1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Asean, Trung Quốc, Biển Đông và Việt Nam

Chủ đề trong 'Giáo dục quốc phòng' bởi MMichelHung, 27/06/2010.

  1. 16 người đang xem box này (Thành viên: 1, Khách: 15):
  2. thatvovan
  1. iloveubaby

    iloveubaby Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    29/11/2007
    Bài viết:
    1.929
    Đã được thích:
    622
    Like 1 cái !!!
  2. tdbang

    tdbang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    08/05/2009
    Bài viết:
    640
    Đã được thích:
    277
    Bà mẹ thằng khựa, vừa ăn cướp vừa la làng....

    ======================

    Biển Đông: Bắc Kinh tố ngược Việt Nam là đã xâm lấn vùng biển Trung Quốc

    Trọng Nghĩa Đăng ngày 08-11-2019

    http://vi.rfi.fr/viet-nam/20191108-bien-dong-bac-kinh-to-nguoc-viet-nam-xam-lan-trung-quoc

    Chính quyền Bắc Kinh ngày 08/11/2019 tố cáo là Việt Nam xâm chiếm biển của Trung Quốc và kêu gọi nước này không nên “làm phức tạp” vấn đề Biển Đông.

    Lời tố cáo ngược này được đưa ra ngay sau khi một quan chức ngoại giao cao cấp của Việt Nam hàm ý cho rằng Hà Nội không loại trừ khả năng kiện Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.

    Theo hãng tin Anh Reuters, phát biểu tại một hội nghị khoa học bàn về Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) ở Hà Nội hôm thứ Tư 06/11, thứ trưởng Ngoại Giao Việt Nam Lê Hoài Trung cho biết Việt Nam chủ trương đàm phán để giải quyết tranh chấp Biển Đông, nhưng cũng có những phương án khác, trong đó có cả biện pháp trọng tài và kiện tụng.

    Khi được hỏi về ý kiến nói trên, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Cảnh Sảng hôm 08/11 khẳng định rằng cốt lõi của vấn đề Biển Đông là việc Việt Nam và các nước có yêu sách khác đã “xâm chiếm và chiếm đóng” các hòn đảo của Trung Quốc.

    Theo ông Cảnh Sảng, “Việt Nam cần phải đối mặt với thực tế lịch sử và tuân thủ sự đồng thuận ở cấp cao mà hai nước đã đạt được, giải quyết tranh chấp bằng đối thoại và tham vấn, đồng thời tránh những hành động có thể làm phức tạp vấn đề, xáo trộn đại cục hòa bình, ổn định ở Biển Đông và quan hệ song phương”.

    Vấn đề Biển Đông đã gây căng thẳng trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc kể từ tháng 7/2019 khi Trung Quốc cho tàu khảo sát vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời đưa tàu hải cảnh quấy phá hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam tại vùng Bãi Tư Chính.

    Bất chấp các phản đối liên tiếp của Việt Nam, Trung Quốc vẫn tiếp tục cho tàu của họ ngang nhiên đi lại trong vùng biển Việt Nam, và tàu khảo sát Trung Quốc chỉ rời khỏi vùng biển Việt Nam ngày 24/10/2019.
    Hector_Swang_pro thích bài này.
  3. phaohoa1004

    phaohoa1004 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    28/10/2018
    Bài viết:
    177
    Đã được thích:
    71
    tự nhận bãi tư chính là của mình nhưng không dám cho tàu vào vùng 12 hải lý mà chỉ ở vùng đặc quyền kinh tế.hải quân TQ không tự tin thái quá như đám chính trị gia diều hâu cùng đám chuyên gia quân sự mỹ,singapo...
  4. Hector_S

    Hector_S Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    18/06/2005
    Bài viết:
    1.024
    Đã được thích:
    403
    Mình không rành mấy cái này đâu. Ảnh, clip trên mạng thấy hay thì đưa lên cho mọi người xem thôi. :cool: Cái này cũng thế.
    [​IMG]
    dragonboy1080minhhoang2017 thích bài này.
  5. tdbang

    tdbang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    08/05/2009
    Bài viết:
    640
    Đã được thích:
    277
    Bài viết của một giáo sư tiến sĩ khựa, coi bộ cũng biết điều ...

    ========================

    Cạnh tranh Mỹ-Trung sẽ làm nóng Biển Đông

    Sự cạnh tranh giữa các nước lớn sẽ là mối đe dọa lớn nhất đối với sự ổn định trong khu vực.

