1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Bệnh trầm cảm và những triệu chứng có liên quan đến căn bệnh này ( Depression , Stress , Sleep disor

Chủ đề trong 'Sức khoẻ - Y tế' bởi lutmyla, 26/02/2008.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. minusa

    minusa Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Bài viết:
    782
    Đã được thích:
    1
    Tôi thấy bạn tham gia Topic này từ rất lâu rồi , không biết bạn đã khỏi bệnh chưa ?
  2. hatcat_giuasamac1

    hatcat_giuasamac1 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    19/10/2006
    Bài viết:
    42
    Đã được thích:
    0
    chao cac bac!
    em be trong bung em sang thang thu 9 rui, bung em dao nay to kenh kang nen cung met chut nhung khong den noi suot ngay than van va tuyet vong nhu may bua truoc nua cac bac a.


    theo minh, moi nguoi cung can de y den che do dinh duong day, an uong phai day du vao, khong de thieu chat gay ra met moi dan den benh nang hon, dac biet la vitamin B cac ban a.
  3. dayfine

    dayfine Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    18/05/2007
    Bài viết:
    9
    Đã được thích:
    0
    ko biết có bác nào đã khỏi bệnh ám ảnh sợ xã hội chưa ~X~X~X
  4. WildDingo

    WildDingo Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    10/12/2007
    Bài viết:
    122
    Đã được thích:
    0
    Tôi cũng chưa khỏi hẳn , bệnh của bạn thế nào ?
  5. lutmyla

    lutmyla Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    16/05/2002
    Bài viết:
    409
    Đã được thích:
    0
    hi every body, trầm cảm hội dạo này đông vui quá, cố gắng xây lên tầng 3 nha, nói chung là cái bệnh này đối với y học ngày nay thì có rất nhiều loại thuốc có thể chữa khỏi hoàn toàn, vấn đề là mỗi người hợp một loại, cho nên nhiều đồng chí uống thuốc trong thời gian dài mà ko thấy khỏi đâm ra nản và phán rằng bệnh này ko chữa đc, chả qua là chưa hợp thầy hợp thuốc mà thôi, và chúng ta đừng bi quan, tôi gặp mấy đồng chí bị tâm thần phân liệt còn nặng hơn bệnh này ngàn lần, bệnh đó thì khó chữa thật chứ bệnh này đơn giản thôi. vấn đề là chúng ta kiên cường chiến đấu. nhất định sẽ chiến thắng, hoặc tình hình cải thiện hơn. chúc mọi người khỏe, ai cần giao lưu thì add nick chat yahoo mình vào nha: antioxvision . cồn sống là còn chiến đấu, mỗi người chỉ sống có một lần thôi.
    -----------------------------Tự động gộp Reply ---------------------------
    nói thế ko có nghĩa là tâm thần phân liệt ko chữa được, giờ cũng có nhiều loại đặc hiệu, halo, respedar, olanzapine, tisercin, quetiapine, clozapine...và càng ngày y học càng phát minh ra nhiều loại thuốc mới... tớ gặp mấy đồng chí paranoid lấy vợ sinh con bình thường, mỗi tội thing thoảng nhập viện ít hôm thôi
  6. hatcat_giuasamac1

    hatcat_giuasamac1 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    19/10/2006
    Bài viết:
    42
    Đã được thích:
    0
    Long trong trai qua! toi thay that su tiec nuoi cho ban than minh, toi von di rat vo tu nhanh nhen va thong minh, la nguoi hoc gioi va dc nhieu nguoi yeu men. the ma bay gio mac phai can benh LAM LAM LI LI nay, mat luc nao cung vênh len, da the song khong nhan hau gi ca. toi thay ghet ban than minh : ich ky, luoi bieng va an noi khong biet suy nghi. toi biet dieu do, toi thong cam cho toi, toi thay thuong cho cai toi lam. Nhung con nguoi khac, co ai thong cam cho toi khong? toi met moi tren con duong nay.
    Toi da lay chong va dang mang thai, dua con trong bung se chao doi trong vong mot thang nua, mot thang nua oi! troi nhanh len, toi thay luc nao cung buon phien met moi
    Dieu toi muon noi nua la toi khong hoa nhap dc voi chong , gd nha chong. Toi song khep kin va khong chia se voi chong, chong toi khong hieu...........
    oi met qua
    toi nghi thoi
    tam biet tat ca moi nguoi
  7. dayfine

    dayfine Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    18/05/2007
    Bài viết:
    9
    Đã được thích:
    0
    cho mình hỏi trong đây có bạn nào bị đau nửa đầu ko
  8. tinhyeumuondoi

    tinhyeumuondoi Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    29/02/2004
    Bài viết:
    6
    Đã được thích:
    0
    Tôi không bị đau nửa đầu nhưng cảm thấy máu lưu thông không đều ở nửa đầu. Đã chiến đấu 3 năm nay rồi, thật sự mệt quá, đôi khi muốn buông xuôi
    -----------------------------Tự động gộp Reply ---------------------------

