng tiếng của Kundalini. Đó là lý do các bông sen của luân xa có các chủng tự mật chú, Bija, làm cánh hoa, và tại sao mật chú lại rất quan trọng đối với việc đánh thức Kundalini.”

    “Loại lời nói bạn sử dụng sẽ được quyết định bởi trạng thái Kundalini của bạn. Chừng nào Kundalini còn ngủ yên, hoặc phần lớn là như vậy, bạn sẽ chủ yếu nói ra những lời thô thiển, ngôn ngữ mà những người được cho là bình thường hay sử dụng theo thói quen. Khi Kundalini thức tỉnh, lời nó của bạn sẽ dần trở nên tinh tế hơn. Loại hiển lộ mà bạn có thể tạo ra bằng mật chú của mình phụ thuộc vào loại lời nói mà bạn sử dụng khi trì tụng. Bất cứ điều gì một Rishi nói ra sẽ trở thành hiện thực, bởi vì các Rishi nói những lời thiêng liêng. Lời nói của Thượng Đế rất khác so với lời của bạn và tôi, vì khả năng sáng tạo của Thượng Đế rất khác với khả năng của bạn và tôi.”

    “Bốn cấp độ của lời nói, từ thấp nhất đến cao nhất là: Vaikhari, Madhyama, Pashyanti, Para. Vaikhari, nói bằng thanh quản, chỉ dành cho những việc trần tục, là lời nói vật lý, luôn có một đối tượng bên ngoài. Những kẻ đần độn và ngu dốt như bạn và tôi dùng Vikhari để giao tiếp. Vaikhari chỉ có ích cho sinh vật sống, một khi đã chết, bạn sẽ không nghe được Vaikhari nữa. Bạn có thể nghe thấy suy nghĩ của những người bạn đã bỏ lại, nhưng không thể nghe thấy lời nói của họ, điều đó có lẽ cũng tốt thôi, vì con người thường nói một đằng nhưng thực ra lại nghĩ một nẻo.”

    “Madhyama, như tên gọi của nó, nằm giữa thế tục và tâm linh. Những người có ý định tốt sử dụng Madhyama, tức là lời nói tinh thần, cho nên đối tượng của nó là bên trong. Pashyanti chỉ dành cho những điều thuộc về tâm linh. Pashyanti nghĩa là “nhìn thấy”, nhìn bằng thần nhãn, khả năng thấu thị. Thực ra, nó không phải là nhìn thấy, nó là nhận thức, bởi vì cơ quan thị giác vật lý không đóng vai trò gì, hoặc chỉ đóng vai trò rất ít trong đó. con mắt chỉ đóng vai trò là phương tiện cho nhận thức này. Những vị bất tử như Nath và Muni, những ai nhận thức được tầm quan trọng của những gì họ nói, sử dụng Pashyanti. Còn Para chỉ dành cho các Rishi. Nó vượt trên nhận thức, là lời thần giao cách cảm, tối cao.”

    “Trong kỷ Satya, hầu hết mọi người đều giao tiếp bằng thần giao cách cảm bằng cách sử dụng Para. Tuy vậy, ngay cả trong Satya Yuga, vẫn có một số kẻ xấu xa, những người có ý thức tương đối bất tịnh, bản chất họ thú tính hơn những người khác. Những người này sử dụng Pashyanti và Madhyama, về cơ bản vẫn là những hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ nhưng thô thiển hơn Para. Khi hầu hết mọi người trên thế giới không còn khả năng giao tiếp bằng Para nữa, bạn biết rằng kỷ Satya đã kết thúc. Satya Yuga là satya, trung thực, là do Para, thứ không bao giờ dối trá. Satya Yuga tồn tại nhiều kỷ nguyên vì nó đầy ắp chân lý.”

    “Người xưa thời Satya Yuga có thể thực hành sadhana tốt hơn chúng ta hiện nay vì họ có thể nói bằng Para. Bất cứ điều gì được nói bằng Para đều mạnh mẽ hơn hàng triệu lần so với những điều được nói bằng các cấp độ khác của ngôn ngữ, đặc biệt là Vaikhari. Bạn không bao giờ nên bày tỏ tình yêu của mình với bất cứ ai bằng lời Vaikhari, ngọn lửa trong lưỡi bạn chỉ thiêu đốt nó mà thôi. Nếu muốn thể hiện tình yêu, dù là với người phàm hay một vị thần, hãy luôn sử dụng tối thiểu là Madhyama, nếu không thì Pashyanti hoặc Para.”

