1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

AGHORA II: Kundalini

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi phunglam, 26/03/2026.

  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
  1. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    TANTRA

    Thời gian, Nhật thực, và Các đêm

    Thời trẻ, Vimalananda từng học chiêm tinh với Jina Chandra Suri, tôi thường xuyên chứng kiến khả năng đáng kinh ngạc của ông ấy trong việc lập lá số chính xác chỉ từ khuôn mặt của người đến thăm. Mặc dù chiêm tinh là phương pháp chẩn đoán được tôn trọng trong Ayurveda, nhưng nó không còn được giảng dạy trong các trường cao đẳng Ayurveda nữa, tôi vận hy vọng Vimalananda sẽ đích thân dạy tôi. Nhưng mỗi lần tôi xin được hướng dẫn, ông đều từ chối: “Bạn có những thứ quan trọng hơn cần học ngay lúc này.” Ông chỉ đồng ý dạy những khía cạnh của chiêm tinh mà ông cảm thấy sẽ có lợi ích thiết thực cho việc tu luyện của tôi.

    “Các bạn có nhớ ba nhà thông thái không?” một hôm ông bắt đầu câu chuyện.

    “Có: Balthazar, Melchior, Caspar” tôi tự tin đáp vì đã học tên họ ở trường Chủ nhật.

    “Đúng đó. Một người là dân Ai Cập, một là Assyria, còn lại là Babylon. Họ đều theo huyền môn Magi, có nguồn gốc từ Babylon, được thực hành ở cả ba quốc gia. Đó là một dạng Tantra. Ba người này đã thực hiện các phép tính độc lập. Khi gặp nhau trao đổi sổ ghi chép, họ nhận thấy đều đi đến cùng một kết luận: một nhà tiên tri sắp được sinh ra. Sau đó, họ lên đường theo ngôi sao dẫn lối, và đã tìm thấy chúa Jesu.”

    “Đây là một trường hợp đặc biệt, tất nhiên, nhưng nó cho thấy những lợi ích thiết thực của chiêm tinh học. Thực tế, kiến thức về thời gian có thể mang lại lợi ích theo nhiều cách khác nhau. Giả sử bạn tìm thấy một cây hoa trắng Lửa của Rừng hiếm gặp. Riêng việc này không dễ dàng, tôi chỉ tìm thấy hai cây như vậy trong toàn bang Maharashtra, và chúng quấn quýt lấy nhau. Tuy nhiên, nếu bạn tìm được một cây, và nếu bạn có thể lấy gỗ của nó trong thời khắc giao kết cung hoàng đạo nhất định, bạn có thể làm nên những điều kỳ diệu với nó, bạn thậm chí có thể bay. Nhưng bạn phải thu thập gỗ vào đúng thời điểm. Toàn bộ Tantra đều dựa trên thời gian. Nếu làm gì đó vào đúng thời điểm, bạn sẽ nhận được kết quả, nếu không thì hỏng.”

    “Bạn có nhớ đêm đầu tiên tham dự homa với tôi không?”

    “Tất nhiên.”

    “Bạn có nhớ chúng ta đã làm gì với phân bò không?”

    Tôi mất một lúc mới nhớ ra: “Chúng tôi lấy một ít phân bò, trộn với nước, cho vào chảo, rồi đặt một cái chày thẳng đứng vào trong đó.”

    “Rồi cái chày vẫn đứng thẳng suốt thời gian nhật thực diễn ra. Ngay khi nhật thực kế thúc, nó tự động đổ xuống. Bạn đã thấy điều đó, bạn giải thích thế nào? Các nhà khoa học sẽ giải thích ra sao?”

    “Tôi không biết.”

    “Chúng tôi giải thích chuyện này dựa trên những hiệu ứng trọng lực kỳ là mà nhật thực gây ra. Nhật thực rất tốt cho những người như bạn và tôi do hiệu ứng trọng lực của chúng nhân lên hiệu quả tu luyện. Nếu niệm thần chú một trăm lần trong thời gian nhật thực, nó giống như niệm một trăm ngàn lần vào một ngày bình thường. Nếu dâng một lễ vật vào lửa, nó giống như một ngàn lễ vật. Không gì sánh bằng thời gian này để cầu nguyện và thực hiện các nghĩ lễ cho tổ tiên đã khuất của bạn.”

    “Dĩ nhiên, bất cứ khoảng thời gian nào có sức mạnh lớn như vậy cũng có thể gây ra các ảnh hưởng tiêu cực, vì vậy cần có một số biện pháp phòng ngừa. Tuyệt đối không được nhìn vào nhật thực, tia sáng của nó có tác động gây rối loạn lớn đối với tâm trí. Phụ nữ mang thai thậm chí không nên ra ngoài trong thời gian nhật thực, kẻo con của họ bị ảnh hưởng. Không được ăn uống bất kỳ thứ gì, kể cả nước, trong suốt thời gian nhật thực diễn ra, càng lâu càng tốt, tối đa mười hai giờ trước và sau đó. Nếu có thể tuân thủ niyama này, bạn có thể biến bất cứ hiện tượng nhật thực nào thành lợi thế cho mình.”

    Ông đã kể cho tôi nghe mọi điều này trước đây rồi. Tôi kiên nhẫn chờ ông nói đến trọng điểm.

    “Nhật thực xảy ra không đều đặn, tất nhiên, bạn không thể dựa vào chúng. Nhưng may mắn thay, những thời điểm có thể dự đoán được để tăng cường tu luyện lại xảy ra hàng năm, vào tất cả các mùa. Ấn Độ là nơi tuyệt vời đến nỗi ngay cả các lễ hội cũng diễn ra vào những thời điểm mà việc thành công trong những cách thờ cúng cụ thể sẽ dễ dàng nhất. Các Rishi đã hệ thống hóa các lễ hội này để giúp các sadhaka có khả năng thiên nhĩ và thiên nhãn.”

    “Ví dụ thánh mẫu Maa, đại nữ thần, được thờ cúng vào ba kỳ chín đêm trong năm vì tại những khoảng thời gian đó, việc tiếp xúc với người dễ dàng nhất.”

    “Các vị Rishi hiểu rõ ảnh hưởng của các kỷ nguyên lên tâm trí chúng ta. Họ cũng biết rằng các giáo lý mà chúng ta vừ bàn luận quá phức tạp và khó hiểu đối với người bình thường, do đó họ đã tạo ra các lễ hội theo mùa. Khi người dân tham gia thường xuyên các lễ hội này, tâm trí họ trở nên tách rời khỏi những điều trần tục và hướng về đạo học, trong khi những người hiểu được ý nghĩa huyền bí của các lễ hội thì sử dụng chúng để thúc đẩy sự phát triển tâm linh của mình.”

    “Lễ hội mùa thu bắt đầu với Shravana, tháng mà Shiva được thờ cúng, cũng là tháng Krishna đản sinh. Sau đó là lễ hội Ganesha, tiếp theo là hai tuần cầu nguyện để an ủi vong linh tổ tiên. Khi cả Ganesha và tổ tiên đều hài lòng, Kundalini có thể được đánh thức an toàn, điều này diễn ra trong Nava Ratri, chín đêm thiêng dành cho nữ thần. Cuối cùng, chúng ta có Dipavali, lễ hội ánh sáng, thiêng liêng dành cho Vishnu dưới hình dạng Krishna, khi mỗi đốt của cột sống trở thành một điểm sáng rực rỡ, thuần khiết.”

    “Lễ hội mùa xuân cũng tương tự, bắt đầu với sinh nhật của Ganesha, tiếp theo là Maha Shiva Ratri, như các bạn đã biết, là đêm quan trọng nhất trong năm để thờ Shiva. Hai tuần sau là Hutashani, hay Holi, lễ hội mùa màng kỷ niệm việc thiêu sống nữ quỷ Holika, rồi hai tuần sau nữa lại bắt đầu Nava Ratri, đỉnh điểm là sự giáng sinh của Vishnu dưới hình dáng Rama. Ngày sinh nhật của Anjaneya, vị thần khỉ là hiện thân của Shiva, diễn ra sáu ngày sau đó.”

    “Trong các lễ hội này, có bốn đêm quan trọng (ratri) rất lý tưởng cho những người hành lễ như tôi vì chúng dành cho các hoạt động cụ thể. Đầu tiên là Maha Ratri, đêm vĩ đại, tức là Maha Shiva Ratri, diễn ra hàng năm vào đêm trước trăng non trong tháng Magha theo lịch âm (tháng hai hoặc ba). Thứ hai là Krura Ratri, đêm tàn bạo, tức là Holi, đêm trăng tròn tiếp theo sau Maha Ratri. Sau đó là Moha Ratri, đêm ảo ảnh, là đêm giáng sinh của Krishna. Krishna đã đánh lừa mọi người bằng Maya của ngài. Nó diễn ra vào tháng Sravana, thường là vào tháng tám. Cuối cùng là Kala Ratri, đêm đen, đêm ngay trước Dipavali, đêm trăng non của tháng Ashvin. Dipavali diễn ra vào tháng mười hoặc mười một.”

