1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Bản tin cập nhật y tế sức khoẻ .

Chủ đề trong 'Sức khoẻ - Y tế' bởi BachHop, 03/06/2002.

  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
  1. bumbum84vn

    bumbum84vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2002
    Bài viết:
    203
    Đã được thích:
    0
    Giá đậu tương có lợi cho sức khỏe phụ nữ

    Đậu tương chứa nhiều chất chống ôxy hoá.
    Giá đậu tương chứa một lượng khá lớn các hoóc môn nữ như estradiol, genistein và daidzein. Vì vậy, việc dùng loại thực phẩm này sẽ giúp các em gái đang dậy thì và phụ nữ tuổi mãn kinh cân bằng nội tiết, bảo đảm sức khỏe.
    Ở độ tuổi 12-13, cơ thể nữ giới tiết ra nhiều nội tiết tố estradiol, giúp bé gái trở thành một thiếu nữ với ngực đầy, mông nở, da dẻ hồng mịn, tóc dài mượt, giọng nói nhẹ nhàng, dáng đi uyển chuyển. Nếu thiếu estradiol, cô gái trẻ sẽ trở thành một người thiếu nữ tính.
    Đến tuổi 48-50, cơ thể nữ giới giảm tiết estradiol, hậu quả là chu kỳ kinh nguyệt chấm dứt, cơ thể có một số rối loạn về thần kinh, tuần hoàn, mất dần sự hấp dẫn nữ tính (da nhăn, lưng còng, âm đạo khô, mất hứng thú về ********). Sự thiếu hụt hoóc môn này còn khiến người phụ nữ đứng tuổi trở nên gắt gỏng, tâm trạng luôn căng thẳng.
    Việc dùng giá đậu tương thường xuyên có thể khắc phục phần nào các trường hợp trên. Ngoài việc bổ sung các hoóc môn nữ, thực phẩm này còn cung cấp nhiều chất bổ dưỡng, chất chống ôxy hóa, bệnh ung thư và béo phì.
    Chị em có thể tự chế lấy giá đậu tương bằng cách ủ hạt đậu cho nẩy mầm (cách làm tương tự như ủ giá đậu xanh), khi mầm trắng dài 2-3 cm thì ngừng lại vì đây là giai đoạn sản phẩm chứa nhiều hoóc môn nữ nhất. Đem nghiền nhỏ để làm sữa uống hay sấy khô, rang chín, tán thành bột để dự trữ. Dùng hằng ngày.
    Sức Khỏe & Đời Sống

    CCCP
    [​IMG]
  2. bumbum84vn

    bumbum84vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2002
    Bài viết:
    203
    Đã được thích:
    0
    Thứ năm, 12/12/2002, 08:00 GMT+7
    Hóa chất trong mỹ phẩm có thể gây tổn thương cho tinh trùng

    Không nên lạm dụng mỹ phẩm.
    Các hợp chất diethyl phthalate - hóa chất thường được dùng để bảo quản mỹ phẩm hoặc làm mềm chất dẻo - có thể gây tổn thương ADN của tinh trùng ở nam giới trưởng thành. Tác hại này xuất hiện cả khi việc tiếp xúc với hóa chất chỉ ở mức độ trung bình.
    Kết luận nói trên được các nhà khoa học tại Đại học Harvard (Mỹ) đưa ra sau khi phân tích mẫu nước tiểu và tinh trùng của 168 nam giới, được coi là tiếp xúc ở mức bình thường với các chất diethyl phthalate qua sử dụng mỹ phẩm và chất dẻo. Tuy nhiên, hiện còn chưa rõ điều này có khiến nam giới bị vô sinh hoặc có con bị dị tật không.
    Hồi tháng 7 năm nay, tổ chức Health Care Without Harm của Mỹ đã cảnh báo rằng, các loại mỹ phẩm chứa phthalate có thể gây tổn hại cho thai nhi và trẻ bú mẹ thông qua người phụ nữ. Điều tra của tổ chức này cho hay, 52 trong 72 mỹ phẩm được thử nghiệm tại Mỹ có chứa phthalate.
    Tranh cãi xung quanh việc sử dụng hóa chất nói trên lại nổi lên tại Mỹ vào tháng trước, khi Hội đồng Xét duyệt các thành phần của mỹ phẩm biểu quyết cho phép tiếp tục sử dụng phthalate trong nước hoa và các sản phẩm làm đẹp.
    Phthalate được dùng để duy trì mùi thơm và làm mềm vật liệu từ chất dẻo tổng hợp. Các nghiên cứu trước đó cho thấy, hóa chất này có thể gây dị tật bẩm sinh ở động vật. Tuy nhiên, chưa có bằng chứng về tác hại của chúng đối với con người.
    Kể từ năm 1999, Liên minh châu Âu đã cấm sử dụng phthalate ở một số sản phẩm, trong đó có các đồ chơi dành cho trẻ em.
    Thu Thủy (theo BBC, Reuters)

    CCCP
    [​IMG]
  3. bumbum84vn

    bumbum84vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2002
    Bài viết:
    203
    Đã được thích:
    0
    Thứ năm, 12/12/2002, 07:00 GMT+7
    Chữa thủy đậu bằng thuốc Nam

    Lá tre có mặt trong nhiều bài thuốc Nam.
    Lá tre 16 g, lá dâu, kim ngân hoa mỗi thứ 12 g; cam thảo đất, rễ cây lau, bạc hà mỗi thứ 10 g, hoa cúc 8 g, kinh giới 6 g (thiếu một vài vị cũng được). Tất cả sắc với 700 ml nước lấy 300 ml, cứ 4-5 giờ uống một lần (mỗi lần 30-40 ml). Bài thuốc này dành cho người bị thủy đậu dạng nhẹ.
    Bệnh thủy đậu được xem là nhẹ nếu bệnh nhân không sốt hoặc sốt nhẹ, ho ít, chảy nước mũi, ăn uống bình thường; mụn thủy đậu chứa nước trong, mọc thưa, sau 2-3 ngày lần lượt khô xẹp xuống; bệnh nhân sinh hoạt bình thường, sức khỏe không bị ảnh hưởng. Những bệnh nhân này có thể không cần uống thuốc, chỉ phải kiêng nước lạnh, kiêng gió, giữ da sạch sẽ, ăn uống đủ chất.
    Bệnh được xem là nặng nếu bệnh nhân sốt cao, mụn thủy đậu mọc dày và to, vành chân rõ rệt, chung quanh có vầng đỏ, chất nước đục, tiểu tiện ít và đỏ... Trong trường hợp này, dùng phép chữa thanh nhiệt, giải độc là chủ yếu. Tùy từng thời kỳ, có thể sử dụng các bài thuốc sau:
    - Mụn thủy đậu bắt đầu mọc: Lá tre, rau diếp cá mỗi thứ 16 g; kim ngân hoa, cam thảo đất mỗi thứ 12 g; hoa kinh giới, bạc hà, quả dành dành mỗi thứ 8 g. Nếu bệnh nhân bị ho thì cho thêm lá chanh 10 g, lá táo 12 g; nếu ăn không tiêu, cho thêm sơn tra 8 g, thần khúc 10 g. Tất cả sắc với 600 ml nước, lấy 300 ml, cứ 2-3 giờ uống một lần, mỗi lần 30-40 ml.
    - Mụn đã mọc được 4-5 ngày: Lá tre 16 g, cam thảo dây, kim ngân hoa, vỏ đậu xanh, sinh địa mỗi thứ 12 g; hoàng đằng, rễ lau, mẫu đơn bì mỗi thứ 8 g. Cách dùng như bài trên.
    - Mụn đã xẹp: Cát sâm, vỏ đậu xanh, sinh địa, biển đậu, vỏ đậu đen mỗi thứ 12 g; hoàng tinh, lá dâu, mạch môn, cam thảo dây mỗi thứ 10 g. Sắc hai lần, lần đầu làm như 2 bài thuốc trên; lần sau cho 400 ml nước sắc lấy 200 ml. Hai thứ nước đổ lẫn vào nhau, cô lại còn 400 ml, cứ 2-3 giờ uống một lần, mỗi lần 30-40 ml.
    Sức Khỏe & Đời Sống

