1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

AGHORA II: Kundalini

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi phunglam, 26/03/2026.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    95
    Đã được thích:
    1
    Thời gian và Không gian

    “Nó chỉ là một vấn đề khi bạn thiếu kiên nhẫn. nếu quyết định rằng việc tìm kiếm một vị Rishi là điều muốn làm nhất, bạn sẽ bắt tay vào thực hiện, bất kể phải mất bao nhiêu kiếp. Suy cho cùng đó chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.”

    “Là những bậc minh triết bất tử, họ không bị ràng buộc bởi thời gian như chúng ta. Họ đã vượt ngoài tầm với của Mahakala, Tử Thần mà tên gọi cũng chính là Thời Gian. Mahakala là trung tâm của toàn thể các vũ trụ, là ranh giới giữa hữu hình và vô hình. Cái chết cung cấp giới hạn cho sự hiện hữu nhờ sự trợ giúp của thời gian. Tất cả chúng ta, những người được sinh ra, đều được định sẵn là sẽ chết, chừng nào còn sống, chúng ta đều tồn tại trong dòng chảy thời gian. Một khi chết, chúng ta sẽ biến mất khỏi dòng thời gian cho đến khi được tái sinh.”

    “Khi còn sống, thời gian là có thật đối với chúng ta, nhưng nó chỉ mang tính tương đối, bạn thấy điều này trong mỗi ngày của chính mình. Ở văn phòng, thời gian dường như trôi qua rất chậm, nó dài lê thê, nhất là khi bạn không yêu thích công việc của mình. Tuy nhiên, khi bạn đang bận rộn làm việc gì đó rất thú vị, như ân ái chẳng hạn, bạn sẽ nói: “Ôi, thời gian trôi nhanh quá!” Thực ra thời gian trôi với tốc độ như nhau, khác biệt chỉ do góc nhìn của bạn. Nếu từ một khác biệt nhỏ về góc nhìn lại có thể ảnh hưởng lớn đến cách bạn cảm nhận thời gian, thì bạn có thể tưởng tượng khác nhau lớn đến mức nào giữa góc nhìn của con người và vũ trụ?”

    “Bạn chỉ có thể biết một thời điểm hoặc không gian cụ thể nếu hệ quy chiếu của nó phù hợp với bạn. Con người sẽ khó có thể sống lâu trên mặt trăng hoặc các hành tinh khác do cơ thể được tạo ra để sống trong thời không của trái đất, trái đất là hệ quy chiếu của chúng ta. Các Rishi, những người có thể sử dụng mặt trời làm hệ quy chiếu của họ, không gặp phải vấn đề này. Trong khi bạn và tôi tính năm của mình theo quá trình trái đất quay quanh mặt trời, các Rishi tính năm của họ theo quá trình mặt trời quay quanh thiên thể khác. Rõ ràng, quan điểm về thời gian của họ rất khác so với chúng ta. Họ đã vượt qua mọi giới hạn của thời gian, vì vậy, họ có thể kinh nghiệm thời gian trong bất kỳ hệ quy chiếu nào mà họ lựa chọn.”

    “Vì mọi chu kỳ thời gian đều mang tính tương đối và phụ thuộc vào hệ quy chiếu của người quan sát, chẳng phải ít nhất cũng có khả năng một Rishi, người đã khai thác được sức mạnh của mặt trời, sẽ nhìn nhận mọi thứ theo chu kỳ sống của mặt trời hay sao? Nhờ góc nhìn khác biệt này, các giác quan nhìn, nghe, ký ức của Rishi mở rộng đến những “ngày vũ trụ” giống như trí nhớ của con người trải dài ra trong những ngày bình thường. Với tầm nhìn như vậy, một Rishi có thể lập kế hoạch hoàn hảo cho cả tương lai và đồng thời cũng nhìn xa xăm về quá khứ. Mỗi Rishi đều muốn đóng góp những gì mình có thể làm vào Lila vũ trụ, màn kịch của sự tồn tại. Cũng như các quốc gia lập kế hoạch 5 năm để thúc đẩy sự phát triển, các Rishi cũng lập kế hoạch phát triển, cho thế giới của chúng ta và mọi thế giới khác trong vũ trụ. Kế hoạch của họ nằm trong một khung thời gian khác hẳn với chúng ta.”

    “Do các Rishi vượt xa mọi giới hạn của thời gian, vì thời và không tạo thành một thể liên tục, như các nhà khoa học hiện đại cho chúng ta biết, liệu các vị Rishi có bất kỳ giới hạn nào về không gian chăng? Không, họ có thể di chuyển đến bất cứ nơi nào họ muốn trong vũ trụ chỉ trong nháy mắt. Einstein tin rằng chẳng có gì có thể di chuyển nhanh hơn ánh sáng trong chân không, nhưng ông đã sai. Suy nghĩ còn nhanh hơn ánh sáng. Một Rishi chỉ cần nghĩ về nơi nào đó muốn đến, ngài sẽ đến đó ngay lập tức.”

    “Các vị Rishi vượt xa mọi giới hạn của thời và không mà chúng ta có thể nhận thức, nhưng ngay cả họ cũng vẫn còn một vài hạn chế vô cùng tinh tế mà họ phải sống cùng. Họ không bao giờ hoàn toàn vượt lên trên mọi thuộc tính và sự phân biệt, nếu làm vậy, thì làm sao họ có thể tồn tại tách biệt với vũ trụ? Cho nên họ tiếp tục khổ luyện, tiến ngày càng gần tới sự hoàn hảo tuyệt đối mà không bao giờ đạt tới nó. Họ là tuyệt đối hoàn hảo xét từ khung tham chiếu của chúng ta, nhưng từ quan điểm của chính họ, họ vẫn còn kém xa đấng Tuyệt Đối. Họ sẽ cảm thấy thế nào, nếu cả tôi và bạn đều cảm thấy tồi tệ vì chúng ta không đạt được nhiều tiến bộ tâm linh?”

    “Tuy thế, dù có những hạn chế nào đi nữa, các Rishi vẫn vượt xa chúng ta, những người bình thường. Đến giờ, chắc bạn đã hiểu ra mình nhận thức hạn chế như thế nào về năng lực của một Rishi, và chúng ta may mắn đến nhường nào khi các Mahapurusha đến đây để vui chơi. Các Rishi đặc biệt quan tâm đến thế giới chết chóc và vô thường này của chúng ta bởi vì chính tại nơi đây, chúng sinh có thể thay đổi bản tính bẩm sinh của mình nhanh chóng.”

    Tôi phản đối: “Nhưng ông luôn chỉ ra cho tôi những người dù đã cố gắng hết sức để cải thiện bản thân mà vẫn cong queo như đuôi lợn, rồi nói về bản thân rằng: “Jati svabhava na munchyate” (tính cách bẩm sinh không thay đổi).”

    “Tôi vừa nói với bạn rằng thời gian là tương đối. Hầu hết mọi người sẽ không thể hoàn toàn thay đổi bản thân trong vòng một kiếp người, mặc dù như bạn biết đấy, có những người có thể và đã làm được, còn Jean Valjean thì sao? Dù sao thì từ góc nhìn vũ trụ, mọi thứ diễn ra ở Thế Giới của Tử Thần với tốc độ chóng mặt. Chỉ trong vài kiếp sống, bạn có thể đạt được những điều vĩ đại, trong khi ở những cõi tồn tại khác, bạn có thể phải mất hàng triệu hay hàng tỷ năm để đạt được điều đó. Ngay cả các vị thiên chúa cũng tranh giành để được sinh ra làm người ở đây.”

    “Tuy không bị ràng buộc bởi bất cứ tầm ảnh hưởng nào, các vị Rishi vẫn thích xuống trái đất để vui chơi và giúp giảm bớt gánh nặng nơi đây. Họ đến thăm khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng thấy vùng đất Ấn Độ là nơi yêu thích nhất.”

    “ Vậy Ấn Độ có độc quyền đối với các Rishi không?”

    “Không, không. Lý do họ thích Ấn Độ hơn vì có liên quan đến trọng lực ở đây. Tất nhiên, đã có những nền văn minh khác, như Atlantis, đã đạt được những tiến bộ tâm linh vĩ đại. Người Atlantis, cùng người dân của các nền văn minh có liên quan đến họ, như người Ai Cập cổ đại, người Assyria và người Babylon, có thể tách rời linh thể để chi chuyển, nhưng họ không bao giờ phát triển được như các Rishi của chúng ta. Họ đã sản sinh ra một vài Siddha, nhưng họ quá chú trọng đến thế giới vật chất nên không thể phát triển nhiều về mặt tâm linh. Làm sao tôi có thể khẳng định như vậy? Hãy nhìn vào các kim tự tháp, tượng Nhân Sư cùng những thứ tương tự. Các vị vua và tư tế của họ quan tâm đến vinh quang thế tục hơn là tâm linh đích thực.”

    “Văn hóa Inca cũng dựa trên Atlantis, nhưng chưa bao giờ đạt đến trình độ phát triển tương tự. Bạn biết không, người Inca từng thờ một dạng của Bharava (Shiva với diện mạo đáng sợ), và họ lấy con người làm vật hiến tế. Các nữ tư tế biết một dạng thô thiển của Vajroli, đủ để họ có thể tự tái tạo bản thân. Họ thờ những người tóc vàng, thực tế, hầu hết hoàng tộc đều có tóc vàng. Họ thấp hơn và có thân hình vạm vỡ hơn người Da Đỏ, điều này cho thấy họ có nguồn gốc khác biệt.”

    “Atlantis đã chìm xuống dưới đáy đại dương, các nền văn minh cổ đại của Ai Cập, Peru và những nơi khác gần như biến mất không dấu vết. Tuy nhiên, bất chấp mọi sự tàn phá đã xảy ra ở đây, một phần văn hóa cổ đại của Ấn Độ vẫn còn tồn tại, nhờ vào phúc lành của các Mahapurusha đến đây để tận hưởng Lila của họ.”

    “Ngay cả khi các Rishi sống công khai ở đây, với thân xác vật chất, họ cũng không bao giờ muốn ai biết đến mình, nếu biết thì họ sẽ không còn bình yên, bởi vì ngay cả trong kỷ Satya vẫn có rất nhiều người xung quanh làm phiền các Rishi vì các yêu cầu giúp đỡ. Do vậy, vì cần sự yên tĩnh cho các nghiên cứu của mình, các Rishi giả vờ là người bình thường, sống cuộc đời yên ả với vợ con trong các già lam tại những nơi hẻo lánh. Họ luôn thờ lửa bên trong, nhưng để đánh lừa mọi người, họ mới thể hiện việc thờ lửa bên ngoài. Nếu mọi người biết họ không cần lửa bên ngoài, tất cả sẽ đổ xô đến với các Rishi rồi nhất quyết đòi hỏi mọi công việc của họ phải được suôn sẻ ngay lập tức.”

    “Tất nhiên, nếu thông minh, bạn có thể nhận ra ai là Rishi, có vài biểu hiện sẽ tố cáo họ, chẳng hạn như giọng nói. Thực ra, các Rishi không nói nhiều bằng lời, họ thường giao tiếp bằng thần giao cách cảm, Para. Nhưng khi nói, giọng của họ vang như sấm. Tôi rất thích bộ phim Mười Điều Răn, có một điều tôi chưa bao giờ hiểu được làm thế nào Cecil B De Mile có thể bắt chước giọng nói của Thiên Chúa tốt đến vậy. Nó nghe giống hệt giọng của một Rishi, vốn có thể trầm hơn một chút, nhưng mô phỏng khá phong phú, giống như một Rishi. Tôi tự hỏi ông ấy lấy ý tưởng đó từ đâu? Những chi tiết nhỏ như vậy mới tạo nên một nhà làm phim thực sự vĩ đại.”

    ‘Hầu hết các Rishi thời cổ của chúng ta đều có gia đình, đó là một lý do khiến họ có thể cảm thông với hoàn cảnh của chúng sinh. Không ai bị từ chối khi đến già lam của một Rishi, mọi người đến đó đều tự động có lợi ích. Hổ, thỏ, chó, hươu, cùng các loài động vật hoang dã khác đều sống hòa bình với nhau trong khuôn viên ẩn thất. Nếu một con hổ đuổi theo một con hươu vào trong am thất, tính cách của con hổ sẽ đột nhiên thay đổi ngay khi nó vượt qua ranh giới, và nó sẽ quên việc săn mồi chừng nào còn ở đó.”

    “Vị Rishi đảm bảo rằng mọi cư dân của am thất, thực vật, động vật, người, thậm chí cả sỏi đá, đều cảm thấy tự tin vào bản thân, để họ phát triển trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình, theo cách riêng của họ. Không ai bị nói là xấu xa, ngu ngốc, tuyệt vọng hay vô phương cứu chữa. Đổi lại, mọi cư dân, ngay cả cỏ cây hoa lá, luôn cố gắng đóng góp những gì tốt nhất của mình cho già lam. Ngay cả một cậu bé rất chậm hiểu đến đây, một người thậm chí không thể hiểu được những sadhana đơn giản nhất, cũng được chăm sóc. Vị Rishi sẽ giao cho cậu một công việc bình thường, như làm nông hoặc chăm sóc bò. Khi thấy cầu đã sẵn sàng, vị Rishi sẽ điểm đạo cho cậu, sau đó cậu cũng có thể tiến bộ.”

    “Ngày xưa, khi vợ của một Rishi trách mắng một đệ tử của chồng vì chuyện gì đó dại dột, chính vị Rishi sẽ kéo học trò sang một bên rồi nói: “Đừng lo. Cậu có muốn làm việc này không? Được rồi, tiếp tục làm đi!”

    “Một Rishi và vợ ông cũng có mối quan hệ tốt đẹp, hơn bất cứ mối quan hệ hiện đại nào tôi thấy. Vì vợ là một nửa của chồng, nên đó là sự kết hợp tuyệt vời thời đó, người vợ sẽ lo liệu các chi tiết điều hành già lam, những phương diện thế gian của cuộc sống, còn vị Rishi sẽ chăm lo các phương diện tâm linh và xuất thế gian cho cả hai người.”

    “Veda Vyasa là vị Rishi đã viết Mahabharata rồi chia kinh Veda thành bốn phần. Vợ ông một lòng thành kính với chồng và không bao giờ thắc mắc những việc ông bảo bà làm. Bà biết ông là bậc đại thành Shakti, là nhân tố chỉ đạo, điều khiển, mà bà cũng biết từ kinh nghiệm rằng bất cứ việc gì ông chỉ thị bà làm đều tuyệt đối đúng đắn. Ngược lại, ông không bao giờ có lý do để thắc mắc về việc bà làm, vì ông biết bà là người thực thi hoàn hảo. Quả là mối lương duyên trời định!”

    “Vậy ông có tin rằng phụ nữ không bao giờ nên chất vấn chồng mình không?”

    “Nghĩ sao mà hỏi vậy?” Ông đáp cáu kỉnh, tỏ vẻ khinh thường trước câu hỏi ngớ ngẩn của tôi. “Chẳng có người phụ nữ nào mù quáng nghe lời chồng trừ khi chắc chắn anh ta không bao giờ phạm sai lầm. Nếu đúng chồng cô ta là một vị Rishi thì đó lại là chuyện khác, nhưng không phải người phụ nữ nào cũng có thể kết hôn với một vị Rishi. Giờ tôi tiếp tục câu chuyện của mình được chưa?”

    Tôi im lặng.

    “Nhờ tín niệm mãnh liệt vào chồng, cũng là một dạng niyama của bà, vợ Vyasa có thể gánh nước mà không cần bình. Thức ăn cần tràn đầy tình yêu và cảm xúc, nhưng nước uống thì phải nhẹ nhàng, gần như ether vậy. Vợ của Vyasa chỉ cần mang theo một tấm vải mỗi khi đi lấy nước, nhờ đạo lực thanh tịnh của bà khiến nước trở nên nhẹ đến mức bà có thể buộc nó vào vải rồi mang về nhà. Tôi phải nói với bạn rằng đây không phải là một công năng bình thường, thần lực vận dụng vào việc như vậy gần như tương đương với khả năng làm cho thủy ngân đông đặc không bị tan chảy lửa, một trong những pháp thuật biến đổi khó khăn nhất.”

    “Một hôm, khi xuống sông lấy nước, bà tình cờ nhìn thấy một cặp đôi Gandharva đang vui đùa dưới nước. Bà ngắm nhìn họ rồi nghĩ: “À, giá như Thượng Đế cho chúng ta có một đứa con!” Đó là suy nghĩ duy nhất của bà về chuyện đó. Bà không hề mơ tưởng đến việc trở về am thất và đắm chìm trong trò chơi hoan lạc với chồng, cũng không ghen tị với tình yêu lãng mạn của cặp Gandharva, tuy nhiên chỉ nghĩ đến điều đó thôi cũng đủ làm bà mất tập trung. Khi bà cố lấy nước vào trong vải như mọi khi, nó đều tràn ra ngoài.”

    “Thử lại hai, ba lần nữa mà vẫn vậy, bà bắt đầu luống cuống, biết rằng mình cần phải mang nước về cho chồng. Cuối cùng, bà đi lấy một chiếc bình đất sét, múc đầy nước rồi quay về am thất.”

    “Chiều hôm đó, Vyasa đã nhập định, trở về già lam và muốn vợ lấy cho cốc nước để làm dịu cổ họng khô khốc. Vừa uống nước, ông đã biết có chuyện gì đó không ổn, nước nặng. Tất nhiên là nó nặng vì đã ở trong chiếc bình đó nên đã hấp thụ một số tính chất của đất sét làm nên chiếc bình. Một trong những đặc điểm chính của nguyên tố Đất là tính nặng nề.”

    “Ông đề cập chuyện này rất nhẹ nhàng với vợ, nên bà đã kể lại toàn bộ câu chuyện. Ông buộc tội vợ mình say mê dục vọng, những ham muốn thấp hèn của xác thịt. Nhưng bà đã cho thấy ông sai lầm thế nào.”

    Bà phẫn nộ đáp lại: “Tôi chỉ ngưỡng mộ chúng thôi, vậy mà ông cáo buộc tôi sa vào cạm bẫy của dục lạc. Tôi sẽ không bao giờ làm vậy!” Để chứng minh lời mình, bà nói: “Nếu lời tôi nói là thật, thì tấm vải sẽ giữ được nước trở lại!” Quả nhiên là đúng.

    “Vyasa phải rút lại lời nói. Đây là cuộc đấu tranh giữa Shakti và người thành tựu Shakti. Trước đây bà có thể giữ nước trong tấm vải nhờ sức mạnh khổ tu của chồng, nhưng khi làm cho tấm vải giữ được nước lần nữa, thì lại chính là quyền năng của bà. Tri thức đối lập với Sùng kính, đẹp quá phải không?”
  2. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    95
    Đã được thích:
    1
    Anasuya

    “Rất đẹp!”

    “Vợ của Rishi là một phụ nữ phi thường theo đúng nghĩa. Còn Anasuya, vợ của Rishi Atri thì sao. Tên bà có nghĩa là “không đố kỵ”. Người ta còn có thể mong muốn điều gì hơn thế nữa ở một người vợ? Tuy bà không có lòng đố kỵ nhưng mọi người lại ghen tị với bà. Ngay cả Lakshmi, Sarasvati và Parvati vợ của Vishnu, Brahma và Shiva cũng trở nên ghen tị với bà, nên một hôm, họ tập hợp lại xúi giục chồng tới quấy rầy sự thanh tu của bà khiến bà không còn nổi bật để làm tấm gương cho mọi người thấy về chuẩn mực của một người vợ phải như thế nào. Đều bị vợ bắt nạt, Brahma, Vishnu, Shiva đã chiều theo ý vợ mình, quyết định tới quấy nhiễu sự thanh tu của Anasuya.”

    Một khoảng lặng đầy kịch tính, nhằm nhấn mạnh hành động này thiếu khôn ngoan đến mức nào.

    “Họ đến thăm ẩn thất của Atri và Anasuya trong bộ dạng cải trang, chọn đúng lúc Atri vắng nhà. Anasuya mời họ vào và có ý thức rằng khách cần được đối đãi như thượng đế nên hỏi họ muốn ăn gì. Họ trả lời: “Bà có thể mời chúng tôi bất cứ thứ gì bà muốn, nhưng hãy cho chúng tôi ăn sau khi bà đã cởi hết quần áo, đó là điều chúng tôi ao ước.”

    “Trước yêu cầu hết sức xấc xược và vô lý này, Anasuya quyết định hành động. Bà đến bình nước của chồng, lấy ra một chút, rắc lên ba vị chúa tể rồi niệm: Shishuvat bhava!” (Biến thành những đứa bé). Ngay lập tức, ba vị thần tối cao của vũ trụ biến thành những đứa trẻ sơ sinh.”

    “Rồi Anasuya khỏa thân. Bà cởi bỏ quần áo, và bà cũng cởi bỏ ba lớp che phủ khỏi bản ngã của mình, trở thành một ví dụ hoàn hảo về sự thật trần trụi. Vì Brahma là hiện thân của Rajas, Vishnu Sattva, Shiva Tamas, bằng cách loại bỏ toàn bộ các lớp che phủ của mình, bà đã vượt ngoài phạm vi của ba lực lượng kiểm soát vũ trụ này.”