    “Vào ngày Maha Ratri, mọi người cố gắng thức suốt đêm, vì người ta nói rằng Shiva sẽ đến, chỉ trong chốc lát, với bất kỳ ai không ngủ chút nào. Nhưng Shiva quá thông minh đối với chúng ta, những người phàm trần, nên hầu hết những người này đều ngủ gật ít nhất một hoặc hai phút đúng lúc Shiva đến gần. Ngài cần thử thách những ai muốn gặp ngài phải không?”

    “Tôi đoán vậy.” Tôi đã thử cách này vài lần rồi, đúng như dự đoán, mỗi lần đều ngủ gật trong vài phút.

    “Lễ hội Kruna Ratri tưởng nhớ việc nữ quỷ Holika bị cháu trai thiêu sống. Holika sở hữu một chiếc áo choàng ma thuật có thể thiêu rụi bất cứ ai mặc nó. Anh trai bà, Hiranyakashi pu, cha của Prahlada đã ra lệnh cho bà ta giết Prahlada bằng cách khoác chiếc áo choàng lên vai cậu. Khi Holika bế Prahlada vào lòng, cậu nhận ra ý đồ của bà nên nhanh chóng chui ra khỏi áo choàng khi bà mở nó. Chiếc áo choàng rơi xuống người bà và thiêu sống bà.”

    “Cần một sức mạnh rất lớn để tiêu diệt Holika, loại sức mạnh đó dễ dàng có được nhất vào thời điểm này trong năm. Lễ hội Krura Ratri không có lợi ích gì, nhưng lại rất tốt cho những người thực hành ma thuật hắc ám, đặc biệt là Shat Prayoga, sáu nghi lễ gây ra cái chết, ảo giác, bất hòa, thù hận, cản trở và quyến rũ.”

    “Moha Ratri là ngày dành để thờ cúng Krishna, còn Kala Ratri là ngày tốt nhất để thực hiện các nghi thức chế ngự các hồn ma. Có thể cử hành nhiều việc vào ngày đó, ví như Munda Sadhana.”

    Munda nghĩa là sọ.

    “Bạn cần năm hộp sọ người cho lễ Munda Sadhana. Bốn sọ ở bốn góc hình vuông, một ở giữa. Giữa mỗi cặp sọ người, bạn đặt một sọ động vật. Sử dụng loại động vật nào tùy thuộc vào nghi lễ cụ thể bạn đang thực hiện và kết quả muốn đạt được. Khi tất cả sọ đã được đặt đúng vị trí, thẳng hàng đúng hướng, bạn cẩn thận phủ kín toàn bộ rồi ngồi lên. Sau đó bạn bắt đầu niệm chú. Đừng tự ý làm lễ này! Khi nào muốn bạn thực hiệnn Munda Sadhana, tôi sẽ nói bạn biết.”

    Mặc dù Munda Sadhana khiến tôi hứng thú, nhưng sẽ vô ích nếu cố hỏi thêm chi tiết từ ông, vì vậy một câu hỏi kahsc nảy sinh trong đầu tôi. Vimalananda đã trả lời trước khi tôi kịp hỏi:

    “Bạn đã nhiều lần hỏi tôi rằng: nếu Tantra phi thường như vậy, tại sao Sáu pháp thuật đen tồn tại. Đây là câu hỏi hay và có nhiều hơn một câu trả lời. Một lý do chúng tồn tại là để bảo vệ xã hội. Một pháp sư có trách nhiệm bảo vệ vương quốc mà mình đang sống, nên sáu pháp này có thể được sử dụng để trừng phạt kẻ thù của thành bang, gieo rắc bất hòa giữa các đối thủ, hoặc dụ dỗ những nhà cầm quyền đang dao động gia nhập liên minh. Do đó, chúng trở thành công cụ chính trị. Chúng cũng được sử dụng trong tình yêu, kinh doanh, vân vân, nhưng ít được bao biện hơn.”

    (Minh họa Panchamamsa)

    Pháp thuật Panchamamsa

    Trọng tâm của nhiều văn bản Tantra là các nghi lễ Panchamamsa, năm chữ M, và Panchamamsa, năm loại thịt có hương vị đặc biệt. Do những văn bản này trong Tantra được viết bằng ngôn ngữ tượng trưng kỳ ảo, chúng thể hiện nhiều lớp ý nghĩa bên ngoài, bên trong và bí mật. Bức vẽ cho thấy lễ hỏa cúng của năm loại thịt đặc biệt được kết hợp để tạo ra những viên thuốc mang lại các thần thông siêu nhiên. Bức vẽ cho thấy năm loại thịt đang sôi trong bát sọ Bà la môn cùng năm loại thuốc trường sinh. Hộp sọ đặt trên hỏa đàn, ở trên một mandala lửa tam giác hướng xuống và một mandala gió hướng lên. Lễ Panchamamsa tương đồng trực tiếp với thực hành Munda Sadhana.

    Quan trọng hơn bất kỳ mục đích chính trị nào là mục đích tu luyện. Giả sử bạn muốn sử dụng pháp thuật quyến rũ, nếu thực hiện đúng nghi quỹ, hiệu quả đầu tiên là mọi phụ nữ hàng xóm sẽ bắt đầu thấy bạn hấp dẫn đến mức không thể cưỡng lại.”

    “Tôi đã đọc về điều này, một tài liệu còn nói họ thậm chí sẽ ùa đến với bạn “với dịch tiết dồi dào từ đôi môi yoni căng tràn lủng lẳng”, có nghĩa là khát ái được tạo ra bên trong họ bởi pháp thuật này sẽ hoàn toàn vượt qua sự e dè và khả năng tự chủ của họ.”

    “Vậy” tôi ngắt lời, “đây là một lại thuốc kích [dục] cực mạnh phải không?”

    “Không, việc phụ nữ trở nên hứng tình khi bị hiệu ứng này tác động không phải là điều thiết yếu, nhưng vì hầu hết mọi người đều tự đồng nhất mạnh mẽ bản ngã với cơ thể nên hầu hết phụ nữ chắc chắn sẽ trải nghiệm sự hấp dẫn tính dục này.”

    “Việc thu hút phụ nữ không khó lắm, phần khó khăn đến sau khi họ đã bị mê hoặc. Nếu tâm trí vững vàng, bạn sẽ không bị cám dỗ bởi những người đàn bà đang bị kích thích này, bạn sẽ tiếp tục nghi , biết rằng đang tiến triển. Chẳng bao lâu sau, sự cám dỗ sẽ lan sang các chúng sinh nữ khác, đặc biệt là phái nữ trong linh giới. Nếu có thể chống lại mọi cám dỗ mà họ đề nghị, thì cuối cùng bạn sẽ thu hút được sự chú ý của một nữ thần. Nếu vững tin ở bản thân, bạn có thể yêu cầu vị đó dạy bạn như một Bhairavi, nếu không, nên coi vị đó như thánh mẫu và không cho phép bất cứ điều gì liên quan đến dục ái xảy ra trong mối quan hệ này. Khi đó bạn đã thành công.”

    Wow.

    “Vậy bạn sẽ đồng ý rằng Sáu Pháp thuật có thể khá hữu ích?” Tôi quả thực nghĩ vậy. “Sự hứng tình chắc chắn là một cách để đạt được mục đích, nhưng theo kinh nghiệm của tôi, nó không tốt bằng tình yêu thuần khiết, vị tha. Thật khó để giữ tâm trí bình lặng khi một nữ Dạ Xoa (Yakshini) hay Mãng Xà công chúa (Naga Kanya) đang say đắm quấn chặt lấy cơ thể bạn, nhưng sẽ không có nguy cơ sa ngã khi bạn có thể chân thành nói với Thượng Đế: “Hãy biến con thành ả gái điếm xấu xí trong hàng ngàn kiếp, nếu ngài muốn, nhưng hãy luôn giữ con ở gần ngài.” Khi có thể thành thật nói điều này, bạn đã sẵn sàng trở thành một người sùng đạo đích thực.”