    “Đây là lý do tại sao nụ hôn lại kỳ diệu đến vậy. Khi hôn, bạn không thể trì tụng thần chú của mình trong Vaikhari, bạn cũng có thể không nhớ để lặp lại nó trong Madhyama, có lẽ mọi điều bạn truyền đạt sẽ ở một cấp độ cao hơn. Chẳng hạn như trong Vajroli, (yoga [ái] dục), việc trao và nhận năng lượng là khả thi thông qua liên kết miệng. Truyền năng lượng thông qua một nụ hôn dễ hơn găp trăm lần so với truyền năng lượng qua Vajroli do năng lượng tiêu hao ít hơn nhiều. Nếu bạn có ý định chia sẻ năng lượng của mình với ai đó khi hôn họ, ngay cả khi không biết bí thuật, sự truyền năng lượng vẫn sẽ xảy ra ở mức độ nào đó, dù hiệu quả sẽ thấp hơn.”

    “Hôn bằng môi dẫn đến hao phí năng lượng. Một phần năng lượng được truyền đi, nhưng phần lớn bị mất do sự chú ý bị mắc kẹt trong cảm giác mềm mại của đôi môi. Trong quá khứ, người ta chỉ hôn lên trán. Thao thời gian, họ dần di chuyển xuống mặt rồi xuống đến môi. Hôn môi thường dẫn đến giao hoan, vì môi trên và môi dưới có liên quan với nhau. Hôn sao cho phần dưới của lưỡi tham gia sẽ khuấy động nhiều năng lượng nhất vì có rất nhiều dây thần kinh ở đó. nhưng khuấy động nhiều năng lượng có ích gì nếu bạn không thể giao tiếp tốt bằng Pashyanti hay Para? Khi đó, rất ít năng lượng của bạn sẽ được truyền đi thành công trong hoan ái, phần lớn sẽ bị đốt cháy trong dục vọng. Bây giờ là kỷ Kali, khi Maya, đặc biệt là Maya của cơ thể rất mạnh.”

    “Vaikhari, Madhyama, Pashyanti lần lượt bị chi phối bởi Tamas, Rajas và Sattava. Vì thế giới ảo tưởng mê lầm như chúng ta biết, Maya, là kết quả của ba Guna này, nên việc sử dụng ba dạng lời nói này bị hạn chế, không hoàn hảo, do tất cả chúng ta đều tồn tại trong Maya. Trạng thái vượt ngoài ba Guna là trạng thái vượt ngoài Maya. Trạng thái đó là hoàn hảo vì nó tuyệt đối, và nó là Para. Không cần mật chú trong Para, mật chú phát sinh khi ý định được lọc xuống các cấp độ tồn tại thô sơ hơn.”

    “Hãy nhìn theo cách này, với sự trợ giúp của âm tiết thiêng liêng OM. Ba vòng rưỡi của Kundalini tượng trưng cho ba chữ cái rưỡi của từ OM : a, u, m và anusvara (âm mũi) ở cuối. Nhưng OM cũng có một bindu (dấu chấm chính tả) trên anusvara. Anusvara và bindu không thể tồn tại nếu thiếu nhau. Bindu là một điểm: vị trí không có kích thước, như định nghĩa trong toán học. Anusvara có thể phát âm được trong Vaikhari và Madhyama, nhưng bindu chỉ có thể được phát âm trong Pashyanti và Para. Làm sao để phát âm một dấu chấm? Bạn không thể, nhưng ý định phát âm nó thì có thể hiện hữu.”

    “Ý định chẳng có giá trị gì trong Vaikhari, một kẻ lừa đảo xảo quyệt có thể khiến bạn khóc trong khi hắn ta cười thầm vì đã dễ dàng lừa được bạn. Ý định có giá trị trong Madhyama, rất quan trọng trong Pashyanti. Tuy nhiên, ý định lại là tất cả trong Para. Thực tế, Para không gì khác ngoài ý định: ý định thanh tịnh của một cái tôi thanh tịnh, một Kundalini Shakti đã được khuếch đại hàng triệu lần nhờ khổ tu mãnh liệt. Bindu được sử dụng khi Kundalini di chuyển từ luân xa Vishuddha sang Ajna, khi Shunya bắt đầu. Đó chính là bản chất của bindu: hư không, là nguồn gốc của mọi âm thanh, là trường không gian mà từ đó âm thanh phát sinh.”