    Bởi Wu Shicun

    Ngày 08 tháng 11 năm 2019

    https://thediplomat.com/2019/11/us-china-competition-will-heat-up-the-south-china-sea/

    Vào ngày 1 tháng 6 năm 2019, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã chính thức công bố báo cáo Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương đầu tiên của họ. Bản chất của chiến lược này là tăng cường các liên minh song phương và các cơ chế hợp tác đa phương của Hoa Kỳ về kinh tế, an ninh và hàng hải để xây dựng một mạng lưới chung bao gồm Nam Á, Đông Nam Á và Đông Bắc Á.

    Về chiến lược, Hoa Kỳ đã sử dụng vấn đề Biển Đông như một cơ chế tranh thủ để buộc các nước trong và ngoài khu vực phải đứng về phía mục tiêu cuối cùng là xây dựng liên minh quân sự chống lại Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Về mặt chiến thuật, Mỹ đã tăng cường các hoạt động triển khai sức mạnh đơn phương hoặc liên minh trong khuôn khổ Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. nhưng cũng đặt ra những thách thức mới đối với an ninh hàng hải trong khu vực.

    Mối quan tâm chính của Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ là nhằm ngăn chặn sự cân bằng song phương của sức mạnh hải quân tiếp tục phát triển có lợi cho Trung Quốc. Chiến thuật của họ được thiết kế để làm suy yếu ảnh hưởng liên tục gia tăng của Trung Quốc tại khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương rộng lớn, bao gồm cả Biển Đông và để duy trì sức mạnh vượt trội của Hoa Kỳ. Vì Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương, tương lai sẽ chứng kiến các cuộc cạnh tranh ngày càng dữ dội giữa Trung Quốc và hệ thống đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ. Do đó, mô hình an ninh ở khu vực Biển Đông đang ngày càng phát triển thành một cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn.

    Trong tương lai, cuộc cạnh tranh có thể phát triển theo những cách sau:

    Đầu tiên, “các hoạt động tự do hàng hải” (FONOP) do Hoa Kỳ thực hiện tại các khu vực tranh chấp ở Biển Đông sẽ mang tính khiêu khích hơn và có mục tiêu rõ hơn, cũng như sự tham gia của Lực lượng bảo vệ bờ biển Hoa Kỳ (USCG). Liên minh FONOP và vai trò liên minh thực thi pháp luật do USCG thủ vai trong khuôn khổ Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của họ ở Biển Đông sẽ mang lại một phương tiện mới cho Hoa Kỳ để răn đe sự phát triển của lực lượng hải quân Trung Quốc. và cũng can thiệp vào việc quân sự hóa Biển Đông.


    Kể từ năm 2017, quân đội Mỹ đã tăng đáng kể tần suất, phạm vi và cường độ hoạt động tại khu vực Biển Đông. Kể từ khi Donald Trump nhậm chức, quân đội Mỹ đã tiến hành cái gọi là “Tự do hoạt động hàng hải” (FONOP) 15 lần ở Biển Đông. Chỉ riêng trong năm nay, Lầu năm góc đã sáu lần phái một hoặc hai tàu khu trục đến vùng lãnh hải hoặc vùng biển lân cận của Xisha (Hoàng Sa), Nansha (Trường Sa) và Quần đảo Zhongsha (Bãi cạn Scarborough) mà không có sự cho phép của Bắc Kinh.

    Ngoài những cái gọi là FONOP, các lực lượng dưới mặt nước và không quân của quân đội Hoa Kỳ cũng thường xuyên tiến hành trinh sát chặt chẽ chống lại Trung Quốc ở Biển Đông. Theo thống kê chưa đầy đủ, máy bay ném bom B-52 của Mỹ được triển khai ở đảo Guam đã bay tới biển Việt Nam ít nhất 16 lần vào năm ngoái để thực hiện các nhiệm vụ quân sự; gấp khoảng bốn lần tần suất so với thống kê năm 2017.

    Có thể thấy trước rằng, trong khuôn khổ Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của họ, thì Hoa Kỳ sẽ không chỉ tiếp tục leo thang FONOP ở Biển Đông về tần suất, quy mô và phạm vi địa lý, mà còn có nhiều phương tiện thách thức và đa dạng hơn để gây áp lực lên Trung Quốc trong lĩnh vực an ninh. Một mặt, các đồng minh của Mỹ như Nhật Bản, Úc và Vương quốc Anh có thể tiến hành các hoạt động chung với Hoa Kỳ trên cơ sở các hoạt động quân sự đơn phương hiện có ở Biển Đông. Mặt khác, Mỹ sẽ thể chế hóa và bình thường hóa các hành động thực thi pháp luật của Cảnh sát biển và dần dần tiến hành thực thi pháp luật hàng hải chung với các nước có bờ biển như Philippines, Việt Nam và Malaysia. Do đó, các cuộc đấu đá trực tiếp về sức mạnh xám giữa Trung Quốc và Mỹ đã lộ ra ở chân trời.

