1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Cuộc xung đột Israel-Palestine.

Chủ đề trong 'Lịch sử Văn hoá' bởi ChimEnMuaDong, 20/11/2013.

  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
  1. ChimEnMuaDong

    ChimEnMuaDong Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    08/11/2012
    Bài viết:
    278
    Đã được thích:
    53
    " Chính nhờ ý thức quốc gia-dân tộc mạnh mẽ và sâu xa đó, cộng với sự đoàn kết xây dựng trên nền tảng huyết hệ và tôn giáo bản xứ đồng nhất – Judaism – mà người Do Thái đã giữ được tinh thần độc lập của mình "


    Trích từ
    thaibatan.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1221&Itemid=53

    Cuộc xung đột Israel-Palestine

    18/02/2012

    Cuộc xung đột Israel-Palestine đã và đang diễn hơn 60 năm rồi, đã có vô số sách báo, tài liệu viết về nó. Tuy nhiên do sự không cân bằng trong việc phổ biến và giải thích tin tức của giới truyền thông, vẫn có không ít những ngộ nhận đây đó trong dư luận về tính chất của cuộc xung đột cũng như lập trường của các bên liên quan; đặc biệt là về mối quan hệ Mỹ-Israel và ảnh hưởng của người Mỹ gốc Do Thái lên các chính sách của Mỹ quanh cuộc xung đột. Bài viết vắn tắt này là một nỗ lực khiêm tốn nhằm góp phần tim hiểu thêm về mối quan hệ và ảnh hưởng đó.

    Sơ lược lịch sử Israel-Palestine

    ác thư tịch khảo cổ cho thấy rằng tổ tiên người Do Thái (Hebrews, Jews, hay Israelis) đã hiện diện trên vùng đất có tên là Canaan (gồm Israel, West Bank và một phần Jordan ngày nay) từ khoảng 1800 năm trước Công Nguyên (BC). Cực thịnh là vương quốc Do Thái (Israelite kingdom) dưới thời vua David khoảng 1000 năm trước CN với Jerusalem là thủ đô.

    Nhưng rồi sau đó, vương quốc Do Thái lần lượt bị các đế quốc Assyrians (720 BC), Babylonians (khoảng năm 580 BC), Ba-Tư và Hy-Lạp (khoảng năm 320 BC) xâm chiếm. Nhiều người Do Thái bị lưu đày ra khỏi vùng đất Canaan.

    Đến khoảng năm 200BC, người Do Thái lại phục hồi được vương quốc quanh vùng Palestine ngày nay với Jerusalem làm thủ phủ. Sự tự trị này chấm dứt năm 61BC khi đế quốc Roma đến xâm chiếm, trục xuất người Do Thái ra khỏi Jerusalem. Đế quốc Roma cai trị vùng này cho đến khoảng năm 320 sau Công Nguyên (320 AD). Chính dưới thời cai trị của Roma mà tên Palestine ra đời. Sau đế quốc Roman, đến lượt đế quốc Byzantine của Syrian chiếm cứ và cai trị vùng Palestine cho đến khi bị Hồi Giáo đánh đuổi.

    Qua thế kỷ thứ 7AD thì các đế quốc Hồi Giáo bắt đầu làm chủ phần lớn Trung Đông và các bán đảo Arabs, trong đó có cả vùng Palestine. Trong hàng chục thế kỷ tiếp theo, Hồi Giáo và Thập Tự Quân (Crusaders) thay nhau làm chủ khu vực. Jerusalem trở thành vừa là thánh địa của Do Thái Giáo (Judaism), Ky-tô Giáo, và cả của Hồi Giáo (Islam).

    Đế quốc Ottoman của người Thổ Nhĩ Kỳ chinh phục toàn bộ Trung Đông năm 1517 và tồn tại cho đến khi Đệ Nhất Thế Chiến kết thúc năm 1918.

    Như vậy, kể từ năm 61AD trở đi vương quốc Do Thái đã biến mất trên bản đồ Trung Đông, dân Do Thái lưu tán ra khắp nơi, và không còn là cư dân chính của vùng Palestine trong hàng ngàn năm. Đến cuối thời đế quốc Ottoman, năm 1918, số lượng người Jews sinh sống ở vùng Palestine còn lại rất ít, chừng khoảng 30,000 trên tổng số gần 500,000 dân cư.

    Người Palestinians xuất hiện cùng thời với người DoThái, nhưng ở dọc theo duyên hải giữa Địa Trung Hải và vùng sông Jordan. Thời xưa họ còn được gọi là người Philistine, không thờ cùng God với người Do Thái, nhưng thờ các thần khác. Người Palestinians là một trong những chiến sĩ đầu tiên biết xử dụng binh khí bằng sắt trong những cuộc chiến chống lại King David của người Do Thái. Thời La Mã cai trị, Kitô giáo được truyền bá rộng rãi và có nhiều người Palestinians theo. Sau đó, dưới sự cai trị của đế quốc Ottoman, Hồi Giáo lại là tôn giáo chính của đa số người Palestinians.

    Đệ I Thế Chiến bùng nổ, Thổ đứng về phe Tam cường Liên Minh Đức-Áo-Thổ (Triple Alliances) chống lại phe Tam Cường Đồng Minh Anh-Pháp-Nga (Triple Entente). Anh Quốc rất quan tâm đến vùng Trung Đông, xem đó là vùng chiến lược vì là nguồn dầu hỏa, là đầu cầu dẫn vào Ấn Độ, thuộc địa quan trọng và béo bở nhất của đế quốc Anh, và kênh đào Suez. Để củng cố lực lượng của mình trong vùng, Anh Quốc bèn hứa với dân Arabs là sẽ giúp họ thoát khỏi sự cai trị của đế quốc Ottoman của Thổ để được độc lập một khi chiến tranh kết thúc. Một mặt khác Anh Quốc, do nỗ lực vận động của Zionist Organization, một tổ chức của người Jews (DoThái) có khuynh hướng bài Nga thân Đức, cũng hứa với người Jews, qua tuyên bố Balfour (Balfour Declaration) năm 1917, sẽ giúp họ thành lập một quốc gia trên vùng Palestine. [1]

    Khi Đệ I Thế Chiến kết thúc, Anh quốc không giữ lời hứa trao trả độc lập cho người Arabs. Trái lại, Anh-Pháp trước đó đã ký mật ước Sykes-Picot (George Picot, phiá Pháp và Mark Sykes, phía Anh) chia phần với nhau, theo đó Pháp kiểm soát một phần Turkey, Syria, Bắc Iraq, và Lebanon; trong khi Anh cai quản Nam Iraq, Jordan và vùng phía Bắc Israel ngày nay. Ngoài ra, trên danh nghĩa, Anh được Hội Quốc Liên (League of Nations) trao quyền Uỷ trị (mandate) vùng Palestine. Kể từ đó người Jews (Do thái) từ các nơi trên thế giới, với sự che chở của Anh quốc, bắt đầu về định cư ở vùng Palestine. Ngay ở giai đoạn này, sự định cư của người Do Thái đã gây ra nhiều sự chống đối từ người Palestinians là dân cư ngụ ở đó từ lâu đời. Năm 1922 khi người Anh làm thống kê dân số vùng Palestine thì có khoảng 84,000 người Do Thái, chừng 670,000 người Palestinians trong đó có hơn 70,000 người theo Kitô Giáo.

    Năm 1947, Liên Hiệp Quốc tùy tiện phân chia vùng Palestine, trao cho người Do Thái hơn một nửa lãnh thổ Palestine để lập quốc; chừa lại hai vùng West Bank, nằm gần sông Jordan và Gaza, nằm dọc biển Địa Trung Hải, cho người Palestinians. Hai vùng West Bank và Gaza nằm hai bên lãnh thổ của Israel, cách nhau chừng hơn 40km.

    Quan hệ Israel-Mỹ

    Có thể nói ngay rằng quan hệ Israel-Mỹ là một quan hệ song phương đặc biệt có một không hai trong chính trường quốc tế trong hơn nửa thế kỷ qua. Israel là quốc gia nhận nhiều viện trợ kinh tế quân sư nhất từ Mỹ.Trung bình mỗi năm Mỹ viện trợ trực tiếp cho Israel chừng 3 tỉ dollars, với dân số chỉ hơn 6 triệu người, mức viện trợ như vậy tính ra mỗi người dân Israel được hưởng gần 500 dollars/năm! Theo Green Book của USAID (US Agency for International Development) thì tính cho đến năm 2003, Mỹ đã viện trợ tổng cộng lên đến 140 tỉ dollars cho Israel [2]
    Đặc biệt hơn nữa là trong khi các quốc gia khác nhận viện trợ theo từng tam cá nguyệt, Israel được nhận trọn gói ngay từ đầu năm. Về viện trợ quân sự, các quốc gia nhận viện trợ chỉ được phép xử dụng tiền viện trợ ngay trên đất Mỹ; nghĩa là phải mua lại quân trang, quân dụng, vũ khí từ các công ty Mỹ. Trong khi đó Israel lại được quyền xử dụng 25% tài khoản viện trợ quân sự để tài trợ cho kỹ nghệ quốc phòng của riêng mình, đồng thời không cần báo cáo cho phía Mỹ cách thức chi tiêu ngân khoản viện trợ quân sự Israel đã nhận. Mỹ cũng ưu tiên tài trợ cho Israel trong việc chế tạo các loại vũ khí tối tân, được tham khảo bản vẽ các loại vũ khí mới, như bản vẽ phi cơ trực thăng Blackhawk hoặc phản lực cơ F16 chẳng hạn. Nổi bật nhất là Mỹ đã làm ngơ cho Israel nghiên cứu và chế tạo thành công bom nguyên tử [3], đã tìm cách ngăn cản không cho khối Arabs đưa vấn đề nguyên tử của Israel ra trước Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (International Atomic Energy Agency).

    Về mặt ngoại giao, tính đến nay, Mỹ đã dùng quyền phủ quyết (veto) 40 lần tại Hội Đồng Bảo An LHQ để bảo vệ cho Israel trước những nghị quyết bất lợi của Hội Đồng này [4]. Mỹ cũng luôn đứng về phiá Israel trong tất cả các cuộc xung đột từ trước đến nay giữa nước này và các quốc gia Arab và dân Palestine. Mỹ cũng ngay cả ủng hộ Israel trong việc chiếm đóng, một cách bất công và trái phép, West Bank và Gaza strip, của người Palestien trong cuộc chiến 6 ngày năm 1967.

    Lý do công khai của việc Mỹ ủng hộ Israel

    Một cách chính thức, các giới chức và dư luận báo chí Mỹ thường đưa ra các lý do sau đây để giải thích cho mối quan hệ đặc biệt Mỹ-Israel:

    1 - Israel là Đồng minh Chiến lược: Đây là lý do đầu tiên được chính giới Mỹ viện dẫn nhiều lần, nhất là các nghị sĩ, dân biểu trong Quốc Hội. Trong suốt thời Chiến Tranh Lạnh, Israel là một đồng minh quan trọng trong việc ngăn chận sự lan tràn ảnh hưởng của Liên Sô vào Trung Đông. Trong cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967, Israel với sự viện trợ của Mỹ đã chiến thắng Egypt và Syria do Liên Sô hậu thuẫn. Cuộc chiến này là một nỗi nhục nhã cho các nước Arabs, đồng thời làm sút giảm uy tín của Liên Sô trong vùng.

    Israel cũng là một nguồn tình báo quan trọng cho Mỹ trong việc theo dõi các hoạt động quân sự của Liên Sô.

    Uỷ ban American-Israel Publich Affair Committee (AIPAC) đã từng cho rằng:” Mỹ và Israel đã hình thành một sự hợp tác đặc thù để đáp ứng với những đe dọa chiến lược đang gia tăng ở Trung Đông… Nỗ lực hợp tác này mang lại những lợi ích quan trọng cho cả hai bên “ (The US and Israel have formed a unique partnership to meet the growing strategic threats in Middle East… This cooperative effort provides significant benefits for both US and Israel)[5] Điều đó ám chỉ về vai trò vị trí tiền tiêu của Israel trong thế chiến lược của Mỹ ở Trung Đông giữa khối dân Arabs đông đảo.

    2 – Ủng hộ một nước nhỏ bị bao vây giữa các nước lớn ở chung quanh, một dân tộc đã bị bách hại nặng nề trong Đệ Nhị Thế Chiến dưới chế độ Đức Quốc Xã. Dư luận Mỹ luôn đem so sánh mối tương quan Israel-Arabs với thế đối địch bất cân xứng giữa chàng tí hon Davis và người khổng lồ Goliath trong Cựu Ước Kinh. Cuộc tàn sát, có tên là Holocaust, theo đó chế độ Hitler được báo cáo là đã giết 6 triệu người Jews, đã được các học giả Mỹ xử dụng như là nền tảng đạo đức của việc phục hồi và bảo vệ nước Israel cho người Do Thái.

    (Một chi tiết nhỏ cần lưu ý là ở Mỹ và các nước Âu Châu, một người có thể công khai tuyên bố tại nơi công cộng là: “không có Chúa, hay Thượng Đế!” mà không gặp bất cứ một rắc rối pháp lý nào cả. Nhưng nếu tuyên bố rằng: “không hề có Holocaust!” là chắc chắn sẽ bị phiền phức, phải ra toà và không chừng còn bị tù. Không hiểu tại sao như vậy?)

    3 – Ủng hộ một chế độ Dân chủ: Một lý do chính trị khác trong việc Mỹ hậu thuẫn cho Israel là vì dư luận Mỹ cho rằng Israel là chế độ dân chủ tiến bộ, mẫu mực nhất ở Trung Đông, cần phải bảo vệ cho chế độ ấy tồn tại giữa sự bao vây của các chế độ chuyên chế trong vùng.

    4 - Người Jews là một dân tộc hiếu hoà, thông minh, có một lịch sử lâu đời. Do Thái Giáo có mối quan hệ rất gần gũi với các tôn giáo lớn của Tây Phương như Công Giáo, Tin Lành, v.v… Trong khi đó dưới mắt dư luận Mỹ, các dân tộc Arabs thường hiếu chiến, bạo động, có khuynh hướng khủng bố, kém ý thức dân chủ, và nhất là theo Hồi Giáo; một tôn giáo có một lịch sử lâu dài đối địch với Ki-tô Giáo.

    Trên đây là những lý do mà chính khách, học giới và truyền thông Mỹ, từ suốt mấy chục năm qua, thường dùng để công khai biện minh cho mối quan hệ hữu nghị có một không hai Mỹ-Israel. Tuy nhiên, phân tích kỹ, người ta không khỏi không thấy những điểm gượng gạo trong các lý do trên.

    Chẳng hạn, vai trò đồng minh chiến lược có thể ít nhiều có giá trị trước đây khi khối Cộng Sản Liên Sô còn tồn tại. Nhưng, ngay ở điểm này cũng cần phải chú ý rằng Israel không phải là yếu tố duy nhất ngăn chận sự lan rộng ảnh hưởng của cộng sản trong Vùng; chính là vai trò văn hoá và tôn giáo của khối Ả rập đã làm cho chủ thuyết Marxist-Leninist không xâm nhập được. Hơn nữa, nay Chiến Tranh Lạnh đã kết thúc, khối Liên Sô đã sụp đổ gần hai thập niên rồi, không còn một đối thủ nào dòm ngó, uy hiếp ảnh hưởng của Mỹ ở Trung Đông nữa, vậy tại sao sự gắn bó Israel-Mỹ vẫn không thay đổi?

    Về chế độ Dân chủ ở Israel thì cũng có nhiều vấn đền chưa được giới truyền thông Mỹ phân tích sâu rộng và vô tư. Đối với nhiều người, nói đến Dân Chủ là nói đến sinh hoạt chính trị có hơn một đảng trở lên, có các cuộc phổ thông đầu phiếu để người công dân bầu lên người đại diện của mình.

    Tuy nhiên, một nền Dân chủ đúng nghĩa không chỉ dừng lại ở cơ cấu đảng phái và quyền đầu phiếu. Những đòi hỏi khác quan trọng không kém và là nền tảng cho sinh hoạt chính trị dân chủ là sự bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội, là những nhân quyền căn bản được tôn trọng. Nhiều báo cáo của các tổ chức quốc tế như Hội Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) hay Uỷ ban về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá của Liên Hiệp Quốc (UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights) cho thấy ở Israel không có sự bình đẳng xã hội. Những ai đã quen với xã hội hợp chủng ở Mỹ chắc sẽ rất ngạc nhiên và bất bình trước tính cách kỳ thị chủng tộc mạnh mẽ trong xã hội Israel[6]. Chỉ có người Jews chính gốc dựa trên nguyên tắc huyết hệ (the principle of blood kinship) mới thật sự là công dân Israel được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi và sự che chở của Nhà Nước. Ngay cả những người Arabs kết hôn với người Israeli cũng không được trở thành công dân Israel và cư trú ở đó. Người Arabs, hiện có đến chừng 1.3 triệu ở Israel, và các dân thiểu số khác ở Israel, chỉ là công dân hạng hai, không được hưởng những quyền sỡ hữu về đất đai ngang với những người Jews. Các thăm dò dư luận giữa dân Israel cho thấy có đến hơn 57% người Jews không chấp nhận sự bình đẳng với các sắc dân khác và chỉ muốn trục xuất tất cả người Arabs ra khỏi lãnh thổ Israel.

    Ngoài ra, một báo cáo của Thông Tín Viên Đặc Biệt của Liên Hiệp Quốc (UN Special Rapporteur) ghi ngày 25/8/2008 về tình hình nhân quyền của người Palestine ở trong những vùng Israel chiếm đóng từ cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967, cho thấy rằng chính phủ Israel đã có những vi phạm trầm trọng luật nhân quyền quốc tế đối với người Palestine trong vùng lãnh thổ chiếm đóng, nhất là ở vùng West Bank và Gaza. Cuộc chiếm đóng 40 năm của Israel đã tước đi hầu hết những dân quyền căn bản của người Palestine về pháp lý, giáo dục, y tế, kinh tế và văn hoá, gây những hậu quả xã hội nghiêm trọng và lâu dài cho người Palestine.[7]

    Những sự kiện trên đây cho thấy rằng dân Jews, hay Israeli, không là dân tộc hiếu hoà, như giới truyền thông Mỹ đã luôn quảng bá. Đúng là họ có một lịch sử lâu dài và rất thông minh, nhưng họ cũng rất hiếu chiến và không kém phần độc ác so với bất kỳ dân Arabs nào khác. Trong những ngày đầu mới thành hình, các tổ chức Zionists của người Jews cũng đã xử dụng sự khủng bố (terrorism) làm phương cách hoạt động để đạt các mục đích của mình, giết hại nhiều thường dân vô tội, hay ngay cả như ám sát Hoà Giải Viên của Liên Hiệp Quốc, kể cả Quận Công Folke Bernadotte năm 1948, chẳng hạn, chỉ vì ông này đề nghị Quốc tế hoá thành phố Jerusalem. Từ ngày lập quốc năm 1948, Israel đã gây ra nhiều cuộc chiến tranh, nhiều trăm ngàn người Palestine đã bị giết, hàng triệu người khác đã bị tước đoạt hết đất đai, sống tha phương trong các trại tị nạn, nhiều ngàn nhà thờ Hồi giáo trong Vùng đã bị phá huỷ.

    Ngoài ra, cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967, và sau này cuộc chiến tranh Yom Kippur (tên một ngày lễ của Israel) năm 1973 cho thấy rằng Israel đối với các nước Arabs không phải là một chàng Davis nhỏ nhắn trước một anh khổng lồ Golliah. Sự so sánh đó chỉ đúng trên phương diện dân số và diện tích đất đai lúc đầu vào năm 1948. Nhưng xét trên bình diện khả năng quân sự thì Israel không phải là một nước yếu nhược đứng trước các cường quốc. Trái lại, Israel là một cường quốc nguyên tử với kinh tế phát triển, hoả lực và vũ khí tối tân luôn luôn áp đảo các nước Arabs với vũ khí thô sơ và kinh tế kém phát triển. Điều này trái ngược với lý do thứ 2 nêu ở trên rằng Mỹ phải ủng hộ Israel vì nước này yếu đuối đứng trước sự đe doạ của khối Arabs đông đảo và ở thế mạnh.
    Tóm lại, những lý do thường được công khai viện dẫn cho các chính sách của Mỹ đối với Israel là không phù hợp với thực tế, không giải thích được một cách thỏa đáng câu hỏi căn bản về mối quan hệ đặc biệt của hai quốc gia. Trái lại những phân tích khách quan các sự kiện lịch sử cho thấy có hai khía cạnh khác, sâu xa và kín đáo hơn, ít được công luận biết đến, của mối quan hệ Mỹ-Israel, đó là:

    1- Mỹ muốn chế ngự Trung Đông và kho dầu lửa của nó, và để đạt mục đích đó, Mỹ đã xử dụng con bài Israel trong chiến lược cân bằng quyền lực từ xa (off-hand balance of powers); chiến lược này ít ra đã áp dụng được cho đến khi chiến tranh Iraq xảy ra năm 2003, khi Mỹ phải trực tiếp can thiệp.

    2 – Do tham vọng tái lập một nước Isreal Lớn , người Do Thái đã nỗ lực vận động hành lang (Jewish Lobby) để hướng dư luận và chính sách của Mỹ vào mục tiêu đó.

    Khống chế Trung Đông

    Động lực chính yếu khiến Mỹ luôn xem trọng và quyết tâm duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Israel, đó là độc tôn khống chế nguồn dầu lửa ở Trung Đông. Đó cũng là nền tảng trong chính sách của đế quốc Anh trong thập niên đầu của thế kỷ 20 đối với khối Arabs trong Vùng. Vì động cơ đó, Mỹ cần đến Israel như một căn cứ tiền tiêu trong việc chống lại các trào lưu quốc gia (nationalism) của các nước Arabs, gây xáo trộn, làm suy yếu và chia rẽ giữa các quốc gia này, kìm hãm đà phát triển kinh tế, ngăn cản họ đoàn kết chặt chẽ lại thành một khối trên căn bản tôn giáo chung, Muslim, để bảo vệ nguồn tài nguyên dầu hỏa, là máu của nền văn minh thế giới hiện đại. Sự hùng mạnh và đoàn kết của các nước Arabs theo chủ nghĩa quốc gia bị xem là mối đe doạ nghiêm trọng cho sự khống chế của Mỹ đối với chính tình và nguồn dầu lửa ở Trung Đông.

    Đệ nhị thế chiến đã làm cho Âu Châu, ở cả hai phe, suy sụp hoàn toàn. Vị thế bá chủ của đế quốc Anh cũng dần dà biến mất, nhường chỗ cho siêu cường đang lên là Mỹ. Cuộc chiến đã làm cho Anh quốc gần như phá sản, mắc một số nợ lớn; trong lúc Mỹ lại trở thành chủ nợ hầu như của tất cả các cường quốc của khối Đồng Minh. Anh đành phải nhường dần điạ vị của mình cho Mỹ. Cùng với việc phát hiện ra Arab Saudi và mối quan hệ đặc biệt giữa Tổng Thống Mỹ Roosevelt và vua Abdul Aziz Saud, Mỹ đã khống chế được một vựa dầu lớn. Trong số 7 công ty dầu hỏa lớn nhất thế giới từ trước đến nay, người ta còn gọi là “7 chị em” (seven sisters), thì Mỹ đã chiếm hết 5. Đó là Mobil, Exxon, Texaco, Chevron và Gulf Oil. Hai công ty kia là BP (British Petroleum) and Shell của Anh. Dầu hỏa, như vậy, mang dấu ấn rất nặng của văn minh Anglo-Saxon. Những công ty dầu hỏa này đôi lúc còn được gọi là Big Oils, kiểm soát hầu như toàn bộ dầu hoả rẻ tiền của Trung Đông, cung cấp dầu cho toàn thế giới.

    Sau Đệ nhị Thế chiến, với kế hoạch Marshall, 5 công ty dầu của Mỹ trở thành độc quyền cung cấp dầu cho Âu châu. Các quốc gia Âu châu, trái lại không được dùng tiền của kế hoạch để xây dựng nhà máy lọc dầu riêng cho mình. Sự độc quyền đó đã giúp cho Big Oils thu được những lợi nhuận khổng lồ. Điều này đóng góp vào sự cực thịnh của kinh tế Mỹ trong thập niên 1950s. Nhờ vào giá dầu quá rẻ mà hệ thống xa lộ liên bang ra đời dưới đạo luật National Defense Highway Act. Cùng với hệ thống giao thông là kỹ nghệ xe hơi bùng phát với những công ty xe hơi lớn có ảnh hưởng rất quan trọng đối với kinh tế Mỹ, đến độ bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ông Wilson, đã có câu nói bất hủ: “Cái gì tốt cho General Motors thì cũng tốt cho nước Mỹ” (What’s good for General Motors is good for America) (General Motors là một hãng chế tạo xe hơi lớn của Mỹ).

    Bảo vệ nguồn dầu hỏa Trung Đông, như vậy, là rất quan trọng, trở thành sợi chỉ xuyên suốt lịch sử chính sách đối ngoại của Mỹ ở Trung Đông trong hơn nửa thế kỷ nay. Có thể tìm thấy rất nhiều dấu vết của động cơ ấy qua chính sách của Mỹ trong thời gian ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến đối với Iran, phản ứng trong cuộc chiến 6 ngày năm 1967, cuộc chiến Iran-Iraq, cuộc chiến vùng Vịnh 1991, cuộc chiến Iraq 2003 và trong quá trình cuộc xung đột Israel-Palestine.

    Quan điểm của Mỹ về Trung Đông được tóm tắt trong học thuyết Carter. Vị TT này từng tuyên bố năm 1980: “Bất cứ toan tính của một lực lượng bên ngoài nào nhằm kiểm soát vùng Vịnh sẽ bị coi như là một hành động tấn công vào quyền lợi sống còn của Mỹ, sẽ bị đẩy lùi bằng mọi phương cách cần thiết, kể cả bằng quân sự”.

    (Any attempt by any outside force to gain control of the Persian Gulf region will be regarded as an assault on the vital interest of the US. It will be repelled by use of any means necessary including military force).

    Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Henry Jackson cũng từng nói rằng : “Những đe doạ đối với sự liên tục của dòng dầu hỏa từ vùng Vịnh là hết sức nguy hiểm cho nền kinh tế của Tây Phương và Nhật Bản đến mức có thể gây ra đại chiến” (Threats to the continuous flow of oil through the Gulf would so much endanger to the Western and Japanese economies as to be grounds for general war).