    Vấn đề có vẻ phức tạp nên Vimalananda cung cấp cho tôi một ví dụ theo Ayurveda.

    “Đây là một cách nhìn khác. Từ “ngọt” trong tiếng Phạn là gì?

    “Swadu, hoặc madhura.”

    “Trong tất cả những thứ ngọt ngào trên thế giới, chỉ có mật ong được gọi là madhu, vì chỉ có mật ông mang lại vị ngọt cho cơ thể mà không cần tiêu hóa trước. Điều này là do mật ong đã được ong tiêu hóa. Từ madhura có thêm một chữ “ra”, đề cập tới nguyên tố Lửa. Bất kể thứ gì là madhura, ngọt, đều phải được tiêu hóa trước khi vị ngọt của nó được giải phóng vào cơ thể. Trong tất cả các hình thức lời nói, chỉ có Para mới thực sự là madhu. Para đi thẳng đến mục tiêu và phát huy tác dụng ngay lập tức, giống như mật ong trong cơ thể. Mọi cấp độ lời nói khác đều phải được người nghe tiêu hóa trước khi có thể cảm nhận được tác dụng của nó. Pashyanti luôn là madhura, ít nhất là vậy, Madhyama cũng thường là vậy, đó là nguyên nhân khiến chúng rất có ích. Nhưng Vaikhari chỉ thỉnh thoảng ngọt ngào, còn những lúc khác lời nói của chúng lại sắc bén, hoặc đắng, hoặc chua, hoặc mặn, hoặc lạnh lùng, và cứng rắn.”
  10. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Bốn tầng lớp

    “Tất cả các hiệu ứng này là do thành phần hóa học trong ý thức người nói” tôi tự nguyện nói thâm, vì nghĩ mình biết hướng mà Vimalananda đang nhắm tới.

    Ông gật đầu đồng ý. “Và thành phần hóa học này quyết định loại sadhana nào phù hợp với bạn, bạn có thể thành công trong lĩnh vực nào. Ngày nay không thiếu những người tuyên bố đã tìm ra chìa khóa của kinh Veda, tuyên bố họ đang sống cuộc đời Veda, rồi dạy cho học trò của họ các sadhana Veda. Hầu hết họ chỉ nói suông những điều vô nghĩa. Hãy nghĩ một chút về hệ giống đẳng cấp. Ấn Độ đã bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa phân biệt đẳng cấp trong nhiều thế kỷ, nhưng hệ thống đẳng cấp bạn đầu khác hẳn so với những gì nó đã trở thành.”

    “Văn học Veda nói về cơ thể của xã hội như sau: tầng lớp Bà la môn hay giáo sĩ là phần đầu, tầng lớp Kshatriya giai thống trị là tay và ngực, Vaishya hay thương nhân là bụng, còn Shudra hay lao động là chân. Một số Bà la môn theo chủ nghĩa đế quốc đã sử dụng mô tả này để biện minh cho sự thống trị của họ đối với những người khác, nhưng lý do duy nhất cho sự phân loại này là để minh họa những khuynh hướng bẩm sinh của con người.

    “Giả sự bạn muốn dạy một câu thần chú cho một đứa trẻ. Nếu đứa trẻ là một Bà la môn, nó sẽ sử dụng thần chú để gia tăng tri thức, đầu tượng trưng cho tri thức. Một Bà la môn chân chính sẽ sử dụng tri thức này để tự giác ngộ và để giúp đỡ người khác giác ngộ. Bất kỳ Bà la môn nào sử dụng kiến thức để đè nén người khác đều là Bà la môn giả. Bhamam janati iti Brahmanah (Bà la môn là người biết Chân Lý Tuyệt Đối), vậy ngày nay chúng ta có bao nhiêu Bà la môn chân chính? Hầu như không có!”