    Thứ hai, việc tăng tốc xây dựng căn cứ quân sự và triển khai hỏa lực ở các khu vực xung quanh Biển Đông sẽ là phương tiện chính để Hoa Kỳ giải quyết ảnh hưởng quân sự của Trung Quốc.

    Theo báo cáo Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương, quân đội Mỹ hiện có hơn 2.000 máy bay, 200 tàu chiến và tàu ngầm và 370.000 nhân viên quân sự được triển khai tại khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Báo cáo bao gồm kế hoạch mua 110 máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư và thứ năm và 400 tên lửa không đối không tầm trung tiên tiến, trong số các vật liệu phòng thủ khác phù hợp với chiến thuật trên biển. Ngoài ra, báo cáo còn lưu ý về kế hoạch mua 10 tàu khu trục, cũng như tên lửa đạn đạo, từ năm 2020 đến năm 2024 để cải thiện khả năng của Mỹ trong chiến tranh chống tàu mặt nước và chống ngầm. Biển Đông và các khu vực lân cận là trung tâm địa lý của Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương, và quân đội Mỹ chắc chắn sẽ tăng tốc và tăng cường triển khai sức mạnh, xây dựng căn cứ và các hình thức hoạt động quân sự ở khu vực này.

    Thứ ba, các cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương hiện có do Hoa Kỳ tiến hành bao trùm Biển Đông sẽ xảy ra thường xuyên hơn ở các khu vực lân cận, và khả năng quân đội Mỹ tiến vào các khu vực tranh chấp ở Biển Đông là không thể loại trừ.

    Theo thống kê, Bộ Tư lệnh Ấn Độ-Thái Bình Dương (USINDOPACOM) tiến hành hơn 150 cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương hàng năm. Trong năm 2014 và 2015, con số này vượt quá 160 và 175. Các ví dụ bao gồm cuộc tập trận quân sự chung giữa Mỹ và Philippines “Balikatan”, cuộc tập trận Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC), cuộc tập trận “Malabar” ba bên Mỹ-Ấn Độ-Nhật Bản, cuộc tập trận Đối tác Thái Bình Dương, và Hợp tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu trên biểnt (CARAT, liên quan đến Mỹ và một số lực lượng hải quân đối tác Đông Nam Á và Nam Á).

    Do đó, việc thực hiện Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ có khả năng tăng thêm tần suất và phạm vi của các cuộc tập trận quân sự chung của quân đội Hoa Kỳ ở Biển Đông và các khu vực xung quanh, bao gồm các vùng biển tranh chấp. Đặc biệt, quân đội Mỹ lo ngại rằng các quốc gia ngoài khu vực có thể bị loại khỏi Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) khi nói về các cuộc tập trận quân sự chung trong khu vực. Do đó, sẽ có khả năng Mỹ sẽ duy trì các cuộc tập trận chung ở vùng biển tranh chấp ở Biển Đông để tạo ra một fait accompli (sự đã rồi) trước khi COC có hiệu lực.

    Thứ tư, các quốc gia thành viên khác sẽ theo chân Hoa Kỳ tham gia cuộc cạnh tranh địa chính trị ở Biển Đông để tối đa hóa lợi ích của họ trong quá trình hình thành các quy tắc và thiết lập trật tự ở Ấn Độ-Thái Bình Dương.

    Với việc thực hiện Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, một số quốc gia ngoài khu vực Biển Đông, như Nhật Bản, Úc, Ấn Độ, Vương quốc Anh và Pháp, sẽ can thiệp vào Biển Đông vì lợi ích riêng của họ , do đó làm leo thang cạnh tranh địa chính trị phức tạp trong khu vực.

    Để thể hiện sự trung thực của mình với tư cách là một cường quốc chính trị và quân sự, Nhật Bản sẽ sử dụng chiến lược này của Hoa Kỳ để tăng cường hơn nữa sự hiện diện quân sự và bán quân sự ở Biển Đông. Không thể loại trừ rằng Cảnh sát biển Nhật Bản (JCG) có thể có ý định bình thường hóa việc triển khai lực lượng của mình ở Biển Đông và nhằm mục đích thiết lập các căn cứ quân sự ở các nước xung quanh.