    Vấn đề là ở chỗ những người trầm cảm thường rất mệt mỏi và không thể chạy bộ. Mình còn hay bị hoa mắt chóng mặt sao mà chạy được
  9. newbiekid

    newbiekid Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    08/03/2007
    Bài viết:
    75
    Đã được thích:
    0
    Hi chính vì bạn sức khoẻ yếu nên mới trầm cảm, muốn thoát khỏi trầm cảm chỉ có cách duy nhất là luyện tập nâng cao thể lực, khi bạn có sức khoẻ tốt bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc , yêu đời, chạy bộ là phương pháp nâng cao thể lực hiệu quả nhất

    Rất nhiều người trầm cảm đã làm được, vấn đề là phải có quyết tâm , vạn sự khởi đầu nan, mới đầu thì bạn chỉ chạy 100-200 mét thôi, thấy mệt là phải nghỉ ngay, không được cố tập, nếu bạn không tập luyện bạn sẽ không bao giờ thoát khỏi trầm cảm.

  10. dumb

    dumb Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    08/06/2003
    Bài viết:
    728
    Đã được thích:
    2
    có bài này hay, copy và paste cho mọi người tham khảo
    https://sites.google.com/site/suckhoettmoi/cac-yeu-to-gay-benh-tiem-an
    Bệnh tâm thần - Mentall - ILLness