    1 – Đối với Iran: Lúc đầu Iran và Israel được xem là hai đồng minh chính của Mỹ ở Trung Đông. Anh Quốc kiểm soát vựa dầu của nước này qua công ty Anglo-Iranian Oil Company. Nhưng rồi, đến năm 1953, thủ tướng Mohammed Mossadegh, do dân Iran bầu lên, muốn tìm cách quốc hữu hoá, có bồi thường thoả đáng, công ty dầu hoả đó để có vốn phát triển kinh tế Iran. Kế hoạch của Mossadegh gặp phải phản ứng dữ dội của Anh-Mỹ. CIA liền tìm cách lật đổ Mossadegh, vu cáo ông này là Cộng Sản, và tái lập chế độ quân chủ của vương triều Pea**** Throne, đưa vua Shah trở lại cầm quyền Iran. Khi cầm quyền, việc đầu tiên của Shah là ký nhượng việc mua bán dầu cho các công ty dầu hoả Tây Phương, trong đó các công ty Mỹ chiếm 40%, với những điều kiện rất dễ dàng. Chế độ cai trị của Shah độc đoán, hà khắc, lòng dân Iran rất oán hận. Shah tồn tại được 26 năm chỉ nhờ một chỗ dựa duy nhất, đó là sự hậu thuẫn của Mỹ. Điều này giải thích vì sao năm 1979, khi phong trào Hồi Giáo Căn Để (Islamic Fundamentalism) do Ayatollah Khomenei lãnh đạo lật đổ Shah, lập nên chế độ Hồi giáo ở Iran, chính quyền của Khomenei đã bắt giam con tin Mỹ trong hơn một năm, làm mất thể diện của Mỹ trước cộng đồng quốc tế, làm sút giảm uy tín của Mỹ ở Trung Đông. Từ đó Iran và Mỹ-Israel trở nên thù địch cho đến nay.

    2 – Chiến tranh 6 ngày: Tháng 6 năm 1967, Israel, áp dụng chiến lược “tấn công ngăn ngừa” (preventative attack), bất thần tấn công Egypt, Syria và Jordan. Với ưu thế tuyệt đối về tình báo, không quân và hoả lực, chỉ trong 6 ngày Israel đã gây thương vong cho hơn 10,000 lính Arabs, phá huỷ 340 máy bay. Ngược lại phía Israel chỉ chết hơn 300 lính và khoảng 30 phi cơ bị bắn hạ. Israel chiếm cao nguyên Goland của Syria, bán đảo Sinai của Egypt, dải Gaza và vùng West Bank tiếp giáp với Jordan. Lãnh thổ của Israel đã tăng gấp 3 lần sau cuộc chiến 6 ngày này, dồn đuổi hơn 220,000 người Palestinians ra khỏi nơi cư trú của họ.[8]

    Mỹ đã làm tất cả để hậu thuẫn cho Israel trong cuộc chiến này: cung cấp tin tức tình báo, viện trợ các loại vũ khí và máy bay tối tân, ngay cả cho dùng phi cơ không quân Mỹ hoá trang và phi công Mỹ với passport dân sự trong các phi vụ tiếp liệu cho Israel, v.v… Quan trọng hơn nữa là chính phủ Mỹ đã dùng quyền veto để chống lại đề nghị Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết buộc Israel trao trả các lãnh thổ đã chiếm đóng.[9]

    Một điều quan trọng hơn nữa là đến năm 1967, Israel đã thành công trong việc sỡ hữu vũ khí nguyên tử với sự giúp đỡ của công ty NUMEC, và của hai chính phủ Mỹ và Pháp. Tính đến năm 1969, Israel có tổng cộng chừng từ 12 cho đến 16 đầu đạn nguyên tử. Điều này trái với lời hứa của Thủ tướng Israel Eshkol đã đưa ra năm 1966, rằng Israel sẽ không là nước đầu tiên sản xuất vũ khí nguyên tử ở Trung Đông. Israel không bao giờ ký Hiệp ước Hạn chế Phổ biến Nguyên tử (Nuclear non-proliferation Treaty) cũng không hề chấp thuận cho việc thanh tra nguyên tử đối với đất nước của họ.
    Lập trường của Mỹ trong cuộc chiến 6 ngày năm 1967 giữa các nước Arabs và Israel như trên không được xem là một thành công về mặt ngoại giao. Khối Arabs từ đó càng nghi ngờ chính sách của Mỹ hơn, dư luận Arabs càng ngày càng trở nên chống Mỹ. Không khí thù địch giữa Mỹ-Israel và khối Arabs, cứ qua mỗi biến cố chiến tranh, lại càng gia tăng hơn, làm thất bại mọi nỗ lực kiến tạo một sự ổn định lâu dài cho Trung Đông hoặc giúp giải quyết số phận đau khổ của hàng triệu người Palestine đang sống trên đất của họ cũng như những người đã và đang sống trong tình cảnh tị nạn trong hơn nửa thế kỷ qua ở rải rác khắp các nước Egypt, Syria, Jordan, Lebanon, v.v…

    3 – Kế đến là cuộc chiến Iran-Iraq (1980-1988). Iraq và Iran đã từng xung đột nhau nhiều lần trong lịch sử. Từ sau khi Ayatollah Khomeini lên cầm quyền, Iran đã ngấm ngầm xúi dục dân Iraq thuộc hệ phái Shiite nổi lên chống lại sự cầm quyền của hệ phái Sunni. Saddam Hussein cũng có tham vọng biến mình thành lãnh tụ của Arabs đầu tiên đánh bại người Persians, chiếm lại vùng lãnh thổ Shatt-al-Arab.

    Khi chiến tranh bắt đầu vào năm 1980, bề ngoài Mỹ đứng trung lập, nhưng bên trong ngấm ngầm khuyến khích Saddam Hussein. Cả hai chính phủ Mỹ, Carter và Reagan, đều tìm cách giúp đỡ Iraq của Saddam về nhiều mặt: cung cấp tin tình báo, kể cả không ảnh về sự bố trí của quân Iran; cung cấp hàng tỉ dollars tín dụng; bí mật viện trợ vũ khí hoá học; viện trợ lương thực; ủng hộ các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc lên án Iran; nhiều chính khách Mỹ kêu gọi phong toả hải lộ Iran. Tháng 7 năm 1988, hải quân Mỹ ngay cả bắn hạ một phi cơ thương mãi của Iran, giết chết 290 thường dân![10]

    Cuộc chiến kết thúc, Iran bị tàn phá nặng, suy kiệt về mọi mặt. Iraq cũng kiệt quệ về kinh tế, nợ nần chồng chất, nhưng lại có một đội quân hùng mạnh nhất trong khối Arabs với kho vũ khí khổng lồ, đặc biệt là vũ khí hoá học do Mỹ trang bị. Vừa để giải quyết vấn đề nợ nần, đồng thời tận dụng lực lượng quân đội hùng mạnh cho tham vọng trở nên cường quốc Arabs số một, Saddam Hussein đã làm một điều dại dột ở quy mô chiến lược, đó là xâm chiếm Kuwait, khơi mào cho cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất tháng 8/1990.

    Theo William Engdahl, thì Mỹ đã gài bẫy cho Saddam Hussein tấn công Kuwait. Một tuần trước khi khởi binh, Saddam Hussein đã triệu Đại sứ Mỹ, là ông April Glaspie, đến để hỏi về lập trường của Mỹ đối với vụ tranh chấp Iraq-Kuwait và được ông Glaspie khẳng định là Mỹ không can thiệp.[11] Sự kiện này được ghi lại trong hồ sơ của chính phủ Saddam Hussein.

    Các cơ quan tình báo Mỹ nắm vững tin tức về kế hoạch tấn công Kuwait của Saddam và vì vậy đã báo động trước cho hoàng gia nước này thoát thân an toàn cùng với toàn bộ trương mục tài chánh khổng lồ của mình. Iraq của Saddam đã hoàn thành điều mà Mỹ mong mỏi là làm suy yếu Iran; nay đến lúc Mỹ lại cần một lý do chính đáng để làm cho Iraq, đến lượt nó, cũng phải kiệt quệ. Bằng việc tấn công Kuwait, Saddam Hussein đã cho TT George Bush cơ hội tốt để thành đạt mục đích đó, đồng thời vận động sự hậu thuẫn quốc tế cho mưu đồ riêng của mình trong việc thực hiện một New World Order, là một trật tự mà Ông đã xướng ra ngay sau khi bức tường Berlin sụp đổ.

    Sự vận động hành lang của người Jews ở Mỹ (Jewish lobby)

    Tổ chức vận động hành lang mạnh nhất của người Jews ở Mỹ là American-Israeli Public Affair Committee (AIPAC). Tổ chức này có ảnh hưởng mạnh hơn cả công đoàn AFL-CIO và Hiệp Hội Súng trường Quốc gia (National Rifle Association). Ngoài ra, hỗ trợ cho AIPAC còn có các nhóm Phúc Âm Kitô giáo (Christian Evangelicals) khác như Garry Bauer, Ralph Reed, Pat Robertson, Tom Delay, v.v… Những nhóm này tin rằng sự hồi sinh quốc gia Israel là phù hợp với lời tiên tri trong Kinh Thánh và là Thánh Ý Chúa. Cả nhóm Tân Bảo Thủ (neo-conservatives) cũng là những người vận động đắc lực cho Israel, như John Bolton, cựu Đại sứ tại LHQ, Paul Wolfowitz, cựu Thứ trưởng Quốc phòng, Jeanne Kirpatrick, Henry Kissinger, v.v…

    Nỗ lực vận động hành lang của người Israelis tập trung vào hai mặt chính: Ảnh hưởng lên lập trường và chính sách của các nhà lập pháp và viên chức chính phủ ở Washington, để các lập trường, chính sách đó luôn đi theo chiều hướng ủng hộ Israel. Thứ hai là tìm cách ảnh hưởng đến công luận Mỹ, phô bày những nét tích cực của Israel và những gì tiêu cực của phía Arabs, tìm cách kiểm soát các cuộc tranh luận về các vấn đề Trung Đông, hạn chế hoặc vô hiệu hoá những lời phê bình bất lợi cho Israel.

    Uỷ Ban Công Vụ Mỹ-Do Thái (American-Israel Public Affair Committee – AIPAC) có ảnh hưởng rất mạnh lên Quốc Hội. Uỷ Ban này có những mối quan hệ đặc biệt đối với các nhân viên tham mưu (staffers) của các Dân Biểu và Nghị Sĩ. Nhiều nhân viên tham mưu này hoặc là người Mỹ gốc Do Thái hoặc là thân Israel, hay hưởng bổng lộc của AIPAC; chính bộ phận tham mưu này là những người soạn thảo chính sách, dự luật cho Quốc Hội. Bản thân AIPAC đôi khi còn giúp cho các nhân viên tham mưu QH trong việc soạn thảo các báo cáo nghiên cứu, các chính sách, tổng kết số liệu thống kê, hay ngay cả viết diễn văn.

    Đối với bên Hành Pháp cũng vậy. Một ví dụ là thời TT Bill Clinton, chính sách Trung Đông đã được soạn thảo bởi những nhân vật thân Israel, hoặc có quan hệ gắn bó với những tổ chức pro-Israel, như Martin Indyk, trước kia là Phó Giám đốc nghiên cứu của AIPAC, đồng thời là sáng lập viên cơ quan Washington Institute for Near East Policy (WINEP) – một tổ chức ủng hộ Israel. Một nhân vật khác cùng soạn thảo chính sách Trung Đông thời Clinton là ông Dennis Ross, sau khi rời khỏi chính quyền đã làm việc cho WINEP. Nhân vật thứ 3 tham dự việc hình thành chính sách Trung Đông là ông Aaron Miller là người thường xuyên sinh sống ở Israel.

    AIPAC tìm cách tưởng lệ cho những Dân Biểu, Nghị Sĩ nào có những chủ trương, đường lối có lợi cho Israel; ngược lại vận dụng mọi biện pháp để trừng phạt những người có quan điểm bất lợi cho Israel. Khi cần AIPAC có thể lập ra cả một chiến dịch rầm rộ nào biểu tình, thư hay điện thoại khiếu nại, hoặc dùng truyền thông để chỉ trích những chính khách nào có vẻ có thái độ thiếu thân thiện với Israel. Đôi khi chỉ một lời tuyên bố hớ hênh bất lợi cho Israel cũng đủ gây rắc rối lớn cho một chính khách.

    Chẳng hạn, trường hợp của Howard Dean. Năm 2004, khi ra tranh cử TT, Howard Dean kêu gọi Mỹ nên xử sự “đồng đều” (even-handed role) hơn trong cuộc tranh chấp Israel-Arabs. Vậy là ngay lập tức TNS Joseph Lieberman công kích Dean cho rằng ông này là “vô trách nhiệm” và bán rẻ Israel. Một số đông Dân Biểu của đảng Dân Chủ ký chung thư phản đối lời tuyên bố của Dean. Đồng thời hàng trăm ngàn thư từ, e-mails từ các nơi gởi đến các tờ báo lớn của Mỹ kêu gọi tẩy chay Dean, cho rằng Dean là điều không tốt cho Israel. Cho đến hôm nay, tuy từng ở cương vị chủ tịch đảng Dân Chủ, có công lớn trong việc giúp Obama thắng cử, nhưng Howard Dean cũng không nắm được một ghế Bộ Trưởng nào trong chính phủ mới cả. Nhiều người cho rằng chỉ vì Dean đã lỡ lời trước đây khi bàn về chính sách đối với Israel-Arabs.

    Ảnh hưởng của Jews Lobby cũng ghi những dấu ấn lớn lên các chính sách của chính phủ George W. Bush đối với Iraq và Iran. Các nhân vật neo-conservatives thân Do Thái như Paul Wolfowitz, William Kristol, Richard Perle, Donald Rumsfeld, Charles Krauthammer, Robert Kagan, đã cùng với WINEP, JINSA (think tanks Do Thái) tích cực vận động cho chiến tranh Iraq ngay từ thời TT Bill Clinton, và từ những ngày đầu của TT Bush. Các cơ quan tình báo Israel đã đóng góp rất tích cực trong việc thiết lập hồ sơ chuẩn bị cho việc tấn công Iraq, và về sau này những tin tức liên quan đến chương trình nguyên tử của Iran. Chiến tranh Iraq và việc kiềm chế Iran, trước hết và trên hết, là những bảo đảm an ninh lớn lao cho Israel, chứ không phải cho chính công dân Mỹ. Người được lợi lớn nhất trong chiến tranh Iraq là Israel; nhưng người hứng chịu gánh nặng tài chánh và nhân mạng lại là taxpayers Mỹ!

    Một ví dụ khác nổi bật nhất về ảnh hưởng của Jewish Lobby lên chính sách của Mỹ là trường hợp TT George W. Bush. Vào khoảng cuối năm 2001, Bush tuyên bố ủng hộ sự thành hình quốc gia Palestine và đề nghị phía Israel gặp Chủ tịch Palestine Yasser Arafat để đàm phán. Ngay lập tức, Thủ tướng Israel là Sharon liền tố cáo là Bush “tìm cách làm đẹp lòng Arabs bằng cách bán rẻ chúng ta” và cảnh cáo rằng “Israel sẽ không giống với Tiệp Khắc” (tried to appease the Arabs at our expense và Israrel will not be Czechoslavia) (ý Sharon muốn ám chỉ rằng việc Bush nhượng bộ Arabs và bỏ rơi Israel cũng như trước kia Thủ tướng Neville Chamberlain đã nhượng bộ Hitler và hy sinh Tiệp).
    Lời tuyên bố của Sharon, theo phát ngôn viên White House là “unacceptable” và làm George W. Bush giận lắm. Nhưng rồi có đến 89 vị Thượng Nghị Sĩ Mỹ đồng ký tên yêu cầu Bush không nên thương lượng với Yasser Arafat và không nên kiềm chế việc Israel trả đũa người Palestine, mà nên bày tỏ mạnh mẽ sự hậu thuẫn cho Israel. (Bức thư của các TNS là kết quả của cuộc họp giữa các lãnh tụ của Cộng Đồng người Mỹ gốc Do Thái với các Nghị Sĩ chính trong Thượng Viện). Vậy là Bush đành nuốt giận.

    Chưa hết, đến tháng 4 năm 2004 khi quân đội Do Thái (Israel Defense Force) ào ạt tấn công, chiếm đóng nhiều vị trí ở West Bank của người Palestine, gây công phẫn dư luận quốc tế, TT Bush vì uy tín của Mỹ, đã lên tiếng công khai yêu cầu Israel rút quân “halt the incursion and begin withdrawal without delay”.

    Thay vì làm theo lời Bush, Israel và Jews Lobby đã ráo riết vận động Quốc Hội Mỹ ủng hộ cho chính sách của Israel, vượt qua phản ứng của Hành Pháp. Hạ Viện bỏ phiếu 352/21 và Thượng Viện 94/2 thông qua Nghị Quyết kêu gọi đoàn kết và cấp thêm 200 triệu dollars cho Israel để chống khủng bố! Người ta chưa thấy Quốc Hội đạt được sự đồng thuận cao như vậy trong bất kỳ một biểu quyết ngân sách hay dự luật nào khác. Sau này Cố vấn An Ninh Quốc Gia Brent Scrowcroft đã nói rằng Thủ Tướng Sharon của Israel “đã nắm được chóp chài của Bush” (Sharon has President Bush wrapped around his finger)![12]

    Một vũ khí khác của AIPAC là đóng góp trong các chiến dịch tranh cử. Tờ Washington Post đã có lần ước tính rằng các ứng viên đảng Dân Chủ nhận đến gần 60% tiền vận động tranh cử từ các ủng hộ viên gốc Do Thái. Chính phủ Bill Clinton và cả bà Hillary Cliton đều nhận sự ủng hộ lớn lao của AIPAC và các tổ chức pro-Israel khác. Vì vậy, tuy TT Barack Obama nói nhiều về Thay Đổi (Change), và nhấn mạnh đến mặt trận ngoại giao, nhưng việc trao Bộ Ngoại Giao cho bà Hillary Clinton làm cho nhiều người tin rằng chính phủ mới sẽ không có những đổi thay lớn trong chính sách đối với cuộc tranh chấp Israel-Palestine; một chính sách đã từng khiến cho một nhà thương thuyết Palestine, trong cuộc hoà đàm tại trại David năm 2000, than phiền rằng : “phải thương thuyết một lúc với hai phái đoàn Israels: một mang cờ Do Thái và một mang cờ Mỹ” (negotiating with two Israel teams: one displaying an Israeli flag, and one an American flag)[13]

    Ảnh hưởng lên công luận Mỹ

    Ngoài ra người Do Thái còn ảnh hưởng lên dư luận Mỹ thông qua các phương thế sau đây:

    1 - Think Tanks: Các think tanks đóng một vai trò rất quan trọng trong sự định hình các luồng tư tưởng của công luận cũng như trong việc hoạch định các chính sách trên thực tế. Think Tanks – nơi quy tụ các học giả, chính khách, chuyên gia, chiến lược gia, phân tích gia thượng thặng của các lãnh vực khoa học, kinh tế, chính trị, xã hội – là một sản phẩm đặc trưng của Mỹ xét cả về quy mô lẫn mức độ ảnh hưởng lên chính quyền và giới truyền thông. Tại Âu Châu và Á Châu ngày nay tuy cũng có think tanks, nhưng chẳng qua cũng chỉ là một sự bắt chước theo Mỹ, ở quy mô khiêm tốn, mà thôi.

    Kể từ khi RAND Corporation, think tank đầu tiên ra đời năm 1946, đến nay có tổng cộng lớn nhỏ chừng hơn 1,500 think tanks trên toàn nước Mỹ, trong số đó có chừng 15 think tanks lớn và có ảnh hưởng nhất đặt bản doanh ở Washington, DC. Những think tanks quen thuộc là : Amerian Heritage, Brookings Institution, Center for Strategic and International Studies, Center for Security Policy, Foreign Policy Research Institute, Jewish Institute for National Security Affairs (JINSA), American Enterprise Institute, The Heritage Foundation, Cato Institute, The Carnegie Endownment for International Peace, The Council on Foreign Relations, Washington Institute for Near East Policy (WINEP), Hudson Institute, v.v… Trung bình những think tanks này có ngân sách thường niên chừng 25 triệu dollars trở lên.[14]

    Trong các think tanks trên thì WINEP được lập ra năm 1985 do nỗ lực của Jewish Lobby. Các think tanks khác như JINSA, Heritage Foundation, Hudson Institute, The Institute for Foreign Policty Analysis và Brooking Institution đều chịu ảnh hưởng rất nặng, hoặc về nhân sự hoặc về tài chánh, hoặc cả hai, của giới vận động hành lang Do Thái (Jewsish Lobby).

    2 – Các trường đại học

    Jewish Lobby cũng tìm nhiều phương cách để gây ảnh hưởng đến những cuộc thảo luận tại các trường đại học liên quan đến vấn đề Trung Đông và quốc gia Israel; nỗ lực tạo ra những hình ảnh và dư luận tốt đẹp về Israel, đồng thời tìm mọi cách giảm thiểu những phê bình đối với các chính sách của nước này. Nhiều nhóm hoạt động, như Caravan for Democracy, gởi các diễn giả đến các trường đại học lớn giải thích các chính sách của Israel cho sinh viên Mỹ, tổ chức các sinh hoạt ngoại khoá tuyên truyền cho Israel. Họ còn tổ chức việc theo dõi những bài giảng của các giáo sư để phát hiện sớm, và tìm cách đối phó, những bài có nội dung bất lợi cho Israel, lập ra những black lists các giáo sư có quan điểm “chống Israel” rồi vận động sinh viên và phụ huynh lên án hoặc cô lập hay tẩy chay các giáo sư đó, hay ngay cả vận động để các trường đại học không mướn những vị giáo sư hay học giả đó. Một ví dụ là trường hợp học giả Trung Đông nổi tiếng Rashid Khalidi. Khi trường đại học Columbia mời ông về giảng dạy, lập tức có hàng ngàn lá thư gởi đến văn phòng viện trưởng của Trường để phản đối với lý do là ông Khalidi có quan điểm chính trị không thích hợp. Vài năm sau, đến lượt trường đại học Princeton cũng gặp tình cảnh tương tự khi trường này định mời ông Khalidi đến giảng dạy ở trường.

    3 – Giới truyền thông: truyền hình, báo chí, nhà xuất bản…

    Chính trong lãnh vực truyền thông Mỹ mà ảnh hưởng của Jewish Lobby là gần như vô tiền khoáng hậu. Sơ lược sau đây là một số những tổ hợp truyền thông lớn ở Mỹ, trong đó người Do Thái hoặc làm chủ hoặc nắm quyền kiểm soát tuyệt đối:

    Time Warner: Tổ hợp truyền thông lớn nhất này là sự kết hợp giữa Warner và AOL, có doanh thu hằng năm chừng 50 tỉ dollars. Warner được người Do Thái lập ra vào thế kỷ trước, trở nên một trung tâm quyền lực của người Do Thái ở Hollywood. Giám đốc điều hành (CEO) hiện nay là Gerald Levin, một người Do Thái.

    Tổ hợp này bao gồm nhiều hãng phim như Warner Brothers Studio, Castle Rock Entertainment, New Line Cinema; nhà xuất bản như Time-Life Books, Book of the moth Club, Little Brown, v.v…; dịch vụ internet như AOL; và cả hệ thống truyền hình CNN với hàng trăm triệu khán giả.

    Disney : Tổ hợp truyền thông khổng lồ thứ hai này có doanh thu hàng năm chừng 35 tỉ dollars, cũng là của người Do Thái, hiện nay do Michael Eisner làm giám đốc. Tổ hợp này cũng bao gồm nhiều công ty truyền hình, phát thanh, nhà xuất bản: hệ thống truyền hình ABC, ESPN, NBA, NFL, A&E, Life Time TV, Disney Radio Network, Walt Disney Company Book Publishing, Miramax Books, v.v… Đáng chú ý nhất là Disney Publishing Worldwide xuất bản sách báo bằng 55 ngôn ngữ khác nhau, đến 74 quốc gia trên khắp thế giới, có hơn trăm triệu độc giả hàng tháng!

    Viacom: Với doanh thu đồng niên chừng 30 tỉ dollars, Viacom là tổ hợp lớn thứ 3 nằm dưới sự kiểm soát của người Do Thái, đứng đầu là Sumner Redstone và Melvin Karmazin. Viacom cung cấp các chương trình truyền hình, sỡ hữu mạng truyền hình CBS với khoảng 39 đài truyền hình, và hàng trăm đài phát thanh khác trên nhiều vùng. Hệ thống MTV, Country Music Television, và The Nasville Network Cable Channels cũng thuộc về Viacom.

    Ngoài ra, kênh truyền hình Fox News Channel cũng nằm dưới sự kiểm soát của người Do Thái. Cùng với Fox Television Network, 20 th Century Fox Film và nhà xuất bản Harper Collins, nó thuộc về tập đoàn News Corporation, chuyên vận động cho các chủ trương cuả nhóm Tân Bảo Thủ (neoconservatives) trong chính phủ của TT Bush, đứng đằng sau các nỗ lực tuyên truyền cho cuộc chiến Iraq. Tờ The Weekly Standard với cây bút nổi tiếng William Kristol cũng thuộc về News Corporation và nằm trong tầm tay điều khiển của người Do Thái.
    Như vậy, về mặt truyền thông, người Do Thái ở Mỹ đã trực tiếp nắm trong tay nhiều cơ sở quan trọng, có mức độ ảnh hưởng vô cùng lớn lao lên công luận Mỹ. Những nhận định sau đây trong một bài nghiên cứu của nhóm National Vanguard Books có thể ít nhiều nói lên tầm mức của những ảnh hưởng như vậy:

    “Không có một quyền lực nào trong thế giới ngày nay lớn hơn quyền lực đạt được bởi những người uốn nắn công luận Mỹ. Chưa hề có một ông vua, một vị giáo hoàng thời xưa, một ông tướng bách chiến hay một vị giáo chủ nào đã từng hành xử một quyền lực sánh được với quyền lực của chừng vài chục người đang kiểm soát các phương tiện giải trí và truyền thông đại chúng của Mỹ”. (there is no greater power in the world today than that wielded by the manupulators of public opinion in America. No king or pope of old, no conquering general, or high priest ever disposed of a power even remotely approaching that of the few dozen men who control Amerca’s mass media of news and entertainment)[15].

    Truyền thông vận dụng nhiều phương cách để nhào nặn (manipulating) dư luận một cách tinh vi và thấu đáo. Trước hết là cách quản lý việc đưa tin. Chỉ nội một việc sắp xếp cách thức tin tức được đưa ra, thời điểm và khung cảnh đưa tin, thời lượng cho từng phần tin, giọng điệu khi đọc tin, hình tượng đi kèm theo tin, cách thức đối chiếu các bản tin, từ ngữ xử dụng, cách chạy các hàng tít, v.v…Rồi còn những chọn lựa dựa theo bối cảnh văn hóa, chủng tộc, lịch sử, tôn giáo và đặc điểm tâm lý của từng bộ phận độc, khán, thính gỉa, để rồi từ đó có phương cách phổ biến tin tức cho phù hợp.