    CCCP
    [​IMG]
  4. bumbum84vn

    bumbum84vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2002
    Bài viết:
    203
    Đã được thích:
    0
    Thứ bảy, 14/12/2002, 07:20 GMT+7
    Oestrogen bị xếp vào danh sách các chất gây ung thư

    Oestrogen được sử dụng rộng rãi trong các thuốc tránh thai.
    Loại hoóc môn vẫn được sử dụng trong một số thuốc tránh thai này vừa được chính phủ Mỹ liệt vào nhóm các chất có thể gây ung thư. Trong số 17 yếu tố thuộc danh sách mới được công bố ngày 11/12 còn có: tia cực tím, bột gỗ, các kháng sinh chloramphenicol và quinoline.
    Cứ hai năm một lần, sau khi phân tích các nghiên cứu khoa học dài hơi, Viện Sức khỏe Quốc gia Mỹ lại công bố "Danh sách các tác nhân gây ung thư". Người ta phân biệt các chất "được công nhận" là gây ung thư và các chất "bị nghi ngờ". Những yếu tố mới được bổ sung lần này gồm:
    1. Các tác nhân "được công nhận"
    * Oestrogen: Trong danh sách lần này có các oestrogen steroid, sử dụng trong điều trị hoóc môn thay thế và thuốc viên tránh thai. Một số loại trong nhóm hoóc môn này từng được liệt vào danh sách "bị nghi ngờ" có thể gây ung thư, nhưng đây là lần đầu tiên toàn bộ nhóm oestrogen xuất hiện trong khối "được công nhận".
    Nghiên cứu cho thấy, ở phụ nữ điều trị bằng hoóc môn thay thế, nguy cơ ung thư nội mạc tử cung tăng cao và nguy cơ ung thư vú cũng tăng nhưng thấp hơn. Về các thuốc viên tránh thai, nghiên cứu cho rằng việc sử dụng thuốc có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú, nhưng làm giảm khả năng ung thư buồng trứng và nội mạc tử cung.
    * Một số tác nhân khác:
    - Tia cực tím (A, B, C) phát ra từ mặt trời hoặc các đèn cực tím.
    - Bột gỗ mịn sinh ra khi cưa hoặc bào gỗ.
    - Hợp kim của nickel; beri và các hợp kim của nó (sử dụng trong công nghiệp).
    2. Các tác nhân "bị nghi ngờ"
    - Nikel nguyên chất, bromua vinyl, fluorure vinyl.
    - Kháng sinh chloramphenicol, quinoline.
    - Một số chất gây đột biến gene tìm thấy trong các thực phẩm chế biến ở nhiệt độ cao (trứng, thịt) và khói thuốc lá.
    Như vậy, tính đến nay đã có 228 tác nhân được coi là nguy hiểm cho sức khỏe về phương diện gây ung thư.
    Thu Thủy (theo AFP)

    CCCP
    [​IMG]
  5. bumbum84vn

    bumbum84vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2002
    Bài viết:
    203
    Đã được thích:
    0
    Bệnh giun đũa chó lạc chủ

    Vật nuôi có thể truyền bệnh cho người.
    Cháu B. (9 tuổi) vào Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP HCM do ho nhiều, sốt, sưng đau mạn sườn trái. Các bác sĩ phát hiện cháu bị tràn dịch màng phổi trái, có khối u mềm vùng cổ (không đỏ, đau nhẹ khi ấn vào) nên nghi ngờ có ấu trùng giun đũa chó di chuyển trong nội tạng. Kết quả xét nghiệm đã khẳng định điều này.
    Tiến sĩ Trần Thị Hồng (Chủ nhiệm bộ môn Ký sinh trùng thuộc Trung tâm Đào tạo Cán bộ y tế TP HCM) cho biết, giun đũa chó trưởng thành sống trong ruột non của chó. Trứng giun theo phân ra đất, phát triển thành ấu trùng. Sau khi xâm nhập cơ thể người (chủ yếu qua đường tiêu hóa), nó sẽ chui qua thành ruột non, theo đường máu đi đến các cơ quan nội tạng khác như gan, tim, phổi, mắt. Ấu trùng cũng có thể xâm nhập qua da (nhất là da non), gây hội chứng "ấu trùng di chuyển ngoài da".
    Kết quả điều tra tại xã An Phú (huyện Củ Chi, TP HCM), nơi có nhiều hộ dân nuôi chó mèo thả rông, cho thấy có đến 38% người dân bị nhiễm giun đũa chó (toxocara canis).
    Tùy theo triệu chứng lâm sàng, bệnh được chia làm 3 thể:
    - Thể không có triệu chứng.
    - Thể phổ biến: Bệnh nhân bị bầm da, có những vết ban ở da, xanh xao, gầy yếu.
    - Thể nặng: Bệnh nhân có các triệu chứng ở phổi (tràn dịch màng phổi, viêm phổi kẽ...) hoặc triệu chứng thần kinh trung ương (nhức đầu, động kinh, liệt nửa người, viêm màng não, viêm cơ tim).
    Một nghiên cứu của bệnh viện Nhi Đồng 2 cho thấy, đa số bệnh nhân nhập viện có biểu hiện về thần kinh. Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất trong giai đoạn khởi phát và toàn phát là nhức đầu và động kinh, tiếp đến là bầm da, yếu liệt, rối loạn tiêu hóa, mờ mắt... Ở những trường hợp ấu trùng di chuyển trong mắt, biểu hiện lâm sàng của bệnh dễ bị nhầm với một dạng ung thư võng mạc.
    Để phòng bệnh giun đũa chó lạc chủ, không nên cho trẻ em chơi đùa hoặc ngủ với chó. Nếu không thể ngăn được trẻ, cần tẩy giun định kỳ cho loại vật nuôi này. Rửa tay sạch trước khi ăn. Chú ý không dùng rau sống chưa rửa kỹ.
    Tuổi Trẻ

    CCCP
    [​IMG]
  6. bumbum84vn

    bumbum84vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2002
    Bài viết:
    203
    Đã được thích:
    0
    Phụ nữ dễ chết vì tai nạn xe vào thứ sáu ngày 13