    [by Walter Last]​
    [Schizophrenia - Mania - Depression - Paranoia - Neurosis]​
    Căn bệnh tâm thần nghiêm trọng ngày càng phổ biến hơn. Có đến 3% dân số có thể phát triển các bệnh tâm thần phân liệt và một 1% là hưng trầm cảm. Ngoài ra, có một tỷ lệ phổ biến rộng rãi rất nghiêm trọng của bệnh trầm cảm, lo lắng, hoang tưởng và mất trí. Người ta đã ước tính khoảng 10% dân Úc đòi hỏi phải điều trị tâm thần trong một thời gian.
    Y học và tâm thần học thông thường không có sự hiểu biết thực sự về các nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần, và các phương pháp trị liệu đã dùng bằng các thuốc an thần, thuốc kích thích, sốc điện và tâm lý chỉ điều trị triệu chứng song hiệu quả vẫn rất hạn chế.
    Hai ảnh hưởng chính lên sự phát triển của bệnh tâm thần là dinh dưỡng và stress, đặc biệt là stress về tinh thần. Trong hầu hết trường hợp, có sự kết hợp của các yếu tố dinh dưỡng khác nhau và số lượng stress.
    Tuy nhiên, nói chung, các yếu tố dinh dưỡng có ảnh hưởng quyết định hơn. Một chế độ ăn chất lượng cao, không có bất kỳ dị ứng hoặc bị thiếu vitamin, khoáng chất và enzyme, thì khi gặp những vấn đề nghiêm trọng trong đời sống như những thách thức, chúng lại giúp chúng ta phát triển lớn mạnh về tinh thần và cảm xúc. Song ở chế độ ăn uống kém, ngay cả khi chỉ có những vấn đề nhỏ, chúng vẫn có thể trở thành những trở ngại không khắc phục được và gây ra stress bất thường. Với dinh dưỡng đúng, sẽ được vượt qua dễ dàng hơn rất nhiều.
    Dinh dưỡng và hoạt động của não bộ
    Hai yêu cầu cơ bản nhất cho các hoạt động bình thường của não bộ là cung cấp đủ năng lượng và sự hiện diện tối ưu của các chất sinh hóa liên quan đến việc chuyển tải các thông điệp.
    Nhiên liệu phổ biến nhất cho não là glucose, ngoài ra cũng còn có acid amin glutamine. Bộ não sử dụng tới 20% của tổng số cung cấp dưỡng khí của cơ thể. Điều này minh chứng tầm quan trọng của việc có sự lưu thông máu tốt cho não bộ cũng như hiệu quả bảo vệ chống bức xạ tự do, mà cả hai có thể bị sut giảm nghiêm ở nhiều trường hợp hưng và trầm cảm. Sự tạo năng lượng trong các tế bào não, cũng như trong các tế bào khác, có thể bị gián đoạn cơ bản theo hai cách: hoặc chuyển thành gluco quá nhanh như ở những người ‘oxidisers' nhanh ' hay hypoglycemics, hoặc quá chậm như ở những người ‘oxidisers'chậm .
    Nếu người hypoglycemics (đường huyết thấp) ăn thức ăn chuyển hóa nhanh, chẳng hạn như đồ ngọt và trái cây, mức glucose trong máu tăng quá cao, sẽ có quá nhiều insulin được tiết ra và lượng glucose dồn đột ngột vào các tế bào. Các tế bào không thể lưu trữ glucose, và phải cố gắng để xử lý nó. Thông thường thì sẽ gây nên thiếu oxy và sự ô xy hóa enzymes và nhiều glucosechỉ được chuyển hóa một phần theo kiểu kỵ khí (không dùng dưỡng khí) sẽ tạo thành axit lactic.
    Mức Axit lactic cao sẽ kích hoạt sự lo lắng và tất cả các loại ám ảnh ở những người dễ tổn thương. Ngoài ra, sự hình thành quá mức acid chuyển hóa, chẳng hạn như axit citric sẽ góp phần làm cho cơ thể quá acid.
    Tuy nhiên, trong khoảng thời gian glucose trong máu cao, sự dư thừa năng lượng có thể được tạo ra trong não và có thể dẫn đến kích thích.tâm thần Ở những trẻ em và thanh thiếu niên quá hiếu động (hyperactivity) kết quả có thể dẫn đến các hành vi bạo lực. Ở những người tinh thần không ổn định, có thể kích hoạt cơn mania (hưng cảm), đó là khoảng thời gian mà sự kích thích không kiểm soát được. Khi sự bùng nổ năng lượng đã qua, lại đến sự thiếu năng lượng và điều này có thể dẫn đến một trạng thái ngủ lịm, lờ phờ hay cảm giác chán nản. Đây có thể là trường hợp của người có bipolar (rối loạn lưỡng cực) chu kỳ nhanh.
    Với những người oxy hóa chậm, glucose vào các tế bào quá chậm; cũng sản xuất năng lượng bên trong các tế bào có thể được bị cản trở. Các tế bào não không cần insulin như các tế bào cơ để cho glucos vào. Vì vậy, không đủ cung cấp glucose cho não bộ, chủ yếu là do một chế độ ăn uống nặng về thịt và chất béo và thấp về carbohydrates. Với người cao tuổi, điều này có thể làm giảm máu lưu thông tới não.