    “Nếu dạy thần chú cho một chiến binh Kshatriya, bạn có thể chắc chắn rằng anh ta sẽ ra ngoài rồi sử dụng nó. Đó là mục đích của ngực và tay, để làm mọi việc. Bởi vì Kshatriya là những nhà cai trị bẩm sinh, họ sẽ có xu hướng sử dụng sức mạnh có được từ quá trình khổ luyện để chinh phục người khác. Kshatriya có thể tiến xa hơn rất nhiều trong tu luyện so với Bà la môn, vì Kshatriya có khả năng miễn dịch tự nhiên với đau đớn, và một niềm tin bẩm sinh vào chuyện “Giết hoặc bị giết”, thành công hay chết. Một khi Kshatriya bắt đầu việc gì, hoặc anh ta sẽ kết thúc nó, hoặc nó sẽ kết liễu anh ta. Một Bà la môn thường cố gắng làm mười việc cùng một lúc, được thúc đẩy bởi tính tò mò trí tuệ. Một Kshatriya chỉ làm một việc, nhưng làm việc đó kỹ lưỡng.”

    “Vua Vishwamitra dễ dàng bị đánh bại bởi sức mạnh tâm linh của Rishi Vasistha khi Vishwamitra cùng quân đội của ông cố gắng đánh cắp Nandini, con bò có khả năng ban điều ước, từ Vasistha. Thất bại này khiến Vishwamitra nhận ra rằng sức mạnh thể chất kém xa quyền năng tâm linh, nên ông đã quyết định khổ luyện cho đến khi chính Vasistha công nhận ông là một Brahmashri (một vị thần chủ trong số các Rishi). Một khi đã quyết định phương án hành động này, ông quên hết mọi thứ khác và chỉ tập trung vào nó.”

    “ Vishwamitra đã thực hành những pháp khổ hạnh khủng khiếp và được nhiều vị thần phong thánh, nhưng chưa phải danh hiệu mà ông mong muốn. Cuối cùng, ông ta quyết định ép buộc Vasistha phải ban cho điều mình muốn. Vishwamitra quấy rầy Vasistha không thương tiếc, nhưng dường như không gì có thể ảnh hưởng đến Vasistha, ngay cả cái chết của toàn bộ những người con trai đông đảo của ông. Cuối cùng, Vishwamitra trở nên hoàn toàn tuyệt vọng, và lẻn vào bụi rậm gần am thất của Vasistha, tay cầm một con dao sắc bén để gi ế t vị Rishi không chịu công nhận thành tựu của mình. Ngay lúc chuẩn bị ra tay, ông nghe thấy Vasistha nói với vợ mình, Arundhati : “Trong toàn thể các Rishi ngày nay, chỉ có một người xứng đáng với danh hiệu Brahmarshi, đó là Vishwamitra. Ta không hiểu tại sao ông ta lại chống đối ta đến vậy, ta đã xúc phạm ông chỗ nào?”

    “Nghe những lời ấy, Vishwamitra buông dao xuống, chạy đến quỳ dưới chân Vasistha, nói: “Xin ngài tha thứ cho con”. Vasistha nói nhỏ: “Nhưng, Brahmarshi, không cần tha thứ. Tôi rất vinh dự được ông ghé thăm.” Rồi ban phúc cho Vishwamitra. Rốt cuộc, tất cả chỉ là trò chơi của Vasistha, trò đùa của các Rishi rất khó hiểu.”

    “Một Bà la môn chân chính quá tao nhã để trở thành kiểu người cuồng đạo như Vishwamitra, nhưng rồi Vishwamitra lại đạt được những đỉnh cao chót vót bởi lòng quyết tâm chuyên nhất của ông. Các Bà la môn không hơn các Kshatriya, cũng không phải các Kshatriya hơn các Bà la môn, họ chỉ khác nhau thôi. Một Bà la môn tốt có xu hướng phát triển lòng dũng cảm của Kshatriya, còn một Kshatriya tốt, khi tích lũy kiến thức, sẽ trở nên giống Bà la môn hơn. Một vị vua tốt không bao giờ là một người giỏi chiến đấu, điều đó là không thể. Để chiến đấu, người ta phải sẵn sàng giết chóc, mà giết chóc luôn mang lại tính thô bạo vào trong bản chất của bạn. Một vị vua tốt luôn tinh tế, lịch lãm tuyệt đối, mà những người như vậy hoàn toàn không giỏi trên chiến trường.”