    Lái xe vào thứ sáu ngày 13 có thể không an toàn với phụ nữ.
    Một nghiên cứu mới đăng trên Tạp chí Tâm thần của Mỹ số tháng 12 cho hay, nguy cơ chết vì tai nạn xe cộ ở phụ nữ tăng 63% vào thứ sáu ngày 13 so với các thứ sáu khác của năm. Trong khi đó, đối với nam giới, "thứ sáu đen tối" cũng chỉ là một ngày như bao ngày khác.
    Nghiên cứu nói trên được bác sĩ Simo Näyhä, Đại học Oulu (Phần Lan), thực hiện dựa trên các tài liệu thống kê về tai nạn xe cộ xảy ra tại Phần Lan trong thời gian 1971-1997. Trong 27 năm này có 45 "thứ sáu đen tối". Tác giả nhận thấy, trong số 830 phụ nữ chết vì bị đâm xe, 41 ra đi vào thứ sáu ngày 13 (khoảng 5%). Tỷ lệ này ở nam giới là 3%, chỉ có 82 trong tổng số 2.500 ca tử nạn vào ngày này.
    Bác sĩ Näyhä nhận xét: "Thứ sáu ngày 13 có thể là ngày nguy hiểm cho phụ nữ, chủ yếu vì họ hay lo lắng về chính điều mê tín này". Ông giả thuyết rằng những phụ nữ tin vào "thứ sáu đen tối" hay bị ám ảnh bởi ý nghĩ một điều bất hạnh nhất định sẽ xảy ra. Do quá lo lắng nên họ thiếu nhạy bén trong việc xử lý các tình huống phức tạp. Ở những bệnh nhân mắc chứng sợ hãi hoặc rối loạn thần kinh chức năng, sự ý thức về thứ sáu ngày 13 có thể dẫn tới những sai lầm chết người trong lái xe.
    13 là số người tham dự Bữa tối Cuối cùng, mà sau đó chúa Jesus bị phản bội. Ông bị đóng đinh lên giá chữ thập vào ngày thứ sáu. Những người mê tín cho rằng Eva đưa táo cấm cho Adam vào thứ sáu. Trước đây, các tội nhân cũng thường bị treo cổ vào ngày thứ sáu trong tuần.
    Trong y học, có hẳn một thuật ngữ dành riêng cho những người mắc chứng sợ thứ sáu ngày 13, đó là paraskevidekatriaphobia. Một tình trạng bệnh lý nhẹ hơn là sợ số 13 cũng có tên riêng -triskaidekaphobia. Theo dân gian, vào ngày "thứ sáu đen tối", những người bị cả hai chứng bệnh nói trên cần ném vài hạt muối qua vai trái hoặc lên giường bằng nửa người bên phải.
    Điều tra thực hiện năm 1996 tại Bắc Mỹ cho thấy, 25% người được hỏi thú nhận mình rất mê tín hoặc ít nhiều mê tín (tăng 18% so với năm 1990). Ngoài ra, 13% nói họ sợ mèo đen, 11% lo gương bị vỡ và 9% ghét con số 13.
    Thu Thủy (theo Ottawa Citizen)

    CCCP
    [​IMG]
  7. bumbum84vn

    bumbum84vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    26/10/2002
    Bài viết:
    203
    Đã được thích:
    0
    Thứ bảy, 21/12/2002, 08:11 GMT+7
    Phương pháp giúp trẻ đi ngủ đúng giờ

    Trẻ cần ngủ đủ và đúng giờ.
    Đa số trẻ em thích chơi khuya, không chịu đi ngủ đúng giờ bố mẹ quy định. Một số trẻ đã vào giường lại đòi uống nước, đi tiểu hoặc chơi đồ chơi... Tình trạng này nếu kéo dài sẽ tạo ra thói quen có hại đối với sức khỏe. Có thể khắc phục bằng các biện pháp sau:
    1. Tạo ra sự yên tĩnh dần
    Không ai có thể làm cho một trẻ đang bị kích động ngủ được. Sau bữa cơm tối, nên có một hình thức sinh hoạt nhẹ nhàng để trẻ được thư giãn, chẳng hạn như kể chuyện, xem một khúc phim hoạt hình ngắn, hoặc mẹ con tâm sự, trao đổi nhẹ nhàng... Không khí yên tĩnh êm ái được tạo ra sẽ giúp trẻ dễ ngủ hơn.
    2. Cho trẻ đi tiểu, đánh răng và lên giường
    Đa số trẻ em thích "nghi thức". Vì vậy, cần có một "quy trình" đưa bé lên giường và quy trình này phải được tuân thủ thường xuyên, chỉ trừ những sự kiện đặc biệt như ngày Tết, ông bà ở xa tới thăm. Bé sẽ quen và thích thú dần với việc thực hiện tuần tự các nghi thức: đánh răng, đi tiểu, nghe đọc truyện, được âu yếm và tắt đèn. Tùy theo nếp sống của từng gia đình mà lập ra các bước thích hợp.
    3. Rời nơi con ngủ một cách dứt khoát
    Truyện đã kể, búp bê đã đặt bên bé, sự âu yếm đã xong..., "quy trình" kết thúc. Đó là lúc phải tắt đèn với lời chúc ngủ ngon và rời nơi bé ngủ. Nếu kéo dài các hoạt động trên, nếu bạn tỏ ra chần chừ, bé sẽ cảm nhận được ngay và đòi kéo dài nữa thời gian thức. Nên đi khỏi một cách dứt khoát, không được thỏa hiệp với trẻ. Trẻ cần ngủ đủ thời gian và thấy an toàn trên giường. Quyết định của bạn sẽ chinh phục trẻ.
    4. Điều khiển "quy tắc" một cách cương quyết
    Nhiều trẻ đã vào giường nhưng vẫn chưa ngủ ngay mà tìm cách "câu giờ": khi thì đòi uống nước, lúc lại xin đi tiểu (mặc dù các việc này đã được thực hiện đúng "quy trình" trước đó). Nếu ta nhượng bộ, sự việc sẽ không bao giờ chấm dứt. Hãy kiên quyết không trở lại dù bé đòi. Chỉ cần nhượng bộ một lần, bé sẽ biết điều khiển bạn. Nên nhớ rằng một khi bạn trở lại giường của trẻ, bạn đã phần nào bộc lộ sự lo ngại và trẻ sẽ nhận ra. Nếu bạn cương quyết, trẻ sẽ tin cậy và ngủ yên hơn.
    Sức Khỏe & Đời Sống