    Một loạt các vitamin B và khoáng chất cần thiết để chuyển glucose và glutamine thành năng lượng não. Đây chủ yếu là vitamin B1, B2, B6, nicotinamide (B3, hay vitamin PP), pantothenic acid (B5) và các chất khoáng magiê, mangan và kẽm. Nếu bất kỳ chất nào trong chúng bị thiếu, não không thể sản xuất đủ năng lượng và dẫn đến ngủ lịm, thờ ơ và trầm cảm.
    Trạng thái kích thích sau khi ăn đồ ngọt ở những người oxidisers nhanh thường kéo dài không lâu và trong vài giờ có thể chuyển sang trầm cảm và trở lại kích thích sau khi ăn đồ ngọt lần nữa. Trong khi đó, sự thiếu năng lượng gây ra khi người ô xy hóa chậm ăn chủ yếu thực phẩm nặng (nhiều thịt mỡ, ít chất bột) có thể kéo dài hàng tháng, hàng năm.
    Tuy nhiên, cả hai trường hợp, kết hợp với dị ứng ẩn và thiếu vitamin, khoáng chất và các enzyme có thể tạo nên một dải rộng các điều kiện bất thường về tâm thần như hoang tường, ảo giác và ám ảnh. Trong những trường hợp như vậy, không phải luôn luôn rõ ràng để biết chuyển hóa là nhanh, chậm hay bình thường. Vì vậy, một bước quan trọng trong chữa bệnh rối loạn tâm thần để xác định là trạng thái chuyển hóa.
    Mức Histamine
    Đặc tính phân biệt nổi bật nhất thường là mức histamine trong máu. Người oxy hóa nhanh có mức acid vượt quá. Điều này sẽ giải phóng histamine, ràng buộc với protein, và mức histamine tăng. Kết quả là làn da rất nhạy cảm, có phản ứng mạnh mẽ đối với vết côn trùng cắn và kích thích với các hóa chất, nylon và một số chất tổng hợp khác. Huyết áp thường thấp, thấp hơn 120/80, và bàn tay và bàn chân thường lạnh trong thời tiết lạnh. Viêm nhiễm và xạm da do tắm nắng là phổ biến, và thường cảm thấy đau nhiều.
    Oxidisers chậm, mặt khác, thường là quá kiểm do họ thiếu axit chuyển hóa, và điều này làm mức histamine quá thấp. Do đó, là huyết áp cao, thường là ở trên 120/80, và da không nhạy với lạnh, côn trùng cắn và kích thích. Ít viêm nhiễm không cảm thấy đau nhiều.
    Nếu các trường hợp, chủ yếu là nhạy cảm với lạnh, da kích thích và đau đớn, là bình thường thì chuyển hóa có thể cân bằng. Với trường hợp này, chúng có bước quan trọng đầu tiên trong chữa bệnh tâm thần: chọn một chế độ ăn uống theo yêu cầu của chuyển hóa. Những người oxy hóa nhanh phải dùng thực phẩm tiêu hóa chậm; NHững người o xy hóa chậm phải dùng thức ăn tiêu hóa nhanh , và người ô xy hóa cân bằng chọn tiêu hóa bình thường. Thực phẩm tiêu hóa chậm chủ yếu là protein và chất béo hoặc thực phẩm nhiều dầu, trong khi hoa quả là thực phẩm tiêu hóa nhanh.
    Dị ứng
    Dị ứng, chủ yếu là dưới hình thức thực phẩm dị ứng, nhất là rõ ràng trong oxidisers nhanh , nhưng có thể có mặt trong tất cả các loại. Ẩn dị ứng có thể dẫn đến kéo dài thời gian não bộ kích thích, dân đến thời kỳ không thể kiểm soát kích thích, tức giận, suy nghĩ phân tán và tất cả các loại tâm thần không bình thường..
    Thời kỳ Manic có thể kéo dài cho hàng tháng tại một thời điểm hoặc thậm chí trở thành mãn tính. Đôi khi, sau khi tuần hoặc tháng, cơ thể phản ứng với sự kích thích dị ứng này thông qua hormonal thay đổi và phản ứng viêm, gây ra các kích thích, sẽ biến mất, đôi khi vĩnh viễn, đôi khi chỉ tạm thời.
    Trong một trường hợp bị bệnh tâm thần, khi mở hộp sọ có thể được quan sát thấy sự sưng viêm của các tế bào não sau khi ăn lúa mì . Gluten lúa mì và các sản phẩm hạt nói chung thường liên kết với sự phát triển của bệnh tâm thần phân liệt. Dị ứng ở bệnh tâm thần cũng được phổ biến với 'các sản phẩm từ sữa bò, cũng như các hóa chất không sinh học trong thức ăn của chúng ta, chẳng hạn như màu, hương vị nhân tạo, chất bảo quản, dư tồn thuốc trừ sâu v. v.
    Nhiều trong số các phụ gia thực phẩm được phân lọai như chất kích thích độc tố. Đây là những chất làm tăng hương vị hay hương thơm mà giải phóng các axit glutamic hay glutamate. Ngoài ra còn axit aspartic và cysteine đang hoạt động não-amino axit. Ví dụ nổi tiếng nhất về một kích thích độc tố (excitotoxin) là MSG hay mono-sodium glutamate, một dạng muối của axit glutamic. Mức cao trong máu có thể băng qua hàng rào bảo vệ máu-não. Glutamate là một chất dẫn truyền thần kinh được thể hiện ở dạng chất lỏng với mật độ tập trung rất thấp. Nếu mức này bị tăng lên không thích hợp thì các neurons kích thích bất thường, và ở mức cao hơn các tế bào não bắt đầu chết. Thiếu oxy và thiếu nhiên liệu (đường máu thấp - hypoglycemia) cả hai can thiệp vào sản xuất năng lượng của các tế bào não để làm cho chúng dễ tổn thương, gây nguy hiểm của các chất kích thích độc tố hại này. Đây có thể là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của bệnh thần kinh và đặc biệt là trong trường hợp mania.