    Chẳng hạn, cách mà báo chí Tây phương, nhất lả báo chí Mỹ, miêu tả về hành động của hai bên Israel-Palestine. Bất kỳ khi nào Isarel có một hoạt động nào đó đối với người Palestine, hoặc là dùng phi cơ ném bom, hay xua chiến xa tấn công vào các vùng của người Palestine, giết hại hàng chục, hàng trăm thường dân, kể cả đàn bà trẻ em, thì báo chí, truyền hình Mỹ gọi đó là các hoạt động quân sự (MILITARY MISSIONS). Nhưng nếu phía người Palestine trả đũa, bất kỳ là bằng cách nào, kể cả bằng dùng dàn thun bắn đá hay mang bom tự sát, gây thương vong cho thường dân hay chiến sĩ Israel, thì báo chí và truyền hình Mỹ đều gọi các việc làm đó là hành động khủng bố (TERRORIST ACTIONS). Dư luận Mỹ, và cả của người Việt, không mấy ai thắc mắc về sự khác biệt trong cách dùng từ ngữ như vậy của giới truyền thông Mỹ đối với hai bên Israel-Palestine. Người ta mặc nhiên chấp nhận, và chính sự mặc nhiên chấp nhận đó là kết quả của sự nhào nặn công luận, một cách tinh vi, của các phương tiện truyền thông Do Thái-Mỹ. Vì về mặt tâm lý, một cách vô thức, người nghe sẽ có những phản ứng tình cảm khác nhau đối với mỗi từ: hoặc là trung lập, kính nể hoặc là thiện cảm đối với từ MILITARY; ngược lại sẽ khinh chê hoặc căm ghét đối với từ TERRORIST.

    Một ví dụ khác về cách chọn từ ngữ của giới truyền thông Do Thái-Mỹ là chữ CONFLICT. Báo chí và truyền hình Mỹ qua hàng mấy chục năm nay luôn dùng từ ngữ này khi nói đến sự thù địch giữa Israel-Palestine. Nhưng nhiều học giả cho rằng chữ CONFLICT bao hàm ý rằng hai bên liên hệ, trong sự tranh chấp hay xung đột, có mức độ bình đẳng (EQUALITY) về tư thế và về lực lượng; và không nên lẫn lộn giữa CONFLICT với ANNEXATION, INVASION, hay OCCUPATION. Trong hàng mấy chục năm qua, sự thật cho thấy người Israelis đã INVADED (xâm chiếm), ANNEXED (sát nhập) và OCCUPIED (chiếm đóng) đất đai của người Palestine, chứ không phải là tranh chấp CONFLICTED giữa hai quốc gia bình đẳng về mặt quốc tế công pháp. Việc lập đi lập lại từ CONFLICT là có thâm ý che lấp sự chênh lệch quá xa lực lượng của hai bên và tính chất chủ động xâm lăng của người Do Thái.

    Ngoài việc quản lý tin tức (news management), mặt thứ hai cũng hết sức quan trọng trong việc uốn nắn dư luận vào một hướng định trước là việc giải thích và bình luận tin tức của các nhà bình luận, chuyên gia, trí thức, học giả, v.v… Về mặt này, người Do Thái, cùng với khả năng khống chế lớn lao các phương tiện thông tin, là khả năng tài chánh để thuê mướn các chuyên gia, nhà bình luận, học giả, biên tập viên, ký giả, v.v…nhằm mớm vào trí óc dân Mỹ những cách giải thích và bình luận tạo nên những hình ảnh tốt đẹp về Israel. Người Palestine hầu như không có lấy một diễn đàn hay một cơ hội để lên tiếng trước công luận Mỹ; nhưng người Do Thái lại chiếm vai trò độc tôn trong công việc giải thích và bình luận tin tức liên quan đến cuộc xung đột Israel-Palestine. Nói đúng hơn là người Do Thái độc quyền trong việc giải thích mọi vấn đề của cuộc xung đột, uốn nắn dư luận theo chiều hướng thuận lợi nhất cho phiá họ.

    Hiện trạng người Palestine

    Ngay khi Liên Hiệp Quốc phân chia vùng Palestine, trao phần lớn đất đai cho người Israelis lập quốc, số dân Palestinians phải dồn vào hai vùng West Bank và Gaza, một số lớn khác bị người Israel xua đuổi, chạy qua tị nạn ở các quốc gia kế cận. Đó là đợt những người Palestinians tị nạn đầu tiên.

    Sau cuộc chiến 6 ngày năm 1967, Israel chiếm cao nguyên Goland của Syria, bán đảo Sinai của Egypt, vùng West Bank và Gaza, hàng triệu người Palestine lại đã phải bỏ quê nhà trốn chạy lần nữa, tị nạn sang các nước như Jordan, Syria, Lebanon, Egypt v.v…Hiện nay tổng số người Palestinians tị nạn lên đến chừng 3 triệu người: nhiều nhất là ở Jordan (1.8 triệu), Syria và Lebanon mỗi nơi khoảng ½ triệu. Ở West Bank hiện có khoảng 2,345,000 người Palestinians, trên diện tích khoảng 5,860km vuông; và ở Gaza chừng gần 1.5 triệu người trên một diện tích chừng chỉ hơn 360km vuông. Có chừng hơn 1.3 triệu người Palestinians ở lại trong phạm vi lãnh thổ của người Israel trước 1967.

    Từ năm 1967 cho đến nay, Israel đã lần lượt trả lại bán đảo Sinai cho Egypt và cao nguyên Goland cho Syria, nhưng đã không chịu trao trả West Bank và Gaza cho người Palestine. Trái lại, họ đã lần lượt đưa người Do Thái đến chiếm đất lập thành những khu định cư trong hai vùng đất đó. Những vùng gần nguồn nưóc, những vùng đất màu mỡ và trồng trọt được ở West Bank đều lần lượt rơi vào tay người định cư Do Thái. Những người định cư này được vũ trang đầy đủ, trong tình trạng “động vi binh, tĩnh vi dân”. Bên ngoài các khu vực định cư này là các vành đai quân sự của quân đội Do Thái (Israel Defense Force, IDF) với những Check Points để kiểm soát sự đi lại của người Palestinians. Người định cư và lính Do Thái còn tìm nhiều phương cách sách nhiễu làm cho người Palestinians phải nản lòng và tự rời xa các khu định cư của người Do Thái.

    Những việc làm đó của Israel đã gây ra những biến dạng lớn trên bản đồ Israel-Palestine từ năm 1948 đến nay. Chẳng hạn vào năm 1948, bản đồ phân chia Palestine của Liên Hiệp Quốc qui định thành phố Jerusalem, do tính cách lịch sử của nó, là địa điểm quốc tế. Nhưng những năm sau này Israel đã chiếm đóng và sáp nhập Jerusalem vào lãnh thổ của mình.

    Những năm gần đây khi giải pháp Hai Quốc Gia được đưa ra, một số tổ chức quốc tế đã giúp Palestine National Authrority làm một số thống kê. Số liệu tháng 12 năm 2007 cho thấy dân số của quốc gia Palestine, đã được 96 quốc gia trên thế giới chính thức thừa nhận, là 3,770,000 người. Diện tích của quốc gia Palestine này chỉ chừng 6,020km vuông, gồm trong hai vùng chính là West Bank và Gaza.

    Trong thời gian chiếm đóng West Bank, chính phủ Israel đã lập ra một mạng lưới các xa lộ để nối các khu định cư người Do Thái lại với nhau, và trên mạng xa lộ đó, người Palestinians không được xử dụng và cũng không được đến gần. Thời gian gần đây, người Do Thái còn xây tường (security fence) bao bọc, che chắn cho các khu định cư Do Thái ở West Bank, có chỗ tường cao 10m. Tại nhiều nơi các bức tường này cắt ngay vào chính giữa những tu viện Kitô Giáo đã có lịch sử trong cả ngàn năm rồi!

    Một vài con số nói lên tình trạng định cư của ngưòi Do Thái ở West Bank:

    8,000 người định cư Do Thái chiếm 40% đất canh tác được và 50% nguồn nước, với sự bảo vệ của 12,000 quân sĩ Do Thái. Trong lúc chừng 1.3 triệu người Palestinians chiếm 60% đất khô cằn còn lại và không một ai bảo vệ họ cả![16]

    Các cuộc hoà đàm Camp David, Oslo, và nỗ lực đàm phán của Liên Hiệp Quốc với Geneva Initiative tuy có đưa ra giải pháp HAI QUỐC GIA: Israel-Palestine, cũng như nhiều đề nghị hoà bình khác, nhưng cho đến nay vẫn chưa đem lại được một nền hoà bình thật sự cho người Palestinians. Chính phủ Israel nhượng bộ rất ít. Chẳng hạn, trước đây họ thừa nhận Phong Trào Giải Phóng Palestine (PLO) là đại diện của người Palestinians, sau này họ thừa nhận Palestine National Authority. Phía Do Thái cũng đồng ý trao lại một số quyền hạn về cảnh sát, giáo dục cho người Palestine trong hai vùng Gaza và West Bank. Tuy nhiên, đó chỉ là những nhượng bộ tượng trưng nhằm mục đích tuyên truyền. Trên thực tế, người Palestinians tại hai vùng đó hoàn toàn không có một quyền hạn tự trị nào về kinh tế, thương mãi, thuế khoá hay chính trị trên lãnh thổ của họ.

    Các công, nông sản của người Palestinians ở West Bank và Gaza không được bán vào lãnh thổ của Israel vì người Do Thái sợ bị cạnh tranh. Những người công nhân Palestinians hàng ngày vào làm việc trong các hãng xưởng trên lãnh thổ của Israel phải trải qua nhiều thủ tục xét hỏi rất rắc rối về an ninh. Quyền thu thuế ở hai vùng vẫn nằm trong tay người Do Thái. Các dịch vụ Y tế, Bưu Điện đều hoàn toàn do chính phủ Do Thái kiểm soát. Ngay cả cơ quan Palestine National Authority của người Palestinians vẫn phải chịu sự chi phối về tài chánh của chính phủ Israel. Cựu TT Jimmy Carter, khi được mời quan sát về các cuộc bầu cử của người Palestinians ở vùng West Bank, đã kể lại một trường hợp ở Đông Jerusalem, trong vùng West Bank, tại địa điểm đầu phiếu, nhân viên bưu điện Do Thái có một danh sách cử tri Palestinians riêng, và những người Palesinian nào không có tên trong danh sách đó thì nhân viên bưu điện Do Thái không cho vào bỏ phiếu. Kết quả chỉ tại địa điểm đầu phiếu đó thôi, đã có hơn 3000 cử tri Palestinians bị loại. Cuối cùng đích thân Jimmy Carter phải can thiệp với thủ tướng Israel mới giải quyết được![17]

    Điều đáng chú ý ở đây là trong lúc truyền thông Mỹ không ngớt làm ầm ĩ về các cuộc bầu cử ở Iraq, nhưng lại không bao giờ có một tường trình đầy đủ nào về ý thức dân chủ của người Palestinians và các cuộc bầu phiếu của họ trong tình cảnh bị chiếm đóng ở hai vùng West Bank và Gaza. Cựu TT George W. Bush luôn đề cao việc truyền bá Dân Chủ qua Trung Đông, nhưng chính bản thân chính phủ của ông lại không ngừng tiếp tay cho chính phủ Israel để tìm cách bóp chết tiếng nói nhân quyền và dân chủ của người Palestinians trong các cuộc bầu cử cơ quan Palestinian National Council của họ!
    Giáo sư Ilan Pappe của trường đại học Haifa, một nhà sử học Do Thái, đã gọi chính sách của Israel đối với người Palestinians là chính sách diệt chủng (Ethnic Cleasing of Palestine). Năm ngoái ông đã xuất bản quyển sách với nhan đề như vậy, trong đó ông tóm tắt lịch sử của chủ nghĩa quốc gia Do Thái Zionism, thực chất các chính sách của chính phủ Israel và sự dối trá của chính phủ đó đối với giải pháp Hai Quốc Gia: Israel-Palestine. Theo Giáo sư Pappe thì thực chất của chính sách Israel đối với người Palestinians là sự thực dân và diệt chủng (colonialism and ethnic cleasing); chính phủ Israel đã biến Gaza và West Bank thành hai nhà tù khổng lồ, trong đó Palestinians là tù nhân. Chủ trương căn bản của Zionism bao gồm hai khía cạnh chính: Địa lý và Dân số (Geography and Demography). Về Địa lý, Zionists muốn thâu tóm toàn bộ vùng Palestine; về Dân số, họ muốn người Jews chiếm đa số tuyệt đối, số người Palestinians phải giảm xuống mức tối thiểu, càng ít càng tốt! [18]

    Với một chủ trương như vậy, người Do Thái không bao giờ thực lòng chấp nhận giải pháp Hai Quốc Gia Israel-Palestine bình đẳng như nhiều người mong đợi. Chính phủ Israel đã tìm cách gây ly gián nội bộ người Palestinians, giữa đảng Fatah có chủ trương ôn hoà của Mahmoud Abbas và nhóm Hamas cực đoan của Bác sĩ Mahmoud Ramahi. Khởi đầu, chính phủ Israel không chịu thừa nhận Phong Trào Giải Phóng Palestine (PLO) và chủ tịch Yasser Arafat. Đến khi PLO và Yasser Arafat được thế giới và Mỹ thừa nhận thì Israel lại nại nhiều cớ khác để không đàm phán với Arafat. Khi Yasser Arafat chết năm 2004, Mahmoud Abbas lên thay, là một người rất ôn hoà, sẵn lòng thương lượng cho một giải pháp hoà bình, thì chính phủ Israel lại tìm cách gây ra nhiều khó khăn cho Abbas, khiến ông này không làm việc được, mất dần uy tín chính trị với dân chúng; ngược lại tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nhóm cực đoan Hamas gia tăng uy thế của mình, lấn át Mahmoud Abbas. Nhưng khi Hamas mạnh lên và có hành động cứng rắn thì Israel lại vin vào cớ đó để phản ứng mạnh hơn bằng các biện pháp quân sự.

    Việc mới đây Hamas bắn rockets vào lãnh thổ Israel và sau đó quân đội Do Thái IDF, để trả đũa, trong 3 tuần lễ liên tiếp đã dùng phản lực cơ ném bom, rồi dùng chiến xa và bộ binh tấn công vào Gaza giết hơn 1,500 người Palestinians và hơn 3,500 người khác bị thương, trong đó đa số là dân thường, đàn bà và trẻ em; 1.5 triệu người khác phải sống không điện và nước uống trong cả tháng trời. Cho đến nay, các nỗ lực trung gian hoà giải của Egypt và Cộng Đồng Âu Châu vẫn chưa mang lại được kết quả gì khả quan, quân đội Israel vẫn tiếp tục phong toả Gaza, tiếp tục oanh kích những nơi bị nghi ngờ là đường hầm vận chuyển hoả tiễn từ Egypt qua, và hàng trăm ngàn người Palestinians vẫn phải chịu đựng cảnh màn trời chiếu đất, thiếu thốn cả thuốc men lẫn lương thực. Tình cảnh này dường như phù hợp với nhận định của cựu TT Mỹ Jimmy Carter và của nhà sử học Ilan Pappe về âm mưu kỳ thị và diệt chủng của chính phủ Israel đối với người Palestinians.

    Kết luận

    Sự tuyên truyền, giải thích tin tức về cuộc xung đột Israel-Palestine, trong một thời gian dài, đã gây ra nhiều hiểu biết lệch lạc, phiến diện trong dư luận do nỗ lực vận động hành lang của chính phủ Israel và người Mỹ gốc Do Thái. Đã đến lúc giới truyền thông cần phải tái lập lại truyền thống thông tin trung thực và khách quan vốn có của mình, thoát ra khỏi cái “gông” Jewish Lobby, phơi bày sự thật của cuộc xung đột để mọi người công dân Mỹ nhận chân được thực trạng, và rồi từ đó đòi hỏi Quốc Hội và Chính phủ có những chánh sách phù hợp với quyền lợi thật sự của đất nước này hơn trong tình thế chiến lược mới.

    Mặt khác, lịch sử xung đột Israel-Palestine cho thấy rằng trong chính trị nói chung ,và chính trị quốc tế nói riêng, không có chỗ cho vấn đề đạo đức hay lương tâm. Trong chính trị quốc tế, đạo đức là đạo đức của kẻ mạnh, của kẻ thắng trận, của kết quả sau cùng. Quan niệm cho rằng CHÍNH TRỊ là “sửa sang mọi sự lại cho ngay thẳng”, theo quan niệm Á Đông, hoàn toàn không phù hợp với chính trị quốc tế hiện đại; một sân khấu chính trị trong đó mỗi dân tộc vì chính mình trước tiên, và điều căn bản nhất là phải mạnh lên để bảo vệ quyền lợi của mình. Không có VƯƠNG ĐẠO, chỉ có BÁ ĐẠO mà thôi. Mục tiêu trên hết của chính trị quốc tế là QUYỀN LỰC, chứ không phải là Ý THỨC HỆ. Người Israelis hay người Palestinians tranh đấu, trước hết và trên hết, cho sự TỒN TẠI, cho sự sống còn, và đó là một cuộc đấu tranh sinh tồn tàn bạo chịu sự chi phối của luật đào thải; họ không chiến đấu cho TƯ BẢN hay cho CỘNG SẢN, chỉ chiến đấu cho chính sự TỒN TẠI. Điều đó có nghĩa rằng nếu có ý thức hệ thì chỉ có một ý thức hệ duy nhất; đó là SỰ SỐNG CÒN CỦA TỔ QUỐC. Người Việt chúng ta cần suy ngẫm về điều này trong mối liên tưởng về mối-hoạ-truyền- kiếp-Trung-Hoa đang tái hiện.

    Sự vận dụng quan hệ ngoại giao Israel-Mỹ của người Do Thái là một điều khác đáng cho chúng ta so sánh. Quan hệ Mỹ-Việt trước đây trong khoảng thời gian từ 1954-1975 có những nét tương tự, nhưng về mặt vận dụng mối quan hệ đó cho quyền lợi của mình thì người Việt Nam thua kém xa người Do Thái. Căn bản của sự khác biệt đó bắt nguồn từ ý thức Quốc Gia-Dân Tộc. Người Do Thái và các lãnh tụ của phong trào Zionism có ý thức rất vững vàng và mạnh mẽ về quốc gia-dân tộc của mình, nguyện vọng xây dựng lại một nước Israel theo khuôn mẫu của vương quốc Judea thấm sâu trong lòng mỗi người Do Thái. Chính nhờ ý thức quốc gia-dân tộc mạnh mẽ và sâu xa đó, cộng với sự đoàn kết xây dựng trên nền tảng huyết hệ và tôn giáo bản xứ đồng nhất – Judaism – mà người Do Thái đã giữ được tinh thần độc lập của mình, biết tận dụng mối quan hệ đặc biệt với Mỹ để phục vụ cho quyền lợi của đất nước và dân tộc họ.

    Cách tổ chức và khả năng vận động hành lang (lobby) của người Do Thái ở Mỹ cũng là một điều đáng được nghiền ngẫm bởi tất cả những người Mỹ gốc Việt nào còn ưu tư về tương lai của Dân Tộc và Quê Hương, còn mong muốn chính trị của quê hương thứ hai mang đến những tác động tích cực cho quê hương đầu tiên. Ngoài tài tổ chức ra, trong lãnh vực này người Do Thái cũng không để cho các chính khách Mỹ lợi dụng họ; trái lại người Mỹ gốc Do Thái đã biết khai thác tối đa cơ cấu chính trị của nước cư trú để phục vụ cho quyền lợi tối thượng của quốc gia Israel. Sự nhạy bén chính trị cũng như nhiệt tình và sự đòan kết của cử tri Mỹ gốc Do Thái thật là tuyệt vời và đáng cho chúng ta khâm phục.

    © Trương Đình Trung


    Sau khi đọc kinh thánh , tôi phát hiện ra đoạn này

    http://www.biblegateway.com/passage/?search=Deuteronomy 7&version=BPT

    Phục Truyền Luật Lệ 7
    6 Các ngươi là dân thánh thuộc về CHÚA là Thượng Đế các ngươi. Ngài đã chọn các ngươi từ mọi dân trên đất để làm dân thuộc riêng cho Ngài.

    Mọi dân nghĩa là số nhiều , vậy do thái không phải là 1 dân tộc thuần chủng, và hiện nay thì lời tiên tri đó đã ứng nghiệm và vẫn đang ứng nghiệm.

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]

    http://www.biblegateway.com/passage/?search=Deuteronomy 7&version=BPT

    Phục Truyền Luật Lệ 7
    7 Không phải CHÚA yêu thương và chọn lựa các ngươi vì các ngươi đông hơn các dân khác đâu.
    Thật ra các ngươi là dân tộc nhỏ bé nhất.

    Brisbaneman
    [​IMG]
    The only real explanation for the survival of and return of the Jews to Israel and their success in restoring the wastelands, creating a vibrant and strong nation is that it must be part of the Divine Plan. It really is important as shown in the music video that religious Jews communicate the joyous and pious aspects of Judaism to members of the IDF who apart from military prowess need to also believe in and observe the Torah in order to be able to protect Israel.

    Last edited by a moderator: 10/07/2014
  2. chubachup11

    chubachup11 Thành viên tích cực

    Tham gia ngày:
    24/09/2013
    Bài viết:
    298
    Đã được thích:
    3
    rất thích văn thơ thầy Tân, thầy dạy tiếng anh cũng hay nữa
  3. macay3

    macay3 LSVH - KTQSNN Moderator

    Tham gia ngày:
    26/10/2007
    Bài viết:
    2.963
    Đã được thích:
    1.595
    Lý do Mỹ ủng hộ Israel
    Trần Ngọc Cư dịch

    [​IMG]

    Chìa khóa đích thực cho chính sách Israel của Washington là sự hậu thuẫn lâu dài và rộng lớn của công chúng Mĩ nói chung dành cho quốc gia Do Thái.

    Ngày 12 tháng Năm năm 1948, trước nội các chia rẽ của Tổng thống Harry Truman, Clark Clifford, luật sư trưởng của Nhà Trắng, đưa ra những lí lẽ biện hộ cho việc Hoa Kì công nhận quốc gia Do Thái. Với sự chứng kiến của một George Marshall, bộ trưởng ngoại giao lườm lườm đôi mắt và một Robert Lovett, thứ trưởng của Marshall đầy vẻ hoài nghi, Clifford lí giải rằng việc công nhận quốc gia Do Thái sẽ là một hành động nhân đạo phù hợp với những giá trị truyền thống của Mĩ. Để chứng minh cho quyền đòi lãnh thổ của người Do Thái, Clifford đã trích dẫn Đệ nhị Luật của Cựu ước (Deuteronomy): “Đây, ta trao đất đó cho các ngươi, hãy vào và chiếm hữu đất mà Đức Chúa đã thề với cha ông các ngươi, là Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, rằng Người sẽ ban cho họ và dòng dõi họ sau này.” [1]

    Marshall không được thuyết phục cho lắm và đã nói thẳng với Truman rằng ông sẽ bỏ phiếu chống lại vị tổng thống này trong kì bầu cử tới nếu đây là chính sách của ông ta. Nhưng cuối cùng, Marshall đồng ý không công bố sự chống đối của mình. Chỉ hai ngày sau đó, Hoa Kì thật sự công nhận tân quốc gia Do Thái, 11 phút sau khi Israel tuyên bố sự hiện hữu của mình như một quốc gia. Nhiều quan sát viên, trong cũng như ngoài nước Mĩ, gán ghép quyết định của Truman với quyền lực của cộng đồng Do Thái tại Hoa Kì. Họ cho rằng lá phiếu và ảnh hưởng báo đài của người Do Thái, cũng như những đóng góp tài chánh của họ vào quĩ vận động tranh cử là trọng yếu trong cuộc chạy đua sát nút vào Nhà Trắng năm 1948.

    Kể từ đó về sau, lối lí giải này cứ thế mà được lặp đi lặp lại. Những chuyên gia khả kính về chính sách đối ngoại của Mĩ thường kêu gọi Washington cần phải thận trọng với vùng Trung Đông và từng cảnh báo nhiều vị tổng thống rằng sự hậu thuẫn quá đáng dành cho Israel sẽ gây tổn thất nghiêm trọng cho Hoa Kì trên trường quốc tế. Khi các tổng thống Mĩ gạt bỏ chuyên gia tư vấn qua một bên để đi theo một lập trường thân-Israel, nhiều nhà quan sát bèn gán ghép động thái này cho nhóm vận động hành lang của Israel và cứ thế mà khen (hay chê) nhóm này vì đã lay chuyển được người đứng đầu ngành hành pháp. Tuy nhiên, còn có một yếu tố khác cần được xét đến. Như người viết tiểu sử cho Truman là David McCullough đã ghi nhận, sự hậu thuẫn mà Truman dành do quốc gia Do Thái “được nhiệt liệt hoan nghênh” trên toàn nước Mĩ. Một cuộc thăm dò ý kiến của Gallup tháng Sáu năm 1948 cho thấy rằng số người Mĩ “đồng tình với người Do Thái” nhiều gấp ba lần số người Mĩ “có thiện cảm với người Ả-rập”. Hậu thuẫn này không phải là một ngọn lửa rơm. Sự ủng hộ rộng lớn của dân ngoại Do dành cho nước Israel là một trong những lực chính trị mạnh nhất trong chính sách đối ngoại của Hoa Kì, và trong 60 năm qua, chưa hề có một cuộc thăm dò nào của Gallup cho thấy số người Mĩ đồng tình với người Ả-rập hay người Pa-lét-tin đông hơn số người bênh vực cho dân Israel.

    Hơn thế nữa, qua thời gian, thiện cảm dành cho nước Israel ngày càng gia tăng tại Mĩ, đặc biệt trong các tầng lớp dân chúng phi-Do-Thái (non-Jews). Những năm Bush nắm chính quyền đánh dấu hậu thuẫn của Hoa Kì dành cho Israel đạt đến mức cao hơn bao giờ cả, và hậu thuẫn này chưa hề suy giảm suốt trong hai nhiệm kì của Bush. Sự gia tăng hậu thuẫn này đã diễn ra thậm chí vào lúc tỉ trọng dân số của người Do Thái trong xã hội Hoa Kì bị suy giảm. Vào năm 1948, người Do Thái chiếm khoảng 3,8 phần trăm dân số Hoa Kì. Cứ cho như hầu hết mọi người Do Thái tại Mĩ ủng hộ một chính sách đối ngoại thân-Israel vào năm đó, thì khoảng 10 phần trăm số người tại Mĩ ủng hộ Israel là có gốc gác Do Thái. Vào năm 2007, người Do Thái chỉ chiếm 1,8 phần trăm dân số Hoa Kì và nhiều lắm họ cũng chỉ chiếm 3 phần trăm số người ủng hộ Israel tại Mĩ.

    Những con số này, dù ấn tượng thật đấy, nhưng cũng chưa nói hết mức độ hậu thuẫn thực sự của công chúng Mĩ dành cho Israel. Khi Trung tâm Nghiên cứu Pew đặt câu hỏi trong một cuộc thăm dò ý kiến năm 2006, liệu chính sách Mĩ ở Trung Đông có công bằng không, hay đã thiên vị Israel hoặc thiên vị người Pa-let-tin, có đến 47 phần trăm số người trả lời phỏng vấn cho rằng chính sách này công bằng, 6 phần trăm nói rằng chính sách này bênh vực người Pa-let-tin, và chỉ 27 phần trăm nghĩ rằng chính sách Mĩ đã thiên vị Israel. Cuộc thăm dò được xúc tiến trong thời gian Israel tấn công lực lượng Hồi giáo Hezbolla ở Nam Li-băng, một thời điểm mà sự hậu thuẫn của Hoa Kì dành cho Israel thậm chí gây nhiều tranh cãi trên khắp thế giới hơn lúc bình thường. Vì thế, chúng ta phải kết luận rằng khi trả lời cuộc phỏng vấn, nhiều người trong số những người Mĩ cho rằng Hoa Kì có chính sách công bằng đối với cả hai phía trong cuộc xung đột Trung Đông thật ra cũng chỉ là những người ủng hộ những chính sách mà hầu hết quan sát viên nước ngoài sẽ cho là thân-Israel một cách quá nồng nhiệt và thậm chí tắc trách. Ít khi công chúng Mĩ thiên về một chính sách đối ngoại nào rõ nét như thế này, sâu sắc như thế này, bền bỉ như thế này – và xung khắc với công luận của nhiều nước khác như thế này.