    CCCP
    [​IMG]
  8. ndungtuan

    ndungtuan Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    18/02/2002
    Bài viết:
    1.493
    Đã được thích:
    2
    Stress (căng-thẳng thần-kinh) & Nghề Nghiệp
    Con người đang sống vào một thời đại với nhiều quay cuồng thay đổi, nên luôn luôn gặp những khổn lực, căng thẳng. Nào là e ngại về suy sụp kinh tế, đảo lộn đạo đức xã hội, tình hình bất ổn trên thế giới, nạn thất nghiệp cao, cho đến bất hòa tôn giáo, kỳ thị chủng tộc... Tất cả đều gây ra căng thẳng. Cho nên, một cảnh huống nào đó xẩy ra cho đúng người, đúng lúc thì hầu như sự việc nào cũng trở thành căng thẳng.
    Ngay tổ tiên ăn lông ở lỗ ta xưa kia cũng có nhiều stress: stress vì sợ thú dữ ăn thịt, sợ nước lũ trôi cuốn, sợ thần linh trừng phạt. Ngày nay thì vui cũng stress, mà buồn cũng stress. Cô thư ký mới bị sếp lớn khiển trách, than phiền: ?oTôi đang bị stress đây?. Một ông chủ báo bù đầu kiếm đủ bài cho số báo cuối tuần cũng kêu đang stress. Một bà chủ tiệm phở đông khách, đếm tiền không kịp cũng nói: ?oChán quá! em muốn sang tiệm vì stress nhiều quá?!...
    Stress trong việc làm là vấn đề mà hầu hết mọi công nhân đều vướng mắc không nhiều thì ít. Thống kê của hãng bảo hiểm Northwestern National Life cho thấy tới 40% công nhân than phiền bị stress trong công việc. Kết quả theo dõi của đại học Yale cho hay 29% công nhân bị stress khá nặng vì công việc.
    Mặc dù đã được giới y khoa, luật pháp, bảo hiểm phần nào diễn tả, công nhận, nhưng stress trong công việc vẫn còn có nhiều khúc mắc cần được tìm hiểu thêm.
    Định nghĩa
    Hans Hugo Bruno Selye, một y sĩ người Gia Nã Đại gốc Áo là người đã phổ biến từ stress trong quần chúng khi ông phát hành cuốn ?oThe Stress of Life? vào năm 1956. Selye đã tiếp tục nghiên cứu sự liên hệ giữa những tác nhân kích thích thần kinh (nervous stimuli, stressors) như nhiệt độ cao, thương tích, hóa chất mạnh với những thay đổi sinh hóa học ở con người. Theo Selye, ?ostress là một phản ứng không có gì đặc biệt của cơ thể trước một đòi hỏi nào đó? và ?olà một phần trong đời sống con người?. Ông đề nghị từ Stress Adaptation Syndrome (General Adaptation Syndrome) vào năm 1949.
    Thực ra, ảnh hưởng sinh học của sự sợ hãi được Luis Juan Vives tả từ nhiều thế kỷ trước và vào năm 1911, Walter Bradford, một sinh học gia Hoa Kỳ đã nhận thấy kích thích tố nang thượng thận (adrenal gland hormones) gia tăng khi cơ thể bị xúc động mạnh. Còn nhà tâm lý học Mc Grath lại coi stress như một sự mất thăng bằng giữa đòi hỏi và khả năng đáp ứng, trong những điều kiện mà một sự thất bại đáp ứng sẽ đưa tới hậu quả quan trọng.
    Richard Lazarus cho stress là một diễn tả chủ quan, từ trong tâm trí, nên nó xuất hiện tùy theo cách nhìn của con người với sự việc. Vì thế, cùng một sự việc mà người này cho là căng thẳng, mà người khác cho là bình thường. Chẳng khác gì thịt bò đối với một người là chất bổ thì lại là chất độc đối với người kia. Trong đáp ứng, sự nhận thức nội tâm đôi khi mạnh hơn cả vật kích thích.
    Có sự khác biệt giữa stress và thách thức (challenge) trong một công việc gay go, kích thích. Khi gặp một việc khó khăn thì người ta sẽ cố gắng, học hỏi để khắc phục. Khi vượt qua được khó khăn, họ thấy nhẹ nhõm và thỏa mãn. Những thách thức như vậy tăng thêm sinh động cho cuộc đời.
    Trong phạm vi nghề nghiệp, stress được hiểu như là những phản ứng không thuận lợi về tâm thần hay thể xác của công nhân khi những đòi hỏi trong công việc không tương xứng với khả năng và nhu cầu của người đó. Hậu quả của đáp ứng này là sự rối loạn cấp kỳ trong cách ứng phó của mỗi công nhân với điều kiện của việc làm.
    Ở Hoa Kỳ, nghiên cứu về khổn lực trong việc làm đã khởi đầu từ khi Quốc Hội ban hành luật Occupational Safety and Health Act of 1970 (OSHA) và thành lập National Institute for Occupational Safety and Health (NIOSH).
    Những nguy cơ gây ra stress
    Kết quả một quan sát tại Hoa Kỳ vào năm 1997 cho thấy nhân viên bàn giấy bị stress nhiều hơn dân lao động chân tay. Theo thứ tự nghề nghiệp thì stress cao nhất ở người cung cấp dịch vụ (chiêu đãi viên nhà hàng...) rồi đến các ngành sản xuất, bán lẻ liên quan tới tiền nong, tài chính, vận chuyển, bán buôn.
    Sau đây là một số nguy cơ đưa tới stress:
    a- Do bố trí thời biểu của công việc:
    - Làm nhiều giờ hoặc thêm giờ phụ trội
    - Thời gian làm việc kéo dài, ít nghỉ giải lao
    - Làm theo ca thay đổi và thời khóa biểu khác nhau
    - Công việc tái tục nhàm chán năm này qua năm khác (như lắp ráp điện tử, quấn thuốc lá...)
    - Làm theo dây chuyền với các cử động nhắc đi nhắc lại, cùng tốc độ
    - Làm khoán lãnh lương theo số lượng của sản phẩm chứ không làm theo giờ cho nên có áp lực cố làm cho có nhiều hàng.
    b- Trong phương diện quản trị:
    - Không có đối thoại giữa công nhân và chủ nhân tại sở làm
    - Công nhân không được góp ý trong việc xếp đặt công việc
    - Có mâu thuẫn giữa các công nhân với nhau
    - Công nhân cảm thấy như không được sự hỗ trợ của chủ, của cấp trên trực tiếp, hoặc vì sự kém khả năng của cấp trên
    - Công việc đòi hỏi nhiều trách nhiệm hoặc phải kiêm nhiệm nhiều việc một lúc.
    c- Liên quan tới vị thế công việc:
    - Không an toàn vì thay đổi chính sách, chủ nhân, trụ sở
    - Không được thăng thưởng, hết cơ hội tiến thân thêm
    - Thuyên chuyển, giáng cấp hoặc thăng chức
    - Công việc thay đổi quá nhanh, nhân viên không đáp ứng kịp thời.
    d- Điều kiện làm việc không thuận lợi:
    - Cơ quan ồn ào, đông người, không khí ô nhiễm, không đủ ánh sáng, chỗ làm chật hẹp, không vệ sinh, nhiệt độ nóng quá hoặc lạnh quá
    - Có hóa chất hoặc vật thể rủi ro trong cơ sở
    - Việc làm có nguy cơ gây rủi ro như máy móc, xe cộ.
    e- Trong tổ chức cơ sở:
    - Không xác định được trách nhiệm, cấp bậc của mình trong tổ chức cơ sở
    - Trách nhiệm nhiều, quyền hạn ít, nói chẳng ai nghe
    - Không có cơ hội nói ra những khó khăn, trở ngại
    - Kỳ thị tôn giáo, tuổi tác, phái tính, chủng tộc
    - Cấu trúc của cơ sở không rõ ràng
    - Làm công việc không phải phần vụ, việc không thích hợp
    - Người khác bắt mình làm việc của họ
    - Công nhân không kiểm soát được việc làm, không hiểu rõ, thông thạo với việc
    - Không tận dụng hết tài nghệ của công nhân.
    f- Stress từ ngoài cơ quan:
    - Phương tiện di chuyển khó khăn, xa xôi, tốn nhiều thời gian; phương diện di chuyển công cộng không có; công nhân phải đi đêm về hôm
    - Căng thẳng gây ra do sự giao tiếp với người ngoài, cơ quan bạn
    - Các vấn đề khó khăn cá nhân, chuyện gia đình, cộng đồng cũng ảnh hưởng tới khả năng làm việc của công nhân
    - Cá tính công nhân: người loại hành vi A thì lúc nào cũng muốn hoàn hảo, cạnh tranh, khẩn cấp, dư ý chí lại hay có bệnh tim. Trái lại, người dầy dạn luôn luôn lạc quan, ứng phó tài tình thì ít bệnh hoạn
    - Khả năng ứng phó của công nhân: có kiến thức và kinh nghiệm với công việc
    - Tình trạng sức khỏe, thói hư tật xấu như ghiền rượu, thuốc, đam mê bài bạc.
    g- Kinh tế toàn cầu: Kết quả nghiên cứu của cơ quan Lao Động Thế Giới cho thấy các công nhân cũng chịu nhiều căng thẳng do hậu quả của sự tiến bộ về sản xuất cũng như giao thương quốc tế, chẳng hạn có sự cạnh tranh việc làm giữa quốc gia kỹ nghệ và quốc gia đang mở mang: công việc dồn về các quốc gia này vì nhân công, chi phí quản trị cũng như cơ sở ít tốn tiền...