    “Khi Anasuya đã cởi hết quần áo, bà lần lượt bế từng đứa bé lên cho chúng bú sữa. Bằng cách đó, bà đã đáp ứng yêu cầu của chúng, cho chúng ăn sau khi đã khỏa thân, nhưng chúng không thể khiến bà xấu hổ như đã dự định. Một đứa trẻ chẳng biết vú mẹ là gì, nó chỉ biết đó là một nguồn sữa. Chỉ khi biết cơ thể là gì thì bạn mới cảm thấy xấu hổ về nó. Khi còn quá nhỏ để biết, hoặc quá trưởng thành để quan tâm, thì tâm trí bạn không còn ở trong cơ thể nữa mà ở trong trái tim, nơi nó biết trái tim của người khác và không quan tâm đến cơ thể của họ theo bất cứ cách nào.”

    “Khi Atri trở về ẩn thất, thấy những gì vợ đã làm, ông mừng đến rơi nước mắt. Mặt khác, ba bà vợ của những tên hư hỏng kia đang ngồi ở nhà, chờ đợi chồng mình trở về để vui vẻ bên họ và mang tin vui rằng Anasuya đã bị hạ nhục. Có lẽ họ đã phải chờ đợi vĩnh viễn nếu như Narada, kẻ gây rối trên thiên giới, không tình cờ xuất hiện và nói cho họ biết nơi có thể tìm thấy chồng, rằng họ phải tìm kiếm vì các ông chồng không thể tự tìm đường về nhà sau khi bị biến thành trẻ sơ sinh.”

    “Vội vã đến am tu của Atri, ba bà vợ thấy lời Narada nói quả không sai. Họ gặp Anasuya và nói: “Hãy trả lại chồng cho chúng tôi!” Họ biết phải tự kiềm chế.

    Anasuya nói: “Hãy chọn chồng của các bà mà mang về nếu muốn.” Thật không may, họ không thể. Chừng nào họ còn coi chồng mình như các vị chúa tể, hiện thân của Sattva, Rajas, Tamas, thì làm sao họ có thể nhận ra người nào trong số những đứa trẻ khi ba Guna chưa hoàn toàn biểu lộ? Cũng bởi vẫn bị hạn chế trong ba Guna, làm sao họ biết hỷ lạc thần thánh của trạng thái vượt ngoài ba Guna? Nên tự nhiên họ hoàn toàn lúng túng.”

    “Rồi Anasuya, đại diện cho bản ngã thanh tịnh, tự để bản thân chìm sâu vào ba Guna một lần nữa, rồi giao từng đứa bé thích hợp cho mỗi bà vợ. Sau đó, ba vị thần được Anasuya phục hồi hình dạng bình thường và trông vô cùng ngượng ngùng, mỗi vị đều chúc phúc cho Anasuya rằng bà sẽ sinh ra một người con trai vĩ đại. Soma, thần mặt trăng, được sinh ra từ lời chúc của Brahma. Từ lời chúc của Shiva mà Rishi vĩ đại Durvasas. Lời chúc của Vishnu đã mang tới sự ra đời của Dattatreya, vị guru bất tử của các Aghori.”

    “Tương truyền rằng Dattatreya cũng nhận được một phần phúc lành từ Brahma và Shiva, rằng ông thực sự là hiện thân của cả ba vị chúa tể, nghĩa là cả ba Guna. Là guru của các Aghori, ông đã vượt qua cả ba Guna, vượt qua tất cả những người đã ban phúc cho ông. Do đó, tên của ông có hai nghĩa: “được trao cho Atri”, điều này chắc chắn đúng, và “đã từ bỏ Ba”, nghĩa là ba Guna, cũng hợp lý vì mẹ ông có thể “từ bỏ ba Guna để chơi đùa với chúng”, chẳng phải điều đó cũng logic khi con trai bà cũng có thể làm được việc đó sao?”

    “Nó rất hợp lý!”

    “Đó là lý do Dattatreya được gọi là Digambara (áo che trời), bằng cách cởi bỏ lớp áo của ba Guna, ngài đã thực sự trở nên trần trụi, hoàn toàn không còn ảnh hưởng bởi bất cứ điều gì trong thế giới hiện tượng. Khi quyết tâm thử thách các học trò, Dattatreya uống rượu rồi biến hóa ra một Shakti xinh đẹp ngồi trên đùi mình. Hầu hết đệ tử của ông đều là dòng chính đạo nên họ ghê tởm dạng hành vi này, không thể nhìn thấu lớp “áo” bên ngoài của thầy. Khi Dattatreya ôm lấy một bên ngực Shakti, ngài quan sát thấy toàn bộ các học trò đều bỏ chạy mất dạng, chỉ trừ một người. Người học trò cuối cùng còn lại chính là người được ngài chọn để truyền thụ.”

    Vimalananda đôi khi cũng sử dụng phương pháp tương tự để loại bỏ gánh nặng thừa thãi, như cách đôi lúc ông gọi những người có động cơ không thành thật đang cố gắng trở thành đệ tử. Ông công khai việc uống rượu, hút thuốc, không hề che giấu hoạt động sinh lý của mình, cũng không ngần ngại bịa đặt chi tiết về những hành vi quá đà nếu thấy cần thiết. Dạng kịch tính này thường đủ để khiến các “fan cuồng tâm linh” hạng xoàng tránh xa ông.

    Các vị Hóa Thân (Avatar)

    “Người như Dattatreya chỉ có một. Tuy nhiên cha của ông cũng là một Rishi. Mỗi vị Rishi đều truyền trao kinh nghiệm của mình cho đời bằng cách gửi tinh hoa bản nguyên của mình xuống thế gian, đầu thai thành một nhà tiên tri hay thánh nhân, để dẫn dắt và giáo hóa. Khi mọi việc dưới hạ giới trở nên tồi tệ đến mức việc duy trì sự tồn tại của vũ điệu thần thánh Lila có nguy cơ bị đe dọa, thì một Rishi sẽ gửi một hóa thân của chính mình xuống để dẫn dắt các tín đồ quay về chính đạo. Krishna đã nói trong Bhagavat Gita: “Bất cứ khi nào lòng chính trực suy giảm và sự bất công gia tăng, ta sẽ sinh ra dưới thế gian để bảo vệ người chính trực, tiêu diệt kẻ ác và thiết lập lại công bằng. Krishna, Rama là những amsha (một phần) của các Rishi, họ rất khác với bạn và tôi, họ là những avatar, hiện thân của thánh linh.”

    “Avatar theo nghĩa đen là “thoái chuyển”, một vị hóa thân đi ngược từ hoàn hảo thành không hoàn hảo, chỉ bởi ngài thích chúng ta và muốn giúp chúng ta. Các Rishi vượt ngoài những giới hạn về thời không của chúng ta cho đến khi họ chọn sống trên trái đất, sau đó họ tự nguyện tuân theo một số quy luật chi phối chúng ta. Họ cho phép tử thần Mahakala cai quản mình khi họ ở bên chúng ta, cho phép luật nhân quả điều hướng các hành vi của mình. Đó là nguyên nhân các vị thành và tiên tri luôn sống đời khổ hạnh, họ đang cố gắng gánh lấy các giới hạn của chúng ta, để chỉ cho chúng ta cách sống. Họ tự làm gương để chúng ta có thể học hỏi từ cuộc đời thực của họ.”

    “Một hôm, khi Krishna Baby cảm thấy mệt mỏi vì bị mẹ nuôi Yashoda đối xử như một đứa trẻ, bà chỉ nhìn thấy cơ thể ngài mà không biết ngài là ai nên ngài đã mở miệng cho bà thấy toàn thể vũ trụ bên trong đó. Có thể làm được việc này vì Kundalini của ngài có khả năng tự đồng nhất với toàn vũ trụ. Bà ta tất nhiên chết lặng vì kinh ngạc.”

    “Sau đó Krishna nhận ra rằng vở kịch sẽ không bao giờ còn như cũ nếu bà được phép nhớ lại bản chất thật của ngài. Suy cho cùng, bà cùng với tất cả những người thân cận với ngài đều là chư thiên giáng trần với mục đích rõ ràng để tham gia vào vũ điệu thần thánh của ngài. Krishna quyết định rằng sẽ vui hơn nếu được chơi đùa với các tín đồ yêu quý của mình trên một nền tảng tương đối bình đẳng, nên thay vì để bà ta mãi kinh ngạc, ngài đã khiến bà quên đi những gì đã thấy, khiến bà trở lại vai trò bình thường là mẹ ngài.”

    “Một hóa thân của bất cứ Rishi nào cũng là avatar. Mỗi avatar là phóng chiếu của một Rishi cụ thể, người xuất hiện với tư cách avatar trong suốt kiếp đó. Vai trò đó là đặc quyền của ông ta, là vai diễn cá nhân của ông, là quyền kế thừa của ông, có thể nói vậy. Không một Rishi nào khác cố gắng chiếm lấy vai trò của ông. Có nhiều ngôi sao trong vũ trụ như cát trong biển, vì vậy mỗi Rishi có thể đóng vai nào tùy thích trên rất nhiều hành tinh khác nhau. Họ thực sự đóng vai ở nhiều nơi, theo nhiều cách khác nhau, tùy vai trò được giao cho họ.”

    “Có rất nhiều hóa thân của Vishnu, đấng Bảo Tồn, mỗi vị đều được thúc đẩy bởi những Rishi khác nhau, mỗi người mang đến một hương vị riêng cho hóa thân đó. Dattatreya là một trong những hóa thân đó của Vishnu. Tuy nhiên, thông thường khi người ta nói về các hóa thân, họ thường đề cập đến Mười Avatar của Vishnu, một nhóm đặc biệt mười hóa thân đến hỗ trợ và bảo vệ trái đất. Trong mỗi chu kỳ bốn Yuga, mười avatar của Vishnu đều xuất hiện. Bạn có biết tại sao lại có mười avatar không? 1+0=1, chỉ có Một, Ngài, đấng bảo toàn vũ trụ. Nhưng có mười một Rudra (chúa tể cái chết): 1+1=2, tính nhị nguyên, bởi chính nhờ các Rudra, những người kết thúc trò chơi hữu hạn của con người mà thế giới tồn tại.”

    “Trong kỷ Satya, khi avatar đầu tiên xuất hiện, loài người rất hòa hợp với Tự Nhiên. Mọi người giao tiếp bằng thần giao cách cảm và hiểu biết mọi thứ bằng trực giác. Trong kỷ Satya, con người rất có căn tâm linh, linh căn bậc cao, nhưng do họ không bận tâm đến vật chất nên kém phát triển về mặt công nghệ. Do quá phụ thuộc vào Thiên Nhiên để chăm sóc bản thân nên họ giống động vật hơn là giống con người trong kỷ Kali. Động vật phải dựa vào Thượng Đế, không còn cách nào khác để chúng tồn tại.”

    “Dần dần, khi trí tuệ loài người phát triển, người ta bắt đầu nghĩ rằng họ có thể cải tạo được tự nhiên. Đây là nguồn gốc của xã hội văn minh. Tuy nhiên, họ vẫn rất hòa hợp với thiên nhiên trong kỷ Treta và Dvapara. Chỉ đến thời đại của chúng ta, Kali Yuga, chúng ta mới quên hết về Tự Nhiên và cố gắng tự làm mọi thứ, nên bạn có thể thấy kết quả ở khắp mọi nơi xung quanh chúng ta.”

    ‘Ai có tâm trí tinh tế sẽ nhận ra quan niệm về Mười Hóa Thân có những điểm tương đồng với thuyết tiến hóa của Darwin. Thực tế, những hóa thân này đại diện cho các giai đoạn trong quá trình tiến hóa tinh thần của con người trong Bốn Yuga. Hãy nhìn vào Mười Avatar. Đầu tiên là Matsya, con cá, bơi trong đại dương jnana, tức là tâm thức hoàn hảo, không phân chia (toàn thể). Tiếp theo là Kurma, con rùa, sống được cả trên cạn và dưới nước. Con rùa có thể sống trong cả đại dương, trường không gian tâm thức, và trên đất liền, trường không gian hoạt động cá thể. Tiếp theo là Varaha, con lợn rừng, chỉ sống trên đất liền, nhưng có thể bơi khi cần. Bạn có nhớ tên của Kalpa hiện tại chúng ta đang sống không?”

    “Kalpa Lợn Rừng Trắng.”

    “Lợn rừng có quan hệ họ hàng gần gũi với con người hơn nhiều so với cá và rùa. Tại sao những kẻ ăn thịt người gọi thịt người là “lợn dài”? Tại sao các bác sĩ lại sử dụng một số mô cơ thể của lợn để ghép tạng người? Còn nhiều vấn đề hơn thế nữa, không chỉ đơn thuần là chuyện thể chất, chúng ta sẽ bàn đến sau.”

    “Sau Varaha là Narasimha, người sư tử, mang thân người (nara) và đầu sư tử (simha). Ngài đại diện cho giai đoạn chuyển tiếp giữa bản tính thú vật/sơ khai và bản tính con người/lý trí. Narasimha là hiện thân của tính hung bạo khi ngài xuất hiện để cứu tín đồ sùng mộ mình là Prahlada, người duy nhất có thể xoa dịu ngài.”

    “Tiếp theo là Vamana, người có thân hình hoàn hảo, nhưng không có tầm vóc đầy đủ, ngài là người lùn. Vamanava + mana, về mặt huyền học ám chỉ giá trị tiến hóa trong tương lai (va) của loài người là năng lực tinh thần (mana), tương tự, từ vanara (khỉ) cho thấy rằng sau quá trình tiến hóa (va), con khỉ có tiềm năng trở thành con người (nara). Hóa thân Vamana là độc nhất ở chỗ, Vishnu, trong mọi hóa thân khác của ngài đều ban tặng điều gì đó cho vũ trụ, trong khi với tư cách là Vamana, ngài lại cầu xin vũ trụ quay trở lại từ Vua Atula, Bali, kẻ đã chinh phục nó. Sự khẩn cầu này là nền tảng cho hóa thân của Krishna.”

    “Chuyện đó diễn ra thế nào?”

    “Rồi tôi sẽ giải thích cho bạn hiểu. Parashurama, tiếp theo, là người có tầm vóc hoàn hảo, nhưng ngài rất hoang dại và nguyên thủy. Đời ngài là một kiếp máu đổ, ngài đã giết mọi chiến binh trên thế giới nhiều lần cho đến khi bị đánh bại bởi Ramachandra, người hoàn hảo kế nhiệm trong dòng hóa thân. Ramachandra, thường được biết đến đơn giản là Rama, là một đứa vua lý tưởng, một tấm gương hoàn hảo về tính điềm tĩnh mà mọi người có thể hữu ích noi theo, tuy ngài đã sống cách đây hàng triệu năm hoặc hơn.”

    “Mặc dù hoàn hảo, song Rama vẫn phải chịu một số hạn chế nhất định, vẫn còn tồn tại một số mâu thuẫn. Ngài đại diện cho tính kiên trì, đời tư của ngài rất bất hạnh, nhưng không bao giờ mất kiểm soát bản thân. Sahkti của ngài là Sita, vợ ngài, ở bên ngoài ngài, thậm chí ngài còn “mất” Sita trong một thời gian, đúng hơn là ngài rơi vào ảo tưởng rằng đã mất nàng. Những hạn chế của Rama chủ yếu do thiếu hai trong ba Guna, ngài chỉ tồn tại trong Sattva, hoàn toàn không có Rajas hay Tamas.”

    “Sau Rama là Krishna, người hoàn hảo tuyệt đối. Krishna vượt trên mọi giới hạn ngoại trừ cái chết. Ngài bao hàm cả ba Guna và vượt ngoài chúng. Maya là Shakti của Krishna, là một phần của chính ngài, toàn bộ màn kịch được kết hợp trong một thực thể duy nhất. Cả Tự Nhiên và con người đều đạt đến tính hoàn thiện cao nhất trong Krishna. Chẳng có ai khác trong bất kỳ vũ trụ nào, dù là quá khứ, hiện tại, hay tương lai có thể sánh được với Krishna. Ngay cả các Rishi cũng kinh ngạc trước độ hoàn hảo của ngài.”

    “Sau khi Krishna rời khỏi trần gian, Kali Yuga bắt đầu. Rồi đến Buddha, đức Phật. Buddhi nghĩa là trí phân biệt, mà đức Phật đại diện cho sự hoàn hảo của trí phân biệt, mặc dù ngài không có kinh nghiệm về mỹ học. Ngài là một người có năng lực logic phát triển trọn vẹn, nhưng ngài cố gắng hoàn toàn thoát khỏi Maya do những cám dỗ của Maya, những cám dỗ này ngày càng mạnh mẽ hơn khi kỷ Kali tiến triển. Ngài không muốn sống trong thế gian và hưởng thụ nó, ngài muốn thoát khỏi thế gian. Đức Phật được gọi là Đấng Từ Bi vì ngay cả khi không còn tại thế, ngài vẫn khao khát giúp đỡ những người khác đang bị mắc kẹt trong vòng luân hồi sinh tử được giải thoát.”

    “Avatar cuối cùng là Kalki, vẫn chưa xuất hiện. Thực ra, Kalki là từ không chính xác, đúng ra phải là Nishkalanka, bậc viễn ly nhất thiết uế trược,. Khi kỷ Kali đạt đến cực điểm tồi tệ, ngài sẽ xuất hiện rồi tiêu diệt toàn thể mọi người trừ một số ít. Sau đó, ngài sẽ thay đổi nhận thức của những ai được cho phép sống để họ nhớ lại phần nào bản ngã đích thực của mình, và kỷ Satya sẽ bắt đầu lại từ đầu.”

    “Vậy toàn bộ vấn đề về các Yuga và các Avatar về cơ bản là một vòng lặp tiến hóa lâu dài từ cực điểm của tâm thức trực giác đến cực điểm của ý thức trí tuệ, rồi quay trở lại lần nữa?”

    “Ít nhiều là như vậy.”

    “Quá trình đó cứ tiếp diễn hết lần này tới lần khác?”

    “Đúng vậy, nhưng nó giống hình xoắn ốc hơn là hình tròn, do các sự kiện của một chu kỳ đóng vai trò là nền tảng cho các sự kiện của chu kỳ tiếp theo. Có một sự tiến triển liên tục. Giờ đây, ý tưởng về 10 Avatar như phản ánh tiến hóa tâm thức nhân loại chỉ là bước khởi đầu, mỗi khái niệm đều có nhiều tầng ý nghĩa. 10 Avatar cũng phản ánh quá trình tiến hóa tâm linh của mỗi cá nhân.”

    “Bạn biết không, các nhà tiên tri viễn cổ của chúng ta không phải là những tên ngốc như một số nhà sử học hiện đại miêu tả, họ chỉ không tiết lộ toàn bộ những gì họ biết. Họ tin vào việc giữ bí mật những kiến thức tối cao, bởi vì họ biết rằng nó sẽ nguy hiểm nếu rơi vào tay những người không thể tiếp thu được nó. Nếu uống một cốc lớn bơ ghee, bạn sẽ bị tiêu chảy dữ dội trừ khi đã quen với nó hoặc đang dùng thuốc hỗ trợ tiêu hóa. Tương tự, nếu tiếp thu quá nhiều kiến thức, bạn sẽ không thể ghi nhớ được. Mọi thứ sẽ trôi vào quên lãng trừ khi bạn đã có nhiều kinh nghiệm trong việc tiếp thu kiến thức, hoặc guru đã chuẩn bị sẵn kiến thức đó cho bạn.”

    “Cho nên tôi nhìn nhận các tài liệu cổ theo cách rất khác so với các nhà sử học. Ví dụ, khi các văn bản nói rằng “uống sữa bò là tốt”, tôi hiểu “sữa” là sữa của các nhận thức giác quan, bởi vì “tốt” có nghĩa là cả cơ quan cảm giác và “bò”. “Uống sữa” vì vậy có nghĩa là giữ lại những nhận thức này bên trong tâm trí.”

    “Nhưng nó cũng có nghĩa là sữa bò thật phải không? Người ta thường nói nếu tiêu hóa được thì sữa bò có tác dụng tốt hơn cho trí não so với sữa của các loài khác.”

    “Không nghi ngờ gì nữa, nó tốt hơn, nó là một tầng ý nghĩa khác của câu nói này nhưng tôi không thích cứ mãi nói về khía cạnh vật chất vì trong kỷ Kali này, mọi người đã quá gắn bó với vật chất rồi.”

    “Khi dòng sữa của các nhận thức giác quan được trộn lẫn với men vi sinh của sự phân biệt rồi để yên một thời gian, sữa chua của trí tuệ được hình thành nhưng vẫn chưa hoàn thiện. Sữa chua này phải được khuấy đều bằng kỷ luật liên tục cho đến khi thu được bơ của jnana, trí tuệ tâm linh. Tuy vậy, nó vẫn còn thô, vì nó chỉ là lý thuyết suông. Chỉ khi bơ này được đun sôi bởi ngọn lửa của khát vọng mãnh liệt thì bơ ghee mới được hình thành. Đây mới là bơ ghee đích thực, được nhắc đến trong truyền thống của chúng ta là “ghrtam ayuh, ghrtam vishnor tejah” (bơ ghee là sự sống, bơ ghee là ánh hào quang của Vishnu) vì khi đó bạn sẽ thấy Narayana ở khắp mọi nơi. Giống như bơ ghee nguyên chất từ sữa bò, kiến thức này có màu vàng kim, vàng của chân lý. Đúng vậy, bơ ghee từ sữa bò là loại chất béo tốt nhất để ăn nếu bạn muốn khỏe mạnh, nhưng đây không phải là quảng cáo cho bơ ghee từ sữa bò.”