    Úc luôn là người ủng hộ trung thành cho trật tự khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương do Mỹ thống trị. Lấy cảm hứng từ chiến lược của Washington và định hướng chính sách Ấn Độ-Thái Bình Dương của riêng mình, Úc có thể tăng cường hơn nữa sự hỗ trợ và hợp tác với các hành động của Hoa Kỳ nhắm vào Biển Đông. Tiềm năng hành động chung này với Mỹ có thể chỉ là vấn đề thời gian.

    Xa hơn về phía tây, Ấn Độ tin rằng Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ có thể đáp ứng nhu cầu của chính sách hướng Đông và mở rông ngoại vi của Ấn Độ. Do đó, Ấn Độ hy vọng sẽ tham gia đầy đủ vào chiến lược này về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao và quân sự, do đó mở rộng ảnh hưởng đến khu vực ngoài Nam Á và Ấn Độ Dương. Nhân danh hợp tác an ninh hàng hải, Ấn Độ cũng sẽ tham gia các cuộc tập trận quân sự hiện do Mỹ, Nhật Bản và Úc thống trị ở các khu vực xung quanh Biển Đông và tăng cường phối hợp chính sách với Hoa Kỳ về các vấn đề ở các khu vực nói trên.

    Nói tóm lại, với việc triển khai dần dần Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, cuộc cạnh tranh của các nước lớn như Nhật Bản, Ấn Độ và Úc trong khu vực sẽ ngày càng khốc liệt, tình hình địa chính trị trên biển sẽ ngày càng phức tạp và tình hình an ninh trong tương lai ở Biển Đông sẽ tiếp tục gây lo ngại.

    Thứ năm, các cuộc tham vấn của Bộ quy tắc ứng xử (COC) phải đối mặt với sự nhiễu loạn do mô hình địa chính trị thay đổi và ý định của các quốc gia trong và ngoài khu vực nhằm tối đa hóa lợi ích an ninh của họ. Không nên đánh giá quá cao vai trò hiệu quả của một COC trong việc đảm bảo trật tự an ninh ở Biển Đông.

    Một trong những mục tiêu chính của Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Washington là thiết lập một trật tự khu vực dựa trên luật lệ với Hoa Kỳ là ảnh hưởng thống trị. Mục tiêu này mâu thuẫn trực tiếp với Trung Quốc và các quốc gia thành viên ASEAN, những người dự định lấy việc tham vấn COC như một cơ hội để thiết lập một trật tự khu vực dựa trên sự cởi mở và bao quát. Một mặt, các nội dung của COC đang được tham vấn, bao gồm các hoạt động quân sự chung, phát triển tài nguyên và thực thi pháp luật hàng hải trong các khu vực tranh chấp, đều là những lợi ích và mối quan tâm chính của Hoa Kỳ về vấn đề Biển Đông. Ví dụ, Hoa Kỳ đã bày tỏ quan ngại sâu sắc về quy định về tập trận quân sự chung, và việc khai thác dầu khí do các nước bên ngoài khu vực Biển Đông thực hiện, mà Trung Quốc và các quốc gia ASEAN thiết lập trong bản dự thảo COC.

    Mặt khác, do những nỗ lực và ảnh hưởng của Hoa Kỳ, một số quốc gia thành viên ASEAN như Việt Nam và Philippines có thể lên tiếng dè dặt trong các cuộc tham vấn của COC vì họ muốn bảo vệ quyền lợi của mình ở Biển Đông hoặc phải thực hiện một lựa chọn bất lực sau khi xem xét chiến lược về sự cân bằng của các nước lớn.

    Do đó, Hoa Kỳ muốn xây dựng các quy tắc mới ở Biển Đông bởi các “đặc vụ” của họ nhằm gây ảnh hưởng đến trật tự trong khu vực. Điều này sẽ không chỉ làm xáo trộn quá trình tham vấn COC mà còn có thể tạo ra sự khác biệt và mâu thuẫn mới giữa các quốc gia. Một hậu quả nghiêm trọng hơn là làm thế nào điều này sẽ gây ra sự xáo trộn tiêu cực đối với trật tự an ninh khu vực do Trung Quốc và các quốc gia thành viên ASEAN thiết lập dựa trên Bộ quy tắc ứng xử.