    “Bạn phải bắt đầu mọi nghi quỹ thực hành bằng giới luật, nhưng bạn không cần phải thực hành niyama vĩnh viễn. Sẽ có lúc bạn hoàn toàn đắm chìm trong thiền định đến nỗi luôn nhớ tới vị thần. Ở giai đoạn đó, bạn sẽ không thể nhớ mình đã trì tụng thần chú bao nhiêu biến, chứ đừng nói tới niyama. Cuối cùng, bạn thậm chí sẽ quên cả việc niệm chú. Nhưng đó là giai đoạn cao hơn nhiều.”

    “Hazrat Bulleh Shah, sau này trở thành một vị thánh vĩ đại, ngay từ những năm đầu sự nghiệp tu hành đã rất tận tâm tuân thủ một niyama nghiêm ngặt và theo dõi số lượng japa mà ông thực hiện. Ông đếm từng biến thần chú trên chuỗi tràng hạt (japamala) của mình, cho đến một ngày, ông tình cờ nghe được cô gái bán sữa đang nói chuyện với người bạn thân nhất. Cô bán sữa có thói quen cho người yêu uống sữa miễn phí, nên người bạn hỏi: “Cô không để ý xem anh ta uống bao nhiêu sữa sao? Có biết anh ta làm hao tổn bao nhiêu lợi nhuận của cô không?”

    “Cô gái vắt sữa đáp” “Tình yêu có thể tính toán được sao? Lợi nhuận của tôi chính là tình yêu chàng dành cho tôi.”

    “Hazrat Bulleh Shah ngồi chết lặng khi nghe điều này. Rồi ông nhìn vào tràng hạt, nghĩ: “Hôm nay cô gái bán sữa này đã dạy mình một điều. Nếu thực sự sùng mộ Thượng Đế, liệu mình có nên tính toán với ngài không? Mình thật ngu ngốc!” Ông lập tức vứt bỏ tràng hạt, không bao giờ dùng đến nó nữa.”

    “Khởi đầu tràng hạt rất có ích nên việc chú trọng đến số lần trì tụng là điều thiết yếu. Tuy nhiên, một khi lòng sùng mộ đã hiện hữu thường trực (tận hiến), những giới hạn sẽ mất đi ý nghĩa, sùng kính cũng giống như tình cảm lãng mạn, không có giới hạn nào về thời gian hay không gian. Nếu nhớ được số lần là bao nhiêu biến, bạn sẽ không còn dụng công cho lòng sùng kính nữa.”
  2. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Nyasa

    “Tuy nhiên hiện tại tôi biết số biến là bao nhiêu, mọi lễ anusthana và những thứ tương tự khác sẽ không chỉ giúp tôi thức tỉnh thần chú mà con giúp tôi phát triển lòng sùng mộ.”

    “Đúng vậy.”

    “Còn những thực hành nào mà tôi nên biết không?”

    “Còn, đó là nyasa. Rất ít người nói về nyasa, bời vì rất ít người biết về nó. Không có nyasa thì không có Tantra.”

    Nyasa là một vấn đề mà không ai có thể giải thích cho tôi rõ ràng chính xác, nên tôi bắt đầu chú ý kỹ hơn.

    “Nyasa xuất phát từ gốc tiếng Phạn nghĩa là “đặt vào”, giúp truyền linh năng từ vị thần bạn đang thờ vào bản thể bạn, bằng cách đặt vị thần đó vào trong thân thể bạn. Nếu đã tự thanh lọc đến một mức độ nào đó bằng cách loại bỏ phần lớn lớp bao phủ nặng nề toàn những những ô trược trong ý thức, bạn đã hòa tan một phần bản thể cũ của mình. Đây là một loại khandana (phá hủy). Giờ đây, linh thân của vị thần có thể được nhập vào trong bạn, các phần thân thể của ngài sẽ thay thế các phần linh thể mà bạn đã hòa tan hoặc quán tưởng đốt cháy bằng nghi quỹ thực hành của mình.”

    “Nyasa quan trọng vì nó cho phép bạn đồng nhất bản thân với vị thần của mình. Bạn càng nghĩ tới và quán tưởng vị thần nhiều thì ý thức của bạn càng trở nên tinh tế hơn. Khi suy nghĩ của bạn đã được chuyển hóa hoàn hảo, không còn pháp phá hủy các ham muốn, thì bản thể của bạn được chuyển hóa. Nyasa cũng giúp bạn bằng cách cân bằng năng lượng trong cơ thể vật lý rồi làm cho nó ổn định, khiến việc thờ phụng vững vàng hơn.”

    “Lòng kiên định luôn là điều tốt nhất trong sadhana. Đó là lý do tôi khuyến khích tất cả đệ tử của mình niệm thầm mật chú trong tâm trí. Niệm thầm mật chú là tốt nhất vì vấn đề phát âm, vã cũng vì nó tăng cường độ ổn định cho ý thức. Khi niệm một câu chú, không có gì trong cơ thể bạn chuyển động, không tay chân, không người, thậm chí cả lưỡi. Chỉ khi hoàn toàn tĩnh lặng và ổn định, năng lượng của mật chú mới có thể tràn ngập bạn, bất kỳ chuyển động nào cũng sẽ làm biến dạng tác dụng và khiến nó bị suy yếu.”

    “Còn những người cho rằng khi niệm chú, cơ thể bạn bắt đầu uốn éo kỳ lạ, chứng tỏ người thực hành đang tiến bộ thì sao?”

    “Tất cả những chuyện đó đều là vớ vẩn. Nếu đang hát kirtanbhajan (những bài hát sùng kính), bạn có thể bị ngập chìm trong lòng sùng mộ đến nỗi bắt đầu nhảy múa. Đó là điều tốt, nó cho tháy kirtan của bạn đang phát huy tác dụng. Kirtana thực chất có nghĩa là kartana (cắt đứt) nghiệp chướng, chữ “i” chỉ ra rằng nó được thực hiện bằng âm nhạc. Khi nghiệp chướng được cắt bỏ và bạn cảm thấy nhẹ nhàng hơn, chẳng phải bạn sẽ nhảy múa sao? Nhưng việc này không liên quan gì đến mantra sadhana, để thực hành tụng niệm mật chú thì cơ thể bạn phải vững chắc.”

    “Khi thực hiện đúng cách, nyasa có thể rất mạnh mẽ. Có lần ở trong rừng, tôi gặp một tu sĩ già nên đã kính cẩn chào ông. Ông ấy nổi giận: “Sao cậu không quỳ xuống chạm vào chân tôi để tỏ lòng kính ngưỡng như cậu biết mình nên làm, hả thằng nhóc con ngu ngốc hỗn láo?”

    Tôi nói: “Thưa ngài, tôi rất vui lòng làm như vậy, nhưng tôi đang bận thực hành nyasa. Nếu chạm vào chân, ngài sẽ gặp nguy hiểm, điều mà tôi không muốn thấy. Đó là lý do tôi không chạm vào chân ngài. Nếu ngài vẫn muốn, hãy đưa tôi đôi guốc gỗ của ngài rồi tôi sẽ cúi chào chúng.”

    “Khi ông ta làm vậy, tôi chạm vào chúng, khiến chúng lập tức tan thành tro bụi. Ông ấy đã gặp cú sốc lớn nhất đời, nhận ra đang đối diện với sức mạnh như thế nào. Tôi không tự nhận mình vĩ đại và đầy quyền năng. Đây chỉ là kết quả nhận được khi thực hành các pháp môn này đúng cách.”

    “Tôi nhớ ông từng nói rằng mỗi âm tiết trong kinh Veda phải được phát âm nhấn mạnh vào một bộ phận khác nhau của thân thể, đây có phải là một dạng nyasa không?”

    “Đúng vậy. Có rất nhiều thứ chỉ được nói bóng gió trong các kinh văn, đến nỗi hầu hết mọi người thậm chí không bao giờ thắc mắc về ý nghĩa ẩn giấu của chúng. Hãy luôn nhớ rằng cả Veda và Tantra đều gây thích thú với các biểu hiện bên ngoài, những thứ vốn chủ yếu làm biểu tượng cho quá trình diễn ra bên trong. Hãy xem xét điều này, giai đoạn nín thở của pranayama gọi là kumbhaka, xuất phát từ kumbha nghĩa là cái bình. Nhưng cái bình nào?”

    Tôi hoàn toàn không biết, chuyện này có vẻ khiến ông hơi khó chịu, vì tôi đã học Yoga nên chắc ông mong đợi tôi phải biết. Tuy nhiên, chưa có ai giải thích, vậy sao tôi biết được?