    “Học thuyết về 10 Avatar cũng có ý nghĩa bên trong. Hãy xem lại các vị hóa thân, đầu tiên là Matsya, cá. Cá được sinh ra để cứu bảy vị Rishi trong một trận lụt. Ngài cũng lấy lại kinh Veda từ một atula đã lấy cắp chúng rồi đưa xuống đáy biển. Biển là đại dương cơ thể, đáy là luân xa Muladhara. Bạn có nhớ Pancamakara không?”

    “Như vậy con cá thực hiện công việc của nó bằng cách nào đó của hơi thở?”

    “Chính xác. Tiếp theo là Kurma, rùa. Bạn đã học bắt mạch trong trường Ayurveda chưa?”

    “Một chút thôi.” Vimalananda chưa bao giờ bận tâm đến việc bắt mạch cho ai, ông luôn tự bắt mạch cho mình rồi mới nói cho người đó biết họ bị làm sao. Ở trường của tôi không ai dạy bắt mạch kiểu đó cả.

    “Bạn đã từng nghe đến “con rùa” ở rốn chưa?”

    Tôi nhớ ra, đám rối kinh mạch ở rốn đôi khi được gọi là “con rùa” vì nó trông giống vậy, với các kinh mạch lớn nằm ở vị trí gần giống như chân, đầu, và đuôi con rùa.”

    “Bây giờ hãy nghĩ về câu chuyện này. Chư thiên và atula đã đồng ý hợp tác để khuấy động biển sữa nhằm lấy được kho báu ẩn giấu bên trong. Họ dùng núi Mandara làm thanh khuấy và con rắn Vasuki làm dây khuấy. Hãy tạm quên đi những sự kiện trên thiên giới mà câu chuyện này tượng trưng, thay vào đó, hãy nghĩ đến thực tế rằng việc khuấy động biển sữa này diễn ra bên trong mỗi hành giả. Chư thiên và atula lần lượt là các suy nghĩ thiện và ác của bạn. Ngọn núi tượng trưng cột sống và tủy xương của bạn. Thông thường, tủy sống là một sợi xích trói buộc bạn xuống thế giới, cũng giống như thân nhân quả là một chuỗi nghiệp chướng trói buộc bạn vào vòng luân hồi. Tủy sống trói buộc bạn vì nó khiến bạn phóng chiếu tâm thức của mình ra ngoài cơ thể. Tôi không cần nhắc lại ý nghĩa của con rắn nữa.”

    “Lần thử đầu tiên không có gì xảy ra, do ngọn núi quá nặng rồi chìm xuống đáy đại dương. Sau đó, Vishnu giáng thế, hóa thân thành rùa, với cây gậy đặt trên lưng, quá trình khuấy động bắt đầu. Bạn có đoán được ý nghĩa của sự kiện này không?”

    “Tôi nghĩ nó nhắc nhở rằng bạn cần có một nền tảng vững chắc khi cố gắng sử dụng Kundalini để khuấy động bản thể của mình, nếu không, sự chú ý của bạn lại trượt xuống những điều tầm thường. Việc khuấy động được thực hiện bằng prana, tôi đoán vậy, vì có liên quan đến rùa.”

    “Đoán hay đấy! Quá trình giác ngộ là một quá trình khoa học, với việc tạo ra một số hóc môn cùng các chất nội tiết khác khi tiến trình này diễn ra. “Khuấy động đại dương” cũng là một quá trình hóa học thần kinh, trong đó rất nhiều kho báu nội tại được kiến tạo, một trong số đó là Amrita, chất nội tiết là cam lộ bất tử.”

    “Tuy nhiên, điều đầu tiên xảy ra khi khuấy động tâm thức của mình là bạn tách nó ra khỏi chất độc của luân hồi, đại dương của vũ trụ hiện tượng. Thứ này xuất hiện dưới dạng chất độc Halahala, mà Shiva tiêu thụ để ngăn nó xuống sâu hơn cổ họng của bạn. Khi trở thành một hành giả, bạn phải giữ thế giới bên ngoài ở lại bên ngoài và tu luyện bên trong, nếu không sẽ bị nhiễm độc. Bạn phải ngừng đồng nhất với luân hồi, nếu không, làm sao bạn có thể có cái nhìn toàn cảnh về nó? Chừng nào Quyền Năng Hỏa Xà còn ngủ yên dưới đáy cột sống, nó vẫn còn tự đồng nhất bản thân với chất độc của nhân cách cá thể hữu hạn. Khi thức tỉnh, nó nhận ra rằng bản chất của mình là vô hạn và tự do, nó từ bỏ chất độc đó, vốn là thứ cần được xử lý, mà không ai trong vũ trụ sánh được với Shiva khi nói đến việc xử lý chất độc.”

    “Sau khi xử lý chất độc, các kho báu bắt đầu xuất hiện: con bò ước nguyện, ngựa trời, voi thần, cây thần, ngọc thần, thiên nữ.”

    “Vì thiên nữ thực ra là các kinh mạch đặc biệt, liệu tất cả các kho báu này có phải là kinh mạch không?”

    “Rất có thể, nhưng đừng vội kết luận. Sau đó, xuất hiện nữ thần Lakshmi, người mà Vishnu đã chiếm đoạt cho riêng mình, tiếp theo là nữ thần rượu mà các atula đã chiếm đoạt cho họ, vì Vishnu đã lấy Lakshmi. Cuối cùng, Dhavantari, thần y, xuất hiện, trong tay ông là bình cam lộ.”

    “Ban đầu, có thỏa thuận rằng chư thiên và atula sẽ chia đều cam lộ này, nhưng vì Vishnu thấy không thể tin được các atula nên ngài biến hình thành Mohini, nữ thần gợi cảm, nên hai bên đồng ý sẽ phân chia cam lộ. Các atula bị dục vọng chế ngự khi ngắm nhìn Mohini đến nỗi bỏ qua thực tế rằng Vishnu chỉ ban phát cam lộ cho chư thiên. Khi mị thuật bị phá vỡ, họ đột nhiên nhận ra sai lầm của mình, nhưng đã quá muộn, toàn bộ cam lộ đã biến mất. Một trận chiến lớn đã nổ ra, nhưng vì chư thiên đã được tiếp thêm sinh lực từ cam lộ bất tử nên các atula đã bị đánh bại.”

    “Nội tại, một cuộc đấu tranh tương tự cũng xảy ra khi cam lộ Amrita được sản sinh. Mọi phương diện vị ngã trong nhân cách của bạn đều muốn chia phần, nhưng linh hồn của bạn, kẻ Cai Trị Nội Giới, đã đánh lừa chúng cho đến khi chúng phản kháng và bị suy yếu bởi các thực hành của bạn khiến chúng bị tiêu diệt. Thật không may, giống như các atula, cuối cùng chúng sẽ hồi sinh và quay lại chiến đấu vào một ngày khác. Đó là lý do sadhana lại quan trọng đến vậy.”

    “Các atula sống lại là sao?”

    “Đó là một câu chuyện khác. Giờ chúng ta đến với con Lợn Rừng, kẻ đã xuất hiện từ một trong những lỗ mũi của đấng Tạo Hóa. Nhiệm vụ của nó là lặn sâu xuống đại dương và lấy lại trái đất, vốn đã bị atula Hiranyaksha bắt cóc. Vì vậy, Lợn Rừng cũng gắn bó chặt chẽ với pranan và với trái đất. Bản thân trái đất được tạo ra khi nó xuất hiện từ trong một lỗ mũi của Brahma, Tạo Hóa, điều này cho thấy trái đất cũng phải có mối liên hệ nào đó với prana. Chuyện này chẳng có gì lạ, vì trái đất là mẹ thiên nhiên, cội nguồn tối thượng của mọi sự sống trên đó. Nhưng chính xác thì nó được kết nối với prana như thế nào? Bạn có thể cố gắng lý giải nó trong nhiều năm trời mà vẫn không bao giờ tìm ra đáp án. Nó nằm ngoài khả năng lý luận.”

    Tôi nói: “Tuy nhiên bên trong thân thể, ý nghĩa dường như khá rõ ràng. Sau khi cơ thể được hồi sinh bằng cam lộ Amrita và prana được kiểm soát tốt, kẻ Cai Trị Nội Giới có thể lặn xuống luân xa Muladhara, vị trí của nguyên tố Đất, đưa Kundalini lên từ dưới đáy đại dương của thế giới hiện tượng để nó có thể trở về với phối ngẫu của mình. Suy luận như vậy đã gần đúng chưa?”

    “Rất gần. Tiếp theo là Người Sư Tử. Narasimha đã cứu Prahlada bằng cách giết cha cậu, Hiranyakashipu, vua của các atula, kẻ đã chinh phục vũ trụ trong cơn thịnh nộ sau khi Lợn Rừng giết chết em trai mình là Hiranyaksha, đòi hỏi Prahlada phải thờ riêng mình hắn. Tuy nhiên, ngay từ khi sinh ra, Prahlada, một người có khuynh hướng tâm linh sinh ra trong một gia đình sùng bái vật chất, đã là một tín đồ nhiệt thành của Vishnu. Ngay cả khi bị cha nhiều lần dọa giết, tín tâm của Prahlada chưa bao giờ lung lay. Chính cái tên của cậu đã nói lên điều này, Prahlada nghĩa là “nhiều niềm vui.”

    “Lòng sùng kính của Prahlada đối với Vishnu đã tăng cường đáng kể khả năng phân biệt đúng sai của cậu, điều này giúp cậu sống sót. Ví dụ, có lần cha ra lệnh cho cậu ôm một cột trụ đang nóng đỏ. Khi quan sát kỹ, cậu thấy những con kiến đang bò trên đó, nên nhận ra cha cậu chỉ làm cho nó có vẻ nóng đỏ bằng sức mạnh pháp thuật mà mọi atula đều sở hữu bẩm sinh. Sau đó, cậu đã không hề sợ hãi mà ôm lấy cây cột. Đến khi cha cậu thực sự mất bình tĩnh và sẵn sàng giết con trai mình, Vishnu trong hình dạng Người Sư Tử đã can thiệp và cứu sống tín đồ Prahlada của mình.”

    “Dù bạn có thể dành hàng năm trời đọc tất cả các thánh điển, trừ khi có ai đó nói cho bạn biết hoặc bạn đột nhiêu phát sinh sự thấu hiểu của riêng mình, nếu không bạn sẽ chẳng bao giờ hiểu được ý nghĩa thực sự của chúng. Narasimha đặt Hiranyakashipu lên đùi ngài, moi ruột hắn bằng móng vuốt, tự đeo vòng hoa chiến thắng bằng nội tạng của hắn. đó là những gì kinh sách nói, hầu hết mọi người đều chấp nhận câu chuyện này theo cách hời hợt rồi dừng lại ở đó.”

    “Tuy nhiên, một người có sự sáng suốt tinh tế sẽ tự hỏi có bao nhiêu người từng may mắn được đấng Chí Tôn đặt lên đùi? Câu trả lời là rất ít. Vì vậy, ngay cả khi đã chết trong quá trình đó, Hiranyakashipu chắc hẳn đã được đấng Chí Tôn ban phúc lành vô tận. Hiranyakashipu đã khổ luyện khốc liệt, nhưng với tính xấc xược của mình, hắn đã cố gắng cạnh tranh với chính Vishnu. Lòng đố kỵ và hận thù của hắn đối với Vishnu điên cuồng đến nỗi hắn luôn nhớ tới ngài, nên việc này đã thu hút Vishnu đến cứu hắn bằng cách giết chết hắn. Chúng tôi gọi thứ này là virodha bhakti (sùng kính chống đối).”

    “Vì sao Narasimha lại xé toạc bụng Hiranyakashipu? Bởi vì luân xa Manipura. Một tên gọi khác của Shiva là Hara, kẻ cướp. Khi tử thần Mahakala cướp lấy Jathara Agni từ cơ thể, sự sống sẽ chấm dứt, vì các mô của bạn mất khả năng tự nuôi sống, bạn sẽ chết hoặc ít nhất “cái tôi” phàm tục sẽ chết. Tuy nhiên, nếu bạn đã chuyển hóa Jathara Agni thành Bhuta Agni, thì Hara không còn gì để cướp nữa, bạn sẽ bất tử.”

    “Vậy là Narasimha đã xé toạc bụng Hiranyakashipu và đánh thức luân xa Manipura của hắn, khiến toàn bộ Jathara Agni, lửa tiêu hóa thể chất, được chuyển hóa thành Bhuta Agni, lửa tâm linh, lửa của sự sống. Sau sự chuyển hóa này, không cần phải ăn uống gì, bạn có thể tiêu hóa bất cứ prana nào đến với mình. Đây là tự do thực sự hoặc ít nhất là một khía cạnh của nó. Đó là sự tự do đủ để biến một người thành Siddha, một người bất tử, điều mà Vishnu đã làm với Hiranyakashipu.”

    “Đây là ý nghĩa của chiếc vòng cổ làm từ nội tạng mà Người Sư Tử đeo, ngài đã loại bỏ toàn bộ Jathara Agni, thứ lửa chứa trong nội tạng, khỏi cơ thể của atula, và ngăn Apana tiếp tục di chuyển xuống dưới. Vishnu đã chuyển hóa cơ giận dữ và lòng thù hận tàn khốc của Hiranyakashipu đối với ngài thành ngọn lửa tâm linh mãnh liệt. Người Sư Tử cũng có thể làm điều đó cho bạn nếu sẵn sàng đón nhận.”

    “Narasimha, hiện thân của Lửa, không được sinh ra, ngài đột ngột xuất hiện từ một cột trụ trong cung điện của Hiranyakashipu. Cột trụ này dĩ nhiên chính là tủy sống. Những hành giả bị lấp đầy bởi cái tôi trá ngụy, tà ác sẽ bị mổ bụng bởi nguyên tố Lửa khi Kundalini thức tỉnh, Người Sư Tử tạo ra sự thanh tẩy mạnh mẽ, thường phải trả giá bằng chính mạng sống. Còn đối với các tín đồ như Prahlada, Narasimha che chở và bảo vệ mạng sống của họ khi đạt đến giai đoạn này.”

    “Còn Vamana và các Avatar khác thì sao?”

    “Từ từ thôi Robby! Có rất nhiều điều cần biết, nhưng bạn cần nghiền ngẫm những gì mình học được thì mới có ích. Chúng ta mới chỉ chạm đến bề nổi của những câu chuyện này, còn rất nhiều thứ phải suy ngẫm. Bây giờ có một việc quan trọng hơn cần làm: ca tụng hồng danh Thượng Đế!”
  3. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    95
    Đã được thích:
    1
    RAMAYANA HUYỀN NGHĨA

    Vimalananda thường tổ chức một buổi lễ nhỏ mỗi năm vào ngày Guru Purnima (Trăng tròn Guru), ngày mà mọi người tôn thờ guru của mình. Ông thức dậy từ rất sớm trước bình minh và cúng các vị thầy mình, sau đó suốt cả ngày, các đệ tử của ông sẽ đến bày tỏ lòng biết ơn về những gì ông đã chia sẻ với họ, rồi xin ông ban phúc cho sự phát triển tâm linh hơn nữa trong năm tới. Bữa trưa được chuẩn bị và phục vụ tất cả mọi người đến dự, còn buổi chiều và tối được dành cho việc hát ca tán thán.

    Do khó khăn trong việc sắp xếp chỗ ở cho tất cả mọi người trong căn hộ của ông, có một năm chúng tôi quyết định thuê một hội trường tiệc cưới để tổ chức sự kiện, thuê một nữ kirtankar, người kể chuyện tâm linh, để kể lại những câu chuyện về đấng Chí Tôn cho chúng tôi nghe. Trong khi đang chờ cô ấy đến, ai đó đã bật một bằng cassette thu âm sẵn bản tụng kinh Ramayana của Tulsida, do một kirtankar rất nổi tiếng trình bày.

    Câu chuyện Ramayana là chuyện về hoàng tử Ramachandra. Ngay trước khi được đăng quang làm vua của Ayodhya, người vợ thứ ba của cha ngài, Kaikeyi, nhắc nhở cha ngài, vua Dasharatha, về hai điều ước mà vua đã ban cho bà từ lâu. Để đổi lấy hai điều ước đó, bà yêu cầu con trai mình là Bharata được lên làm vua, còn Rama bị đày vào rừng trong mười bốn năm. Rama đã cùng tham gia vào hình phạt này bên cạnh vợ ngài Sita và em trai Lakshmana. Sau nhiều gian truân, Sita bị Ravana, quỷ vương xứ Lanka bắt cóc. Rama phải truy lùng rất lâu dài vất vả mới tìm lại được nàng, nên khi thấy nàng, ngài đã phải xâm chiếm Lanka bằng một đội quân khỉ và gấu do Anjaneya chỉ hủy, rồi giết Ravana để giành lại nàng. Đây chính là sứ mệnh mà vì nó ngài được sinh ra, vì Ravana đã áp bức toàn thể thế giới.

    Cuộn băng chúng tôi đang nghe chỉ đề cập đến một phần nhỏ của sử thi này, khi nó kết thúc, Vimalananda hỏi: “Các bạn có biết câu chuyện của Madhi không?” Tôi không biết, mà nếu có ai khác biết thì cũng không nói ra. “Ông ấy từng là một giáo viên ở Saurastra (một vùng thuộc Tây Ấn). Khi còn nhỏ, ông nội thường cho cậu ngồi trên đùi rồi đọc sử thi Ramayana của Tulsida cho cậu nghe. Cuối cùng, Madhi đã thuộc lòng toàn bộ cuốn sách. Trong khi làm công việc dạy học, ông thường đọc sử thi Ramayana ở nhiều nơi khác nhau để kiếm vài trăm rupee mỗi lần.”

    “Trong một kỳ nghỉ, ông đến núi Girnar, trong lúc đi dạo, ông gặp một tu sĩ lang thang rất sùng kính Anjaneya. Vị tu sĩ yêu cầu ông đọc Ramayana cho nghe, và Madhi đã đọc hay đến nỗi bức tượng Anjaneya gần đó đã rơi nước mắt. Chính vị tu sĩ cũng rất vui mừng nên ban phúc cho Madhi, thực ra chính Anjaneya đã ban phúc thông qua tu sĩ.”

    “Kết quả là gì? Giờ đây, Madhi thuyết giảng trước hàng chục ngàn khán giả, những người ngồi im lặng lắng nghe từng lời ông nói. Mọi người sẵn sàng tặng ông hàng triệu bạc nhưng ông không nhận bất kỳ khoản tiền nào, ngoại trừ một ngày duy nhất trong năm, chính là hôm nay, ngày Guru Purnima. Đó là một việc tốt, vì Tulsida không viết Ramayana để kiếm tiền từ nó, và chắc chắn cũng không phải để cho người khác kiếm tiền từ nó.”

    Đúng lúc đó, người hát Kirtankar đến nên Vimalananda đã tjam dừng câu chuyện. Vài hôm sau, khi có dịp thích hợp để tiếp tục, tôi đề nghị ông cùng nghe bằng cassette Ramayana khác của Madhi. Khi nghe hết một mặt băng, tôi tắt máy rồi nhìn Vimalananda với vẻ mong đợi. Ông ra hiệu cho tôi ngồi xuống, chuẩn bị lắng nghe chăm chú.

    “Các vị Rishi viết kịch bản cho mọi thứ trước cả khi nó thực sự xảy ra. Có chút ngẫu hứng, giống như trong bất kỳ vở kịch nào, nhưng cốt truyện căn bản không thay đổi.”

    Ông ra hiệu cho tôi châm thuốc.

    “Nhờ các Rishi và Lila của họ mà Ấn Độ đã được ban cho hai pho sử thi ví đại: Ramayana, câu chuyện về Ramachandra, Avatar thứ bảy của Vishnu, và Mahabharata, nội dung chính là về Krishna, Avatar thứ tám của Vishnu. Trong hàng ngàn năm, những bộ sử thi này đã là nền tảng của văn hóa Ấn Độ. Tôi đã kể cho các bạn một phần nhỏ của Krishna Lila, và mối liên hệ của nó với Kundalini Yoga.”

    “Hầu hết người Ấn Độ đều biết sơ lược về câu chuyện Ramayana, có rất nhiều người như Madhi kiếm sống bằng cách kể lại và giải thích Ramayana. Nhiều người trong số họ, giống như Madhi là người tốt, nhưng thực sự hầu hết họ biết rất ít về Ramayana và về Rama. Ramayana bí truyền, tinh túy tâm linh đích thực của câu chuyện là thứ mà rất ít người biết. Nhưng đó lại là điều bạn nên biết, vì nó liên quan đến sự thức tỉnh của Kundalini.”