    “Bất cứ ai thuộc tầng lớp Vaishya, vốn là thương nhân bẩm sinh, sẽ thương mại hóa kiến thức mà họ được truyền đạt, họ sẽ bán nó để nuôi sống bản thân. Hãy nhìn những gì đang xảy ra ở Mỹ, hầu hết người Mỹ sinh ra đã là doanh nhân, họ đã thương mại hóa bất cứ kiến thức nào học được. Đó là một phần bản chất của họ. Còn tầng lớp Sudra thì sao? Shudra là những người làm lụng vất vả. Biết được tất cả những điều này là quan trọng, và cần biết cách nhận ra các tầng lớp xã hội này. Nếu bạn dạy một câu thần chú cho một đứa trẻ, khi nó sử dụng sai cách, một phần nghiệp xấu sẽ đổ lên bạn, bởi vì bạn đã dạy nó, tạo điều kiện cho nó lạm dụng câu chú từ đó.”

    “Ông nói rằng vấn đề đẳng cấp phụ thuộc vào bản chất bẩm sinh của mỗi người. Vậy còn việc phải sống trong đẳng cấp mà mình sinh ra thì sao?”

    “Điều này là một thông tin bổ sung gần đây. Mỗi con người đều có di truyền về thể chất và tinh thần. Di truyền thể chất của bạn là do thừa hưởng từ toàn bộ tổ tiên. Nếu tổ tiên bạn là những chiến binh trong nhiều thế hệ qua, thì gen tạo ra tính hung hăng sẽ được củng cố trong bạn và rất có thể bạn sẽ trở thành một chiến binh giỏi. Đây là cơ sở của hệ thống đẳng cấp cũ.”

    “Ban đầu hệ thống đẳng cấp không cứng nhắc, bạn có thể làm bất cứ việc gì mình muốn trong cuộc sống. Nhưng nếu sinh ra trong một gia đình có truyền thống kinh doanh qua nhiều thế hệ, thì rất có thể các gen kiểm soát các kỹ năng kinh doanh sẽ được đẩy mạnh qua từng thế hệ kế tiếp, nên bạn sẽ tự nhiên có năng khiếu kinh doanh, giống như cá gặp nước vậy. Nó thực sự nằm trong máu của bạn, trong từng tế bào, trong gen và nhiễm sắc thể của bạn.”

    “Darwin hiểu khá rõ về di truyền, nhưng ông chỉ áp dụng nó quá hẹp hòi vào các đặc tính thể chất. Trên thực tế, nguyên tắc chọn lọc tự nhiên cũng áp dụng cho xã hội. Nếu bạn là doanh nhân có ba đứa con, rất có thể bạn sẽ để lại công việc kinh doanh cho đứa con nào có năng khiếu buôn bán nhất. Nếu chuyện này xảy ra liên tục trong mười lăm, hai mươi hoặc ba mươi thế hệ, gen kinh doanh sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn nhờ quá trình chọn lọc tự nhiên này. Đó là điều đã xảy ra trong nhiều thế kỷ trong gia đình tôi, chúng tôi đã làm kinh doanh hơn mười lăm thế hệ.”

    “Do các vị Rishi hiểu sâu sắc về di truyền nên họ đã thiết lập hệ thống gotra. Mỗi Rishi có một lĩnh vực chuyên môn khác nhau, có thể điều chỉnh gen và nhiễm sắc thể của các đệ tử, giúp họ tiếp thu kiến thức mà họ muốn truyền lại. Mỗi đệ tử sẽ nhận được một phần kiến thức khác nhau. Do mô hình di truyền này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, những đứa trẻ sinh ra trong gia đình đó sẽ phát triển những khuynh hướng giúp chúng dễ dàng thành công trong việc nắm vững nhánh riêng của kinh Veda mà Rishi đã giao cho gia đình.”

    “Giả sử bạn muốn sử dụng kinh Veda cho việc tu luyện cá nhân của mình. Trước tiên bạn phải biết gotra của mình, để biết nên nghiên cứu nhánh Veda nào. Sau đó bạn phải biết mantra và nghi lễ áp dụng cho nhánh đó. Nhưng hầu hết mọi người đã quên mật chú và nghi lễ này, nên họ lạc lối trong mê cung và không thành tựu. Tôi biết sự thật này, nó đã xảy ra với cha tôi. Ông là một chuyên gia về bốn kinh Veda cùng các phần chú giải của chúng, nhưng ông không biết mật chú và nghi lễ phù hợp với nhánh Veda của mình. Ông thậm chí còn không quan tâm đến chú của Bhrigu, vị Rishi đã khởi nguồn cho gotra của chúng tôi. Ông có guru riêng và guru mantra, nhưng nếu ông trước tiên đạt được thành công với mật chú của Bhrigu Rishi, chính Bhrigu sẽ tiếp quản và hướng dẫn toàn bộ quá trình phát triển của ông sau đó.”

