1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

AGHORA II: Kundalini

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi phunglam, 26/03/2026.

  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
  1. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    TANTRA

    Thời gian, Nhật thực, và Các đêm

    Thời trẻ, Vimalananda từng học chiêm tinh với Jina Chandra Suri, tôi thường xuyên chứng kiến khả năng đáng kinh ngạc của ông ấy trong việc lập lá số chính xác chỉ từ khuôn mặt của người đến thăm. Mặc dù chiêm tinh là phương pháp chẩn đoán được tôn trọng trong Ayurveda, nhưng nó không còn được giảng dạy trong các trường cao đẳng Ayurveda nữa, tôi vận hy vọng Vimalananda sẽ đích thân dạy tôi. Nhưng mỗi lần tôi xin được hướng dẫn, ông đều từ chối: “Bạn có những thứ quan trọng hơn cần học ngay lúc này.” Ông chỉ đồng ý dạy những khía cạnh của chiêm tinh mà ông cảm thấy sẽ có lợi ích thiết thực cho việc tu luyện của tôi.

    “Các bạn có nhớ ba nhà thông thái không?” một hôm ông bắt đầu câu chuyện.

    “Có: Balthazar, Melchior, Caspar” tôi tự tin đáp vì đã học tên họ ở trường Chủ nhật.

    “Đúng đó. Một người là dân Ai Cập, một là Assyria, còn lại là Babylon. Họ đều theo huyền môn Magi, có nguồn gốc từ Babylon, được thực hành ở cả ba quốc gia. Đó là một dạng Tantra. Ba người này đã thực hiện các phép tính độc lập. Khi gặp nhau trao đổi sổ ghi chép, họ nhận thấy đều đi đến cùng một kết luận: một nhà tiên tri sắp được sinh ra. Sau đó, họ lên đường theo ngôi sao dẫn lối, và đã tìm thấy chúa Jesu.”

    “Đây là một trường hợp đặc biệt, tất nhiên, nhưng nó cho thấy những lợi ích thiết thực của chiêm tinh học. Thực tế, kiến thức về thời gian có thể mang lại lợi ích theo nhiều cách khác nhau. Giả sử bạn tìm thấy một cây hoa trắng Lửa của Rừng hiếm gặp. Riêng việc này không dễ dàng, tôi chỉ tìm thấy hai cây như vậy trong toàn bang Maharashtra, và chúng quấn quýt lấy nhau. Tuy nhiên, nếu bạn tìm được một cây, và nếu bạn có thể lấy gỗ của nó trong thời khắc giao kết cung hoàng đạo nhất định, bạn có thể làm nên những điều kỳ diệu với nó, bạn thậm chí có thể bay. Nhưng bạn phải thu thập gỗ vào đúng thời điểm. Toàn bộ Tantra đều dựa trên thời gian. Nếu làm gì đó vào đúng thời điểm, bạn sẽ nhận được kết quả, nếu không thì hỏng.”

    “Bạn có nhớ đêm đầu tiên tham dự homa với tôi không?”

    “Tất nhiên.”

    “Bạn có nhớ chúng ta đã làm gì với phân bò không?”

    Tôi mất một lúc mới nhớ ra: “Chúng tôi lấy một ít phân bò, trộn với nước, cho vào chảo, rồi đặt một cái chày thẳng đứng vào trong đó.”

    “Rồi cái chày vẫn đứng thẳng suốt thời gian nhật thực diễn ra. Ngay khi nhật thực kế thúc, nó tự động đổ xuống. Bạn đã thấy điều đó, bạn giải thích thế nào? Các nhà khoa học sẽ giải thích ra sao?”

    “Tôi không biết.”

    “Chúng tôi giải thích chuyện này dựa trên những hiệu ứng trọng lực kỳ là mà nhật thực gây ra. Nhật thực rất tốt cho những người như bạn và tôi do hiệu ứng trọng lực của chúng nhân lên hiệu quả tu luyện. Nếu niệm thần chú một trăm lần trong thời gian nhật thực, nó giống như niệm một trăm ngàn lần vào một ngày bình thường. Nếu dâng một lễ vật vào lửa, nó giống như một ngàn lễ vật. Không gì sánh bằng thời gian này để cầu nguyện và thực hiện các nghĩ lễ cho tổ tiên đã khuất của bạn.”

    “Dĩ nhiên, bất cứ khoảng thời gian nào có sức mạnh lớn như vậy cũng có thể gây ra các ảnh hưởng tiêu cực, vì vậy cần có một số biện pháp phòng ngừa. Tuyệt đối không được nhìn vào nhật thực, tia sáng của nó có tác động gây rối loạn lớn đối với tâm trí. Phụ nữ mang thai thậm chí không nên ra ngoài trong thời gian nhật thực, kẻo con của họ bị ảnh hưởng. Không được ăn uống bất kỳ thứ gì, kể cả nước, trong suốt thời gian nhật thực diễn ra, càng lâu càng tốt, tối đa mười hai giờ trước và sau đó. Nếu có thể tuân thủ niyama này, bạn có thể biến bất cứ hiện tượng nhật thực nào thành lợi thế cho mình.”

    Ông đã kể cho tôi nghe mọi điều này trước đây rồi. Tôi kiên nhẫn chờ ông nói đến trọng điểm.

    “Nhật thực xảy ra không đều đặn, tất nhiên, bạn không thể dựa vào chúng. Nhưng may mắn thay, những thời điểm có thể dự đoán được để tăng cường tu luyện lại xảy ra hàng năm, vào tất cả các mùa. Ấn Độ là nơi tuyệt vời đến nỗi ngay cả các lễ hội cũng diễn ra vào những thời điểm mà việc thành công trong những cách thờ cúng cụ thể sẽ dễ dàng nhất. Các Rishi đã hệ thống hóa các lễ hội này để giúp các sadhaka có khả năng thiên nhĩ và thiên nhãn.”

    “Ví dụ thánh mẫu Maa, đại nữ thần, được thờ cúng vào ba kỳ chín đêm trong năm vì tại những khoảng thời gian đó, việc tiếp xúc với người dễ dàng nhất.”

    “Các vị Rishi hiểu rõ ảnh hưởng của các kỷ nguyên lên tâm trí chúng ta. Họ cũng biết rằng các giáo lý mà chúng ta vừ bàn luận quá phức tạp và khó hiểu đối với người bình thường, do đó họ đã tạo ra các lễ hội theo mùa. Khi người dân tham gia thường xuyên các lễ hội này, tâm trí họ trở nên tách rời khỏi những điều trần tục và hướng về đạo học, trong khi những người hiểu được ý nghĩa huyền bí của các lễ hội thì sử dụng chúng để thúc đẩy sự phát triển tâm linh của mình.”

    “Lễ hội mùa thu bắt đầu với Shravana, tháng mà Shiva được thờ cúng, cũng là tháng Krishna đản sinh. Sau đó là lễ hội Ganesha, tiếp theo là hai tuần cầu nguyện để an ủi vong linh tổ tiên. Khi cả Ganesha và tổ tiên đều hài lòng, Kundalini có thể được đánh thức an toàn, điều này diễn ra trong Nava Ratri, chín đêm thiêng dành cho nữ thần. Cuối cùng, chúng ta có Dipavali, lễ hội ánh sáng, thiêng liêng dành cho Vishnu dưới hình dạng Krishna, khi mỗi đốt của cột sống trở thành một điểm sáng rực rỡ, thuần khiết.”

    “Lễ hội mùa xuân cũng tương tự, bắt đầu với sinh nhật của Ganesha, tiếp theo là Maha Shiva Ratri, như các bạn đã biết, là đêm quan trọng nhất trong năm để thờ Shiva. Hai tuần sau là Hutashani, hay Holi, lễ hội mùa màng kỷ niệm việc thiêu sống nữ quỷ Holika, rồi hai tuần sau nữa lại bắt đầu Nava Ratri, đỉnh điểm là sự giáng sinh của Vishnu dưới hình dáng Rama. Ngày sinh nhật của Anjaneya, vị thần khỉ là hiện thân của Shiva, diễn ra sáu ngày sau đó.”

    “Trong các lễ hội này, có bốn đêm quan trọng (ratri) rất lý tưởng cho những người hành lễ như tôi vì chúng dành cho các hoạt động cụ thể. Đầu tiên là Maha Ratri, đêm vĩ đại, tức là Maha Shiva Ratri, diễn ra hàng năm vào đêm trước trăng non trong tháng Magha theo lịch âm (tháng hai hoặc ba). Thứ hai là Krura Ratri, đêm tàn bạo, tức là Holi, đêm trăng tròn tiếp theo sau Maha Ratri. Sau đó là Moha Ratri, đêm ảo ảnh, là đêm giáng sinh của Krishna. Krishna đã đánh lừa mọi người bằng Maya của ngài. Nó diễn ra vào tháng Sravana, thường là vào tháng tám. Cuối cùng là Kala Ratri, đêm đen, đêm ngay trước Dipavali, đêm trăng non của tháng Ashvin. Dipavali diễn ra vào tháng mười hoặc mười một.”

    “Vào ngày Maha Ratri, mọi người cố gắng thức suốt đêm, vì người ta nói rằng Shiva sẽ đến, chỉ trong chốc lát, với bất kỳ ai không ngủ chút nào. Nhưng Shiva quá thông minh đối với chúng ta, những người phàm trần, nên hầu hết những người này đều ngủ gật ít nhất một hoặc hai phút đúng lúc Shiva đến gần. Ngài cần thử thách những ai muốn gặp ngài phải không?”

    “Tôi đoán vậy.” Tôi đã thử cách này vài lần rồi, đúng như dự đoán, mỗi lần đều ngủ gật trong vài phút.

    “Lễ hội Kruna Ratri tưởng nhớ việc nữ quỷ Holika bị cháu trai thiêu sống. Holika sở hữu một chiếc áo choàng ma thuật có thể thiêu rụi bất cứ ai mặc nó. Anh trai bà, Hiranyakashi pu, cha của Prahlada đã ra lệnh cho bà ta giết Prahlada bằng cách khoác chiếc áo choàng lên vai cậu. Khi Holika bế Prahlada vào lòng, cậu nhận ra ý đồ của bà nên nhanh chóng chui ra khỏi áo choàng khi bà mở nó. Chiếc áo choàng rơi xuống người bà và thiêu sống bà.”

    “Cần một sức mạnh rất lớn để tiêu diệt Holika, loại sức mạnh đó dễ dàng có được nhất vào thời điểm này trong năm. Lễ hội Krura Ratri không có lợi ích gì, nhưng lại rất tốt cho những người thực hành ma thuật hắc ám, đặc biệt là Shat Prayoga, sáu nghi lễ gây ra cái chết, ảo giác, bất hòa, thù hận, cản trở và quyến rũ.”

    “Moha Ratri là ngày dành để thờ cúng Krishna, còn Kala Ratri là ngày tốt nhất để thực hiện các nghi thức chế ngự các hồn ma. Có thể cử hành nhiều việc vào ngày đó, ví như Munda Sadhana.”

    Munda nghĩa là sọ.

    “Bạn cần năm hộp sọ người cho lễ Munda Sadhana. Bốn sọ ở bốn góc hình vuông, một ở giữa. Giữa mỗi cặp sọ người, bạn đặt một sọ động vật. Sử dụng loại động vật nào tùy thuộc vào nghi lễ cụ thể bạn đang thực hiện và kết quả muốn đạt được. Khi tất cả sọ đã được đặt đúng vị trí, thẳng hàng đúng hướng, bạn cẩn thận phủ kín toàn bộ rồi ngồi lên. Sau đó bạn bắt đầu niệm chú. Đừng tự ý làm lễ này! Khi nào muốn bạn thực hiệnn Munda Sadhana, tôi sẽ nói bạn biết.”

    Mặc dù Munda Sadhana khiến tôi hứng thú, nhưng sẽ vô ích nếu cố hỏi thêm chi tiết từ ông, vì vậy một câu hỏi kahsc nảy sinh trong đầu tôi. Vimalananda đã trả lời trước khi tôi kịp hỏi:

    “Bạn đã nhiều lần hỏi tôi rằng: nếu Tantra phi thường như vậy, tại sao Sáu pháp thuật đen tồn tại. Đây là câu hỏi hay và có nhiều hơn một câu trả lời. Một lý do chúng tồn tại là để bảo vệ xã hội. Một pháp sư có trách nhiệm bảo vệ vương quốc mà mình đang sống, nên sáu pháp này có thể được sử dụng để trừng phạt kẻ thù của thành bang, gieo rắc bất hòa giữa các đối thủ, hoặc dụ dỗ những nhà cầm quyền đang dao động gia nhập liên minh. Do đó, chúng trở thành công cụ chính trị. Chúng cũng được sử dụng trong tình yêu, kinh doanh, vân vân, nhưng ít được bao biện hơn.”

    (Minh họa Panchamamsa)

    Pháp thuật Panchamamsa

    Trọng tâm của nhiều văn bản Tantra là các nghi lễ Panchamamsa, năm chữ M, và Panchamamsa, năm loại thịt có hương vị đặc biệt. Do những văn bản này trong Tantra được viết bằng ngôn ngữ tượng trưng kỳ ảo, chúng thể hiện nhiều lớp ý nghĩa bên ngoài, bên trong và bí mật. Bức vẽ cho thấy lễ hỏa cúng của năm loại thịt đặc biệt được kết hợp để tạo ra những viên thuốc mang lại các thần thông siêu nhiên. Bức vẽ cho thấy năm loại thịt đang sôi trong bát sọ Bà la môn cùng năm loại thuốc trường sinh. Hộp sọ đặt trên hỏa đàn, ở trên một mandala lửa tam giác hướng xuống và một mandala gió hướng lên. Lễ Panchamamsa tương đồng trực tiếp với thực hành Munda Sadhana.

    Quan trọng hơn bất kỳ mục đích chính trị nào là mục đích tu luyện. Giả sử bạn muốn sử dụng pháp thuật quyến rũ, nếu thực hiện đúng nghi quỹ, hiệu quả đầu tiên là mọi phụ nữ hàng xóm sẽ bắt đầu thấy bạn hấp dẫn đến mức không thể cưỡng lại.”

    “Tôi đã đọc về điều này, một tài liệu còn nói họ thậm chí sẽ ùa đến với bạn “với dịch tiết dồi dào từ đôi môi yoni căng tràn lủng lẳng”, có nghĩa là khát ái được tạo ra bên trong họ bởi pháp thuật này sẽ hoàn toàn vượt qua sự e dè và khả năng tự chủ của họ.”

    “Vậy” tôi ngắt lời, “đây là một lại thuốc kích [dục] cực mạnh phải không?”

    “Không, việc phụ nữ trở nên hứng tình khi bị hiệu ứng này tác động không phải là điều thiết yếu, nhưng vì hầu hết mọi người đều tự đồng nhất mạnh mẽ bản ngã với cơ thể nên hầu hết phụ nữ chắc chắn sẽ trải nghiệm sự hấp dẫn tính dục này.”

    “Việc thu hút phụ nữ không khó lắm, phần khó khăn đến sau khi họ đã bị mê hoặc. Nếu tâm trí vững vàng, bạn sẽ không bị cám dỗ bởi những người đàn bà đang bị kích thích này, bạn sẽ tiếp tục nghi , biết rằng đang tiến triển. Chẳng bao lâu sau, sự cám dỗ sẽ lan sang các chúng sinh nữ khác, đặc biệt là phái nữ trong linh giới. Nếu có thể chống lại mọi cám dỗ mà họ đề nghị, thì cuối cùng bạn sẽ thu hút được sự chú ý của một nữ thần. Nếu vững tin ở bản thân, bạn có thể yêu cầu vị đó dạy bạn như một Bhairavi, nếu không, nên coi vị đó như thánh mẫu và không cho phép bất cứ điều gì liên quan đến dục ái xảy ra trong mối quan hệ này. Khi đó bạn đã thành công.”

    Wow.

    “Vậy bạn sẽ đồng ý rằng Sáu Pháp thuật có thể khá hữu ích?” Tôi quả thực nghĩ vậy. “Sự hứng tình chắc chắn là một cách để đạt được mục đích, nhưng theo kinh nghiệm của tôi, nó không tốt bằng tình yêu thuần khiết, vị tha. Thật khó để giữ tâm trí bình lặng khi một nữ Dạ Xoa (Yakshini) hay Mãng Xà công chúa (Naga Kanya) đang say đắm quấn chặt lấy cơ thể bạn, nhưng sẽ không có nguy cơ sa ngã khi bạn có thể chân thành nói với Thượng Đế: “Hãy biến con thành ả gái điếm xấu xí trong hàng ngàn kiếp, nếu ngài muốn, nhưng hãy luôn giữ con ở gần ngài.” Khi có thể thành thật nói điều này, bạn đã sẵn sàng trở thành một người sùng đạo đích thực.”

    “Bạn phải bắt đầu mọi nghi quỹ thực hành bằng giới luật, nhưng bạn không cần phải thực hành niyama vĩnh viễn. Sẽ có lúc bạn hoàn toàn đắm chìm trong thiền định đến nỗi luôn nhớ tới vị thần. Ở giai đoạn đó, bạn sẽ không thể nhớ mình đã trì tụng thần chú bao nhiêu biến, chứ đừng nói tới niyama. Cuối cùng, bạn thậm chí sẽ quên cả việc niệm chú. Nhưng đó là giai đoạn cao hơn nhiều.”

    “Hazrat Bulleh Shah, sau này trở thành một vị thánh vĩ đại, ngay từ những năm đầu sự nghiệp tu hành đã rất tận tâm tuân thủ một niyama nghiêm ngặt và theo dõi số lượng japa mà ông thực hiện. Ông đếm từng biến thần chú trên chuỗi tràng hạt (japamala) của mình, cho đến một ngày, ông tình cờ nghe được cô gái bán sữa đang nói chuyện với người bạn thân nhất. Cô bán sữa có thói quen cho người yêu uống sữa miễn phí, nên người bạn hỏi: “Cô không để ý xem anh ta uống bao nhiêu sữa sao? Có biết anh ta làm hao tổn bao nhiêu lợi nhuận của cô không?”

    “Cô gái vắt sữa đáp” “Tình yêu có thể tính toán được sao? Lợi nhuận của tôi chính là tình yêu chàng dành cho tôi.”

    “Hazrat Bulleh Shah ngồi chết lặng khi nghe điều này. Rồi ông nhìn vào tràng hạt, nghĩ: “Hôm nay cô gái bán sữa này đã dạy mình một điều. Nếu thực sự sùng mộ Thượng Đế, liệu mình có nên tính toán với ngài không? Mình thật ngu ngốc!” Ông lập tức vứt bỏ tràng hạt, không bao giờ dùng đến nó nữa.”

    “Khởi đầu tràng hạt rất có ích nên việc chú trọng đến số lần trì tụng là điều thiết yếu. Tuy nhiên, một khi lòng sùng mộ đã hiện hữu thường trực (tận hiến), những giới hạn sẽ mất đi ý nghĩa, sùng kính cũng giống như tình cảm lãng mạn, không có giới hạn nào về thời gian hay không gian. Nếu nhớ được số lần là bao nhiêu biến, bạn sẽ không còn dụng công cho lòng sùng kính nữa.”
  2. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Nyasa

    “Tuy nhiên hiện tại tôi biết số biến là bao nhiêu, mọi lễ anusthana và những thứ tương tự khác sẽ không chỉ giúp tôi thức tỉnh thần chú mà con giúp tôi phát triển lòng sùng mộ.”

    “Đúng vậy.”

    “Còn những thực hành nào mà tôi nên biết không?”