    “Ở đây, cái bình mà họ muốn nói đến là phần thân, ngực và bụng, nơi bạn có thể tích trữ prana. Bạn đã thấy người thợ gốm làm ra những chiếc bình như thế nào, ở đây, bạn tạo ra một chiếc bình bằng cách giữ cho cơ thể mình hoàn toàn ổn định. Khi điều này xảy ra, bạn có thể tiến đến giai đoạn kevala kumbhaka, khi hơi thở ngừng lại trong nhiều phút. Chỉ khi đạt được kevala kumbhaka, tâm trí bạn mới có thể trở nên vững chắc hoàn toàn, nhờ vậy mà sự thờ phụng của bạn sẽ vững vàng như tâm trí của bạn.”

    “Vậy đây là mục đích của pranayama sao?”

    “Pranayama đúng như tên gọi của nó, kiểm soát prana. Hầu hết các giáo viên Yoga đều nghĩ rằng từ này nghĩa là bạn nên kiểm soát prana bằng cách nín thở. Nhưng kumbhaka không có nghĩa là chủ động nín thở, nó có nghĩa là cân bằng giữa hít vào và thở ra sao cho chúng triệt tiêu lẫn nhau. Để kumbhaka có giá trị đối với bạn, nó phải được thực hiện tự nhiên, bạn phải học cách quên đi việc thở.”

    Tôi chưa bao giờ kể ông nghe chi tiết về chuyện tôi đã gắng sức như thế nào khi cố gắng nín thở theo cách Yoga được “chấp thuận”, nhưng tôi cho là ông vẫn biết. Đột nhiên tôi nhận ra hầu hết những người dạy Yoga thực sự hiểu biết rất ít về nó.”

    “Vì vậy, nói về pranayama, cái bình tượng trưng cho cơ thể. Nhưng đừng nghĩ rằng cái bình luôn luôn đại diện cho cơ thể. Không hề! Ý nghĩa của cái bình, hay bất cứ thứ gì khác, tùy thuộc vào thực hành cụ thể. Mỗi phần của nghi quỹ Tantra đều quan trọng, nhưng bạn không thể chỉ đoán mò, bạn phải biết chính xác ý nghĩa của nó.”

    “Chắc hẳn các bạn đã thấy trong các lễ thờ cúng chính thức luôn có việc thờ một chiếc bình. Trong lễ Nava Ratri, khi chúng ta thờ thánh mẫu, một chiếc bình là tâm điểm chú ý. Chiếc bình, ở đây được gọi là ghata, được truyền shakti, năng lượng tâm linh, trong quy trình gọi là Ghata Sthapana (thánh hóa chiếc bình). Vậy bạn nghĩ chiếc bình ở đây tượng trưng điều gì?”

    Tôi không liều lĩnh phỏng đoán.

    “Ở đây, chiếc bình tượng trưng cho đầu, chứa đầu cam lộ Amrita và các loại “nước cốt” hay hóc môn khác, giống như trong nghi thức, chiếc bình được đổ đầy nước trước khi shakti được truyền vào trong đó. Chúng ta thờ cúng chiếc bình để làm tâm trí mình vững vàng, và rót đầy shakti vào tâm trí khiến cho việc thờ cúng suốt Chín Đêm diễn ra hoàn toàn yên ổn.”

    “Điều này giúp đánh thức Kundalini một cách có kiểm soát?”

    “Chính xác. Ngay khi học được cách kiểm soát Kundalini, Shakti sẽ luôn sẵn sàng phục vụ bạn. Nhưng hãy nhớ, chỉ có ai hiểu được Shakti mới có khả năng kiểm soát năng lượng này. Nếu treo một thanh kiếm lên tường, nó có thể làm tổn thương một đứa bé đang cố chơi với nó hoặc một người giúp việc tới lau chùi. Chừng nào nó còn tồn tại, thậm chí hàng ngàn năm, thanh kiếm vẫn giữ nguyên bản tính vốn có của nó, là chém, cắt đứt. Đây là bài kiểm tra thực sự của shakti, không nên có bất cứ giới hạn nào về thời gian.”

    “Một lý do khác khiến việc kiểm soát Kundalini trở nên khó khăn?”

    “Bạn nên nói: “Tại sao việc đó lại gần như bất khả thi”, bởi vì phẩm chất của một người bình thường đơn giản là không đủ mạnh để đối phó với năng lượng vũ trụ. Đó là lý do tôi luôn nhắc đi nhắc lại rằng cách duy nhất an toàn để đánh thức và đưa Kundalini lên cao là nhân cách hóa năng lượng này. Biến Shakti thành một nữ thần rồi thờ phụng, kính yêu như thánh mẫu, thì mới được an toàn.”

    Vimalananda thường lui về ẩn cư trong suốt lễ Nava Ratri, nhịn ăn và tụng niệm thần chú, cầu khẩn Tara kính yêu của ông nhập vào và kích hoạt sinh lực cho ông. Tôi rất thích gặp ông vào ngày kết thúc khóa tu, vì trông ông thật rạng rỡ. Khuôn mặt ông tràn ngập hào quang xuất thế mãnh liệt, còn những bài giảng ông đưa ra trong tâm trạng rộng mở đó cũng đặc biệt thú vị. Lần này ông bắt đầu:

    “Ngay cả các yogi và sadhu cũng không tránh khỏi nộc độc của phàm ngã ahamkara. Một hôm, có người đang đọc câu thơ của Tulsidas, đột nhiên bạn tôi, Chotu nói: “Sao cậu tụng đọc những gì người đó nói như thế chính họ là người đã viết ra vậy? Nó họ thực sự thành tâm trong sự quy phục Thượng Đế, tại sao họ lại thêm tên của mình vào nhiều câu thơ như vậy? Có cần thiết phải viết đi viết lại những cụm từ như “Kabir nói”, “Raidas tin rằng”, hoặc “theo ý kiến của Tulsi” không? Nếu lời nói của họ thực sự là prasadika vani (thánh ngôn được ban truyền từ Thượng Đế) thì làm sao các nhà thơ có thể được coi là tác giả? Người kia không biết trả lời thế nào. Anh ta có thể nói gì đây? Chotu nói đúng, đôi khi anh ta nói những điều thật đáng kinh ngạc.”

    “Vì vậy, ngay cả khi thực hành sadhana mãnh liệt và phát triển lòng mộ đạo vô hạn như toàn bộ các vị thánh này đã làm, cũng không đảm bảo rằng ahamkara sẽ hoàn toàn được kiềm chế,” tôi đề xuất ý kiến.

    “Không có gì đảm bảo cả. Chừng nào còn duy trì sự tồn tại cá thể, ahamkara buộc phải đồng nhất với nhân cách cá nhân, dù chỉ ở mức độ rất nhỏ, và chỉ cần một suy nghĩ về “tôi” và “của tôi” cũng đủ để phá hỏng mọi thứ.”

    “Vậy giải pháp là gì?” tôi hỏi tuyệt vọng.

    “Giải pháp? Bạn biết giải pháp rồi đấy. Hãy phủ phục dưới chân Thượng Đế. Dâng hiến tất cả những gì bạn có cho ngài, kể cả sự tồn tại của chính bạn. Nếu sự dâng hiến chân thành, ngài sẽ chấp nhận rồi sẽ dẫn dắt con đường của bạn từ đó trở đi, miễn là bạn luôn nhớ đến ngài. Khoảnh khắc quên ngài, bạn suy thoái. Tôi đã nói nhiều lần, và tôi vẫn giữ vững quan điểm này, việc quy phục một vị Thượng Đế nhân hình dễ dàng hơn nhiều so với việc quy phục một hình thái vũ trụ nào đó. Trân trọng tính bao la của vũ trụ là tốt, nhưng làm sao bạn có thể lĩnh hội nó để tôn kính nó? Không thể! Nhưng bạn có thể nhận thức được Krishna, các Thánh Mẫu, hoặc bất kỳ ai khác và sùng bái họ.”
  3. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Thờ phụng tinh thần

    “Mặc dù có nhiều cách thờ phụng khác nhau, tôi luôn tin rằng cách tốt nhất là nên thờ trong nội tâm, nếu có thể. Cách thờ bằng vật chất luôn có những hạn chế, đặc biệt trong kỷ Kali này, khi ngay cả những người giỏi nhất cũng không phải lúc nào cũng thực hiện các nghi thức thờ bằng vật chất đúng đắn. Ngay cả tín độ thành thạo nhất cũng thỉnh thoảng mắc lỗi trong nghi thức của mình, ngay cả người có khả năng phát âm chuẩn nhất cũng đôi khi nói sai thần chú. Trong một số sadhana, nếu mắc phải dù chỉ một lỗi nhỏ, bạn sẽ “ra đi”. Để tránh mọi khả năng sai sót, tốt hơn là nên thờ bằng tinh thần thay vì vật chất. Không có vật phẩm nào để nhầm chỗ, không có tịnh thủy nào bị tràn, và không sợ mắc lỗi. Đây là điều các Tantra muốn nói khi kêu gọi “các lễ cúng dường quán tưởng”. Bạn có nghĩ việc này dễ dàng như vậy không? Ngày nay hầu hết các trường hợp chỉ còn lại hình thức bên ngoài, các kỹ thuật nội tại đã thất truyền, ngoại trừ số ít người được chọn.”