    Axit amin kích thích độc tố gây ra các vấn đề chủ yếu khi dùng bị đặt ở dạng tập trung hoặc tự do, còn khi ở dạng thực phẩm gần như tự nhiên, chúng được giải phóng chậm và do đó không gây hại. Hầu hết các thực phẩm chế biến có chứa chất kích thích độc tố ( excitotoxins), đặc biệt là nếu ở hình thức thương mại bất kỳ nào có bổ sung các chất tăng hương vị hay hương thơm, chẳng hạn như rau quả protein được thủy phân (hydrolyzed), chiết xuất protein đậu nành (soy protein extract), chiết xuất men, nước hầm thịt bò (beef stock) và caseinate; soups thương mại , nước sốt và nước thịt thường bị ảnh hưởng nhiều nhất. Trên nhãn của bất kỳ các sản phẩm này có thể đơn giản được gọi là 'hương vị tự nhiên'. Các protein đã làm chín (Aged proteins), thịt qua chế biến, sốt cà chua có mức glutamate tự do cao, song cà chua tươi lại tốt. Tất cả những thực phẩm kiểu này các cá nhân nhạy cảm – những người có xu hướng tâm thần cần tránh.
    Một số nhà nghiên cứu dị ứng môi trường cho rằng hơn 90% bệnh nhân TTPL đã được điều trị có dị ứng trên mức trung bình với khoảng mười mỗi loại thực phẩm khác nhau. Tuy nhiên, kiểu tâm thần phân liệt phổ biến nhất là những người có mức histamine thấp không nhạy cảm với kiểm tra dị ứng thông thường, và chỉ có chế độ ăn uống loại bỏ nghiêm ngặt mới mang lại kết quả. Trên thực tế, có những báo cáo từ các nguồn khác nhau tuyên bố rằng, hầu hết schizophrenics đã không còn triệu chứng khi nhịn uống nước (water fast) trong khoảng một tuần. Vì vậy, nguyên tắc số hai: kiểm tra cho sự nhạy cảm và dị ứng với thực phẩm và hóa chất, xem Kiểm tra Dị ứng .
    Các dinh dưỡng đặc biệt
    Có sự thay đổi tới mười lần về yêu cầu dinh dưỡng nào đó đối với con người, chẳng hạn như sinh tố, ở người và động vật dường như khỏe. Những người không khỏe hoặc bị stress cần mức cao hơn để duy trì sự chuyển hóa bình thường . . Nhu cầu tăng lên rất nhiều khi ở tù, hay ăn chế độ dinh dưỡng tinh chế. Hầu hết các sinh tố ảnh hưởng đến hóa học của não bộ ở mức độ nào đó và nếu không được đáp ứng, thì có thể sẽ phát triển sinh hóa bất thường ở não.
    Các vitamin cổ điển dành cho não là vitamin B1 và nicotinamide (B3 hay PP). Sự thiếu hụt nghiêm trọng lâu dài là nguyên nhân gây ra các bệnh Beriberi và pellagra . Các triệu chứng bao gồm các vấn đề về tiêu hóa, cơ bắp, da, hệ thần kinh và rối loạn suy nghĩ. Thiếu vitamin B1 thường xuyên thường yếu chân , bắt đầu từ bàn chân trở lên.
    Với sự thiếu hụt nicotinamide (vitamin PP), những thay đổi trong nhận thức có giá trị chẩn đoán tốt nhất. Điều này có nghĩa là một người có thể nhìn thấy những đối tượng khác với những gì họ từng thấy hoặc cách những người khác nhìn thấy chúng. Họ có thể nhìn thấy gì đó ở nơi không có, có thể nghe giọng nói, nơi có không có gì, cảm thấy như giống như đi bộ mà chân không chạm mặt đất, và nhiều triệu chứng tương tự (tức ảo giác hay hoang tưởng). Ngược lại với thiếu vitamin B1, thường là mất đi khả năng hài hước cùng với thiếu nicotinamide.
    Nicotinamide hay niacin là quan trọng nhất với người bị tâm thần PL có mức histamine thấp. ĐÔI khi liều hàng ngày lên đến 9 g để chuyển hóa và để hành vi trở nên bình thường. Tuy nhiên, khi tránh được các sản phẩm từ sữa bò và lúa mỳ, yêu cầu về về nó giảm còn 4 - 6 g và vẫn còn tiếp tục tụt xuống với việc bổ sung các sinh tố khác, đặc biệt là axit folic và axít ascorbic (vitamin C). Cuối cùng, sau một thời gian ăn kiêng đúng với dinh dưỡng chất lượng cao và không gây dị ứng, tất cả những gì họ cần có thể chỉ là một viên đa sinh tố.