    “Còn, đó là nyasa. Rất ít người nói về nyasa, bời vì rất ít người biết về nó. Không có nyasa thì không có Tantra.”

    Nyasa là một vấn đề mà không ai có thể giải thích cho tôi rõ ràng chính xác, nên tôi bắt đầu chú ý kỹ hơn.

    “Nyasa xuất phát từ gốc tiếng Phạn nghĩa là “đặt vào”, giúp truyền linh năng từ vị thần bạn đang thờ vào bản thể bạn, bằng cách đặt vị thần đó vào trong thân thể bạn. Nếu đã tự thanh lọc đến một mức độ nào đó bằng cách loại bỏ phần lớn lớp bao phủ nặng nề toàn những những ô trược trong ý thức, bạn đã hòa tan một phần bản thể cũ của mình. Đây là một loại khandana (phá hủy). Giờ đây, linh thân của vị thần có thể được nhập vào trong bạn, các phần thân thể của ngài sẽ thay thế các phần linh thể mà bạn đã hòa tan hoặc quán tưởng đốt cháy bằng nghi quỹ thực hành của mình.”

    “Nyasa quan trọng vì nó cho phép bạn đồng nhất bản thân với vị thần của mình. Bạn càng nghĩ tới và quán tưởng vị thần nhiều thì ý thức của bạn càng trở nên tinh tế hơn. Khi suy nghĩ của bạn đã được chuyển hóa hoàn hảo, không còn pháp phá hủy các ham muốn, thì bản thể của bạn được chuyển hóa. Nyasa cũng giúp bạn bằng cách cân bằng năng lượng trong cơ thể vật lý rồi làm cho nó ổn định, khiến việc thờ phụng vững vàng hơn.”

    “Lòng kiên định luôn là điều tốt nhất trong sadhana. Đó là lý do tôi khuyến khích tất cả đệ tử của mình niệm thầm mật chú trong tâm trí. Niệm thầm mật chú là tốt nhất vì vấn đề phát âm, vã cũng vì nó tăng cường độ ổn định cho ý thức. Khi niệm một câu chú, không có gì trong cơ thể bạn chuyển động, không tay chân, không người, thậm chí cả lưỡi. Chỉ khi hoàn toàn tĩnh lặng và ổn định, năng lượng của mật chú mới có thể tràn ngập bạn, bất kỳ chuyển động nào cũng sẽ làm biến dạng tác dụng và khiến nó bị suy yếu.”

    “Còn những người cho rằng khi niệm chú, cơ thể bạn bắt đầu uốn éo kỳ lạ, chứng tỏ người thực hành đang tiến bộ thì sao?”

    “Tất cả những chuyện đó đều là vớ vẩn. Nếu đang hát kirtanbhajan (những bài hát sùng kính), bạn có thể bị ngập chìm trong lòng sùng mộ đến nỗi bắt đầu nhảy múa. Đó là điều tốt, nó cho tháy kirtan của bạn đang phát huy tác dụng. Kirtana thực chất có nghĩa là kartana (cắt đứt) nghiệp chướng, chữ “i” chỉ ra rằng nó được thực hiện bằng âm nhạc. Khi nghiệp chướng được cắt bỏ và bạn cảm thấy nhẹ nhàng hơn, chẳng phải bạn sẽ nhảy múa sao? Nhưng việc này không liên quan gì đến mantra sadhana, để thực hành tụng niệm mật chú thì cơ thể bạn phải vững chắc.”

    “Khi thực hiện đúng cách, nyasa có thể rất mạnh mẽ. Có lần ở trong rừng, tôi gặp một tu sĩ già nên đã kính cẩn chào ông. Ông ấy nổi giận: “Sao cậu không quỳ xuống chạm vào chân tôi để tỏ lòng kính ngưỡng như cậu biết mình nên làm, hả thằng nhóc con ngu ngốc hỗn láo?”

    Tôi nói: “Thưa ngài, tôi rất vui lòng làm như vậy, nhưng tôi đang bận thực hành nyasa. Nếu chạm vào chân, ngài sẽ gặp nguy hiểm, điều mà tôi không muốn thấy. Đó là lý do tôi không chạm vào chân ngài. Nếu ngài vẫn muốn, hãy đưa tôi đôi guốc gỗ của ngài rồi tôi sẽ cúi chào chúng.”

    “Khi ông ta làm vậy, tôi chạm vào chúng, khiến chúng lập tức tan thành tro bụi. Ông ấy đã gặp cú sốc lớn nhất đời, nhận ra đang đối diện với sức mạnh như thế nào. Tôi không tự nhận mình vĩ đại và đầy quyền năng. Đây chỉ là kết quả nhận được khi thực hành các pháp môn này đúng cách.”

    “Tôi nhớ ông từng nói rằng mỗi âm tiết trong kinh Veda phải được phát âm nhấn mạnh vào một bộ phận khác nhau của thân thể, đây có phải là một dạng nyasa không?”

    “Đúng vậy. Có rất nhiều thứ chỉ được nói bóng gió trong các kinh văn, đến nỗi hầu hết mọi người thậm chí không bao giờ thắc mắc về ý nghĩa ẩn giấu của chúng. Hãy luôn nhớ rằng cả Veda và Tantra đều gây thích thú với các biểu hiện bên ngoài, những thứ vốn chủ yếu làm biểu tượng cho quá trình diễn ra bên trong. Hãy xem xét điều này, giai đoạn nín thở của pranayama gọi là kumbhaka, xuất phát từ kumbha nghĩa là cái bình. Nhưng cái bình nào?”

    Tôi hoàn toàn không biết, chuyện này có vẻ khiến ông hơi khó chịu, vì tôi đã học Yoga nên chắc ông mong đợi tôi phải biết. Tuy nhiên, chưa có ai giải thích, vậy sao tôi biết được?

    “Ở đây, cái bình mà họ muốn nói đến là phần thân, ngực và bụng, nơi bạn có thể tích trữ prana. Bạn đã thấy người thợ gốm làm ra những chiếc bình như thế nào, ở đây, bạn tạo ra một chiếc bình bằng cách giữ cho cơ thể mình hoàn toàn ổn định. Khi điều này xảy ra, bạn có thể tiến đến giai đoạn kevala kumbhaka, khi hơi thở ngừng lại trong nhiều phút. Chỉ khi đạt được kevala kumbhaka, tâm trí bạn mới có thể trở nên vững chắc hoàn toàn, nhờ vậy mà sự thờ phụng của bạn sẽ vững vàng như tâm trí của bạn.”

    “Vậy đây là mục đích của pranayama sao?”

    “Pranayama đúng như tên gọi của nó, kiểm soát prana. Hầu hết các giáo viên Yoga đều nghĩ rằng từ này nghĩa là bạn nên kiểm soát prana bằng cách nín thở. Nhưng kumbhaka không có nghĩa là chủ động nín thở, nó có nghĩa là cân bằng giữa hít vào và thở ra sao cho chúng triệt tiêu lẫn nhau. Để kumbhaka có giá trị đối với bạn, nó phải được thực hiện tự nhiên, bạn phải học cách quên đi việc thở.”

    Tôi chưa bao giờ kể ông nghe chi tiết về chuyện tôi đã gắng sức như thế nào khi cố gắng nín thở theo cách Yoga được “chấp thuận”, nhưng tôi cho là ông vẫn biết. Đột nhiên tôi nhận ra hầu hết những người dạy Yoga thực sự hiểu biết rất ít về nó.”

    “Vì vậy, nói về pranayama, cái bình tượng trưng cho cơ thể. Nhưng đừng nghĩ rằng cái bình luôn luôn đại diện cho cơ thể. Không hề! Ý nghĩa của cái bình, hay bất cứ thứ gì khác, tùy thuộc vào thực hành cụ thể. Mỗi phần của nghi quỹ Tantra đều quan trọng, nhưng bạn không thể chỉ đoán mò, bạn phải biết chính xác ý nghĩa của nó.”

    “Chắc hẳn các bạn đã thấy trong các lễ thờ cúng chính thức luôn có việc thờ một chiếc bình. Trong lễ Nava Ratri, khi chúng ta thờ thánh mẫu, một chiếc bình là tâm điểm chú ý. Chiếc bình, ở đây được gọi là ghata, được truyền shakti, năng lượng tâm linh, trong quy trình gọi là Ghata Sthapana (thánh hóa chiếc bình). Vậy bạn nghĩ chiếc bình ở đây tượng trưng điều gì?”

    Tôi không liều lĩnh phỏng đoán.

    “Ở đây, chiếc bình tượng trưng cho đầu, chứa đầu cam lộ Amrita và các loại “nước cốt” hay hóc môn khác, giống như trong nghi thức, chiếc bình được đổ đầy nước trước khi shakti được truyền vào trong đó. Chúng ta thờ cúng chiếc bình để làm tâm trí mình vững vàng, và rót đầy shakti vào tâm trí khiến cho việc thờ cúng suốt Chín Đêm diễn ra hoàn toàn yên ổn.”

    “Điều này giúp đánh thức Kundalini một cách có kiểm soát?”

    “Chính xác. Ngay khi học được cách kiểm soát Kundalini, Shakti sẽ luôn sẵn sàng phục vụ bạn. Nhưng hãy nhớ, chỉ có ai hiểu được Shakti mới có khả năng kiểm soát năng lượng này. Nếu treo một thanh kiếm lên tường, nó có thể làm tổn thương một đứa bé đang cố chơi với nó hoặc một người giúp việc tới lau chùi. Chừng nào nó còn tồn tại, thậm chí hàng ngàn năm, thanh kiếm vẫn giữ nguyên bản tính vốn có của nó, là chém, cắt đứt. Đây là bài kiểm tra thực sự của shakti, không nên có bất cứ giới hạn nào về thời gian.”

    “Một lý do khác khiến việc kiểm soát Kundalini trở nên khó khăn?”

    “Bạn nên nói: “Tại sao việc đó lại gần như bất khả thi”, bởi vì phẩm chất của một người bình thường đơn giản là không đủ mạnh để đối phó với năng lượng vũ trụ. Đó là lý do tôi luôn nhắc đi nhắc lại rằng cách duy nhất an toàn để đánh thức và đưa Kundalini lên cao là nhân cách hóa năng lượng này. Biến Shakti thành một nữ thần rồi thờ phụng, kính yêu như thánh mẫu, thì mới được an toàn.”

    Vimalananda thường lui về ẩn cư trong suốt lễ Nava Ratri, nhịn ăn và tụng niệm thần chú, cầu khẩn Tara kính yêu của ông nhập vào và kích hoạt sinh lực cho ông. Tôi rất thích gặp ông vào ngày kết thúc khóa tu, vì trông ông thật rạng rỡ. Khuôn mặt ông tràn ngập hào quang xuất thế mãnh liệt, còn những bài giảng ông đưa ra trong tâm trạng rộng mở đó cũng đặc biệt thú vị. Lần này ông bắt đầu:

    “Ngay cả các yogi và sadhu cũng không tránh khỏi nộc độc của phàm ngã ahamkara. Một hôm, có người đang đọc câu thơ của Tulsidas, đột nhiên bạn tôi, Chotu nói: “Sao cậu tụng đọc những gì người đó nói như thế chính họ là người đã viết ra vậy? Nó họ thực sự thành tâm trong sự quy phục Thượng Đế, tại sao họ lại thêm tên của mình vào nhiều câu thơ như vậy? Có cần thiết phải viết đi viết lại những cụm từ như “Kabir nói”, “Raidas tin rằng”, hoặc “theo ý kiến của Tulsi” không? Nếu lời nói của họ thực sự là prasadika vani (thánh ngôn được ban truyền từ Thượng Đế) thì làm sao các nhà thơ có thể được coi là tác giả? Người kia không biết trả lời thế nào. Anh ta có thể nói gì đây? Chotu nói đúng, đôi khi anh ta nói những điều thật đáng kinh ngạc.”

    “Vì vậy, ngay cả khi thực hành sadhana mãnh liệt và phát triển lòng mộ đạo vô hạn như toàn bộ các vị thánh này đã làm, cũng không đảm bảo rằng ahamkara sẽ hoàn toàn được kiềm chế,” tôi đề xuất ý kiến.

    “Không có gì đảm bảo cả. Chừng nào còn duy trì sự tồn tại cá thể, ahamkara buộc phải đồng nhất với nhân cách cá nhân, dù chỉ ở mức độ rất nhỏ, và chỉ cần một suy nghĩ về “tôi” và “của tôi” cũng đủ để phá hỏng mọi thứ.”

    “Vậy giải pháp là gì?” tôi hỏi tuyệt vọng.

    “Giải pháp? Bạn biết giải pháp rồi đấy. Hãy phủ phục dưới chân Thượng Đế. Dâng hiến tất cả những gì bạn có cho ngài, kể cả sự tồn tại của chính bạn. Nếu sự dâng hiến chân thành, ngài sẽ chấp nhận rồi sẽ dẫn dắt con đường của bạn từ đó trở đi, miễn là bạn luôn nhớ đến ngài. Khoảnh khắc quên ngài, bạn suy thoái. Tôi đã nói nhiều lần, và tôi vẫn giữ vững quan điểm này, việc quy phục một vị Thượng Đế nhân hình dễ dàng hơn nhiều so với việc quy phục một hình thái vũ trụ nào đó. Trân trọng tính bao la của vũ trụ là tốt, nhưng làm sao bạn có thể lĩnh hội nó để tôn kính nó? Không thể! Nhưng bạn có thể nhận thức được Krishna, các Thánh Mẫu, hoặc bất kỳ ai khác và sùng bái họ.”
  3. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Thờ phụng tinh thần

    “Mặc dù có nhiều cách thờ phụng khác nhau, tôi luôn tin rằng cách tốt nhất là nên thờ trong nội tâm, nếu có thể. Cách thờ bằng vật chất luôn có những hạn chế, đặc biệt trong kỷ Kali này, khi ngay cả những người giỏi nhất cũng không phải lúc nào cũng thực hiện các nghi thức thờ bằng vật chất đúng đắn. Ngay cả tín độ thành thạo nhất cũng thỉnh thoảng mắc lỗi trong nghi thức của mình, ngay cả người có khả năng phát âm chuẩn nhất cũng đôi khi nói sai thần chú. Trong một số sadhana, nếu mắc phải dù chỉ một lỗi nhỏ, bạn sẽ “ra đi”. Để tránh mọi khả năng sai sót, tốt hơn là nên thờ bằng tinh thần thay vì vật chất. Không có vật phẩm nào để nhầm chỗ, không có tịnh thủy nào bị tràn, và không sợ mắc lỗi. Đây là điều các Tantra muốn nói khi kêu gọi “các lễ cúng dường quán tưởng”. Bạn có nghĩ việc này dễ dàng như vậy không? Ngày nay hầu hết các trường hợp chỉ còn lại hình thức bên ngoài, các kỹ thuật nội tại đã thất truyền, ngoại trừ số ít người được chọn.”

    “Bạn có thể thực hiện bất cứ dạng thờ cúng nào bằng tinh thần. Tôi đã dạy bạn cách thực hiện homa, điều đó không cần bàn cãi, nhưng hỏa cúng là một dạng thờ cúng bên ngoài, những hạn chế của nó cũng giống như mọi hình thức thờ cúng bên ngoài khác. Ban đầu, việc thờ cúng bên ngoài thường dễ dàng hơn vì bạn không cần phải quán tưởng mọi thứ mình dâng cúng, nhưng cuối cùng mọi người đều phải tiến triển từ thờ cúng bên ngoài tới thờ cúng bên trong. Giá trị đặc biệt của homa là nó thanh lọc nguyên tố Lửa, nguyên tố kiểm soát thị giác. Khi nguyên tố Lửa trong cơ thể tinh khiết hơn và Bhuta Agni của bạn tăng lên, khả năng quán tưởng của bạn, thứ vô cùng cần thiết cho việc thờ cúng bên trong, sẽ được cải thiện. Bạn sẽ học được khá nhiều điều về thờ cúng bên trong đến khi tôi dạy xong bạn.”

    “Hãy bắt đầu với hỏa cúng. Ngay cả khi bạn không thể thực hiện homa với lửa bên ngoài hàng ngày, và ngày nay có bao nhiều người có khả năng làm việc đó, thì bạn vẫn có thể thực hiện homa mỗi ngày và nhận được lợi ích từ nó nếu bạn dâng lên ngọn lửa tiêu hóa của mình khi mọi thứ được đưa vào miệng. Đúng vậy, nó không tinh khiết như ngọn lửa bên ngoài được chăm sóc kỹ lưỡng, nhưng nó luôn cháy, luôn sẵn sàng đón nhận lễ vật. Bạn thậm chí không cần bất cứ câu thần chú đặc biệt nào, chỉ cần dâng mỗi miếng ăn với câu chú mà bạn trì tụng hàng ngày, rồi xem kết quả. Đây là một hình thức thờ phụng tinh thần.”

    “Các tín đồ đi lễ đền, nhưng tôi tin rằng ngôi đền thực sự nằm trong tâm. Tại sao phải lãng phí thời gian thờ cúng những vật phẩm hữu hình trong khi bạn có mọi thứ mình cần trong chính tâm trí mình? Sự tập trung của bạn sẽ tốt hơn nhiều nếu thực hiện việc thờ cúng bên trong, do bạn không bị phân tâm như những việc làm phiền người thực hiện các nghi lễ bên ngoài, đó là nỗi lo lắng thường trực về việc tìm đúng thứ cần thiết vào đúng thời điểm, làm thất lạc vật phẩm, làm đổ pháp khí, vân vân. Việc tự nhận dạng sẽ dễ hơn khi tâm bạn không bị xao lãng bởi những thứ bên ngoài, ngay cả khi đó là các vật phẩm cúng dường. Bên trong, mọi thứ luôn sẵn sàng để sử dụng, nếu bạn chủ ý tìm kiếm chúng.”

    “Thật có ích khi thờ phụng trong một ngôi đền tràn đầy Shakti, nhưng ngày nay có bao nhiêu ngôi đền như vậy? Một ngôi đền chỉ có ích với bạn nếu lễ Prana Pratishtha của nó được thực hiện đúng cách. Prana Pratishtha là lễ truyền sinh lực vào tượng thần, làm cho nó có linh. Ngôi đền nào cũng đã thực hiện lễ Prana Pratishtha cho tượng thần được thờ trong đó, nhưng nếu lễ Prana Pratishtha không được thực hiện đúng cách, tượng thần sẽ không có linh. Bạn có thể kiểm tra điều này vào cuối lễ Prana Pratishtha khi một chiếc gương được đặt trước bức tượng, để vị thần được nhập vào trong tượng có thể nhìn thấy chính mình. Nếu nghi thức được thực hiện đúng cách, chiếc gương sẽ vỡ tan. Chỉ khi đó bạn mới có thể nói rằng tượng thần có linh lực, chứ không như trước đây.”

    “Ngay cả khi bức tượng không có linh lực, nó vẫn có thể đóng vai trò là tiêu điểm cho tâm trí bạn tập trung. Nhược điểm duy nhất của việc thờ bằng tinh thần là tâm trí không có điểm tập trung nào cho đến khi bạn tạo ra nó.”

    “Đây là một bất lợi lớn đối với mọi người?”