    Mặc dù hiện tại có các cuộc đối thoại và cơ chế hợp tác về an ninh như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM +) và Cuộc tập trận quân sự đa phương ASEAN Plus 1 ở khu vực Biển Đông, nhưng các cơ chế này nói chung là lỏng lẻo. Chúng không chỉ thiếu thiết kế thể chế nghiêm ngặt, mà còn hầu như không được sử dụng để loại bỏ những nghi ngờ an ninh lẫn nhau giữa các quốc gia trong khu vực. Do đó, sự gắn kết về an ninh trong khu vực này vẫn còn ở mức tương đối thấp. Hơn nữa, với sự thay đổi trong cán cân quyền lực giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ và tăng cường cạnh tranh quyền lực của các nước lớn trong khu vực, rất khó để có cấu trúc an ninh do ASEAN và Mỹ thống trị nhằm duy trì trật tự và ổn định trong việc này khu vực.

    Để phá vỡ tình trạng tiến thoái lưỡng nan về quản trị an ninh ở Biển Đông, trước tiên, Trung Quốc và các quốc gia thành viên ASEAN nên cam kết thiết lập một thể chế dàn xếp ổn định và hiệu quả. Tất cả các bên có thể tham khảo ý kiến của văn bản COC như một cơ hội quan trọng và xem xét các mối quan tâm khác nhau của các quốc gia ngoài khu vực, chẳng hạn như tự do hàng hải và hàng không dựa trên các quy tắc của luật pháp quốc tế và của các quốc gia trong khu vực, chẳng hạn như sự ổn định của tình hình an ninh khu vực và lợi ích hàng hải. Trên cơ sở xem xét như vậy, chúng ta có thể thiết lập các chuẩn mực, quy tắc và các biện pháp giám sát và trừng phạt tương ứng đối với những gì có thể được thực hiện và những gì không thể thực hiện được bởi các bên trong và ngoài khu vực, cũng như các nghĩa vụ và trách nhiệm tương ứng.

    ………………….

    Wu Shicun có bằng tiến sĩ lịch sử và là chủ tịch và nghiên cứu viên cao cấp của Viện nghiên cứu Biển Đông của Trung Quốc cũng như chủ tịch hội đồng quản trị của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc-Đông Nam Á về Biển Đông.
  6. nd2003

    nd2003 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    19/06/2018
    Bài viết:
    238
    Đã được thích:
    97
  7. tdbang

    tdbang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    08/05/2009
    Bài viết:
    640
    Đã được thích:
    277
    Việt Nam có thể trở thành đồng minh mới của Hoa Kỳ để chống lại Trung Quốc?
    National Interest

    Tác giả: Anders Corr

    7-11-2019

    https://nationalinterest.org/feature/can-vietnam-be-america’s-new-ally-against-china-94901


    Kể từ tháng Bảy, tàu khảo sát Hải Dương 8 và một tàu tuần dương hộ tống của Trung Quốc đã có mặt tại vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam ở Biển Đông trong một thời gian dài. Khu vực tranh chấp, xung quanh 3 hòn đảo nhỏ mà Việt Nam chiếm đóng ở bãi Tư Chính, gần Việt Nam hơn bất cứ quốc gia nào khác và Việt Nam tuyên bố là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Trung Quốc tuyên bố khu vực này là lãnh thổ lịch sử, dựa vào cái gọi là đường chín đoạn mà Tòa án Trọng tài Thường trực tại The Hague năm 2016 đã phán quyết là không có cơ sở pháp lý.

    Việt Nam đặc biệt bị sự xâm lược mới nhất này đe dọa và phải chống trả, như đã từng tự vệ nhiều lần trước kia và đã tổn thất lớn về nhân mạng trong trận chiến chống lại Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa (1974), cuộc chiến Việt-Trung (1979) và hải chiến Trường Sa (1988). Trong mỗi trường hợp, Trung Quốc đều gây chiến trước và Việt Nam bị thiệt hại nhân mạng và lãnh thổ. Việt Nam đã có thể cải thiện an ninh rất nhiều nếu liên minh với Hoa Kỳ, quốc gia duy nhất trên thế giới có thể đánh bại Trung Quốc một mình. Và Hoa Kỳ cũng được hưởng lợi từ việc liên minh bằng cách tăng cường ngăn chặn Trung Quốc trong khu vực.