    Ở Hoa Kì, một chính sách đối ngoại thân-Israel không tiêu biểu cho sự thắng thế của một nhóm vận động hành lang nhỏ bé vượt lên trên lên ý chí của đại chúng. Trái lại, nó phản ánh sức mạnh công luận trong việc hình thành chính sách đối ngoại bất chấp cả những lo ngại của giới chuyên gia. Tương tự như cuộc chiến chống ma túy và hàng rào dọc theo biên giới Mê-hi-cô, sự hậu thuẫn dành cho Israel là một chính sách đối ngoại của Mĩ từng làm cho một số chuyên gia ái ngại nhưng lại chiếm được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng. Điều này không có nghĩa là “nhóm vận động hành lang cho Israel” không hiện hữu hoặc không ảnh hưởng tới việc định hướng chính sách của Mĩ tại Trung Đông. Điều này cũng không có nghĩa là người Mĩ nên duy trì những định kiến của mình. (Tôi vẫn giữ quan điểm rằng tất cả mọi người, kể cả người Mĩ và người Israel, sẽ được lợi lộc nếu người Mĩ bày tỏ một sự hiểu biết toàn diện hơn và thiện cảm hơn đối với nhu cầu của người Pa-let-tin.) Nhưng điều này thực ra có nghĩa là cội nguồn sâu xa nhất của chính sách Trung Đông của Mĩ nằm ngoài vòng đai thủ đô Washington và nằm ngoài cộng đồng Do Thái. Muốn hiểu lí do tại sao chính sách của Hoa Kì luôn thiên vị Israel hơn là trung lập hay thân với người Pa-let-tin, chúng ta phải nghiên cứu xuất xứ của sự hậu thuẫn này từ giới bình dân và phi-Do-Thái (non-Jewish) đối với quốc gia Do Thái.

    Con cái của David [2]

    Lịch sử của việc Hoa Kì hậu thuẫn cho một quốc gia Do Thái tại Trung Đông bắt đầu khá sớm. John Adams [vị tổng thống thứ hai của Hoa Kì] đã dùng những lời lẽ bộc bạch nhất của mình: “Tôi thành thật cầu chúc cho người Do Thái có lại một quốc gia độc lập trong vùng Judea.” Ông nói điều này sau khi rời ghế tổng thống. Từ đầu thế kỉ 19 trở về sau, những người dân ngoại Do [3] theo chủ nghĩa Xi-ôn-nít [4] (gentile Zionists) rơi vào hai trường phái. Phái Xi-ôn-nít tiên tri (prophetic Zionists) dự kiến người Do Thái sẽ trở về Đất Hứa như cách thể hiện theo nghĩa đen lối giải thích lời các ngôn sứ trong Kinh thánh, những điều tiên tri có liên quan tới sự trở lại trần gian của đức Ki-tô và ngày tận thế. Chẳng hạn, dựa trên lối lí giải của chính mình về Chương 18 của những lời tiên tri của ngôn sứ Isaiah [Cựu ước], mục sư John McDonald thuộc giáo phái Albany Presbyterian đã tiên đoán vào năm 1814 rằng nhân dân Mĩ sẽ giúp người Do Thái phục hồi quốc gia thời cổ đại của họ. Nhiều tiếng nói trong giáo phái Mormon cũng chia sẻ quan điểm này; vào năm 1841, Kì mục Orson Hyde cho rằng việc người Do Thái trở về Đất thánh đã được khởi động: “Không còn hoài nghi gì nữa, bánh xe vĩ đại hiện đang chuyển động, lời của Đấng Toàn Năng đã tuyên bố rằng bánh xe đó sẽ lăn nhanh.”

    Những tín đồ Ki-tô giáo khác, ít bám vào nghĩa đen của Kinh Thánh và ít dựa vào ngôn sứ hơn, lại triển khai một chủ nghĩa Xi-ôn-nit tiến bộ (progressive Zionism), một lí thuyết có ảnh hưởng qua nhiều thập niên đối với dân ngoại Do trong nhà thờ cũng như ngoài thế tục. Vào thế kỉ 19, những người Ki-tô giáo phóng khoáng thường tin rằng Thiên Chúa đang xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn thông qua sự tiến bộ của loài người. Họ nhận thấy nước Hoa Kì dân chủ và (tương đối) bình đẳng vừa là một gương mẫu của thế giới mới mà Thiên Chúa đang tạo dựng vừa là một công cụ vững mạnh để xúc tiến đồ án vĩ đại của ngài. Một số tín đồ Tin Lành Mĩ (American Protestants) [5] tin tưởng rằng Thượng Đế đang khởi động việc đưa những phần tử gọi là người Do Thái bị xuống cấp và đày đọa trên thế giới trở về Đất Hứa, cũng như Thượng Đế đang nâng đỡ và cải thiện cuộc đời của những người ngu si, kém tin khác xuyên qua sự phát triển những nguyên tắc đạo lí Tin Lành phóng khoáng. Họ mong muốn cho người Do Thái thành lập được một quốc gia riêng vì họ tin rằng sự nghiệp lập quốc này sẽ che chở cho người Do Thái khỏi sự bách hại và, thông qua sức mạnh cứu chuộc của tự do và sự cần lao canh tác lương thiện, sẽ nâng cao và cải thiện tình trạng mà họ cho là sự suy đồi đạo lí và sự dơ dáy đáng trách của người Do Thái đương thời ở đế quốc Ottoman và đông Âu. [Cựu tổng thống Mĩ lúc bấy giờ là] Adams đã nhận định: “Một khi có lại được một chính phủ độc lập và không còn bị bách hại, những người Do Thái này sẽ sớm rũ bỏ phần nào tính cộc cằn thô lỗ, những dị hợm trong nhân cách để có lúc trở thành người Ki-tô giáo cởi mở tin vào một Thiên Chúa Nhất thể [6] (Unitarian Christians).” Đối với những tín đồ Ki-tô giáo phóng khoáng nói trên, chủ nghĩa Xi-ôn-nít Mĩ là bộ phận khắn khít của một chương trình rộng lớn hơn nhằm biến đổi thế giới bằng cách xiển dương những lí tưởng của Hoa Kì.

    Không phải tất cả mọi người theo chủ nghĩa Xi-ôn-nít tiến bộ đều gói ghém lí luận của mình bằng từ ngữ tôn giáo. Ngay từ năm 1816, tờ Niles’ Weekly Register, một báo định kì thông tin và bình luận hàng đầu của Mĩ vào nửa đầu của thế kỉ 19, đã tiên đoán và hoan nghênh sự hồi hương sắp diễn ra của người Do Thái, sự trở về một quốc gia độc lập với thủ đô là Jerusalem. Tạp chí này dự phóng rằng sự nghiệp phục quốc và phục hồi nhân cách của người Do Thái sẽ đẩy mạnh văn minh và tiến bộ – và hiển nhiên là, điều này sẽ rất tốt đẹp cho cả Hoa Kì lẫn người Do Thái.

    Về phần mình, những người theo chủ nghĩa Xi-ôn-nít tiên tri (prophetic Zionists) trở nên đông đảo hơn sau cuộc Nội chiến của Hoa Kì. Quan điểm của họ được triển khai cao độ về vai trò mà một quốc gia Do Thái được phục hưng có thể nắm giữ trong những biến động dẫn đến ngày tận thế. Vào giai đoạn này, những sách báo nêu bật sự phục quốc được tiên tri trong Thánh kinh của người Do Thái và suy đoán về bản sắc và tiến trình hồi hương các “bộ lạc thất tán” của dân Hêbrơ [7] cổ đại là sách bán chạy nhất từ năm này sang năm khác. Sự liên kết giữa Dwight Moody, một người rao giảng Tin Lành (evangelist) [8]hàng đầu trong nước, và Cyrus Scofield, một học giả Kinh thánh quan trọng, đã đặt lịch sử tương lai của nước Israel ở trung tâm tư duy của đạo Tin Lành bảo thủ Mĩ.

    Những nhóm dân ngoại Xi-ôn-nít này tìm được những đồng minh mới, dù đôi khi không như ý, vào khoảng sau năm 1880, tức thời điểm mà đợt nhập cư đông đảo người Do Thái Nga bắt đầu. Một số những di dân mới đến này và một số người Do Thái Đức vốn đã hội nhập vào xã hội Mĩ – cả hai nhóm này – nuôi hi vọng rằng Palestine sẽ thay thế Hoa Kì làm quê hương tương lai cho hạng người bị coi là một tập thể di dân bị khinh ghét khác thường lúc bấy giờ. Đối với những phần tử bài Do Thái (anti-Semites), sự thành lập một quốc gia Do Thái có thể hoặc không có thể “chữa trị” người Do Thái hết những tính chất [tiêu cực] mà nhiều dân ngoại Do gán ghép cho họ, nhưng dù sao đi nữa sự thành lập một quốc gia như thế sẽ giảm bớt làn sóng di dân của người Do Thái vào Hoa Kì.

    Năm 1891, những nhóm dân ngoại Xi-ôn-nít liên kết lại với nhau. William Blackstone, lãnh đạo thế tục thuộc giáo phái Methodist, trình lên Tổng thống Benjamin Harrison một kiến nghị kêu gọi Chính phủ Hoa Kì đứng ra làm trung gian triệu tập một hội nghị các cường quốc châu Âu nhằm thúc đẩy Đế quốc Ottoman giao trả Palestine lại cho người Do Thái. Bốn trăm người kí tên, mà tuyệt đại đa số là các nhân vật phi-Do-Thái, gồm có chủ tịch Tối cao Pháp viện; Chủ tịch Hạ viện; các chủ tịch Ủy ban tài chánh Hạ viện và Ủy ban ngoại vụ Hạ viện; tổng thống tương lai William McKinley; thị trưởng các thành phố Baltimore, Boston, Chicago, New York, Philadelphia và Washington; chủ bút và chủ báo các nhật báo hàng đầu trên bờ Đông và Chicago; và hàng giáo phẩm rất đáng nể của các giáo phái như Episcopal, Methodist, Presbyterian và Công giáo. Các lãnh đạo doanh nghiệp tham gia kí bản kiến nghị gồm có Cyrus McCormick, John Rockefeller, và J.P. Morgan. Vào một thời điểm mà cộng đồng Do Thái tại Hoa Kì vừa không đủ lớn, vừa không đủ mạnh, và cả giới vận động hành lang cho Israel chưa hiện hữu, những thành phần nòng cốt của nhóm dân ngoại Do quyền thế trong xã hội Mĩ (the American gentile establishment) đã chính thức hậu thuẫn một nỗ lực ngoại giao của chính phủ Hoa Kì nhằm lập ra một quốc gia Do Thái trên địa bàn của Kinh thánh.

    Có chung mười điều răn

    Bất cứ một thảo luận nào về thái độ của Hoa Kì đối với Israel phải bắt đầu từ Kinh thánh. Qua nhiều thế kỷ, tư duy của người Mĩ đã được thấm sâu trong Kinh điển Hêbrơ. Ảnh hưởng này có xuất xứ từ việc tái phát hiện Kinh thánh Cựu ước trong thời kì Cải cách (the Reformation), được tăng cường do việc triển khai lí thuyết thần học Calvin [9] (một tín lí nhấn mạnh sự liên lũy giữa những sự sắp đặt tiền định trong thế gian, thời xưa và ngày nay, do hồng ân Thiên Chúa), và được làm sống động hơn lên do những tương đồng lịch sử giữa những trải nghiệm hiện đại của người Mĩ và những gì mà người Hêbrơ cổ đại đã kinh qua. Do đó, ngôn ngữ, các gương anh hùng và tư tưởng Cựu ước luôn thấm sâu vào tâm thức người Mĩ.

    Qua một thời gian dài ở giai đoạn đầu của lịch sử Hoa Kì, việc giảng dạy tiếng Hêbrơ của kinh thánh là điều cưỡng bách ở các đại học Columbia, Dartmouth, Harvard, Princeton và Yale. James Madison hoàn tất chương trình học tại Princeton trong vòng hai năm, nhưng ở nán thêm một năm nữa để học tiếng Hêbrơ. Nhiều giáo sĩ và nhiều tác giả thời Thuộc địa không ngớt mô tả nước Mĩ là một Ca-na-an mới, “một miền đất tràn trề sữa và mật”, đồng thời nhắc nhở thính, độc giả của mình rằng cũng như người Hêbrơ đánh mất phước lành khi họ xúc phạm Thiên Chúa, người Mĩ cũng sẽ chịu khổ nạn nếu họ không chịu nghe theo vị Thượng Đế đã dẫn dắt họ vào miền đất hứa. Cho đến ngày nay, những điển cố Cựu Ước vẫn còn thấm đẩm các bài viết cũng như diễn văn chính trị, và thậm chí trong cả địa lí nữa– hơn một ngàn thành phố lớn, nhỏ tại Hoa Kì có tên lấy từ Kinh thánh.

    Biểu hiện có tính tôn giáo sống động nhất nói lên tầm quan trọng của Kinh thánh Cựu ước trong văn hoá Mĩ ngày nay là sự trỗi dậy của thuyết nói về mệnh trời trước ngày tận thế (premillennial dispensationalism), đây là một lối diễn giải những điều tiên tri trong kinh thánh, một lý thuyết mang lại trọng lượng đặc biệt cho các ý niệm tôn giáo trong Cựu ước như khoa thần học giao ước (covenant theology) [10] , và dành vai trò quyết định lịch sử tương lai cho quốc gia Do Thái, một quốc gia được phục hồi (với thủ đô là Jerusalem). Khoảng chừng 7 phần trăm dân Mĩ tỏ ra có lập trường thần học này (nghĩa là nhóm này đông gần gấp 4 lần cộng đồng Do Thái tại Mĩ), đồng thời không ít thì nhiều một số đông hơn đáng kể chịu ảnh hưởng của khuynh hướng này. Những người đề xuất quan điểm này thường (dù không luôn luôn) chia sẻ quan điểm của một số người Do Thái chính thống, rằng người Do Thái phải đòi cho bằng được một quốc gia bao gồm tất cả phần lãnh thổ mà người Hêbrơ từng được Thiên Chúa hứa hẹn; họ chống lại bất cứ một khoan nhượng lảnh thổ nào với người Pa-lét-tin và họ hậu thuẫn các khu định cư Do Thái ở bờ Tây sông Jordan. Tuy nhiên, đây vẫn là một quan điểm của thiểu số, ngay cả dưới con mắt những người ủng hộ Israel tại Mĩ.

    Trái lại, chủ nghĩa Xi-ôn-nít Ki-tô giáo tiến bộ liên quan nhiều với đức lí Ki-tô giáo, hơn là dựa vào lời của các ngôn sứ. Phần lớn chủ nghĩa này có gốc rễ trong mặc cảm tội lỗi và trong ý thức rằng sự bạc đãi của người Ki-tô giáo đối với người Do Thái trong quá khứ hiện đang cản trở người Do Thái chấp nhận Ki-tô giáo. Hơn một ngàn năm, người Do Thái ở châu Âu đã chịu đựng những hành động tàn ác phi thường và lắm khi không ngôn từ nào diễn tả được do bàn tay của người Ki-tô giáo châu Âu. Mặc dù một số tín đồ Tin Lành Mĩ có thời đã kéo dài lịch sử thiếu độ lượng và bài Do Thái này, nhưng từ thế kỉ 19 trở về sau nhiều tín đồ Tin Lành phóng khoáng Mĩ đã coi việc từ bỏ quá khứ này như một trong những nhiệm vụ xác định tính chất của một giáo hội Mĩ cải cách và giác ngộ. Những tín đồ Tin Lành này có thể (và đã thoải mái) chỉ trích chủ nghĩa bài Do Thái của Công giáo La Mã, gọi đây là một hậu quả do những thối nát đáng tiếc dưới chế độ giáo hoàng; nhưng người ta cũng không dễ gì bỏ qua những hành động và những tuyên truyền bài bác Do Thái do chính những nhà cải cách tôn giáo như [người sáng lập đạo Tin Lành] Martin Luther. Nhiều thành viên trong các giáo phái Tin Lành cởi mở Mĩ đã coi mình có nhiệm vụ thiêng liêng là phải hoàn tất sự nghiệp của thời Cải cách (the Reformation) bằng cách tẩy sạch Ki-tô giáo khỏi những tàn tích “trung cổ” như mê tín, thiên kiến, và chủ nghĩa bài Do Thái. Việc sám hối những tội lỗi quá khứ bằng cách bênh vực người Do Thái đã và đang là một thể nghiệm đức tin quan trọng đối với nhiều (mặc dù hẵn nhiên không phải đối với tất cả) tín đồ Tin Lành Mĩ.

    Tương phản với thái độ thân Do Thái, đa số tín đồ Ki-tô giáo Mĩ ít khi hoặc không hề có cảm thức tội lỗi nào về những lối ứng xử trong lịch sử của cộng đoàn mình đối với thế giới Hồi giáo. Nhiều tín đồ Hồi giáo coi cuộc xung đột Ki tô giáo-Hồi giáo kéo dài hơn một ngàn năm qua là một hiện tượng liên tục và tương đối thuần nhất, nhưng tín đồ Tin Lành Mĩ lại không nhìn nhận như vậy. Chẳng hạn, họ thường chê trách những tàn bạo của các cuộc Thập tự chiến (the Crusades) và chỉ trích quan niệm thánh chiến, nhưng họ lại coi đây là những sai lầm của Công giáo La mã chứ không phải của Ki-tô giáo nói chung. Và dẫu sao, họ coi những cuộc Thập tự chiến ấy như đã lùi sâu vào dĩ vãng và âu cũng là phản ứng trả đũa sự xâm lấn trước đó của người Hồi giáo. Họ cũng thường phê phán sự bóc lột thuộc địa của các cường quốc châu Âu trong các thế kỉ vừa qua, nhưng họ lại coi những khai thác bóc lột đó là do tham vọng đế quốc của Cựu thế giới chứ không do Ki-tô giáo gây ra và vì thế đó là điều họ không chịu trách nhiệm. (Một biệt lệ quan trọng đáng được nhắc đến: Nhiều nhà truyền giáo Mĩ hoạt động tích cực ở Trung Đông đã tạo được quan hệ sâu đậm với người Ả-rập trong vùng và đã hậu thuẫn mạnh mẽ cho chủ nghĩa dân tộc Ả-rập, vừa vì họ không ưa thích chủ nghĩa thực dân châu Âu vừa vì họ hi vọng một phong trào dân tộc có tính thế tục sẽ cải thiện vị thế của các Ki-tô hữu Ả-rập. Cộng đồng truyền giáo này vừa góp phần phát triển đội ngũ giới chức quan tâm đến quyền lợi Ả-rập trong Bộ Ngoại giao Mĩ vừa giúp tạo ra phản ứng khá dữ dội trong nhiều giáo phái Tin Lành chính mạch chống lại các chính sách của Israel trong vùng lãnh thổ bị chiếm đóng sau cuộc chiến 1967.)

    Khoảng trước năm 1948, nhiều tín đồ Ki-tô giáo Mĩ cảm thấy một gánh nặng lương tâm về món nợ và nghĩa vụ lịch sử đối với người Do Thái, nhưng họ không hề cảm thấy điều này đối với người Á rập. Có chăng là, họ chỉ nghĩ rằng thế giới Hồi giáo phải chịu mang ơn các nhà truyền giáo Hoa Kì đã xây dựng nhiều đại học và bệnh viện hàng đầu tại Trung Đông và rằng chính sự hậu thuẫn của người Ki-tô giáo Mĩ trước và sau Thế chiến II đã góp phần thúc đẩy sự trổi dậy của các quốc gia Á rập và Hồi giáo độc lập, một phong trào đang diễn tiến lúc bấy giờ.

    Những người bà con do Chúa chọn

    Ý thức về bản sắc riêng biệt và sứ mệnh của Hoa Kì được bồi đắp qua quá trình tiếp thu sử sách và tư tưởng Hêbrơ. Nhà văn Mĩ Herman Merville đã diễn tả quan điểm này như sau: “Người Mĩ chúng ta là nhân dân đặc biệt, được Chúa chọn – là nước Israel thời đại mới; chúng ta gánh lấy chiếc thuyền Nô-ê chứa đầy các quyền tự do trên thế giới.” Từ thời đại của những người Thanh giáo (Puritans) cho đến ngày nay, nhiều giáo sĩ, nhà tư tưởng và chính khách tại Hoa Kì – thế tục cũng như tôn giáo, phóng khoáng cũng như bảo thủ – vẫn coi người Mĩ là một khối nhân dân do Chúa chọn, ràng buột với nhau theo huyết thống thì ít nhưng theo một hệ thống tín lí và một định mệnh chung thì nhiều. Nhiều người Mĩ vẫn còn tin tưởng rằng Thiên Chúa (hay lịch sử) đã đưa họ đi vào một vùng đất mới và làm cho họ trở thành vĩ đại, giàu có, và rằng sự phồn vinh bền vững của họ sẽ tùy thuộc vào việc họ chu toàn bổn phận đối với Thiên Chúa hay theo đúng những nguyên tắc đạo lí đã mang lại ơn phước cho họ từ trước tới nay. Nếu họ sao lãng những nguyên tắc này – như khi người Do Thái quay ra sùng bái con bò bằng vàng lúc Mô-se vắng mặt – thì tai họa sẽ giáng xuống trên đầu họ.

    Cả người Mĩ mộ đạo lẫn người Mĩ thế tục đều hướng tới Kinh thánh Hêbrơ để tìm ra một tấm gương của một dân tộc có tính đặc thù nhờ sứ mệnh riêng và được ơn kêu gọi gánh vác một định mệnh là làm thay đổi thế giới. Phải chăng đất đai người Mĩ đang cư ngụ đã có thời thuộc về người khác? Vâng đúng vậy, nhưng trong một cách thế tương tự, người Hêbrơ đã từng chiếm đất của người Ca-na-an. Phải chăng các thuộc địa bé nhỏ tại Mĩ chỉ được trang bị bằng sức mạnh công lí của chính nghĩa mà đã đánh thắng một đế quốc vĩ đại nhất thế giới? Vâng, cũng giống như David, cậu bé chăn cừu khiêm tốn, đã quật ngã người khổng lồ Goliath. [11] Phải chăng người Mĩ vào thế kỉ 19 từng bị cô lập và bị nhạo báng vì những lí tưởng dân chủ của mình? Vâng, trong hoàn cảnh tương tự, người Hêbrơ cũng bị các sắc dân thờ bái thần tượng bao vây. Phải chăng người Mĩ đã từng đánh thắng giặc trong, thù ngoài? Vâng, theo Kinh thánh, người Hêbrơ cũng từng chiến thắng như vậy. Phải chăng vì vi phạm chính những tín lí của mình khi cầm giữ hàng triệu nô lệ, người Mĩ đã bị trừng phạt và hứng chịu nhiều tai hoạ? Vâng, rất giống như người Hêbrơ, một dân tộc đã hứng chịu hậu quả của tội lỗi mình trước mặt Thiên Chúa.

    Nhận thức đầy huyền thoại này về bản chất và định mệnh nước Mĩ là một trong những yếu tố có tác động mạnh mẽ và bền bỉ nhất trong văn hóa và tư tưởng Hoa Kì. Như người Hêbrơ cổ đại từng tin tưởng, nhiều người Mĩ ngày nay cũng tin tưởng rằng họ mang một mặc khải, nhiên hậu không những cho chính họ mà cho toàn thế giới; họ thường tự coi mình là nước Israel mới của Thiên Chúa. Một trong những hậu quả của việc nhìn họ hàng (presumed kinship) này là nhiều người Mĩ cho rằng việc một dân tộc được Chúa chọn (chosen people) này hậu thuẫn cho một một dân tộc được Chúa chọn khác là điều vừa hợp lẽ phải vừa chính đáng. Họ không cảm thấy áy náy khi sự hậu thuẫn của Hoa Kì dành cho Israel, một dân tộc và một quốc gia thường bị nhiều nước cô lập và khai trừ, làm cho Hoa Kì bị ghét lây hoặc gây ra nhiều vấn đề khác. Việc Hoa Kì nhận lãnh vai trò của một kẻ che chở cho Israel và một người bạn của người Do Thái là một cách hợp thức hóa địa vị riêng của một quốc gia được Thiên Chúa giao cho một định mệnh độc đáo.

    Hơn thế nữa, từ thế kỉ 19, Hoa Kì đã tự coi mình là đại lí được Thiên Chúa chọn ra để bảo vệ và cứu chuộc dân tộc Do Thái. Người Mĩ từng tin rằng người Do Thái sẽ vươn lên từ thân phận đọa đày khi họ rời bỏ những khu ổ chuột trong thành phố để về sống ở các vùng thôn quê – y như những người di dân đến Mĩ từ khắp châu Âu đã xây dựng được cuộc sống tốt đẹp hơn và nhân cách vững vàng hơn khi họ trở thành những nông dân theo mô hình kinh tế nông nghiệp Jefferson (Jeffersonian farmers) [12] . Những tín đồ Ki-tô giáo cởi mở như [tổng thống] Adams tin tưởng rằng tiến trình này sẽ kịp thời đưa người Do Thái đến với ánh sáng của giáo phái Tin Lành khai phóng, nằm trong nỗ lực là thăng tiến toàn thể nhân loại. Còn những người theo chủ nghĩa Xi-ôn-nit tiên tri (prophetic Zionism) thì hi vọng rằng việc hàng loạt người Do Thái cải sang Ki-tô giáo hồi sinh (revivalist Christianity) sẽ nhanh chóng chuyển sang giai đoạn khải huyền [tận thế] cùng với sự trở lại thế gian của đức Ki-tô. Bằng cách này hoặc bằng cách khác, vai trò đặc biệt của Hoa Kì trong việc phục hồi nhân phẩm và chỗ đứng của người Do Thái đã thể hiện những kì vọng của dân ngoại Do Mĩ về sự chuyển động của lịch sử và khẳng định niềm tin tưởng của họ về bản sắc và sứ mệnh của Hiệp Chúng Quốc.