    “Đúng vậy. Nhiều người đến gặp tôi và nói họ có thể thiền từ một đến hai tiếng đồng hồ liên tục. Tôi nói luôn với họ: “trước tiên hãy học cách tập trung, sau đó bạn mới có thể thiền.” Hãy thử tập trung vào một thứ trong ba phút thôi, bạn sẽ thấy điều đó bất khả thi trừ khi đã có thời gian dài luyện tập. Sau đó, hãy thử quán tưởng giữ toàn bộ các vật phẩm cúng dường trong tâm trí trong một giờ hoặc hơn, thì bạn sẽ hiểu được nỗ lực cần thiết cho việc thờ bằng tinh thần thực tế ra sao. Nhưng chắc chắn nó rất đáng giá.”

    “Ngày xưa, có một người đàn ông nghèo tên là Bulaki Das làm thuê cho một địa chủ giàu có chỉ để kiếm chút cơm ăn. Ông ta có thói quen nghỉ giải lao nửa tiếng trước bữa trưa rồi tiến hành thờ phụng tinh thần. Sau một thời gian, ông thấy việc đó rất thú vị nên bắt đầu ngồi một giờ, hai giờ, ba giờ, có khi còn lâu hơn. Tất nhiên, những người làm thuê khác không biết ông đang làm gì nên rất phẫn nộ. Họ kể lại cho địa chủ, một hôm, người này ra đồng xem tận nơi.”

    “Thời xưa, chủ đất có thể làm bất cứ điều gì họ muốn với lao công, ở đây, khi chủ đất thấy Bulaki không làm việc bèn đá Bulaki một cú khá mạnh khiến ông ta tỉnh dậy từ trạng thái xuất thần rồi nói: “Trời, nhìn xem ngài đã làm gì! Tôi đang phân phát thực phẩm cho toàn thể chư thánh, chỉ còn lại sữa chua, nhưng giờ ngài đã phá hỏng rồi.” Nói xong ông mở bàn tay ra để cho thấy sữa chua rơi xuống đất. Sự tập trung của Bulaki mãnh liệt đến nỗi sữa chua thực sự được tạo ra, trong thế giới vật chất, như một kết quả từ việc thờ phụng tinh thần của ông.”

    “Khi chủ đất nhìn thấy vốc sữa chua rơi trên đất gần tay Bulaki, ông lập tức nhận ra sai lầm của mình, cúi đầu chào rồi bái Bulaki làm thầy. Cả hai đều trở thành thánh, thuộc phái Sant Sampradaya, như Dadu và Rajab.”

    “Không có gì cao hơn sự hoàn hảo trong việc thờ phụng bằng quán tưởng. Bạn thực sự có thể tạo ra bất cứ vật phẩm nào để cúng dường trong tâm trí, như Bulaki đã làm. Tất nhiên, bạn có nguy cơ trở thành kẻ vô dụng đối với thế giới, do niềm vui mà bạn nhận được từ trò chơi tinh thần mạnh mẽ hơn bất cứ thú vui thể xác nào mà bạn kinh nghiệm. Khi tiến bộ đủ xa trong việc thờ phụng bằng quán tưởng, vị thần của bạn sẽ đến và chơi cùng bạn, lúc ấy, bạn sẽ khiến tự ngã của mình tuyệt đối biến mất trong trò chơi đó. Tuyệt diệu!”

    “Nghe có vẻ quá đơn giản!” tôi tỏ ra nghi ngờ.

    “À, hãy hiểu thế này. Ngay cả một hành giả nhập môn cũng có thể thực hiện việc thờ cúng vật chất thông thường, adhibhautika, nhưng Kundalini phải được thức tỉnh ít nhất một phần nếu bạn muốn thực hiện thờ cúng quán tưởng, adhyatmika, vì chỉ khi Kundalini được đánh thức thì Bhuta Agni, lửa tâm linh, mới thực sự bùng cháy, nếu không có Bhuta Agni mạnh mẽ, bạn sẽ không bao giờ có thể tạo ra một linh ảnh rõ nét trong linh thể của mình. Nhưng cũng có một dạng thờ cúng khác: phần linh, hay adhidaivika.”

    “Giả sử bạn đang thờ thần Ganesha. Ở bên ngoài, bạn có thể cúng những thứ Ganesha thích, chẳng hạn như mía, vào ngọn lửa vật lý cùng với một câu thần chú thích hợp. Ở bên trong, bạn cúng dường mật chú Ganesha của mình vào ngọn lửa Bhuta Agni của bạn. Bạn phải sử dụng nữ thần riêng, Kula Kundalini, để thực hiện thờ phụng adhidaivika. Kula Kundalini là tối cần thiết cho phép cúng adhidaivika bởi vì chỉ có Kula Kundalini mới biết cách xác định vị trí của Ganesha.”

    “Nếu muốn thực hành adhidaivika, trước tiên hãy để Kundalini Shakti của bạn giáng xuống luân xa Muladhara, nơi bạn để nó tự đồng nhất với Ganesha, vị thần cai quản luân xa đó. Kundalini có thể tự đồng nhất với bất cứ thứ gì, nhờ sự tự đồng nhất hoàn chỉnh với Ganesha, nó thực sự trở thành Ganesha, sau đó chính Ganesha sẽ thực hiện việc thờ cúng. Chỉ khi vị thần hiện hữu trong chính thân thể thì bạn mới biết cách thờ cúng không sai sót. Lúc đó, bạn sẽ biết chính xác cách xoa dịu ngài, bởi vì bạn đã trở thành ngài.”

    Do đó các Tantra nói: “Trước hết hãy trở thành Shiva, sau đó hãy thờ Shiva.”

    “Làm sao bạn có thể hiểu được Shiva, nếu bạn không trở thành ngài?”

    Khi tôi định hỏi tiếp về vấn đề này thì vài vị khách đến nên Vimalananda đã khéo chuyển hướng cuộc trò chuyện. Rõ ràng ông muốn tôi làm việc này một lúc.
  4. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Ganesha

    Vimalananda đã trình bày những suy ngẫm của mình tại một ngôi đền thờ thần Ganesha. Tôi không còn nhớ đó là ngôi đền nào nữa, vì ông rất yêu thích Ganesha, chúng tôi thường đến thăm một số tượng thần đầu voi này. Khu vực xung quanh Pune đã gắn liền với việc thờ thần Ganesha trong nhiều thế kỷ, và Ganesha vẫn là một trong những vị thần được yêu mến nhất ở vùng đó.

    Sau khi kết thúc buổi cầu nguyện và đang thư giãn, ông bắt đầu nói chuyện với tôi như sau:

    “Bạn phải có khả năng đối phó với đủ loại cám dỗ khi bắt đầu thức tỉnh Kundalini, bởi vì prana của bạn sẽ cố gắng di chuyển theo những cách bất thường. Đây là lý do việc thực hành thiền Ganesha lại quan trọng đến vậy. Ganesha là Gana + Isha, chúa tể của đoàn tùy tùng. Thông thường mọi người nghĩ về ganas như các thần linh trong đoàn tùy tùng của Shiva, nhưng trong Kundalini Yoga, ganas là các giác quan. Ganesha là chúa tể của các giác quan, ngài cũng được gọi là Người diệt trừ các chướng ngại, bởi vì nếu ngài hài lòng với bạn, ngài sẽ loại bỏ mọi chướng ngại trên con đường Kundalini thăng lên.”

    (Minh họa Shiva Yantra & Ganesha Yantra)

    “Luân xa Muladhara, nơi Kundalini ngủ yên, là nơi ngự trị của nguyên tố Đất, của thân xác thô kệch, được cai quản bởi Ganesha. Đó là lý do tại sao bạn phải thờ Ganesha trước khi thờ bất kỳ vị thần nào khác. Bạn phải cầu khẩn Ganesha cho phép bạn vượt qua bản chất vật lý của mình, để siêu độ tâm thức bạn vào linh giới. Ân phúc của Ganesha là rất cần thiết để Kundalini có thể rời khỏi luân xa Muladhara. Tôi nghĩ bạn biết câu chuyện về sự ra đời của Ganesha rồi chứ?”

    Tôi biết. “Parvati, đại phu nhân của Shiva, đã tạo ra Ganesha từ bụi trên cơ thể mình để bảo vệ tính riêng tư khi bà tắm. Ganesha đang canh gác thì Shiva đến, muốn vào gặp vợ. Ganesha đã ngăn cản. Do Shiva không biết y là ai nên một trận chiến đã xảy ra, Shiva đã kết liệu cậu bé. Khi Parvati biết chuyện, bà vô cùng tức giận vì mất con và đe dọa sẽ hủy diệt toàn thể vũ trụ, và đã suýt làm vậy nếu Shiva không xoa dịu bà bằng cách thay thế cái đầu bị chặt của Ganesha bằng đầu của một con voi. Sau đó bà mới bình tĩnh lại.”

    “Vậy còn huyền nghĩa của câu chuyện thì sao?”

    “Tôi không chắc.”

    “Nên hỏi tôi về ẩn nghĩa. Cái tên Parvati có nghĩa là “người được sinh ra từ những ngọn núi”, trong trường hợp này, là chuỗi núi ám chỉ cột sống, bên trong đó có tủy. Parvati là Kundalini Shakti. “Chuỗi xích” là một từ thích hợp để dùng ở đây: khi bạn chưa đánh thức và giải phóng Kundalini, cột sống hoạt động như một chuỗi xích trói buộc bạn vào sự cuộc sống trần tục. Ganesha được tạo ra từ bụi trên cơ thể Parvati, nguyên tố Đất, liên quan đến luân xa Muladhara. Shiva, tâm thức cá thể, cố gắng phá vỡ để tiếp cận Kundalini đang ngủ yên bằng vũ lực, nhưng việc này việc này đe dọa đến sự tồn vong của hành giả, bởi vì Muladhara là gốc rễ của cơ thể. Khi Shiva nhận ra điều này, ngài đã tái tạo Muladhara với sự giúp đỡ của một con voi, loài nổi tiếng về trí thông minh.”

    “Nếu muốn đánh thức Kundalini, vậy tốt nhất hãy để trí tuệ này hướng dẫn thức tỉnh, thay vì như một con bò tót xông vào cửa hàng đồ sứ và tự tàn phá bản thân. Thay vì thiền về luân xa Muladhara và cố gắng cưỡng ép mở nó ra, khôn ngoan hơn là hãy chuyển hóa nó, nhờ sự trợ giúp của Ganesha.”

    “Giờ tôi có câu hỏi dành cho bạn: tại sao Shiva, đấng biết quá khứ, hiện tại và tương lai, chồng của Parvati, lại không thể nhận ra con trai mình?”

    Một câu hỏi hay. Tôi không thể trả lời.

    “Hãy suy nghĩ về chuyện này một chút. Ganesha là một trong những vị thần hiền lành nhất, nếu được tiếp cận đúng cách, ngài rất tốt bụng và ngọt ngào, nhưng ngài cũng có thể nổi giận, vì là một đứa trẻ. Bạn biết trẻ con sẽ như thế nào khi tức giận. Hãy nghĩ xem loài voi sẽ hung dữ ra sao khi chúng tức giận. Khi Ganesha mất bình tĩnh, ngài thay đổi trong khoảnh khắc từ Người diệt trừ chướng ngại thành Kẻ kiến tạo chướng ngại, thì bạn sẽ gặp rắc rối thực sự.”

    “Có lần tôi ban cho một người câu chú Ganesha, nói với ông ta sau 40 ngày niệm chú, Ganesha sẽ đến và đứng trước mặt ông. Không may là trước khi đủ 40 ngày, đã xảy ra sự cố khiến ông phá vỡ giới luật niyama, nên tôi yêu cầu ông niệm lại từ đầu. Cuối cùng, sau khi kết thúc 40 ngày vẫn không có gì xảy ra. Tôi nói với ông: “Bạn sắp thành công rồi, đừng dừng lại. Tiếp tục thêm vài ngày nữa thôi.”

    Ông ta nói: “Nghe này, toàn bộ chuyện này thật ngớ ngẩn, chẳng có gì đằng sau cả. Tôi không thể chịu đựng được việc phải xa vợ. Giờ tôi về nhà để tận hưởng một đêm lạc thú.”

    Tôi cảnh báo ông: “Bạn đã đi quá giới hạn rồi đấy. Thần Ganesha sẽ rất tức giận nếu bạn làm vậy, tôi sẽ không thể cứu bạn được. Hãy trì chú thêm ba ngày nữa thì tôi đảm bảo bạn sẽ thành công.”

    “Hắn còn muốn gì nữa? Chỉ có ba ngày thôi. Nhưng Mahakala, Tử Thần, chắc hẳn đã nắm lấy hắn. Hắn nói: “Không. Tôi không muốn nghe ông nói nữa. Tôi thực sự cần phải có chút hoan lạc. Tạm biệt!”

    “Ban đầu, người vợ cố gắng ngăn hắn trèo lên người mình, nhưng hắn vẫn cưỡng ép vợ theo cách của mình và tận hưởng cố ấy, hai lần. Thỏa mãn với công sức lao động của mình, hắn ngủ thiếp đi.”

    “Trong giấc mơ, hắn thấy một con voi giận dữ lao về phía mình. Hắn cố chạy trốn nhưng vô ích. Khi đuổi kịp, com voi dùng vòi quất mạnh vào hàm hắn. Sáng hôm sau, cả khuôn mặt và hàm của hắn sưng to gấp đôi kích thước bình thường. Hắn được đưa tới bệnh viện nhưng bác sĩ không tìm ra nguyên nhân. Tôi cũng đến viện, và trên giường bệnh, hắn hỏi tôi liệu có thể cứu được không, nhưng tôi không thể làm gì được, do hệ thần kinh đã bị tổn thương nghiêm trọng, đã quá muộn, hắn đã đi quá giới hạn nên đã chết đêm hôm đó. Sau kinh nghiệm này, tôi quyết định sẽ chỉ giúp đỡ mọi người trong việc tu luyện của riêng họ, sẽ không bao giờ đề xuất các sadhana mới cho bất cứ ai.”

    “Kỷ luật thép là cần thiết bất kỳ lúc nào bạn gắn kết với một sadhana, nếu không có nó, chắc chắn sẽ có sai lầm. Vì vậy, đừng thử hoàn thành một câu chú theo kiểu này trừ khi bạn đủ độ ngoan cố đến mức sẽ làm xong đến chung cuộc. Nếu bạn quyết định sẽ ăn thịt trong vài ngày (đang trong đợt chuyên tu), hoặc sẽ uống rượu hay quan hệ sinh lý, thì bạn sẽ bị hủy diệt. Bạn chẳng những sẽ không bao giờ thành công, mà còn phải đau khổ vì cố hành động tinh quái. Nếu tự biết ý chí có hạn thì tốt hơn hết là đừng làm gì cả. Phá vỡ giới nguyện rồi nói: “À, tôi sẽ cầu xin thượng Đế tha thứ và ngài sẽ làm ngơ”, thì chỉ tự lừa dối chính mình, không ai khác. Một khi đã cam kết thực hành một sadhana, bạn thực sự đang gặp nguy hiểm trừ khi bạn hoàn thành nó đúng cách.”

    “Ý ông là Thượng Đế sẽ không tha thứ cho bất kỳ sai sót nào?”

    “Dĩ nhiên là không! Thượng Đế luôn sẵn sàng tha thứ nếu bạn đến với ngài bằng lòng khiêm nhường. Nhưng chẳng có gì khiêm nhường trong kiểu tu luyện này, bạn đang đòi hỏi sự chú ý từ Thượng Đế. Bạn nói: “Nào, con muốn chơi với ngài theo điều kiện của ngài.” Nếu vậy thì tốt hơn bạn nên sẵn sàng đón nhận bất cứ điều gì ngài ban cho.”
  5. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    ÂM NHẠC

    Việc dạy tôi cách thờ Ganesha là một phần trong kết hoạch lớn của Vimalananda dành cho sự phát triển của tôi. Như ông giải thích: “Phương pháp của chúng ta rất có hệ thống, đầu tiên bạn thờ Ganesha, tại luân xa Muladhara, sau đó ngài cho phép bạn thờ mẹ ngài, Parvati, người hiển lộ thân tướng nhờ sự trợ giúp từ Kundalini Shakti của bạn. Parvati dạy bạn cách thờ chồng bà, Shiva, tại luân xa Ajna, và một khi thành tựu Shiva, ngài sẽ đưa bạn đến với Vishnu bằng một trong các hình tướng của ngài: Rama, Narayana, hay nếu bạn muốn và được định sẵn: Krishna, ở Goloka.”

    Vimalananda là một nhạc sĩ tài năng, cả về thanh nhạc lẫn nhạc cụ, nhiều buổi sáng tôi ngồi lặng lẽ hàng giờ lắng nghe ông luyện tập, đôi khi còn đệm đàn tanpura cho ông. Một hoặc hai lần một tuần, Narayanrao Indurkar, một nghệ sĩ chơ tabla nổi tiếng, sẽ đến đệm đàn cho ông, sau khi buổi tập kết thúc, tôi sẽ mời họ uống trà trong khi họ kể chuyện về các bậc thầy xưa. Chính sau một trong những buổi tập đó, khi Narayanrao đã rời đi, Vimalananda đã giới thiệu âm nhạc cho tôi như một phương pháp tu luyện.

    “Âm nhạc là gì?” ông hỏi gợi chuyện khi tôi châm cho ông điếu thuốc. “Từ thuở sơ khai, con người đã cố gắng tìm hiểu. Thứ gì có thể làm ta hài lòng bằng sự hòa âm của nó? Âm thanh, khi trở thành âm nhạc, là thứ duy nhất có thể chiếm hữu con người đến mức họ quên hết mọi e ngại, rồi chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi giữa cuộc sống quý giá này, họ nhảy múa. Đó mới là âm nhạc thực sự. “Nếu âm nhạc là thức ăn của tình yêu, hãy chơi đi!” Shakespeare, Đêm Thứ Mười Hai.”

    “Âm nhạc thật có cảm xúc trong đó, và nó là nguyên nhân các vị chân thánh yêu âm nhạc đến vậy, nó giúp họ hoàn thành công việc của mình. Shiva là nhịp điệu, là cha của âm nhạc, còn Shakti của ngài là mẹ của âm thanh hay nốt nhạc. Đứa con là Ganesha, là ca khúc: Nhịp điệu + Nốt nhạc = Ca khúc. Ganesha có đầu voi, vì vậy ngài không bao giờ quên, ngài nhớ mọi thứ, giống như thông qua âm nhạc bạn có thể nhớ lại con người thật của mình. Còn nhạc sĩ? Là con ong mang phấn hoa từ bông này sang bông khác, mang lại sự tạo sinh. Chính anh ta là người thực sự tận hưởng niềm vui sáng tạo này. Chư thần, đặc biệt là các hóa thân, avatars, là chư thiên sáng tạo và thưởng thức âm nhạc của các cõi trời.”

    Tôi từng đọc rằng các nhà khoa học đã phát hiện ra mặt trời đang rung lên, giống như một chiếc chuông có lẽ đó là một thành phần trong khía cạnh vật lý của “âm nhạc các cõi”, tôi tự nhủ.

    “Những bản nhạc vĩ đại nhất được sáng tác bởi gandharva, càn thát bà, các nhạc sĩ thiên giới tái sinh xuống hạ giới. Khi một gandharva giáng trần, họ không thể nhớ tiền thân của mình, nhưng trong tiềm thức lại khao khát trở về đó. Gandharva khó hòa nhập với người bình thường, cũng như con người khó hòa nhập với động vật, khiến hầu hết các gandharva đều sống cuộc đời khốn khổ, bị hiểu lầm. Nhiều nhạc sĩ vĩ đại của phương Tây là gandharva, như Beethoven, Brahms, hay Mozart. Ngay cả Strauss cũng là một gandharva, nhưng may mắn là ông có một cậu con trai nối nghiệp, người có thể hiểu ông.”