    Kịch bản

    “Chúng ta sẽ không bao giờ có sử thi Ramayana nếu không nhờ có Rishi Valmiki và mối quan tâm của ông về việc san sẻ nghiệp chướng mà ông đã tích lũy qua nghề nghiệp mình đã chọn. Valmiki không phải sinh ra đã là một Rishi, thực tế, ông là một tên cướp. Công việc của ông là chặn đường người ta rồi cướp bóc. Đôi khi ông bắt giữ họ để đòi tiền chuộc, hoặc thậm chí giết họ. Đôi khi ông cũng thả họ đi. Một hôm, Valkimi bắt được Narada, kẻ phá rối trên thiên giới, và nói với hắn rằng hắn sẽ phải chết vì không có gì đáng để cướp cả.”

    Narada nói: “Được rồi, tôi sẵn sàng chết, nhưng hãy nói tôi biết tại sao anh lại cướp của mọi người?”

    “Valmiki đáp: “Vì tôi phải nuôi sống gia đình mình.”

    Narada liền hỏi: “Ông có nghĩ rằng tất cả mọi người đều sẵn lòng gánh vác nghiệp chướng của ông như họ sẵn lòng nhận chia sẻ thu nhập từ ông không?”

    Valmiki nói: “Dĩ nhiên là muốn.” Nhưng nghi ngờ đột nhiên nảy sinh từ sâu trong tâm ông.

    Narada nói: “Trước khi ông giết tôi và làm tăng thêm gánh nặng nghiệp báo của mình, sao ông không chắc chắn rằng gia đình ông sẵn lòng san sẻ nghiệp báo với ông trước đã?”

    Valmiki trở về nhà tìm hiểu và bị sốc nặng khi lần lượt từng người trong gia đình từ chối chịu trách nhiệm về nghiệp quả của ông. Cha mẹ nói: “Chúng ta đã nuôi nấng và chu cấp cho con suốt thời thơ ấu, giờ con phải trả ơn. Chúng ta không quan tâm tiền từ đâu ra, đó là vấn đề của con.”

    Vợ ông nói: “Tôi đã sinh con cho ông và chăm lo việc nhà. Ông nợ tôi một khoản tiền để nuôi sống bản thân, tôi không quan tâm ông chu cấp cho tôi bằng cách nào. Mọi nghiệp chướng của ông thuộc về trách nhiệm của ông.”

    Các con ông cho biết: “Chúng con chưa bao giờ muốn được sinh ra ở đây. Cha đã tạo ra chúng con, giờ cha phải chăm sóc chúng con bằng chi phí của mình. Cha phải tự lo lắng về nghiệp của mình.”

    “Valmiki bàng hoàng trở về gặp Narada, người dĩ nhiên đã đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Narada liền dạy Valmiki về cách lòng sùng kính Vishnu có thể xóa bỏ nghiệp xấu. Vì Valmiki không thể phát âm tiếng Phạn đúng cách nên ông không thể niệm “Rama, Rama”, nên Narada hướng dẫn ông niệm “Mara, Mara” thay thế. Mara nghĩa là “kẻ giết người”, điều mà Valmiki có thể hiểu được.”

    “Cả Mara và Rama đều có cùng các Bija Mantra, các chủng tự mật chú, điều đó có nghĩa là phải có một mối liên hệ nhất định giữa chúng. Cũng có một khác biệt rõ ràng về hiệu quả giữa chúng, do thứ tự phát âm các chữ cái, cũng giống như có cả mối liên hệ và khác nhau giữa Hara (Shiva) và Raha (bí mật).”

    “Valmiki ngồi xuống rồi bắt đầu trì tụng. Ông ngồi yên một chỗ suốt sáu mươi ngàn năm mà không hề nhúc nhích. Tổ kiến mọc lên khắp người ông.”

    Tôi xen vào: “Cũng là điều tự nhiên thôi, vì Valmiki có nghĩa là người sống trong Valmika (gò kiến hoặc gò mối).”

    “Đúng đó. Bằng cách trì tụng “Mara Mara” với tốc độ tối đa, Valmiki thực sự chuyển sang “Rama Rama”. Cuối cùng, khi xả thiền, ông đã trở thành một Rishi.”

    “Sử thi Ramayana được sáng tác từ rất lâu trước khi nó thực sự xảy ra. Đầu tiên, các Rishi tập hợp lại, quyết định rằng họ muốn có một loại Lila nhất định. Sau đó, họ giao cho Valmiki viết kịch bản. Đối với ông, việc này giống như viết kịch bản cho một vở kịch hay bộ phim. Thực ra, nó thậm chí còn đơn giản hơn, ông chỉ cần mở lòng mình ra, rồi các Rishi cao cấp đã viết Ramayana thông qua ông.”

    “Vì vậy, quá trình tu luyện đã biến ông thành một chiếc bình thích hợp để chứa đựng shakti mà các Rishi muốn hiển lộ ra thế giới thông qua ông?”

    “Đúng. Đó là điều tôi muốn nói khi cho rằng các vị Rishi là những người giật dây, còn chúng ta chỉ là những con rối. Họ quyết định điều gì sẽ xảy ra và sắp xếp cho nó xảy ra. Các sự kiện diễn ra sau khi sử thi Ramayana được biên soạn đều đã được định trước hoàn toàn. Vậy mà người ta lại tin rằng có thứ gọi là ý chí tự do.”

    “Chẳng lẽ không có thứ gọi là tự do ý chí sao?”

    “Thực sự không có thứ gọi là ý chí tự do đối với các sinh linh như chúng ta. Khi chưa trở thành một Rishi, lựa chọn của bạn là tuân theo kịch bản hoặc không tuân theo kịch bản. Nếu không tuân thủ kịch bản, cuối cùng bạn sẽ hối hận. Tuy nhiên, bạn có thể lựa chọn tuân thủ kịch bản theo cách riêng, nếu ý chí đủ mạnh.”

    ‘Ý chí (cetana) là lực điều hướng tâm trí, đặc biệt khi có những suy nghĩ hoặc khuynh hướng trái ngược bên trong. Tâm trí chi phối các giác quan, còn các giác quan chi phối cơ thể thông qua hệ thần kinh. Nếu tâm trí không được rèn luyện như ở hầu hết mọi người, ý chí sẽ mất đi thẩm quyền và cơ thể sẽ vận hành tùy tiện. Bạn biết rằng ăn một miếng bít tết dày và mọng nước là không tốt cho sức khỏe, nhưng bạn vẫn ăn. Lưỡi của bạn lấn át ý chí. Biết rằng ngủ với gái mại dâm sẽ có thể khiến bạn mắc bệnh nhưng bạn vẫn ngủ vì nhu cầu sinh lý lấn át ý chí. Đây là một dạng bất lực về tinh thần, không có khả năng kiểm soát hành động của mình, chắc chắn dẫn đến bất hạnh và thất vọng.”

    “Mọi tiến bộ tâm linh đều nằm ở việc hàm dưỡng một nội tâm được kiểm soát. Tôi không nói về một tâm trí khép kín, đè nén các ham muốn của nó. Tôi đang nói về một tâm trí được điều tiết, luôn kiểm soát chặt chẽ các giác quan bằng sức mạnh ý chí. Đó là nguyên nhân tôi rất yêu mến Anjaneya. Ông ấy bất tử, là một siêu nhân, nhưng tâm ông luôn hướng về Rama, ý chí của ông luôn phục tùng ý chí của Rama.”

    Vimalananda nhìn thẳng vào tôi: “Hãy học hỏi từ Anjaneya, nên biết khiêm nhường! Rất ít người biết rằng Anjaneya thực sự là người đầu tiên giới thiệu câu chuyện Ramayana ra thế giới. Ông đã biết phiên bản của mình bằng móng tay trên những khối đá. Sau một thời gian, ông nhận ra rằng nếu phiên bản của mình trở nên phổ biến, nó sẽ ảnh hưởng đến danh tiếng của phiên bản Valmiki, và ông cũng hiểu rằng trong kỷ Kali, sẽ không ai hiểu được tiếng Phạn của mình chính xác, nên ông đã ném những khối đá đó xuống biển ở Rameshwaram. Chúng vẫn còn ở đó, dưới nước. Ông ấy đâu có quan tâm gì đến uy tín hay danh tiếng! Ông chỉ quan tấm đến Rama, vì vậy ông rất rộng lượng.”

    “Nhìn từ góc độ nhất định, những tình tiết trong Ramayana diễn ra hàng ngày trong cơ thể mỗi người. Nếu biết điều này, mọi người sẽ kinh ngạc. Ramayana có bảy phần gọi là Kanda, tượng trưng cho sáu hương vị trong cơ thể cộng với Parama Rasa, hay vị giác tối thượng. Kinh nghiệm được Kanda nào tùy thuộc vào Vị mà bạn cảm nhận. Nếu bị dục vọng chi phối, bạn sẽ trải nghiệm lại cảnh Ravana bắt cóc Sita, vân vân. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hơn thế nữa.”

    “Ramayana là câu chuyện về sự phát triển tâm linh của một linh hồn cá thể. Tất cả chúng ta đều có những nhân vật chính của vở kịch hiện diện bên trong mình, và mọi hành giả đều trải qua những thử thách và gian truân tương tự như Rama và Sita đã phải chịu đựng. Rama, Sita, cùng những người khác, đều có nhân cách riêng, do đó, họ cũng có Kundalini riêng, nhưng họ cũng đại diện cho các nhận vật trong sử thi được trình diễn bởi tất cả những ai tu luyện Kundalini Yoga. Nếu muốn nắm bắt những ý nghĩa ẩn giấu trong câu chuyện và hiểu nó co thể ảnh hưởng đến bạn thế nào, trước tiên hãy cố gắng hiểu các nhân vật.”

    Nhân vật

    “Rama, Linh Hồn Trú Ngụ, được gọi là Raja (vua) Rama vì ngài là vua của 72 000 kinh mạch. Krishna cũng cai quản các kinh mạch, nhưng Lila của ngài lại khác, ngài có một mối tình với chúng. Một số người thấy dễ dàng hơn khi liên tưởng Linh Hồn như một vị vua, những người khác lại thích liên tưởng linh hồn như một người yêu. Bạn phải tìm ra cách nào phù hợp nhất với tính cách của mình và liên tưởng theo cách đó. Như người ta vẫn thường nói: “Chân Lý là Một, người uyên bác mô tả nó bằng nhiều cách.”

    “Anh trai của Rama là Lakshmana, tượng trưng cho sức mạnh của sự tập trung, giúp Linh Hồn tìm lại được Cô Dâu của mình. Tên của ông, xuất phát từ chữ laksha ngụ ý sự tập trung cao độ, thực tế, Lakshmana đã tập trung chú ý của mình vào một mục tiêu duy nhất: anh trai Rama, linh hồn cá thể. Sita, vợ của Rama, là Kundalini Shakti, quyền năng của Thánh Mẫu ở cấp độ cá thể. Sita không được sinh ra từ tử cung như Rama, nàng được tìm thấy khi vua cha, Janaka, đang cày đất để xây bàn thờ tế lễ. Do đó, nàng đến từ Bhu Garbha, tử cung của đất. Janaka nghĩa là người tạo ra, chính Janaka, bằng cách đưa Sita ra khỏi nguyên tố Đất, đã “tạo ra” nàng, hoặc “đánh thức” nàng.”

    “Từ “đánh thức” có vè phù hợp hơn, vì nguyên tố Đất nằm ở luân xa Muladhara.”

    “Chính xác, Janaka, cha của Sita, vua của Videha, là một người thực sự phi thường. Ông đã tịnh hóa nguyên tố Lửa bên trong mình đến mức thường ngồi trên ngai vàng với một chân đặt trong ngọn lửa đang cháy, không phải gần mà là trong đó, và một trong các hoàng hậu của ông ngồi trên đùi trái của ông. Ông vừa dùng tay nâng niu bầu ngực của bà vừa làm công việc của vương quyền mà không bị quấy rầy chút nào. Đây là ý nghĩa thực sự của từ videha nghĩa là “không có thân thể”. Tuy Janaka có thân nhưng ông cư xử như thể ông không có thân.”

    “Khi Rama đến triều đình của Janaka để tham dự lễ Swayamvara, nơi Sita sẽ quyết định người mình sẽ kết hôn, ngài được trao cho cây cung của Shiva để uốn cong, một cây cung mà trước đó chưa ai từng uốn cong được. Khi Rama lần đầu tiên uốn cong rồi làm gãy cây cung, Janaka nhận ra rằng Rama đã được tiền định để cưới Sita. Về huyền nghĩa, đây là điều không thể diễn tả bằng lời, nhưng tôi có thể nói với bạn rằng cây cung có liên quan đến hành tủy.”

    “Hành tủy sao?”

    “Đúng vậy. Các vị Rishi thời viễn cổ rất am hiểu giải phẫu học, như bạn đã nhận thấy phần nào qua Ayurveda. Giờ đây, Rama và Sita phải di chuyển vào trong rừng gần như ngay sau khi kết hôn. Lakshmana không muốn rời xa họ, làm sao năng lực tập trung có thể tách rời khỏi linh hồn và bản ngã, nên đã đi cùng họ. Khi Kundalini hợp nhất với linh hồn, cả hai rút lui khỏi các giác quan, vốn héo mòn và chết đi vì thiếu shakti. Thực tế, vua Dasharatha đã chết rất sớm sau khi Rama rời Ayodhya. Dashratha có nghĩa là “Mười Cỗ Xe”, mười giác quan. Các giác quan cho phép chúng ta nhận thức được linh hồn, đó là lý do tại sao Dasharatha là cha của Rama.”

    “Mọi chuyện lẽ ra đã tốt đẹp với Rama và Sita trong rừng nếu Sita không vì lòng hiếu kỳ mà không vâng lời em rể Lakshmana. Đó chính xác là điều mà tôi vẫn luôn nói với bạn: chỉ vì Kundalini của bạn mới bắt đầu thức tỉnh không có nghĩa là công việc đã hoàn thành. Trên thực tế, công việc của bạn mới chỉ bắt đầu. Vì lạc khỏi sự tập trung tuyệt đối vào linh hồn, Sita đã bị Ravana bắt cóc.”

    “Ravana, quỷ vương đã bắt cóc Sita, đại diện cho nhân cách hạn hẹp luôn tự mãn về tính vĩ đại của mình: “Ta là tất cả, là vua của Lanka. Lanka là chủng tự LAM, nguyên tố Đất. Ravana là một nhân vật vô cùng mạnh mẽ, đã trở thành chúa tể của vũ trụ hiện tượng. Mười cái đầu của hắn cũng tượng trưng cho mười giác quan. Hắn hiến tế cho Shiva bằng cách chặt đứt những cái đầu này, điều đó có nghĩa là hắn đã tự chế ngự các giác quan của mình không nhận thức được bất cứ điều gì ngoại trừ Shiva. Lễ vật của hắn mang tích ích kỷ, vì dù sao hắn vẫn là một con quỷ.”

    “Sau khi nhận ra Shiva, Ravana muốn đưa ngài xuống Lanka để sống cùng mình, nhưng Shiva siêu việt vũ trụ hiện tượng, lại ở trong não, vì vậy Ravana nhấc núi Kailasa, nơi ở của Shiva, để mang cả núi và Shiva trở lại Lanka, qua luân xa Muladhara. Shiva đã dùng ngón chân ấn Ravana xuống, khiến tay Ravana bị mắc kẹt dưới núi. Ravana phải gào rống tụng ca Shiva hàng ngàn năm trước khi được Shiva thương hại cho phép hắn thoát ra.”

    Ravana nghĩa là tiếng tru tréo.

    “Rama đã mất Sita vào tay một kẻ thù đáng gờm, nhân cách hạn hẹp, ma quỷ, muốn lợi dụng nàng để thỏa mãn dục vọng của chính mình. Rama buộc phải lang thang khắp nơi trước khi tìm thấy dấu vết của Sita. Cũng như bạn phải tìm kiếm Kundalini miệt mài khi nó đã quen tự đồng hóa với những thứ khác ngoài linh hồn. Lakshmana, người có khả năng tập trung cao độ giúp Rama tìm lại được vợ mình, là người đồng hành duy nhất của anh trai trong phần lớn cuộc tìm kiếm, cho đến khi họ gặp Anjaneya, người ngay lập tức đầu quân phục vụ Rama. Anjaneya là prana, con trai của thần gió. Khi được sử dụng đúng cách, prana sẽ dọn đường cho Kundalini trở về với chúa tể của mình, đó là điều mà Anjaneya đã làm cho Sita và Rama trong từng bước đi.”
  4. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    95
    Đã được thích:
    1
    Vai trò của Anjaneya

    “Anjaneya bay đến Lanka, tìm thấy Sita và trấn an nàng rằng Rama đang đến giải cứu. Trước khi trở về báo tin cho Rama về tung tích của Sita, Anjaneya để mình bị bắt, áp giải đến trước mặt Ravana để hắn nhận thức được mức độ nghiêm trọng của sự vụ. Sau đó, Anjaneya đã thiêu trụi thành phố Lanka, phá hủy thế giới lộng lẫy kỳ diệu của Ravana.”

    “Thực ra Sita mới là người chịu trách nhiệm cho việc thiêu cháy Lanka. Bọn tay sai của Ravana đã quấn đuôi Anjaneya bằng những mảnh vải tẩm dầu để hành hạ ông, nhưng khi chúng châm lửa đốt những mảnh vải đó, Sita đã cầu nguyện với thần lửa xin đừng thiêu cháy da thịt ông ta, và Anjaneya đã không bị bỏng. Thực ra, ông cảm thấy mát lạnh tuyệt diệu, đủ để bình thản tiếp tục phá hủy thành phố. Lời cầu nguyện này của Sita thực chất là một câu thần chú, nếu biết nó, bạn có thể ngồi trong lửa hàng năm trời mà không một sợi tóc nào bị cháy. Sau tất cả, Sita là [****a], mát mẻ.”

    “Anjaneya có thể đốt cháy Lanka bằng đuôi của mình. Hãy suy ngẫm về huyền nghĩa ở đây: Lanka tượng trưng cho luân xa Muladhara và nguyên tố Đất. Để nguyên tố Đất không còn tác động gì lên mình nữa, Anjaneya đã thiêu trụi nó bằng đuôi của mình, phần đuôi gắn liền với phần cơ thể gần luân xa Muladhara. Tương tự, một hành giả cũng hoàn toàn đốt cháy mọi kết nối giữa Kundalini và nguyên tố Đất nhờ sự trợ giúp của prana chuyển động trong luân xa Muladhara.”

    “Sau khi đót cháy Lanka, Anjaneya trở về với Rama, toàn tâm sùng thượng Rama, và nhờ sự trợ giúp của những con khỉ khác đã xây một cây cầu để Rama có thể vượt qua tới Lanka. Quá trình này được gọi là Setu Bhanda. Xét về ý nghĩa bên trong, cây cầu này kết nối từ luân xa Muladhara tới Manipura, bắc cầu ngang qua luân xa Svadhisthana. Cây cầu đặc biệt này chỉ có thể được xây dựng bởi một người hoàn toàn độc thân, như Anjaneya, không thể bị cám dỗ bởi bất cứ khoái lạc nào mà Svadhisthana, luân xa [ái] dục có thể kích động.”

    “Anjaneya hết sức thuần chính, điều này khá bất thường đối với một con khỉ, hầu hết các con khỉ đều dành cả ngày để giao phối và hành dâm, nhưng Anjaneya chỉ là khỉ về ngoại hình, ngài là hiện thân của Shiva nên nhận thức rất rõ về bản chất thật của mình đến mức không bị ảnh hưởng bởi bản tính khỉ của mình.”

    “Bằng cách bắc cầu qua đại dương, nguyên tố Nước, Anjaneya đã được giải thoát khỏi ảnh hưởng của Nước. Đây là một cây cầu vĩnh cửu, khi Anjaneya làm điều gì đó thì không thể thay đổi được. Ngay cả cây cầu bên ngoài được xây dựng cũng trở thành vĩnh cửu. Có lần Arjuna đã cố gắn khôn khéo để phá hủy cây cầu thật, nhưng không thành công. Làm sao hắn có thể cạnh trang với lòng dũng cảm và sức mạnh của Anjaneya, vốn là Mahavira Balavant (đại anh hùng đầy quyền năng)?”

    “Bạn đã biết chuyện Ramayana, vậy đã bao giờ bạn tự hỏi tại sao phải xây một chiếc cầu bắc qua biển từ Ấn Độ tới Lanka để Rama cùng đạo quân của ngài có thể vượt qua chưa?”

    “Không, tôi chưa.”

    “Cây cầu là cần thiết vì đại dương từ chối hợp tác với Rama. Khi mọi sinh thể khác trên thế giới đều hợp tác với Rama vì hết mực kính mến ngài, tại sao đại dương lại không chịu hợp tác?”

    “Một số người cho rằng vì Anjaneya muốn phô trương và trở nên nổi tiếng, nhưng đó là điều không phù hợp, ông ta là hình mẫu cho lòng phụng sự chân thành, nhất tâm phục dịch Rama, không bao giờ có suy nghĩ nào khác ngoài Rama. Câu trả lời nằm ở sự kiện khuấy động đại dương, vào thời đại Kurma Avatar.”