    Những quốc gia thực dân

    Hiệp Chúng Quốc và Israel còn có chung một tình trạng là “quốc gia thực dân”–những nước được thành lập bởi các dân tộc đã giành quyền kiểm soát lãnh thổ cho riêng mình sau khi trục xuất các dân tộc bản địa. Cả hai quốc gia được nhào nặn mạnh mẽ bởi một lịch sử xung đột và đối đầu với những sắc dân bị họ trục xuất, và cả hai đều tìm lí lẽ biện minh cho hành vi của mình từ những nguồn đạo lí tương tự. Cả người Mĩ lẫn người Israel chủ yếu tìm sự biện minh từ Kinh thánh Cựu ước, trong đó có những trang sách thiêng liêng kể lại tích truyện về sự xung đột giữa người Hêbrơ cổ đại và người Ca-na-an, cư dân trước đó của phần lãnh thổ mà người Hêbrơ tin tưởng là Đất Hứa của họ. Người Mĩ tìm thấy nhiều hấp dẫn trong quan niệm cho rằng họ là quốc gia Israel mới của Thiên Chúa một phần cũng vì quan niệm này biện minh cho việc họ đã trục xuất và giành đất của người Mĩ bản địa [dân da đỏ]. Như Theodore Roosevelt đã viết trong cuốn lịch sử miền Tây Hoa Kì, đương thời được liệt là sách bán chạy nhất: “Nhiều người trong những công dân xuất sắc ở vùng sâu vùng xa là những người ham đọc Kinh Thánh, nhưng họ được nuôi dưỡng theo một đức tin phần lớn được rao giảng trong Cựu ước, một đức tin không coi trọng lòng thương hại, sự thật, hay từ bi. Họ nhìn kẻ thù của mình theo cách những ngôn sứ Hêbrơ đã nhìn kẻ thù của Israel. Những hành vi ghê tởm đã khiến cho người Ca-na-an bị tiêu diệt trước mắt Joshua [13] đâu có nghiã lí gì nếu đem so với những sự hèn hạ của bọn mọi da đỏ khiến người Mĩ, cũng là một giống dân Chúa chọn, đến phiên mình có bổn phận phải thừa hưởng đất đai của chúng.” (Bản thân Roosevelt, cũng như những người em họ Franklin và Eleanor, là một người Ki-tô giáo theo chủ nghĩa Xi-ôn-nít. “Đối với tôi, việc khởi sự thành lập một quốc gia Xi-ôn-nit chung quanh Jerusalem là hoàn toàn thích đáng”, Roosevelt viết như thế năm 1918.)

    Ngoài một lời hứa hẹn trực tiếp từ Thiên Chúa, hai biện minh quan trọng mà người Mĩ đưa ra trong những cuộc tranh chấp lãnh thổ với người Mĩ bản địa là quan niệm cho rằng họ chỉ bành trướng vào “những vùng đất hoang vu” và lí thuyết liên hệ của John Locke về “việc sử dụng tài sản công bằng hợp lí”, theo đó một tài sản không có người dùng là một sự phí phạm và là một xúc phạm đối với thiên nhiên. Những người đến lập nghiệp ở Mĩ cho rằng chỉ những ai có thể cải thiện đất đai, bằng cách thiết lập san sát trên đó nhiều nông trại rộng lớn và xây dựng trên đó nhiều phố thị, mới có thực quyền làm chủ đất đai ấy. Từ năm 1802 [tổng thống tương lai] John Quincy Adams đã bênh vực cho luận điểm này: “Liệu [người da đỏ] dám bắt cả một vùng đất bao la của địa cầu phải chịu đời đời hoang phế hay sao...? Còn Thomas Jefferson thì cảnh báo rằng những người Mĩ bản địa nào không chịu học hỏi người da trắng, không đi vào con đường canh tác sản xuất thì phải chịu số phận đen tối. Họ sẽ “thoái hoá trở lại tình trạng man rợ khốn cùng, sẽ hao hụt dân số vì chiến tranh và thiếu đói; khi đó chúng ta buột lòng phải xua đuổi họ, cùng với loài dã thú trong rừng, vào vùng núi đá.”

    Suốt phần lớn lịch sử Hoa Kì, những quan điểm như thế có âm hưởng lớn không những đối với dân vùng sâu vùng xa mà còn đối với cả những công dân lịch lãm và phóng khoáng. Những luận cứ này mang một ý nghĩa đặc biệt khi bàn đến Đất thánh. Trong khi người Mĩ mộ đạo miệt mài chiêm nghiệm những huy hoàng của thành Jerusalem cổ đại và Đền Solomon [14] , họ đã vẽ lên trong tâm trí mình một miền đất phì nhiêu hoành tráng – “một quê hương tràn trề sữa tươi và mật ngọt”, như Kinh thánh mô tả. Nhưng vào khoảng đầu thế kỉ 19, khi hàng chục người đầu tiên, rồi đến hàng trăm người, và cuối cùng hàng ngàn người đi hành hương Đất thánh – đồng thời thêm hàng triệu người đổ xô đến dự những buổi thuyết trình để nghe tường thuật những chuyến đi này – người ta mới vỡ lẽ rằng chẳng có chi đáng gọi là sửa tươi và mật ngọt; Palestine lúc bấy giờ chỉ là một trong những tỉnh nghèo nàn nhất, lạc hậu nhất, tả tơi nhất của Đế quốc Ottoman. Trước mắt người Mĩ, những sườn đồi và những cánh đồng sỏi đá của vùng Judea trông rất thê lương, trống trải – khiến nhiều người tin rằng Thiên Chúa đã rủa sả vùng đất này khi ngài đày dân Do Thái vào cuộc lưu vong thứ hai, một cuộc lưu vong mà họ cho là hình phạt người Do Thái phải gánh chịu vì không chịu nhìn nhận đức Ki-tô là đấng Cứu thế. Và vì thế, nhiều người Mĩ tin tưởng, người Do Thái thuộc về Đất thánh và Đất thánh phải thuộc về người Do Thái. Người Do Thái sẽ không bao giờ cất đầu lên được bao lâu mà họ chưa về lại quê nhà, chưa được tự do, và đất thánh sẽ không bao giờ đâm bông kết trái bao lâu mà những người chủ chân chính của nó chưa trở về.

    Ngôn sứ Isaiah đã mô tả cuộc hồi hương tương lai của dân Do Thái là hồng ân Thiên Chúa mang nước tưới lên sa mạc. Và nhiều người Mĩ đang chứng kiến mầu mỡ của vùng đất này được phục hồi dưới bàn tay canh tác của những người Xi-ôn-nít đầu tiên mới về lập nghiệp, họ chứng kiến với tất cả cảm giác ngỡ ngàng là những điều tiên tri trong kinh thánh đang trở thành hiện thực ngay trước mắt mình. “Những suối nguồn trong sức mạnh thực dân Do Thái, được nuôi dưỡng hào phóng bằng đồng tiền của cộng đồng Do Thái trên toàn thế giới, đang tuôn chảy tràn trề lên sa mạc”, tạp chí Time đã viết như thế vào năm 1946, vang vọng ngôn ngữ của Tiên tri Isaiah. Hai năm sau, tiếp theo thắng lợi của Do Thái trong cuộc chiến 1948, báo Time lại mô tả dân Ả-rập bằng những từ ngữ khiến người đọc ngày nay phải giật mình nhưng vào thời đó nó tiêu biểu cho cảm thức thông thường của người Mĩ: “Thế giới phương Tây thường coi người Ả-rập như một chinh nhân có đôi mắt diều hâu ngồi trên lưng ngựa trắng. Chàng Ả-rập ấy vẫn còn lẫn khuất đâu đó, nhưng chàng thuộc về một thiểu số quá nhỏ nhoi so với hạng khốn khó, mang đủ thứ bệnh hoạn trong người, đang nằm lây lất trên những con lộ nóng, quá ốm yếu và bạc nhược tinh thần đến độ không còn sức để lăn vào bóng mát.” Người Mĩ chứng kiến một cuộc đọ sức giữa một dân tộc lạc hậu, yếu hèn và một dân tộc có khả năng lập nghiệp trên vùng đất hoang dã và làm cho nó đâm bông kết trái, đang thần kì thể hiện những lời tiên tri xa xưa về một quốc gia Do Thái.

    Trước đó, một cách khá phổ biến, người Do Thái bị coi là khối dân đáng chê trách nhất ở đông Âu: dốt nát, sa đọa, mê tín, chia bè chia phái, hay gây gỗ, và lạc hậu hết thuốc chữa. Sự thể đám dân này, sau khi chịu đựng bao nhiêu dã man chưa từng có dưới sự đàn áp của Đức quốc xã, đã thiết lập được một chế độ dân chủ ổn định đầu tiên ở Trung Đông, xây dựng được một nền kinh tế thịnh vượng trong sa mạc và liên tục đánh bại những kẻ thù có đội quân lớn mạnh hơn mình nhiều lần, đối với nhiều người Mĩ là bằng chứng lịch sử hùng hồn về những lí tưởng tôn giáo mà họ ấp ủ sâu xa nhất.
  4. macay3

    macay3 LSVH - KTQSNN Moderator

    Tham gia ngày:
    26/10/2007
    Bài viết:
    2.963
    Đã được thích:
    1.595
    Bước ngoặt hữu khuynh

    Mặc dù sự hậu thuẫn của dân ngoại Do Mĩ dành cho Israel vẫn còn mạnh và thậm chí gia tăng kể từ Thế chiến II, nhưng tính chất của hậu thuẫn này đã thay đổi. Mãi cho đến Cuộc Chiến Sáu Ngày, phần lớn hậu thuẫn dành cho Israel đến từ giới chính trị tả khuynh và thường thì phe Dân chủ ủng hộ Israel mạnh hơn phe Cộng hòa. Các thần tượng phóng khoáng như Eleanor Roosevelt, Paul Tillich, Reinhold Niebuhr, và Martin Luther King, Jr., đều là những tiếng nói công khai hàng đầu kêu gọi Hoa Kì ủng hộ Israel. Nhưng kể từ 1967, hậu thuẫn của cánh tả dành cho Israel dần dần suy giảm trong khi hậu thuẫn của phe bảo thủ lại gia tăng.

    Nhiều yếu tố khác nhau đã hội tụ lại trong thập niên 1940 để biến chủ nghĩa Xi-ôn-nít ngoại Do tiến bộ (progressive gentile Zionism) thành một thế lực mạnh trong sinh hoạt chính trị của Hoa Kì, nhất là bên cánh tả. Một là, cuộc tàn sát người Do Thái do bàn tay của Đức quốc xã trong Thế chiến II gây chấn động phi thường lên tín đồ Tin Lành Mĩ. Trước đó nước Đức đã có một thời cung ứng lãnh đạo tinh thần cho giáo hội Tin Lành Mĩ, và vì thế thái độ thụ động chấp nhận mà các hầu hết nhà thờ và mục sư Tin Lành Đức dành cho chế độ Quốc xã đã gây sốc đến tận cốt lõi cho toàn khối Tin Lành chính mạch tại Mĩ. Những tín đồ Tin Lành Đức chống chế độ Quốc xã đã trở thành những vị anh hùng đạo lí và thần học tại Hoa Kì thời hậu chiến, đồng thời thái độ chống đối chủ nghĩa bài Do Thái (anti-Semitism) trở thành một thử nghiệm then chốt mà các tín đồ Tin Lành chính mạch Mĩ dùng để đánh giá bản thân và các nhà lãnh đạo. Cơn sốc sâu đậm này đã mạnh mẽ thúc đẩy họ hưởng ứng cứu trợ nhân đạo trước những phát hiện về các lò sát sinh và các cuộc tàn sát tập thể. Nỗi thống khổ của người Do Thái tị nạn, vừa li tán vừa đói nghèo trong một châu Âu hỗn loạn thời hậu chiến, đã khiến điều sau đây trở thành tất yếu: tín đồ Tin Lành Mĩ, sau một thế kỉ vận động đòi quyền sống cho dân Do Thái, sẽ nhiệt tình hậu thuẫn những bước phát triển mà họ cho là có thể đảm bảo an toàn cho người Do Thái châu Âu.

    Yếu tố thứ hai là hậu thuẫn mạnh mẽ của người Mĩ gốc châu Phi (African Americans) dành cho người Do Thái vào một thời điểm mà dân da đen bắt đầu đóng một vai trò to lớn hơn trong sinh hoạt chính trị tuyển cử của Hoa Kì. Suốt thập niên 1930, báo chí của người Mĩ gốc châu Phi đã chăm chú theo dõi việc Hitler áp đặt những chính sách phân biệt chủng tộc. Các lãnh đạo Mĩ gốc châu Phi không để lỡ cơ hội vạch ra những điểm tương đồng giữa việc Hitler đối xử với người Do Thái và những luật phân chủng Jim Crow áp dụng tại miền nam Hoa Kì. [15] Đối với nhiều người Mĩ gốc châu Phi, bằng kinh nghiệm bản thân hằng ngày, họ cảm nhận một cách sống động, hiện thực, cảnh đàn áp mà người Do Thái phải chịu đựng. Sự đàn áp này cũng cung ứng cho họ những luận điểm quan trọng để thuyết phục người da trắng rằng kì thị chủng tộc là vi phạm những nguyên tắc đạo lí của Mĩ và vì thế sự đàn áp người Do Thái ở châu Âu đã đưa đến việc xây dựng một liên minh vững mạnh giữa người Do Thái tại Mĩ và phong trào dân quyền [của người da màu], một liên minh tồn tại từ năm 1945 đến cuối đời Martin Luther King. Ngay cả trong Thế chiến II, các nhà tranh đấu da đen W.E.B. Du Bois, Zora Neale Hurston, Langston Hughes, và Philip Randolph đã ủng hộ tiền thân (precursor) của đảng Likud trong nỗ lực thành lập một quân đội DoThái. Nhà lãnh đạo dân quyền Adam Clayton Powell, Jr., còn đi xa hơn, quyên góp đến 150.000 đôla cho tổ chức Xi-ôn-nit chủ chiến Irgun Zvai Leumi – mà ông gọi là “một tổ chức khủng bố bí mật tại Palestine” – trong một cuộc mit-ting tại Thành phố New York.

    Sự ủng hộ của Liên Xô đối với một quốc gia Israel độc lập cũng giúp phần nào. Ở Yalta, Joseph Stalin đã nói với Franklin Roosevelt rằng bản thân ông ta cũng là một người Xi-ôn-nit. Vào tháng Năm 1947, Bộ trưởng Ngoại giao Xô-viết Andrei Gromyko tuyên bố trước Liên hiệp quốc rằng Liên xô ủng hộ việc thành lập một quốc gia Do Thái. Hậu thuẫn này, dù có ngắn ngủi chăng nữa, đã củng cố quan điểm của nhiều người Mĩ bên cánh tả, rằng việc thành lập một quê hương cho người Do Thái là một phần của cuộc đấu tranh chung cho tiến bộ trên toàn thế giới. Thật ra, trong những thập niên sau thế chiến, nhiều người Mĩ phóng khoáng (American liberals) đã coi việc hậu thuẫn Israel là một phần đóng góp của họ cho chế độ tự do, cho phong trào giải thực (vì người Do Thái ở Palestine cũng đang đòi độc lập bất chấp sự phản đối của Anh Quốc), cho cuộc đấu tranh chống kì thị chủng tộc và tôn giáo, cho chủ nghĩa thế tục, cho chủ nghĩa nhân đạo, và cho truyền thống tiến bộ trong sinh hoạt chính trị của Hoa Kì. Lúc bấy giờ trong mắt của nhiều người, nước Israel xuất hiện như một thí nghiệm thế tục đầy tính lí tưởng của chế độ dân chủ xã hội (social democracy). Cả người Do Thái Mĩ cũng như người dân ngoại Do Mĩ cùng nhau sang tận Israel để thể nghiệm cuộc sống hân hoan, tham gia lao động và sinh hoạt tập thể tại những trang trại công (kibbutz) của các khu định cư. Vì thế, vào năm 1948, khi Truman quyết định hậu thuẫn việc thành lập nước Israel, ông ta không chỉ nghĩ đến lá phiếu của người Do Thái mà thôi. Hậu thuẫn mà Hoa Kì dành cho Israel cũng được lòng người dân da đen miền Bắc, những người được thu hút đến với đảng Dân Chủ nhờ chính sách New Deal [16] và việc Truman từng bước tiến đến hậu thuẫn cho dân quyền. Sự hậu thuẫn cho nước Israel cũng giúp Truman tranh thủ được nhiều cử tri cánh tả, những người mà nếu không vì lợi ích của Israel có thể đã ủng hộ Henry Wallace và đảng Tiến bộ. Ngọn cờ hậu thuẫn Israel cũng giúp Truman giành phiếu của cử tri miền nam bảo thủ, những cử tri đi nhà thờ, đọc kinh thánh, và nhờ thế tăng cường khả năng chống lại ảnh hưởng của cánh Dân chủ miền nam (Dixiecrats) của Strom Thurmond. Quả thật, hậu thuẫn dành cho Israel là một trong những chủ điểm hiếm hoi còn lại để giữ được liên minh vốn đã bị nức rạn của đảng Dân chủ.

    Tuy nhiên, kể từ cuộc chiến 1967, cơ sở của sự ủng hộ dành cho Israel tại Hoa Kì đã chuyển dịch: hậu thuẫn cho Israel có khuynh hướng giảm dần bên cánh tả và gia tăng bên cánh hữu. Bên cánh tả, sự bất mãn đều khắp đối với những chính sách của Israel trong các vùng đất bị chiếm đóng cùng với mối quan tâm ngày một giảm đối với an ninh của nước này, theo sau thắng lợi của nó trong cuộc chiến, đã khiến nhiều người Mĩ gốc châu Phi, nhiều tín đồ Tin Lành chính mạch, nhiều trí thức phóng khoáng, những người một thời từng là đồng minh vững chắc của Israel tại Mĩ, chuyển sang ngày càng có cảm tình với quan điểm của người Pa-let-tin. Ngoài ra, sự đồng cảm ngày một gia tăng của người da đen đối với các phong trào chống thực dân khắp thế giới, sự hao mòn của liên minh da đen-Do Thái trong chính trị nội bộ Mĩ, và thanh thế đang lên của các nhân vật như Malcolm X và các lãnh đạo của tổ chức Nước Hồi Giáo (Nation of Islam) cũng dần dần làm suy giảm sự hậu thuẫn của dân Mĩ gốc châu Phi dành cho Israel. Về phần mình, những giáo phái Tin Lành cởi mở bắt đầu tiếp thu quan điểm của những nhà truyền giáo có thiện cảm với chủ nghĩa dân tộc Ả-rập; đồng thời, khi các giáo phái chính mạch càng ngày càng chỉ trích những quan niệm truyền thống Mĩ về bản sắc và định mệnh quốc gia của Hoa Kì, những tín đồ cởi mở này cũng tránh xa lối tiếp cận Cựu ước truyền thống. (Mặc khác, quan hệ giữa người Công giáo Mĩ và người Do Thái bắt đầu cải thiện sau cuộc chiến 1967, chủ yếu nhờ cách tiếp cận với người Do Thái theo quan điểm thần học mới của Giáo hội Công giáo kể từ Công đồng Va-ti-ca-nô II. [17] )

    Bên cánh hữu, thay đổi nổi bật nhất kể từ 1967 là sự gia tăng đột biến hậu thuẫn dành cho Israel trong giới Ki-tô giáo Tin Lành (evangelical Christians) [18] và, tổng quát hơn, trong hàng ngũ những thành phần mà tôi từng gọi là cử tri “có tính chất Andrew Jackson [19] ” (Jacksonians) ở vùng đại bình nguyên giữa bờ Đông và bờ Tây nước Mĩ. Jacksonians là những cử tri bình dân-quốc gia chủ nghĩa [20] (populist-nationalist), họ ủng hộ một quân đội hùng mạnh và thông thường không mấy tin tưởng các tổ chức quốc tế và viện trợ nhân đạo toàn cầu. Không phải tất cả mọi tín đồ Tin Lành đều là Jacksonians, và không phải tất cả Jacksonians đều là người Tin Lành, nhưng có một số người nhất định thuộc về cả hai nhóm cử tri này. Nhiều người da trắng miền nam là Jacksonians; nhiều cử tri không kiên định lập trường đảng phái ở miền Bắc, còn gọi là những người Dân chủ ủng hộ Reagan (Reagan Democrats), cũng là Jacksonians.

    Nhiều Jacksonians đã có định kiến tiêu cực về người Ả-rập từ thời Chiến tranh lạnh. Họ nhận thấy, dân Pa-lét-tin và các quốc gia Ả-rập thường đứng về phía Liên xô và Phong trào phi-liên kết để chống lại Hoa Kì. Người Ai-Cập đáp lại hậu thuẫn của Hoa Kì trong vụ khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956 bằng cách quay sang phía Xô-viết để mua vũ khí và tìm hậu thuẫn, đồng thời chuyên viên Xô-viết và vũ khí Xô-viết đã giúp các đội quân Á-râp chuẩn bị các cuộc chiến chống Israel. Các Jacksonianscó khuynh hướng nhìn các biến động quốc tế theo lăng kính độc đáo của mình. Cùng với các biến động diễn ra ở Trung Đông từ năm 1967, họ ngày càng có nhiều cảm tình với Israel ngay cả khi nhiều thành phần khác của xã hội Mĩ – và thêm nhiều người nữa ở những vùng khác trên thế giới – ngày càng mất đi cảm tình đối với Israel. Cuộc Chiến Sáu Ngày (the Six-Day War) đã nhen nhúm lại mối quan tâm của những người Xi-ôn-nit tiên tri đối với Israel và, theo cách nhìn của nhiềuJacksonians, cuộc chiến này đã tăng cường những quan hệ sâu sắc giữa Israel và Hoa Kì. Sau thời Chiến tranh lạnh, những người Jacksonian nhận thấy rằng những quốc gia thù nghịch của Mĩ ở trong vùng, như Iraq và Iran, đồng thời cũng là những kẻ thù hung hăng nhất của Israel.

    Những người Jacksonian chiêm ngưỡng chiến công và chiến thắng hoàn toàn là chiến công đẹp nhất. Chiến thắng hoàn toàn, với sức mạnh áp đảo của các binh chủng Israel năm 1967 trước kẻ thù có quân số lớn hơn đến từ ba nước khác nhau là điều mà Jacksonians rất mơ ước – nhất là vào một thời điểm mà khả năng chiến đấu yếu kém của Hoa Kì tại Việt Nam đã khiến nhiều Jacksonians đâm ra bi quan về tương lai của quốc gia mình. Kể từ đó, chính một số hành động quân sự đã làm tổn thương uy tín của Israel đối với hầu hết các nước trên thế giới – chẳng hạn những phản ứng quá đáng đối với quân khủng bố Pa-let-tin – lại gia tăng hậu thuẫn cho quốc gia này từ phía Jacksonians.

    Đôi khi chỉ vài đạn pháo từ dải Gaza bắn vào lãnh thổ Israel, quân đội Israel lại phản ứng bằng một hoả lực mạnh hơn, gây nhiều đổ nác và nhiều thương vong hơn. Trong con mắt của phần lớn thế giới, đây là sự trả đũa quá đáng, một vi phạm tương đương hay thậm chí nghiêm trọng hơn cuộc tấn công của kẻ gân hấn. Thế nhưng, Jacksonians coi mỗi loạt pháo kích của người Pa-lét-tin nhắm vào các mục tiêu ở Israel là một hành động khủng bố và họ cho rằng người Israel có toàn quyền, thậm chí có nghĩa vụ, trả đũa bằng tất cả sức mạnh có thể huy động được. Kể từ thập niên 1950, cứ mỗi lần quân đặc công Palestine lẻn qua đường ngưng bắn để tấn công các khu định cư của Israel, nhiều người Pa-lét-tin và người Ả-rập lại biện minh rằng những cuộc đột nhập này là hành động rất can đảm mặc dù phải đối đầu với một hoả lực dữ dội, trấn áp. Nhưng những vụ đột kích nhắm vào các mục tiêu dân sự, và nhất là các vụ tấn công dùng bom tự sát, lại vi phạm các nguyên tắcJacksonian cơ bản về phương thức tiến hành một cuộc chiến văn minh. Những người Jacksonian cho rằng chỉ có một sự trả đủa trấn ác và triệt để chống lại các chiến thuật như thế mới chận đứng việc đặc công đánh phá thêm nữa. Đây là cách người Mĩ sống ở vùng biên đã đối phó với người da đỏ, là cách mà tướng Liên bang [miền Bắc] William Sherman “đã dạy một bài học” cho quân dân miền Nam trong Nội chiến Mĩ, và cũng là cách tướng Douglas MacArthur và Truman đã trả lại cho người Nhật món nợ Pearl Harbor. Những người Jacksonian thực tình không hiểu được vì sao thế giới lại chỉ trích Israel vì đã hành sử điều mà họ cho là quyền tự vệ không khoan nhượng – vì đã làm đúng những điều mà chính họ cũng phải làm nếu ở vào vị trí của Israel.

    Theo quan điểm của người Pa-lét-tin và những người hậu thuẫn họ, người Pa-lét-tin – bị lưu vong, bị cho ra rìa, bị chiếm đóng, bị chia rẽ – là những người yếu thế nhưng anh hùng, dám đương đầu với một siêu cường trong vùng, mà siêu cường này lại được hậu thuẫn của một nước mạnh nhất thế giới. Nhưng theo quan điểm Jacksonian, Israel, dù với tất cả sức mạnh và chiến công của mình, vẫn chỉ là cậu bé David đang lâm nguy, “tứ bề thọ địch”. Sự thể người Ả-rập và toàn thể cộng đồng gồm một tỉ tín đồ Hồi giáo hậu thuẫn chính nghĩa của người Pa-lét-tin, chí ít bằng khẩu hiệu, đã khiến những người Jacksoniancàng tin thêm rằng Israel là một nước nhỏ bé và đang lâm nguy, đáng được giúp đỡ. Bẽ bàng là, một số thành công quân sự chính trị to lớn nhất của phong trào Pa-let-tin – như triển khai một cuộc kháng chiến võ trang năng động, giành được hậu thuẫn (phần lớn chỉ là khẩu khí) từ các tổ chức như Liên minh Ả-rập và ngay cả Đại hội đồng Liên hiệp quốc, chuyển dịch cơ sở chính trị của cuộc kháng chiến Pa-let-tin từ chủ nghĩa dân tộc thế tục (secular nationalism) sang lãnh vực tôn giáo, và giành được hậu thuẫn của các nước mạnh trong vùng như Iraq dưới thời Saddam và Iran ngày nay – rốt cuộc mang lại hậu quả là những thành công này chỉ tăng cường cũng cố thêm sự hậu thuẫn của người dân ngoại Do Mĩ cho quốc gia Do Thái.

    Tình huynh đệ Ki-tô giáo

    Một yếu tố quan trọng khác dẫn đến việc người Mĩ gia tăng hậu thuẫn cho Israel là, kể từ 1967 một loạt phong trào gây lại niềm tin tôn giáo diễn ra đều khắp nước Mĩ, mang lại những hậu quả quan trọng trong thái độ của dân chúng đối với vùng Trung Đông. Một hậu quả là, trong khi các giáo phái Tin Lành chính mạch cởi mở chỉ trích Israel nhiều hơn, họ đánh mất luôn ảnh hưởng chính trị và xã hội của chính mình. Một hậu quả khác là, vai trò của chủ nghĩa Xi-ôn-nít tiên tri (prophetic Zionism) tăng lên đáng kể, với sự kiện tín đồ Ki-tô giáo Tin Lành và chính thống [21] Mĩ hiện nay quan tâm hơn bao giờ cả về những lời tiên tri trong kinh thánh và về vai trò của Israel trên quá trình dẫn đến sự khải huyền [tận thế].