    “Bạn có thể thực hiện bất cứ dạng thờ cúng nào bằng tinh thần. Tôi đã dạy bạn cách thực hiện homa, điều đó không cần bàn cãi, nhưng hỏa cúng là một dạng thờ cúng bên ngoài, những hạn chế của nó cũng giống như mọi hình thức thờ cúng bên ngoài khác. Ban đầu, việc thờ cúng bên ngoài thường dễ dàng hơn vì bạn không cần phải quán tưởng mọi thứ mình dâng cúng, nhưng cuối cùng mọi người đều phải tiến triển từ thờ cúng bên ngoài tới thờ cúng bên trong. Giá trị đặc biệt của homa là nó thanh lọc nguyên tố Lửa, nguyên tố kiểm soát thị giác. Khi nguyên tố Lửa trong cơ thể tinh khiết hơn và Bhuta Agni của bạn tăng lên, khả năng quán tưởng của bạn, thứ vô cùng cần thiết cho việc thờ cúng bên trong, sẽ được cải thiện. Bạn sẽ học được khá nhiều điều về thờ cúng bên trong đến khi tôi dạy xong bạn.”

    “Hãy bắt đầu với hỏa cúng. Ngay cả khi bạn không thể thực hiện homa với lửa bên ngoài hàng ngày, và ngày nay có bao nhiều người có khả năng làm việc đó, thì bạn vẫn có thể thực hiện homa mỗi ngày và nhận được lợi ích từ nó nếu bạn dâng lên ngọn lửa tiêu hóa của mình khi mọi thứ được đưa vào miệng. Đúng vậy, nó không tinh khiết như ngọn lửa bên ngoài được chăm sóc kỹ lưỡng, nhưng nó luôn cháy, luôn sẵn sàng đón nhận lễ vật. Bạn thậm chí không cần bất cứ câu thần chú đặc biệt nào, chỉ cần dâng mỗi miếng ăn với câu chú mà bạn trì tụng hàng ngày, rồi xem kết quả. Đây là một hình thức thờ phụng tinh thần.”

    “Các tín đồ đi lễ đền, nhưng tôi tin rằng ngôi đền thực sự nằm trong tâm. Tại sao phải lãng phí thời gian thờ cúng những vật phẩm hữu hình trong khi bạn có mọi thứ mình cần trong chính tâm trí mình? Sự tập trung của bạn sẽ tốt hơn nhiều nếu thực hiện việc thờ cúng bên trong, do bạn không bị phân tâm như những việc làm phiền người thực hiện các nghi lễ bên ngoài, đó là nỗi lo lắng thường trực về việc tìm đúng thứ cần thiết vào đúng thời điểm, làm thất lạc vật phẩm, làm đổ pháp khí, vân vân. Việc tự nhận dạng sẽ dễ hơn khi tâm bạn không bị xao lãng bởi những thứ bên ngoài, ngay cả khi đó là các vật phẩm cúng dường. Bên trong, mọi thứ luôn sẵn sàng để sử dụng, nếu bạn chủ ý tìm kiếm chúng.”

    “Thật có ích khi thờ phụng trong một ngôi đền tràn đầy Shakti, nhưng ngày nay có bao nhiêu ngôi đền như vậy? Một ngôi đền chỉ có ích với bạn nếu lễ Prana Pratishtha của nó được thực hiện đúng cách. Prana Pratishtha là lễ truyền sinh lực vào tượng thần, làm cho nó có linh. Ngôi đền nào cũng đã thực hiện lễ Prana Pratishtha cho tượng thần được thờ trong đó, nhưng nếu lễ Prana Pratishtha không được thực hiện đúng cách, tượng thần sẽ không có linh. Bạn có thể kiểm tra điều này vào cuối lễ Prana Pratishtha khi một chiếc gương được đặt trước bức tượng, để vị thần được nhập vào trong tượng có thể nhìn thấy chính mình. Nếu nghi thức được thực hiện đúng cách, chiếc gương sẽ vỡ tan. Chỉ khi đó bạn mới có thể nói rằng tượng thần có linh lực, chứ không như trước đây.”

    “Ngay cả khi bức tượng không có linh lực, nó vẫn có thể đóng vai trò là tiêu điểm cho tâm trí bạn tập trung. Nhược điểm duy nhất của việc thờ bằng tinh thần là tâm trí không có điểm tập trung nào cho đến khi bạn tạo ra nó.”

    “Đây là một bất lợi lớn đối với mọi người?”

    “Đúng vậy. Nhiều người đến gặp tôi và nói họ có thể thiền từ một đến hai tiếng đồng hồ liên tục. Tôi nói luôn với họ: “trước tiên hãy học cách tập trung, sau đó bạn mới có thể thiền.” Hãy thử tập trung vào một thứ trong ba phút thôi, bạn sẽ thấy điều đó bất khả thi trừ khi đã có thời gian dài luyện tập. Sau đó, hãy thử quán tưởng giữ toàn bộ các vật phẩm cúng dường trong tâm trí trong một giờ hoặc hơn, thì bạn sẽ hiểu được nỗ lực cần thiết cho việc thờ bằng tinh thần thực tế ra sao. Nhưng chắc chắn nó rất đáng giá.”

    “Ngày xưa, có một người đàn ông nghèo tên là Bulaki Das làm thuê cho một địa chủ giàu có chỉ để kiếm chút cơm ăn. Ông ta có thói quen nghỉ giải lao nửa tiếng trước bữa trưa rồi tiến hành thờ phụng tinh thần. Sau một thời gian, ông thấy việc đó rất thú vị nên bắt đầu ngồi một giờ, hai giờ, ba giờ, có khi còn lâu hơn. Tất nhiên, những người làm thuê khác không biết ông đang làm gì nên rất phẫn nộ. Họ kể lại cho địa chủ, một hôm, người này ra đồng xem tận nơi.”

    “Thời xưa, chủ đất có thể làm bất cứ điều gì họ muốn với lao công, ở đây, khi chủ đất thấy Bulaki không làm việc bèn đá Bulaki một cú khá mạnh khiến ông ta tỉnh dậy từ trạng thái xuất thần rồi nói: “Trời, nhìn xem ngài đã làm gì! Tôi đang phân phát thực phẩm cho toàn thể chư thánh, chỉ còn lại sữa chua, nhưng giờ ngài đã phá hỏng rồi.” Nói xong ông mở bàn tay ra để cho thấy sữa chua rơi xuống đất. Sự tập trung của Bulaki mãnh liệt đến nỗi sữa chua thực sự được tạo ra, trong thế giới vật chất, như một kết quả từ việc thờ phụng tinh thần của ông.”

    “Khi chủ đất nhìn thấy vốc sữa chua rơi trên đất gần tay Bulaki, ông lập tức nhận ra sai lầm của mình, cúi đầu chào rồi bái Bulaki làm thầy. Cả hai đều trở thành thánh, thuộc phái Sant Sampradaya, như Dadu và Rajab.”

    “Không có gì cao hơn sự hoàn hảo trong việc thờ phụng bằng quán tưởng. Bạn thực sự có thể tạo ra bất cứ vật phẩm nào để cúng dường trong tâm trí, như Bulaki đã làm. Tất nhiên, bạn có nguy cơ trở thành kẻ vô dụng đối với thế giới, do niềm vui mà bạn nhận được từ trò chơi tinh thần mạnh mẽ hơn bất cứ thú vui thể xác nào mà bạn kinh nghiệm. Khi tiến bộ đủ xa trong việc thờ phụng bằng quán tưởng, vị thần của bạn sẽ đến và chơi cùng bạn, lúc ấy, bạn sẽ khiến tự ngã của mình tuyệt đối biến mất trong trò chơi đó. Tuyệt diệu!”

    “Nghe có vẻ quá đơn giản!” tôi tỏ ra nghi ngờ.

