1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Danh nhân xứ Kinh Bắc

Chủ đề trong 'Bắc Giang - Bắc Ninh' bởi T_N_T, 09/11/2003.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. sinh_vien_thuc_tap

    sinh_vien_thuc_tap Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    27/11/2006
    Bài viết:
    3.946
    Đã được thích:
    0
    Cho iem hỏi tý là làng Bích Khê có vị danh nhân nào không nhỉ?
  2. luc_thao

    luc_thao Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    08/01/2006
    Bài viết:
    3.271
    Đã được thích:
    0
    Sử sách 100 năm sau sẽ ghi có thêm 1 người, chắc là SVTT
  3. sinh_vien_thuc_tap

    sinh_vien_thuc_tap Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    27/11/2006
    Bài viết:
    3.946
    Đã được thích:
    0
    Vậy thì iem phải nỗ lực để trở thành doanh nhân mới được, (doanh với danh nó cũng giống nhau nhể)
  4. luc_thao

    luc_thao Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    08/01/2006
    Bài viết:
    3.271
    Đã được thích:
    0
    Xong cuộc tuần du
    *
    Tuần du chưa vợi khối ân tình
    Vĩ thanh
    *
    Thai nghén quê xưa
    Về Kinh bắc lọt lòng
    Qua tám nhịp tuần du dạ khúc

