1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Các bác cho em hỏi về lịch sử Việt Nam và một chút thần thoại TQ vơi

Chủ đề trong 'Hỏi gì đáp nấy' bởi antigod, 14/10/2011.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. dangiaothong

    dangiaothong Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    10/09/2005
    Bài viết:
    4.854
    Đã được thích:
    7
    Truyện nào mà có ông Đùng bà Đùng cũng tương tự truyện này chứ?
  2. ngogialinh

    ngogialinh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/05/2007
    Bài viết:
    1.113
    Đã được thích:
    8
    Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4 /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-priority:99; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin-top:0in; mso-para-margin-right:0in; mso-para-margin-bottom:10.0pt; mso-para-margin-left:0in; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:"Calibri","sans-serif"; mso-ascii-font-family:Calibri; mso-ascii-theme-font:minor-latin; mso-fareast-font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-theme-font:minor-fareast; mso-hansi-font-family:Calibri; mso-hansi-theme-font:minor-latin;} [FONT=&quot]CHUYỆN ÔNG ĐÙNG BÀ ĐÀ

    Miền Bắc Việt Nam ngày nay còn có nghi lễ “Phồn Thực” được mọi người nhắc nhở và tỏ lòng sùng kính, đó là cặp vợ chồng “ÔNG ĐÙNG, BÀ ĐÀ” giữa người Mường và người Việt.

    Chuyện kể về công trạng to lớn của Ông Đùng từng ngăn sông, chống hạn, từng bắt thú dữ để trước là trừ khử loài dã thú khiến cho tính mạng người dân bị lâm nguy, sau là để lấy thịt ban bố cho toàn dân có thực phẩm ăn uống hàng ngày. Chẳng những Ông Đùng đánh giết giống thú ở trong rừng sâu núi thẳm, mà còn diệt trừ các loài ác điểu hầu tránh điều cho các đứa bé thơ khỏi phải bị các loại chim dữ nhiễu hại.

    Theo thần thoại: “ÔNG ĐÙNG” là người vạm vỡ to lớn khác thường, có thể nói Ông là một người khổng lồ xuất hiện tại xã Lạc Sơn, huyện Kim Bôi thuộc tỉnh Hòa Bình. Ông Đùng từ trên trời sa xuống, đi lang thang khắp nơi tại miền núi rừng Bắc Việt Nam thì bất thần gặp được BÀ ĐÀ. Thể xác của Bà Đà tuy không sánh bằng ông Đùng, song tương đối cũng cân xứng. Hai đàng gặp nhau rồi yêu nhau, cuối cùng kết nghĩa vợ chồng. Đêm hợp cẩn đưa nhau vào hang và xem đó là phòng hoa chúc. Cuộc “Động Phòng” của họ khiến cho rung chuyển cả hang động, lan ra bên ngoài và càng lúc càng mạnh hơn lên, khiến cho đất trời sập tối, sinh ra bão táp, mưa sa...có điều nước chảy ra từ phòng hoa chúc của Ông Đùng còn xấp cả bao nhiêu lần hơn nước trời đổ xuống. Nước trời do mưa sa trút xuống thì chảy ra bể cả, còn nước hang động phòng của Ông Đùng thì tưới tràn ngập cả cánh đồng Mường VangMường Vó...

    Lạ lùng thay, bắt đầu từ đêm có chuyện “động phòng” tại hang ông Đùng chảy ra như vậy thì cánh đồng lúa tốt tươi ngoài sức mong ước của mọi người! Mùa màng bội thu và cứ thế mà tăng trưởng mãi mãi không ngừng. Nhờ vậy mà từ đó nhân dân Mường Vang, Mường Vó được ấm no, gia đình nào cũng vui tươi hạnh phúc...Tục ngữ có câu: “Cơm Mường Vó, Ló Mường Vang” được truyền tụng trong dân gian. “Ló” đây là tiếng của Mường, tức là “Lúa”. Lúc bấy giờ chưa có tục tổ chức lễ hàng năm, nên hễ năm nào gặp cơn hạn hán, đến nỗi đồng khô ao cạn thì nhân dân trong Vùng lại cùng nhau tổ chức lễ cầu đảo lớn lao với đầy đủ các nghi lễ để kêu nước trở về đồng, gọi là “Vết Ăng”.