    “Kiến thức bí truyền này chưa bao giờ phổ biến đến đại chúng, đối với họ, gotra chỉ quan trọng trong các cuộc đàm phán hôn nhân. Hôn nhân trong cùng dòng họ luôn bị cấm để ngăn ngừa cận huyết, các vị Rishi đã hiểu về chọn lọc giống nòi từ rất lâu rồi. Nhưng hôn nhân trong cùng đẳng cấp lại được khuyến khích, Bà la môn kết hôn với Bà la môn, Shudra kết hôn với Shudra, vân vân. Để cha mẹ có thể hình dung rõ con cái mình phù hợp với vai trò nào do chúng sẽ dễ dàng thích nghi với vai trò được định sẵn từ sức nặng của nghiệp chướng kế thừa.”

    “Tuy nhiên chúng ta đang sống trong kỷ Kali, khi mọi thứ đều rối tung lên. Nếu người phương Tây nhìn chung sáng tạo và thông minh, thì một phần do họ là giống lai: người Việt kết hôn với người Thụy Điển, người Nigeria kết hôn với người Scotland, vân vân. Việc này cho phép các kiểu gen mới phát triển, có xu hướng thúc đẩy những cách nhìn nhận sự vật mới. Nó cũng gây ra nhiều bất ổn và khó khăn cho trẻ em, vì kiểu gen và nhiễm sắc thể mới của chúng có thể thu hút một linh hồn ít có sự gắn bó với cha mẹ đã sinh ra chúng. Sự thiếu gắn kết về mặt tinh thần này có thể dẫn đến tan vỡ gia đình, vì họ bất đồng quan điểm trên nhiều vấn đề. Một đứa trẻ bị xa lánh khỏi gia đình, không tìm được nơi nào khác để hòa nhập có thể trở nên hư hỏng, điều này sau đó dẫn đến sự tan vỡ của xã hội. Vì thế, sự pha trộn gen có cả những tác động tốt và xấu.”

    “Khác với di truyền thể chất của bạn là di truyền tinh thần, thứ bạn mang theo từ kiếp trước sang kiếp sau. Thân vật lý của bạn đại diện cho quá khứ, những nghiệp chướng mà bạn đã tạo ra, giờ đang gặt hái. Thân vi tế của bạn, hay linh thể, vốn là tâm trí của bạn, là tình trạng hiện tại, và cách bạn sử dụng tâm trí để hành động trong thế giới sẽ quyết định tương lai của bạn. Mỗi hành động đều tạo ra nghiệp, tất cả nghiệp này đều được lưu trữ trong thân nhân quả của bạn, nơi chúng kiên nhẫn chờ đợi thời điểm thích hợp để phóng chiếu vào tâm trí bạn. Nếu đã là một nhạc sĩ trong nhiều kiếp, bạn sẽ vẫn bị thu hút bởi âm nhạc trong kiếp này, ngay cả khi bạn phải trở thành con trai của một người nông dân, do sức nặng từ nghiệp của bạn. Điều này đã xảy ra với tôi: Tôi hoàn toàn không thích thú gì việc kinh doanh, chỉ quan tâm đến tâm linh, do hoạt động của tôi trong các kiếp trước.”

    “Điều này giải thích tại sao hệ thống đẳng cấp ngày nay lại thất bại. Ban đầu, những linh hồn có khuynh hướng kinh doanh sẽ tự nhiên bị thu hút vào các gia đình doanh nhân. Giờ đây, những ảnh hưởng mạnh mẽ hơn như manubandhana giữa con cái và cha mẹ đang hoạt động, cho phép những người có khuynh hướng khác nhau tái sinh vào cùng một gia đình. Nếu bạn sinh ra trong một gia đình giáo sĩ và đã từng là thầy tu trong các kiếp trước, thì không có vấn đề gì, nhưng nếu bạn là người có khuynh hướng tâm linh lại sinh ra trong một gia đình duy vật, hoặc một nghệ sĩ sinh ra trong một gia đình đồ tể, thì sẽ có xung đột.”