    Nhưng mặc dù có nhiều lý do để tiến tới một liên minh và cải thiện tình hữu nghị trong hai thập niên qua, cả hai quốc gia đều bị những quan điểm sai lầm ngăn cản tư duy chiến lược về lợi ích quan trọng và chồng chéo của họ: Biển Đông. Việt Nam với chính sách “ba không”, chung quy là không liên minh với nước nào, không cho nước nào đặt căn cứ quân sự trên đất của mình. Chiến lược của Hoa Kỳ ở Biển Đông chỉ đặt trọng tâm vào tự do hàng hải. Lẽ ra, thêm vào đó, nên tìm cách làm giảm sức mạnh kinh tế và quân sự tương đối của Trung Quốc, kể cả việc từ chối Trung Quốc tiếp cận các nguồn dầu mới, khí đốt và hải sản, vốn sẽ giúp họ gia tăng sức mạnh kinh tế, rồi trao quyền cho quân đội chống lại Hoa Kỳ. Theo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, những nguồn tài nguyên trong các vùng đặc quyền kinh tế không phải của Trung Quốc là tài sản dành riêng cho các quốc gia ven biển gần đó, gồm cả bờ biển dài của Việt Nam, chứ không thuộc về Trung Quốc thông qua đường chín đoạn bất hợp pháp.

    Trung Quốc nhạy cảm với mọi dấu hiệu chiến lược ngăn chặn, nhưng khi sức mạnh, ảnh hưởng và sự xâm lược lãnh thổ gia tăng, việc ngăn chặn ngày càng trở nên rõ ràng như một chiến lược phản công cần thiết của các nước. Ngăn chặn không phải là quay trở về cuộc Chiến Tranh Lạnh, mà là một nguyên tắc chiến lược phòng thủ không bao giờ lỗi thời và kéo dài ít nhất từ thời Hy Lạp cổ đại. Việc ngăn chặn Trung Quốc sẽ được hỗ trợ qua việc Hoa Kỳ ủng hộ vật chất và yêu sách lãnh thổ của các quốc gia láng giềng Trung Quốc, kể cả Việt Nam. Việt Nam cũng sẽ được hỗ trợ nếu hủy bỏ chính sách “ba không”, dứt khoát liên minh với Hoa Kỳ chống lại Trung Quốc, chào đón các căn cứ quân sự Mỹ như là lực lượng thứ ba để làm nhụt chí nước láng giềng hung hăng phía bắc, như trường hợp Nam Hàn.

    Chuyện mời Hoa Kỳ trở lại Việt Nam đặt căn cứ quân sự chắc chắn sẽ gây tranh cãi do xung đột lịch sử giữa hai quốc gia, nhưng giờ đây là lúc hãy gác lại quá khứ. Chúng ta có chung một kẻ thù mới ở Trung Quốc và chúng ta nên tuyệt đối cởi mở trong tình bạn mới được hàn gắn, để tối đa hóa sự răn đe.

    Hành động cứng rắn đó có xảy ra hay không, phần lớn còn tùy thuộc vào thái độ của Trung Quốc trong việc bành trướng lãnh thổ, và nếu đúng như vậy, Trung Quốc có thể tiếp tục gây ảnh hưởng chính trị quan trọng ở cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam, nhằm chống lại việc hai quốc gia này thân thiết với nhau hơn. Đặc biệt họ sẽ huy động các nhóm lợi ích, ở cả hai nước, vốn thường hay lấy lòng Trung Quốc trước nguy cơ xung đột quân sự. Các nhóm lợi ích đó luôn tìm cách tác động Hoa Kỳ và Việt Nam dẹp bỏ chiến lược ngăn chặn, dành ưu tiên cho kinh doanh và thương mại hơn là an ninh quốc gia và do đó cho phép các mối quan hệ quyền lực tiếp tục phát triển theo hướng có lợi cho Trung Quốc.

    Vị trí của Việt Nam

    Nếu Trung Quốc thành công trong việc tuyên bố Biển Đông là lãnh thổ của họ thông qua đường chín đoạn, như đã ghi rõ trong bản ghi chú năm 2009 gửi cho các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, thì Việt Nam cùng các nước yêu sách khác sẽ mất quyền đánh bắt hải sản và khai thác dầu khí rất có giá trị trong vùng đặc quyền kinh tế của họ. Việt Nam sẽ trở thành một vùng đất bị khóa cửa hợp pháp khi Trung Quốc tiếp tục gia tăng chiến thuật kiểm soát sự tiếp cận hàng hải vào nước này.

    Các yếu tố trong chiến lược mới của Việt Nam nên bao gồm:

    1. Liên minh với các quốc gia có khả năng ngăn chặn Trung Quốc bằng vũ khí hạt nhân, ví dụ Hoa Kỳ, Pháp và Anh.

    2. Liên minh với các quốc gia có đủ sức mạnh quân sự thông thường để răn đe Trung Quốc, ví dụ Hoa Kỳ.

    3. Chuyển tăng trưởng kinh tế sang chi tiêu quân sự để răn đe Trung Quốc tại địa phương, ví dụ mua tàu ngầm, tên lửa chống tăng và tên lửa phòng không.