    “Mọi cảm xúc này đều đi vào âm nhạc. Một gandharva sẽ là một thần đồng, một nhạc sĩ ngay từ ban đầu, mọi thứ người đó sáng tác ra đều hay, bất kể anh ta học được thể loại nhạc nào trong đời. Hãy nghĩ đến Bêthoven, người đã sáng tác một số nhạc phẩm vĩ đại nhất của mình sau khi bị điếc. Ông ấy hẳn đã phải tập trung cao độ và có năng khiếu bẩm sinh cỡ nào!”

    “Gopal Naik là một gandharva, âm nhạc tuôn chảy trong từng thớ thịt bên trong cơ thể ông. Không may, ông sống vào thời hoàng đế Akbar, và Tansen, nhạc trưởng của Akbar, đã ghen tị với tài năng của ông đến nỗi đã lập mưu [giết] ông. Thi thể của Gopal bị vứt trong rừng sâu.”

    “Khi mẹ của Gopal Naik biết tin con trai mình bị sát hại, bà đã lên đường tìm kiếm hài cốt để hỏa táng. Khi mọi người hỏi: “Làm sao biết được bộ xương tìm thấy có phải là của con bà hay không?” Bà trả lời: “Âm nhạc thấm đẫm từng thớ xương của nó, tôi sẽ nhận ra.” Khi lang thang qua các khu rừng ở Bắc Ấn, bà áp sát tai vào từng khúc xương người tìm được rồi lắng nghe chăm chú.”

    “Cuối cùng một ngày nọ, bà nghe thấy tiếng nhạc yếu ớt phát ra từ một trong những khúc xương và nói: “Đây là xương Gopal của tôi.” Bà thu thập chúng lại rồi hỏa táng.”

    Câu chuyện này có thể là hư cấu nhưng Vimalananda không quan tâm đến tính chính xác sử liệu. Ông chỉ chú ý đến “tính xác thực cảm xúc”, chú trọng đến từng chi tiết cảm xúc sẽ khiến một câu chuyện chiếm trọn tâm hồn người đọc đến nỗi họ quên hết e dè và trong khoảnh khắc quý giá của cuộc đời, họ khóc từ tận đáy lòng.

    “Loại nhạc phù hợp đóng vai trò như một cách để mang ánh sáng vào ý thức của con người. Âm nhạc là biểu hiện của âm thanh, mà âm thanh tồn tại ở bất cứ nơi nào có năng lượng, nghĩa là nhiệt, là ánh sáng. Khi một bậc thành tựu nghe nhạc, ông có thể đồng nhất bản thân với nó, rồi bằng linh thể của mình, ông có thể đến bất kỳ nơi nào có nhạc. Khi một sadhu nghe nhạc, ông bị choáng ngợp bởi cảm xúc đến từ sự hưng phấn tột độ, mọi thứ bắt đầu xảy ra.”

    “Guru già Maharaj của tôi là người khôn ngoan nhất. Thông thường không ai có thể khai thác được gì từ ông. Nhưng nếu bạn đưa cho ông ấy loại nhạc phù hợp, ông sẽ trải nghiệm hạnh phúc tột cùng đến nỗi sẽ cho đi kết quả của nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ tu hành mà không hề hay biết. Chỉ khi cảm xúc qua đi, ông mới nhận ra mình đã làm gì.”

    “Có lần, tôi, guru và Bilimoria đã tiếp đón Acchan, hậu duệ của các nhạc công cung đình của Nawab Wajid Ali Shah xứ Oud. Waijd Ali Shah là một nhà cầm quyền, từng là một gandharva. Trên trần thế, ông trở thành một tín đồ sùng thượng Krishna, dù sinh ra là người Hồi giáo. Khi các nhạc công Kalika Prasad và Bindadin chơi nhạc cho ông nghe, ông sẽ nhập vào Bhava Samadhi, những cảm xúc thăng hoa, và Krishna sẽ nhập vào thân thể ông rồi nhảy múa. Walid Ali Shah là một chuyên gia về múa Kathak, tài nghệ này đã được truyền lại cho Acchan. Con trai ông, Birju, ngày nay là vũ công Kathak vĩ đại nhất toàn Ấn Độ.”

    “Acchan có gia thế tốt, tất cả chúng tôi đều mong chờ màn trình diễn của ông ấy. Sau khi đến, ông ngồi xuống rồi uống hết một chai rưỡi whisky, một mình. Sau một lúc khá lâu, chúng tôi hỏi liệu ông có vui lòng biểu diễn chút tài nghệ không, nhưng ông gắt gỏng: “Ai có thể chơi bộ gõ cho tôi?” Trong khi mọi người bàn bạc cách giải quyết vấn đề này, ông đã uống nốt nửa chai whisky thứ hai, tu trực tiếp từ chai.”

    “Đột nhiên sư phụ già kéo tôi sang bên rồi dặn chuẩn bị xe để đi dạo. Chúng tôi lái xe đến một cột đèn ở nam Bombay, dưới đó có một người hồi giáo đang đứng. Ông không nói gì, cũng chẳng ngẩng đầu lên, mà chỉ lên xe. Chúng tôi trở về nhà, khi Acchan thấy người đi cùng, ông khịt mũi: “Người có thể hòa tấu cùng tôi còn chưa sinh ra đâu.”

    “Xin được kể vắn tắt, người Hồi giáo đó không chỉ đệm nhạc cho Acchan, ông còn bắt đầu khiến Acchan múa theo giai điệu riêng của mình. Khi một nghệ sĩ chơi bộ gõ có thể làm được điều đó, quả thực tài năng của ông ta rất giỏi. Chúng tôi đều kinh ngạc và say mê trước tài năng nghệ thuật của Acchan, người thực sự vĩ đại, và đó là nhờ phép màu của người Hồi chơi tabla. Sư phụ già của tôi, một người yêu nhạc, đã vô cùng phấn khích. Cuối cùng, nước mắt Acchan trào ra: “Tôi sẽ trả bất cứ giá nào để người này đệm nhạc thường xuyên cho mình!” Nhưng sư phụ già của tôi nói: “Anh ấy không chơi nhạc vì tiền.”

    “Suốt thời gian đó, người chơi tabla không nói gì, cũng không ngẩng đầu lên. Anh ta cũng không ngẩng đầu lên khi tôi thả anh ta xuống cột đèn đã đón lúc đầu. Tôi nghi ngờ anh ta không phải là người, với cái cách chơi nhạc như vậy. Thật là một đêm kỳ lạ!”

    Sự im lặng bao trùm một lúc rồi lại tan biến.

    “Nếu âm nhạc có thể tác động mạnh đến người nghe như vậy, hãy nghĩ xem nó tác động thế nào đến người chơi nhạc. Một nhạc sĩ thực thụ sẽ hoàn toàn tận tâm với âm nhạc của mình. Tôi từng biết một người chơi đàn sarangi (đàn kéo dây Ấn Độ) luôn mang theo một cây tre bên mình mọi lúc mọi nơi. Ngay cả khi đi mua rau, ông cũng trả tiền bằng một tay, trong khi tay kia liên tục tập luyện các ngón trên cây tre, như thể đó là cần đàn sarangi của mình. Đó mới là sự tận tụy thực sự với âm nhạc, rất cần thiết trong sadhana nữa.”

    “Âm nhạc không nên là cái đích đối với bạn, nó chỉ nên là một sadhana, một phương tiện để đạt được mục tiêu. Mật chú là một cách sử dụng âm thanh trong tu luyện, âm nhạc là một cách khác. Veda là những mật chú được phổ nhạc, nhưng Veda quá xa vời đối với hầu hết chúng ta, trong khi âm nhạc thì ai cũng có thể tiếp cận. Nếu may mắn, nếu bạn đã nỗ lực trong các kiếp trước và Thượng Đế nhân từ với bạn, âm nhạc của bạn có thể đủ sức thu hút Thượng Đế đến với mình.”

    “Cho dù đó là nhạc phương Tây hay nhạc Ấn Độ?” tôi ngắt lời.

    “Tất nhiên rồi. Nhạc tôn giáo phương Tây rất hay, nhưng nó có giới hạn, nó chỉ có thể giúp bạn nhận ra tình cảm của người hầu dành cho chủ nhân, hoặc của con cái dành cho cha mẹ. Còn nhạc Ấn Độ có thể giúp bạn nhận ra thần tính của chính mình trong bất cứ mối quan hệ nào, với tư cách người hầi hay người cha, cũng có thể là người yêu, vợ chồng, bạn bè, con cái hay mẹ bạn.”

    “Cái hay của âm nhạc phương Tây là nhiều nhạc sĩ có thể cùng nhau hợp tác để tạo nên một bản giao hưởng nên thơ. Một nhạc sĩ Ấn Độ vẽ nên toàn bộ bức tranh âm nhạc của mình chỉ với một nhạc cụ duy nhất. Người Ấn Độ là những nghệ sĩ độc tấu giỏi, nhưng các dàn nhạc lớn không phát triển mạnh ở đây. Tuy nhiên suy cho cùng, việc thực hành sadhana nên được thực hiện một mình.”

    “Trong âm nhạc Ấn Độ, mỗi raga (âm giai) đều có một hình ảnh cụ thể phải hình dung khi chơi hoặc hát. Nếu bạn làm đúng như vậy, cảnh tượng thật của raga sẽ hiển lộ. Ví dụ với Raga Megha (giai điệu mây), bạn phải tưởng tượng một bầu trời đầy mây cùng toàn bộ khung cảnh. Nếu muốn mưa, bạn chơi Mega theo cách nhất định thì mưa sẽ đến.

    “Nếu chơi đúng điệu Darbani Kannada Raga, bạn sẽ thấy khung cảnh triều đình của Akbar Đại Đế, vua Ấn Độ. Ngài ngồi đó hút điếu thuốc nhỏ, rồi đưa một bông hoa lên mũi. Tansen đã sáng tác điệu nhạc này bằng cách sử dụng điệu Kannada rồi thay đổi nó một chút. Nếu chơi Kannada, bạn sẽ không có được hiệu ứng tương tự do các mẫu âm điệu khác nhau.”

    “Chẳng phải một trong các nghĩa của từ raga là “đam mê” hay sao?”

    “Đó cũng chính là ý nghĩa của âm nhạc, một đề tài của niềm đam mê. Tansen đã thành thạo Raga Deepaka (giai điệu thắp lửa) đến mức khi ông hát nó vào lúc hoàng hôn, tất cả đèn trong cung đều tự động sáng lên. Có lần hát Deepaka quá lâu, ông bị choáng ngợp bởi sức nóng. Ông đau đớn suốt sáu tháng trời, chẳng có gì làm dịu được cơn nóng cho đến khi ở một ngôi làng, ông gặp hai chị em Tana và Riri, những người rất giỏi về Megha. Khi họ hát Megha cho ông nghe, cơn nóng cuối cùng cũng dịu đi. Ngay cả âm nhạc cũng có thể nguy hiểm.”

    “Liệu điều này có liên quan đến các mạch Surya và Chandra không?”

    “Tất nhiên rồi. Mục đích chính của âm nhạc là giúp bạn lôi kéo ý thức khiến cho Kundalini được kích hoạt. Khi Tansen làm quá mức, prana của anh ta đã bị ảnh hưởng.”

    “Có lẽ anh ta nên tự đồng nhất mình với một vị thần thay vì một ngọn lửa.” Tôi nói thêm.

    “Có lẽ vậy.” Vimalananda vừa cười vừa nói. “Lợi ích lớn nhất của âm nhạc Ấn Độ là nó giúp bạn tự đồng nhất với vị thần của mình. Ví dụ, mỗi khi Narsi Mehta (thánh thi nổi tiếng từ Gujarat) chơi Raga Kedara (giai điệu đồng ruộng), Krishna sẽ đến và nhảy múa trước mặt ông ấy.”

    “Liệu ai đó có thể học cách mời gọi Krishna bằng tên Kedara không?”

    “Không, Kedara không dành riêng cho Krishna, bạn không nhất thiết sẽ nhìn thấy Krishna ngay cả khi bạn học chơi Kedara hoàn hảo. Chỉ vì Narsi Mehta quán tưởng Krishna đang nhảy múa mỗi khi chơi Kedara nên chính Krishna mới đến nhảy múa. Ông ấy đã biến Kedara thành sadhana tu luyện của mình. Việc này khiến ông gặp rắc rối nghiêm trọng vào một ngày nọ. Một tu sĩ lang thang đã xin Narsi chút tiền để đi hành hương. Narsi muốn giúp vị đó nhưng lại không có tiền, do vậy ông đã thế chấp Kedara cho một người bán tạp hóa để có số tiền đó.”

    “Ông ta thế chấp Kedara? Làm sao có thể thế chấp một giai điệu?”

    “Ông ấy hứa sẽ không hát khúc đó nữa cho đến khi trả hết nợ. Thời đó, lời nói của ông ta chính là tín thác. Ví dụ, nếu một người thế chấp bộ ria mép cho bạn, anh ta sẽ không thất hứa vì thà chết chứ không chịu cạp ria mép. Hãy xem Narsi phải chịu đựng hy sinh to lớn nhường nào! Ông ấy đã thế chấp thứ mình yêu quý nhất, điệu múa của Krishna, điều ông có thể thấy mỗi khi chơi Kedara, để giúp đỡ người khác.”

    “Thật không may, vị du sĩ không bao giờ trở về. Chỉ riêng điều đó thôi đã đủ tồi tệ rồi, nhưng trong lúc đó, những kẻ ghen tị với thành công của Narsi Mehta lại bận rộn rót những lời độc địa vào tai nhà vua để chống lại ông. Cuối cùng, vua Rao Mandlik triệu tập ông đến và phán: “Tôi nghe nói mỗi khi ông hát Kedara thì đức Krishna lại hiện ra. Hãy làm ngay đi! Chứng minh cho tôi thấy ông không phải là một vị thánh giả dối!”

    “Narsi nói: “Thưa ngài, tôi không thể làm được, tôi đã thế chấp Kedara rồi.”

    “Nhà vua nổi giận vì bị từ chối: “tôi thấy rõ ông đúng là một tên giả thánh. Tối nay ông sẽ bị trói vào cây cột trước đến thờ Krishna để suy ngẫm về tội lỗi của mình. Nếu Krishna không cứu được ông trước sáng mai, ông sẽ bị xử tử.”

    “Lúc này Narsi thực sự lầm vào thế khó nên chẳng còn cách nào khác ngoài việc tưởng nhớ đến Krishna trong khi chờ mặt trời mọc. Đức Krishna không bao giờ tàn nhẫn với các tín đồ của mình, thương mến họ hơn bất cứ điều gì khác trong vũ trụ. Tối hôm đó, một người bí ẩn, do Krishna cải trang, đã đến cửa hàng tạp hóa và trả nợ cho Narsi, ngay khi bình minh ló dạng, biên bản giải chấp bỗng nhiên bay đến tay Narsi nên Narsi bắt đầu hát Kedara. Đột nhiên, ổ khóa trên cửa đền tự mở, cánh cửa bật tung, chiếc vòng trên cổ vị thần bay lên không trung rồi rơi vào cổ Narsi. Những sợi thừng trói ông vào cọc cũng rơi xuống.”

    “Chuyện này dĩ nhiên khiến những người tụ tập đến xem Nari bị hành quyết náo loạn. Họ bắt đầu vây quanh, muốn nhờ cầu xin Krishna giúp đỡ nên Narsi bỏ chạy. Họ đuổi theo sát phía sau.”

    “Bên ngoài thị trấn, một Aghori đang ngồi, tận hưởng phấn khích. Khi Narsi tiến lại gần, nét mặt hoảng loạn, Aghori nói: “Đây, hãy nấp ra sau lưng thầy!” Khi đám đông đến nơi, chỉ còn lại Aghori. Narsi đã không bao giờ được nhìn thấy nữa trong thế giới loài người.”
  6. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Nada Yoga

    “Vì vậy, bất kể loại nhạc nào, phương Tây, Ấn Độ, đều có thể mang lại kết quả nếu trân trọng và biến nó thành một sadhana?”

    “Có thể. Tôi chắc rằng nếu Tukaram, người đã sống ở Maharashtra cách đây gần bốn trăm năm, đến Bombay hôm nay và nghe một bản nhạc phương Tây do chúng ta chơi thì ông sẽ ngồi yên lặng lắng nghe, thưởng thức, hoặc ít nhất ông sẽ tỏ ra như đang thưởng thức. Suốt thời gian đó, trong lòng ông sẽ vang vọng câu thần chú của mình: “Rama Krishna Hari, Jai Jai Rama Krishna Hari, Rama Krishna Hari, Jai Hai Rama Krishna Hari” được hòa quyện với nhịp điệu và giai điệu của âm nhạc.”

    “Trong trường hợp của tôi, mỗi khi đi tàu hỏa hơi nước, câu thần chú của tôi được tụng niệm theo nhịp điệu động cơ. Tương tự khi làm việc với máy dệt, tiếng ồn của các trục quay cho tôi một nhịp điệu. Những người nghiêm túc với câu chú của mình, khắc ghi chúng vào tâm hồn sẽ luôn niệm chúng. Thực tế, cá nhân tôi thấy nhạc phương Tây hay hơn nhạc Ấn Độ để niệm chú, do nhịp điệu của phương Tây đơn giản hơn nhịp điệu Ấn Độ, vốn đòi hỏi sự chú tâm cao hơn để không bị lạc nhịp.”

    Aha! Thảo nào ông ấy thích nhạc rock mà tôi mang đến.

    “Dĩ nhiên, việc sử dụng nhịp điệu trong sadhana không chỉ đơn thuần là tụng niệm thần chú theo nhịp của tàu hỏa hay âm thành của cây guitar điện ở Barbados. Tôi nghĩ bạn đã từng nghe tôi chơi Ganesh Paran rồi?”

    “Vâng, tôi đã nghe.” Đó là một nhịp điệu ít người biết, được sáng tác để cầu khẩn Ganesha.

    “Ngày xưa, tại một tiểu quốc Ấn Độ, Datia, có một người chơi trống pakhawai (trống lớn hai mặt) tên là Khudav Singh. Ông ấy rất giởi chơi trống này vì ông thờ nữ thần Durga. Trên thực địa, trước khi chơi, ông tung trống lên không trung và thánh mẫu đánh vào đó ba lần. Tiếp theo ông bắt lấy nó rồi mới bắt đầu chơi.”

    “Em gái của nhà vua, một cô gái trẻ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, rất thích nhạc của Khudav và thường nghe ông chơi bất cứ lúc nào có thể. Cuối cùng, nàng đem lòng yêu Khudav. Chuyện này khiến nhà vua nổi giận, ông bảo nàng hãy chấm dứt chuyện tình cảm. Khi nàng từ chối, vua yêu cầu Khudav phải từ chối cô gái. Nhưng Khudav nói: “Nàng yêu và trân trọng nghệ thuật của tôi. Tại sao tôi lại bảo nàng rời đi?” Nhà vua nói: “Được rồi, vì ông không nghe lời tôi, ông sẽ bị voi giẫm chết.” Vua thường thi hành công lý như vậy.”

    “Nhà vua mời toàn thể thần dân trong vương quốc đến dự buổi hành hình như một lời cảnh tình họ đừng hành động ngu xuẩn như Khudav. Con voi được cho uống rượu đến khi mắt đỏ hoe. Vua hỏi Khudav có nguyện vọng cuối cùng nào không. Ông đáp: “Chiếc trống pakhawaj của tôi, thứ đã là cả cuộc đời tôi, để nó bị nghiền nát cùng tôi.” Ông được đưa cho nhạc cụ của mình. Khi con voi tiến đến, Khudav bắt đầu tấu khúc Ganesh Paran. Khi chơi đúng cách, thần Ganesha nhất định sẽ hiện ra trước mặt bạn, ngài không còn lựa chọn nào khác, ngài không thể trốn thoát. Đây là cách mà Khudav kêu gọi vị thần mà ông tôn thờ: “Mẹ Durga, xin hãy gọi Ganeshs, hãy giúp con!”