    Nhiều tín đồ Ki-tô giáo Tin Lành và chính thống đã không mấy quan tâm đến Israel sau cuộc chiến giành độc lập của nước này. Theo chỗ họ hiểu, những lời tiên tri trong kinh thánh rõ ràng dự kiến người Do Thái sẽ xây lại Ngôi đền trên vị trí cũ của nó; vì thế họ suy diễn, khi những vị trí thiêng liêng của Jerusalem vẫn còn nằm trong tay người Ả-rập, thì tiến trình dẫn đến ngày tận thế có vẻ đã chậm lại. Trong khi đó, nước Israel thế tục và gần như xã hội chủ nghĩa trong thập niên 1950 ít lôi cuốn người Ki-tô giáo bảo thủ hơn lôi cuốn người Ki-tô giáo cởi mở. Vì phải để mắt vào mối đe dọa cộng sản trong những năm cao điểm của Chiến tranh lạnh, tín đồ Ki-tô giáo Tin Lành và chính thống ít tích cực tham gia vào chính sách Mĩ ở Trung Đông như họ đã từng tham gia vào thế kỉ 19.

    Cuộc chiến Sáu ngày đã thay đổi thái độ đó; nó là lực xúc tác cho phong trào phục hoạt phúc âm và tiếp sức cho chủ nghĩa Xi-ôn-nít tiên tri. Tính chớp nhoáng và tính quyết định của thắng lợi mà Israel đạt được là một phép lạ trong mắt của nhiều người Mĩ; Israel chiếm được Thành cổ (the Old City), điều này có nghĩa là vị trí của Ngôi đền đã về tay người Do Thái. Cảm thức ngày tận thế đang tới gần là một lực tác động mạnh mẽ cho làn sóng phục hoạt tôn giáo tại Mĩ, một phong trào được khởi động trong giai đoạn này. Kể từ đó đến nay, một loạt sách truyện thuộc loại bán chạy nhất, hư cấu cũng như phi-hư cấu, đã nhắm vào sở thích của hàng triệu người Mĩ trong khả năng là ngày tận thế đang triển khai tại Trung Đông, như đã được các ngôn sứ tiên tri trong Cựu ước và Tân ước.

    Từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, thêm một lực tác động nữa đã tăng cường những quan hệ giữa quốc gia Israel và nhiều người Ki tô giáo bảo thủ của Mĩ. Khi cuộc phục hưng tôn giáo mang lại sức mạnh và sinh lực mới cho các giáo hội Tin Lành và chính thống, họ lại càng quan tâm nhiều hơn đến thế giới bên ngoài. Trong quá khứ những cuộc phục hưng tôn giáo như thế đã dẫn đến các cao trào truyền giáo đầy nhiệt tình và rất năng động; cuộc phục hưng tôn giáo hiện nay không khác bao nhiêu. Và khi người Ki-tô giáo Mĩ đã quan tâm nhiều hơn đến an sinh của Ki-tô hữu khắp thế giới, họ đã gặp phải địch thủ quan trọng nhất của Ki-tô giáo toàn cầu, đó là Hồi giáo, và họ bắt đầu nhận chân rằng tình cảnh của người Ki-tô giáo tại một số nước có đa số theo Hồi giáo không được khả quan cho lắm.

    Mối quan tâm về người Ki-tô giáo bị bách hại khắp thế giới là nét đặc trưng trường kì của Ki-tô giáo, và điều này không phải chỉ riêng ở Mĩ mới có. Trong quá khứ, chính những nhà lãnh đạo các giáo hội từng tham gia các nỗ lực bảo vệ người Do Thái ở châu Âu và Đế quốc Ottoman thường cũng là những người tham gia các chiến dịch bảo vệ các tín đồ Ki-tô giáo tại Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật bản, và Đế quốc Ottaman cùng các nơi khác trên thế giới. Phong trào cộng sản, được coi như kẻ thù hung bạo nhất của tôn giáo trong thế kỉ 20, nhiên hậu đã thúc đẩy tín đồ Ki-tô giáo Mĩ xây dựng những tổ chức nhằm hậu thuẫn các tín hữu ở sau Bức màn sắt. Từ năm 1989, sự bách hại tín đồ Ki-tô giáo do bàn tay cộng sản đã giảm nhiều (mặc dù chưa biến mất), và nhờ vậy càng ngày trọng tâm của mối quan ngại càng chuyển qua Trung Đông, nơi nhiều tín đồ Ki-tố giáo và tín đồ của các đức tin khác hay người không theo tôn giáo nào hiện bị phân biệt đối xử về mặt xã hội và pháp lí – và cũng là nơi, lắm khi tín đồ Ki-tô giáo bị đánh đập và sát hại vì đức tin của mình. Luật pháp của nhiều nước Hồi giáo còn cấm truyền đạo và cải đạo – những vấn đề chiếm được quan tâm sâu sắc nhất của người Ki-tô rao giảng Phúc âm (evangelical Christians), những người tin rằng kẻ nào đến phút lâm chung mà chưa tiếp nhận Đức Ki-tô vào lòng thì sẽ chịu cực hình trong hoả ngục và rằng sự nghiệp truyền bá đức tin Ki-tô giáo là một trong những nghĩa vụ đạo lí trung tâm. Những cơ quan truyền thông chính mạch của Mĩ thường không coi nạn bách hại các tín đồ Ki-tô giáo ở nước ngoài là trọng tâm chính cho việc đưa tin của họ, nhưng sự thờ ơ này không ngăn cản được vấn đề tôn giáo ảnh hưởng lên quan điểm của nhiều người Mĩ đối với Hồi giáo và, nói rộng ra, đối với cuộc xung đột giữa Israel với một số nước láng giềng.

    Dư luận tại Hoa Kì về vấn đề Trung Đông không phải là một khối thuần nhất, cũng không phải bất di bất dịch qua thời gian. Từ 1967 đến nay, nó đã kinh qua nhiều chuyển dịch, một số tổ chức hoặc nhóm cử tri trở nên thiện cảm hơn với Israel và một số khác thì ngược lại. Càng ngày người Mĩ gốc châu Phi càng ít ủng hộ đảng Likud hiện nay hơn họ đã từng hậu thuẫn quân đội Do Thái trong Thế chiến II. Thêm nhiều thay đổi có thể xảy ra. Một giới lãnh đạo Pa-let-tin và Ả-rập nhạy cảm hơn đối với những giá trị và những ưu tiên chính trị của nền văn hóa chính trị Mĩ có thể đã phát triển được những chiến thuật mới mẻ và hiệu quả hơn nhằm làm suy yếu, thay vì tăng cường, hậu thuẫn của Mĩ dành cho quốc gia Do Thái. Chẳng hạn, nếu chịu chấm dứt những cuộc tấn công khủng bố để tiến hành một cuộc đấu tranh dân sự bất bạo động có kĩ luật và có tổ chức, họ có thể đã thay đổi được cách nhìn của những người Jacksonian về cuộc tranh đấu của người Pa-let-tin. Một khả năng hoàn toàn có thể xảy ra là, dần dà qua thời gian những tín đồ Tin Lành-chính thống Mĩ sẽ theo bước chân của Jimmy Carter, khi ông ta đi từ một chủ nghĩa Xi-ôn-nít trẻ trung đến một lập trường mà ông cho là quân bình hơn như hiện nay. Nhưng nếu Israel phải đối đầu với bất cứ một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nào, dư luận Mĩ sẽ chuyển hướng ngược lại, và đây có vẻ là một khả năng còn lớn hơn. Nhiều thành phần trong số những người Mĩ ngày nay kêu gọi một chính sách quân bình hơn đối với người Pa-lét-tin, sở dĩ làm như vậy, là vì họ tin rằng trên cơ bản Israel đã được an ninh. Nếu một lúc nào đó thẩm định này thay đổi, những cuộc thăm dò dư luận quần chúng rất có thể sẽ chứng tỏ mức độ hậu thuẫn của Mĩ dành cho Israel còn cao hơn hiện nay.

    Chí ít có một điều gần như hiển nhiên. Trong tương lai cũng như trong quá khứ, dù có tốt hơn hoặc xấu hơn, chính sách ngoại giao của Hoa Kì đối với Trung Đông vẫn tiếp tục được hình thành bởi ý chí của đại đa số dân Mĩ, chứ không bởi những thủ thuật hay mưu mô của bất cứ nhóm thiểu số nào, dù một số thành viên của nhóm này có giàu có hay tích cực tham gia vào tiến trình chính trị đến thế mấy đi nữa.

    Walter Russell Mead là chuyên viên cấp cao trong chương trình Henry A. Kissinger về Chính sách đối ngoại Hoa Kì ở Hội đồng nghiên cứu Quan hệ đối ngoại và, gần đây nhất, là tác giả của cuốn God and Gold: Britain, America, and the Making of the Modern World (Chúa và Vàng: Anh, Mĩ và Sự hình thành của Thế giới Ngày nay).

    [1]Lời dịch trích từ website: http://www.tinlanh.de/cuuuoc.html. (Trừ chú thích số 3, các chú thích là của người dịch)
    [2]Theo Cựu ước, David là vị vua thứ hai của Vương quốc thống nhất Israel. Kinh thánh mô tả ông là một người công chính, một thi sĩ, nhạc sĩ, một danh tướng. Theo biên niên dựa vào kinh thánh, David ra đời khoảng 1037 và mất khoảng 967 trước Công nguyên. Tiểu sử của David có ý nghĩa sâu sắc trong văn hóa Do Thái và Ki-tô giáo.
    [3]‘ngoại Do’: lựa chọn dịch thuật cho tính từ gentile, có ý nghĩa là ‘không phải là người Do Thái’ (về huyết thống và tôn giáo). Để tránh trùng lặp đơn điệu, ở những chỗ khác nhau trong bản dịch này tính từ gentile còn được dịch là ‘phi-Do-Thái’ hoặc ‘ngoại Xi-ô-nít’. (Chú thích của người biên tập)
    [4]Chủ nghĩa Xi-ôn-nit (Zionism) là một phong trào chính trị quốc tế, một chủ trương thoạt đầu ủng hộ việc tái lập một quê hương cho người Do Thái tại Palestine và ngày nay vẫn còn tiếp tục hậu thuẫn quốc gia Israel hiện đại.
    [5]Protestants còn được dịch là tín đồ “Thệ phản giáo” hoặc “Kháng Cách giáo” để nhấn mạnh chủ trương li khai với Giáo hội Công giáo La Mã, một sự kiện lịch sử diễn ra vào thế kỉ 16. Người dịch chọn từ Tin Lành vì tính phổ biến của từ này trong tiếng Việt, nhất là trong hầu hết các tự điển Anh-Việt thông dụng, và nhất là vì nó không làm thương tổn nội dung nguyên bản. Có lẽ vì tinh thần “đại kết” (ecumenism), một nỗ lực đoàn kết giữa các truyền thống Ki-tô giáo khác nhau, chúng ta không thấy các giáo hội Công giáo hay Tin Lành Việt Nam dùng các từ “Thệ phản giáo” hay “Kháng Cách giáo” trong văn chương của họ.
    [6]Những tín đồ Ki-tô giáo theo truyền thống này tin tưởng Thiên Chúa là một ngôi duy nhất, tương phản với quan niệm Chúa Ba ngôi (Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần). Đối với họ, đức Ki-tô là một gương sáng, một vĩ nhân, một ngôn sứ của Thiên Chúa, thậm chí là một đấng siêu nhiên, nhưng bản thân ngài không phải là Thiên Chúa.
    [7]Người Hêbrơ (dân Do Thái cổ đại) là sắc dân mà Kinh thánh Cựu ước mô tả là hậu duệ của Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. Xem thêm chú thích 2.
    [8]Người rao giảng Tin Lành (evangelist, evangelical) tin rằng họ có sứ mệnh truyền bá những điều đức Ki-tô đã dạy và được ghi lại trong các sách Phúc âm (tin mừng) của Tân ước (theo Mat-thêu, Mac-cô, Lu-ca và Gio-an).
    [9]Lý thuyết tôn giáo của John Calvin, một nhà thần học Pháp thế kỉ 16, nhấn mạnh sự toàn năng của Thiên Chúa và sự cứu rỗi có tính cách tiền định mà Thiên Chúa chỉ dành cho một số người được ngài tuyển chọn (xuyên qua hồng ân của ngài mà thôi). Thuyết này phù hợp với quan niệm “tuyển dân” (chosen people) của một số nhà tư tưởng tôn giáo Mĩ.
    [10]Giao ước (convenant) là một tín lí theo đó một cộng đồng tôn giáo tin rằng Thiên Chúa đã liên minh hay hiệp thông với họ. Một ví dụ về quan hệ giao ước trong Do Thái giáo và Ki-tô giáo là quan hệ giữa Áp-ra-ham và Thiên Chúa, theo đó Thiên Chúa giao ước với Áp-ra-ham là ngài sẽ ban phép lành cho con cháu của ông sinh sôi nhiều hơn cả sao trên trời. Theo đức tin Ki-tô giáo, Thiên Chúa làm thêm một giao ước nữa, còn gọi là “giao ước mới”, theo đó đức Giê-su Ki-tô chịu chết trên Thánh giá để chuộc tội cho tất cả loài người.
    [11]David và Goliath là hai nhân vật trong một truyện tích nổi tiếng của Cựu ước, trong đó David là một cậu bé chăn cừu và là vua tương lai của Israel (xem chú thich 3). David chỉ dùng chiếc ná bắn một hòn đá và giết chết Goliath. Goliath là chiến sĩ khổng lồ của quân Philistines, được cử ra để thách thức vua quan Israel. Đây là một truyện minh họa sức mạnh của đức tin: David bước ra chấp nhận thách thức, không một manh giáp trên người, nhưng đã làm cho kẻ địch được trang bị đầy đủ binh giáp phải hoảng sợ rút quân.
    [12]Phái nông gia theo mô hình kinh tế Jefferson [tổng thống thứ ba của Mĩ] chủ trương rằng kinh tế Hoa Kì phải chủ yếu dựa trên nông nghiệp để sản xuất những hàng hoá chiến lược, hơn là dựa vào công nghiệp. Jefferson khẳng định tin tưởng rằng: “Những người đổ mồ hôi canh tác đất đai... là tuyển dân (chosen people) của Thiên Chúa, nếu có bao giờ ngài có một tuyển dân.”
    [13]Theo Cựu ước, Joshua là nhà lãnh đạo Israel tiếp theo sau Mô-se.
    [14]Theo Cựu ước, vua Solomon đã xây một ngôi đền để thờ phượng Thiên Chúa tại Jerusalem. Người Do Thái cho rằng ngôi đền mái vòm của Hồi giáo (the Dome of Rock, xây vào thế kỉ 7) hiện đang tọa lạc ngay trên địa điểm của Đền Solomon, còn gọi là Ngôi đền đầu tiên mà họ tin rằng quân Ba-by-lon san bằng vào năm 585 trước Công nguyên.
    [15]Theo luật phân chủng Jim Crow, người da trắng và da đen phải sử dụng những phương tiện công cọng riêng rẽ, như xe buýt, công viên, trường học... Jim Crow là tên gọi của của một hệ thống phân chia giai cấp, theo đó người da đen bị dìm xuống thành một loại công dân thứ cấp (secon-class citizens) trong khi người da trắng được đề cao là một chủng tộc ưu việt, thậm chí là một dân tộc được Chúa chọn, theo quan điểm của nhiều người miền Nam trước và sau Nội chiến Mĩ.
    [16]Những chương trình và chính sách nhằm thúc đẩy việc phục hồi kinh tế và cải tổ xã hội do tổng thống Franklin Roosevelt đề xuất vào thập niên 1930 với mục đích khắc phục hậu quả của cuộc Khủng hoảng kinh tế. Có nghĩa đen là “chia lại ván bài”, tạo cơ hội mới, New Deal mở ra một bước ngoặt quan trọng, thu hút ngày càng nhiều hậu thuẫn của người da đen. Trước giai đoạn này, đại đa số dân da đen hậu thuẫn đảng Cộng hòa, đảng của tổng thống Abraham Lincoln, người có công giải phóng nô lệ.
    [17]Một trong những tuyên bố của Công đồng Vaticanô II, nhan đề Nostra Aetate hay “Trong thời đại của chúng ta”, xúy xoá trách nhiệm của dân Do Thái về cái chết của đức Ki-tô đồng thời lên án việc bách hại và kì thị người Do Thái “vào bất cứ thời nào do bất cứ ai”.
    [18]Evangelical có nghĩa là “phúc âm, tin mừng, tin lành” (good news). Những người theo đạo Tin Lành (evangelicals) tin vào thẩm quyền tuyệt đối của các sách Phúc âm Tân ước ( theo Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca và Gio-an). Người Tin Lành không những triệt để thay đổi chính bản thân (born again) dựa trên những nguyên tắc của sách Phúc âm, mà còn coi mình có sứ mệnh đi truyền đạo, thuyết phục người của các đức tin khác chấp nhận đức Ki-tô là con đường duy nhất đi đến “sự sống đời đời”.
    [19]Andrew Jackson, tổng thống thứ 7 của Hoa Kì (1829-37). Trước khi trở thành tổng thống, Jackson là một nhà quân sự lập được nhiều chiến công lẫy lừng trong các trận đánh chống lại người Anh và các bộ lạc da đỏ liên minh với đế quốc Anh trong Chiến tranh 1812. Ông được coi là một vị anh hùng có công chống ngoại xâm và nới rộng biên cương của Mĩ. Jackson rất được lòng binh sĩ và giới bình dân. Trên cương vị tổng thống, Jackson nới rộng quyền lực của chính phủ liên bang.
    [20]Trong bối cảnh của một nước đa chủng như nước Mĩ, từ nationalism nên được dịch là “chủ nghĩa quốc gia”, đối trọng với chủ nghiã quốc tế hay những xâm lấn từ nước ngoài vào. Sự nghiệp nhà binh của Andrew Jackson gắn liền với việc chống sự can thiệp và xâm lấn của đế quốc Anh. Vì thế từ Jacksonian mà tác giả dùng trong bài viết còn có nghĩa là “chống lại sự can thiệp của nước ngoài” kể cả các tổ chức quốc tế như LHQ.
    [21]Triệt để tin vào lối giải thích theo nghĩa đen của Kinh thánh (fundamentalist). Các tín đồ Tin Lành-chính thống sống trong một văn hóa bảo thủ, lấy Kinh thánh làm khuôn thước đạo lí, sống đông đảo ở các tiểu bang miền Nam [của Nội chiến Mĩ], những tiểu bang thường được mệnh danh là “Vòng đai thánh kinh” (the Bible Belt).

    Nguồn: Walter Russell Mead, “The New Israel and the Old. Why Gentile Americans Back the Jewish State?”, Foreign Affairs, July/August 2008.
  5. macay3

    macay3 LSVH - KTQSNN Moderator

    Tham gia ngày:
    26/10/2007
    Bài viết:
    2.963
    Đã được thích:
    1.595
    Huyền thoại Do Thái trở về lập quốc

    [​IMG]

    Sáng Ánh

    1. Huyền thoại Do Thái trở về nhà: Đố ai dám cãi nào

    Có lẽ mọi người đều đồng ý là Trung Đông là một nơi bất ổn thường xuyên và kinh niên như bệnh suyễn, thỉnh thoảng lại sù sụ, có khi ho ra máu, và dễ trở thành ngòi nổ, đám cháy… tại một khu vực nhạy cảm của thế giới, với vị trí chiến lược lưu thông giữa Âu-Á, cùng thứ tài nguyên mà bất cứ ai ra đường uống miếng café, ăn quà hay đón con, chở mẹ cũng phải dùng đến, chưa nói tới những chuyện khác. Đó là dầu hỏa.

    Có lẽ mọi người cũng đều đồng ý là một trong những nguồn bất an lớn tại Trung Đông, nếu không nói là nguồn bất an lớn nhất, là từ mâu thuẫn giữa Israel với các quốc gia Ả Rập, và sẽ chỉ có hòa bình lâu dài trong khu vực nếu vấn đề Palestine được giải quyết.

    [​IMG]
    Palestine (giờ vẫn chưa là một quốc gia, chỉ là một “nhà chức trách” và không có quân đội) với hai phần đất “còn lại”: Dải Gaza bên ngoài, sát biển, và khu bờ tây sông Jordan, trong đất liền, có thành Bethlehem, nơi Chúa sinh ra đời. Thành Jerusalem tại đây – nơi Chúa Jesus bị đóng đinh, cũng chia hai: nửa Tây thuộc Israel, nửa Đông thuộc Palestine.

    Đến đây thì chúng ta bắt đầu bất đồng vì mới xuất hiện một từ húy đối với dư luận Tây phương, tức là truyền thông quốc tế dòng chính hay lề phải, đó là từ “Palestine”.

    Palestine là cái gì?

    Không có quốc gia nào là Palestine cả!

    Chỉ có một quốc gia là Israel. Nói thêm, không có dân tộc nào là Palestine cả, mà chỉ có một dân tộc Do thái. Hình ảnh thông dụng trong quần chúng (Tây phương) của Israel là sau đây: một nước nhỏ bé bị vây quanh bởi một khối khổng lồ hung hăng đe dọa sự sinh tồn của hiệp sĩ đơn thương và Đương Dương Trường Bản này, lâu lâu “chúng” lại đòi đẩy dân tộc này xuống biển hay là xóa tên quốc gia này trên bản đồ.

    Xin nhắc lại rất rõ và mọi người hô to cùng:

    Không có quốc gia nào là Palestine!

    Không có dân tộc nào là Palestine!

    Đây là một điều kiện tất yếu cho kịch bản vừa mới nói được suôn sẻ. Vì nếu có một quốc gia Palestine thì ai đã xóa tên quốc gia này trên bản đồ đây? Và nếu có một dân tộc Palestine thì hóa ra dân tộc này đã bị ai ở đâu ra đẩy xuống biển?

    [​IMG]
    Bản đồ về tiến trình mất đất của Palestine, từ 1946 đến 2000, cuối cùng gần như bị… văng ra biển. Ai chiếm? Dĩ nhiên là “thằng bé tội nghiệp Israel” rồi

    Trong kịch bản này, chỉ có một dân tộc là Do thái và một quốc gia là Israel, nhỏ bé và kiên cường trước nghịch cảnh là bè lũ du côn Ả Rập trùng điệp vây quanh hằm hè, người nách thước, kẻ tay dao, đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi. Thằng Palestine vào đây làm gì, đi ra khỏi trường quay! Nào, tiếp tục bấm máy!

    Do Thái là một “Dân tộc chọn lọc”, một dân tộc bị lưu vong ở đầu Công nguyên, họ phân tán khắp nơi trên thế giới và 2000 (hai ngàn) năm sau trở về “Miền Đất Hứa”, “Đất của Israel” (Eretz Israel), họ trở về nhà. Mà ai chọn lọc họ chứ, ai hứa đất và ai dành đất cho họ? Đức Chúa Trời chứ còn ai nữa, thế mới kinh! Có viết trong sách được gọi là Kinh Thánh rành rành thì còn cãi vào đâu! Thằng nào định cãi với Đức Chúa Trời đây? Mười điều răn là Ngài giao cho họ, rẽ biển Hồng Hải cho họ sang Ai cập (lưu vong thứ nhất thời khai thiên lập địa nào đó), rồi đến công nguyên là lưu vong thứ nhì. Ngài còn bảo, các con phải trở về nhà.

    [​IMG]
    “Exodus” (Trở về Đất Hứa) – Tranh của Richard Mcbee – Moses rẽ nước Hồng Hải để từ bờ Ai Cập trở về Đất (được) Hứa

    Đó là chuyện nhà thờ và ở trong Kinh Thánh, tức là sách trong phòng ngủ khách sạn nào ở Tây phương cũng có một cuốn do hội Giddeon thân tặng đặt ở trong ngăn kéo đầu giường. Vào cuối thế kỉ 19, chủ nghĩa Zion, cũng như với các phong trào quốc gia chủ nghĩa ở Âu châu lúc đó (thí dụ Ireland, Bosnia v.v. và vô khối) ra đời và đòi thành lập một quốc gia riêng cho người Do đang sinh sống tại đây. Nhưng nếu chủ nghĩa quốc gia Ireland có đất để mà đòi Đế quốc Anh trả lại hay Bosnia đòi Đế quốc Áo thì người Do phải đòi ai đây? Căn bản tôn giáo trên được Zion chủ nghĩa nhanh trí “cướp” lấy và thế tục hóa. Trời đã trao đất Israel cho họ.

    Nói là “cướp”vì phong trào Zion là một phong trào thế tục và XHCN chứ không phải là một phong trào tôn giáo. Họ phải giả tin thôi vì cộng đồng người Do trước hết là một cộng động được định nghĩa bằng tôn giáo là Do thái giáo. Nhưng nếu tin hẳn vào Kinh Thánh thì cũng có vấn đề. Chúa Trời bảo đây là phận phải lưu vong của dân tộc này, chuyện trở về là trước ngày tận thế nhé, không phải là lúc nào muốn về thì về (kiểu bố hấp hối mới được chia đất, không phải chia ngay bây giờ, đuổi em ra đường). Cho nên thành phần Do Thái giáo bảo thủ và tuyệt đối ngoan đạo chống lại việc trở về này. Đến ngày nay và nhân danh Do Thái giáo chính thống, họ vẫn biểu tình chống lại sự hiện hữu trái với luật trời quốc gia Israel.

    [​IMG]
    Những người theo Do Thái giáo bảo thủ chống lại chủ nghĩa Zion và nhà nước Israel

    Ngược lại, gần đây thì Israel lại được sự ủng hộ của số giáo dân Ki tô cực đoan (Evangelicals) tại Mỹ. Đối với phong trào này, sự hiện hữu của quốc gia này (người Do trở lại miền đất Hứa) là dấu hiệu “tận thế gần kề” khiến họ rất hân hoan. Tại sao tận thế mà lại hân hoan? Bởi vì nếu tin vào sách Thánh thì tận thế là ngày người ngoan đạo sẽ được lên thiên đàng! Nhắc lại, là trong nhiều thế kỉ dài, sự đàn áp và kỳ thị người Do là bởi người Ki tô tại Âu châu nhé chứ không phải bởi người Hồi tại Trung Đông và cho đến giờ, trong khi chờ đợi Iran có bom nguyên tử (?) thì ngược đãi, tàn sát hay tận diệt người Do là bởi bàn tay nguời Âu và Ki tô.



    [​IMG]
    Từ mái một tòa nhà, những người dân (Israel) ở Jerusalem đứng theo dõi một cuộc diễu hành của phe Ki-tô cực đoan ủng hộ Israel; Một người tuần hành mang một lá cờ có hình ngôi sao David và một con sư tử Ảnh: AP/Kevin Frayer, 2006

    Phong trào Zion có lúc còn định “lập quốc”tại Brazil hay là Uganda (may là chưa có nghĩ đến 6 tỉnh Nam Kỳ). Sau đó, họ thấy khả thi nhất là trở về “Đất Hứa” và khả thi về mặt thực tế chứ không phải là vì Trời đã cho họ đất này. Người cho họ đất này là ngoại trưởng Anh quốc Balfour (sau làm Thủ tướng), và lý do ông đồng ý là vì nước Anh không muốn phải nhận di dân Do thái bị ngược đãi và kỳ thị tại Đông Âu. Mày gặp khó thì tao cũng giúp, nhưng đến ở Scotland nhà tao thì bất tiện lắm, tao có thuộc địa đô hộ ở Trung Đông, nghe đâu 20 thế kỉ trước là nhà mày, mày dọn về đấy mà ở.