    4. Dân chủ hóa và cải thiện nhân quyền sẽ khuyến khích việc liên minh kinh tế và quân sự với các quốc gia ít chịu ảnh hưởng của Trung Quốc nhất, được chặt chẽ hơn.

    Ấn Độ, Nga và Úc, các quốc gia mà Việt Nam đã kêu gọi hỗ trợ, sẽ là các đối tác chiến lược hữu ích nhưng không phải là đồng minh cốt lõi vì họ thiếu sức mạnh cần thiết để đánh bại Trung Quốc một mình. Nga có ghế trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, và dù cả Nga và Ấn Độ đều là những cường quốc hạt nhân có sức mạnh quân sự thông thường đáng kể, họ vẫn không đủ mạnh về kinh tế và quân sự để đối đầu với Trung Quốc một mình. Cả hai đều là thành viên của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (Shanghai Cooperation Organization) do Trung Quốc lãnh đạo trong thực tế, nên bị sức mạnh của Trung Quốc chi phối. Vì vậy, họ không thể là đồng minh đáng tin cậy.

    Úc là đồng minh tiềm năng đáng tin cậy nhưng không có vũ khí nguyên tử hay quy ước răn đe cần thiết để đối đầu với Trung Quốc. Họ cũng không đặc biệt mạnh về mặt ngoại giao, quân đội yếu kém hơn Trung Quốc, và chịu ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc nhiều hơn Hoa Kỳ, Pháp hoặc Vương Quốc Anh. Úc xuất khẩu khoảng 40,8% hàng hóa sang Trung Quốc (gồm cả Hongkong). Điều này cho thấy mức độ ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các doanh nghiệp Úc lớn như thế nào và từ đó tác động đến chính trị Úc. Ngược lại, Hoa Kỳ, Pháp và Anh có ít hàng xuất khẩu tính theo phần trăm GDP sang Trung Quốc hơn nên không chịu ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc nhiều. Họ cũng được lợi thế do có ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

    Mức độ che chở mà các tổ chức quốc tế dành cho Việt Nam gần như là con số không. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) giúp đỡ Việt Nam rất ít, khi các quốc gia thành viên ngày càng chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc và phủ quyết mọi chỉ trích về Trung Quốc. Tổ chức này chuẩn bị và thực hiện rất ít các kế hoạch quân sự và kinh tế cần thiết để ngăn chặn Trung Quốc theo đuổi chính sách bành trướng ở Biển Đông. Dù thắng vụ kiện tại The Hague, Philippines, thành viên ASEAN, vẫn phải khuất phục trước ảnh hưởng của Trung Quốc sau khi Trung Quốc phớt lờ Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS).

    Giờ đây, trong khối ASEAN, Việt Nam là quốc gia ương ngạnh nhất trong nỗ lực duy trì nền độc lập của mình. Tuy vậy, vì Trung Quốc có ảnh hưởng đáng kể đến thượng tầng cơ cấu quyền lực Việt Nam và là đối tác thương mại lớn, một số mặt hàng Trung Quốc được trung chuyển bất hợp pháp để tránh thuế quan của Hoa Kỳ. Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, với quyền phủ quyết của Trung Quốc, không đủ để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Điều này cho thấy một liên minh hay thậm chí các mối quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ cũng sẽ giúp Việt Nam củng cố sức mạnh trong nước để chống lại Trung Quốc và tăng cường ngăn chặn trong trường hợp xung đột quân sự xảy ra, thông qua một người bạn hùng mạnh.

    Hoa Kỳ có tất cả các điều kiện cần thiết của một đồng minh cốt lõi đáng tin cậy và đủ để chống lại Trung Quốc: một chính sách đối ngoại độc lập với ảnh hưởng của Trung Quốc (so với các thành viên ASEAN và Nga), sức mạnh kinh tế cần thiết để trừng phạt Trung Quốc, sức mạnh ngoại giao cần thiết để phủ quyết các nghị quyết của Trung Quốc ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, khả năng quân sự cần thiết để tiến hành cuộc chiến tranh quy ước chống Trung Quốc và vũ khí hạt nhân để răn đe và tự vệ trong trường hợp Trung Quốc định trả đũa bằng vũ khí nguyên tử.