    .Vitamin B6 kết hợp với kẽm và mangan là hữu ích nhất với trầm cảm và bệnh tâm thần phân liệt có mức histamine bình thường. Người thiếu hụt vitamin B6 thường xuyên sẽ không có khả năng nhớ lại giấc mơ. Để khắc phục vấn đề về tâm thần thông thường sẽ cần tăng cường uống vitamin B6 cho đến khi nhớ được giấc mơ như bình thường. Lượng này đôi khi có thể tới vài trăm milligrams/ ngày. Tuy nhiên, nếu cùng lúc thiếu kẽm, vitamin B6 có thể không làm việc và có thể gây ra vấn đề về thần kinh. Do đó, kẽm và mangan nên được thực hiện ở liều cao hơn sẽ tốt hơn. Thiếu kẽm có thể thấy những đốm hay đường kẻ trắng trên móng tay.
    Một vitamin chống trầm cảm khác là vitamin B12. Trong trường hợp bất kỳ thì tốt nhất vẫn là tiêm ban đầu và tiếp tục với thuốc ngậm dưới lưỡi (sublingual). Mức Vitamin B12 trong máu không tương quan với mức trong dịch lỏng trong nãol, nghĩa là có thể vẫn thiếu B12 trong não mặc dù mức serum B12 bình thường. Ngoài ra cũng thường thiếu folic acid và bổ sung folic acid khá hữu ích cho bệnh nhân ngoại trừ trường hợp người có histamine cao.
    Với người rối loạn TT, serum vanadium, một kim loại nặng hiếm, đôi khi bị nghi là gây ra các bệnh trầm cảm. Nó có thể được đưa ra khỏi cơ thể khi uống vitamin C liều cao. Trong khi ở người khỏe mạnh có thể mất 50% liều thử nghiệm là 100 mg vitamin C ở nước tiểu, thì một số người bị TTPL khó có thể mất ngay cả khi uống đến vài gram. Điều này cho thấy sự gia tăng nhu cầu vitamin C ở họ.
    Với trẻ em bị TT, chậm phát triển, vitamin B6, nicotinamide, ascorbic acid (vitamin C) và kẽm thường là những chất bổ sung quan trọng nhất, ngoài ra cần bổ sung cân bằng tất cả các sinh tố và lượng nhỏ chất khoáng.
    Có CHỈ ĐỊNH rằng những người tâm thần PL, đặc biệt là những người có histamine thấp, có cải thiện khi sử dụng omega-3, chế từ dầu cá và hạt lanh. Các loại dầu không sinh cholestron, mặt khác, và đặc biệt là các acid arachidonic trong thịt có ảnh hưởng tiêu cực. Cũng như vậy, những người bị Hưng- trầm cảm (rối loạn lưỡng cực) và những người chịu các căn bệnh tâm thần khác cũng hưởng lợi từ Omega 3. Với bổ sung omega-3, người có histamine thấp cần ít niacin, trong khi với những rối loạn khác cần ít vitamin B6.
    [/B]
    Vitamin học
    Các vitamin quan trọng nhất trong điều trị các bệnh tâm thần là niacin hay nicotinamide, axit folic và các vitamin B1, B6. B12 và C.
    Nicotinamide là được sử dụng trong orthomolecular (liệu pháp trực phân tử - megavitamin) ở quy mô lớn trong điều trị các bệnh tâm thần phân liệt. Tuy nhiên, bản thân nó có thể gây ra một số vấn đề ở liều rất cao ở những người dễ tổn thương, chẳng hạn như trầm cảm và rối loạn gan. Vì vậy, dạng axit , niacin hay nicotinic acid là thường được sử dụng mặc dù ban đầu nó có thể gây ra đỏ mặt. [ niacin là tên gọi chung cho acid nicotinic và acid nicotinamide - ND]
    Những ảnh hưởng có lợi của niacin được phát hiện từ 1952 bởi Osmond và Hoffer , những người đã nhận thấy sự tương tự giữa các triệu chứng ở căn bệnh pellagra với bệnh tâm thần phân liệt. Kể từ đó họ công bố hai nghiên cứu mù đôi với nhiều giấy tờ và báo cáo xác nhận các kết quả tích cực ban đầu của họ.
    Tuy nhiên, cũng có một số kết quả nghiên cứu với các kết quả tiêu cực và các bác sỹ chính thống nói chung vẫn chưa chọn dùng vitamin và đặc biệt là niacin trong điều trị các chứng bệnh thần kinh. Có một số lý do giải thích tại sao một số kết quả lại phủ định. Một số nghiên cứu đã dùng nicotinamide thay vì niacin; Hoffer và Osmond sử dụng thêm các liều ascorbic acid, axit folic và vitamin B12, còn các nghiên cứu phủ định trên lại không sử dụng. Cuối cùng, chỉ có khoảng 50% schizophrenics có histamine thấp trong máu cấp được hưởng lợi từ điều trị bằng niacin và không có khác biệt giữa ở những người schizophrenics có histamine cao và thấp trong hầu hết các nghiên cứu.
    Có mức quan trọng tương đương trong điều trị bệnh tâm thần là vitamin B6. Cùng với kẽm, vitamin B6 hay pyridoxine rất cần thiết cho các chuyển hóa và tổng hợp protein, bao gồm cả các chất dẫn truyền thần kinh cho não và thần kinh chức năng.
    Nghiên cứu lâm sàng cho thấy vitamin B6 có hiệu quả nhất trong trường hợp có các vấn đề về hành vi, trầm cảm và tâm thần PL với mức histamine bình thường trong máu. Pfeiffer trong các ấn phẩm đã đưa ra các dữ liệu nghiên cứu cho thấy rằng, một nhóm nhũng người tâm thần PL (schizophrenics) đặc trưng bởi mức B6 và kẽm bị mất một cách bất thường trong nước tiểu và rằng, các các bệnh nhân có thể phục hồi một cách nhanh chóng với liều cao vitamin B6 và kẽm.
