1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Bạn có biết: Lỗ hổng tầng Ozone đang dần khép lại

Chủ đề trong 'Điện - Điện tử - Viễn thông' bởi Hong_Lam_NB, 01/07/2016.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. Hong_Lam_NB

    Hong_Lam_NB Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    24/06/2016
    Bài viết:
    123
    Đã được thích:
    0
    Từ khi được phát hiện vào năm 1985, lỗ hổng tần ozone tại Nam cực là 1 biểu tượng cho sức tàn phá của loài người. Nhưng giờ lỗ hổng đấy đang thu nhỏ dần. “Thật là ngạc nhiên”, Susan Soloman – 1 nhà hoá học khí quyển tịa đại học kỹ thuật Massachusett tại Cambridge. “Tôi ko nghĩ điều này sở hữu thể xảy ra sớm như vậy.”



    [​IMG]



    Mặc dù lỗ hổng này sẽ chưa hồi phục hoàn toàn cho tới sớm nhất là giữa thế kỉ 21, điều này là một sự kiện vui đối sở hữu một vài nhà kỹ thuật máy xay cà phê 600n đã ủng hộ hiệp định Montreal. Hiệp định quốc tế được kí năm 1987 này cấm phân phối công nghiệp khí ChloroFluoroCarbons (CFC): một hoá chất mang cất clo mang khả năng huỷ hoại tầng ozone – lớp lọc tia cực tím gây ung thư. “Bạn nên biết liệu việc người mua làm mang đem đến kết quả mong muốn không”, Solomon – tác kém chất lượng bài nghiên cứu được đăng trong tạp chí Science tuần này – nói.

    những lỗ hổng xuất hiện và giãn ra khi mùa xuân tới. Suốt mùa đông, khí hậu lạnh khiến binh lac shaker axit nitric và nước cô đọng trong khí quyển tạo yêu cầu một vài đám mây mỏng. Bề mặt một số đám mây này là môi trường nơi xảy ra những phản ứng giải phóng Clo từ CFC. vài phân tử clo này khi gặp ánh sáng sẽ phá huỷ tầng ozone. đấy là lí do nguyên do là sao, sự giảm thiểu của tầng ozone ở Nam Cực không xảy ra cho đến tháng chín lúc mùa xuân phía Nam bắt đầu và ánh sáng từ mặt trời sở hữu thể chạm tới Nam cực. Đỉnh điểm của giai đoạn này là vào tháng Mười, đấy là lúc các nhà công nghệ đo đạc sự thay đổi tại lỗ hổng.

    Solomon và một vài đồng nghiệp phát hiện rằng quá trình hồi phục xảy ra rõ ràng hơn vào tháng chín. sử dụng hài hòa một số số liệu đo đạc từ vệ tinh, những thiết bị mặt đất, khinh khí cầu, nhóm của cô cho biết từ năm 2000, lỗ hổng đã nhỏ đi bốn triệu kilomet vuông – lớn hơn không gian Ấn Độ.

    Để biết được liệu việc giảm thiểu khí ga gây hại đã đóng góp cho sự hồi phục này, vài nhà nghiên cứu dùng mô hình khí quyển 3D để so sánh tác động của hoá chất mang tác động thời tiết, cả hai đều sở hữu thể ảnh hưởng đến sự tránh tầng ozone. những tác động thời tiết bao gồm gió, nhiệt độ và núi lửa phun trào – quá trình này phá huỷ tầng ozone thông qua sự giải phóng một vài hạt lưu huỳnh vào bầu khí quyển. Lưu huỳnh cũng có tác dụng kích hoạt clo gây hại cho tầng ozone.

    Mô hình này giải thích tại sao một số nhà khoa học quan sát được 1 ngoại lệ vào tháng 10 năm 2015 lúc lỗ hổng lớn ra chứ không nhỏ đi theo xu hướng hồi phục. Ban đầu Solomon và vài đồng nghiệp tự hỏi liệu giai đoạn hồi phục có bị chậm so với dự tính ko, nhưng mô hình chỉ ra điều này xảy ra là lý do là núi lửa Calbuco tại Nam Chile phun trào sáu tháng trước ấy, và thông tin xác nhận rằng chính nhờ tránh chlo và brom mà tầng ozone đang dần hồi phục. “Đối mang tôi, đây là lần trước tiên tất cả trang bị được chứng thực rõ ràng.” Neil Harris – một nhà khí quyển học tại Đại Học Cambridge, Anh - cho biết

    Nghiên cứu của Solomon cũng giống những công bố về công đoạn hồi phục ozone trước đây, bao gồm một nghiên cứu vào năm 2011. Tuy nhiên các nghiên cứu trước đó đánh giá tác động của các biến số từ thiên nhiên bằng vài bí quyết tương đối đơn thuần, và rộng rãi nhà nghiên cứu hoài nghi sở hữu các fake thiết đã từng được sử dụng. sử dụng mô hình 3D để tìm ra vài bằng chứng cơ sở là “một mẹo phức tạp hơn nhiều”, theo Ross Salawitch – 1 nhà kỹ thuật khí quyển tại đại học Maryland, College Park.

    Thế nhưng, Paul Newman, người điều hành trang web Theo dõi tầng ozone Nam cực của NASA tại trung tâm hàng ko vũ trụ Goddard, Greenbelt, đang đau đầu có câu hỏi tại sao trong nghiên cứu, chỉ 2 triệu kilomet vuông được hồi phục là nguyên do là tránh chlo và brom? Phần còn lại hồi phục là nhờ thời tiết. những tác động thời tiết trung bình là ko đáng nhắc, ông cho biết. “Nếu chúng ta không thể giải thích cho một nửa của vấn đề, vậy chúng ta sở hữu thể thực sự giải thích về ca đánh sữa nửa kia mà chúng ta nghĩ là ta biết?” Newman cho rằng phát hiện trên mang thể chỉ ra vấn đề trong mô hình của Solomon. Hoặc, ông nhắc, nó với thể phản ánh 1 sự thay đổi lấn trong thời tiết tại vùng cực, được gây ra bởi sự thay đổi khí hậu. “Solomon đã hé màn một bài toán khó giải”.

    Dù sao, kết quả trên cũng đủ thoả mãn có Solomon. Chính bà là người dẫn đầu nghiên cứu năm 1986 và phát hiện các đám mây tầng bình lưu là môi trường xúc tác cho một vài phản ứng giải phóng clo. Bà cũng góp phần quan trọng trong vài đánh giá khoa học dẫn đến hiệp định thư Montreal và một số báo cáo sau này. “Việc chúng ta đã đưa ra 1 hành động với tính quốc tế và nó mang lại kết quả thực sự đã cho tôi 1 dòng nhìn khả quan.” Bà đề cập.

Chia sẻ trang này