    Tiến bộ cơ khí làm giảm lực lượng lao động: một người điều khiển một dàn máy, một hệ thống máy vi tính có thể thay thế cho nhiều công nhân.
    Do các nguyên nhân trên mà việc làm của công nhân trở nên bấp bênh, không bảo đảm đưa tới căng thẳng.
    Triệu chứng khi bị stress
    Stress tạo ra nhiều triệu chứng khác nhau về thể xác và tâm thần. Stress có thể tích cực hoặc tiêu cực. Tích cực, nó sẽ khích lệ con người sáng tạo hơn để đối phó. Khi tiêu cực thì nó đưa tới rối loạn, bệnh chứng.
    Những dấu hiệu báo trước có thể là sự kém tập trung, dễ quên, kém tiêu hóa, ăn ngủ rối loạn. Nếu căng thẳng kéo dài, thì triệu chứng có thể chung chung mơ hồ như chóng mặt, nhức đầu, hồi hộp, tim đập mau, huyết áp lên cao, hay bị đau yếu, cảm thấy buồn rầu, lo âu vẩn vơ, không còn nhiệt tình, dễ giận, cau có với người khác, kém tập trung, không quyết định, thường bị ám ảnh với một ý nghĩ nào đó, đôi khi rất tiêu cực, dễ trở nên sợ hãi, đêm ngủ không yên giấc, hay có ác mộng, xa lánh bạn bè, mà khi ở một mình thì bồn chồn trong lòng. Rồi đâm lơ là với công việc, bỏ sở, đi trễ về sớm, hay xin nghỉ nại cớ không khỏe. Rồi đi đến giai đoạn dùng rượu dùng thuốc với hy vọng giảm căng thẳng.
    a- Rối loạn thể xác:
    Trước những tình huống hiểm nghèo thì trong cơ thể có một phản ứng sinh hóa học mà Walter Cannon (1929) gọi là ?ochống cự hoặc bỏ chạy? (fight or flight). Phản ứng này được Walter Cannon diễn tả từ thập niên 1920. Trong phản ứng, não bộ sẽ được động viên, tiết ra các kích thích tố epinephrine, cathecholamine, làm tăng nhịp tim đập, tăng huyết áp, hơi thở sâu hơn, máu dồn nhiều lên não, và cơ bắp, trí tuệ sáng suốt để tự bảo vệ. Đây là một phản ứng đã được sắp đặt trước và diễn ra ở mọi người. Nhưng khi có kích thích liên tục, phản ứng kéo dài lâu hơn thì cơ thể sẽ thường trực ở trong tình trạng báo động, trở nên mỏi mệt, bệnh hoạn, thương tích.
    Nhiều nghiên cứu cho hay, vì áp lực làm nhiều giấy tờ đóng thuế theo đúng hạn kỳ cho thân chủ mà cholesterol trong máu của nhân viên kế toán lên rất cao. Người làm việc theo ca khác nhau nhất là ca đêm đều than phiền bị nhức đầu, viêm bao tử, huyết áp lên cao, bệnh tim, suyễn, đau nhức khớp xương ở lưng và thượng chi. Nguyên nhân là có sự xáo trộn về sắp đặt sinh học trong cơ thể gây ra do giờ giấc làm việc bất thường, trái với thiên nhiên.
    Hậu quả trầm trọng nhất vẫn là về hệ thống tim mạch. Làm việc nhiều giờ, làm trên hai việc một lúc đã được coi như tăng nguy cơ bệnh động mạch tim, các thứ bệnh hoạn khác và tử vong. Đối với bệnh tim mạch, không kiểm soát được việc làm đôi khi có hậu quả xấu hơn là khi làm nhiều việc, nhiều giờ. Tăng nhịp tim và cao huyết áp cũng xẩy ra khi công nhân không nắm vững vai trò của mình cũng như khi có mâu thuẫn với đồng nghiệp. Có nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng căng thẳng việc làm là nguy cơ đưa tới 30% các trường hợp bệnh tim.
    b- Rối loạn tâm lý:
    Lo âu, trầm cảm, bất mãn với công việc là các dấu hiệu của stress vì công việc. Nạn nhân sẽ có các thay đổi về hành xử như uống rượu, dùng thuốc cấm, hút nhiều thuốc lá, vắng mặt tại sở làm, không thích thú công việc, có mặc cảm tự ty, không nhiệt thành tham gia đóng góp ý kiến với mọi người. Lâu ngày, hậu quả của stress sẽ là giảm thiểu hoặc chậm trễ sản xuất, phí phạm thì giờ, để máy móc hư hao. Rồi công nhân trở thành thụ động, buông thả ở nhà, bỏ các sinh hoạt trong cộng đồng.
    c- Kiệt sức:
    Đang hăng say, nhiệt tình, nhân viên đột nhiên giảm khả năng, không thích thú với công việc, kém tập trung. Trong người dễ mệt mỏi, ngủ nghê rối loạn, ăn uống thất thường, tiêu hóa khó khăn, khó thở, mất ngủ, bẳn tính, kém chịu đựng, cảm thấy bất lực.
    d- Thương tích:
    Những căng thẳng trong công việc cũng đưa tới tai nạn và thương tích cho cơ thể.
    Điều chỉnh và hóa giải căng thẳng nghề nghiệp
    Người công nhân chịu một số khổn lực nào đó liên hệ với việc làm. Nếu không ứng phó được thì họ bị rối loạn. Sự rối loạn đưa tới thương tích, bệnh hoạn, giảm khả năng lao động, giảm sản xuất, thua lỗ cho công ty. Những hậu quả đó lại làm tăng sức nặng của khổn lực. Và chu kỳ kín tiếp diễn, ngày một trầm trọng hơn, nếu không được hóa giải, điều chỉnh. Muốn hóa giải toàn thể điều này cần sự phát giác và ước lượng các căng thẳng, hóa giải căng thẳng và phòng ngừa sự tái diễn căng thẳng. Công việc này cần sự hợp tác của chủ nhân và nhiều nhà chuyên môn trong các lãnh vực khác nhau. Hiện nay, hầu hết các cơ sở lớn ở Mỹ đã có các lớp chỉ dẫn và hỗ trợ nhân viên cách thức thích nghi và hóa giải căng thẳng.
    1- Công việc đầu tiên là tìm ra, phát giác nguy cơ lớn nhỏ đã gây ra căng thẳng: vật liệu, hóa chất, tác nhân tâm lý xã hội đưa đến stress...
    2- Săn sóc cá nhân người bị căng thẳng: bác sĩ để chữa các bệnh thể xác, tâm thần do stress gây ra như cao huyết áp, đau nhức xương khớp, trầm cảm. Có các cố vấn tâm lý để hóa giải cảm xúc khó khăn. Đây là công việc của chủ nhân và nhà cung cấp dịch vụ y tế.
    3- Hướng dẫn nhân viên cách kiểm soát căng thẳng: ý thức được các nguy cơ nào đưa tới stress; học cách tránh các stress không đáng kể; tập đáp ứng một cách tích cực với căng thẳng.
    4- Dung hòa/ thay đổi việc làm có căng thẳng:
    - Du di thời khóa biểu để công nhân có thể thích nghi với trách nhiệm ở gia đình, cộng đồng. Nếu làm theo ca thì nên ít thay đổi bất thường để nhân viên biết trước mà sắp xếp việc riêng tư.
    - Để công nhân góp ý vào các quyết định về công việc mà họ chịu trách nhiệm, do đó nâng cao hiệu năng và sản xuất.
    - Vai trò và trách nhiệm của nhân viên phải được xác định rõ ràng, tránh hiểu nhầm giữa nhân viên với nhau.
    - Công việc cần có ý nghĩa, gây nhiệt tình thích thú của công nhân cũng như dùng hết khả năng chuyên môn, tay nghề của họ.
    - Khối lượng công việc phải vừa sức của nhân viên để họ có đủ thời giờ phục hồi năng lực đã tiêu dùng.
    - Có sự bảo đảm an toàn việc làm cũng như thăng thưởng.
    - Loại bỏ các nguy cơ vật chất gây căng thẳng như rủi ro hóa chất, cơ khí, vật thể...
    - Tạo cơ hội tốt để nhân viên có sự tương trợ, thông cảm với nhau.
    - Mở các lớp huấn luyện để nhân viên am tường công việc, biết sử dụng máy móc, dụng cụ thường dùng, trang bị bảo vệ cá nhân.
    Phòng ngừa căng thẳng
    Việc phòng ngừa gồm phát hiện ra căng thẳng, lập kế hoạch giải trừ và lượng định kết quả của giải trừ:
    - Phát hiện căng thẳng bằng các cuộc gặp gỡ với nhân viên để tìm hiểu nhận thức của họ về công việc: coi xem có bất trắc, khó khăn, có hậu quả không tốt cho sức khỏe, có hài lòng với công việc... Rồi phân tích các dữ kiện thâu lượm để xác định nơi phát xuất ra căng thẳng.
    - Đặt kế hoạch giải trừ căng thẳng: cần thông báo cho nhân viên về kế hoạch này để có sự hợp tác của họ.
    - Theo dõi kết quả việc giải trừ căng thẳng: dựa trên cảm nhận của nhân viên về việc làm sau khi áp dụng kế hoạch, kiểm tra xem họ có thoải mái làm việc, công việc có được giải thích rõ ràng, không còn rủi ro trong công việc.
    Kết luận
    Stress trong công việc là những vấn đề mà người công nhân phải đối phó. Tự bản thân, stress không phải là điều xấu. Nhưng nếu xẩy ra quá thường thì stress cũng làm tổn thọ.
    Bí quyết để đối phó với stress không phải là tránh chúng mà khắc phục chúng, làm chúng bớt gay go. Mà khi đã khắc phục được chúng là ta đã chuyển chúng thành những cơ hội tốt, như Winston Churchill đã nói.
    Bác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC
    TX, 21-1-03
  9. harrykism