    Hình thức rước lễ gồm có: “Một chiếc kiệu trên đặt một lư hương thắp lên nghi ngút, khói tỏa tư bề. Kiệu này được bốn người khiên trên vai, ăn vận theo kiểu lính triều đình ngày xưa như đầu đội nón gụ, áo kẹp nẹp màu đỏ, quần trắng, chân đất, nhịp nhàng bước theo nhịp của tiếng nhạc. Nhạc cụ của thời xưa gồm kèn dài, đờn cò, chụp chõa cùng đại tiểu cỗ, lại có cả luôn sên phách, vang dậy cùng khắp, khiến cho cuộc rước lễ trở nên từng bừng náo nhiệt lại nghiêm trang, ấm cúng... Lại có một tấm dài vải trắng lối mười thước Tây do hai hàng phụ nữ cầm trải dài ra. Hình thức có tấm vải trắng trải dài như vậy là biểu trưng cho dòng nước từ trong “Hang Đùng” chảy ra đồng ruộng (ngầm ý bảo đó là nước giao hợp của Ông Bà Đùng Đà làm cho xanh tươi ruộng lúa). Đó là hình ảnh rước lễ của người Mường.

    Còn người Việt thì thường từ Mồng 6 đến Mồng 10 tháng Ba Âm lịch, Ông Đùng, Bà Đà được thờ tại Đông An, huyện Châu Giang thuộc tỉnh Hải Hưng - nơi đây có thờ tượng của ông bà bằng tượng đá. Dân làng, trước ngày mở hội lớn làm lại hai hình nhân của hai ông bà Đùng, Đà bằng giấy tượng trưng cho hai đại nhân vật này. Đến khi đêm mồng 9 thì người chủ tế lây hai hình tượng tiêu biểu cho Ông Đùng và Bà Đà nhét vào nhau (xin hiểu theo nghĩa ngầm) rồi mang bằm ra thành từng mảnh nhỏ đem vứt xuống ao và vải ra ngoài ruộng, họ cho rằng làm cung cách như vậy thì ao sẽ đầy cả cá, ruộng sẽ trĩu nặng cả hạt lúa hầu cung cấp cho toàn dân được tràn trề ấm no và muôn vàn hạnh phúc.

    Tưởng cũng nên biết các lễ phồn thực của dân tộc miền thượng du như lễ Vết Ăng của người Mường xã Nhân Nghĩa, huyện Lạc Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình với ngầm ý là họ cầu xin cho Ông Bà luôn động phòng hoa chúc với nhau ngỏ hầu phát ra dòng nước để tưới lên những cánh đồng lúa cho được thêm bề tươi tốt.

    Không phải chỉ các sắc dân Việt ta mới có lễ phồn thực liên quan đến việc thờ “sinh thực khí”, mà luôn cả các quốc gia trong Đông Nam Á cũng có những buổi lễ tương tợ kể cả hình thức lẫn nội dung cùng ý nghĩa chẳng khác gì với lễ phồn thực của đồng bào Mường và Ta trên vùng Mạn Ngược!

    [/FONT]
    [FONT=&quot]
    [/FONT]
  3. bhavaghita

    bhavaghita Thành viên mới Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    07/09/2010
    Bài viết:
    3.577
    Đã được thích:
    2
    thờ sinh thực khí là sa man giáo nguyên thuỷ xuất hiện rất nhiều vùng trên trái đất chứ không riêng gì Đông nam Á. Người Ấn Độ cũng thờ các Linga và các Yoni, người Hy Lạp trước kia cũng có các lẽ hội mà ở đó trai gái được tự do quan hệ nhằm giúp cho mùa màng tươi tốt, có một số nử thần tượng trưng cho tính dục và câu chuyện cổ xưa nhất của hần thoại Hy Lạp chính là thần thời gian Cronos cắt đứt ********* của Uranos để cho trời đất tách rời nhau ra.
  4. bhp46171

    bhp46171 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    25/04/2006
    Bài viết:
    1.830
    Đã được thích:
    0