    “Durga, người sau tất cả chính là Parvati trong một hình thức khác và cũng là mẹ của Ganesha, đã yêu cầu con trai mình giúp đỡ tín đồ của bà. Ganesha đồng ý rồi nhập vào thân con voi. Con voi ngồi xuống trước mặt Khudav và vuốt ve ông bằng vòi của nó. Trong nửa giờ, các binh lính chọc ngoáy, khiêu khích con voi nhưng nó vẫn không tấn công.”

    “Sau đó nhà vua nhận ra sai lầm của mình: “Hãy gả am gái tôi cho Khudav và để con voi tự do đi lại trong vương quốc của ta. Bất cứ nơi nào nó đến, vùng đất đó đều phải thuộc về Khudav.”

    Cho đến nay, cách đây không lâu, gia đình Khudav vẫn sở hữu những vùng đất đó.

    “Vậy Ganesh Paran có hiệu nghiệm với bất cứ ai không?”

    “Nó sẽ có tác dụng nếu bạn chơi đúng cách và quán tưởng Ganesha đúng cách trong khi chơi. Đây là một sadhana âm nhạc, được tạo ra đặc biệt với mục đích triệu thỉnh Ganesha.”

    “Mọi phương pháp tu tập sử dụng âm nhạc đều là một phần của Nada Yoga. Trong Nada Yoga, bạn thờ Nada Brahman, âm nhạc của các cõi trời. Đấng Tuyệt Đối được biểu hiện qua âm OM, phát ra từ Shiva. Nếu thực hành sadhana này đến cùng, bạn sẽ thấy rằng bạn và vũ trụ không khác biệt, một trong tất cả, tất cả trong một. “Ở mọi nơi tôi thấy, mọi thứ đều là tôi” là điều tôi muốn nói.”

    “Bất cứ thứ gì có âm thanh thì đều có shakti, và tất cả shakti đều có âm thanh đi kèm. Tự Ngã Tuyệt Đối thì yên lặng. Nó không có bất kỳ thuộc tính nào, đó là lý do vì sao không có Bija Mantra nào cho Shiva. Shiva không có giai điệu, ngài là nhịp điệu thuần túy, cha đẻ của âm nhạc. Đó là nguyên nhân Shiva luôn được mô tả cầm một chiếc damaru (trống nhỏ hai mặt), nhạc cụ đầu tiên từng được tạo ra. Vì laya nghĩa là cả nhịp điệu và sự tan rã, nên Pralaya là sự tan rã định kỳ của vũ trụ, chỉ đơn thuần là sự trở lại của mọi thứ về Prathama, là Laya đầu tiên, nhịp điệu khởi nguyên: cái Tuyệt Đối. Âm OM là âm thanh đầu tiên xuất hiện khi sự sáng tạo bắt đầu, và nó là âm thanh cuối cùng biến mất vào thời điểm Pralaya. Nhưng ngay cả sau khi giai điệu, vũ trụ hiện tượng, đã hoàn toàn biến mất, nhịp điệu của nó vẫn còn tồn tại, đầu tiên là anusvara, sau đó là bindu.

    “Bạn có biết trong nghệ thuật tạo hình Ấn Độ, Shiva có một vầng trăng khuyết trên trán, điều này gợi lên ý nghĩa gì?”

    “Không biết.”

    “”Trong bảng chữ cái tiếng Phạn, ký hiệu cho anusvara là hình trăng khuyết.”

    Tôi vỗ trán vì đãng trí, tôi vốn biết điều đó.

    Ông cười: “Ở đây, trăng khuyết là dấu hiệu bên ngoài của ý thức bên trong Shiva, một dấu hiệu cho thấy ý thức của ngài tràn đầy Nada, nếu thờ ngài, tâm trí bạn cũng có thể được lấp đầy Nada, điều này cho phép bạn lần theo âm thanh đó trở lại anusvara và bindu, đến tận nguồn gốc âm thanh.”

    “Thế con trâu ngài cưỡi cũng có liên quan đến chuyện này sao?”

    “Tất nhiên. Một trong những từ tiếng Phạn dùng để chỉ trâu là go, cũng có nghĩa là “âm thanh” và “cơ quan cảm giác”. Điều này cho thấy Shiva “cưỡi” các giác quan của ngài. Ngài cho phép các chức năng này tồn tại nhưng kiểm soát hoạt động của chúng hoàn hảo, và ngài di chuyển với sự hỗ trợ của Nada.

    “Tôi đã bảo bạn rằng bindu là nguồn gốc của mọi âm thanh, ở con người, âm thanh bắt đầu từ ý định rồi đạt đến đỉnh điểm là lời nói. Laya là sự thu rút toàn bộ các phóng chiếu tinh thần của chúng ta vào bindu, nguồn gốc. Lời nói bắt đầu từ Para, triển khai qua Pashyanti và Madhyama, rồi đến Vaikhari, lời nói bằng miệng. Đây là con đường pravrtti, sáng tạo. Nếu muốn sử dụng âm thanh để đi theo con đường nivtti, con đường trở về nguồn gốc, phải bắt đầu từ vị trí hiện tại của bạn, ở Vaikhari, rồi dần dần tinh chỉnh ý thức của bạn trở lại qua Madhyama, Pashyanti đến Para, đến bindu.”

    “Nada Brahma là yếu tố trung tâm của Kundalini Yoga. Hãy nhớ rằng khi Kundalini đi qua luân xa Anahata, bạn sẽ nghe thấy âm thanh Anahata Nada, nghe giống như tiếng sáo của Krishna hoặc tiếng trống của Shiva, tùy thuộc vào sadhana bạn đang thực hành, đó là cùng một âm thanh, được mỗi tâm trí diễn giải khác nhau. ban đầu, bạn nghe thấy âm thành này ở tai phải, vì tai trái dành cho các linh hồn. Hãy nhớ điều này: khi bạn nghe thấy ai đó nói chuyện ở tai trái, chắc chắn đó là một linh hồn.”

    “Mỗi cá nhân nghe thấy một nada khác nhau. có 108 gati (kiểu, hay âm pháp) của nada. 108=1+8=9, con số của các luân xa trong thân thể, theo Aghora. Việc bạn nghe thấy nada nào tùy thuộc vào nghiệp quá khứ, khuynh hướng hiện tại, dòng dõi và các yếu tố khác. Có rất nhiều gati, nhưng một khi Kundalini đạt tới đỉnh cao của hành trình, bạn chỉ nghe thấy một âm thanh duy nhất: Nada Brahman, Âm Thanh Vĩ Đại.”

    “Tất cả các dòng sông đều chảy ra đại dương chứ không phải ngược lại. Nếu đại dương tràn vào các con sông, điều gì sẽ xảy ra với các con sông? Chúng sẽ biến mất, cả các vùng đất xung quanh cũng vậy. Trong sadhana của Nada, đại dương đó là đại dương của bhava, cảm xúc mãnh liệt. Các dòng sông là những kinh mạch, còn đất là thân thể con người. Đầu tiên, bạn đi theo các dòng sông ra biển, sau đó, nếu được định sẵn để quay trở lại sự tồn tại hữu hình, biển sẽ nhấn chìm các dòng sông, khiến chúng tràn bờ và lấp đầy bạn bằng một cơn say thần thánh mãnh liệt, đó chính là Bhava Samadhi. Nếu tiếp tục thực hành, bạn sẽ tiến đến Maha Bhava Samadhi, có thể dẫn đến Nirvikalpa Samadhi. Bạn có biết câu chuyện về Krishna và các gopi thực chất là một mô tả từng bước về loại sadhana này không?”

    “Không.”

    “Lúc khác tôi sẽ kể”, ông nói khi chúng tôi vào bếp ăn trưa.
  7. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Krishna và các Gopi

    Ông đã mô tả câu chuyện vào một buổi tối không lâu sau đó, trong lúc nhâm nhi rượu Scotch.

    “Gia đình tôi thuộc về Pushti Marga, con đường tâm linh (marga) mà người mở đường vĩ đại nhất là Vallabhacharya, đã sống cách đây hơn trăm năm. Một số người dịch Pushti Marga là “con đường thịnh vượng”, số khác lại dịch là “con đường ân điển”. Nhưng khi nghĩ tới Pushti, tôi nhớ đến một câu trong thần chú Maha Mrytunjaya.”

    Ý ông là: “Sugandhim pushti vardhanam”?

    “Đúng đó. Câu thần chú Maha Mrytunjaya hướng tới Shiva, vị thần hủy diệt. Khi niệm câu chú này, bạn đang cầu khẩn ngài bảo vệ mạng sống và nâng cao hạnh phúc bản thân. Triết lý của Vallabhacharya được gọi là Shudda Advaita. “Thanh tịnh bất nhị”, và tuân theo nguyên lý “Một trong Tất cả, Tất cả trong Một”. Vallabacharya không bao giờ dạy mọi người chạy trốn khỏi thế gian và trở thành người xuất gia, ông dạy mọi người sống một cuộc đời Veda, sống giữa thế gian nhưng không trở thành một phần của thế gian.”

    “Đây cũng là Advaita Vedanta sao?”

    “Chắc chắn rồi. Cho đến nay bạn mới chỉ được khám phá Advaita của Shankaracharya, mà những người ủng hộ trường phái đó lại muốn mọi người tin rằng đó là phái Advaita Vedanta duy nhất. Họ thích tranh luận về thực tại, đó là lẽ tự nhiên, vì đó là điều mà Shankaracharya đã làm suốt cuộc đời mình.”

    “Shankaracharya dạy rằng: “Brahanam sat, jagan mithya”, cái Tuyệt Đối Không Biểu Hiện là chân lý tuyệt đối, còn vũ trụ hữu hình, cái có Biểu Hiện, là mithya, huyễn ảo không thật. Tuy nhiên, Vallabhacharya tin rằng, cũng giống như chúng tôi các Aghori tin rằng, vì Thượng Đế tạo ra vũ trụ và thâm nhập khắp nơi trong đó, nên vũ trụ cũng chân thật như chính Thượng Đế, điều đó nghĩa là mọi thứ đều chân thật, vì mọi thứ đều là một phần không thể tách rời của Thượng Đế. Vallabhacharya không mấy quan tâm đến tranh luận, ông thích dành thời gian thờ Krishna và tận hưởng cực lạc từ cam lộ do tên gọi và hình ảnh ngọt ngào của ngài mang lại. Tôi thích gọi Pushti Marga là “con đường của sự ngọt ngào”, bởi vì có rất nhiều ca khúc ngọt ngào mà Vallabhacharya đã viết bằng tiếng Phạn về đấng Kính Yêu của mình. Có lẽ bài hát nổi tiếng nhất của Vallabhacharya là Madhura ashtaka, Tám vần thơ ca tụng sự ngọt ngào của Thượng Đế. Trong các vị thần, chỉ có Krishna là Madhu, ngọt ngào, thanh khiết, không pha tạp. Thực tế, một trong những danh xưng của ngài là Madhava, đấng ngọt ngào.”

    “Tại sao trường phái này lại không được biết đến rộng rãi hơn?”

    “À, do có quá nhiều ý nghĩa huyền bí trong giáo lý của họ, khiến việc giải thích dễ dàng trở nên quá phức tạp. Gaudia Math, tiền thân của phái Hare Krishna, dạy về lòng sùng kính Krishna dưới ngoại hình công khai của ngài, và bác bỏ mọi loại giáo lý bí truyền, điều này giúp cho sự lĩnh hội của quần chúng dễ dàng hơn. Phái Pushti Marga tin vào cả điều rõ ràng lẫn điều ẩn giấu, đó là nguyên nhân tôi nghĩ nó ưu việt hơn, không chỉ vì tôi sinh ra trong đó. Nếu người phương Tây nghiên cứu giáo lý Vallabhacharya, họ sẽ thực sự học được điều gì đó về Advaita Vedanta, về ý nghĩa ẩn giấu trong các trò chơi của Krishna, và về cách trở nên ngọt ngào.”

    “Mặc dù là Nhân cách hoàn hảo, Krishna vấn phải đến thế gian này để vui chơi. Bạn có biết tại sao không? Bởi vì người yêu của ngài, Radha. Vì sao cái tên Radha nghe ngọt ngào đến vậy? Đảo ngược từ này lại, ta có dhara, nghĩa là sức mạnh để giữ vững, hoặc cố định. Trường hợp này là sức mạnh để giữ Krishna trong tâm trí. Bất cứ ai có dharana hoàn hảo về Krishna, người đó có tâm trí vững chắc hướng về ngài, thực sự đang gọi Krishna đến với mình. Ngài sẽ đến bất cứ nơi nào được gọi. Người gọi có thể không nhìn thấy hay cảm nhận được ngài, nhưng Krishna vẫn vui đùa với người đó, khiến họ làm được rất nhiều điều.”

    “Krishna được gọi là Nhân cách hoàn hảo, do thần thông mà ngài có vượt xa các thần thông khác. Thần thông này gọi là Kartum, Akartum, Anyathakartum. Kartum: điều khó thực hiện nhưng có thể thực hiện được, đề cập đến adhibhautika, thế giới trần tục. Akartum: điều bất khả đối với phàm chúng, đề cập đến adhyatmika, thế giới tinh thần. Anyathakartum: thứ vượt ngoài cả thế giới tinh thần và phàm tục, không thể tưởng tượng nội đối với con người, đề cập đến adhidaivika, hay linh giới. Điều này cho thấy Krishna có quyền năng vô hạn trong cả ba cõi, nghĩa là toàn thể vũ trụ. Krishna chỉ có một khuyết điểm là ngài có thói quen hứa hẹn làm những việc bất khả thi. Ngài sẽ tạo ra một tình huống, hứa sẽ thay đổi nó, sau đó làm vậy, và không ai biết ngài đã làm gì. Trong suốt quá trình đó, ngài sẽ đứng sang một bên, chiêm ngưỡng trò chơi của chính mình.”

    “Tuy nhiên, ngay cả Krishna cũng bối rối trước Radha, ngài không hiểu được nàng. Bạn có biết lòng sùng kính sâu sắc của Radha dành cho Krishna không? Ngay cả Krishna cũng không thể biết được. Lòng sùng kính của nàng mãnh liệt đến nỗi khi xa Krishna, nàng cảm thấy như bị hàng ngàn con bọ cạp đốt cùng lúc. Nếu muốn đánh thức Kundalini bằng lòng sùng kính, thì lòng sùng kính của bạn cũng phải mãnh liệt tương tự, nếu không sẽ không bao giờ có đủ áp lực để buộc Kundalini dâng từ dưới lên đầu bạn.”

    Ồ.

    “Radha là một gopi, một trong những cô gái bán sữa có mối tình vụng trộm với Krishna. Họ làm việc cả ngày để chăm lo nhà cửa gia đình, khi màn đêm buông xuống, họ lén lút ra ngoài và ân ái với Krishna. Theo huyền nghĩa, Krishna là linh hồn, là Shaktiman, các gopi là các kinh mạch, các dây thần kinh của linh thể. Gopi nghĩa đen là “bí mật”, đó là tự nhiên, bởi vì không ai khác ngoài hành giả có thể biết những gì đang diễn ra bên trong thân thể anh ta. Các gopi vẫn làm công việc hàng ngày như thường lệ, nhưng suy nghĩ của họ chỉ hướng về Krishna. Tương tự, một hành giả giỏi cũng sống đời thường nhật của mình trong khi ý thức hoàn toàn hướng về Krishna.

    “Người ta nói rằng Krishna có mười sáu ngàn bà vợ, trong số đó ngài sủng ái nhất một trăm người. Nghĩa là trong số 72 000 kinh mạch, 16 000 chiếm ưu thế, và trong số 16 000 kinh mạch đó, 100 là quan trọng nhất trong Kundalini Yoga. Trong số 100 này, 3 kinh mạch quan trọng tối cao, và trong 3 kinh mạch đó, Sushumna là quan trọng nhất. Radha, người được Krishna sủng ái nhất cho dù không phải là vợ, đại diện cho Sushumna.

    “Robby còn nhớ khi tôi hướng dẫn bạn và Sergei cách tác động vào một kinh mạch ở ngón chân thứ hai có thể khiến một người đàn bà hưng phấn và thậm chí đạt cực khoái không?”

    “Tôi nhớ rất rõ.” Mà tôi cũng chắc người đàn bà mà ông đã thị phạm điều đó cũng nhớ rõ.

    “Bạn có thể hình dung điều gì sẽ xảy ra nếu toàn bộ 72 000 kinh mạch của bạn được kích thích cùng lúc không?”

    “Tôi có thể hình dung điều đó, nhưng không dễ.”

    “À. Đó là điều mà lòng sùng kính dành cho Krishna có thể làm được cho bạn. Nếu điều đó từng xảy ra với bạn, bạn sẽ hiểu được phần nào về Lila của Krishna. Bạn có biết hai từ tiếng Phạn chính có nghĩa là “trò chơi” không?”

    “Có. Lila và Krida.”

    Krida là chơi đùa vô thức, giống như rati krida (trò chơi tình ái). Krida là trò chơi được điều khiển bởi ai đó hoặc thứ gì đó khác với người đang chơi. Trong trò chơi tình ái, tuyến nội tiết và bộ phân sinh dục điều khiển, chứ không phải hai người đang yêu nhau. Trò chơi của các Rishi là lila, những trò tiêu khiển vũ trụ mà họ luôn nắm quyền kiểm soát. Đó là lý do chúng ta nói về lila của Krishna và Lila của Rama, chò trơi thần thánh của Krishna và Rama.”

    “Mọi người ở Ấn Độ đều biết Krishna sinh ra khi nào, nhưng bao nhiêu người biết ý nghĩa thực sự về sự ra đời của ngài? Chỉ khi thân nhân quả tan thành tro bụi thì Krishna mới thực sự được sinh ra. Vào thời điểm đó, Kundalini Shakti hợp nhất với Thượng Đế của nó trong đầu hành giả, tiếp theo 72 000 kinh mạch bắt đầu nhảy múa theo nhịp điệu vũ trụ. Mỗi kinh mạch rung động trong niềm hoan hỷ, nghĩ rằng chỉ mình nó sở hữu Krishna, nhưng thực tế Krishna là Linh Hồn ở khắp mọi nơi, và khiêu vũ với tất cả. Đây là cách các Rishi kỷ niệm ngày sinh nhật của Krishna, họ thưởng thức điệu nhảy vũ trụ giữa Krishna và các gopi trong chính thân thể họ, sử dụng Kundalini Shakti. Đây mới là Rasa Lila thực sự của Krishna.”

    “Vì vậy, ít nhất về mặt lý thuyết, vẫn có thể kinh nghiệm Rasa Lila (vũ điệu thần thánh từ cảm xúc mãnh liệt) ngay cả trong kỷ Kali này.”