    harrykism Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    08/04/2002
    Bài viết:
    1.373
    Đã được thích:
    0
    Khi nào thì nên dùng vitamin?
    Tôi thấy một số người xem vitamin như là thuốc bổ, họ thường xuyên uống vitamin hàng ngày. Trên các phương tiện truyền thông, người ta quảng cáo nhiều về vitamin và nghe nói ở châu Âu, Mỹ, vitamin được bán ở các hiệu thực phẩm, các siêu thị như một loại thực phẩm bổ sung dinh dưỡng. Vậy thực tế vitamin có phải là loại thuốc cần thiết phải uống bổ sung hàng ngày thêm không? Hoàng Hải Cường (Vị Hoàng, Nam Ðịnh)
    Trả lời:
    Hiện nay, có 13 loại vitamin khác nhau được đặt tên theo ký hiệu A, B, C, D, E, H, PP,... riêng trong nhóm B đã có khoảng chục loại như B1, B2, B6, B12, B15... Chắc chắn số lượng các loại vitamin còn được tiếp tục phát hiện thêm.
    Trừ một vài vitamin (như niaxin, vitamin D) cơ thể người có thể tổng hợp được, các vitamin còn lại tự cơ thể không tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn. Các vitamin A, D, E, K là loại tan trong dầu mỡ, còn lại là các loại tan trong nước (như B1, B2, B6, C...). Mỗi loại vitamin có tác dụng riêng đối với sự chuyển hóa trong cơ thể, thiếu hụt bất cứ một loại nào cũng gây rối loạn chuyển hóa và sinh bệnh, thí dụ như thiếu vitamin B1 sẽ sinh bệnh phù, thiếu vitamin C sinh bệnh chảy máu lợi răng, thiếu vitamin A sinh chứng khô mắt, quáng gà, thiếu vitamin D sinh chứng còi xương, v.v...
    Vitamin có ở đâu?
    Mỗi vitamin có trong nhiều loại thực phẩm khác nhau, từ thịt, cá, trứng, sữa, rau quả, các loại đậu, v.v... nhất là các loại rau xanh và quả tươi
    - Vitamin A có trong gan, dầu gan cá, lòng đỏ trứng, sữa và sản phẩm từ sữa, các loại trái cây và rau như cà rốt, bí đỏ, mận...
    - Vitamin B1 có trong mầm lúa mì, cám, lúa mì, gạo lứt, gan, thận, thịt lợn, cá, đậu, trứng...
    - Vitamin B2 có trong men bia, gan, thận, sữa và sản phẩm từ sữa, ngũ cốc...
    - Vitamin B12 có trong gan, thận, thịt gà, bò, lợn, cá, trứng, sữa...
    - Vitamin B6 có trong gan, thịt gà, lợn, cá, hạt thô,mầm lúa, chuối, khoai tây...
    - Vitamin C có trong các trái cây chua, cà chua, rau xanh, khoai tây, ớt xanh, đậu...
    - Vitamin D có trong dầu gan cá, cá mòi, cá trích, cá hồi, cá ngừ, lòng đỏ trứng...
    - Vitamin E có trong dầu thực vật, rau xanh, ngũ cốc, mầm lúa, lòng đỏ trứng...
    - Vitamin K có trong rau xanh như bắp cải, củ cải, lòng đỏ trứng, dầu thực vật...
    Với bữa ăn bình thường hằng ngày đã cung cấp đủ nhu cầu vitamin của cơ thể. Nếu ta biết tổ chức bữa ăn đa dạng, thay đổi, hỗn hợp nhiều loại thực phẩm (có đạm, chất béo, chất bột, chất vi khoáng và vitamin) thì không cần thiết phải bổ sung vitamin hằng ngày, nhất là ở nước ta có nhiều rau xanh và các loại đậu, trái cây tươi. Sở dĩ ở các nước xứ lạnh họ cần bổ sung vitamin là do thiếu rau, quả tươi hàng ngày, hơn nữa cách chế biến thực phẩm kiểu công nghiệp (đồ hộp, hun khói...) làm giảm đáng kể lượng vitamin. Với người khỏe mạnh bình thường không cần phải bổ sung thêm vitamin.
    Khi nào thì cần dùng vitamin?
    Những trường hợp sau đây cần bổ sung vitamin: Người bệnh đang dùng các thuốc kháng sinh, hóa dược hoặc phẫu thuật, cần bổ sung vitamin để thêm hiệu lực điều trị, người mới khỏi bệnh, đang ở thời kỳ dưỡng bệnh; trẻ còi xương, quáng gà, người bị bệnh phù, thiếu máu; phụ nữ đang mang thai và cho con bú; người ăn chay (có thể thiếu vitamin B12, A...).
    Người cao tuổi bổ sung các vitamin để chống lão hóa như vitamin E, C....
    Ðể có hiệu quả mong muốn và không lãng phí tiền bạc, khi dùng vitamin cần theo đúng sự hướng dẫn của thày thuốc.
    Ths Phạm Ngọc Quế - (Ngày: 28-02-2003 - Theo Báo SK&ĐS)
    Best regards,
    Harry Kism
  10. harrykism