    “À, hãy hiểu thế này. Ngay cả một hành giả nhập môn cũng có thể thực hiện việc thờ cúng vật chất thông thường, adhibhautika, nhưng Kundalini phải được thức tỉnh ít nhất một phần nếu bạn muốn thực hiện thờ cúng quán tưởng, adhyatmika, vì chỉ khi Kundalini được đánh thức thì Bhuta Agni, lửa tâm linh, mới thực sự bùng cháy, nếu không có Bhuta Agni mạnh mẽ, bạn sẽ không bao giờ có thể tạo ra một linh ảnh rõ nét trong linh thể của mình. Nhưng cũng có một dạng thờ cúng khác: phần linh, hay adhidaivika.”

    “Giả sử bạn đang thờ thần Ganesha. Ở bên ngoài, bạn có thể cúng những thứ Ganesha thích, chẳng hạn như mía, vào ngọn lửa vật lý cùng với một câu thần chú thích hợp. Ở bên trong, bạn cúng dường mật chú Ganesha của mình vào ngọn lửa Bhuta Agni của bạn. Bạn phải sử dụng nữ thần riêng, Kula Kundalini, để thực hiện thờ phụng adhidaivika. Kula Kundalini là tối cần thiết cho phép cúng adhidaivika bởi vì chỉ có Kula Kundalini mới biết cách xác định vị trí của Ganesha.”

    “Nếu muốn thực hành adhidaivika, trước tiên hãy để Kundalini Shakti của bạn giáng xuống luân xa Muladhara, nơi bạn để nó tự đồng nhất với Ganesha, vị thần cai quản luân xa đó. Kundalini có thể tự đồng nhất với bất cứ thứ gì, nhờ sự tự đồng nhất hoàn chỉnh với Ganesha, nó thực sự trở thành Ganesha, sau đó chính Ganesha sẽ thực hiện việc thờ cúng. Chỉ khi vị thần hiện hữu trong chính thân thể thì bạn mới biết cách thờ cúng không sai sót. Lúc đó, bạn sẽ biết chính xác cách xoa dịu ngài, bởi vì bạn đã trở thành ngài.”

    Do đó các Tantra nói: “Trước hết hãy trở thành Shiva, sau đó hãy thờ Shiva.”

    “Làm sao bạn có thể hiểu được Shiva, nếu bạn không trở thành ngài?”

    Khi tôi định hỏi tiếp về vấn đề này thì vài vị khách đến nên Vimalananda đã khéo chuyển hướng cuộc trò chuyện. Rõ ràng ông muốn tôi làm việc này một lúc.
  4. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Ganesha

    Vimalananda đã trình bày những suy ngẫm của mình tại một ngôi đền thờ thần Ganesha. Tôi không còn nhớ đó là ngôi đền nào nữa, vì ông rất yêu thích Ganesha, chúng tôi thường đến thăm một số tượng thần đầu voi này. Khu vực xung quanh Pune đã gắn liền với việc thờ thần Ganesha trong nhiều thế kỷ, và Ganesha vẫn là một trong những vị thần được yêu mến nhất ở vùng đó.

    Sau khi kết thúc buổi cầu nguyện và đang thư giãn, ông bắt đầu nói chuyện với tôi như sau:

    “Bạn phải có khả năng đối phó với đủ loại cám dỗ khi bắt đầu thức tỉnh Kundalini, bởi vì prana của bạn sẽ cố gắng di chuyển theo những cách bất thường. Đây là lý do việc thực hành thiền Ganesha lại quan trọng đến vậy. Ganesha là Gana + Isha, chúa tể của đoàn tùy tùng. Thông thường mọi người nghĩ về ganas như các thần linh trong đoàn tùy tùng của Shiva, nhưng trong Kundalini Yoga, ganas là các giác quan. Ganesha là chúa tể của các giác quan, ngài cũng được gọi là Người diệt trừ các chướng ngại, bởi vì nếu ngài hài lòng với bạn, ngài sẽ loại bỏ mọi chướng ngại trên con đường Kundalini thăng lên.”

    (Minh họa Shiva Yantra & Ganesha Yantra)

    “Luân xa Muladhara, nơi Kundalini ngủ yên, là nơi ngự trị của nguyên tố Đất, của thân xác thô kệch, được cai quản bởi Ganesha. Đó là lý do tại sao bạn phải thờ Ganesha trước khi thờ bất kỳ vị thần nào khác. Bạn phải cầu khẩn Ganesha cho phép bạn vượt qua bản chất vật lý của mình, để siêu độ tâm thức bạn vào linh giới. Ân phúc của Ganesha là rất cần thiết để Kundalini có thể rời khỏi luân xa Muladhara. Tôi nghĩ bạn biết câu chuyện về sự ra đời của Ganesha rồi chứ?”

    Tôi biết. “Parvati, đại phu nhân của Shiva, đã tạo ra Ganesha từ bụi trên cơ thể mình để bảo vệ tính riêng tư khi bà tắm. Ganesha đang canh gác thì Shiva đến, muốn vào gặp vợ. Ganesha đã ngăn cản. Do Shiva không biết y là ai nên một trận chiến đã xảy ra, Shiva đã kết liệu cậu bé. Khi Parvati biết chuyện, bà vô cùng tức giận vì mất con và đe dọa sẽ hủy diệt toàn thể vũ trụ, và đã suýt làm vậy nếu Shiva không xoa dịu bà bằng cách thay thế cái đầu bị chặt của Ganesha bằng đầu của một con voi. Sau đó bà mới bình tĩnh lại.”

    “Vậy còn huyền nghĩa của câu chuyện thì sao?”

    “Tôi không chắc.”

    “Nên hỏi tôi về ẩn nghĩa. Cái tên Parvati có nghĩa là “người được sinh ra từ những ngọn núi”, trong trường hợp này, là chuỗi núi ám chỉ cột sống, bên trong đó có tủy. Parvati là Kundalini Shakti. “Chuỗi xích” là một từ thích hợp để dùng ở đây: khi bạn chưa đánh thức và giải phóng Kundalini, cột sống hoạt động như một chuỗi xích trói buộc bạn vào sự cuộc sống trần tục. Ganesha được tạo ra từ bụi trên cơ thể Parvati, nguyên tố Đất, liên quan đến luân xa Muladhara. Shiva, tâm thức cá thể, cố gắng phá vỡ để tiếp cận Kundalini đang ngủ yên bằng vũ lực, nhưng việc này việc này đe dọa đến sự tồn vong của hành giả, bởi vì Muladhara là gốc rễ của cơ thể. Khi Shiva nhận ra điều này, ngài đã tái tạo Muladhara với sự giúp đỡ của một con voi, loài nổi tiếng về trí thông minh.”

    “Nếu muốn đánh thức Kundalini, vậy tốt nhất hãy để trí tuệ này hướng dẫn thức tỉnh, thay vì như một con bò tót xông vào cửa hàng đồ sứ và tự tàn phá bản thân. Thay vì thiền về luân xa Muladhara và cố gắng cưỡng ép mở nó ra, khôn ngoan hơn là hãy chuyển hóa nó, nhờ sự trợ giúp của Ganesha.”

    “Giờ tôi có câu hỏi dành cho bạn: tại sao Shiva, đấng biết quá khứ, hiện tại và tương lai, chồng của Parvati, lại không thể nhận ra con trai mình?”

    Một câu hỏi hay. Tôi không thể trả lời.

    “Hãy suy nghĩ về chuyện này một chút. Ganesha là một trong những vị thần hiền lành nhất, nếu được tiếp cận đúng cách, ngài rất tốt bụng và ngọt ngào, nhưng ngài cũng có thể nổi giận, vì là một đứa trẻ. Bạn biết trẻ con sẽ như thế nào khi tức giận. Hãy nghĩ xem loài voi sẽ hung dữ ra sao khi chúng tức giận. Khi Ganesha mất bình tĩnh, ngài thay đổi trong khoảnh khắc từ Người diệt trừ chướng ngại thành Kẻ kiến tạo chướng ngại, thì bạn sẽ gặp rắc rối thực sự.”

    “Có lần tôi ban cho một người câu chú Ganesha, nói với ông ta sau 40 ngày niệm chú, Ganesha sẽ đến và đứng trước mặt ông. Không may là trước khi đủ 40 ngày, đã xảy ra sự cố khiến ông phá vỡ giới luật niyama, nên tôi yêu cầu ông niệm lại từ đầu. Cuối cùng, sau khi kết thúc 40 ngày vẫn không có gì xảy ra. Tôi nói với ông: “Bạn sắp thành công rồi, đừng dừng lại. Tiếp tục thêm vài ngày nữa thôi.”