    Lúc đầu, ngay cả ***** của phong trào là Theodor Herzl cũng chỉ muốn sống chung với người Palestine. Lý do: từ 1924, vì Hoa Kỳ siết chặt chính sách di dân sang Mỹ, và người Do bị kỳ thị ở Âu châu khó mà sang Mỹ được. Như đã thấy, Anh quốc cũng không muốn nhận họ. Palestine lúc đó là phần đất dưới bảo hộ (mandate) của Anh. Thôi thì, Anh tặc lưỡi: “Chúng mày sang đó chẳng tốn kém gì của tao, lại còn giúp tao quản được bọn Ả Rập tao đang đô hộ”. Việc Đức Quốc Xã thảm sát người Do trong Thế chiến 2 lại khiến chủ nghĩa Zion thêm mồi, di dân ồ ạt và vấn đề quốc gia trở nên cấp bách và Israel năm 1948 oanh liệt ra đời. Sự thành lập của Israel là thành tích muộn màng của chủ nghĩa thực dân trong một thế giới đang trên đà giải thực.

    [​IMG]
    Theodor Herzl – ông tổ của phong trào Zion – trên một áp phích kỷ niệm 50 năm ngày tổ chức ra đời (1897 – 1947)

    [​IMG]
    Trang nhất của tờ The Palestine Post ra ngày Chủ nhật, 14. 5. 1948 với thông báo nhà nước Israel ra đời

    [​IMG]
    Truman, tổng thống Hoa Kỳ lúc ấy, ký một tài liệu công nhận Israel như một quốc gia mới, nhưng lại từ chối công nhận đây là một nhà nước Do Thái.

    Năm 1945, khi gặp vua Ibn Seoud của Saudi, Tổng thống Franklin D Roosevelt có giải thích về hoàn cảnh khó khăn của người Do Thái bị Đức tận diệt. Ông Ibn Seoud bèn hỏi, thế sao Đồng Minh không lấy luôn vùng đất màu mỡ nhất của nước Đức mà bồi thường cho người Do lập quốc?

    Câu trả lời của Zion chủ nghĩa đã có sẵn: nếu không phải Trời cho thì cũng bởi vì 2000 năm trước, đất Israel là của dân tộc Do Thái. Huyền thoại quốc gia Israel thế là trở thành “Một miền đất không dân tộc cho một dân tộc không miền đất”, nghe thì rất du dương hợp nhĩ nhưng phải chấp nhận ba tiền đề.

    Tiền đề thứ nhất là có một dân tộc Do thái, đặc biệt không giống ai (“chọn lọc”) và muôn đời.

    Tiền đề thứ nhì là dân tộc này trước đây sinh sống tại miền đất đó và còn giữ Sổ đỏ cho đến giờ (có con dấu của cục Nhà đất Thượng đế).

    Tiền đề thứ ba là trong 20 thế kỉ qua, miền đất đó ngoài ra không có dân tộc nào khác, là sa mạc đìu hiu bỏ hoang và người Do “trở về nhà” (Aliyah) từ đầu thế kỉ 20 đến trồng hoa trên cát và vun bồi rực rỡ xanh tươi.

    [​IMG]
    Tranh diễn tả người Israel thấy Thượng Đế hiện ra. Trong Exodus 33:1-3 viết: “Thế rồi Thượng Đế nói với Moses, ‘Hãy rời nơi này, mi và những người mà mi đã nuôi dưỡng, ra khỏi Ai Cập, đến vùng đất mà ta đã hứa với Abraham, Isaac và Jacob ; ta đã nói, ‘Ta sẽ cho con cháu ngươi vùng đất ấy.’ Ta sẽ cử một thiên sứ đi trước ngươi, dẫn các ngươi ra khỏi Canaanites, Amorites, Hittites, Perizzites, Hivites và Jebusites. Hãy đi thẳng tới vùng đất, mang sữa và mật ong. Ta sẽ không đi cùng các ngươi, vì các ngươi là những bọn cứng đầu, và ta có thể hủy diệt các ngươi trên đường đi.’” Và cứ thế mà trở về nhà thôi. Đường thì xa và trắc trở, nhưng đã được Thượng Đế dặn thế rồi!

    [​IMG]
    Những nữ binh Israeli đứng chào trước mộ chiến sĩ trận vong, tại một nghĩa trang quân đội trên Đồi Olive, nhìn xuống thành cổ Jerusalem. Ảnh chụp hôm 14, 4. 2013 của AP/Sebastian Scheiner

    Việc phê bình hay xét lại huyền thoại Do Thái này thì hiếm thấy và chẳng ai dám ở phương Tây, phần vì thương, hay phần vì sợ. Đứng đầu phong trào xét lại huyền thoại này chỉ có thể là chính những người gốc Do, hay chính là những người Israel trong nước vì họ tiếp cận với thực tế của chiếm đóng đất người và chiến tranh, đối kháng chứ không có ngồi đàn huyền thoại về Do Thái ở những nhà hát New York hay là London.
  6. macay3

    macay3 LSVH - KTQSNN Moderator

    Tham gia ngày:
    26/10/2007
    Bài viết:
    2.963
    Đã được thích:
    1.595
    2. Ai mới là người Do Thái chính hiệu?

    Nên hồi hương hay hoài hương?

    Israel thường được đồng nghĩa với Do Thái, nhưng không hẳn là vậy. Thứ nhất, số người Do tại nước ngoài (12 triệu) cao gấp hai số người Do tại Israel (là 6 triệu) và số người Do tại Mỹ cao bằng (hay cao hơn chút đỉnh) số người Do tại Israel. Và theo đà tăng trưởng, số người Do tại Mỹ thể nào cũng sẽ đông hơn. Thí dụ, năm 2006, khi Thủ tướng (Israel) Olmert bình Đông phạt Bắc tại láng giềng Lebanon thì các con ông đều ở mặt trận… Mỹ. Giờ nếu đánh luôn Iran thì con số người Do tại Israel sẽ bớt hẳn, và con số người Do tại Mỹ sẽ gia tăng, đây là nói thật chẳng phải đùa.

    [​IMG]
    Poster truy nã Ehud Olmert (có hai poster riêng) và Ehud Barak (cả hai đều từng là cựu Thủ tướng Israel) tại Jerusalem, tháng Tư 2010. Olmert và Barak bị cáo buộc ăn hối lộ và tham nhũng. Theo Văn phòng Tổng chưởng lý Israel, trong thời gian trước khi được bầu làm Thủ tướng Israel năm 2006, ông Olmert nhận hàng trăm nghìn USD bất hợp pháp của doanh nhân người Mỹ gốc Do Thái Morris Talansky

    Theo thống kê Hoa Kỳ, trong thập niên 2000-2010, số người sinh ra tại Israel và định cư tại Mỹ tăng 30%. “Yerida” (bỏ Israel ra nước ngoài) là một vấn đề nghiêm trọng vì nó đi ngược lại vớihuyền thoại trở về (Aliyah) dựng nước của Israel. Trong thập niên 80, khi chính quyền Reagan tại Mỹ sẵn sàng đón nhận 1 triệu di dân Do Thái từ Liên xô và Đông Âu thì chính quyền Israel hoảng hốt (hoảng hốt chứ không phải là hoan hô), và tìm đủ cách, áp lực với Hoa Kỳ, thông đồng với cả an ninh Romania, Hungary để ngăn chặn người Do di dân sang Mỹ.

    Sao lại thế? Lẽ sống của Israel và Zion chủ nghĩa là người Do trở về “cố quốc” trồng cây chứ không phải là họ sang Mỹ mở tiệm vàng. Người Do được phép rời Đông Âu thì rất tốt, nhưng phải ngăn họ sang New York hay London và buộc họ “trở về” Israel. Như đã nói đến, ngay cả trước Thế chiến 2 cũng đã thế. Người Do bị ngược đãi tại Đông Âu sang Palestine bảo hộ bởi Anh quốc, không phải vì đó là Đất Hứa gì hết của Chúa Trời mà bởi vì họ không đi Anh Mỹ định cư được. Đất hứa là Golders Green ở London và Brooklyn ở New York, không phải là trồng rau tưới nước ở Đất Thánh nào đó Palestine. Nói thế dễ hiểu, ai cũng vậy hết, con người khi có lựa chọn thì tìm nơi dễ sống và cơ hội tốt, có ai đâm đầu vào chỗ chết tiệt nhọc nhằn vì những câu chuyện 3000 hay 7000 năm.

    Một chuyện cười Yiddish (Do thái Đông Âu) trước thế chiến kể: Thế nào là một người (Do) theo Zion chủ nghĩa? Đó là một nguời đi quyên tiền của một người Do thứ nhì để giúp một người Do thứ ba thực hiện Aliyah, tức là trở về sinh sống tại “Eretz Israel”.

    [​IMG]
    Golders Green, trung tâm của người Do trung lưu tại London

    Khăng khăng một dân tộc Do

    Nhưng thế nào là một người Do? Đó là một người theo Do Thái giáo. Thế còn (rất nhiều) những người Do thế tục (trước hết là trong phong trào Zion) hay vô thần thì sao? Vậy người Do không theo đạo nhưng theo truyền thống văn hóa Do Thái giáo cũng là người Do. Theo giáo luật, thì người Do phải có mẹ là người Do (và bà ngoại, bà cố ngoại v.v. trở lại mấy ngàn năm trước hay trở lại thời khai thiên lập địa). Ở trong trường hợp này, bạn có quyền sang Israel mà nhận Đất Hứa, hay thực tế là được sang đó sinh sống, nhập tịch và có một nhà nước che chở, không trục xuất bạn đi bất cứ nước nào khác dù bạn có tội tình hay bị quốc tế truy nã.

    (Nói qua cho vui, đây là trường hợp nhà độc tài Gaddafi. Mẹ của ông này người Do và ông có bà bác, cô cháu người Israel đang sinh sống tại đó. Lúc chính biến tại Lybia, lỡ ông đòi quyền Aliyah (trở về cố quốc) thì sao? Chẳng những ông sẽ phải được chấp nhận tỵ nạn và chứa chấp mà sẽ là công dân đương nhiên của quốc gia theo cái quyền bất biến mà thượng đế đã ban cho dân tộc này trên mảnh đất đó!)

    [​IMG]
    rên 1 triệu người Do ngụ tại thành phố New York là thành phố Do Thái thứ nhì trên thế giới (chỉ kém có Tel Aviv). Riêng tại quận Brooklyn, con số này là 600.000, tức ¼ dân số.

    Nhưng thế nào là một dân tộc? Một dân tộc có bất biến và muôn đời không? Một dân tộc sống liên tục 2000 năm trên một mảnh đất đã khó định nghĩa được chính xác. Thí dụ, người “Pháp” thời La mã có phải là người Pháp của ngày nay không? Hay ngay nguời Ý, có phải hẳn là từ thành Roma mà ra? Một “dân tộc” nếu có, 2000 năm phân tán khắp nơi lại càng khó, cái này trẻ con cũng hiểu, nhưng đó là không biết đến “tính cách độc đáo” của dân tộc được “chọn lựa” này. Đặc điểm của dân tộc Do Thái là không có ai giống họ hết nhé. Những nhận xét thông thường như mới kể không áp dụng với dân tộc này được. Pháp không phải là Do Thái, Ý không phải là Do Thái, đừng có ví! Pháp, Ý, Đức gì đó không có được chọn lựa bởi Chúa Trời, có cần phải nhắc lại nữa hay không?

    [​IMG]
    Môsê nhận “Mười điều răn” khắc trên hai phiến đá, của Đức Chúa Trời trao riêng cho dân Do Thái. Kinh Thánh, Xh 19, 3-6, chép: “Ông Môsê lên gặp Thiên Chúa. Từ trên núi, Đức Chúa gọi ông và phán: ‘Ngươi sẽ nói với nhà Giacóp, sẽ thông báo cho con cái Israel thế này: …giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh. Đó là những lời ngươi sẽ nói với con cái Israel”.

    Nếu định nghĩa một dân tộc là một nhóm người tin chung vào một huyền thoại thì hẳn có một dân tộc Do thái. Dân tộc này nhiều ngôn ngữ (tiếng Hebrew ngày nay là một phát minh mới của thế kỉ 20), nguồn gốc từ Âu, từ Á, từ Phi, sắc da đen da trắng da nhôm nhôm và đâu có cả da vàng. Họ khả dĩ có cùng một tôn giáo. Dân tộc Do, như vậy cũng như là “dân tộc Phật”, “dân tộc Khổng” hay “dân tộc Lão”, “dân tộc Bah’ai” hay “dân tộc Hồi”. Có dân tộc nào gọi là “dân tộc Phật” hay không? Nhưng lại có một dân tộc gọi là dân tộc Do, thì đã nói, đây là một dân tộc ngoại lệ mà. Nhưng một phần lớn người Do lại là thế tục tức là không có tôn giáo, kiểu, thì tôi dân tộc (đạo) Dừa nhưng tôi không tin chút nào và thoải mái nước mãng cầu. Nhưng tôi đòi phải trả cho tôi miền đất hứa Bến Tre!

    Vậy có dân tộc nào là dân tộc Do hay không? Trớ trêu là đầu thế kỉ 20 tại Âu châu, thành phần kỳ thị người Do (như Đức Quốc Xã) đã gắng sức chứng minh một cách “khoa học” là có hẳn, để mà phân biệt và tận diệt. Nó có đi đâu 2000 năm thì nó vẫn là dân tộc Do! Nó không theo đạo hay đã cải đạo Ki tô thì vẫn là người Do! Nó có ở đây 30 đời hay năm bảy thế kỉ thì nó vẫn không phải là người Đức, cho nó vào trại tập trung mà giết hết! Lập luận “dân tộc Do” này cũng lại là lập luận của chủ nghĩa Zion để biện minh cho một quốc gia và nhà nước Israel.

    [​IMG]
    Những tù nhân Do Thái bị bỏ đói trong trại tập trung Mauthausen, được giải thoát hôm 5. 5. 1945

    Một giả thiết bất ngờ về người Do chính hiệu

    Vào đầu Công nguyên, người Do tại Palestine nổi loạn và bị Đế quốc La Mã đàn áp dã man, kẻ bị giết, người ra đi. Truyền thuyết cho rằng ai không bị giết thì ra đi hết. Cho là như vậy, và họ bỏ đi hết thì trên đường bôn ba của họ, cũng có nhiều nơi các dân tộc khác, Berber ở Bắc Phi, hay Khazar ở Tây Á cải đạo theo Do.

    [​IMG]
    Vương quốc Khazar, kẹp giữa gọng kìm Ki-tô và Hồi giáo, vào thế kỉ 7-10 đã chọn Do Thái làm quốc giáo nhưng sau đó bị người Nga xâm lăng và Mông cổ phân tán. Dân tộc Khazar mang Do Thái giáo lưu vong sang Đông Âu. Phần này, nếu quả là như vậy,không thấy (chưa thấy, chắc phải đợi 10 thế kỉ nữa) về đòi lại và lập nước tại Nga-Ukraine-Kazakstan ngày nay.

    Khazar là một vương quốc hùng cứ phía Đông Ukraine và phía Bắc Georgia, Armenia ngày nay và tan rã vào thế kỉ 13 khi Mông cổ tràn qua. Do Thái giáo được vương triều tôn lên làm quốc giáo và cả nước (tức là dân tộc Khazar này) theo. Lý do họ theo Do Thái giáo, ngoài việc “bởi vì tôi thích thế”, là các bộ lạc Khazar lắm đạo và đa thần lúc đó cần một ý thức hệ độc thần thống nhất lúc họ đang bị vây hãm hai bên bởi Ki tô giáo của Đế quốc La Mã phương Đông (Bizantium) đồng thời bởi Đế quốc Hồi giáo.

    Sau khi Khazar tan rã, người Khazar đi Tây hay đi Đông, bảo tồn tôn giáo Do thái của họ trong những cộng đồng cá biệt. Xin nhắc lại, đây là tôn giáo, không phải là dân tộc.

    [​IMG]
    Người Do ở Khai Phong, Trung Quốc, khoảng 1900

    Còn những người Do ở lại nôi Palestine của thời La Mã thì sao? Họ chuyển đạo theo Ki tô giáo (ngày nay Ki-tô vẫn là một thiểu số 8-10% của người Palestine). Đa số lớn sau đó theo đạo Hồi.

    Tại sao người Do mà lại cải đạo theo Hồi? Khó tin quá. Tại sao người Âu, người Hy Lạp, La Mã lại bỏ đạo mà theo một tôn giáo Trung Đông là Ki-tô? Tại sao có người Ấn giáo lại bỏ đạo theo Hồi? Tại sao người Việt mà lại cải đạo theo Phật giáo? Khó tin thật, nhưng chắc là “tại vì họ thích thế”. Nếu tin được, thì có người Do ở lại miền đất ấy, theo Ki-tô hay theo Hồi về sau. Nói cách khác, thì “dân tộc” Do Thái chính gốc theo giả thiết này chính là… những người Palestine ngày nay! Họ là hậu duệ của một số lớn người Do Thái không lưu vong và không đi đâu hết. Đạo gì thì đạo, tôi đây mới là chính hiệu Do Thái Bảo Hiên Rồng Vàng. Tại tỉnh Hải Dương này, tôi đã ở đây làm bánh đậu xanh chí ít là 1500 năm rồi, còn anh từ Cần Giuộc hay là Cà Mau đến, anh bảo anh mới là chính hiệu Con Nai thì tôi không biết. Nói thế thì nghe cũng được chứ, ta nên tin vào người nào?

    Giải thiết trên (của sử gia Schlomo Sand, Abraham Poliak, hay phần nhà văn Arthur Koestler) là một giải thiết đáng được đào sâu thêm. Cuốn sách “Sự phát minh ra dân tộc Do thái” của Sand là một sách bán chạy hàng đầu tại Israel năm 2009 nhưng cũng chẳng vì thế là đã đúng. Tuy nhiên nó chứng tỏ sự quan tâm mới của quần chúng tại đây với việc bắt đầu công việc giải hoặc nguồn gốc Do Thái một cách nghiêm chỉnh.

    [​IMG]
    Người Falasha, Do Thái tại Ethiopia, đang theo lớp về quốc gia họ sắp sửa sang định cư là Israel, tức là sắp sửa “trở về Đất Hứa”.

    Người Do đi vắng, người Do giữ nhà

    Nghiên cứu sử học lề phải của Do Thái và Israel quan tâm đến vương triều huyền hoặc của Solomon hay là David, hơn là Khazar và không buồn đào sâu. Đáng tiếc là những công trình nghiên cứu lại đào sâu những việc khác, như “di tích” vương triều David 3000 năm về trước, và để đào xới tìm di tích này phải dời cả một thị trấn 50,000 dân cư Palestine, tống cổ họ đi. Nỏ thần của Mỵ Châu hay Sừng tê quà cưới của Thủy Tinh thì chưa tìm thấy đâu làm bằng nhưng sờ sờ là những người Palestine đang sinh sống tại đây ngày hôm nay mất đất. Bởi vì họ chỉ mới sở hữu phần đất đó từ 1500 năm thôi chứ không phải 3000 của thủa lông ngỗng đưa đường nào.

    [​IMG]
    Một người Palestine khóc trước mồ người thân. Bia mộ bên phải ghi “Ramla”, một thành phố bị các đơn vị bán vũ trang Israel càn quét vào cuối những năm 1940s và sau đó chuyển sang bị chính quyền Israel cai trị vào đầu năm 1949. Đây nhiều phần là nghĩa trang của những người Palestine tị nạn. Ảnh và chú thích từ trang Smpalestine

    Quyền trở về đất cũ của một dân tộc Do Thái đồng nhất và bất biến 2000 năm sau, dù nếu có, thì đằng nào cũng phải cân nhắc với quyền hiện diện tại đó của một dân tộc khác trong 2000 năm họ “bỏ nhà”. Điều này cũng dễ hiểu nốt. Anh vì lý do gì đó bỏ nhà ra đi biền biệt. Một hôm anh đến gõ cửa đòi lại. Anh lấy Kinh Thánh làm bằng, nói những chuyện hoa đào gió đông năm nào đó, mà tôi cũng không biết có phải là anh không nữa. Tôi không nhận ra, anh nhận vơ hay là anh đã khác nhiều. Anh bảo tôi phải đi ngay, và anh đánh cho một trận thừa sống thiếu chết. Người Do gọi đó là Chiến tranh Độc lập (chứ không phải là Chiến tranh Xâm lăng) và người Palestine gọi đó là Đại họa (Nakba).

    [​IMG]
    Ảnh chụp năm 1948, khi Israel trục xuất hàng trăm ngàn người Palestine khỏi 450 ngôi làng Palestine. Người Palestine gọi đó là “Day of Nakba” (Đại họa)

    Vào năm 2006, khi Israel trừng trị Hezbollah tại Lebanon thì có nhiều biểu tình phản đối tại Âu châu. Một nhà trí thức Pháp bèn viết bài mắng bọn trẻ con ồn ào này là dốt, người Do không phải chỉ có mặt tại vùng từ khi lập quốc (1948) mà là từ trước đó, đầu thế kỉ, năm 1920 v.v. Vậy thì trước đầu thế kỉ, trước 1920, ai ở đó? 1820? 1720? 1620? Không có người Do thì không có ai sao?

    Tiền đề thứ nhì của huyền thoại là chẳng những Đất Hứa là của dân tộc Do từ ngày ông David bắn ná lõ đầu thằng khổng lồ Goliath. Để nó đẹp như mơ thì phải có thêm huyền thoại là lúc “dân tộc” Do này trở về, miền đất này chẳng có ai ở cả nên tôi mới lấy lại! Và đó là bài sau…
  7. macay3

    macay3 LSVH - KTQSNN Moderator

    Tham gia ngày:
    26/10/2007
    Bài viết:
    2.963
    Đã được thích:
    1.595
    3. 2000 năm nếu quay lại, đất nào cũng phải là đất hoang

    Vào cuối thế kỉ 19, người Do Thái tại Đế quốc Nga gặp khó khăn và bị kỳ thị bằng bạo lực. Bà con đồng đạo của họ đã an cư lạc nghiệp lâu đời tại Tây Âu, có người làm to như công tước Anh quốc Rothschild, mấy đời cho vua cho chúa vay tiền, hay có người đã cải đạo sang Ki-tô làm Thủ tướng (Anh quốc) như Disraeli… Đám người Do Thái mới di dân sang Tây Âu vậy là gây vấn đề cho người Do đã có tại chỗ: họ lếch nhếch, là bà con nghèo, gây tiếng xấu cho một cộng đồng nếu không quyền quí thì cũng đã ổn định.

    [​IMG]
    Cựu thủ tướng Anh Benjamin Disraeli (1804 – 1881)

    Đây cũng giống như trường hợp người Hồi hiện nay tại Anh. Tao đây Qatar, Emirates, mua đội bóng đá, xây tòa nhà, khách sạn, đi đâu có vấn khăn áo thụng người Anh vẫn kính nể, chạy ra ngay mở cửa xe Ferrari; còn bọn mày cũng Ả Rập mà lại khiến chúng khiếp khủng bố hay là khinh túng thiếu. Đi nơi khác là tiện nhất, đây tao dúi cho một nắm tiền, cầm lấy mà khuất mắt nơi này.

    Với người Do Thái, phong trào Zion thương thuyết với chính quyền Anh, nếu không cho định cư ở Scotland hay Wales thì xin cho sang Cyprus vậy. Cyprus (đảo nằm ở Địa Trung Hải) lúc đó thuộc ảnh hưởng của Anh, nhưng khó một cái, có người da trắng (Hy Lạp) đã ở sẵn. Anh quốc đề nghị cho họ sang Uganda (thuộc địa Phi châu) mà khẩn hoang. Đại hội 6 của phong trào Zion biểu quyết (đành) chấp nhận đề nghị rộng lượng này.

    Thời điểm ấy, Anh quốc là siêu cường số 1 trên thế giới, quyết định mọi chuyện nhé, từ Đông sang Tây, và trong tư duy dạo ấy của Tây phương, ngoài da trắng ra thì chẳng có dân tộc nào cả. Không có dân tộc nào ở Uganda hết, người Do sang đó mà sinh nhai. Nhưng sang Uganda thì ngại lắm, ngại chứ, phong thổ khó khăn, cọp tha ma bắt, chẳng ai muốn sang đó mà làm rẫy trồng hoa. Phong trào Zion bèn nhớ ra là 2000 năm trước mình cũng có nhà, đây là địa chỉ cũ trênCMND do Trời cấp. Ở giai đoạn này, là chuyện định cư tìm sống, không có nói đến chuyện lập quốc gia riêng gì cả.

    [​IMG]
    Chú thích của trang ivarfjeld.com cho bức ảnh này: Có thể tuyệt với Uganda, nhưng không phải là đất hứa của người Do Thái.

    Nếu 2000 năm trước mơ hồ thì thế kỉ 19 ta có những con số. Tại Jerusalem, tức là “thủ đô” của nhà nước Israel ngày nay, vào năm 1880 có 200.000 dân cư. Số người Do hiện diện là 5.000 trước khi phong trào Zion mộ người từ Âu châu sang Palestine sinh sống (1882). Lúc đó khu vực này dưới quyền của Đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ), được Anh quốc giúp giành lại được từ tay Ai Cập. Đến Thế chiến 1 thì Thổ Nhĩ Kỳ lại về phe Đức-Áo, khiến nước Anh phải phái ông Lawrence (of Arabia) sang, cỡi ngựa phi lạc đà trong sa mạc và dựng các bộ tộc Ả Rập lên khuấy phá và đòi quyền tự quyết, ai đã xem bộ phim này đều biết lãng mạn thế nào.

    [​IMG]
    T. E. Lawrence với con lạc đà “Jedha” thân yêu của ông

    Năm 1917, công tước Balfour (cựu Thủ tướng và lúc đó ngoại trưởng Anh quốc) chấp thuận ủng hộ sự thành lập một quốc gia Do Thái trong vùng. “Tuyên bố Balfour” này khiến phong trào Zion đưa ông lên hàng phụ tá Đức Chúa Trời, Ngài hứa và ông Balfour thực hiện! Vào lúc đó, dân số Ả Rập chiếm từ 80 đến 90% tại Palestine.

    Người Zion sang Palestine mua đất làm đồn điền, thì cũng từ tay các địa chủ Ả Rập. Địa chủ thì… có đất, họ cần tiền cưới thêm vợ bé thì họ bán, cho người Do hay ai thì cũng thế, họ không phân biệt, chỉ phân biệt là vàng 4 số 9 có phải Kim Thành hay không. Đây là chuyện bán đất bán nhà, không phải là bán nước. Người Do sang đấy lập ấp để làm ăn, không phải là để lập quốc. Trước đây, những chuyện chuyển nhượng đất đai này chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống của tá điền. Chủ A hay chủ B thì họ vẫn ở đó, bám đất mà cày, phần nộp cho chủ thì vẫn thế, chẳng cần biết là ông chủ nào, tâm lý người bần nông là vậy.