    “Đại dương đã bị hành hạ khủng khiếp trong quá trình khuấy động. Bạn có muốn bị khuấy động như thế không? Vì vậy mặc dù đại dương đã hợp tác với Vishnu khi ngài tái thế dưới hình dạng Rama Avatar, nhưng sự hợp tác đó rất miễn cưỡng, phiến diện. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc xây một cây cầu.”

    “Tức là sau khi đại dương của thân thể bị tra tấn bởi sự khuấy động prana cần thiết để tạo ra Amrita, một kinh mạch mới cần được tạo ra, đây có phải là ý nghĩa không?”

    “Cậu sắp hiểu ra rồi đấy. Cứ tiếp tục suy nghĩ về điều đó. sau khi cây cầu hoàn thành, Rama, Lakshmana, Anjaneya và bầy khỉ đã xâm chiếm Lanka, những trận chiến giữa đạo quân của Rama và Ravana bắt đầu. Có lúc Lakshmana bị thương nặng, thầy thuốc cho biết nếu không mang được thảo dượu sanjivani có thể hồi sinh người chết về trong vòng vài giờ, Lakshmana sẽ chết. Loại thảo dược đó chỉ có trên một ngọn núi nhất định ở dãy Himalaya. Rama vô cùng đau khổ trước khả năng mất Lakshmana, nên Anjaneya tình nguyện mang sanjivani về. Ông bay đến ngọn núi nhưng không tìm thấy thảo dược, vì vậy để tiết kiệm thời gian, ông đã nhổ cả ngọn núi lên mang về cho Rama. Sanjivani được tìm thấy, Lakshmana được cứu sống, ngọn núi được Anjaneya trả về vị trí cũ.”

    “Có thể bạn đã từng thấy những bức tranh Anjaneya bay trên không trung với một ngọn núi trong tay, đó là những hình minh họa cho câu chuyện này. Hãy suy ngẫm về ý nghĩa của nó một chút. Tôi sẽ không giải thích cặn kẽ cho bạn, như vậy thì quá dễ, nhưng nó có liên quan đến Lakshmana, sự tập trung tâm trí cao độ, Anjaneya ở đây là prana của thân thể, và ngọn núi từ dẫy Himalaya là cột sống chứa tủy với các dây thần kinh vật lý cùng các kinh mạch vi tế.”

    Ông để tôi suy nghĩ về những điều này một lúc rồi nói: “Giờ thì để tôi làm cho câu chuyện này trở nên phức tạp hơn nữa cho cậu nhé.”

    “Khi Anjaneya bay qua Ayodhya cùng ngọn núi, Bharata, anh trai và nhiếp chính của Rama, nhìn thấy ông trên bầu trời và tưởng ông là một con quỷ, đã bắn ông bằng một mũi tên. Khi nhận ra sai lầm của mình, ông kinh hãi, nhưng Anjaneya trấn an rồi tiếp tục cuộc hành trình.có một tu sĩ tôi biết ở Girnar thờ Anjaneya dưới hình dạng Langde Lai, Anjaneya bị thương ở đùi do mũi tên găm vào. Thực ra vị tu sĩ đã ban phúc cho Madhi có thể đọc thuộc lòng Ramayana hay như vậy chính là người thờ Langde Lai.”

    “Họ có phải cùng một người không?”

    “Tôi không biết. Hãy suy nghĩ một chút: Anjaneya bất tử, một siêu nhân. Làm sao mũi tên do người phàm bắn ra, cho dù mạnh mẽ như Bharata, có thể làm xước da ông ta được?”

    “Khá dễ hiểu. Bharata làm mọi việc nhân danh Rama. Thậm chí ông còn bắt mũi tên nhân danh Rama. Anjaneya tuyệt đối sùng kính Rama, nên chỉ khi mũi tên mang danh Rama bắn trúng thì ông mới rơi xuống. Cũng chỉ khi Bharata, phó vương của Rama, cho phép rời đi nhân danh Rama thì ông mới có thể rời đi.”

    “Những điều này cần thời gian để hiểu. Hãy cố gắng! Anjaneya đã giúp Rama chinh phạt và giết chết Ravana. Cả Rama và Ravana đều bắt đầu bằng chữ R. Ở Ấn Độ, chữ cái đầu tiên trong tên một người phản ánh vị trí của mặt trăng trong lá số của người đó. Bạn có để ý thấy những người có tên bắt đầu bằng cùng một chữ cái, tức là họ có cùng cùng Mặt Trăng, thường là kẻ thù của nhau không? Theo chiêm tinh học thì không nên như vậy, họ nên là bạn bè, nhưng thường họ lại là kẻ thù, Krishna và Kamsa, Gandhi và Godse.”

    “Ở Ấn Độ, tên được đặt theo cách này để giúp cân bằng tâm trí, mặt trăng chi phối tâm trí, đặc biệt là khía cạnh cảm xúc. Dù tên là gì nó cũng tác động mạnh mẽ đến bạn, bởi vì mỗi khi ai đó gọi bạn bằng tên đó, và mỗi khi bạn nghĩ về bản thân bằng tên đó, giá trị ngữ âm của tên đó sẽ ảnh hưởng đến ý thức của bạn, giống như một câu thần chú vậy.”

    “Nếu vậy trên thế giới có hàng tỷ người mang tên sai! Việc này còn có thể khiến họ bị mất cân bằng nhiều hơn.”

    “Chắc chắn đó. Dù sao bây giờ cũng là kỷ Kali, bạn biết đấy, phải lường trước những chuyện như vậy thôi.”

    “Còn tên tôi thì sao?”

    “Thực ra tên bạn nên bắt đầu bằng chữ R, nên không có vấn đề gì cả.”

    “Quả là trùng hợp ngẫu nhiên.”

    “Hoặc đại loại thế. Cung mặt trăng của bạn giống với cả Rama và Ravana. R tượng trưng cho chủng tự RAM, nguyên tố Lửa, bất cứ ai thờ Rama thực chất đều đang thờ lửa. Ravana là Lửa bất tịnh bị cấu nhiễm bởi ahamkara hữu hạn, còn Rama là Linh Hồn Vĩnh Cửu, Lửa thanh tịnh.”

    Tôi hiểu rằng chừng nào bản tính vị ngã bẩm sinh của còn tồn tại, tôi vẫn chỉ ngang bằng với Ravana, cho dù tôi có trở nên vĩ đại và quyền lực đến đâu, nhưng nếu thanh lọc được nguyên tố Lửa đầy đủ, tôi vẫn có cơ hội đạt đến cảnh giới của Rama.

    “Sau khi Anjaneya giải thoát bản thân khỏi mọi dấu vết của tính vị ngã bằng cách giúp đỡ Rama, ông ta cũng được giải thoát khỏi mọi giới hạn liên quan đến nguyên tố Lửa. Một dấu vết nhỏ của nỗ lực cá nhân vẫn còn sót lại khi ông đốt cháy Lanka, đó là nguyên nhân khiến đuôi ông bị đốt cháy. Ngay cả khi đó Sita vẫn ngăn chặn khả năng ông bị thiêu sống. Tuy nhiên, một khi đã thoát khỏi mọi ô trược, lửa không thể chạm vào ông được nữa.”

    “Sau khi Rama giết Ravana, Sita được giải thoát khỏi nanh vuốt ác quỷ và trở về với người chồng chính đáng của mình. Trong nội thể hành giả, điều này cho thấy nguyên tố Lửa được thanh lọc hoàn toàn, Kundalini Shakti được giải thoát khỏi sự kìm hãm của Jathara Agni và trở lại ảnh hưởng của Bhuta Agni. Khi Sita được giải cứu, nàng phải trải qua thử thách bằng lửa (Agni Pariksha) để chứng minh rằng nàng đã giữ được trinh tiết của mình, rằng nàng không bị ô nhiễm bởi Jathara Agni. Bạn cũng phải trải qua thử thách tương tự, nhưng ở bên trong, giai đoạn này, nếu vượt qua, bạn không cần phải ăn nữa.”

    “Từ luân xa Manipura, Kundalini đi lên luân xa Anahata. Rama, Sita, Lakshmana cùng vài người khác đã bay từ Lanka về kinh đô Ayodhya của Rama trên một thiết bị bay, Pushpaka Vimana. Việc họ bay là tự nhiên, vì Anahata là nơi trú ngụ của nguyên tố Khí. Anjaneya là con trai của thần gió. Ông ở trong nguyên tố của mình tại Anahata, và chính tại đây, hành giả có thể gặp ông ấy. Cánh cửa đến ba luân xa thấp hơn của ông đã đóng kín không thể mở lại, vì vậy bạn sẽ không bao giờ tình cờ gặp ông ở đó, còn khi ý thứ của ông ở Vishuddha hoặc cao hơn, làm sao để bạn liên lạc với ông? Vượt trên Anahata, ông chỉ có thể thấy Rama.”

    “Từ Anahata trở xuống, bạn vẫn có thể nhận thức được sự hiện diện của những cá nhân khác và có mong muốn tương tác với họ, mặc dù bạn coi họ như những hình thái khác nhau của đấng bề trên. Đó là lý do các fakir (tu sĩ Hồi giáo), một khi đạt đến chauthe asmaan, thiên đàng thứ tư, luôn làm việc vì mọi người và giúp đỡ những người bơ vơ. Thiên đàng thứ tư chính là luân xa Anahata. Tuy nhiên, khi bạn đến Vishuddha, sẽ có vishesha shuddhi (thanh lọc đặc biệt) và không còn bất kỳ mong ước nào. Vượt trên Vishuddha là Ajna, nơi tất cả những gì còn lại là ý thức về cá nhân, còn Sahasrara, nơi không còn gì cả. Không. Nếu muốn gặp Anjaneya, bạn phải làm việc đó ở tim.”

    “Khi gặp nguy hiểm, tại sao tay bạn lại đặt lên ngực? Vì Vishnu là thần cai quản luân xa Anahata, theo bản năng bạn đang cầu xin ngài cứu giúp, bảo vệ mạng sống mình. Anjaneya, người hầu của Vishnu dưới hình dạng Rama, cũng là một Rudra, một khía cạnh của Shiva, thần hủy diệt. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Anahata là luân xa hội tụ cả sự sống và cái chết.”

    “Bạn đã từng thấy những bức tranh Anjaneya dùng móng tay xé toạc ngực mình để chứng tỏ trong tim không còn gì ngoài hình dáng thanh tịnh nhất của Rama chưa?”

    Tôi nghĩ một lúc rồi trả lời: “Những bức tranh tôi đã xem đều thể hiện hình ảnh cả Rama và Sita cùng hiện diện trong tim Anjaneya.”

    “Đúng thế, hầu hết mọi người đều nghĩ vậy, nhưng không chính xác, chỉ có Rama mới ngự ở đó. Mọi người thường nó Anjaneya và Rama là hai vị khác nhau, nhưng họ đã sai. Thực tế, Anjaneya chính là trái tim của Rama.”

    “Sao cơ?”

    “Vậy đó. Anjaneya là prana, con trai của gió, khiến cho tim đập. Làm sao Rama có thể tồn tại nếu không có trái tim?”

    Đây là câu chuyện chứng minh: “Một lần nọ, Sita phàn nàn với Rama: “Ôi Aryaputra (Con trai của thần công lý), đôi khi ta muốn nói chuyện riêng với ngài nhưng chúng ta không bao giờ ở riêng. Anjaneya luôn ở bên chúng ta. Xin hãy đuổi hắn ra ngoài ngay lập tức để chúng ta nói chuyện riêng!”

    Rama đáp: “Nàng đang nói gì vậy? Có điều gì muốn nói với ta mà không muốn Anjaneya không nghe thấy?”

    Sita đáp: “Ta có việc riêng của phụ nữ cần giải quyết, mà vì Anjaneya chưa kết hôn nên không thể nghe được.”

    Rama nói: “Được rồi, để làm hài lòng nàng, ta sẽ cho Anjaneya đi khỏi đây một thời gian ngắn.”

    Ngài quay lại nói với Anjaneya: “Ta sẽ báo cho người biết khi nào cuộc thảo luận kết thúc, khi đó hãy quay vào. Trong lúc đó người hãy ra ngoài ăn ít trái cây trong vườn!”

    “Rồi Anjaneya đi ra vườn, chàng nhìn những cây ăn quả nhưng không nỡ hái bất cứ trái nào, làm sao chàng có thể tổn thương chúng được? Thế là chàng ngồi dưới một gốc cây râm mát và bắt đầu hát một bài ca ngợi chủ nhân Rama của mình. Chẳng mấy chốc chàng đã nhập định.”

    “Lúc này, Rama bỗng dưng bắt đầu ngáp, nhưng Anjaneya lại quá tập trung vào bài hát của mình: Ram Ram SitaRam, Ram Ram SitaRam, đến nỗi hoàn toàn quên sự hiện hữu trên mặt đất của mình và tiếp tục ngồi hát.”

    “Rama lâm vào cảnh khó khăn. Ngài ngáp liên tục, không ai chữa khỏi được. Họ gọi thầy thuốc riêng của ngài, người đã bắt mạch và nói rằng không có bệnh lý tiềm ẩn nào. Họ gọi nhà chiêm tinh, người nói toàn bộ các sao đều an ở cung đắc, không có vận hạn xấu nào. Cuối cùng, khi gọi thêm vài người nữa, gồm Lakshmana, anh ta cũng không biết phải làm gì, nhưng anh nhớ phải gọi cho Anjaneya.”

    “Anjaneya đang ở trong vườn, nhập sâu trong định. Bằng cách liên tục đọc Sitaram Sitaram liên tục vào tai chàng trong nhiều phút, Lakshmana khó khăn lắm mới đưa Anjaneya trở lại trạng thái ý thức bình thường và bảo: “Có chuyện gì đó không ổn với Rama.”

    “Chỉ một bước nhảy, Anjaneya đã ở trong cung điện, ngay khi Rama nhìn thấy ông, cơn ngáp liền dừng lại. Bạn là học viên Ayurveda thì có biết về việc ngáp không?”

    “Nó là do chuyển động bất thường hướng lên của prana. À, tôi hiểu rồi.”

    “Đúng vậy. Dù sao Sita cũng đã học được một bài học quý giá: ở đầu có Rama thì cũng có Anjaneya, và ngược lại. Tuy nhiên, cũng đúng là ở đâu có Rama thì Sita cũng ở đó. có lần Sita hỏi Anjaneya: “Cậu thích gót sen của Rama hơn hay của ta hơn?”

    Một câu hỏi khó, làm sao Anjaneya có thể xúc phạm Rama đáng kính của mình, hay Sita, Shakti của Rama? Vì vậy chàng nói: “Gót sen của bà mềm mại và dễ chịu nhất, trong khi của Rama hơi cứng nhưng muốn đạt được giải thoát, không ai có thể vượt qua gót sen của Rama.”

    “Tôi luôn kính mến Anjaneya, đó là vị bản tôn tôi yêu thích nhất, nhưng ở đây ngài đã sai. Không có Sita thì Rama chẳng là gì cả, có rất nhiều lần Rama phải đến cầu xin Anjaneya giúp đỡ. (Sai ở chỗ là) Chỉ có Thánh Mẫu mới có thể ban cho sự giải thoát, không có gì cao hơn Thánh Mẫu. Chỉ một số ít người như Anjaneya, có thể vượt ngoài Maya, cõi tạm, để đến với Rama, cõi vĩnh hằng, bọn họ đều làm được điều đó là do ân điển của Thánh Mẫu, chẳng có gì khác.”

    “À, vì vậy mà Rama yêu cầu Anjaneya, Sita và Lakshmanna phải hoàn thiện.”

    “Đúng. Đó là nguyên nhân ngài được gọi là đấng Toàn Hảo, tuy vậy ngài vẫn có những giới hạn. Do đó, bạn luôn thấy cả bốn bức tượng trong các ngôi đền thờ Rama. Họ tạo nên một thể thống nhất, không thể tách rời.”

    “Sau khi trở về Ayodhya, Rama với tư cách là vua, được sự trợ giúp của Lakshmana, Sita và Anjaneya. Triều đại của ngài được gọi là Rama Rajya, là kỷ nguyên lý tưởng để sinh sống, mọi thứ đều hài hòa trong vương quốc của ngài.”

    “Về huyền nghĩa, tôi cho rằng Rama Rajya xảy ra bất cứ khi nào có người đạt tới tâm thức Rama theo cách này?”

    “Tất nhiên, bất kể Rama sống và trị vì trên trái đất vào thời điểm nào hay ở đâu, Rama Rajya sẽ xuất hiện khi một hành giả nhận ra Rama bên trong mình và chấp nhận Rama như nguyên lý nội tại.”

    “Rama cai trị trong hòa bình và hạnh phúc nhiều năm, nhưng vì mọi thứ được tạo ra đều phải bị hủy diệt, cho dù hoàn hảo đến đâu. Một ngày nọ, Mahakala, nhân cách hóa của thời gian, đến trò chuyện với ngài. Mahakala quy định Rama phải lập tức từ bỏ bất cứ ai có thể làm gián đoạn cuộc chuyện trò của họ, Y không muốn bất kỳ ảnh hưởng thế tục nào can thiệp vào.”

    “Tình cờ khi đó Lakshmana không biết về quy định này, chàng vô tình làm phiền Rama và Mahakala. Rama, người luôn giữ lời hứa, không còn cách nào khác ngoài việc từ bỏ Lakshmana vĩnh viễn. Lakshmana quyết định rằng cuộc sống không có Rama thì không còn đáng sống nữa, vì vậy chàng đã nhảy xuống dòng sông Sarayu chảy qua Ayodhya để tự kết liễu đời mình.”

    “Rama là chân ngã, vĩnh hằng, bất diệt, nội tại. Lakshmana là ekalaksha tập trung nhất điểm: hướng tâm về Rama. Ngay cả đối tượng nhận thức cuối cùng, hay laksha cuối cùng trong ý thức cũng phải tan biến trước khi Nirvikalpa Samadhi trở nên khả thi. Ở một hành giả cá nhân, sự phân biệt cuối cùng này nhảy vào Sarayu trên trán, một kinh mạch phát sinh từ Manasasarovana, “Hồ Tâm” bên trong não. Khi sự tập trung tự chìm đắm và hòa nhập vào cái vô hạn, chỉ còn Rama tồn tại, bởi vì Sita trong lúc đó đã trở về với cội nguồn của mình, tử cung của Đất Mẹ. Linh hồn giờ đây từ bỏ mọi thứ, ngay cả Shakti của chính nó, Maya cá nhân của chính nó.”

    “Sau khi Rama mất Lakshamana, ngài mất hết mọi ham muốn tiếp tục tồn tại, nên sau khi từ biệt Anjaneya, ngài tự trầm mình xuống sông. Khi Rama hòa nhập, đó là trạng thái Nirvikalpa Samadhi, vở kịch Ramayana kết thúc.”

    “Cuối cùng, mọi người đều chết hoặc biến mất, trừ Anjaneya. Rama bảo Anjaneya: “Mặc dù ta là Chí Tôn giáng thế, ta cũng vẫn phải chết, nhưng ngươi là hiện thân của Rudra, chính là Thần Chết. Ngươi không thể chết. Điều đó là sự thật. Anjaneya không bao giờ chết. Ông bất tử như Mahakala, Rudra nguyên thủy.”

    Tôi biết Anjaneya là một tên mẫu hệ, được đặt theo tên mẹ là Anjani. “Tôi biết ông sùng mộ Thánh Mẫu thế nào, nhưng có lý do cụ thể nào khiến ông khăng khăng gọi là Anjaneya mà hầu như không bao giờ gọi là Hanuman hay Maruti không?”

    “Là người thờ Thánh Mẫu, tôi luôn nhắc nhở bản thân về bà. Anjaneya có thể là một đại anh hùng nhưng vẫn phải nghe lời mẹ mình.”

    “Khi Anjaneya đến gặp mẹ sau khi Sita được giải cứu, chàng đã kể lại toàn bộ câu chuyện Ramayana cho mẹ nghe, rồi nói: “Con luôn trung thành với sữa mẹ. Con đã hiến dâng trọn đời cho Sri Ramachandra đến nỗi con trở thành người sống độc thân. Con sẽ chẳng bao giờ nhìn bất kỳ một người phụ nữ nào khác ngoài mẹ và Sita.”

    Anjani nói: “Làm sao con có thể nói đã trung thành với sữa của ta trong khi con hoàn toàn có thể tự mình cứu Sita Ji về với Rama mà không cần phải gây chiến? Không, con đã làm nhục sữa của ta.”

    Anjaneya đáp: “Con không thể tự quyết định. Con chỉ có thể làm theo những gì tôn chủ Rama ra lệnh. Nếu được ra lệnh như vậy, con đã tự mình làm mọi việc và Ramachandra Ji thậm chí không cần phải động đến một ngón tay nào. Tuy nhiên, nhờ làm theo chỉ thị, những điều tốt đẹp khác đã xảy ra. Ví dụ mọi Rakshsa (ma quỷ) khi nhìn thấy con đều thau đổi bản tính vốn có và bắt đầu thờ phụng Rama, nhờ vào hình dáng tuyệt đẹp mà mẹ đã ban cho con. Nhờ vậy mẹ chàng mới nguôi giận. Bạn có biết Anjaneya được miêu tả là koti kandarpa lavanya không?”