    “Con người tái sinh với những hạn chế do gánh nặng nghiệp xấu. Những ai tích lũy được nghiệp tốt sẽ có cơ hội tái sinh ở trạng thái cao hơn. Bất cứ người nào có nhiều nghiệp tốt hơn nghiệp xấu sẽ tự nhiên tỏa sáng hơn người có nhiều nghiệp xấu hơn nghiệp tốt. Các bậc hiền triết không bao giờ nói rằng tầng lớp thấp hơn của con người là động vật, họ chỉ nhận ra bản chất thú tính mạnh hơn ở những người có nhiều nghiệp xấu. Các vị Rishi luôn mong muốn mọi người tiến bộ theo khả năng bẩm sinh của mình, điều này chỉ có thể thực hiện được khi mọi người nhận ra những hạn chế của bản thân.”

    “Vậy nên khi nói tới Brahmana, Kshatriya, Vaishya và Shudra, tôi không nhất thiết hiểu những thuật ngữ đó là đẳng cấp. Các vị Rishi tin vào tình yêu tự do, không bao giờ tin vào đẳng cấp, giống như tôi. Họ giống những người hippie ngày nay hơn là các Bà la môn bảo thủ ngày nay. Khi nói về Brahmana hay Shudra, tôi muốn nói đến những khuynh hướng bẩm sinh của một cá nhân cụ thể, được xác định bởi cả cha mẹ và những kiếp trước. Đó là lý do tôi gọi bạn của bạn, Freddy là một Bà la môn, xu hướng Brahmanicalvate của anh ấy lớn hơn nhiều so với hầu hết những người được gọi là Bà la môn. Con người về bản chất hoặc là một tu sĩ, một nhà cai trị, một thương nhân, hay một người lao động, và rất khó để thay đổi bản chất này. Chúng ta thấy tầm quan trọng của phả hệ dòng dõi mỗi ngày tại trường đua, không thể phủ nhận điều đó. cũng không thể bỏ qua yếu tố di truyền ở con người, nhưng có lẽ ta có thể vượt qua được giới hạn đó.”

    “Nhờ sadhana.”

    “Thông qua pháp thực hành, đó là lý do tại sao có được sadhana chuẩn là rất quan trọng. Giờ bạn có thể giải thích cho tôi sự khác nhau giữa Shuddha và Shudra được không?”

    Tôi thực sự không biết giải thích thế nào. Chúng chỉ khác nhau ở một chữ cái tiếng Phạn.

    “Đúng vậy. Shudda nghĩa là thanh tịnh, chứa chữ dha, được thay thế bằng “Ra” trong shudra. Chữ cái tiếng Phận “dha” biểu thị tính vững chắc, sức mạnh tập trung. Tập trung sẽ tạo nên tính thanh tịnh. Bạn là nhà hóa học, chẳng phải hóa học hướng tới việc thanh lọc các chất để những chất đó có thể được sử dụng trong nồng độ cô đặc (cùng nghĩa tập trung) sao?”

    “Vâng, tôi đoán vậy.” Một cách chơi chữ hay.

    “Ra” như bạn biết, là chủng tự mật chú, Bija của Lửa. Trong trường hợp này, “ra” tượng trưng cho Jathara Agni, ngọn lửa của quá trình tiêu hóa vật chất. Một người Shudra là bất cứ ai quan tâm đến việc nuôi sống cái bụng hơn là phát triển tâm trí. Mọi thức ăn, trừ sữa, đều từng là sinh vật sống, ngay cả sữa cũng được chiết xuất từ sinh vật sống. Chúng ta tước đoạt mạng sống của những sinh vật khác để bảo toàn mạng sống của chính mình. Điều này chẳng phải vô cùng ích kỷ sao? Sự sẵn lòng giết hại và ăn thịt là hiện thân của ham muốn ích kỷ này, muốn được nuôi dưỡng bằng sự tiêu hao của loài khác. Chỉ riêng thái độ này thôi đã đủ loại bỏ một người khỏi việc nghiên cứu kinh Veda, nhưng còn một lý do thực tế hơn: khi Jathara Agni mạnh thì Bhuta Agni sẽ yếu, mà Bhuta Agni lại rất cần thiết cho sự phát triển tâm linh.”