    Ông ta nói: “Nghe này, toàn bộ chuyện này thật ngớ ngẩn, chẳng có gì đằng sau cả. Tôi không thể chịu đựng được việc phải xa vợ. Giờ tôi về nhà để tận hưởng một đêm lạc thú.”

    Tôi cảnh báo ông: “Bạn đã đi quá giới hạn rồi đấy. Thần Ganesha sẽ rất tức giận nếu bạn làm vậy, tôi sẽ không thể cứu bạn được. Hãy trì chú thêm ba ngày nữa thì tôi đảm bảo bạn sẽ thành công.”

    “Hắn còn muốn gì nữa? Chỉ có ba ngày thôi. Nhưng Mahakala, Tử Thần, chắc hẳn đã nắm lấy hắn. Hắn nói: “Không. Tôi không muốn nghe ông nói nữa. Tôi thực sự cần phải có chút hoan lạc. Tạm biệt!”

    “Ban đầu, người vợ cố gắng ngăn hắn trèo lên người mình, nhưng hắn vẫn cưỡng ép vợ theo cách của mình và tận hưởng cố ấy, hai lần. Thỏa mãn với công sức lao động của mình, hắn ngủ thiếp đi.”

    “Trong giấc mơ, hắn thấy một con voi giận dữ lao về phía mình. Hắn cố chạy trốn nhưng vô ích. Khi đuổi kịp, com voi dùng vòi quất mạnh vào hàm hắn. Sáng hôm sau, cả khuôn mặt và hàm của hắn sưng to gấp đôi kích thước bình thường. Hắn được đưa tới bệnh viện nhưng bác sĩ không tìm ra nguyên nhân. Tôi cũng đến viện, và trên giường bệnh, hắn hỏi tôi liệu có thể cứu được không, nhưng tôi không thể làm gì được, do hệ thần kinh đã bị tổn thương nghiêm trọng, đã quá muộn, hắn đã đi quá giới hạn nên đã chết đêm hôm đó. Sau kinh nghiệm này, tôi quyết định sẽ chỉ giúp đỡ mọi người trong việc tu luyện của riêng họ, sẽ không bao giờ đề xuất các sadhana mới cho bất cứ ai.”

    “Kỷ luật thép là cần thiết bất kỳ lúc nào bạn gắn kết với một sadhana, nếu không có nó, chắc chắn sẽ có sai lầm. Vì vậy, đừng thử hoàn thành một câu chú theo kiểu này trừ khi bạn đủ độ ngoan cố đến mức sẽ làm xong đến chung cuộc. Nếu bạn quyết định sẽ ăn thịt trong vài ngày (đang trong đợt chuyên tu), hoặc sẽ uống rượu hay quan hệ sinh lý, thì bạn sẽ bị hủy diệt. Bạn chẳng những sẽ không bao giờ thành công, mà còn phải đau khổ vì cố hành động tinh quái. Nếu tự biết ý chí có hạn thì tốt hơn hết là đừng làm gì cả. Phá vỡ giới nguyện rồi nói: “À, tôi sẽ cầu xin thượng Đế tha thứ và ngài sẽ làm ngơ”, thì chỉ tự lừa dối chính mình, không ai khác. Một khi đã cam kết thực hành một sadhana, bạn thực sự đang gặp nguy hiểm trừ khi bạn hoàn thành nó đúng cách.”

    “Ý ông là Thượng Đế sẽ không tha thứ cho bất kỳ sai sót nào?”

    “Dĩ nhiên là không! Thượng Đế luôn sẵn sàng tha thứ nếu bạn đến với ngài bằng lòng khiêm nhường. Nhưng chẳng có gì khiêm nhường trong kiểu tu luyện này, bạn đang đòi hỏi sự chú ý từ Thượng Đế. Bạn nói: “Nào, con muốn chơi với ngài theo điều kiện của ngài.” Nếu vậy thì tốt hơn bạn nên sẵn sàng đón nhận bất cứ điều gì ngài ban cho.”
  5. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    ÂM NHẠC

    Việc dạy tôi cách thờ Ganesha là một phần trong kết hoạch lớn của Vimalananda dành cho sự phát triển của tôi. Như ông giải thích: “Phương pháp của chúng ta rất có hệ thống, đầu tiên bạn thờ Ganesha, tại luân xa Muladhara, sau đó ngài cho phép bạn thờ mẹ ngài, Parvati, người hiển lộ thân tướng nhờ sự trợ giúp từ Kundalini Shakti của bạn. Parvati dạy bạn cách thờ chồng bà, Shiva, tại luân xa Ajna, và một khi thành tựu Shiva, ngài sẽ đưa bạn đến với Vishnu bằng một trong các hình tướng của ngài: Rama, Narayana, hay nếu bạn muốn và được định sẵn: Krishna, ở Goloka.”

    Vimalananda là một nhạc sĩ tài năng, cả về thanh nhạc lẫn nhạc cụ, nhiều buổi sáng tôi ngồi lặng lẽ hàng giờ lắng nghe ông luyện tập, đôi khi còn đệm đàn tanpura cho ông. Một hoặc hai lần một tuần, Narayanrao Indurkar, một nghệ sĩ chơ tabla nổi tiếng, sẽ đến đệm đàn cho ông, sau khi buổi tập kết thúc, tôi sẽ mời họ uống trà trong khi họ kể chuyện về các bậc thầy xưa. Chính sau một trong những buổi tập đó, khi Narayanrao đã rời đi, Vimalananda đã giới thiệu âm nhạc cho tôi như một phương pháp tu luyện.

    “Âm nhạc là gì?” ông hỏi gợi chuyện khi tôi châm cho ông điếu thuốc. “Từ thuở sơ khai, con người đã cố gắng tìm hiểu. Thứ gì có thể làm ta hài lòng bằng sự hòa âm của nó? Âm thanh, khi trở thành âm nhạc, là thứ duy nhất có thể chiếm hữu con người đến mức họ quên hết mọi e ngại, rồi chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi giữa cuộc sống quý giá này, họ nhảy múa. Đó mới là âm nhạc thực sự. “Nếu âm nhạc là thức ăn của tình yêu, hãy chơi đi!” Shakespeare, Đêm Thứ Mười Hai.”

    “Âm nhạc thật có cảm xúc trong đó, và nó là nguyên nhân các vị chân thánh yêu âm nhạc đến vậy, nó giúp họ hoàn thành công việc của mình. Shiva là nhịp điệu, là cha của âm nhạc, còn Shakti của ngài là mẹ của âm thanh hay nốt nhạc. Đứa con là Ganesha, là ca khúc: Nhịp điệu + Nốt nhạc = Ca khúc. Ganesha có đầu voi, vì vậy ngài không bao giờ quên, ngài nhớ mọi thứ, giống như thông qua âm nhạc bạn có thể nhớ lại con người thật của mình. Còn nhạc sĩ? Là con ong mang phấn hoa từ bông này sang bông khác, mang lại sự tạo sinh. Chính anh ta là người thực sự tận hưởng niềm vui sáng tạo này. Chư thần, đặc biệt là các hóa thân, avatars, là chư thiên sáng tạo và thưởng thức âm nhạc của các cõi trời.”

    Tôi từng đọc rằng các nhà khoa học đã phát hiện ra mặt trời đang rung lên, giống như một chiếc chuông có lẽ đó là một thành phần trong khía cạnh vật lý của “âm nhạc các cõi”, tôi tự nhủ.

    “Những bản nhạc vĩ đại nhất được sáng tác bởi gandharva, càn thát bà, các nhạc sĩ thiên giới tái sinh xuống hạ giới. Khi một gandharva giáng trần, họ không thể nhớ tiền thân của mình, nhưng trong tiềm thức lại khao khát trở về đó. Gandharva khó hòa nhập với người bình thường, cũng như con người khó hòa nhập với động vật, khiến hầu hết các gandharva đều sống cuộc đời khốn khổ, bị hiểu lầm. Nhiều nhạc sĩ vĩ đại của phương Tây là gandharva, như Beethoven, Brahms, hay Mozart. Ngay cả Strauss cũng là một gandharva, nhưng may mắn là ông có một cậu con trai nối nghiệp, người có thể hiểu ông.”

    “Mọi cảm xúc này đều đi vào âm nhạc. Một gandharva sẽ là một thần đồng, một nhạc sĩ ngay từ ban đầu, mọi thứ người đó sáng tác ra đều hay, bất kể anh ta học được thể loại nhạc nào trong đời. Hãy nghĩ đến Bêthoven, người đã sáng tác một số nhạc phẩm vĩ đại nhất của mình sau khi bị điếc. Ông ấy hẳn đã phải tập trung cao độ và có năng khiếu bẩm sinh cỡ nào!”