    Cải thiện theo Pfeiffer có thể nhận thấy trong vòng một tuần và phục hồi dự kiến trong 3 - 4 tháng. Các bệnh nhân đầu tiên được điều trị theo cách này vào năm 1971. Các bệnh nhân mới khi đến Trung tâm Brain Bio Centre (không dùng bổ sung) có mức thiếu vitamin B6 là 51%, trong khi những người đã được bổ sung vitamin B6 vẫn bị thiếu có tỷ lệ 21%.
    Các điều tra khác thấy rằng 75% bệnh nhân trầm cảm đã bổ sung không đủ vitamin B6, trong khi một báo cáo khác thấy rằng, vitamin B6 thiếu trong 57% bệnh nhân trầm cảm và 25% bệnh nhân mắc chứng ám ảnh (obsessive-compulsive). Thường xuyên thiếu hụt vitamin B6 cũng đã thấy ở những người mắc bệnh mất trí, chẳng hạn như bệnh nhân Alzheimer cũng như trẻ em bị bệnh tự kỷ. Phản ứng não ở trẻ em tự kỳ có thể cải thiện gần như trẻ em bình thường và ½ số trẻ em ở môt nghiên cứu cho thấy cải thiện rõ rệt
    Một nhóm các bệnh nhân bị bệnh agoraphobic (chứng bệnh sợ khoảng rộng) đã được phát hiện là thiếu nhiều sinh tố B, kể cả B1, B6, B12, niacin và acid folic (B9). Sau 3 tháng, 19 trong 23 bệnh nhân đã cải thiện mạnh với hầu hết không bị lên cơn hoảng loạn.
    Khi đối tượng bình thường được ăn chế độ thiếu vitamin B1 (trong một nghiên cứu thử nghiệm) 5 trong số 9 người có dấu hiệu trầm cảm và cáu kỉnh. Ngoài ra thiếu vitamin B2 cũng liên quan đến trầm cảm.
    Axit folic thường là vitamin dễ thiếu nhất. Nó làm việc chặt chẽ cùng với vitamin B12 trong quá trình tổng hợp máu, axit nucleic và trong các chức năng thần kinh và não. Thiếu axit folic đi kèm với các chứng lẫn lộn, trầm cảm, mất trí, sự lãnh đạm và rối loạn tâm thần. Các triệu chứng tương tự như thiếu vitamin B12: nhầm lẫn, trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác, trí nhớ kém và mất khả năng học hỏi và tập trung.
    Một điều tra đã báo cáo tỷ lệ có 58% thiếu vitamin B12 trong 135 . trường hợp rối loạn tâm thần và hội chứng organic brain . Các báo cáo về thiếu acid folic ở bệnh nhân tâm thần trong khoảng từ 25 - 50%.
    Cả hai vitamin đặc biệt cần thiết ở những bệnh nhân tâm thần PL có histamine thấp. Những bệnh nhân đó chỉ có mức folate bằng một nửa so với nhóm schizophrenics có mức histamine bình thường. Axit folic, vitamin B12 làm việc cùng với niacin nhau để tạo sự bình thường hóa histamine trong máu và điều này, đến lượt nó cải thiện các triệu chứng tâm thần trong vòng 5 - 6 tháng.
    Vitamin B12 và acid folic cũng thiếu ở mức cao ở các bệnh nhân bị mất trí và bổ sung các vitamine này cho thấy nhiều cải thiện. Thiếu acid folic cũng đã được quan sát ở những trẻ em chậm phát triển tâm thần.
    Axit folic, vitamin B12 và C đã được báo cáo là những sinh tố quan trọng nhất trong các rối loạn lưỡng cực (Hưng – trầm cảm, hay Mania - despression). Một trong những trường hợp mania được báo cáo, là đã được chữa khỏi chỉ bằng điều chỉnh mức thiếu vitamin B12 và hiện tại thậm chí không còn dấu hiệu của sự thiếu máu nguy hiểm nữa
    Trong một số nghiên cứu về bệnh nhân tâm thần, người ta tìm thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng cả vitamin C. Những người bị stress cần nhiều vitamin C hơn những người bình thường, lượngc vitamin C ở tuyến thượng thận bị giảm khi họ bị stress.
    Dường như các trường hợp, tâm thần đều trải qua stress của cơ thể. Mức Vitamin C thấp ở hầu hết các bệnh nhân tâm thần, ngay cả khi họ đã ăn cùng một chế độ ăn uống như khi những trường hợp bình thường.
    Trong các trường hợp kiểm tra mức nạp vitamin C, các trường hợp kiểm soát bình thường chỉ 1- 2 ngày để có mức vitamin C bão hòa, còn bệnh nhân tâm thần thường cần tới 6 ngày, và thậm chí nhiều hơn để đạt được mức bão hào, tương tự như bệnh nhân mắc bệnh scorbutic, cần tới 7 - 10 ngày. Bệnh nhân bị trầm cảm mất trí cũng bị thiếu như những người tâm thần phân liệt. Sau khi bão hòa vitamin C, những người bị trầm cảm, Manic và ảo giác cải thiện đáng kể. Các bệnh nhân thường được cảm thấy khỏe hơn và trở nên xã hội hơn đáng kể. Trong một nghiên cứu mù đôi với bệnh Manic-depressives một cải thiện đáng kể sau 3 - 5 giờ uống một liều duy nhất 3 g vitamin C.