    harrykism Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    08/04/2002
    Bài viết:
    1.373
    Đã được thích:
    0
    Một quả cà bằng 3 chén thuốc
    Ngày xưa, hồi còn bé nghe câu nói trên cứ nghĩ cà có hại. Ai dè...
    Xin giới thiệu với các bác bài viết về quả cà!
    http://khoahoc.vnn.vn/gocyte/pstthuoc.cfm?cat=h&is=2384
    Anh đi anh nhớ quê nhà!
    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương!
    ==========================
    1. Quả cà - thức ăn truyền thống của người Việt Nam
    Ở nước ta, cà được trồng khắp nơi để làm thức ăn. Có nhiều giống cà khác nhau, như ở miền Bắc phổ biến nhất là các giống cà pháo, quả tròn bé màu trắng và vàng (cà nghệ cùi mỏng, nhiều hạt, ăn giòn); Cà tứ thời quả bé tròn, cho quả quanh năm và có màu sắc thay đổi; Cà xoan hình xoan màu xanh; Cà bát to như cái bát, trắng hoặc xanh; Cà d.á.i dê màu trắng hoặc tím. Ngoài ra còn có cà dừa, cà sung, v.v... Trong dân gian cà pháo còn gọi là cà ghém vì hay được ăn ghém. Ðông y gọi chung các loại cà là Giã tử, Ái qua, Nuy qua. Tên khoa học là Solanum milogena L.
    Ở thôn quê Việt Nam hầu như nhà nào cũng có vại cà, chum tương. Cà là một món ăn trường kỳ và chủ lực của người dân quê, đã đi vào nhiều câu ca dao, tục ngữ như:
    "Khen anh làm rể Chương Đài.
    Một năm ăn hết mười hai vại cà"...
    hoặc giai thoại về quả cà của Dương Lễ đã giúp Lưu Bình làm nên sự nghiệp...
    Bữa ăn của người dân nước ta ngày nay đã được cải thiện rất nhiều, đảm bảo dinh dưỡng tốt hơn. Nhưng các món ăn truyền thống như dưa cà, tương, mắm vẫn được nhiều người ưa thích.
    Mỗi dân tộc có cách chế biến cà riêng. Ví dụ người Nhật thích ăn cà muối xổi vì "sẽ có ích cho tiêu hóa". Người Trung Quốc ở Nam Hải thái cà rồi hấp cơm chín, thêm gia vị và cho rằng "ăn như vậy mới thưởng thức hết hương vị của cà" v.v... Chúng ta cũng có nhiều cách chế biến cà phong phú như: sống, tái, chín, luộc, kho, xào, bung, dầm đường tỏi, tương, mắm, v.v...
    Tuy nhiên lâu nay ta ăn cà hầu như do tập quán chứ chưa ý thức được hết giá trị dinh dưỡng và trị liệu của cà.
    Một số vấn đề trình bày dưới đây sẽ cho thấy ngoài sự ngon miệng, cà còn là vị thuốc nhiều công dụng.
    2. Quả cà là một vị thuốc của cả Ðông y lẫn Tây y
    a. Trong Ðông y, cà có vị ngọt tính hàn (có tài liệu ghi cực hàn, có độc). Trong Trung dược học bản thảo và các sách khác cho biết cà có tác dụng hoạt lợi (nhuận tràng), lợi tiểu, trị thũng thấp độc, trừ chưng hà (hòn cục trong bụng), chứng lao truyền (ho lao - không phải lao di truyền như có sách đã dịch). Ôn bệnh trong bốn mùa (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa). Tán huyết tiêu viêm, chỉ thống. Trong Thực liệu bản thảo nói cà có tác dụng chữa ngũ tạng lao tổn. Sách Thực kinh viết: cà có công dụng làm đầy da thịt, ích khí lực, chữa cước khí... và nhiều chứng bệnh khác.
    Người dân Nigeria cũng có nhiều kinh nghiệm dùng cà tím chữa bệnh phong thấp. Hoặc để chữa phụ nữ hay có chứng đau bụng, họ lấy cà khô thái nhỏ với quả me chín lượng bằng nhau, cho vào 1 lít nước đun sôi nhỏ lửa. Sau 1/2 giờ lọc lấy nước uống nóng (tạp chí Tropical doctor 4/1982).
    Y học cổ truyền Hàn Quốc dùng cà tím phơi khô làm thuốc giảm đau trị sưng khớp, loét dạ dày.
    - Chữa đại, tiểu tiện đường tiêu hóa gây chảy máu: Lấy cà pháo già sao vàng, tán mịn. Mỗi lần dùng 8g, hòa nước pha dấm loãng để uống. Uống ngày 3 lần. Sách cổ ca ngợi cà có nhiều công dụng trong điều trị bệnh trĩ.
    - Phụ nữ huyết hư, da vàng: Dùng cà pháo già bổ ra phơi bóng râm cho khô, tán mịn. Mỗi lần uống 8g với ít rượu hâm nóng. Ngày 2 lần, uống dài ngày.
    - Chữa đàm nhiệt - Viêm phế quản cấp, táo bón: Cà tím 500g thái dọc, gừng tươi 4 lát, tỏi 3 củ nghiền nhuyễn. Trộn nước tương, dầu, muối, đường, chưng cách thủy.
    - Chữa ho lâu năm không khỏi: Cà pháo tươi 30-60g nấu chín, cho mật ong vừa đủ nấu lại. Ngày ăn 2 lần (Ẩm thực phương Ðông trị bệnh của Hồng Minh Viễn 1998). Như vậy quan điểm của họ không kiêng dùng cà như trước nay ta vẫn có định kiến.
    - Chữa hoàng đản (viêm gan vàng da): cà tím trộn gạo nấu cơm ăn trong dăm ngày, 1 tuần.
    - Công dụng khác, dùng cà pháo chữa các bệnh ngoài da và niêm mạc, bầm máu, lở loét, chảy máu (ở lợi), ngón tay chân (chín mé), nứt đầu v.ú. Lấy cà pháo đốt thành than bôi tại chỗ. Cà tím còn được dùng làm thuốc đánh trắng răng chữa hôi miệng.
    b. Quả cà trong y dược học hiện đại
    - Thành phần hóa học: Trong 100g cà có các thành phần tính theo tỷ lệ % như sau: Nước 92, đạm 1,3; chất béo 0,2; đường 0,5; Các chất khoáng (mg): lân 15; magne 12; calci 10; kali 22; natri, lưu huỳnh 15,16; sắt 0,5; mangan 0,2; kẽm 0,2; đồng 0,1; Iod 0,002; Các vitamin (mg): caroten (tiền sinh tố A) 0,04; vitamin B1 0,04; B2 0,35; C6, P 0,6 và chất nhầy.
    Cà tím (cà d.á.i dê) cũng có ở nhiều nước phương Tây nên được nghiên cứu nhiều hơn. Cà là nhóm rau quả đứng hàng đầu với hàm lượng cao nhất về vitamin P. Một tài liệu cho biết 1kg cà tím có 72g vitamin P (vitamin làm vững chắc thành mạch chống xuất huyết). Gần đây phát hiện được cả vitamin E (vitamin chống oxy hóa, chống lão hóa). Các chất khoáng trong cà thường cao hơn các rau quả khác. Ðặc biệt, cà còn chứa chất Nightshade soda có tác dụng chống ung thư, ức chế tăng sinh khối u trong bộ máy tiêu hóa.