    Xem nào, “vẻ đẹp của một triệu kandarpas.” Chẳng phải kandarpa có nghĩa là “củ hành” trong tiếng Phạn sao?

    “Đúng vậy, nhưng đó có phải là ý nghĩa duy nhất của nó không? Bạn có nghĩ rằng ai đó sẽ ví Anjaneya với vẻ đẹp của mười triệu củ hành không? Tất nhiên là không!”

    Quả thực, tôi cố nghĩ ra các nghĩa khác của kandarpa, rồi nói: “Kandarpa là một tên của Kamadeva, thần tình yêu.”

    “Đúng rồi. Giờ hãy tưởng tượng thần tình yêu đẹp trai đến mức nào, rồi nhân lên mười triệu lần. Lúc đó bạn sẽ hình dung được vẻ đẹp của Anjaneya, nhưng đó chưa phải là tất cả. Kadarpa còn là một loại prana đặc biệt có liên quan đến Apana, kanda là đám rối kinh mạch nơi Apana có thể di chuyển lên trên thay vì xuống dưới.”

    “Bây giờ tôi có một câu hỏi khác cho bạn, nếu Anjaneya luôn thiền về Rama, không bao giờ quên ngài dù chỉ một khoảnh khắc, vậy tại sao ông ta lại không trở thành Rama, theo nguyên lý trùng và điệp?”

    Tôi không biết.

    “Câu trả lời rất đơn giản. Chàng không trở thành Rama vì cố tình không muốn. Chàng là Shiva, đấng chỉ biết cho đi chứ không biết nhận lại, ngay cả khi đó chỉ là vấn đề hình thức. Đó là nguyên nhân Shiva được gọi là đấng Ban Ơn Vĩ Đại.”

    Ra là như vậy.

    “Bây giờ bạn đã hiểu phần nào những gì tôi đã nghĩ khi lắng nghe Ramayana.” Vimalananda kết thúc câu chuyện.
  5. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    95
    Đã được thích:
    1
    (Minh hoạ Yantra của mười Mahavidya)

    Mười nữ bản tôn Mahavidya (Đại Minh Giác) bắt nguồn từ truyền thuyết về Shiva và người vợ đầu tiên của ngài, Sati. Tức giận vì cha mình là Daksa từ chối mời người chồng đạo hạnh cao thâm của bà đến dự lễ cúng lớn (vì chê ngài kỳ dị), Sati đã hóa hiện ra mười hình dạng quyền năng của các nữ bản tôn Mahavidya. Cuối cùng, Sati đã dùng nội hỏa tự thiêu cháy mình, còn Shiva, vì quá đau buồn đã cho phép Vishnu rải thi hài bà ra khắp Ấn Độ. Những nơi có phần thi thể của ba rơi xuống trở thành thánh địa (shaktipithas) để thờ Devi, nơi mà chính vùng đất đó là hiện thân cho thánh thể của nữ thần. Một số vị Mahavidya như Kali, Tara có nhiều hình dạng khác nhau. Vimalananda tự đồng nhất mình với Tara, vị Mahavidya thứ hai, trong hình dạng Smashan Tara (Tara của bãi hỏa táng).

    ĐẠO SƯ VÀ ĐỆ TỬ

    Một thói quen dễ chịu đã hình thành khi Vimalananda đến thăm khu phố Ba Tư ở Poona. Tôi sẽ đến sớm để giúp chuẩn bị bữa trưa rồi đến trường vào buổi chiều. Buổi tối, chúng tôi sẽ đến chuồng ngựa để thăm những “đệ tử bốn chân” của ông, còn vào những ngày đua ngựa, tôi sẽ cùng ông vào khán đài ở trường đua. Sau khi trở về nhà, chúng tôi sẽ ngồi cùng nhau đến khuya trong khi ông thuyết giảng về các chủ đề đạo học.

    Một đêm nọ, chúng tôi đang ngồi với Chotu, một trong những người bạn lâu năm nhất của Vimalananda, còn có Sardar Dengle, hậu duệ của một gia đình quý tộc ở Poona. Vimalananda quyết định uống vài ly, mặc dù thường cho phép bạn bè uống cùng mình, lần này ông nói với mọi người: “Tối nay tôi có tâm trạng khác nên muốn uống một mình. Lần sau các bạn có thể mời tôi.”

    “Hả?” Chotu nói: “Thầy nghĩ gì vậy? Chẳng phải chúng ta đã đồng hành suốt tám năm, luôn ăn uống cùng nhau rồi sao? Nếu tối nay thầy định uống, tôi cũng sẽ uống với thầy.”

    “Nghe này” Vimalananda nói: “Đừng nài nỉ! Nếu cậu uống thì tôi sẽ không chịu trách nhiệm về những gì sẽ xảy ra với cậu.”

    “Thôi đi,” Chotu phản kháng: “Thầy chỉ nói vậy vì biết tôi có thể uống cùng đến khi thầy say khướt mà không gặp chút khó khăn nào. Tôi sẽ uống,” cậu ta còn khuyến khích Sardar Dengle uống cùng.

    “Tôi đã cảnh báo rồi đấy” Vimalananda nhắc lại, rồi tôi rót rượu Scotch. Theo lời ông, tôi chỉ rót cho mỗi người nửa ly. Mặc dù hai quý ông này đều đong rượu bằng pint và quart, nhưng chỉ sau vài ly đó, họ đã say đến mức không còn biết gì nữa. Chotu nôn mửa khắp người, làm bẩn cả phòng trước khi ngã vật xuống giường bất tỉnh, để lại bà vợ cằn nhằn của hắn phải lau dọn. Tôi được giao nhiệm vụ lo cho Sardar Dengle, phải mất nửa tiếng để đưa hắn ra khỏi cửa, lại thêm nửa tiếng nữa để đưa về nhà. Vimalananda rất thích thú với cảnh tượng đó.

    Khi Chotu tỉnh lại, cậu ta bắt đầu mắng nhiếc Vimalananda thậm tệ, chuyện này khiến ông cười lớn. “Cứ mắng tiếp đi. Tôi chờ chuyện này từ cậu. Tôi thích chơi với các đệ tử của mình.” Ông quay sang tôi: “Và chúng cũng thích đùa với tôi, đó là mối liên kết tình cảm tương hỗ.”

    “Tuy thích chơi với các đệ tử, nhưng chúng phải biết nghe lời” ông nhìn thẳng vào Chotu, đang cười toe toét ngây dại. “Cậu quên câu chuyện về shakarpala rồi sao?” Tất cả chúng tôi đều nghiên người lại gần để nghe, trong khi Chotu rõ ràng biết chuyện lại không nói gì, mà tiếp tục cười như thể đã mất khả năng hiểu ngôn ngữ loài người.

    Vimalananda kể: “Ngày xưa, có một câu lạc bộ đấu vật do một đô vật già kiêm đạo sư đứng đầu. Trong số nhiều đệ tử, người được ông quý trọng nhất là một chủ cửa hàng, không phải vì đấu vật giỏi mà do mối liên hệ nghiệp duyên trong quá khứ. Tuy nhiên, chủ cửa hàng lại nghĩ rằng đạo sư quý mến là do mình giỏi nhất trong đám học trò.”

    “Cậu ta thường nài nỉ thầy cho mình đấu với một đô vật rất nổi tiếng trong vùng. Sự phụ biết đệ tử mình không phải là đối thủ của đô vật to lớn hơn, nhưng cũng muốn thực hiện nguyện vọng của học trò nên một hôm gọi cậu lại hỏi: “Sao con nghĩ có thể đánh bại một tay chuyên nghiệp?”

    Chủ tiệm nói: “Con biết mình là học trò giỏi nhất của thầy, điều này khiến con tự tin. Nhưng con cũng biết người kia sẽ gây cho con nhiều rắc rối, vì hắn ăn cả một con dê mỗi ngày.”

    Guru nói: “Vậy thì sao? Hãy làm việc này: sáng mai hãy đi theo hắn vào rừng rồi xem hắn đi vệ sinh nhiều thế nào!”

    “Chủ cửa hàng phản đối nhưng vị thầy dứt khoát: Đừng cãi nữa, nếu muốn thầy giúp thì làm theo lời dặn!”

    “Cậu ta miễn cưỡng làm vậy, rồi hôm sau quay lại thông báo với thầy: khoăng hai pound.”

    “Nghe vậy vị thầy phán: “Con không cần lo lắng. Hắn ăn cả một con dê nhưng không tiêu hóa được. Thầy cho phép con đấu với tên to lớn này.”

    “Vào ngày diễn ra trận đấu, ngay trước khi bắt đầu, chủ tiệm trẻ tuổi quỳ lạy thầy theo phong tục, khi đỡ cậu lên khỏi sàn, ông nhặt một miếng shakarpala (một loại bánh ngọt) thổi vào đó trong khi niệm chú, rồi đặt vào miệng trò. Cậu ta lao ra xới vật bắt tay đối thủ rồi hai bên chiến đấu.”

    “Chỉ trong vài giây, cậu đã tóm lấy chân đối thủ, vật ngã hắn xuống rồi khóa chặt. Cậu vui mừng đến nỗi đứng lên nhảy múa, nhưng vị thầy hét lên: “Này tên ranh mãnh kia, ngồi xuống! Sao lại nhảy múa? Chính shakarpala mới là người đang nhảy múa thực sự.” Lúc đó học trò mới nhớ ra và lạy tạ thầy mình vì đã cho mượn shakti.”

    Chúng tôi lắng nghe và nhận ra chuyện này nhắm vào Chotu cùng tài uống rượu của anh ta nên cười phá lên vì sự ngốc nghếch của y. Sau đó, Vimalananda quyết định tha cho Chotu rồi chuyển sang chủ đề khác.

    “Ngay cả vị guru thân thiết của tôi, tuy rất nghiêm khắc nhưng cũng thích đùa giỡn. Hồi tôi còn sở hữu trang trại sữa ở Borivali, ngài từng đến thăm Bombay, người quản lý của tôi, Vasudev Pansekar, mà chúng tôi gọi là Vasu, đã đến gặp ngài. Vasu hay hát tụng ca, sau khi hát vài bài, anh ta mời guru đến trang trại. Chotu ở Borivali cùng tôi hồi đó là nhân chứng. Cậu còn nhớ không Chotu?”

    Chotu, người rất dễ mến, mỉm cười khi nhớ về Guru trẻ Maharaj nên gật đầu công nhận.

    “Guru Maharaj đồng ý với lời mời của Vasu: “Dĩ nhiên tôi sẽ đến, nhưng cậu phải bắt được tôi.”

    “Vasu không nghĩ nhiều về chuyện này, nhưng tối muộn hôm đó, guru Maharaj đến trang trại sữa và đi dạo quanh. Vasu thấy ông nên cố gắng gặp mặt, nhưng guru Maharaj di chuyển quá nhanh rồi biến mất. Ít nhất đó là những gì Vasu kể lại cho chúng tôi vào ngày hôm sau, tôi không tin cậu ấy vì guru Maharaj đã ngồi với chúng tôi suốt thời gian ông được cho là ở trang trại sữa.”

    “Vasu nói với guru Maharaj: “Nếu thầy vừa đến chuồng ngựa, vừa ở đây suốt thời gian qua, hẳn là thầy đã đến bằng linh thể của mình, đó là lý do thầy không thể bị bắt.”

    Guru Maharaj nói: “Được rồi, để chứng minh cho cậu thấy tôi đã từng ở đó, tôi sẽ quay lại, lần này hãy chuẩn bị sẵn sàng.”

    Vasu đáp: “Nhưng đừng dùng linh thể, thầy phải đến bằng thân vật lý.”

    Guru Maharaj đồng ý.

    “Lần này Vasu chuẩn bị một buổi tiếp đón cho guru Maharaj. Anh ta tập hợp tất cả những người chăn bò, trang bị cho họ gậy và dây thừng, rồi bao quanh chuồng bò bằng cây leo gai và dây thép gai, để một khi ai đó vào được thì không thể ra được nữa. Cuối đêm hôm sau, khi mọi người đang canh gác, guru Maharaj xuất hiện, mặc dù tất cả những người chăn bò đã cố hết sức, ngài vẫn lẩn tránh được hết. Họ dồn ngài về phía hàng rào dây thép gai và cây leo gai, nhưng ngài lại đi xuyên qua hàng rào, dây thép gai đứt khi ngài chạm vào nó.”

    “Chuyện này quá sức chịu đựng với Vasu. Anh ta cùng những người chăn bò lập tức đến chỗ tôi đang ở. Có Guru Maharaj đang ở đó, đang trò chuyện nhẹ nhàng với bạn bè tôi. Ngài không rời khỏi tầm mắt tôi suốt cả ngày, tôi muốn chắc chắn là ngài không áp dụng một tiểu xảo bỡn cợt nào đó.”

    Vasu nói: “Được rồi, lần này chúng tôi không bắt được thầy, làm sao có thể bắt được thầy khi ngài đến bằng linh thể, vốn vô hình và không có bất cứ chỗ nào để bám nắm?”

    “Guru Maharaj gọi anh ta lại và cho xem lớp da trên cánh tay mình, trên có có gai, cùng loại gai của cây leo mà rào chắn được làm từ đó.”

    “Tôi đã giữ lời hứa và đây là bằng chứng của tôi. Tôi không thể làm gì nếu cậu không bắt được tôi.” Ngài nói.

    “Làm sao guru Maharaj lại có hai cơ thể ở hai nơi khác nhau cùng một lúc. Đó là điều tôi không thể hiểu nổi nhưng nó đã xảy ra.”

    Chúng tôi đều biết ông hiểu rõ tình huống đó. tôi hỏi: “Những cái gậy và sợi dây thừng dùng để làm gì?”

    Chotu trả lời: “Để trói guru Maharaj lại và đánh cho ông ấy một trận nhừ tử như một lời chào đón.”

    Tôi nói, nghĩ đến nhân cách cao quý của guru Maharaj: “Làm sao Vasu hay bất kỳ ai khác dám động đến Guru?”

    Chotu lại cười, lần này là vì sự ngốc nghếch của tôi. Vimalananda nói: “Thì ra Guru Maharaj đã thách thức hắn, hắn định là gì đây? Nằm xuống và đẻ Guru giẫm lên mình sao? Hơn nữa, có ai bắt được Guru không? Ông ta biết cách tự vệ đấy.”

    “Chỉ là suy đoán thôi.” tôi trả lời.

    “Một học trò hoàn toàn có quyền thử thách thầy mình.” Vimalananda khẳng định mạnh mẽ.

    “Hãy xem Chotu vừa cố gắng thử thách tôi như thế nào, mà cậu ấy thậm chí còn không phải là học trò của tôi. Nhưng học trò, hay đệ tử ruột, tốt nhất nên sẵn sàng để được thử thách lại. Đó là cách mọi chuyện vẫn luôn diễn ra, trước hết, bạn thử thách vị thầy xem người đó có xứng đáng với bạn không, sau đó vị thầy thử thách lại bạn để tìm hiểu xem bạn có khả năng học hỏi điều gì và phù hợp được học điều gì.”

    Quả thực, ngay cả trong các văn bản Ayurveda, học trò cũng được khuyên nên kiểm tra kỹ lưỡng ông thầy tương lai trước, chỉ khi nào hài lòng với khả năng của thầy thì mới nộp đơn ghi danh xin ứng cử làm đệ tử. Sau đó, đến lượt vị thầy kiểm tra lại.

    “Một guru phải thử thách đệ tử của mình, nếu ông là một guru tốt thì sẽ thử thách cho đến khi sức kháng cự của đệ tử hoàn toàn bị phá vỡ. Vị guru của bạn đang cố gắng dạy bạn cách xóa bỏ cái tôi, để nâng tầm tâm thức của bạn khỏi những giới hạn mà Kundalini đã tự đặt ra cho chính nó bằng cách tự đồng hóa với thể xác. Chỉ khi trở nên khiêm nhường, bạn mới có thể học hỏi. Vị thầy giống như người làm vườn, các học trò giống như những bông hoa. Khi guru phớt lờ hoặc xúc phạm bạn, ông ấy chỉ đang xem cái tôi của bạn đã được xóa bỏ đến mức nào. Đừng bao giờ tức giận đáp trả. Chỉ cần giữ im lặng, rồi xem bạn nhận được lợi ích gì.”

    “Tôi quý mến các vị thầy của mình, nhưng họ chơi khó, quá mức so với hầu hết mọi người ngày nay. Tôi nhớ có một vị thánh tốt tính từng phạm lỗi với guru trẻ Maharaj của tôi. Vị này là Joowala Sai (thánh chấy rận) vì toàn thân ông bị bao phủ bởi hàng ngàn con chấy rận cùng các loại côn trùng nhỏ khác. Mỗi ngày ông đều cẩn thận gỡ bỏ côn trùng khắp người xuống, nói chuyện và chơi đùa với chúng, rồi lại cẩn thận đặt chúng lên người. Một hôm, Bapu, thầy tôi, tình cờ gặp Joowala Sai, cậu mỉm cười với ngài. Ngay lập tức, nụ cười biến mất khỏi khuôn mặt Joowala Sai. Nước mắt lưng tròng, cậu cầu xin tha thứ, thậm chí còn đứng trên con đường nắng nóng hàng giờ, khiến chân bị bỏng. Nhưng vô ích. Sau này Bapu nói với tôi: “Sao hắn dám cho thầy thấy hàm răng của hắn chứ?”

    Rõ ràng là tôi không hiểu nên Vimalananda giải thích: “Theo truyền thống, cười toe toét để lộ răng là bất lịch sự. Khi Joowala Sai cười với Bapu, đó là thách đố Bapu, nó tương tự như nói: “Hãy xem tôi đã đạt được trình độ tâm linh cao siêu thế nào!” Bapy xót thương người này nên đã lấy đi toàn bộ shakti của anh ta ngay lập tức. Joowala Sai liền nhận ra vấn đề và cố gắng xoa dịu Bapu, nhưng vô ích.”

    “Sau đó chuyện gì đã xảy ra?” tôi hỏi.

    “Chẳng có gì xảy ra cả. Joowala Sai phải tu luyện lại từ đầu. Cuối cùng thì Bapu cũng sẽ phải làm điều gì đó tốt đẹp cho anh ta, đó là Luật Nhân Quả, nhưng Bapu không vội.”

    Tôi phản đối: “Việc đó dường như không công bằng chút nào!”

    “Công bằng?” Đêm đã khuya và Vimalananda bắt đầu mệt mỏi vì tôi không chịu hiểu quan điểm của ông. “Bạn biết gì về công bằng khi nói về những người như Bapu? Nếu Joowala thực sự có tu vi cao, đáng lẽ phải nhận ra Bapu có đạo hạnh cao siêu hơn anh ta nhiều. Nếu vậy anh ta đã không phô trương, và giờ vẫn đang vui vẻ chơi đùa với lũ chấy rận của mình.”

    “Bạn nói về tính công bằng vì vẫn giữ định kiến (về người châu Á), bạn vẫn chưa từ bỏ thái độ bẩn thỉu đó của người phương Tây, cho rằng bạn xứng đáng được dạy chỉ vì bạn may mắn gặp được người có thể dạy bạn. Thật không may, hầu hết người phương Tây đều thiếu tính kiên nhẫn. Văn hóa của các bạn dạy rằng mọi ham muốn nên được thỏa mãn ngay lập tức. Bạn gặp một cô gái mình thích, tiến đến gần và nói: “Này, quan hệ một chút nhé!” Không lãng mạn, không bí ẩn, chẳng hứng thú. “Giao phối là một chức năng tự nhiên” các nhà khoa học nói, nên đó là những gì các bạn đã hiểu về nó. Ở phương Tây, giao hợp bây giờ ngang hàng với bất cứ chức năng nào khác của cơ thể. Bất kể lúc nào thấy cần giải tỏa thì bạn sẽ làm. Cho nên các bạn nghĩ rằng nhu cầu tâm linh cũng có thể được thỏa mãn theo cách tương tự. Chẳng có gì lạ khi các bạn chỉ toàn gặp các bậc thầy giả mạo!”

    “Bạn không thể mua được một vị chân sư. Nếu cố gắng mua chuộc họ, bạn sẽ nhận được một cú đá vào mông, bạn sẽ bị đuổi ra ngoài. Nếu một chân sư thấy đệ tử của mình trở nên thiếu kiên nhẫn trong việc tiếp thu kiến thức, vị chân sư đó sẽ cố tình trì hoãn để dạy cho đệ tử đó một bài học. Nếu đệ tử mất kiên nhẫn và bỏ đi, thì sao guru phải bận tâm? Giảm bớt một gánh nặng cho ông ta.”