    có quôc ấn, đến bảo tàng lịch sử mà xem nhá :D
  5. larry145

    larry145 Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    13/05/2006
    Bài viết:
    4.744
    Đã được thích:
    1
    Cho em hỏi Phật Tổ Như Lai tức Phật Thích Ca sau khi nhập diệt thì ngài ở thế giới nào ? Kết cấu của thế giới đó ntn ? Những thứ đó là do người đời sau phịa ra hay có trong các kinh sách Phật Giáo
  6. bhavaghita

    bhavaghita Thành viên mới Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    07/09/2010
    Bài viết:
    3.577
    Đã được thích:
    2
    ai ở diễn đàn này vào trả lời giúp bạn Larry đi.
  7. RicksCafe

    RicksCafe Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    07/06/2007
    Bài viết:
    951
    Đã được thích:
    107
    Theo quan niệm của đạo Phật thì mỗi con người chúng ta đều có chịu sự chi phối của Nghiệp. Nghĩa là sau khi chết thì có luân hồi,đầu thai, kiếp này kiếp khác... Còn những người tu hành đắc đạo thì sau khi " Nhập diệt" ( chết) thì các ngài lên Niết Bàn.

    Niết Bàn không phải là một thế giới gồm toàn các thần linh hay một nơi cụ thể nào đó. [-X. Hiểu nôm na là :" Một trạng thái giải thoát hoàn toàn khổ đau của cuộc sống" , không có sinh, tử, đầu thai luân hồi. Thoát khỏi sự chi phối do Nghiệp tạo ra.


    Mở rộng về Niết Bàn:
    Trong hầu hết mọi tôn giáo, sự toàn thiện chỉ có thể đạt đến sau khi chết. Nhưng Niết Bàn có thể thực hiện ngay trong cõi đời này, không cần phải đợi đến lúc chết để "đạt đến" nó.
    Người đã chứng ngộ Chân lý, Niết Bàn, là người hạnh phúc nhất trần gian. Người ấy giải thoát khỏi mọi "mặc cảm" và ám ảnh, mọi phiền não và lo âu làm cho những người khác điêu đứng. Sức khoẻ tinh thần của người ấy hoàn toàn. Họ không hối tiếc quá khứ, cũng không mơ mộng về tương lai. Họ sống hoàn toàn trong hiện tại (27). Bởi thế họ thưởng thức và vui hưởng sự vật một cách thuần túy, không có dự phóng. Họ vui vẻ, hoan hỉ, thưởng thức sự sống thuần khiết, các giác quan đều khinh an, không còn lo lắng, bình an và thanh thoát (28). Vì họ giải thoát dục vọng, ích kỷ, hận thù, vô minh, kiêu căng, ngã mạn và tất cả mọi thứ "bất tịnh" xấu xa ấy. Họ trong sạch, từ hòa, đầy lòng thương bao quát, từ bi, tử tế, thiện cảm, thông cảm và khoan dung. Họ phục vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất, vì không còn nghĩ về mình. Họ không kiếm chác gì, tích chứa gì, ngay cả những gì thuộc tâm linh, bởi vì họ đã thoát khỏi ảo tưởng về ngã, và lòng khao khát "trở thành."


    Niết Bàn vượt khỏi mọi ý niệm về nhị nguyên và tương đối. Bởi thế nó vượt ra ngoài những khái niệm của ta về thiện ác, phải trái, có không. Ngay cả danh từ "hạnh phúc" (sukha) dùng để tả Niết Bàn ở đây cũng có một ý nghĩa hoàn toàn khác biệt. Một hôm Xá Lợi Phất bảo: "Ồ bạn, Niết Bàn là hạnh phúc! Niết Bàn là hạnh phúc!" Khi ấy Udàyi liền hỏi: "Nhưng này bạn Sàriputta, hạnh phúc nào có thể có, khi không có cảm giác?" Câu trả lời của ngài Xá Lợi Phất vô cùng triết lý và vượt khỏi tầm hiểu biết thông thường: "Chính sự không có cảm giác ấy mới là hạnh phúc."


    (ST)



Chia sẻ trang này