    “Gopal Naik là một gandharva, âm nhạc tuôn chảy trong từng thớ thịt bên trong cơ thể ông. Không may, ông sống vào thời hoàng đế Akbar, và Tansen, nhạc trưởng của Akbar, đã ghen tị với tài năng của ông đến nỗi đã lập mưu [giết] ông. Thi thể của Gopal bị vứt trong rừng sâu.”

    “Khi mẹ của Gopal Naik biết tin con trai mình bị sát hại, bà đã lên đường tìm kiếm hài cốt để hỏa táng. Khi mọi người hỏi: “Làm sao biết được bộ xương tìm thấy có phải là của con bà hay không?” Bà trả lời: “Âm nhạc thấm đẫm từng thớ xương của nó, tôi sẽ nhận ra.” Khi lang thang qua các khu rừng ở Bắc Ấn, bà áp sát tai vào từng khúc xương người tìm được rồi lắng nghe chăm chú.”

    “Cuối cùng một ngày nọ, bà nghe thấy tiếng nhạc yếu ớt phát ra từ một trong những khúc xương và nói: “Đây là xương Gopal của tôi.” Bà thu thập chúng lại rồi hỏa táng.”

    Câu chuyện này có thể là hư cấu nhưng Vimalananda không quan tâm đến tính chính xác sử liệu. Ông chỉ chú ý đến “tính xác thực cảm xúc”, chú trọng đến từng chi tiết cảm xúc sẽ khiến một câu chuyện chiếm trọn tâm hồn người đọc đến nỗi họ quên hết e dè và trong khoảnh khắc quý giá của cuộc đời, họ khóc từ tận đáy lòng.

    “Loại nhạc phù hợp đóng vai trò như một cách để mang ánh sáng vào ý thức của con người. Âm nhạc là biểu hiện của âm thanh, mà âm thanh tồn tại ở bất cứ nơi nào có năng lượng, nghĩa là nhiệt, là ánh sáng. Khi một bậc thành tựu nghe nhạc, ông có thể đồng nhất bản thân với nó, rồi bằng linh thể của mình, ông có thể đến bất kỳ nơi nào có nhạc. Khi một sadhu nghe nhạc, ông bị choáng ngợp bởi cảm xúc đến từ sự hưng phấn tột độ, mọi thứ bắt đầu xảy ra.”

    “Guru già Maharaj của tôi là người khôn ngoan nhất. Thông thường không ai có thể khai thác được gì từ ông. Nhưng nếu bạn đưa cho ông ấy loại nhạc phù hợp, ông sẽ trải nghiệm hạnh phúc tột cùng đến nỗi sẽ cho đi kết quả của nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ tu hành mà không hề hay biết. Chỉ khi cảm xúc qua đi, ông mới nhận ra mình đã làm gì.”

    “Có lần, tôi, guru và Bilimoria đã tiếp đón Acchan, hậu duệ của các nhạc công cung đình của Nawab Wajid Ali Shah xứ Oud. Waijd Ali Shah là một nhà cầm quyền, từng là một gandharva. Trên trần thế, ông trở thành một tín đồ sùng thượng Krishna, dù sinh ra là người Hồi giáo. Khi các nhạc công Kalika Prasad và Bindadin chơi nhạc cho ông nghe, ông sẽ nhập vào Bhava Samadhi, những cảm xúc thăng hoa, và Krishna sẽ nhập vào thân thể ông rồi nhảy múa. Walid Ali Shah là một chuyên gia về múa Kathak, tài nghệ này đã được truyền lại cho Acchan. Con trai ông, Birju, ngày nay là vũ công Kathak vĩ đại nhất toàn Ấn Độ.”

    “Acchan có gia thế tốt, tất cả chúng tôi đều mong chờ màn trình diễn của ông ấy. Sau khi đến, ông ngồi xuống rồi uống hết một chai rưỡi whisky, một mình. Sau một lúc khá lâu, chúng tôi hỏi liệu ông có vui lòng biểu diễn chút tài nghệ không, nhưng ông gắt gỏng: “Ai có thể chơi bộ gõ cho tôi?” Trong khi mọi người bàn bạc cách giải quyết vấn đề này, ông đã uống nốt nửa chai whisky thứ hai, tu trực tiếp từ chai.”

    “Đột nhiên sư phụ già kéo tôi sang bên rồi dặn chuẩn bị xe để đi dạo. Chúng tôi lái xe đến một cột đèn ở nam Bombay, dưới đó có một người hồi giáo đang đứng. Ông không nói gì, cũng chẳng ngẩng đầu lên, mà chỉ lên xe. Chúng tôi trở về nhà, khi Acchan thấy người đi cùng, ông khịt mũi: “Người có thể hòa tấu cùng tôi còn chưa sinh ra đâu.”

    “Xin được kể vắn tắt, người Hồi giáo đó không chỉ đệm nhạc cho Acchan, ông còn bắt đầu khiến Acchan múa theo giai điệu riêng của mình. Khi một nghệ sĩ chơi bộ gõ có thể làm được điều đó, quả thực tài năng của ông ta rất giỏi. Chúng tôi đều kinh ngạc và say mê trước tài năng nghệ thuật của Acchan, người thực sự vĩ đại, và đó là nhờ phép màu của người Hồi chơi tabla. Sư phụ già của tôi, một người yêu nhạc, đã vô cùng phấn khích. Cuối cùng, nước mắt Acchan trào ra: “Tôi sẽ trả bất cứ giá nào để người này đệm nhạc thường xuyên cho mình!” Nhưng sư phụ già của tôi nói: “Anh ấy không chơi nhạc vì tiền.”

    “Suốt thời gian đó, người chơi tabla không nói gì, cũng không ngẩng đầu lên. Anh ta cũng không ngẩng đầu lên khi tôi thả anh ta xuống cột đèn đã đón lúc đầu. Tôi nghi ngờ anh ta không phải là người, với cái cách chơi nhạc như vậy. Thật là một đêm kỳ lạ!”

    Sự im lặng bao trùm một lúc rồi lại tan biến.

    “Nếu âm nhạc có thể tác động mạnh đến người nghe như vậy, hãy nghĩ xem nó tác động thế nào đến người chơi nhạc. Một nhạc sĩ thực thụ sẽ hoàn toàn tận tâm với âm nhạc của mình. Tôi từng biết một người chơi đàn sarangi (đàn kéo dây Ấn Độ) luôn mang theo một cây tre bên mình mọi lúc mọi nơi. Ngay cả khi đi mua rau, ông cũng trả tiền bằng một tay, trong khi tay kia liên tục tập luyện các ngón trên cây tre, như thể đó là cần đàn sarangi của mình. Đó mới là sự tận tụy thực sự với âm nhạc, rất cần thiết trong sadhana nữa.”

    “Âm nhạc không nên là cái đích đối với bạn, nó chỉ nên là một sadhana, một phương tiện để đạt được mục tiêu. Mật chú là một cách sử dụng âm thanh trong tu luyện, âm nhạc là một cách khác. Veda là những mật chú được phổ nhạc, nhưng Veda quá xa vời đối với hầu hết chúng ta, trong khi âm nhạc thì ai cũng có thể tiếp cận. Nếu may mắn, nếu bạn đã nỗ lực trong các kiếp trước và Thượng Đế nhân từ với bạn, âm nhạc của bạn có thể đủ sức thu hút Thượng Đế đến với mình.”

    “Cho dù đó là nhạc phương Tây hay nhạc Ấn Độ?” tôi ngắt lời.

    “Tất nhiên rồi. Nhạc tôn giáo phương Tây rất hay, nhưng nó có giới hạn, nó chỉ có thể giúp bạn nhận ra tình cảm của người hầu dành cho chủ nhân, hoặc của con cái dành cho cha mẹ. Còn nhạc Ấn Độ có thể giúp bạn nhận ra thần tính của chính mình trong bất cứ mối quan hệ nào, với tư cách người hầi hay người cha, cũng có thể là người yêu, vợ chồng, bạn bè, con cái hay mẹ bạn.”

    “Cái hay của âm nhạc phương Tây là nhiều nhạc sĩ có thể cùng nhau hợp tác để tạo nên một bản giao hưởng nên thơ. Một nhạc sĩ Ấn Độ vẽ nên toàn bộ bức tranh âm nhạc của mình chỉ với một nhạc cụ duy nhất. Người Ấn Độ là những nghệ sĩ độc tấu giỏi, nhưng các dàn nhạc lớn không phát triển mạnh ở đây. Tuy nhiên suy cho cùng, việc thực hành sadhana nên được thực hiện một mình.”

Chia sẻ trang này