    Vimalananda tiếp tục, giọng hạ xuống bình tĩnh hơn chút: “Tuy nhiên, người phương Tây không phải là bên duy nhất đáng trách. Người bạn của chúng tôi từ Đức tới nói: “Ấn Độ đang xuất khẩu thần thánh” là đúng đó. Đất nước này xuất khẩu họ sang phương Tây, nơi họ lừa đảo tiền bạc của những người đến tìm họ để học hỏi tri thức giải thoát. Dù sao, người phương Tây, đặc biệt là người Mỹ, cũng phải chịu một phần trách nhiệm, bởi vì họ nghĩ rằng có thể mua được mọi thứ, kể cả tâm linh. Khi một điều gì đó thậm chí không thể nói ra thì làm sao có thể mua được? Đó là nguyên nhân người phương Tây không được dạy chân pháp. Họ chỉ gặp những bậc thầy giả mạo, chỉ có các ngụy sư mới đồng ý dạy ai đó để đổi lấy tiền.”

    “Tất nhiên, họ không phải là trường hợp duy nhất. Người giầu ở mọi quốc gia, kể cả Ấn Độ, đều nghĩ rằng vì họ nuôi sống, chu cấp quần áo và chỗ ở cho thầy mình nên họ sẽ được lên thiên đàng. Thực tế không phải vậy. Người thầy có thể chỉ đường, nhưng chẳng thể làm thay công việc của bạn. Tuy vậy, nếu đệ tử từ chối lắng nghe, và tại sao anh ta phải làm vậy khi đã mua và sở hữu guru? Guru có thể làm được gì? Thực tế, việc duy nhất mà ông ta có thể làm là từ chối giảng dạy, nhưng cần rất nhiều can đảm để từ chối toàn bộ số tiền dễ kiếm đó.”

    “Kiến thức mà tôi đang cố gắng truyền đạt cho bạn đã phải trải qua vô vàn khó khăn mới có được. Ngay cả khi tôi có thể bán kiến thức này cho bạn, điều mà tôi không thể, thì giá cũng sẽ quá cao đến nỗi bạn không thể trả nổi. Làm sao bạn có thể định giá được những thập kỷ tôi đã dành ra trong các tu viện? Hơn nữa cha mẹ không bao giờ mong đợi tiền bạc từ con cái, trừ khi họ không phải cha mẹ thực sự mà chỉ là những kẻ sinh sản giống như muông thú. Tôi coi bạn như con trai Robby ạ. Sau khi uống vài ly, cảm giác này càng được khuếch đại lên nhiều lần, tôi cảm thấy có nhiều điều muốn dạy bạn, và Thánh Mẫu cũng sẵn sàng dạy bạn, nhưng bạn cần sẵn sàng học hỏi. Bạn nên biết chân lý không thể diễn đạt bằng lời, nếu có thể thì nó không còn chân thực nữa. Tôi chỉ có thể dùng lời nói để chỉ hướng về chân lý cùng với những phương pháp khác để truyền đạt kiến thức trực tiếp mà bạn thậm chí không hề hay biết. Đây là cách một món quà nên được trao tặng, nhưng tôi cần sự hợp tác của bạn để có thể trao tặng nó.”

    “Người Mỹ cần ngừng cố gắng chiếm hữu các vị thánh và tu sĩ, hãy tìm kiếm những vị thầy tâm linh có thể chiếm hữu họ. Chỉ khi bạn dâng hiến mọi thứ cho guru mình, đặc biệt là bản tính tham lam thì bạn mới có thể tiến bộ. Người Mỹ là những người có thể làm được điều đó, họ quan tâm đến thực tại. Tôi rất tiếc phải nói điều này, nhưng hầu hết người Ấn Độ ngày nay đều là những kẻ hèn nhát, di sản của một ngàn năm nô dịch của người Hồi giáo và người Châu Âu. Chúng tôi, người Ấn Độ, cần học lại thái độ này từ người Mỹ, và họ cần đến với chúng tôi, với một số người trong chúng tôi, để tìm kiếm giác ngộ tâm linh.”

    Tôi bắt đầu cảm thấy hơi khó chịu, không phải vì ông ấy chỉ trích người Mỹ, mà vì ông ấy vẫn coi tôi là một người Mỹ chính hiệu.

    Thấy vậy, ông nói với những người khác trong phòng, ý nói về tôi: “Tối biết có thể cậu ấy không thích những gì tôi sắp nói, nhưng tôi rất thẳng thắn, không thể nói giảm nói tránh được.” Xong ông cho tôi nghỉ ngơi. Tôi im lặng.

    Lần tiếp theo đề tài này được nhắc đến là ở Bombay, khi một trong các đệ tử của Vimalananda học chiêm tinh được vài tháng ghé qua để hỏi một số vấn đề. Sự thân mật trong cách ông ta hỏi khiến tôi nhớ đến câu chuyện về Joowala Sai, và thực tế là Vimalananda đã nói khi ông ta ngồi đó để chờ được vỗ vai khen ngợi: “Hãy học mười hai năm rồi quay lại thảo luận chiêm tinh với tôi. Môn này không thể học trong một đêm được đâu. Tôi cứ nghĩ ông đã trưởng thành vì thể chất ông gần bằng tuổi tôi, nhưng giờ tôi thấy ông vẫn như một chú cún con. Khi chó còn nhỏ, nó cắn mẹ nghịch ngợm, cắn là một đặc tính bẩm sinh ở chó. Sau khi lớn lên, nó cắn tất cả mọi người khác, nhưng khi còn là cún con, nó chỉ đủ sức cắn mẹ nó thôi. Chó mẹ không để ý, nó biết đó là con mình nên để mặc làm gì con muốn.”

    Ở Ấn Độ, gọi ai đó là chó cũng chẳng lịch sử hơn ở bất kỳ nơi nào khác, vì vậy rõ ràng Vimalananda muốn gây sốc. Sau đó, như câu cuối cùng đã hứa, ông thể hiện lòng trắc ẩn.

    “Nếu đến gặp một tu sĩ, ông ấy sẽ bảo: “Trước hết hãy trở thành đệ tử của tôi, rồi tôi sẽ dạy bạn. Tôi không muốn có nhiều đệ tử đâu, chỉ muốn có một đệ tử đến ngày tôi chết. Nên tôi không phiền lòng nếu bạn cố gắng gây ấn tượng với tôi bằng kiến thức của mình, nhưng tôi chẳng có chút ấn tượng nào. Tuy nhiên nếu bạn cố gắng khoe khoang trước mặt người khác, bạn có thể sẽ bị mất mặt, vì vậy hãy cẩn thận, đó là lời khuyên của tôi dành cho bạn.”

    Ngôi sao chiêm tinh đang lên cảm thấy xấu hổ về bản thân và xin tha thứ, nhưng Vimalananda đáp: “Tha thứ cho điều gì? Bản chất của tình mẫu tử là tha thứ, bất kể con cái làm gì.” Sau khi người đó rời đi, Vimalananda tiếp tục câu chuyện.

    “Giống như hầu hết mọi người ngày nay chỉ cần học một chút về một chủ đề nào đó rồi tự cho mình là chuyên gia, anh chàng này cũng nghĩ mình biết khá nhiều. Tôi biết anh ta đang cố khoe khoang kiến thức của mình qua những câu anh ta hỏi và cách hỏi. Nếu là một tu sĩ, tôi sẽ đối xử thô bạo với anh ta, quát mắng và khiển trách vì hỗn xược, để anh ta không bao giờ làm vậy nữa. Vì coi anh ta như con mình nên tôi không thể làm vậy, những cũng không thể để cho thoát tội dễ dàng. Cho nên tôi phải thẳng thắn. Tôi biết điều đó khiến anh ta tổn thương, nhưng thà bị tổn thương một chút bây giờ rồi nhận được bài học còn hơn là để người khác làm vỡ bong bóng kiêu ngạo sau này sẽ gây đau đớn vô cùng.”

    “Giả sử một bác sĩ phẫu thuật nhận thấy cần mổ để chữa một căn bệnh nào đó. Nếu bệnh nhân nói với ông: “Ôi không, đừng phẫu thuật, tôi sẽ đau lắm.” Thì bác sĩ có cảm thấy thương hại bệnh nhân rồi nghĩ: “Mình không được mổ, làm sao có thể gây đau đớn cho người ta được?” Nếu là một bác sĩ thực thụ thì ông ta sẽ mổ nếu biết đó là điều người bệnh cần, vì ông biết kết quả cuối cùng là giải thoát khỏi nỗi đau của bệnh tật, xứng đáng với một chút đau đớn cần thiết.”

    Tôi nhớ tính thẳng thắn của ông lúc còn ở Poona.

    “Tôi chưa và sẽ không bao giờ là một vị thầy. Khi cố gắng giảng dạy, bạn thường tự lừa dối mình. Thứ nhất, hầu hết mọi người được thúc đẩy bởi tính tò mò vô bổ hơn là khát vọng tìm tòi kiến thức chân thành. Tôi không có thời gian để phí lời với những người muốn biết liệu Thượng Đế có tồn tại hay không. Những người tin vào Thượng Đế thì không cần phải giải thích, còn những người không tin vào Thượng Đế thì cũng không có lời nào giải thích nổi.”

    “Tôi sẽ không bao giờ tự xưng mình là Thượng Đế, hoặc tiên tri của Thượng Đế, hay thậm chí là một bậc thầy đạo học, như rất nhiều người tự nhận ngày nay. Để là một đạo sư, bạn phải nói: “Tôi biết và tôi có thể dạy các bạn.” Nhưng nếu nói ra điều đó thì tôi coi như kết thúc, không bao giờ có thể học thêm bất cứ điều gì nữa, sẽ tự khép kín mình với mọi thứ mới mẻ. Tuy nhiên, nếu vẫn là một học trò suốt đời, tôi vẫn sẵn sàng học hỏi những điều mới. Tôi là hư không, kiểu hư không chứa đựng mọi thứ bên trong. Đó là kiểu hư không cần được thành tựu, nó xuất hiện khi Kundalini rời bỏ việc tán tỉnh luân hồi và mở ra cho bạn vũ trụ của mọi khả năng.”

    “Tôi không ngại gặp bất cứ ai có khát vọng học hỏi chân thành. Tôi sẵn sàng dạy người nào muốn học, miễn là đến với tôi bằng tính khiêm nhường, tôi sẽ làm mọi điều vì họ. Nhưng có bao nhiêu người thực sự quan tâm tới đạo học, và bao nhiêu người có đủ kiên nhẫn để chờ đợi tiềm năng bộc phát tự nhiên khi sự truyền thụ thực sự có thể diễn ra? Ngoài ra, bao nhiêu người có thể chịu đựng việc học với tôi, bởi khi dạy, tôi rất nghiêm khắc. Không thương hại, bạn phải thành tựu hoặc chết.”

    Một ngày nọ, Vimalananda ngồi xuống rồi trình bày cho tôi những tiêu chí mà ông dùng để đánh giá các vị thánh.

    “Một số người đi theo con đường Kiến trong hành trình tìm kiếm Thượng Đế, họ chạy ngược xuôi, trải qua nhiều kiếp sống để đạt được mục tiêu. Nhưng người quyết tâm hơn thì đi theo con đường Cá, mạnh mẽ bơi ngược dòng. Con đường Khỉ, nhảy từ cành này sang cành khác trên cây Tri Thức, còn khó khăn hơn. Tuy nhiên khó khăn nhất là con đường Chim, con đường mà chúng tôi, các Aghori theo, nhảy vọt vào không gian, rồi đôi cánh sẽ đưa chúng tôi tới Ngài.”

    “Tất nhiên, nếu đôi cánh của bạn gãy và rơi xuống đất, bạn sẽ kết thúc hoàn toàn, bạn đã chết. Ít nhất một con khỉ còn có cành cây để đỡ cú ngã, con cá có thể nghỉ ngơi sau hòn đá bất cứ khi nào nó cần. Con đường của loài kiến mất nhiều thời gian nhất nhưng lại an toàn nhất, vì con kiến không có chỗ nào để ngã. Một sadhana càng khó khăn thì càng cần có một người thầy. Trong Kundalini Yoga, việc có một người thầy giỏi là vô cùng cần thiết. Người thầy là bạn, là triết gia và là người dẫn đường cho ai tìm đạo, ông ấy bảo vệ học trò khỏi mọi nguy hiểm và thắp lên ngọn lửa nội tâm, cuối cùng sẽ thiêu trụi mọi giới hạn trong nhân cách học trò. Đúng là bạn có thể phát triển tâm linh mà không cần có thầy, nhưng nếu muốn đạt đến những trạng thái cao nhất thì người thầy là tuyệt đối quan trọng.”

    “Không có nỗ lực nào là vô ích. Ngay cả khi bạn không thành công trong kiếp này, nỗ lực của bạn vẫn hiện hữu trong số dư tài khoản ngân hàng của bạn, một tài khoản đi theo bạn hết kiếp này đến kiếp khác. Đó là tài khoản kỳ diệu đến nỗi bạn không bao giờ bị mất sổ tiết kiệm của mình. Những rung động từ nỗ lực của bạn tồn tại vô thời hạn dưới một hình thái vi tế, cho nên không có gì phải lo lắng. Cho dù ở đâu, bạn cũng sẽ được kéo trở lại với những thực hành tâm linh của mình. Toàn bộ hồ sơ về những kiếp sống trước đây của bạn đều có sẵn cho bất cứ ai biết cách tìm kiếm chúng và có thể nhận thức được âm thanh vi tế của chúng, vì vậy guru của bạn không bao giờ gặp khó khăn trong việc theo dõi bạn đang ở đâu và bạn đang làm gì, cho dù bạn có đi lạc khỏi ông xa đến đâu.”

    “Để có được sự đảm bảo như vậy, bạn phải có một guru thực sự. Trong số hàng ngàn tu sĩ ngày nay, có lẽ chỉ chọn được một người chân tu, bởi vì đây là kỷ Kali. Bạn sẽ gặp nhiều tu sĩ Robby ạ, bạn cần biết cách đánh giá họ. Nên học cách "ngửi" các vị thánh, đúng vậy, ngửi mùi của họ. Người ta nói “tinh dầu chỉ được tạo ra sau khi hoa bị nghiền nát”, điều này đúng với một tu sĩ. Chỉ sau khi cái tôi của ông ta bị nghiền nát hoàn toàn để Kundalini của ông có thể đồng nhất với Thượng Đế, ông ta mới có thể tỏa ra mùi hương ngọt ngào đối với bất cứ ai đến gần. Chừng nào còn giữ lại dấu vết của lòng vị kỷ thì mùi hôi thối sẽ bám theo ông ta đến mọi nơi.”

    “Chừng nào thân và tâm còn bị tắc nghẽn, bạn sẽ không bao giờ có thể biết được một vị thánh là gì, hoặc ngửi thấy mùi của họ. Khi thanh lọc bản thể và nhận thức được cải thiện, bạn sẽ học hỏi được ngày càng nhiều. Việc này giống như mở một chai dầu thơm trong phòng. Sau một hoặc hai khoảnh khắc, tất cả trừ người bị nghẹt mũi đều có thể nhận ra mùi thơm. Người ít kinh nghiệm nhất chỉ có thể nói chung “có mùi tinh dầu thơm”, người có kinh nghiệm hơn thì biết chính xác “đó là mùi hoa hồng”, chỉ có chuyên gia mới nhận ra các sắc thái tinh tế “đó là hoa hồng Kabuli pha lẫn chút hoa nhài”. Đối với các vị thánh cũng vậy.”

    “Nếu muốn biết một vị thầy có phải chân tu hay không, trước tiên hãy đến gặp ông ta, nhưng đừng hỏi bất cứ câu nào. Ngồi yên lặng và đừng nói nhiều, lắng nghe, cố gắng giữ cho tâm trí trống rỗng. Nếu khi ngồi gần ông ta, bạn thấy mình quên đi những điều trần tục và trở nên bình an hơn, thì ông là một vị thánh tốt, hào quang của ông ta đang làm cho tâm bạn tĩnh lặng. Nếu không, hãy nhanh chóng tẩu thoát!”

    “Những vị chân thánh hiếm khi thích bị chụp ảnh. Họ không thích được nhiều người biết đến, họ thích sống một mình và chết một mình để có thể gần gũi hơn với Thượng Đế. Hơn nữa, một bức ảnh sẽ tạo động lực cho bất cứ ai muốn tự đồng nhất mình với người đó. Bất kỳ ai có ảnh của một vị thánh đều có thể hiệu triệu vị thánh đó trong linh giới và chơi đùa với ngài, điều đó thì tốt thôi. Nhưng giả sử vì lý do nào đó mà có người lại ghét vị thánh đó? Mỗi khi nhìn thấy ảnh ngài, họ sẽ nhớ đến sự thù hận của mình rồi gửi đi những rung động tiêu cực mạnh mẽ hơn đến ngài, điều này sẽ gây ra những hậu quả khó chịu cho sức khỏe và sự thanh thản của vị thánh vô tội đáng thương. Chỉ có những vị thầy giả mạo, những kẻ khao khát danh tiếng mới cố tình để được chụp ảnh.”

    “Nếu gặp một người tự xưng là thánh nói về việc quyên góp tiền để xây dựng tu viện, trung tâm này nọ, hãy bỏ chạy ngay lập tức. Tôi thừa nhận rằng các đệ tử của ông ta có thể nói về những điều như vậy, các đệ tử luôn có phần nào đó bị lầm lạc. Nhưng một tu sĩ chân chính sẽ nói: “Tại sao tôi phải bận tâm đến việc cố gắng thiết lập nên một công trình nào đó? Nếu Thượng Đế muốn tôi có nó, tôi sẽ có được nó.” Đây mới là thái độ đúng đắn, nó cho thấy vị tu sĩ có niềm tin tuyệt đối vào bản tôn của mình. Chỉ khi không có niềm tin, ông ta mới cố gắng quyên góp tiền, chiêu nạp nhiều đệ tử, hay bất kỳ thứ gì khác. Chúng tôi có một câu tục ngữ tiếng Hindi: “Hoa không có hương thơm thì có ích gì? Một gương mặt đẹp thì có ích gì khi không ai ao ước nó? Một đạo sĩ hay tu sĩ mà không ban phát thì có ích gì? Các đạo sĩ và tu sĩ luôn ban phát, bởi họ nhận ra mọi thứ đều thuộc về Thượng Đế, làm sao có thể từ chối dâng cho Thượng Đế dưới hình hài con người những gì thuộc về ngài?”

    “Mọi người luôn đến gặp tôi và nói rằng họ muốn tìm một vị thầy, tôi luôn nói với họ rằng nếu bạn có lòng sùng kính chân thực, có lòng mộ đạo chân thành, thì vị thầy của bạn sẽ tự động đến với bạn, không cần phải đi tìm kiếm ông ấy.”

    “Bạn không cần phải tìm kiếm, nhưng có thể bạn sẽ phải chờ đợi, hãy nhớ đến Chang Dev. Đó là tu sĩ cưỡi hổ và dùng rắn hổ mang làm dây thừng. Ông đã phải chờ đợi 1400 năm để gặp được đạo sư của mình. Cứ qua mỗi trăm năm, cái chết lại đến với ông, nên ông lại phải nhập định để trốn tránh nó. Sau 1400 năm, ông gặp được Mukta Bai, em gái mười bốn tuổi của Jnaneshwar và đạt được giải thoát.”

    Vimalananda tiếp tục: “Thật không may, nếu không phải là một yogi xuất chúng như Chang Dev, bạn có thể không biết khi nào sẽ gặp được guru của mình, hoặc thậm chí không nhận ra guru của mình khi người đó đến với bạn.”

    Một guru luôn muốn biến đệ tử của mình thành guru của chính mình. Chân Ngã, chân lý tuyệt đối, là guru đích thực, bởi vì guru là cái vượt ngoài thuộc tính và hình thức (gunatia và rupatia). Một guru chân chính giúp đệ tử vượt ngoài thuộc tính và hình thức. Trước tiên, ông giúp đệ tử vượt là manubandhana, sự ràng buộc của nghiệp chướng. Sau đó, ông giúp đệ tử nhận ra bản thể của tự ngã, rồi hai người trở thành anh em guru (hoặc chị em guru). Sau đó, guru tôn thờ Chân Ngã của đệ tử như Guru Tối Thượng, vị thần đầu tiên, và người đệ tử đã hoàn thiện.”

    “Nếu đây là những gì cần thiết để tạo nên một đệ tử, thì một guru có thể có bao nhiêu môn đệ thực sự? Một hoặc hai, nhiều nhất là vài người.”

    “Một vài guru chỉ dạy ít học trò, một số khác thì không dạy ai cả. Một vị thầy có thể có nhiều tín đồ, nhưng chẳng có ích gì khi tạo ra hàng trăm đệ tử mà tất cả đều chưa chín tới. Mỗi guru nên có một đệ tử đặc biệt để truyền đạt kiến thức quý giá nhất của mình. Hãy chọn một người nhưng phải chọn thật kỹ lưỡng đến mức cả thế giới sẽ kinh ngạc trước tầm vóc vĩ đại của người ấy. Đó mới là giá trị thực sự của một vị thầy.”

    “Niềm tự hào khi chứng kiến đệ tử của mình thành công không thể diễn tả nên lời. Nhưng một guru không thể tùy tiện chọn môn đệ, ông ấy cần hiểu rõ khả năng và năng khiếu bẩm sinh của từng người để có thể chọn ra người truyền đạt phần lớn kiến thức của mình. Đó là nguyên nhân một guru luôn thích chơi đùa với các đệ tử của mình, để thử thách chúng.”