    Các chuyên gia Nhật Bản tìm thấy trong nước ép cà tím có nhiều thành phần hoạt chất có khả năng ngăn ngừa ung thư, nhất là ung thư dạ dày. Có ý kiến khuyên dùng nước ép cà tím khi dùng xạ trị và sau phẫu thuật ung thư.
    Còn nhóm chuyên gia trường đại học Graz ở Áo đã chứng minh tác dụng khử chất béo của cà tím, nhất là khi dùng cà tím với các thức ăn động vật. Cà tím còn có tác dụng chống ứ đọng cholesterol và ure huyết, rất có lợi trong việc điều trị các bệnh tim mạch, huyết áp cao, béo phì, đái (chẳng hiểu sao cái chữ này lại biến thành ***** ) đ.á.i tháo đường, thống phong (gut). Một tạp chí ở Mỹ, trong bài: "12 cách để giảm cholesterol trong máu" đã xếp: "Ăn cà là biện pháp hàng đầu".
    Cà tím có tác dụng kích thích tiết mật và tụy làm khả năng tiêu hóa được tăng cường, giúp nhuận tràng, giải độc, tốt cho bệnh gan mật. Có tác dụng lợi tiểu, chống phù nề, đàm thấp, hỗ trợ trong điều trị bệnh thận. Trên thực nghiệm cho thấy súc vật được uống nước ép cà tím thì khi bị gây động kinh nhân tạo đã không phát bệnh. Do đó người ta khuyên người dễ bị kích động tâm thần nên uống 1 ly nhỏ nước ép cà tím mỗi khi thấy thần kinh căng thẳng.
    Trong Hội nghị các nhà gây mê Hoa Kỳ tại Orlando (10/98) đã có những thông báo: Nếu người bệnh ăn nhiều cà tím, cà chua, khoai tây, sẽ làm chậm chuyển hóa một số thuốc mê và thuốc giãn cơ trong phẫu thuật, do các glycoalcaloid họ cà (Solanaceae) gây ức chế các men acetycholinesteraza và butylcholinesterase (men giảm hóa thuốc mê).
    3. Cà là món để ăn kiêng và có lúc ta phải kiêng ăn cà
    Cà là loại thực vật có giá trị dinh dưỡng tương đối thấp và có khả năng khử béo nên đã được dùng làm thức ăn kiêng để chống béo phì.
    - Cà tính hàn (thậm chí cực hàn), nên phải kiêng dùng đối với người hư hàn, có chứng bệnh do hàn và thận trọng khi phối hợp cà với các thức ăn hàn để tránh quá hàn không có lợi. Nên ăn cà kèm các gia vị có tính ôn như tập quán ngâm cùng ớt, gừng, sả, tỏi. Cà có solanin là chất độc nên để an toàn hơn, tránh dùng khi còn xanh và tươi sống - là lúc cà chứa nhiều solanin. Danh y Hải Thượng Lãn Ông cũng khuyên "không nên ăn cà sống". Cà cũng như mọi thực phẩm khác đều có trường hợp phải kiêng kỵ, nếu không cẩn trọng ắt sẽ có hại cho sức khỏe...
    - Không nên ăn cà tím trước khi phẫu thuật, phải gây mê.
    4. Tóm lại
    Ðông và Tây y trước nay đều công nhận cà có tác dụng bổ dưỡng, có khả năng phòng và chữa một số bệnh.
    Tuy nhiên, cũng như nhiều thức ăn khác, nếu không sử dụng đúng sẽ có hại cho sức khỏe. Ngay như khoai tây, loại thức ăn quan trọng của nhiều dân tộc trên thế giới cũng có chứa solanin, nếu ta ăn khi chúng có mầm màu xanh - là lúc chứa nhiều solanin cũng dễ bị ngộ độc. Còn cà chua nói riêng và họ cà nói chung, ngoài solanin còn chứa nicotin cũng là chất độc hại. Ngày xưa nhiều người không dám ăn cà chua, mãi cho đến năm 1893 cà chua mới được trọng dụng và được gọi bằng những cái tên mỹ miều như "Quả táo đáng yêu" hoặc "Quả táo tình yêu".
    Hoặc như vào thời La Mã cổ đại, có thầy thuốc cho rằng bắp cải là thực phẩm có hại khiến nhiều người không dám dùng. Nhưng ngày nay bắp cải là thức ăn có công dụng phòng bệnh ung thư, tim mạch và nhiều bệnh khác...
    John Graham, trợ lý giám đốc nhóm nghiên cứu về tác dụng phụ của rau quả cho biết: "Ðối với các loại rau quả xanh và thực phẩm mang nhiều chất dinh dưỡng cho cơ thể thì những phản ứng phụ do chúng gây ra cũng độc hại không kém. Tuy nhiên không phải vì thế mà chúng ta không dùng chúng nữa!"
    Còn Tony Robards, Phó hiệu trưởng trường Ðại học York khuyên rằng: "Nói chung các loại thực phẩm đều có lợi cho sức khỏe con người. Chúng chỉ có hại khi cơ thể bạn không thích ứng mà thôi".
    Qua những trình bày trên, ta thấy câu tục ngữ đã truyền tụng từ lâu trong dân gian: "Một quả cà bằng 3 chén thuốc", có lẽ phải được hiểu là: "Một quả cà bằng 3 chén thuốc... bổ"! Vì nếu hiểu theo nghĩa ăn 1 quả cà có thể gây bệnh phải uống 3 chén thuốc mới khỏi là sai, vì hiện vẫn chưa có cơ sở nghiên cứu khoa học nào trên lý luận cũng như thực tiễn chứng minh điều này! Chỉ biết rằng từ bao đời nay, cà đã trở thành món ăn truyền thống của dân tộc ta, như một nhà văn hóa ẩm thực nước ngoài đã nói: "Chia tay với văn hóa cơm cà thì sức khỏe của chúng ta cũng sẽ đội nón đi theo...".
    Ðang mùa hè nóng bức, nếu bữa cơm có kèm mấy quả cà cùng các loại nước rau, canh sẽ tăng phần ngon miệng, thú vị biết bao. Ðó cũng là chế độ ăn "dưỡng sinh theo mùa" đắc dụng, có thể chứng minh ngay được hiệu quả dưỡng sinh phòng bệnh mùa hè của cà. Sang thu trời mát, cà bắt đầu chát và giá trị bị giảm đi phần nào... đấy là lúc chúng ta không nên dùng cà nữa.
    (Ngày: 21-08-2002 - Theo TC SK&ĐS - 189)
    =======================================
    Được harrykism sửa chữa / chuyển vào 01:18 ngày 20/03/2003

Chia sẻ trang này