    “Để tôi giải thích thế này. Khi Narsi Mehta bị chị dâu đuổi khỏi nhà, trong lúc tuyệt vọng đã chạy đến một ngôi đền Shiva rồi quỳ rạp mình lên Shiva Linga. Ông nằm đó suốt bảy ngày bảy đêm, quên hết ăn uống, thậm chí để cho rắn và côn trùng bò khắp người tùy thích. Cuối cùng, Shiva hài lòng với tinh thần khổ hạnh của ông và hiện ra để ban cho một điều ước. Narsi nói: “Tôn Thượng, xin hãy ban cho con bất cứ điều gì mà ngài thích nhất!” Shiva bảo: “Ta thích nhất là Rasa Lila của Krishna, vì vậy ta sẽ ban điều đó cho con.” Có người nói Narsi là người duy nhất trong kỷ Kali từng được chứng kiến Rasa Lila thực sự của Krishna.”

    “Tất nhiên điều đó quá xa vời đối với hầu hết chúng ta, tuy nhiên, nếu ca hát chân thành về những chiến công của Krishna , bạn có thể phát triển lòng sùng mộ mãnh liệt dành cho ngài, việc đó sẽ mang lại cho bạn niềm hạnh phúc vô hạn. Nếu hiểu được ý nghĩa huyền bí đằng sau những bản tụng ca, chúng có thể đưa bạn vào trạng thái ngây ngất xuất thần.”

    “Trong một bài hát, một nàng gopi than thở với bạn đồng hành: “Trên bờ sông Yamuna, con trai của Nanda (Krishna) ném đá làm vỡ bình nước trên đầu tôi, làm toàn bộ nước chảy ra và làm nhẹ gánh nặng của tôi. Bạn biết không, người Ấn Độ thường xuyên mang vác vật nặng trên đầu. Các nàng gopi, giống như hầu hết phụ nữ Ấn Độ, thường múc nước sông bằng những chiếc bình lớn, họ cẩn thận giữ thăng bằng rồi mang về nhà. Krishna, để trêu chọc họ, thường ném đá vỡ bình. Đó là ý nghĩa bề nổi, dễ hiểu đối với bất kỳ phụ nữ nào từng đội bình nước trên đầu. Bài hát đó giúp ngay cả các phụ nữ làng quê mù chữ cũng tăng thêm độ sùng kính đối với Krishna.”

    “Khi đồng cảm với ai đó, bạn tự đồng nhất mình với người đó ở một mức độ nhất định. Nếu có thể thông cảm với nàng gopi trong bài hát này, bạn sẽ dễ dàng liên kết với Krishna hơn, ngay cả khi chỉ là trách móc ngài làm vỡ chiếc bình. Ở Ấn Độ, chúng ta không tin rằng lòng sùng kính là phải luôn luôn tôn trọng và lễ phép. Khi yêu một người, liệu chuyện tình cảm của bạn có luôn suôn sẻ không? Không! Chẳng phải lúc nào cũng vậy, điều đó là bất khả nếu bạn thực sự yêu. Đôi khi bạn sẽ cãi nhau, đôi khi bạn gái sẽ khóc, vân vân, nếu bạn thực sự yêu người kia. Lòng sùng kính chân thực là sa vào tình yêu với vị thần của mình.”

    “Vậy nên, nàng gopi trong bài hát dường như phàn nàn về những trò đùa của Krishna, đó là ý nghĩa bề nổi. Phần sâu xa hơn lại khác. Ở Ấn Độ, đừng bao giờ chỉ nhìn nhận điều gì theo vẻ bề ngoài. Kinh sách thiêng liêng của chúng ta hầu hết đều bí ẩn và bạn không nên hiểu chúng theo nghĩa đen.”

    “Trong bài hát này, sông Yamuna tượng trưng cho Chandra Nadi, kinh mạch trôi chảy qua lỗ mũi trái. Lòng sùng mộ đòi hỏi hoạt động của Chandra Nadi. Các gopi là những nadi khác của thân thể. Krishna là người yêu của các gopi, là Linh Hồn, là thứ tạo ra sức sống và sự nhận biết trong các kinh mạch. Linh hồn cũng khiến máu lưu thông trong động mạch, vân vân. Chẳng phải máu sẽ chảy nhanh hơn khi bạn nhìn thấy người yêu của mình sao?”

    “Bình nước tượng trưng cho phần đầu, chứa đầy nước ép. Nước ép không chỉ giới hạn ở các chất vật lý như hóc môn, mà còn bao gồm cả các loại nước ép tinh thần như vị giác và cảm xúc. Vì người chưa giác ngộ thường ích kỷ, nên nước này trở thành độc hại, bị nhiễm độc bởi tính ích kỷ.”

    “Từ con rắn chưa thuần hóa của ahamkara?”

    Ông gật đầu: “Krishna giải thoát nàng gopi khỏi gánh nặng, khiến cô giác ngộ. Sau khi đầu óc được thanh lọc khỏi nọc độc thế gian, nàng gopi có năng thực thần nhĩ và thần nhãn. Khi đó, tất cả những gì cô muốn thấy là Krishna, muốn nghe là tiếng sáo du dương của ngài, và muốn làm là nhảy múa cùng ngài trong Rasa Lila linh thánh.”

    “Ngày xưa, Krishna trốn trên một cái cây gần sông Yamuna, chờ các gopi xuống tắm. Sau khi họ cởi quần áo và xuống sông, Krishna lấy trộm đồ của họ. Khi nhận ra việc ngài đã làm, họ quá xấu hổ không dám lên bờ, nhưng Krishna vẫn nhất quyết đòi họ phải bước ra khỏi nước rồi đứng trước mặt ngài trong tình trạng khỏa thân.”

    “Dĩ nhiên là ngài muốn thấy họ khỏa thân, vì ngài là người yêu của họ.”

    “Đúng vậy. Trước khi Krishna nhảy múa với các gopi, họ phải cởi bỏ hết quần áo: chính là ba lớp che phủ Kundalini. Ban đầu các gopi cảm thấy bối rối, cái tôi của họ ngần ngại từ bỏ các bản dạng quen thuộc, nhưng Krishna rất kiên quyết, nên cuối cùng họ phải cởi bỏ hết quần áo. Sau đó, Kundalini Shakti được tự do di chuyển qua các kinh mạch khác nhau trong thân thể, và những kinh mạch đó bắt đầu nhảy múa.”

    Krishna và Shiva

    “Khi Kundalini đi vào luân xa Anahata, bạn bắt đầu nghe thấy Anahata Nada, âm thanh này giống như tiếng sáo của Krishna hoặc tiếng trống của Shiva tùy thuộc con đường mà bạn theo. Các Nada khác cũng được mô tả trong kinh sách, nhưng hai loại âm thanh này là quan trọng nhất.”

    “Hãy để tôi giải thích cho bạn sự khác nhau trong Nada bằng cách mô tả mái tóc của Krishna khác với Shiva thế nào. Tóc của Krishna được so sánh với một đàn ong. Con ong làm gì với thời gian của nó? Suốt ngày nó bay từ bông hoa này tới bông hoa khác để thưởng thức mật hoa. Bông hoa ao ước con ong tới hút mật, thực tế, nhiều loài hoa chỉ tồn tại được nhờ có ong. Tương tự, Krishna lay động từ cô gái này sang cô gái khác. Từ shakti này sang shakti khác, vui vẻ với từng người. Họ khao khát ngài đến với họ, họ chỉ tồn tại vì ngài. Nhờ lòng khao khát của mình, họ thu hút ngài đến với bản thân. Mỗi tín đồ thuần thành của Krishna đều là nữ, bất kể giới tính thể xác là gì.”

    “Ong luôn vo ve, âm thanh của mái tóc Krishna được các Rishi ví như tiếng vo vo rì rầm phát ra từ vô số con ong đang say sưa. Tiếng vo ve đó là Nada. Nếu dùng hình tượng này để cải thiện sự tập trung vào Krishna, bạn sẽ bắt đầu cảm nhận được Nada này khi sự tập trung trở nên hoàn hảo.”

    “Krishna có mái tóc dài, bồng bềnh và óng ả. Tóc của Shiva cũng dài, nhưng bện lại thành những lọn dày, người dân vùng Tây Ấn gọi chúng là gì?”

    “Tóc tết”.

    “Giống như tóc tết. Mái tóc của ngài, được gọi là jata, được ví với một con rắn vì nó dài giống như sợi dây thừng, nếu nghe kỹ, bạn có thể thấy tiếng rít nhẹ như tiếng rắn phát ra từ đó. Đây là Nada của Shiva.”

    “Shiva có đeo một con rắn quanh cổ?”

    “Đúng vậy. Kundalini là Quyền Năng của Rắn. Hãy nghĩ về điều này: Shiva đeo một con rắn hổ mang quanh cổ, còn Vishnu ngủ trên Shesha, con rắn ngàn đầu. Cũng như Shiva cho phép Kali nhảy múa trên người ngài trong khi ngài vẫn là một xác chết bất động. Một hành giả thức tỉnh Shiva trong bản thể của mình cho phép Kundalini vui đùa trong mình, nhưng không bao giờ bị cám dỗ để Kundalini đồng nhất với bất cứ khía cạnh nào của tồn tại hữu hạn.”

    “Krishna cũng đã chinh phục Kundalini, theo một cách khác. Có lần ngài nhảy múa trên đầu một con rắn độc tên là Kaliya giữa sông Yamuna, kinh mạch Mặt Trăng, Krishna đã sử dụng năng lượng mặt trăng để hoàn toàn kiểm soát Kundalini, sau đó ngài nhảy múa trên người nó. Thông thường chỉ có thánh mẫu nhảy múa, nhưng Krishna đảo ngược tình thế. Đó là lý do Shiva thích thú trò chơi của Krishna. Tuy vậy, Krishna chỉ có thể làm được điều này do tâm trí của ngài đã được Shiva làm cho hoàn toàn ổn định, đó là nguyên nhân khiến Krishna yêu thích trò chơi của Shiva.”
    Lần cập nhật cuối: 19/04/2026
  8. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    NHỮNG NGƯỜI BẤT TỬ

    Các Thành Tựu Giả (Siddhas)

    “Vũ trụ là vô tận, không có khởi đầu, chẳng có kết thúc.” Vimalananda đang có tâm trạng muốn nói chuyện mà chúng tôi thì còn nhiều thời gian. “Nếu chân thành và nỗ lực, cuối cùng bạn sẽ đạt đến trạng thái nhận thức trường cửu rằng bạn là Linh Hồn Vũ Trụ, là Một, là Atman hay Brahman. Lúc đó, bạn có thể nói đúng sự thật với chính mình: “Aham Brahmasmi, Tôi là Brahman.” Ý thức phàm tục của chúng ta có ba trạng thái bình thường: thức, mơ và ngủ sâu. Turiya là trạng thái vượt ngoài ba loại này. Trong Turiya, bạn liên tục nhận thức được mình là Brahman, Thực Tại Tuyệt Đối, và Brahman là tất cả. Nhưng đó chỉ là sự khởi đầu.”

    “Tuy biết mình là Brahman nhưng bạn không thể làm mọi thứ mà Brahman có thể làm. Bạn không thể sáng tạo, duy trì và hủy diệt vũ trụ. Biết mình là Brahman thì tốt thôi, nhưng có một sự khác nhau vô hạn giữa việc tưởng tượng mình có thể tạo ra vũ trụ của riêng mình và việc thực sự có thể làm được điều đó. Trong khi bạn và tôi bị giới hạn trong vũ trụ mà chúng ta đang sống, một Rishi có thể tạo ra nhiều vũ trụ như số sao trên trời. Sự khác nhau giữa bạn và một Rishi nằm ở quyền năng của ý muốn.”

    “Biết rằng bạn là Brahman là jnana, tri thức tâm linh thông thường. Khi có kiến thức trọn vẹn về Brahman, không còn chút ích kỷ nào của cái tôi sót lại, mọi sự phân biệt, nghi ngờ và nhận định đều biến mất. Đây là Nirvikalpa Samadhi. Bạn có thể hài lòng rằng mình đã đạt đến cái Tuyệt Đối một khi bạn thành tựu Nirvikalpa Samadhi, nhưng không có niềm vui trong đó, nó khô khan, không có cam lộ, không có cực lạc. Làm sao niềm vui có thể tồn tại khi mọi thứ, từ đối tượng quan sát, chủ thể quan sát, đến sự quan sát, đều không còn tồn tại? Jnana là tốt, nhưng Vijnana còn tốt hơn nhiều. Khi đạt đến trạng thái vijnana, bạn nhận ra: “À, thì ra có ai đó đứng sau hậu trường đang điều khiển và chỉ đạo mọi người khác.” Khi điều này xảy ra, bạn trở thành một Siddha. Chỉ khi vượt qua Turiya, bạn mới có thể hiểu và biết được các vị Siddha.”

    “Một Siddha là người trở về từ trạng thái Nirvikalpa Samadhi để hoàn thiện Vijnana của mình. Quá trình này diễn ra như sau: Bạn đi từ trạng thái vô minh, trong đó bạn sở hữu các thuộc tính, đến trạng thái jnana không có thuộc tính, rồi lại trở về trạng thái có thuộc tính một lần nữa, nhưng có sự khác biệt. Hãy so sánh nó với việc ở trong bụng Mẹ, nơi bạn sẽ phải tái sinh hết lần này tới lần khác, với việc ở trên lòng Mẹ, nơi bạn có thể vui chơi tùy thích và Mẹ sẽ luôn để mắt đến bạn. Dù thế nào bạn cũng tồn tại trong mối liên hệ với Maya, vì bạn thuộc thế giới biểu hiện, nhưng có sự khác biệt lớn giữa việc ở trong vòng luân hồi và ở trên đỉnh của nó. Một Siddha vẫn trải nghiệm niềm vui và nỗi buồn, cùng các cặp nhị nguyên khác, nhưng không theo cách giống như trước đây.”

    “Cả người phàm và Siddha đều khóc khi thăm viếng bãi hỏa táng, ngôi đền đích thực của Thượng Đế, nơi chốn của Thực Tại Vĩnh Hằng. Người phàm khóc vì đau khổ, bởi họ chịu đựng cảnh chia ly, họ nghĩ rằng mình đã mất đi thứ mà họ tưởng mình sở hữu. Một Siddha khóc ra những giọt nước mắt hân hoan, vì người đó hiểu được trò chơi của Mahakala, chúa tể thời gian. Mahakala không thể tác động đến một Siddha, người đã vượt qua thời gian, không gian và nhân quả. Một Siddha có thể an nhiên chiêm ngưỡng màn kịch của Tạo Hóa như một người quan sát bất khả xâm phạm.”

    “Ngày nay, bất cứ ai đạt được chút thành tựu nhỏ đều nghiễm nhiên trở thành “siddha”. Những kẻ đó chỉ đang lừa gạt những người nhẹ dạ cả tin và đang tự lừa dối chính mình. Bất kỳ thành tựu nào bạn nỗ lực đạt được đều là một siddhi, và bạn sẽ thấy rằng trong kỷ Kali, nhiều người sẵn sàng cố gắng để có được các quyền năng siêu nhiên, nhưng chỉ có ít người sẵn sàng cố gắng vì Thượng Đế. Có rất nhiều quyền năng siêu nhiên, và nhiều loại trong số đó rất dễ dàng thành tựu. Một trong những thứ đơn giản nhất là kiểm soát rắn. Bạn có thể thành công chỉ trong một ngày. Bạn của chúng ta, Chotu, đã làm được điều đó. Anh ta không còn khoe khoang nữa, nhưng lúc đầu, chỉ để cho vui, anh ta sẽ đến gần một con rắn hổ mang hoặc cạp nong, bắt lấy nó rồi đeo quanh cổ như thể bản thân là thần Shiva, mà con rắn không dám làm gì cả, nó không dám. Ngay cả khi anh ta thọc ngón tay vào miệng nó cũng không có chuyện gì xảy ra.”

    “Tất nhiên, người phương Tây các bạn cũng có các thần thông. Các bạn đã đạt được những tiến bộ công nghệ vượt trội trong một thời gian rất ngắn. Các bạn đã đạt được cách nhìn và nghe xuyên qua những khoảng cách rộng lớn, bay lượn trên không trung, cách khai thác sức mạnh nguyên tử. Tất cả đều là các quyền năng siêu nhiên. Các bạn đã tự mình nghiên cứu và chứng minh kết quả, nên việc các bạn muốn xem kết quả nghiên cứu của chúng tôi trước khi tìn vào những gì chúng tôi nói là điều hoàn toàn hợp lý. Vấn đề duy nhất là, tất cả những thành tựu này đều nằm ngoài cơ thể. Chúng là những thiết bị, những thứ bên ngoài có thể bị mất hoặc hư hỏng. Ở Ấn Độ, chúng tôi đã hướng sự chú ý vào bên trong, nên những kết quả chúng tôi đạt được sẽ không bao giờ bị thất lạc hoặc phá hủy. Đây là khác biệt lớn giữa Ấn Độ và phương Tây.”

    “Hầu hết các chân sư sẽ khuyên bạn tránh xa các thần thông như tránh bệnh dịch, điều này đúng, theo nghĩa là rất dễ bị trói buộc bởi chúng. Đạt được một siddhi là một thành tựu lớn, nên khi đạt được nó, điều tự nhiên là ngay lập tức bạn sẽ nghĩ đến việc khoe khoang sức mạnh của nó với người khác, nhưng làm như vậy là rất ngu ngốc và nguy hiểm. Mục đích thực sự của các thần thông, tồn tại trong thân vi tế, là để loại bỏ nghiệp chướng khỏi thân nhân quả, về cơ bản chỉ là một kho chứa nghiệp chướng, rồi sau đó trả lại các món nợ nghiệp này. Thân vi tế là trung gian giữa thân nhân quả và thân vật lý. Nó ít chịu tác động của trọng lực hơn thân vật lý, do đó khi được giải phóng khỏi sự kìm kẹp của thân vật lý, nó có thể bay lên cao, cao mãi, không có giới hạn nào cho độ cao mà nó có thể với tới. Tuy nhiên, nhiệm vụ chính của nó là đi vào thân nhân quả và loại bỏ nghiệp chướng được lưu trữ ở đó.”

    “Có khả năng làm được điều này vẫn không biến bạn thành một vị Siddha. Học cách tách rời linh thể (ra khỏi thể xác) thì tương đối dễ. Thành tựu lớn hơn là có thể ngồi yên một chỗ rồi duy trì nhận biết về nhiều nơi khác nhau và nhiều cõi tồn tại khác nhau cùng một lúc. Nhưng ngay cả điều đó cũng không biến bạn thành một Siddha.”

    “Bạn phải tìm kiếm rất lâu dài và vất vả mới gặp được một Siddha thực thụ. Bạn không thể trở thành một Siddha chỉ nhờ kỳ (tập huấn) cuối tuần, cũng không thể nhờ tham gia một khóa học từ xa rồi nhận chứng chỉ tốt nghiệp qua đường bưu điện. Không! Bạn phải nỗ lực hết sức, theo đúng nghĩa đen, bằng cách ngồi thiền hoặc ngồi thực hành các nghi quỹ đến trọn đời trong nhiều kiếp sống.”

    “Ngoài ra, ngay cả sau bao nhiêu khổ luyện, bạn vẫn phải trải qua thử thách. Tất nhiên, thử thách để trở thành một siddha rất khắc nghiệt. Tôi biết vị Mahapurusha ở Girmar, người chịu trách nhiệm thử thách các sadhu. Ngài có thể đến gặp một sadhu dưới bất cứ hình dạng nào, mà bài kiểm tra chỉ kéo dài một hoặc hai phút. Nếu sadhu vượt qua, rất tốt. Nếu không, mái tóc rối bù của anh ta sẽ bị cắt và sẽ phải rời khỏi Girmar. 99.5% đã thất bại. Những sadhu 500 tuổi, 1000 tuổi, thậm chí 5000 tuổi cũng không thể vượt qua. Vì vậy, trở thành một Siddha không phải là chuyện đùa.”