    “Sau khi đã hài lòng và muốn ban quán đỉnh truyền năng lượng cho một đệ tử, ông thường truyền shakti đó qua một phương tiện, có thể là một ngụm nước, mùi hương trầm, một ánh mắt mãnh liệt, hay một cái vỗ nhẹ vào cột sống hoặc trên đầu. Có thể ông sẽ truyền shakti dưới dạng một câu mật chú. Khi đệ tử nhắm mắt nhìn thấy câu chú được viết bằng những lưỡi lửa, bằng chữ Devanagari, một giọng nói sẽ hướng dẫn đệ tử cách trì tụng câu chú và những giới luật cần tuân thủ. Tốt hơn là nên làm theo cách này, bởi mật chú không bao giờ được dùng để nói ra.”

    “Đây là những gì xảy ra với Turakam, ông chỉ gặp guru của mình một lần duy nhất trong giấc mơ. Guru đã dạy cho ông câu mật chú, tụng niệm nó cho ông nghe, rồi bảo ông lặp lại. Chỉ có vậy thôi, không có những bài thuyết pháp dài dòng, lễ điểm đạo thể chất hay các nghi thức phức tạp. Ông nhận câu mật chú của mình và bắt đầu trì tụng nó. Nó vốn không phải câu chú phức tạp, chỉ là câu chú đơn giản, tốt đẹp “Rama Krishna Hari”. Vì có niềm tin tuyệt đối vào guru, Tukaram đã thành tựu thần biến khi thậm chí không có sự hiện diện trực tiếp của một vị thầy. Ông đặc biệt đến nỗi không chết theo cách thông thường, một cỗ xe từ trên thiên giới giáng trần rồi đón ông đi. Chẳng phải ai tự xưng được điểm đạo trong mơ cũng có cái kết đẹp đẽ như Turakam.”

    ***

    Có lẽ vì biết mình sắp qua đời nên Vimalananda đã ngồi xuống nói chuyện với tôi vào một ngày cuối năm 1983 để đưa ra lời khuyên cuối cùng.

    “Sớm muộn gì thì Robby, tôi cũng sẽ chết thôi.”

    “Đúng vậy, nhưng ông sẽ không chết sớm đâu.”

    “Bạn có thể đảm bảo điều đó không? Bạn có thể đảm bảo bạn hoặc tôi sẽ sống dù chỉ một phút nữa không?”

    “Tôi không thể đảm bảo bất cứ điều gì về bản thân mình, nhưng tối có thể đảm bảo nếu ông quyết định muốn sống tiếp, ông có thể làm được.”

    Ông tiếp tục nói mà không bình luận gì: “Ai rồi cũng sẽ chết, có thể bây giờ, có thể sau này, nhưng một ngày nào đó tôi sẽ ra đi, các bạn sẽ ở lại đây. Các bạn đã học được khá nhiều điều, và còn rất nhiều điều phải học. Đừng bao giờ bỏ lỡ cơ hội học hỏi.”

    “Vì bây giờ là kỷ Kali nên không còn già lam nào của các Rishi trên thế gian nữa. Nhưng các Rishi bất tử, họ có thể đến bất kỳ nơi nào họ muốn trong vũ trụ. Điều này nghĩa là một Rishi có thể đang đi lại giữa chúng ta, ở Bombay hay nơi nào đó khác. Tất nhiên, không ai có thể nhận ra, ông ta sẽ cải trang. Bạn chỉ có thể nhận ra nếu biết những dấu hiệu đặc biệt trên cơ thể ông, dấu hiệu phân biệt ông với người thường. Rất ít người biết những điều này.”

    “Nếu biết những đặc điểm này bạn có thể nhận ra một Mahapurusha, thậm chí là một Siddha và sẽ được ngài ban phúc kỳ diệu. Bởi vì hiện nay là kỷ Kali nên việc thực hành của mọi người đều không hoàn hảo, nên bạn khó có thể thu hút một Mahapurusha đến với mình bằng nguyện lực. Tuy vậy, nếu thành tâm tu luyện theo những gì đã được dạy và có khao khát cháy bỏng, một ngày nào đó một Mahapurusha sẽ đến với bạn, cải trang, cho phép bạn thử nắm bắt cơ hội với ngài. Hãy xem họ thích chơi đùa ra sao? Tuy tu luyện là việc rất nghiêm túc, bạn phải luôn giữ thái độ vui tươi, như một đứa trẻ nhỏ. Mọi người, đặc biệt là các vị thần, đều thích trẻ con, nhưng không ai thích một người lớn nghĩ mình quá thông minh. Cách nhanh nhất để bị đốn hạ trong trường không gian tâm linh là trở nên quá tự cao tự đại.”

    “Đó là lý do bạn phải luôn nhìn thấy Thượng Đế trong trái tim mỗi sinh linh mà bạn gặp. Bạn không thể biết khi nào, dưới hình thức nào, vị thầy của bạn hay một Mahapurusha sẽ đến thử thách bạn. Nếu vượt qua, bạn đã thành công, việc tu luyện của bạn đã được đền đáp bằng thành quả. Nếu thất bại, bạn sẽ phải bắt đầu lại từ đầu, chẳng ai biết quá trình đó có thể mất bao nhiêu kiếp sống. Vì vậy, đừng phạm bất cứ sai lầm nào!”

    “Hãy nhớ, đây không phải là loại bài kiểm tra mà bạn có thể học thuộc lòng. Bạn sẽ không bao giờ biết nó đang diễn ra cho đến khi nó kết thúc. Thực ra, chẳng có thứ gì gọi là bài kiểm tra. Bạn nghĩ đó là bài kiểm tra vì “bạn” ở đó là nhân cách không thật. Một khi “eye” được chuyển hóa thành “I” viết hoa thì không còn vấn đề gì về bài kiểm tra nữa, bạn sẽ kiểm tra ai? Chính mình sao? Nhưng chừng nào nhị nguyên còn tồn tại, chừng nào Kundalini chưa hoàn toàn thoát khỏi những ràng buộc của nó thì luôn có nguy cơ bạn có thể không đưa ra lựa chọn đúng đắn, do vận hành của nghiệp và các trói buộc tâm trí.”

    “Những gì bạn được định sẵn sẽ có, chắc chắn bạn sẽ có được. Cách thức và thời điểm bạn có được nó phụ thuộc vào việc bạn tu tâm dưỡng tính tốt đến mức nào. Chức năng của Tantra và Aghora là đưa sự kiềm soát tâm trí, giác quan và thân thể vào trật tự đúng đắn để tránh khổ đâu. Cuộc sống không có khổ đau trong thời kỳ dài sẽ tạo ra sự mãn nguyện, từ đó nảy sinh hạnh phúc, mà khi hạnh phúc được gia tăng vượt qua mọi giới hạn có thể tưởng tượng và được duy trì, nó trở thành cực lạc, thứ mà kinh Veda gọi là ananda, cực lạc vĩnh cửu. Sadhana là phương tiện để đạt được mục đích này. Khi Kundalini thức tỉnh, nếu thân thể, tâm trí và tinh thần hoạt động tốt thì cực lạc chắc chắn sẽ nảy sinh.”

    “Cực lạc không phải là thứ bạn cần tạo ra hay tích lũy, nó tự nhiên phát sinh. Hãy để Thượng Đế quyết định điều gì tốt nhất cho bạn rồi ngài sẽ ban cho bạn điều đó. Vì vậy ngay cả khi ý chí của bạn yếu đuối và khả năng kiểm soát tâm trí kém, cũng không có gì phải lo lắng. Luôn nhớ rằng phương pháp thù thắng nhất để kiểm soát tâm trí, có được hạnh phúc tột cùng, chính là liên tục tụng niệm danh hiệu ngọt ngào của Thượng Đế. Đừng bao giờ quên Thượng Đế và Thượng Đế sẽ không bao giờ quên bạn. Rồi một ngày nào đó bạn sẽ thành công.”
  6. phunglam

    phunglam Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    01/07/2015
    Bài viết:
    95
    Đã được thích:
    1
    PHỤ LỤC


    Của Robert Beer​

    Yantra: Mô tả tổng quan

    Yantra nghĩa là “thiết bị” hay “công cụ”, thường là một biểu đồ hình học được thiết kế để đồng nhất tâm trí của hành giả với vị thần mà họ lựa chọn. Yogini Tantra nói rằng nữ thần có thể được thờ dưới dạng tranh tượng, mandala hoặc yantra. Yantra là hình dạng bề ngoài của vị thần, trong khi mantra là hình thức vi tế của vị bản tôn đó. Về bản chất, mantra chính là vị thần, khi một yantra được khắc ghi các chủng tự mật chú (bija) và được làm lễ khai quang (pranapratistha), vị thần sẽ được an vị bên trong yantra. Pranapratistha là sự thâm nhập linh khí của thần bản tôn vào yantra, nếu không có điều này, yantra chỉ là một cấu trúc trống rỗng. Khi một yantra được khai quang bằng các nghi lễ cát tường, nó sẽ mang lại thịnh vượng, bình an, đồng thời loại bỏ mọi ảnh hưởng tà ác khỏi gia đình hành giả. Yantra có thể được sử dụng cho các pháp thuật nên khi được áp dụng cho các nghi thức tiêu diệt (abhicara), yantra sẽ trở thành một nhà tù hơn là một cung điện cho thần bản tôn.

    Một yantra thường được cấu tạo với một chấm tròn hay bindu ở trung tâm, tượng trưng cho hạt giống hay Bija của bản tôn. Bao quanh bindu thường là các hình tam giác có thể tạo thành hình lục giác hoặc thiết kế hình học, các tam giác lửa hướng lên trên tượng trưng cho nam thần, còn các tam giác gió hướng xuống dưới tượng trưng cho nữ thần (yoni). Các hình vuông giao nhau có thể chứa trung tâm, thường nằm trên bệ tròn của hoa sen. Bên ngoài đó, trong các vòng tròn đồng tâm là những cánh hoa sen, thường có tám hoặc mười sáu cánh. Toàn bộ đồ hình được chứa trong một bhupura hình vuông, hay mặt bằng với bốn cổng ở bốn hướng chính.

    Yantra được khắc lên nhiều chất liệu khác nhau tùy theo mục đích sử dụng và chức năng của chúng. Đối với các lễ cát tường và kính ái, người ta thường dùng tinh thể thạch anh và vỏ cây bạch dương. Với các pháp tăng ích, làm giàu, họ sử dụng vàng, bạc hoặc đồng. Đối với các lễ tiêu diệt, hàng phục, họ sử dụng sắt, da hoặc xương. Tấm kim loại thường được bôi một lớp bột nhão như gốc đàn hương, nghệ tây hoặc cây ô rô, rồi được khắc bằng bút làm bằng vàng, gỗ, sắt, hoặc gai lấy từ các loại cây bụi như keo, bầu nâu, cà độc dược, tùy vào nghi lễ được sử dụng. Yantra ba chiều đôi khi được đặt làm riêng do ảnh hưởng lâu dài của chúng đối với hòa bình và thịnh vượng, được chạm khắc khéo léo từ các vật liệu quý giá như tinh thể thạch anh, san hô hoặc lam lưu ly.

    MINH HỌA CÁC NATH SIDDHA

    Chín vị Nath Siddha

    Truyền thống về Chín vị Nath Siddha bắt nguồn từ sự hưng khởi của mật giáo phái Shaiva vào khoảng thế kỷ thứ 10. Từ Nath bắt nguồn từ tên của Shiva nghĩa đen là “Chúa Tể”. Các Nath đã đưa ra nhiều hệ thống thực hành tantra nhằm mục đích chuyển hóa thân thể con người thành một thân bất tử thần thánh. Trọng tâm trong phương pháp của họ là các thực hành Hatha, Kundalini và Yoga luyện đan. Truyền thống Bắc Ấn liệt kê chín vị Nath và 84 vị Siddha trong dòng truyền của mình, nổi bật nhất là Matsyendranath và Gorakhnath. Nhiều người trong số 84 vị Siddha này xuất hiện trong truyền thống Mật tông Phật giáo, nơi đôi khi người ta nói rằng họ thực hành Mật tông Ấn giáo vào ban ngày và Mật tông Phật giáo vào ban đêm. Danh sách chín vị Nath gồm: Matsyendranath, Gorakhnath, Jalandhara, Kanipa, Gopichand, Caurangi, Charpati, Dharamnath và Gaininath.

    (Các Nath và các Siddha được minh họa theo phong cách Tây Tạng)

    Nath Siddha Matsyendranath

    Matsyendranath, chúa tể cá, là vị guru đầu tiên trong chín vị Nath. Cùng với Gorakhnath, ông được coi là người sáng lập ra các truyền thống Nath, Kaula, Kanpata, và là người khởi xướng các pháp môn Hatha, Laya và Raja Yoga. Theo truyền thuyết, ông là một ngư dân đến từ Karmapura ở Assam, người đã câu được một con cá khổng lồ và bị nó nuốt sống. Con cá nằm lại dưới đáy đại dương gần một cung điện bí mật mà Shiva đã chọn để truyền thụ những giáo lý bí mật nhất của mình cho vị phối ngẫu Uma. Từ trong bụng cá, Matsyendranath đã nghe lén được những giáo lý bí mật này và nhận được thần chú trực tiếp từ Shiva, người không còn lựa chọn nào khác ngoài việc nhận Matsyendranath làm đệ tử. Matsyendranath đã dành mười hai năm để thành tựu sadhana của mình trong bụng cá cho đến khi cuối cùng ông được đưa lên đất liền. Ông có nhiều đệ tử, nổi bật nhất trong số đó là Gorakhnath.

    Tại Nepal, Matsyendranath được đồng nhất với bồ tát Avalokiteshvara trong Phật giáo, người được đồng nhất với Shiva dưới danh hiệu Lokanath, chúa tể thế giới. Matsyendranath là vị thần bảo hộ của Nepal, được cho là đã mang những hạt gạo đầu tiên đến vương quốc Himalaya này.

    Nath Siddha Gorakhnath

    Tiểu lục địa Ấn Độ có rất nhiều câu chuyện và giai thoại kỳ diệu về cuộc đời Gorakhnath. Có lẽ ông được sinh ra ở Punjab vào khoảng thế kỷ thứ mười, mặc dù truyền thuyết thường cho rằng ông sống ở một thời điểm xa xưa hơn nhiều. Ông đã đi khắp Ấn Độ, từ Sindh đến Bengal rồi từ Nepal đến Sri Lanka. Ở Nepal, người ta kể rằng ông đã gây ra một đợt hạn hán kéo dài mười hai năm bằng quyền năng thiền định của mình, và đợt hạn này chỉ kết thúc nhờ được Matsyendranath can thiệp. Thành phố Gorka ở Nepal được đặt theo tên của Gorakhnath, con cháu của ông hiện nay là bộ tộc Gurka. Các tín đồ tin rằng ông bất tử và vẫn sống đến ngày nay ở dãy Himalaya, nhưng tại quần thể đền thờ rộng lớn ở Gorakhpur thuộc Utter Pradesh có một ngôi mộ được cho là chứa thi thể của ông trong trạng thái Samashi. Tên Hindu của ông là Gorakhsha có lẽ bắt nguồn từ “người bảo vệ bò” (Go), hoặc từ một truyền thuyết kể về một phụ nữ hiếm muộn, mong muốn có con trai, đã nhận được ít tro từ lửa của Shiva. Thay vì nuốt tro, bà ném chúng lên một đống phân (ghor), mười hai năm sau, Matsyendranath tìm thấy một cậu bé trong đống phân này, người mà Shiva đặt theo tên Gorakhnath, “chúa tể phân”.

    Tương truyền, Gorakhnath đã truyền cảm hứng cho các bậc vĩ nhân như Kabir, Gopichand, Guga, Puran Bhagat và Guru Nanak, người sáng lập đạo Sikh. Những người theo ông được gọi là Gorakhnath, Nath và Kanpata, tạo nên các truyền thống Tantra lớn nhất của Ấn Độ. Tên gọi Kantapa được đặt theo tục lệ bấm lỗ tai để đeo khuyên lớn, thường được làm từ sừng tê, ngà voi, vỏ ốc xà cừ, đồng hoặc vàng. Những chiếc khuyên này có ý nghĩa rất quan trọng, nếu chúng bị giật ra hoặc tai bị tổn thương, hành giả Kantapa sẽ trở thành kẻ bị ruồng bỏ.

    Nath Siddha Caurangi

    Cauranginath là một đệ tử cùng thời với Gorakhnath. Truyền thuyết kể rằng ông là con trai của vua Devapala xứ Bengal. Vợ đầu của Devapala qua đời khi Caurangi còn nhỏ nên cha ông lấy vợ mới, người đã dùng mưu mẹo để đưa con trai mình lên ngôi. Caurangi bị đưa đến một khu rừng thưa, nơi tay chân ông bị chặt đứt. Tại đây ông được Matsyendranath tìm thấy và hướng dẫn Gorakhnath chăm sóc người bị cụt tứ chi. Gorakhnath dạy ông yoga về phép thở bình, ngưng thở (kumbhaka) nên sau mười hai năm thực hành, tay chân ông đã được phục hồi kỳ diệu nhờ quyền năng giác ngộ của chính ông.

    Tên Caurangi của ông có lẽ bắt nguồn từ “Bốn Chi” (anga), và hình dạng thân mình như một củ hành (kanda) có thể liên quan đến việc ông thực hành Kanda Manda Yoga. Người ta kể rằng Caurangi đã lập ra ngôi đền Kali vĩ đại ở Kalighat, Calcutta. Con đường chính chạy từ bắc xuống nam xuyên qua thành phố Calcutta ngày nay được gọi là Chowringi.

    Nath Siddha Jalandhara

    Jalandhara nghĩa là “người mang lưới”, cũng được biết đến trong tiếng Bengal là Hadipa, “sinh ra từ một khúc xương (hada) của Shiva”. Ông được đặt tên theo một trong bốn thánh địa linh thiêng nhất của thực hành mật giáo, Jalandhara, nằm ở thung lũng Kangra thuộc tây bắc Ấn Độ và gần thành phố Jullunder mới.

    Trong truyền kỳ Nath, Hadipa là một người quét dọn ở Bengal, sau này trở thành thầy của vị vua trẻ Gopichand, người nghi ngờ lòng chính trực của thầy mình nên đã ra lệnh chôn sống Hadipa trong một cái hố. Sau mười hai năm, đệ tử Kanipa của Hadipa được Gorakhnath thông báo về sự việc này nên Kanipa đã đến Bengal để giải cứu thầy mình. Khi Hadipa sống sót sau thử thách, Gopichand hối hận về hành động của mình nên đã thoái vị để đi theo con đường Nath của thầy Hadipa.

    Jalandhara là một đại sư về Hatha và Kundalini Yoga. Gorakhnath nhận xét rằng thuật ngữ Hatha có nghĩa là “mạnh mẽ”, được tạo thành từ hai âm “ha” và “tha”, đại diện cho các kinh mạch mặt trời và mặt trăng, được hợp nhất (yoga) trong trung mạch Sushumna.

    Nath Siddha Kanipa

    Tương truyền Kanipa sinh ra là một Bà la môn ở vương quốc Gaura gần Bengal. Cha ông được cho là ngư dân đã bắt được con cá mà từ đó Matsyendranath xuất hiện. Guru của Kanipa là Jalandhara. Truyền thuyết về Kanipa rất phong phú với những giai thoại về Bamarg hay Con Đường Tay Trái. Ông đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các truyền thống Kapalika và Carya, sáng tác một chuỗi ca khúc Carya nổi tiếng của Bengal gọi là Caryagiti. Ông cũng là một trong những người sáng lập phái Aghori. Nhiều người thôi miên rắn coi Kanipa là guru gốc của họ. Có một giai thoại, trong một bữa tiệc mật tông (ganachakra) được Matsyendranath và Gorakhnath tổ chức, những người tham dự tự do chọn món ăn của mình. Món mà Kanipa chọn là rắn và bọ cạp nấu chín nên ông bị đuổi ngay ra khỏi bữa tiệc. Trong truyền thuyết Phật giáo về Kanipa, cái chết bất ngờ của ông là do bị một dakini nguyền rủa. Trên giường bệnh, ông đã dạy nghi quỹ Vajra Vahari không đầu, một bản tôn giống nữ bản tôn không đầu Mahavidya Chinamasta (của Ấn giáo).

    Ông được miêu tả trong bộ trang phục smashan với đồ trang sức bằng xương, tay cầm tách sọ người, trống hai mặt và gậy mật tông. Trên đầu ông là bảy chiếc trống và lọng. Ông ngồi trên tử thi của một vetala (ma cà rồng hay quỷ hút máu).

    Nath Siddha Charpati

    Charpati là một trong những đại sư đầu tiên của Hatha Yoga, đã biên soạn nhiều văn bản về chủ đề này. Ông là một trong những đệ tử đầu tiên của dòng truyền Kapalika, thầy ông là Jalandhara. Một trong các truyền thuyết của ông kể về việc thực hành Khecari Mudra, trong đó lưỡi được uốn cong lên trên vòm họng mềm. Ông sống vào khoảng thế kỷ thứ 10. Trong số các đệ tử của ông có vua Sahila Varma của tiểu quốc Chamba ở Himachal Pradesh.

Chia sẻ trang này