    (Đến đây, để giải lao, trong thập niên 70, tổng thống Ai cập Sadat đi thăm một làng quê. Ông hỏi han, thế nào, mùa màng ra sao? Một lão nông bèn đáp “Nhờ ơn của Đức Vua đây, thưa Ngài, chúng con vẫn sống được”. Đó là 20 năm sau khi chế độ quân chủ đã bị lật đổ!)

    [​IMG]
    Một gia đình nông dân tại Palestine 1900-1910

    Nhưng khi đất chuyển sang các tiền phương của Zion thì có phần thay đổi. Người Do lập trại cho người Do, đuổi nông dân địa phương đi để mang người Do từ Âu châu đến vui ca dựng nhà và tưới nước trên cát nở ra hoa. Tá điền Ả Rập mất đất để mà cạp, đúng ra là mất việc và sinh kế, đâm ra bất mãn. Hai cuộc nổi loạn 1929 và 1936 bị thực dân Anh đàn áp, với phần giúp sức của cộng đồng Do Thái, và lực lượng bán quân sự của Do Thái bắt đầu từ đó thành hình, kinh nghiệm quân sự đầu tiên là tiếp tay cho chính quyền bảo hộ Anh quốc đàn áp người địa phương.

    [​IMG]
    Phụ nữ Palestine trong cuộc nổi loạn 1936-39 chống thực dân Anh quốc, thành phần trung lưu phố thị thì quyên tiền…

    [​IMG]
    … và thành phần nông dân thì cầm súng

    Ngay đến ông Rothschild là ân nhân của phong trào Zion còn than phiền vì chính sách dùng nông dân Ba Lan hay Hungary thay vì nông dân Ả Rập này tuy lý tưởng Zion (người Do cầm cuốc vui ca trên Đất Hứa) nhưng không sinh lợi vì nông dân Ả Rập rẻ và hiệu quả hơn về mặt kinh tế. Ông cứ phải bù thêm tiền mãi, khiến có lúc ông dọa cắt.

    [​IMG]
    Công tước Walther Rotschild, ân nhân của chủ nghĩa Zion, ở đây chơi nổi tại London với xe tứ mã ngựa vằn (Cường Đô la đâu rồi, ra mà xem)!

    Nhưng khi đất chuyển sang các tiền phương của Zion thì có phần thay đổi. Người Do lập trại cho người Do, đuổi nông dân địa phương đi để mang người Do từ Âu châu đến vui ca dựng nhà và tưới nước trên cát nở ra hoa. Tá điền Ả Rập mất đất để mà cạp, đúng ra là mất việc và sinh kế, đâm ra bất mãn. Hai cuộc nổi loạn 1929 và 1936 bị thực dân Anh đàn áp, với phần giúp sức của cộng đồng Do Thái, và lực lượng bán quân sự của Do Thái bắt đầu từ đó thành hình, kinh nghiệm quân sự đầu tiên là tiếp tay cho chính quyền bảo hộ Anh quốc đàn áp người địa phương.

    Đến 1947 thì thế này: người Do sở hữu 11% diện tích đất đai, và 7% diện tích canh tác. Về dân số, họ là 630.000, tức là 1/3. Số người Ả Rập là 1.300.000, sở hữu 93% diện tích canh tác và 89% diện tích đất. Nghị quyết 191 của Liên Hiệp Quốc bèn chia vùng đất này thành 2 quốc gia, (và khu vực Jerusalem) trao cho người Do 55% đất, người Ả Rập là 45%.

    Chia cắt thế này, đương nhiên là trên phần đất dành cho Israel có rất nhiều người Ả Rập đang sinh sống. Chính quyền lập quốc đã có sẵn một kế hoạch (“Plan Dahlet”) và mang ra áp dụng. Đó là khủng bố, giết chóc, các nơi này khiến người Ả Rập phải tập thể ra đi, tàn phá, đốt và san bằng các làng mạc khiến họ không có chốn để trở lại. Chính sách “tảy tộc” này có một thí dụ gần gũi khác, là khu vực Trung Âu trong thập niên 90, khi Yugoslavia tan rã và Serbia trục xuất bằng mọi cách người Croatia, Bosnia. Khác biệt là, Tây phương lên án hành động này, và NATO còn mang bom sang ném Serbia. Trong trường hợp Palestine, thì cả hai khối Tây phương và Liên Xô đều thuận lòng ủng hộ sự ra đời của Israel. Liên Xô là nước đầu tiên công nhận Israel và vũ khí từ Tiệp Khắc chuyển sang cho quân đội nước này là quyết định cơ bản cho cuộc chiến 1948.

    (Lại giải lao chút xíu, tiểu liên nổi tiếng của Israel, khẩu Uzi, là copy của xê-ri tiểu liên Tiệp Cz23-24-25-26 được Liên Xô gửi sang trang bị ào ạt cho quân đội tân lập này).



    [​IMG]
    Poster về nữ lao động Liên Xô hài lòng được sống ở Israel

    Trong chiến tranh “dựng quốc” của Israel, 500 làng mạc phố xá Ả Rập bị xóa tên trên bản đồ và 700.000 người phải ra đi. Ngay lập tức, chỉ có 2 năm sau, quốc hội Israel ra luật cấm họ trở lại, chắc viện cớ lịch sử là ra đi 2000 năm trước thì có quyền trở về đòi còn ra đi 2 năm trước thì tao cấm mày bén mảng trở lại, chưa đủ thâm niên đâu con! Luật tịch thu đất đai sở hữu của những người “vắng mặt” (Absentees) ra đời. Một số ở lại cũng bị tịch thu nhà cửa dưới diện được gọi là “vắng mặt hiện diện” (Present Absentees)!

    [​IMG]
    Bà Peled vào thời Israel lập quốc

    Bà Zika Peled lúc đó là một phụ nữ trẻ, mới thành hôn và đang ẵm con. Bà kể, đầu tiên là người Do đến các nhà Ả Rập trong phố bị bỏ hoang hôi của nhẹ, rồi xe tải từng đoàn đến chở đi bàn ghế và thảm trải. Sau cùng các nhà này được chia cho người Do. Bà Peled cũng được phát cho một cái. Bà Peled là người Do. Cha của bà là thành phần “lập quốc”, có tên ký trên bản Độc lập, sau là đại sứ đầu của Israel tại LHQ. Chồng của bà là một sĩ quan trẻ đang xông pha thành tích, sau này là tướng trong chiến tranh 1967 và thống đốc Gaza. Nhưng bà nghĩ bà không thể nào ở được một căn nhà mà có một người mẹ khác đã phải bồng con ra đi và không nhận, thà bà vẫn ở với… mẹ chồng!

    [​IMG]
    Khẩu hiệu giết hết người Ả Rập trên cánh cửa nhà ở Israel

    (Đến 1982, tại trại tỵ nạn Sabra Chatila ở Lebanon, còn có một gia đình Do Thái bị sát hại cùng với cả ngàn người Palestine đồng hương của họ. Gia đình Do Thái này, năm 1948 đã theo người Palestine ra đi lưu vong thay vì ở lại mà hôi của và chiếm nhà hàng xóm. Có dại thì cũng dại vừa thôi nhé, đấy, thấy chưa!)

    Trước khi Bảo hộ Anh quốc chấm dứt vào ngày 15. 5. 1948, Israel tuyên bố độc lập và các quốc gia Ả Rập gửi quân sang can thiệp, 325.000 người Palestine đã phải ra đi và đã xảy ra nhiều vụ tàn sát thường dân có tội chứ không phải vô tội, và tội là ở nhờ đất Do Thái từ 20 thế kỉ nay. Deir Yassin được thế giới biết đến ngay vào lúc đó (do New York Times tường thuật) nhưng những cuộc tàn sát khác phải đợi dần dà cho đến nay mới được thú nhận, thí dụ tại Al Tantura, hành quyết 230 nam giới từ 10 đến 55 tuổi. Như một tướng lãnh sau này (lúc đó làm đại đội trưởng ra lệnh hành quyết) đợi nửa thế kỉ sau phát biểu, là giờ Israel đã đủ sức mạnh và vững chãi để thừa nhận những hành động đó. Nó chẳng vô tình chút nào và nếu giữ kín với Tây phương thì lại được phổ biến rộng cho dư luận Palestine để họ còn xô nhau mà chạy chứ. Chiến dịch “Tảy tộc” đã bắt đầu trước khi các nước Ả Rập bấm bụng gửi quân sang tham chiến, một lý do làm họ quyết định là phải giữ thể diện, để bảo vệ người Palestine sau những thảm sát này.

    [​IMG]
    Cuộc thảm sát Deir Yassin diễn ra vào 9. 4. 1948, và đến 15. 5, người Ả Rập trong toàn bộ các thành phố lớn của người Palestine đã bị dọn sạch. Khoảng 750,000 tới 800,000 người tị nạn Palestine đã bị xua đuổi khỏi đất họ đang sinh sống. Đây là mở đầu cho việc trục xuất dân Palestine gốc Ả Rập ra khỏi Haifa và ra khỏi Palestine.

    Can thiệp quân sự này thất bại và là chiến công đầu của Israel. Xin lỗi, đây là chiến công thứ nhì chứ. Chiến công đầu là các lực lượng vũ trang Do Thái đánh bại các lực lượng địa phương Palestine. Thành tích vẫn được ca tụng này là 50.000 quân Do trong đó 30.000 là chủ lực, có kinh nghiệm, chuẩn bị và tổ chức, võ trang chiến xa, đại pháo và không hải, đơn phương đánh bại 7.000 vệ binh làng không có chỉ huy thống nhất của người Palestine; đội vệ binh này được tiếp sức trong giai đoạn này từ tháng 2.48 bởi 1.000 chí nguyện quân Ả Rập đầy nhiệt huyết nhưng không có huấn luyện. Số chí nguyện quân ấy mấy tháng sau lên đến 3.000 (từ từ chứ, còn có 50 người phải đáp xe đò từ Bosnia sang). Và như thế tương quan quân sự tại chỗ vào tháng 5. 1948 là 50.000 phía Do và 10.000 phía Palestine.

    Huyền thoại một quân lực tí hon kiên cường dựng nước giữa biển người Ả Rập đến đầu thế kỉ 21 thì đã sứt mẻ và đổ vỡ. Chuyện thật ra không hẳn là như vậy theo công trình nghiên cứu của các sử gia “xét lại” tại Israel từ cuối thế kỉ 20. Nhưng hương thừa vẫn còn vương vấn đâu đây
  8. macay3

    macay3 LSVH - KTQSNN Moderator

    Tham gia ngày:
    26/10/2007
    Bài viết:
    2.963
    Đã được thích:
    1.595
    4. Ái phi Israel: nặc nô thừa thông minh nhưng thiếu công bằng

    Ngày 4 tháng 8 năm 1964, chiến hạm Hoa Kỳ USS Maddox đang dong tại Vịnh Bắc Việt, hô hoán là trên màn hình ra-đa có thấy bóng dáng mập mờ thủy lôi phóng về phía họ. Tổng thống Johnson bèn ra lệnh đánh bom miền Bắc.

    [​IMG]
    Chiến hạm Hoa Kỳ USS Maddox

    Ngày 8 tháng 6 năm 1967, chiến hạm Hoa Kỳ USS Liberty đang di chuyển ngoài khơi khu vực Sinai trong hải phận quốc tế thì bị 4 phi cơ tấn công. Sau đó 3 tàu phóng lôi đến gần, phóng thủy lôi và nã súng, bắn vào các bè cứu cấp đang được thả xuống. Trong số thủy thủ đoàn 284 người, 34 thiệt mạng và 174 bị thương, số tổn thất như vậy là 72%. USS Liberty gọi điện cầu cứu với Đệ lục Hạm đội, và 8 phi cơ Mỹ phóng đi thì bị Bộ trưởng Quốc phòng gọi trở về. Lượt cấp cứu thứ nhì, cũng 8 phi cơ Mỹ, lại bị triệu hồi. Đây là lần duy nhất trong hải sử Hoa Kỳ, 1 chiến hạm gặp nạn bị quân bạn từ chối tiếp cứu. Lần này đích thân Tổng thống Johnson lên máy ra lệnh. Ông bảo, tôi không muốn đồng minh của ta phải bối rối. Các phi cơ, tàu chiến đánh tàu Liberty là của Israel.

    Tất nhiên là 2 hoàn cảnh này rất khác nhau, và Israel nhất định không phải là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    [​IMG]
    Thủy thủ Bryce Lockwood của tàu Liberty đứng trên boong tàu bị hư hại nặng.

    Lý do chính thức khiến Israel lại đi đánh tàu Mỹ là tàu này bị nhận diện nhầm với một tàu Ai Cập Al Quseir, đại khái thì cũng là tàu cả, nhưng ngắn gấp 2 và trọng tải chỉ có 40 % tàu Liberty. Vụ này khiến Đô đốc Moorer, Tham mưu trưởng Hoa Kỳ phải mỉa mai “Ai mà nhầm hai tàu này thì không phân biệt được nổi giữa tòa Nhà Trắng và Tượng đài Washington” (tượng đài này hình tháp nhọn và cao 170 mét).

    Vậy tại sao lại có chuyện lạ là phi cơ “lạ” đánh tàu “lạ” thế này? Liberty là một tàu do thám điện đàm của Hải quân Mỹ, và giải thiết được đưa ra là Israel muốn hủy những tang chứng mà tàu này “tóm” được:

    1. Liberty biết được việc Israel hành quyết tập thể 1.000 tù binh Palestine và Ai Cập tại Al Arish. Giả thiết này không đủ thuyết phục. Chẳng lẽ vì thế mà Israel lại nhẫn tâm cố ý đánh chìm 1 tàu Mỹ và tận diệt thêm cả thủy thủ đoàn Hoa Kỳ để phi tang? Thế thì còn tệ hơn cả bác sĩ Cát Tường, đẩy luôn xuống sông cậu bảo vệ vừa giúp mình vứt xác nạn nhân!

    [​IMG]
    Tù binh Ai Cập tại Al Arish khu vực Sinai năm 1967 (ảnh Getty Images)

    2. Israel quyết định đơn phương đánh Syria, chiếm cao nguyên Golan, không để Hoa Kỳ biết sẽ “ép” họ phải ngưng bắn. Lý do để Israel chiếm cao nguyên Golan và Syria và nguồn nước ngọt, như Bộ truởng Quốc phòng Moshe Dayan sau này thú nhận, là bởi “lòng tham” của các nông trường Israel trong vùng chứ chẳng có gì “tự vệ chính đáng” gì hết (về sau Israel cũng chiếm được cao nguyên trong Cuộc chiến 6 ngày). Tàu Liberty bắt sóng được quyết định này. Israel sợ nếu tàu này báo cáo cho chính quyền Mỹ, ắt họ sẽ ngăn cản (“mình quá quắt lắm, anh không chiều được đâu nhé“). Như vậy phải phá sóng truyền tin và đánh chìm tàu ngay. “Lòng tham” này (greed, chữ của Dayan) là bất chấp, bất kể con tàu kia có là của ân nhân đỡ đầu?

    [​IMG]
    Bể bơi và nông trại Israel trên Golan ngày nay (ảnh AKUS)

    Sao thì, truyền thông và chính phủ Hoa Kỳ cũng “nhận chìm” chuyện này, và tàu USS Liberty như vậy chết đến 2 lần. Riêng đối với thủy thủ đoàn sống sót thì được chứng kiến quân lực Israel rõ là tồi, có mỗi cái tàu thám thính chỉ có 4 ụ thượng liên tự vệ (không hề được dùng đến) mà đánh không chìm được, và nhắm vào một con tàu đã lê lết bởi phi pháo mà 5 thủy lôi thì hụt mất 4!

    Sự cố Liberty trên minh họa quan hệ đặc biệt và đối xử đặc biệt của Hoa Kỳ với Israel. Còn Israel đối xử với Hoa Kỳ ra sao?

    Dưới thời Reagan, Mỹ đi đêm với Iran, giao kín bom khôn của Mỹ cho nước này. Việc này do Israel đảm trách. Nói cho dễ hiểu, Mỹ nhờ Israel, có mấy cái Iphone 5 tao đã cho mày, giờ mày đưa cho thằng Iran, tao sẽ bù lại cho mày sau. Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ là McFarlane bí mật đích thân sang Tehran. Đây là việc rất ly kỳ vì vỡ lở là ở tù cả lũ (sau này, Đô đốc Poindexter, kế vị McFarlane đã phải lãnh án tù).

    Theo McFarlane kể, phía Iran mới gặp ông là nắm áo chửi ngay, cha làm ăn kiểu gì vậy, tưởng tôi không biết khác biệt giữa Iphone 4 và Iphone 5 hay sao? McFarlane tím mặt, hóa ra Israel giao cho Iran là bom khôn đời cũ!

    [​IMG]
    Tổng thống Mỹ Ronald Reagan hội ý với Bộ trưởng Ngoại giao George Shultz (trái) và Cố vấn An ninh Quốc gia Robert McFarlane, giữa năm 1983.

    Dần dà, những ngang ngược này làm mất cảm tình dành cho Israel bởi Tây phương và Hoa Kỳ. Có đáng yêu mấy thì quý phi cũng trở thành Đát Kỷ, nhốt 1 triệu người Gaza trong một nhà tù lớn, dùng phi cơ đánh hết tất cả trại gà công nghiệp của dải, cho chúng mày khỏi ăn trứng gà vì ai cũng biết là trứng gà thì khó chọi lại bom. Ai là David anh hùng đây? Đứa trẻ cầm gạch đá hay là chiến xa Merkeva? An ninh Gaza không có vũ khí chống tăng hữu hiệu, cũng như trại gà không có vũ khí phòng không.

    [​IMG]
    Mang trứng chọi bom: Trại gà ở Rafah, Gaza ngày 6/6/2012 sau khi các gà mẹ đã anh dũng chống trả lại phi cơ Kfir, tức “Sư tử con” (ảnh Abed Rahim Khatib, Demotix)

    Ngay cả người Do Thái nước ngoài hay ở Mỹ (theo chữ củaTony Judt) đã chán “bị Israel bắt làm con tin”. Họ bắt đầu bực mình vì những việc Israel làm mà nhân danh tập thể này! Chính trường của Israel, ngày càng bị hai chiều hướng quá khích quyết định và thao túng. Một là thần quyền “truyền thống”, tất nhiên kỳ thị mọi người khác trên căn bản “dân tộc chọn lọc”. Hai là thành phần di dân mới từ Liên Xô cũ, ăn dồi heo vào ngày kiêng là thứ Bảy nhưng kỳ thị cũng không kém, và “lòng tham” cũng hấp háy các khu vực đất chiếm đóng, đẩy người địa phương đi để cất nhà.

    Huyền thoại cuối cùng “Đây là chế độ dân chủ duy nhất trong khu vực” cũng rạn nứt nốt. Dân chủ tại Israel là cho 6 triệu người Do Thái, không phải cho 5,5 triệu người Ả Rập. Những người này phải tuân theo luật riêng dành cho họ, tức là thiết quân luật, hạn chế đi lại, hạn chế công việc, bị bắt giữ thoải mái không cần xét xử.

    [​IMG]
    Lính Israel xét cặp học trò Palestine ở điểm kiểm tra 56, Hebron.

    Dân chủ này giống như dân chủ tại Nam Phi hay tại miền Nam nước Mỹ trước đây, dân chủ cho người da trắng còn da đen thì ra phía sau xe buýt mà ngồi (như câu nói Mỹ vào thời đó “Chúng ta có thể đặt một người lên mặt trăng nhưng không đặt được một người da đen lên phía đầu xe buýt”). Tuy cựu Tổng thống Mỹ Carter than phiền là “Ở thành phố này (Washington), không một ai, không nhà chính trị nào dám phê bình Israel cả”, chính ông đã viết cả một quyển sách phê bình chính sách Apartheid (theo Nam Phi) này.

    [​IMG]
    Đường ngăn đôi tại khu vực H2 Hebron, (Tây Ngạn thuộc Palestine), phía trái dành cho 35.000 Ả Rập và phía phải dành do 800 cư dân (settlers) Do Thái.

    Ngày nay người Do Thái không còn bị phân biệt kỳ thị ở nước ngoài, không còn bị đe doạ sinh mạng hay cuộc sống, và trớ trêu là nếu họ bị phê phán thì đó là do những hành vi bất khả của Israel! Nếu bảo là Israel cần thiết cho an ninh của người Do thì ngày nay người Do không ở đâu mất an ninh bằng ở ngay tại Israel. Nếu bảo là Israel là Đất Hứa đảm bảo cho người Do có một cuộc sống tốt đẹp thì cuộc sống của họ tại Anh tại Mỹ tốt đẹp hơn nhiều. Theo Tổng Lãnh Sự Israel tại Los Angeles (2012), số người mang song tịch hay quốc tịch Israel tại bang California là 200.000-250.000, tại nước Mỹ là 600.000-700.000. 230 nhân viên ngoại giao của Israel tại Hoa Kỳ hiện mang song tịch hoặc hưởng quy chế thường trú (đây nói về người Israel ở Mỹ, không phải nói về người Do Thái)! Như vậy là riêng tại Hoa Kỳ, 10% người Israel chọn để sinh sống thay vì sống tại Israel. Còn người Do di dân sang Israel thì từ đâu? Sau đợt từ Liên Xô cũ, giờ họ từ…Ấn Độ. Mới đây, tộc Bnei Menashe ở Đông Ấn được phát hiện là có nguồn gốc Do Thái và được đưa về trấn thủ tại các vùng Israel chiếm đóng ở Tây Ngạn, khiến nhà chức trách Palestine phải lên tiếng “ Các ông muốn nhận ai là Do Thái thì cứ nhận, đó là việc của các ông, nhưng nhận họ thì đưa về nhà ông chứ tại sao lại đưa sang nhà tôi”!

    [​IMG]
    Các thành viên của tộc Bneru Menashe, được coi là có gốc Do Thái, từ Ấn Độ di cư sang Israel, tại sân bay Ben Gurion

    Giải pháp 2 quốc gia đến giờ bế tắc, bởi người 5,5 triệu người Palestine hiện diện chỉ được dành cho có 20% đất và 5 triệu người Palestine tỵ nạn không được phép trở về. Phần Tây Ngạn thì bị băm nát như tương bởi các ấp chiếm đóng vằn vện và chia cắt. Phần Gaza thì như là thiếu nữ cấm cung kín cổng và cao tường, nội bất xuất ngoại bất nhập; có quốc gia nào mà khả thi được trong những điều kiện này, kể cả các Bantustan tại Nam Phi còn kém bề ngột ngạt. Riêng Jerusalem, chỉ muốn chia một phần làm thủ đô chung cho cả hai vẫn còn không được Israel chấp nhận. Israel đơn phương tuyên bố Jerusalem là thủ đô và cho đến giờ chưa có quốc gia nào trên thế giới công nhận thủ đô này cả, kể cả Hoa Kỳ là nuớc vẫn đặt sứ quán tại Tel Aviv. Trong lịch sử quan hệ quốc tế, chuyện coi thường công ước và bất kể nghị quyết LHQ, Israel vô địch hàng đầu. 1955-2013, có tất cả 77 (bảy mươi bảy) nghị quyết của LHQ “lên án”, “đòi hỏi”, “kêu gọi” Israel mà chẳng đến đâu. Không tuân thì thôi, lâu lâu lại ném bom cả lực lượng Mũ xanh. LHQ và những giải pháp của LHQ chẳng là cái đinh gì cả, làm gì nhau, tôi là thằng bé khó bảo.

    [​IMG]
    Năm 1996, Israel pháo tập 38 quả 155mm vào căn cứ LHQ tại Qana, Nam Lebanon là nơi đang có 800 thường dân lánh nạn làm thiệt mạng 106 thường dân, 114 bị thương cùng với 4 quân nhân UNIFIL (LHQ). Bản điều tra của LHQ cho đây là cố tình, có 2 trực thăng và 1 máy bay không người lái hiện diện để hướng dẫn pháo tập và Israel cho đây là tai nạn do bất cẩn gây ra. LHQ thông qua nghị quyết đòi 1.7 triệu USD tiền xây dựng lại căn cứ, tất nhiên là Israel không trả chắc là để đợi 2000 năm nữa

    Mặt khác, tuy người Do Thái chẳng có lý do chính đáng gì để “trở về” khu vực này tái lập nước, nhưng hiện nay họ đang ở đó và hiện diện 6 triệu. Họ ở đó từ 100 năm nay và không ai đòi đuổi họ đi đâu cả, chẳng ai xua họ đi và lấy lại đất như họ đã làm với người Palestine. Đẩy họ xuống biển cũng chẳng phải là một giải pháp nốt. Vậy thì giải pháp là một quốc gia chung cho hai dân tộc, một quốc gia thế tục và dân chủ thật sự, trong đó mọi người đều bình đẳng và không phân biệt. Sự sống chung tốt đẹp này đã có tiền lệ ngay tại chỗ, trước khi Israel thành lập, người Do Thái đã sống chung êm đềm với người Ả Rập tại Palestine chứ còn ở đâu. Thảm sát người Do, cho đến giờ trong lịch sử là ở Tây Ban Nha, ở Nga, ở Ba Lan hay ở Đức, dưới tay người Ki-tô hay người La Mã nhé, không phải bởi người Hồi. Giải pháp này cũng không phải là bất khả thi đối với người Palestine hay là đối với cái gọi là khối Ả Rập. Thử đề nghị xem họ có chống lại không? Nó chỉ không được chấp nhận bởi người Israel cũng như trước đây người da trắng Nam Phi không thể chấp nhận bình đẳng và gọi Nelson Mandela là…, là gì nhỉ? Là “khủng bố”. (Khi Clinton sang dự sinh nhật thứ 90 của Mandela năm 2008, Mandela vẫn nằm trong danh sách khủng bố của Hoa Kỳ khiến chính quyền Mỹ phải bối rối và lột tên ông ra.)

    Thực dân da trắng đến Nam Phi lập quốc mấy trăm năm trước đến giờ này (sau khi chế độ Apartheid cáo chung năm 1994) vẫn còn ở đó. Chế độ mới và đa số da đen, da màu chưa thấy đẩy người da trắng xuống biển. Họ sống chung dân chủ, hòa bình và bình đẳng (vâng) cũng vẫn tại quốc gia đó. Điều này chỉ mới 20 năm trước được cho là vô lý cực kỳ tại Nam Phi, thế thì cũng cho ta hy vọng là Israel trong tương lai cũng sẽ được như thế. Hai dân tộc sống chung công bằng, bình đẳng và phát triển (trong yêu thương trìu mến?). Điều này chỉ có thể thực hiện nếu có sự thay đổi quan điểm của cộng đồng người Do toàn cầu, của cộng đồng người Do tại Hoa Kỳ. Trước hết, và sau cùng, là sẽ nhờ vào những người Do công bằng và dũng cảm ngay tại Israel.

    Dũng cảm và công bằng, dân tộc Do Thái không thiếu và điều đó, tất nhiên là với áp lực của dư luận công tâm thế giới, và trước hết là sức đề kháng của dân tộc Ả Rập, cho phép chúng ta được lạc quan rằng, ngay trong thế hệ của chúng ta, sẽ thấy được một ngày như vậy tại Palestine.

    Nguồn bài viết : soi.com.vn
    ALPHA3 thích bài này.

Chia sẻ trang này