    “Bất cứ ai có Jathara Agni mạnh hơn Bhuta Agni đều là Shudra, mà những người như vậy không đủ tư cách tụng kinh Veda do ảnh hưởng của Lửa lên những gì họ nói. Đó là lý do tôi bảo bạn và Freddy không nên tụng Veda. Nếu cuối cùng Bhuta Agni của bạn trở nên rất mạnh, việc này sẽ không còn là vấn đề nữa. Những hiện tại, hãy nhớ rằng ảnh hưởng của Lửa lên Bindu và anusvara luôn là “r+na=rna”, nợ nghiệp. Khi nguyên tố Lửa trong cơ thể bạn tác động chủ yếu lên thức ăn, nó trở nên ô uế, trong điều kiện đó, việc trì tụng những câu thần chú mạnh mẽ chỉ làm tăng thêm nợ nghiệp của bạn.”

    “Shudra và Mleccha khác nhau phải không?”

    “Chính xác. Shudra không phải là mleccha. Người shudra sống đời lao động, tạo ra sự sống rồi giết chúng để kiếm lợi, nhưng vẫn tuân thủ một sadhana và giữ vững niềm tin vào Tự Nhiên. Shudra là một phần của hệ thống Veda, nhưng mleccha hoàn toàn nằm ngoài phạm vi Veda. Theo định nghĩa, mleccha là bất kỳ ai thích sự bẩn thỉu, thích thịt, rượu, ma [túy], nhục dục, cờ bạc và những thú vui trụy lạc khác, có rất ít phẩm chất giác ngộ. Một số người Ấn Độ bảo thủ gọi toàn bộ người phương Tây là mlecchas chỉ vì họ đã ăn thịt bò, họ chỉ quan tâm đến vệ sinh bên ngoài chứ không phải thanh tịnh bên trong.”

    “Vimalananda biết rằng tôi đã bị gọi là mleccha vài lần rồi. Họ từ chối công nhận sự thay đổi của những người phương Tây như anh và Freddy, và họ cũng phớt lờ thực tế là hàng triệu người Ấn Độ đang tiếp thu những điều tồi tệ nhất của phương Tây rồi tự biến mình thành mleccha.”

    “Vậy tại sao lại có người cố thực hành sadhana Veda trong kỷ Kali? Điều đó là không thể, nhất là ở thời đại ngày nay khi mọi thứ đã bị ô trược. Những sadhana khác phù hợp hơn cho kỷ Kali. Trên thực tế, Kali Yuga là thời đại mà các Shudra có khả năng giác ngộ Thượng Đế tốt hơn cả các Bà la môn. Shudra có thể kinh nghiệm Thượng Đế theo cách mà Bà la môn không bao giờ có thể đạt tới. Nếu gặp Thượng Đế trực tiếp, bạn sẽ làm gì?”

    “Tôi không chắc.”

    “Tôi hy vọng bạn sẽ quỳ dưới chân ngài. Bạn sẽ không bước đến gần véo má ngài rồi nói: “Chào cậu! Tớ đến để thích cậu!” Không, bạn sẽ phủ phục trước ngài. Người thuộc đẳng cấp Shudra biết cách khiêm nhường, bất cứ ai phục vụ người khác đều phải học cách khiêm nhường. Khi chưa có được tính khiêm tốn chân thành, bạn chưa xứng đáng chạm vào chân Thượng Đế, hoặc thậm chí là chân của một vị thánh hiền. Người thuộc đẳng cấp Bà la môn phải vượt qua tính kiêu ngạo mà họ có về kiến thức của mình, nhưng bất kỳ ai khiêm tốn đều có thể nói: “Tôn Thượng, con ngu dốt và con biết như vậy. Ngài là niềm hy vọng duy nhất của con. Xin hãy cứu con!”

    “Và ngài sẽ làm điều đó.”

    “Ông thuộc loại nào trong bốn?” tôi hỏi đùa nhưng nét mặt Vimalananda trở nên nghiệm nghị rõ rệt, rồi lời ông nặng trĩu:

    “Bạn muốn biết tôi là ai? Tôi sinh ra là Vaishya, con trai một thương gia. Về học vấn, tôi cao hơn hầu hết các Bà la môn ở Ấn Độ ngày nay. Khi tu luyện các pháp khổ hạnh, quyết tâm của tôi vượt trội hấu hết những người sinh ra là Kshatriya. Khi đến khu hỏa táng để thực hành sadhana, tôi còn khổ sở hơn các Shudra, những gì tôi làm ở đó không một Shudra nào dám làm. Nó quá khủng khiếp đối với người bình thường. Nhưng dù sao thì hiện nay vẫn là kỷ Kali.”

Chia sẻ trang này