    Chất khoáng
    Các khoáng chất chủ yếu hay thiếu ở các bệnh tâm thần là kẽm; với bệnh tâm thần phân liệt là mangan, canxi, magiê, phospho, kali và kẽm với các rối loạn tâm thần thực thể; còn những người trầm cảm là sắt và canxi, magiê, kali và kẽm. Sự tăng quá mức các kim loại có hại như đồng đi kèm với một số hình thức của bệnh tâm thần phân liệt, đồng, chì và thủy ngân hữu cơ với các rối loạn tâm thần, nhôm với mất trí và vanadium với trầm cảm.
    Kẽm có lẽ là chất khóang quan trọng nhất với bệnh rối loạn tâm thần nói chung. Trên 90 enzymes cần có kẽm và hoạt động của não phụ thuộc vào mức độ phù hợp của kẽm. Thiếu kẽm có thể gây quên, sự thờ ơ lãnh đạm, trầm cảm, cáu kỉnh, chậm phát triển tâm thần và hoang tưởng.
    Một nghiên cứu đã tìm thấy lượng kẽm giảm 30% ở não trong thời ky đầu mắc bệnh tâm thần so với những người bình thường. Trong một nghiên cứu mổ xác thực hiện trên người mắc bệnh Tâm thần PL, não của họ chỉ có lượng kẽm bằng một nửa lượng ở người bình thường. Một phần của não, được gọi là hippocampus, cạnh tuyến hình qủa thông có lượng kẽm nhiều nhất trong não. Các hippocampus này liên quan đến sự tích hợp các suy nghĩ, kỷ niệm và cảm xúc
    Các ảnh hưởng quan trọng của việc thiếu kẽm là sự tăng mức đồng, có thể gây kích thích não, và cũng là một chất chặn sự chuyển hóa các acid béo thiết yếu, thường gây nên sự rối loạn với các bệnh rối loạn tâm thần.
    Pfeiffer và các đồng nghiệp cung cấp các sự kiện lịch sử về vai trò quan trọng của kẽm trong điều trị của một nhóm nhỏ những bệnh nhân TTPL (schizophrenic), bị mắc căn bệnh gọi là pyrolurics. Một trong những trường hợp mất chức năng não và dẫn đến các vấn đề hành vi nghiêm trọng được mô tả, trong đó chỉ riêng kẽm cũng có thể bình thường hóa được. Mặc dù nói chung thì kẽm cùng với vitamin B6 và các chất bổ sung khác mới cho điều trị hiệu quả.
    Thời gian phổ biến nhất phát triển bệnh tâm thần phân liệt và rối loạn cảm xúc là thời kỳ dậy thì, khoảng thời gian đó cũng được đặn trưng bởi yêu cầu kẽm cao bất thường của cơ thể. Điều này một phần là do sự gia tăng căng thẳng và rất nhiều hoạt động chuyển hóa trong thời gian này, chủ yếu liên quan đến sự phát triển và hoạt động ********.
    Có một yêu cầu kẽm cao trong quá trình phát triển của cơ quan ********, đặc biệt là nam giới và cũng như thể đối với các cơ quan sản ********* trùng. Ở nữ, mức kẽm giảm khi oestrogen tăng và cũng có thể tăng lên một tuần trước thời kỳ kinh nguỵệt khi phụ nữ có nhhiều khả năng bị trầm cảm. Một dấu hiệu của sự thường xuyên thiếu kẽm là các đốm hay dải trắng trên móng tay.
    Mangan là một yếu tố quan trọng trong hoạt động chuyển hóa của cơ thể và đối với sử dụng vitamin C, B1, biotin cũng như choline. Đã có nhữung một báo cáo về lợi ích của bổ sung mangan cho người bị tâm thần phân liệt. 38 bệnh nhân tâm thần đã được điều trị bằng mangan và 22 cho thấy tinh thần và thể lực được cải thiện. Trong một báo cáo khác 37% bệnh nhân nằm viện bị tâm thần phân liệt được điều trị mangan được ra viện trong 1 năm, so với 18% kiểm soát.
    .Một tác dụng quan trọng của bổ sung mangan là có thể giảm được mức đồng. Pfeiffer đã thấy mangan làm tăng bài tiết lượng đồng gấp 3 lần ở những bệnh nhân có đồng quá tải và mức histamine thấp. Đồng sẽ giảm được nhiều hơn nếu được bổ sung mangan gia tăng cùng với kẽm. Mức mangan trong tóc ở người schizophrenics thấp so với người bình thường
    Canxi đã được tìm thấy là có thể hữu ích cho người sau mãn kinh và trầm cảm sau sinh, cũng như ở người cao tuổi, trong khi sắt chủ yếu đi kèm với các phụ nữ trước mãn kinh. Mức thấp cũng có thể gây ra một hội chứng lo lắng , chủ yếu ở nữ sau khi mãn kinh.
    Lượng magiê trong dịch não-tủy sống của bệnh nhân tâm thần phân liệt hoặc trầm cảm ở người lớn có ý nghĩ tự tử - thấp hơn đáng kể so với não của người kiểm soát được. Magiê thấp cũng làm tăng lo lắng và cáu kỉnh.
    Những người trầm cảm có mức kali giảm bên trong các tế bào và những người có ý định tử tử cũng đã có độ thấp kali trong não. Những tác động này Tuy nhiên, tránh sử dụng muối và một chế độ ăn uống kali cao sẽ mang lại lợi ích.
    (Còn nữa)

Chia sẻ trang này