    Không có Hoa Kỳ để đối trọng với Trung Quốc, nền an ninh của Việt Nam không thể được bảo đảm. Sự tham gia của Hoa Kỳ là điều kiện thiết yếu đối với bất kỳ liên minh nào trên thế giới chống Trung Quốc. Nhưng Hoa Kỳ dành đặc quyền cho những quốc gia tôn trọng giá trị dân chủ và nhân quyền. Vì vậy, để có được liên minh với Hoa Kỳ, Việt Nam tối thiểu cũng phải cải thiện từ từ nhưng vững chắc nền dân chủ và nhân quyền.

    Vị trí của Hoa Kỳ

    Một liên minh Việt-Mỹ không chỉ lợi cho Việt Nam mà còn lợi cho cả Hoa Kỳ. Khi sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc vượt qua Hoa Kỳ bằng một số biện pháp, bao gồm GDP tuyệt đối bằng sức mua tương đương, tăng trưởng GDP, gia tăng chi tiêu quân sự, tầm bắn của tên lửa chống hạm, quân số, số lượng tàu hải quân mới, tình báo nhân tạo và siêu máy tính, Hoa Kỳ và phần còn lại trên thế giới nên cân nhắc thật kỹ cách kiềm chế sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc trước khi nó vượt các cấu trúc quyền lực cơ bản hiện hành như chủ nghĩa dân tộc, Liên Hiệp Quốc và G7. Ảnh hưởng chính trị toàn cầu của Trung Quốc được sức mạnh kinh tế hỗ trợ đang gia tăng và một phần được phân phối cho giới tinh hoa nước ngoài, gồm cả giới tinh hoa Mỹ, nhằm đạt được lợi ích chính trị.

    Một liên minh mới với Việt Nam sẽ đảo ngược làn sóng chiến thắng ngoại giao mới của Trung Quốc và sẽ khiến Trung Quốc phải chấm dứt khai thác dầu khí và đánh bắt hải sản trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Nó sẽ là một ví dụ giúp các quốc gia khác trong khu vực biết cách bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế của họ và chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc. Nếu liên minh được mở rộng từ Việt Nam đến Indonesia và Ấn độ, những nước đang có chính sách không liên kết, Trung Quốc sẽ ngày càng bị ngăn chặn ngay trong sân sau của chính họ.
  8. hoangthuywalla

    hoangthuywalla Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    04/08/2006
    Bài viết:
    53
    Đã được thích:
    2
    Đồng minh cũng tốt nhưng đừng chơi kiểu đòi tiền bảo kê.
  9. nd2003

    nd2003 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    19/06/2018
    Bài viết:
    238
    Đã được thích:
    97
    Nhật và Hàn phát triển mạnh một phần quan trọng do có Mỹ bảo kê, có thể dành nhiều sức cho phát triển kinh tế. Giờ Mỹ nó đòi tăng tiền bảo kê coi như trả tiền lãi thôi.
    hoalongtrang thích bài này.
  10. tdbang

    tdbang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    08/05/2009
    Bài viết:
    640
    Đã được thích:
    277
    Chưa đầy 01 tháng sau khi tàu khảo sát Haiyang Dizhi 8/Hải Dương Địa chất 8 của Trung Quốc rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Ngày 16/11, Hai Yang Di Zhi Jiu Hao/Hải Dương Địa Chất 9 đã rời Quảng Châu đi xuống biển Đông, sáng 18/11 ở cách bờ biển Phú Yên 130 HL (240km).

    Đây là tàu nghiên cứu địa chất toàn diện mới nhất của Trung Quốc, có tải trọng 5178T (87,07m × 17m), sản xuất 2017; từng có chuyến khảo sát kéo dài 258 ngày. Vào chiều nay 18/11, Hải Dương Địa Chất 9 di chuyển theo hướng Tây Nam và đã đi vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam!

    ***

    Ngoài ra, Tàu sân bay Trung Quốc cũng trên đường xuống biển Đông, theo báo Pháp Luật TP HCM. Bộ Quốc phòng Đài Loan thông báo, ngày 17/11/2019, nhóm tàu Trung Quốc do một chiếc tàu sân bay chưa được đặt tên dẫn đầu đã đi qua eo biển Đài Loan. Phía Hải quân Trung Quốc xác nhận tàu sân bay nói trên đã qua eo biển Đài Loan và đi đến biển Đông để “thực nghiệm khoa học và các cuộc tập trận thường xuyên”.
    tichmichHector_S thích bài này.

Chia sẻ trang này