    Vimalananda dùng thuật ngữ Mahapurusha, nghĩa đen là Linh Hồn Vĩ Đại, để chỉ bất cứ sinh linh nào trở nên bất tử nhờ kết quả thực hành sadhana. Các vị Rishi, Muni, Nath và Siddha đều là các Mahapurusha.

    “Tất cả đều xứng đáng. Trở thành một Siddha là một thành tựu độc nhất vô nhị, bởi vì bạn vượt qua tất cả các Nguyên tố, rồi sau đó bạn có thể tùy ý sử dụng chúng. Một Siddha không bị giới hạn về thể chất. Bản trở thành bất tử, có nghĩa là bạn ở thể akasha, nhưng bất cứ khi nào muốn, bạn có thể tạo ra một thân thể vật chất cho mình và di chuyển. Thân thể đó cũng giống như cơ thể của bất kỳ ai khác, rắn chắc vững vàng. Sau khi hoàn thành việc muốn làm, bạn chỉ cần phi vật chất hóa (biến mất), đơn giản vậy thôi. Mỗi nguyên tố đều trở về nguồn gốc của nó: Đất về với Đất, Nước về Nước, vân vân.”

    “Có lần, một vị Siddha đã nhã nhặn chứng minh điều này cho tôi thấy. Ông ấy ngồi trước mặt tôi, chỉ trong vài giây, trên mặt đất nơi ông vừa ngồi, xuất hiện một khối vật chất rắn, một vũng nước nhỏ và một làn gió ấm. Để chắc chắn hơn, tôi đưa ngón tay ra chạm vào nước, nó có thật. Sau vài phút biến mất khỏi thể xác, ông ấy hiện hình trở lại. Nhưng có một vết thương trên cánh tay ông ấy, như thể một phần thịt đã bị khoét ra. Khi tôi hỏi về điều đó, ông trả lời: “Chẳng phải cậu đã lấy đi một ít nước sao?” Lúc đó tôi mới hiểu. Tuy nhiên ngay cả như vậy cũng chỉ là khởi đầu. Tôi biết một vị Mahapurusa có kiến thức hoàn hảo về nguyên tố Đất đến nỗi nếu ông ấy chỉ cần lắc nhẹ một lọn tóc rối của mình bằng tay, mặt đất sẽ rung chuyển và những cơn sóng khổng lồ sẽ cuộn trào trên đại dương.”

    “Người phàm sẽ không thể hiểu được cách các vị Siddha chơi đùa. Đôi khi, nếu thấy thích, một Siddha có thể tách rời đầu khỏi thân rồi đi lại với cái đầu trên tay. Mọi người sẽ kinh ngạc đến mức chạy theo để xem đó là gì. Khi họ bắt đầu ồn ào quá mức, ông ấy sẽ đặt đầu vào vai trở lại như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Sau khi ở một nơi trong một thời gian, ông ta có thể trở nên nổi tiếng. Sau đó, để tránh bị mắc bẫy và bị bắt làm việc cho người khác, ông ta sẽ tan biến và không ai có thể tìm thấy nữa.”

    “Các vị Siddha quá xa vời đối với hầu hết mọi người. Trừ khi một Siddha muốn gặp bạn, bạn sẽ không bao giờ có cơ hội gặp được được người đó, đó là điều bất khả. Hơn nữa, ngay cả khi có thể gặp một Siddha, bạn có biết phải phản ứng ra sao không? Chỉ có hai cách để phản ứng với một điều gì đó xa lạ. Hoặc là bạn làm như hầu hết mọi người đều làm, rồi định nghĩa chuyện đó theo các quan niệm cũ mà bạn học được từ người thân, bạn bè, giáo viên, thầy tu, vân vân, hoặc bạn sẽ nhìn nhận nó theo một cách mới, phi ngôn ngữ. Nếu một điều gì đó thực sự mới mẻ với bạn, làm sao bạn có thể mô tả nó bằng lời, vì không có ngôn từ nào hiện hữu để diễn tả nó? Ví dụ, bạn có thể mô tả cho tôi vị của đường được không?”

    “À, nó ... ngọt.”

    “Đúng vậy, nhưng điều đó không diễn tả được gì cả. “Ngọt” chỉ có thể nếm được, nó không thể được diễn tả bằng ngôn từ. Bạn có thể nghe về từ “ngọt” cả đời nhưng nếu chưa nếm thử đường, bạn sẽ không bao giờ thực sự biết vị ngọt là gì.”

    “Tương tự, bạn có thể hiểu được ý chính của một sự vật bằng cách nói về nó, nhưng lời nói không thể thay thế kinh nghiệm. Cách diễn đạt bằng lời nói là gián tiếp, không có ích gì cho một jnani muốn kinh nghiệm Thực Tại. Vậy thì làm sao nó có thể có ích gì cho một Siddha, người cao hơn jnani đến ba bậc?”

    “Các vị Siddha có thể kinh nghiệm những điều mà hầu hết con người không bao giờ có thể tưởng tượng nổi, ngay cả sau hàng triệu kiếp sống. Chỉ cần ví dụ: lễ hội tắm cổ xưa, Kumbha Mela, Lễ hội Chiếc Bình, được tổ chức ba năm một lần luân phiên ở Hardwar, Prayaga (Allahabad), Nasik và Ujjain khi có sự giao hội đặc biệt (của các thiên thể) trên bầu trời. Người ta nói rằng tắm trong dòng sông linh thiêng thích hợp vào những thời khắc đặt biệt này sẽ mang lại cho bạn một giọt Amrita từ chiếc bình cam lộ trên trời.”

    “Lễ hội quan trọng nhất trong số này được tổ chức ở Prayaga, tại một địa điểm gọi là Triveni Sangama, nơi ba con sông hợp lưu: Ganga, Yamuna và Sarasvati vô hình. Sarasvati bị che giấu vì ở đây nó đại diện cho Sushumna, kinh mạch quan trọng nhất, mang Kundalini đến cõi giới không hiển lộ. Dòng chảy của Sushumna ẩn giấu trong cơ thể cũng giống như dòng chảy của sông Saravati ẩn giấu trên trái đất.”

    “Ngày nay, mặc dù việc tắm gội vào ngày thích hợp trong Triveni Sangama mang lại một số lợi ích, nhưng lễ hội Kumbha Mela căn bản là một lễ hội bí truyền. Vào ngày Kumbha, một Siddha không cần phải đến Prayaga để tắm. Ông có Triveni Sangama và bình cam lộ của riêng mình ngay bên trong. Triveni Sangama chính là luân xa Ajna, nơi các mạch Surya và Chandra gặp Sushumna. Bạn biết hai con đường dẫn đến luân xa Ajna: lỗ mũi phải và trái, jnana và bhakti. Dù chọn con đường nào, Triveni Sangama của riêng bạn vẫn tồn tại trong luân xa Ajna. Một Siddha ngồi ở bất cứ đâu, cái tôi hay Kundalini Shakti của ông, tắm mình (trong thiền định), nhờ đó ông nhận một giọt Amrita từ bình cam lộ của chính mình, từ đỉnh đầu của ông.”

    Tôi xen vào: “Vậy ở đây, cái bình giống như trong Ghata Sthapana và không ám chỉ đến ngực hay pranayama, mặc dù từ kumbha được sử dụng?”

    “À, nhưng nó thật ra cũng đề cập đến pranayama. Vào ngày và giờ đã định, vị Siddha ngồi ở một tư thế nhất định, gom tụ prana vào luân xa Vishudha. Hơi thở ông chậm dần chỉ còn hai ngón tay, rồi một ngón. Hãy nhớ rằng đây không phải là nín thở cưỡng bức, đây chính là kevala kumbhaka đích thực, trong đó hơi thở chậm dần rồi sau đó tự động dừng lại khi hai luồng khí đạt được độ cân bằng hoàn hảo. Một khi vị Siddha đã làm bình lặng hơi thở của mình, ông sẽ thu rút prana từ hai mạch vào luân xa Ajna. Ajna đại diện cho điều gì?”

    “Cho guru ajna. Những hướng dẫn từ guru.”

    “Đúng. Ở đây, guru là mặt trời, là vị đạo sư của thế gian. Nhịp thở chậm lại gần như dừng hẳn khi Kundalini Shakti vươn tới luân xa Ajna. Vấn đề không phải là nín thở, không phải là hít vào, mà là thở ra liên tục và trọn vẹn. Nếu đi bơi rồi lặn xuống nhưng hít vào, bạn sẽ nổi lên. Còn khi thở ra, bạn sẽ chìm xuống đáy, việc này là cần thiết ở đây. Cái tôi, cái ngã phải lặn xuống, chìm xuống tận đáy của dòng sông để được thanh tẩy khỏi mọi ô trược. Khi được thanh tẩy trọn vẹn, nó trở thành Kula Kundalini. Tại thời điểm đó, khi Kundalini Shakti ở dạng thanh khiết nhất, nó đủ điều kiện cho sự hợp nhất thần thánh với Shiva của mình. Kết quả là Sadashiva, hình thái vĩnh cửu của Shiva.”

    “Cũng như Krishna yêu cầu các gopi phải khỏa thân trước mặt ngài, Shiva chỉ giao phối với Kundalini Shakti khi Shakti hoàn toàn khỏa thân, rũ bỏ trọn vẹn ba lớp che phủ, đặc biệt là ba Guna. Khi còn là một đạo sĩ lõa thể, tôi luôn hỏi các vị lõa thể khác rằng: “Chỉ bằng cách cởi bỏ quần áo, anh có thành tựu điều gì không? Anh có giải thoát không? Chỉ khi nào anh có thể loại bỏ Sattva, Rajas, và Tamas thì anh mới thực sự cởi bỏ được điều gì đó, nếu không thì vô ích.”

    “Có lẽ ông không được nhiều người biết đến khi còn là một tu sĩ?”

    “Không, nhưng tại sao lại cần nổi tiếng? Tôi không cố gắng giành chiến thắng trong bất cứ cuộc thi nổi tiếng nào. Một tu sĩ nên tìm kiếm chân lý, chứ không phải sự chấp thuận, mà để tìm ra chân lý, bạn phải thực sự trần trụi. Có một cụm từ tiếng Anh: Sự thật trần trụi. Dịch sang tiếng Phạn là nagna satya, cũng có thể có nghĩa là Sự thật trần trụi, hoặc Trần trụi là chân lý. Tôi thích phiên bản cuối hơn: Trần trụi là Chân lý. Sự trần trụi thực sự đến khi bạn bóc tách ba lớp vỏ của bản ngã: Ba Guna, Sáu Vị và Năm nguyên tố. Chỉ khi đó, cái ngã mới trở nên chân thực. Người ta bảo tiếng Phạn là một ngôn ngữ chết, nhưng tôi nghĩ chúng ta vừa tạo ra một từ mới.”

    “Tắm bằng nước sẽ không thể gột rửa bất kỳ vết nhơ thực sự nào của bạn, cần tắm rửa tâm trí mới làm được điều đó. dòng suối Amrita mà cái ngã tắm rửa trong đó chính là chất liệu của tuyến nội tiết, một chất dịch tiết ra từ tuyến tùng. Sự giao hội của các thiên thể khiến tuyến tùng và tuyến yên tăng tiết, giải phóng một dòng cam lộ Amrita để tắm gội cho bản ngã. Cho nên, bằng cách tắm ở một trong bốn thành phố thiêng liêng vào ngày Kumbha, bạn sẽ được tắm rửa về thể xác, còn thông qua quá trình nội tại này, bạn sẽ được tắm gội linh hồn. Sau đó, bạn đủ điều kiện để được tắm rửa trên linh giới hay adhivaika, nơi mà thật không may là chẳng thể diễn tả được. Mọi người đến rồi đi, thưởng thức tắm Kumbha bên ngoài hết lần này đến lần khác, nhưng việc tắm rửa linh hồn này lại hoàn toàn khác. Không ai muốn quay trở lại sau lần thanh tẩy bên trong này.”
    Lần cập nhật cuối: 20/04/2026
  9. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Các vị Rishi, Muni, Nath và Siddha

    Sau khi dừng lại để châm một điếu thuốc, Vimalananda tiếp tục câu chuyện.

    “Trở thành một Siddha là điều tuyệt vời, kỳ diệu, nhưng đó không phải là đỉnh cao nhất. Nếu Kundalini của bạn vươn tới Sahasrara, bạn sẽ thấy rất nhiều điều khiến bạn kinh ngạc. Bạn sẽ thấy hàng trăm bông hoa đủ màu sắc. Mỗi bông hoa đó là một shakti, nếu hái một trong số chúng, bạn sẽ nhận được shakti đó, việc này sẽ giữ bạn ở vùng ngoại vi. Bạn sẽ tạo ra một quỹ đạo nhỏ cho riêng mình, bạn có thể ở đó qua nhiều thời đại. Các Siddha thường ở lại trong quỹ đạo của riêng họ do quá say mê với những gì họ đã đạt được. Chỉ khi bị một thế lực cao hơn, ép buộc kéo họ đi xa hơn, họ mới tiến lên, và khi đó họ sẽ thấy rằng có những quỹ đạo cao siêu hơn nhiều để chuyển đến.”

    “Để phát triển như một Siddha, bạn phải quên đi mọi thứ khác ngoại trừ việc tiến gần hơn tới trung tâm. Việc đạt đến trung tâm gần như là bất khả thi, vì đó là đặc quyền của các Rishi cao cấp nhất, nhưng bạn có thể tiến gần hơn nữa đến nó. Nếu bất cứ khi nào quyết định rằng mình cần tiến xa hơn tầm mức tồn tại này, bạn có thể hoàn toàn xóa bỏ tính cá nhân của mình để hòa nhập vào trung tâm.”

    “Hãy cố gắng nhìn nhận khách quan vấn đề tôi đang nói. Ngay cả sau khi trở thành một Siddha, bạn vẫn cần thời gian để tiến triển hơn nữa. Tất nhiên, một Mahapurusha, người đã vượt ngoài thời gian, không gian và nhân quả, không coi trọng thời gian, nhưng đối với bạn và tôi, thời gian dường như dài vô tận. Sau hàng ngàn năm tu luyện, một Siddha có thể được phép gặp một vị Nath và học hỏi từ ông ấy. Nếu một Siddha tu học chăm chỉ, anh ta có thể trở thành Nath.”

    “Các Nath chính là các Aghori. Họ khiến mọi thứ trong bản thể của mình tự đồng nhất với Shiva ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn và cám dỗ nhất. Phương châm của họ là “Alak Nỉanjan” Alak có nghĩa là “a laksha”, không quy kết khái niệm hoặc không phân biệt. Nir anjana nghĩa là hoàn toàn trong sạch, không có bất kỳ lỗi lầm, ô nhiễm hay khuyết điểm nào. Cái gì không thể định nghĩa và không thể ô nhiễm? Chính là Brahman tuyết đối bất diệt.

    “Hầu hết mọi người sẽ khiếp sợ khi nhìn thấy một người Nath trong hình dạng thật của hắn, với mái tóc rối bù, chiếc kẹp than củi lớn, túi đầy tron hỏa táng và đôi mắt hung dữ không chớp.”

    “Tất cả các tu sĩ lang thang Nath ăn mặc như thế này thực chất đều đang bắt chước các vị Nath đích thực, những người bất tử?”

    “Đúng, và mỗi phần trong các trang phục của họ đều có ý nghĩa riêng, không chỉ đơn thuần là trang trí. Các tu sĩ Nath được biến đến với tên gọi Kan Phatas (xỏ khuyên tai) vì những chiếc khuyên tai lớn mà họ được các vị thầy ban tặng lúc làm lễ nhập môn. Những khuyên tai này sẽ được đeo suốt đời tu sĩ, vì quy định trước đây là nếu một chiếc khuyên tai bị gãy thì tu sĩ đó phải tự tử ngay lập tức. Tôi nghi ngờ rằng rất ít tu sĩ Nath còn tuân theo quy tắc này ngày nay. Từ “khuyên tai” còn gợi nhớ cho bạn điều gì không?”

    “Kundalini, vì kundala nghĩa là khuyên tai.”

    “Chính xác. Vậy là có mối liên giữa khuyên tai và Kundalini, hay nói chính xác hơn, giữa vị trí xỏ khuyên và Kundalini. Tai chứa đầy các kinh mạch quan trọng, đó là nguyên nhân người Trung Quốc sử dụng phổ biến phương pháp châm cứu tai. Các tu sĩ Nath được kỳ vọng phải sống độc thân, một lý do họ xỏ khuyên tai là khi xỏ đúng vị trí trên thùy tai, bạn có thể ngăn ngừa chứng tràn dịch màng tinh hoàn, một biến chứng có thể xảy ra khi sống độc thân. Tất nhiên, nếu xỏ sai tiêu điểm một chút thôi, bạn sẽ bị liệt dương vĩnh viễn, vì vậy tốt hơn là nên biết trước khi xỏ.”

    “Nếu họ phải sống độc thân thì việc họ bị bất lực có gì khác nhau, ngược lại, điều đó lẽ ra phải làm họ hạnh phúc mới đúng chứ?”

    “Hãy nghĩ xem, nếu họ mất hoàn toàn năng lượng sinh dục, họ sẽ làm gì? Còn lại gì có thể sử dụng để đánh thức Kundalini?”

    “À đúng rồi. Bạn phải có sức khỏe sinh lý tốt để thực hành Tantra.”

    “Các vị Nath bất tử hết lòng tôn kính guru Dattatreya của họ, ăn mặc như vậy để tôn vinh Adi Nath, vị Nath đầu tiên: Shiva. Vì vậy, Shiva không phải là guru ở đây, ngài là một đệ tử trong phái của Dattatreya, vị Aghori đầu tiên trong tất cả. Bạn có thể tưởng tượng Dattatreya sẽ như thế nào nếu đệ tử đầu tiên của ngài chính là Shiva?”

    Tôi cố hình dùng về Dattatreya.

    Vimalananda nói đầy ngưỡng mộ: “Các Nath thực sự là các nath (các bậc thầy). Họ là bậc thầy của mười giác quan. Một dây thần kinh đặc biệt được tạo ra, giác quan thứ mười một, cho phép họ nhận các chỉ dẫn bằng thần giao cách cảm. Các Nath cao hơn các Siddha vì họ nhận truyền đạt qua thần giao cách cảm trực tiếp từ các vị thầy của họ, là các vị Muni. Đó là lý do các Nath luôn chờ đợi adesha, các hướng dẫn: “Điều được nghe mà không cần tai, được nhìn mà không cần mắt, được nói mà không cần lưỡi.”

    “Vì bất tử và hoàn toàn kiểm soát được các giác quan, các Nath cũng là những bậc thầy của thế giới vật chất. Chỉ cần tiểu tiện hay thậm chí nhổ nước bọt lên đá, các Nath cũng có thể tạo ra vàng. Trong thuật giả kim, bạn phải dùng kim loại làm nguyên liệu thô, nhưng các Nath chỉ cần một hòn đá. Họ đã ăn và tiêu hóa đủ loại chất độc, điều này đã làm thay đổi quá trình trao đổi chất của họ đến mức họ trở thành chuẩn mực thử vàng. Cho nên tất nhiên các Nath sẽ không coi trọng vàng, hoặc những người như vua chúa thực sự coi trọng nó. Họ chỉ coi trọng vàng của ý thức thanh tịnh. Một vị Nath thực sự là một chuẩn mực tâm linh. Bất cứ ai tiếp xúc với một vị Nath đều phải trở thành một con người tâm linh của Thượng Đế, dù muốn hay không.”

    “Các Nath có một phương pháp giảng dạy hoàn toàn khác. Có lần, khi Gorakh Nath đang ngồi bên đống lửa (linh ảnh trong lửa), ông thấy vợ vua qua đời còn nhà vua thì khóc như thể thế giới của ông đã kết thúc, Gorakh quyết định đến gặp vua. Ông mang theo chiếc bình đất nung, khi bước vào diện kiến, ông đột nhiên đánh rơi nó, khiến nó vỡ tan thành trăm mảnh, nên Gorakh bắt đầu khóc: “Ta đã mất chiếc bình xinh đẹp yêu quý biết bao, giờ nó đã ra đi mãi mãi rồi!”

    Nhà vua nhìn ông với vẻ kinh ngạc rồi hỏi: “Ông điên rồi sao? Khóc lóc vì một chiếc bình cũ? Ông có thể mua hàng trăm chiếc như vậy ngoài chợ!”

    “Gorakh nói: “Thưa ngài, là người cai trị đất nước, trong hậu cung có rất nhiều phụ nữ xinh đẹp. Hơn nữa, ngài có thể có được bất kỳ người đàn bà nào nếu muốn. Tại sao phải khóc than chỉ vì mất đi một người?”

    Vua đáp: “Nhưng nàng quá xinh đẹp, hết sức lạ lùng, có nhiều phẩm hạnh nên nàng rất đáng yêu đối với tôi.”

    Gorakh lấy một ít tro từ túi đeo vai ném xuống đất. Ngay lập tức hai người phụ nữ còn sống xuất hiện, mỗi người đều là bản sao hoàn hảo của bà vợ đã khuất của vua. Gorakh hỏi: “Ngài có thể cho tối biết ai trong số họ là vợ ngài không? Nếu biết rõ bà ấy đến vậy, ngài hẳn phải nhận ra phải không?”

    Tuy nhiên nhà vua không thể phân biệt được ai là vợ mình, cả hai đều giống hệt nhau. Rồi Gorakh bảo: “Ngài thậm chí còn không nhận ra vợ mình, vậy mà lại thương cảm đến thế! Giờ thì ai là kẻ ngốc, ngài hay tôi?”

    Nhờ đó nhà vua đã hiểu ra.

    “Thực chất, các Nath là tạo vật của một vài Muni, mà đến lượt những người này lại chỉ là hiện thân của một số ít Rishi. Nhưng mỗi nhóm lại được duy trì trong sự vô minh về bản thể chân thực của mình để Lila, màn kịch vũ trụ, có thể tiếp diễn. Họ bị giới hạn trong sự tồn tại mới của mình để thực hiện các nhiệm vụ nhất định. Nếu các Nath và Muni biết mình là ai, họ sẽ không thực hiện nhiệm vụ đúng đắn.”

    “Một Nath phải chờ đợi hàng triệu năm để gặp một Muni, và sau quá trình khổ tu dài đằng đẵng, một vị Nath cuối cùng có thể trở thành một Muni. Thực ra, một Muni nên được gọi là Mauni, người giữ im lặng. Ông ta hoàn toàn không nói bằng Vaikhari, ông ta chỉ giao tiếp bằng mắt hoặc thần giao cách cảm. Một Muni phải chờ đợi nhiều Yuga hoặc Manvatara để có thể thoáng thấy một Rishi, sau đó, nếu được định sẵn, sau nhiều tỷ năm làm Muni, ông ta có thể có cơ hội trở thanh một Rishi. Các vị Mahapurusha thấp hơn đều đang trong quỹ đạo, mỗi vị có quỹ đạo riêng của mình, tất cả đều bị ràng buộc nhưng nhẹ nhàng. Một vị Rishi thì hoàn toàn tự do. Người đó có thể du hành tới bất cứ vì sao hay thái dương hệ nào nếu thích, trong nháy mắt.”

    “Điều này có áp dụng cho phụ nữ không?”

    “Một phụ nữ đạt đến trạng thái không thuộc tính sẽ tái sinh thành một Bhairavi hay Yogini, ở đây thứ bậc cũng rất nghiêm ngặt. Sau nhiều Yuga, bà ấy thăng tiến lên thành một đại nữ thần, cuối cùng bà ấy lui về hậu trường, giống như các Rishi cao cấp nhất, để những người khác thưởng thức vở kịch. Thực ra, nhưng người ở hậu trường điều khiển tất cả các diễn viên, giống như người điều khiển con rối giật dây. Nhưng không ai biết điều đó ngoại trừ các Shakti và Shaktiman cao cấp nhất.”

    Một thoáng cảm xúc bối rối hiện lên trên khuôn mặt tôi, nên Vimalananda càng tỏ rõ thái độ hơn.

    “Đúng vậy, tôi biết mình đang nói gì. Các Rishi là những người điều khiển con rối, toàn thể chúng sinh khác trong vũ trụ, tử hay bất tử, đều là những con rối của họ. Các Rishi đi khắp nơi tạo ra mas (nợ nghiệp) để mọi người phải trả, để ràng buộc họ và giúp họ tiến bộ. Nếu muốn thoát kiếp làm con rối, bạn phải thực hành sadhana.”
    Lần cập nhật cuối: 21/04/2026
  10. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    82
    Đã được thích:
    1
    Các vị Siddha đáng chú ý

    “Muốn gặp một Nath, Muni, Rishi hay một trong những Shakti tối cao, thì gần như là điều không thể. Tuy nhiên bạn có thể gặp được các Siddha. Tôi rất may mắn gặp được Telang Swami, một Siddha vĩ đại. Khi còn ở Himalaya, tôi đã gặp Babaji, vị Siddha mà Yogananda đã kể. Babaji là một vị Siddha giỏi, không nghi ngờ gì nữa, nhưng em gái ông ta còn giỏi hơn!

    “Để tôi kể cho bạn nghe về một Siddha khác mà tôi đã gặp. Ông ta là một người rất khác thường, ngay giữa rất nhiều người khác thường trong vũ trụ này. Vài năm trước, một cảnh sát nhìn thấy một người lang thang trong vùng nước đọng của Cochin, thuộc bang Kerala ngày nay. Khi cảnh sát chặn lại và hỏi tên, người đàn ông đáp: “Tên tôi là Prabhakaran, tôi đến đây để chăm lo cho lợi ích của các cháu chắt đời thứ tư của mình.” Viên cảnh sát nghĩ ông ta đang nói đùa nên hỏi tuổi. Người đàn ông đáp: “Hơn bảy trăm tuổi”. Cảnh sát liền bắt ông ta vào đồn.”

    “Prabhakaran nói với các cảnh sát tại đồn rằng ông ta không ăn uống gì cả, vì vậy các quản giáo thông báo: “Chúng tôi sẽ giam giữ ông trong phòng biệt giam mà không có đồ ăn, thức uống và cả nhà vệ sinh.” Prabhakaran nói: “Được thôi.” Năm sáu ngày sau, khi Prabhakaran vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, các quản giáo phải thừa nhận khả năng của ông.”

    “Rồi họ hỏi ông: “Có ai biết ông không?” Prabhakaran trả lời: “Hãy hỏi C P Ramaswami Aiyar, ngay khi họ gọi điện báo cho người này, lúc đó là thủ tưởng của Travancore (nay cũng là một phần của Kerala), ông ấy lập tức bay đến Cochin để gặp Prabhakaran và yêu cầu ông trở về Travancore cùng vì hạnh phúc của con cháu mình, nhưng Prabhakaran nói: “Không, cụ thích quay về biển.” Ngay sau khi nhìn thấy hậu duệ của mình còn khỏe mạnh, ông đi xuống đại dương. Điều đó chẳng là gì với ông. Ông đã trải qua bốn trăm năm trên dẫy Himalaya và hai trăm năm dưới biển. Tóm lại, ông ấy là một Siddha.”

    Gần đây tôi nghe nói có một người đàn ông mà một số người cho là Prabhakaran đã sống trên đất liền trong một tu viện nhiều năm, dành phần lớn thời gian để khiêu vũ trong trạng thái Bhava Samashi. Cuối cùng, ông tuyên bố với mọi người rằng sau bảy trăm năm tồn tại, ông đã chán ngấy cuộc sống này và quyết định rời bỏ thân xác trong mười hôm nữa, và ông đã làm thật.”

    “Còn có Vishuddhananda. Ông ấy là niềm tự hào của Ấn Độ, một Siddha thực thụ, không giống như những bị baba chỉ biết tạo ra tro từ không khí và tương tự. Vào ngày đầu gặp ông ấy ở Benaras, ông đang trong tâm trạng rất tốt nên bắt đầu ấn vào vùng quanh rốn, rồi đột nhiên một cuống sen mọc ra, giống như cuống sen ở rốn thần Vishnu. Khi ông tiếp tục ấn, nó dài ra và một bông sen đỏ xuất hiện. Tại sao là màu đỏ? Vì màu đỏ tượng trưng cho nguyên tố Lửa, thứ ngự ở vùng bụng, luân xa Manipura. Có một mùi hương tuyệt diệu. Sau một lúc ông ấn tiếp, nó lại trở vào cơ thể ông, vào trong rốn. Bạn có thể tin nó hay không thì tùy, tôi không quan tâm.”

    “Rốn là một cấu trúc thực sự thú vị. Nếu biết kỹ thuật, bạn có thể hút nước qua rốn và thải ra qua dương quan. Ngày nay, mọi người trên thế giới đều thực hiện sáng tạo, hay đúng hơn là sinh sản, bằng dương quan, nhưng Brahma, đấng sáng thế vũ trụ, lại làm điều đó bằng rốn của mình, bởi vì chính ngài được tạo ra từ rốn của Vishnu.”

    “Sau màn trình diễn này, đệ tử chính của Vishuddhananda, Pan*** Gopinath Kaviraj, người được coi là chuyên gia hàng đầu về văn hóa Ấn Độ thời bấy giờ, đã nở một nụ cười tươi, nghĩ thầm: “Đúng vậy. Guru của tôi có thể làm được việc này. Cậu thì làm được gì, tên Aghori rách rưới kia?” Tôi nhìn ông ta và nói: “Ông từng nghe nói về Vajroli chưa?” Ông trả lời đã nghe rồi.”

    “Mang cho tôi một ít thủy ngân!” tôi bảo ông.

    “Lúc đó, Vishuddhananda đang nghiên cứu về thủy ngân nên họ có rất nhiều, mang đến một hộp thiếc kín nặng 56 pound rồi mở nó ra trước mặt tôi. Tôi hút thủy ngân vào qua dương quan của mình. Tất cả bọn họ đều há hốc mồm kinh ngạc. Rồi tôi nói: “Aghora Nath sẽ cho các anh thấy một chút về thủy ngân. Hãy vắt tóc tôi!” Vậy là toàn bộ lượng thủy ngân hút vào đều được thu hồi từ những lọn tóc của tôi. Việc này đã giúp chúng ta ở thế cân bằng hơn.”

    “Vishuddhananda là một chuyên gia về Surya Vijnana, kiến thức về cách tận dụng tối đa mặt trời. Bạn nghĩ chuyện này đơn giản sao? Không bao giờ! Chỉ khi hiểu ý nghĩa cụm từ “Surya Putra, Agni Mitra” (con trai của mặt trời, bạn của lửa) thì bạn mới có thể hy vọng hiểu được Surya Vijnana. Tất nhiên nó có liên quan đến việc thanh lọc nguyên tố Lửa trong thân thể.”

    “Vishuddhananda sẽ lấy một vật bình thường, như chiếc bánh quy, đặt lên một cái khay lớn. sau đó, ông sẽ chiếu những tia nắng mặt trời vào nó thông qua những yantra nhất định và chiếc bánh quy sẽ biến thành một chú chó con. Đúng vậy, nó sẽ sống và di chuyển xung quanh. Ông sẽ để nó chơi một lúc, rồi thay đổi các yantra một lúc thì chú chó lại biến thành một bông hoa. Đổi thêm lần nữa và một em bé sơ sinh xuất hiện. Cuối cùng, ông biến vật đó thành một tulsi (húng quế thiêng), rồi đưa nó cho một người để dâng lên sông Hằng.”

    “Ông thường cất những hạt của xâu chuỗi trong cánh tay. Khi muốn niệm chú, ông lấy chúng ra, kết thành xâu chuỗi, dùng chuỗi tràng hạt đã hoàn thành để đếm số lần niệm. Sau khi đã hoàn thành số biến đã định, ông tháo tràng hạt ra và cất lại các hạt vào trong cánh tay. Không có lỗ, không có sẹo, không có gì cho thấy chúng đã được cất vào hay lấy ra ở đâu. Ông ấy thậm chí còn giữ một tượng Shiva Linga bằng thủy ngân đông đặc trong một khoảng trống trong vòm miệng.”

    “Tôi đã dành một thời gian ở cùng ông tại Benaras. Một hôm, khi đang đi cùng nhau, ông trở nên say sưa với các quyền năng của mình, rồi đột nhiên một hộp sọ mà ông đang cầm bắt đầu cử động quai hàm, như thể nó đang nói chuyện. Tôi hiểu ra ý tưởng đó, đột nhiên hai tảng đá nằm gần đó va chạm nhau liên tục, cho đến khi chúng bị đập vỡ ra thành từng mảnh vụn. ông ta cũng hiểu ra ý đồ của tôi: khi hai người cạnh tranh nhau, kết quả chỉ có thể là sự phá hủy, giống như các tảng đá trừ khử nhau.”

    “Vishuddhananda là một Siddha đích thực, ông đã học được vijnana ở hồ Manasasarovar, Tây Tạng. Tuy nhiên, ngay như ông cũng vẫn còn một khuyết điểm, phô trương bản thân trước quá nhiều người, nên khi chuẩn bị rời bỏ thân xác vĩnh viễn, ông phải chịu đựng bệnh tiêu chảy để thanh lọc toàn bộ nghiệp luân hồi. Cái gì thái quá cũng đều phải bị loại bỏ.”

    Vishuddananda đã sống nhiều năm ở cổng bưu điện chính tại Benaras, vì vậy việc tránh né mọi người không phải là việc dễ dàng với ông. Tuy nhiên, luật nhân quả không có ngoại lệ.”

    “Dĩ nhiên, ông ấy không cần phải chết, vì là một Siddha. Nhưng ông muốn chết để có thể tiếp tục phát triển hơn nữa. Trở thành một Siddha là thành tựu vĩ đại, nhưng vẫn chẳng là gì so với việc trở thành một Rishi.”

    Rishi

    Vimalananda châm thêm điếu thuốc nữa.

    “Không có gì bị mất đi trong vũ trụ. Cho dù những chuyện đã xảy ra cách đây hàng triệu năm vẫn có thể biết được, do âm thanh của chúng vẫn còn tồn tại. Âm thanh, là rung động, một loạt những cơn sóng, có thể truyền đạt bằng nhiều cách. Ánh sáng có thể truyền âm, điều này cũng được khoa học hiện đại chứng minh. Con người nhận thức âm thanh thông qua các phân tử rung động trong không khí, trong ánh sáng, và các rung động khác, nhưng âm thanh vẫn hiện hữu trong ánh sáng như vậy. Nó có thể ở dạng vi tế hơn thứ mà tai có thể nghe, tuy nhiên nó vẫn ở đó, nên bất cứ ai có khả năng cảm nhận được các âm thanh vi tế đều sẽ nghe được nó.”

    “Đây là nguyên nhân kinh Veda được gọi là shruti, thứ được nghe thấy, để phân biệt nó với các văn bản sau này do con người viết ra, được gọi là smrti, thứ được ghi nhớ. Hãy nghĩ về chuyện đã xảy ra với người đầu tiên nhận thức được âm thanh vi tế này. Một hôm, khi đang ngồi thẫn thờ, anh ta bắt đầu thiền về “thứ đang tồn tại”, đó là điều tự nhiên. Sau một thời gian dài thiền định, anh ta nhớ lại âm thanh đầu tiên, ngôn từ nguyên thủy, câu thần chú mạnh nhất của shakti. Âm thanh đầu tiên mà anh ta nghe được là Adi Natha, cổ xưa nhất: âm OM, chẳng gì khác hơn là Shiva. Khi tiếp tục thiền, anh ta tiến bộ qua từng giai đoạn rồi trở thành một Paramahamsa, rồi một Siddha, Nath, Muni, và cuối cùng là Rishi.”

    “Từ Rishi nghĩa là “người nhìn thấy”. Một Rishi là một nhà Tiên Tri, người nhìn thấy bằng con mắt thiêng liêng của nhận thức, nghe thấy bằng đôi tai thiêng liêng về mọi thứ đã xảy ra trong quá khứ. Khi nói, người đó nói bằng ngôn ngữ thiêng liêng, bất cứ điều gì người đó nói đều sẽ phải xảy ra. Các kinh Veda được tạo thành từ những bài tụng ca thần chú mà một số Rishi đã “nhìn thấy”, chứ không phải sáng tác. Họ “nghe thấy” những âm thanh vi tế đã làm nên những bản tụng ca này, rồi chuyển dịch chúng thành các từ, những âm thanh mà tai người có thể nghe được. Những bản tụng ca thần chú này có thể mang lại những bước tiến hóa vượt bậc trong sự phát triển của những người biết cách sử dụng chúng đúng đắn. Các Rishi ngầm ban rải huyền âm của những bản tụng ca này ra xung quanh, kiểm tra xem ai có thể đón nhận được năng lượng vi tế của chúng.”

    “Một số sadhu và yogi tự xưng là Rishi, nhưng tôi e rằng tất cả bọn họ đều đang nói những điều vô nghĩa. Các Rishi rất khác biệt so với những người như bạn và tôi, về mọi mặt. Rishi là một sinh linh bất tử, một chúng sinh sống trong khoảng thời gian gần như không thể tưởng tượng nổi đối với con người chúng ra. Mỗi Rishi có thể tạo ra một cơ thể cho mình bất cứ khi nào ông ta muốn, khi không còn cần đến nó nữa, ông ta có thể làm nó tan biến. Bằng cách này, một Rishi có thể biết về từng phân tử của mỗi chiều không gian, nên người đó biết các đặc tính và kinh nghiệm mà mọi tử cung có thể chứa đựng.”

    “Kinh sách nói rằng có 8 400 000 loại tử cung (sinh ra các loài). Ý nghĩa số học là 8+4=12, 1+2=3, ba Guna tạo nên biển Maya mà toàn thể chúng sinh đang vùng vẫy trong đó. Thực ra, không ai biết có bao nhiêu loại tử cung trong vũ trụ, vì tử cung là vô số. Bất cứ hoàn cảnh nào mà ý thức của bạn bị lôi cuốn vào khi bạn chết đều đóng vai trò như tử cung của bạn.”

    “Ngày xưa, Narada hỏi Shiva rằng trong vũ trụ có bao nhiêu tử cung. Shiva đáp: “Ta chỉ lấy đi sự sống, ta không tạo ra nó. Hãy hỏi Vishnu! Nhưng Vishnu nói với Narada: “Ta chỉ bảo toàn sự sống, ta không có nhiệm vụ tạo ra cái gì cả. Hãy hỏi Brahma! Và Brahma nói: “Nghe này, ta vừa tạo ra các tử cung, ta không đếm xem mình đã tạo ra bao nhiêu.” Không còn ai khác để hỏi. Chỉ một số Rishi nhất định mới biết toàn bộ tử cung hiện có, đó là lý do có rất nhiều điều để học hỏi từ một vị Rishi, nếu bạn có thể tìm được một vị.”

    “Đó, là cả một vấn đề.”

Chia sẻ trang này