    Đó là vào năm 1959. Vụ Nhân Văn - Giai phẩm đã qua đi như một trận gió mạnh. Sau, dĩ nhiên có một vài cây đổ, lá rụng đầy đường, có những túp nhà tốc mái, có những bức tường xiêu vẹo. Xong, trời lại xanh, đường phố lại rộn rịp nếp sống thường ngày. Tôi, lẽ đương nhiên phải chịu kỷ luật (trên văn bản, giấy trắng mực đen do ông Nguyễn Đình Thi, tổng thư ký Hội Nhà văn ký : Khai trừ khỏi ban chấp hành Hội. Thời hạn 1 năm không được ấn hành tác phẩm - lưu lại Hội để giáo dục. Và cũng chỉ có thế, còn đời sống vật chất cũng chỉ sa sút có 50%. Vẫn có lương nhỏ nhoi hàng tháng (lương chính bị cắt tới 65%), lao động chân tay bắt buộc trong 3 năm, sau thì được tự giác tìm một nơi nào đấy lao động chân tay có thêm tiền bồi dưỡng. Cũng vui, và chính cái việc tôi sinh hoạt, sống ba cùng với nông dân, công nhân đã giúp tôi hiểu thêm về những số phận người.
    Phải nói thật một điều, thường người ta khó tin, là hồi đó tôi không mang trong lòng ?" dẫu chỉ một ly ?" nỗi oán hận, nỗi buồn phiền, hoặc trách móc hờn giận gì ai. Đôi lúc, chỉ nghĩ về chính số phận mình, có chút cay đắng, có xót xa. Nhưng vì ?ođã mang lấy nghiệp vào thân? như Nguyễn Du nói, cái nghiệp thơ đầy đau khổ, oan trái, nhưng cũng nhiều hào quang toả ra từ tâm linh và từ những câu chữ kỳ diệu đã đem đến cho mình không ít giờ phút say sưa, ngay trong cuộc sống bình nhật cũng không ít hạnh ngộ đẹp, tôi được gặp nhiều người nam, người nữ rất trong sáng, yêu thương mình hết lòng. Dân tộc là thế đấy, thưa các bạn.
    Vậy thì vào mùa thu rồi sang mùa rét 1959, ít khi tôi ra khỏi nhà. Ngày hai bữa cơm nghèo, mấy tấm áo quần đã sờn rách, một lũ con nhỏ dại lau nhau đi học, chơi đùa, đau ốm, tất cả tôi trao gánh nặng cuộc đời ấy cho người vợ rất giỏi chịu đựng kham khổ, người vợ thật hiền thảo, thật thương yêu chồng con (mà rồi đây, trong tập Nhớ lại một đời, tôi sẽ viết một chương riêng để đền đáp tình nghĩa lớn lao ấy cho người vợ đã giúp tôi đẩy chiếc xe thơ Về Kinh Bắc đi trọn đoạn đường thiên mệnh của nó).
    Vâng, đúng là năm Kỷ Hợi 1959, từ khi chiếc lá bàng trước cửa nhà rụng xuống báo tin thu ( lá bàng chứ không phải lá ngô đồng), hồn tôi cứ chìm dần, chìm sâu, chìm và lắng thật sâu vào vùng quê tôi ngày xưa, thời tôi còn nhỏ dại, với biết bao bóng dáng, đường nét, mầu sắc, hương vị đã quá xa, đã ?ođi đâu, về đâu? tôi không thể biết nhưng cả một thời, từ khi vào tuổi bước đầu nhận thức được cõi đời này đến khi rời quê ra Hà Nội học tiếp rồi vào hẳn thế giới văn thơ (1938) nghĩa là cái khoảng thời gian 12 năm thơ trẻ ấy của tôi thì sống lại, và ngày đêm thầm thì nói chuyện với tôi về quê hương, về tình yêu, với những nỗi buồn, niềm cô đơn, nỗi xa cách, nỗi ly biệt cứ tầng tầng lớp lớp úp xuống hồn tôi như một đại dương trập trùng sóng gió, miên man xanh một màu huyền - diệu - dĩ - vãng rồi xẻ ngang, vạch chéo vút cao, xoáy sâu không biết bao nhiêu những nét rung động, có khi võ vàng, gầy mảnh, có khi tươi tắn, ngỡ ngàng, lúc như ai oán, lúc như mơ mộng nhưng vui ít buồn nhiều, cái đau của những thuyền tình không đến bến, những nguyện ước không thành, những mộng đẹp tan vỡ, những men say nửa chừng, những con mắt mỹ nhân đã khép, những tiếng hát người yêu đã tắt, những làn da mịn màng người gái quê Kinh Bắc đã nhăn nheo, những sợi tóc xưa óng ả nay đã úa bạc. Tất cả... tất cả... tôi bơi, chìm trong tất cả da thịt quê hương, hồn phách quê hương. Quê hương Kinh Bắc. Và lời mở đầu cho tập thơ là một lời cầu khẩn từ đáy tâm linh thơ dại :
    Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc.
    Nói đến quê hương, phải bắt đầu bằng Người Mẹ. Mẹ là hiện thân trọn vẹn nhất, sinh động nhất của quê hương. Huống chi mẹ tôi xưa vốn là một cô gái Kinh Bắc có nhan sắc, óng ả, kiều diễm, có đôi mắt ?o lúng liếng? thật tình tứ, đôi mắt rất quan họ, có dáng đi đài các, uyển chuyển, thanh tao và khi mẹ tôi mặc chiếc váy lụa kiểu Đình Bảng, mép váy buông chùng cửa võng xuống mu bàn chân, ai trông thấy phía trước mặt đều tưởng như người con gái này đang đi trên sóng rập rờn, nhất là khi người nữ biết cách mặc cho đúng ?omốt Đình Bảng?, nghĩa là biết chếp nếp thế nào đó trên thắt lưng để ở phía dưới càng có nhiều pli càng đẹp. Cô nào giỏi chếp nếp thì từ mép váy lên có đến 4 pli. Nói rằng cô gái đang đi trên sóng, là một cách nói chuẩn xác.
    Hơn nữa, mẹ tôi lúc chưa đi lấy chồng, nghĩa là chưa làm vợ người đàn ông sau này là cha tôi, đã nổi tiếng khắp vùng Tiên Du, Thuận Thành (hai huyện ở tả ngạn và hữu ngạn sông Đuống, thuộc tỉnh Bắc Ninh) nổi tiếng là cô thiếu nữ hát quan họ rất hay, năm nào cũng được các lão làng Bựu-Xim (tên làng quê gốc của mẹ tôi) khen thưởng cho cả phường hát ấy một tấm lụa điều và một bánh pháo đại quang toàn hồng. Lấy chồng rồi, ngoài công việc mưu sinh mẹ tôi vẫn theo các chị em đi hát. Tháng tám âm lịch thì tập luyện, sáng tạo ra những làn điệu mới, lời hát mới để đến ngày 13 tháng giêng sang năm, thì dự giải hát thi ở đình làng Bựu (làng này, thế kỷ 18, là nơi sinh ra người con gái tài sắc tuyệt vời Trần Thị Tần (1740-1778) để đến tuổi 18 thì Tần đi làm vợ thứ ba, người vợ yêu bậc nhất của quan Đại tư đồ Bình nam Tả tướng quân (ngang với Tể tướng) tên là Nguyễn Nghiễm, Xuân Quận công, và rồi sau sinh ra một đại thi hào cho đất nước : Nguyễn Du). Mẹ tôi (1891-1961) là con gái làng Bựu, đương nhiên được hưởng, được thừa kế tinh hoa quan họ. Đó là nghệ thuật hát thơ, những câu thơ (cốt lõi là thể lục bát) trữ tình, mang đầy sức quyến luyến, yêu thương, nhớ nhung, đằm thắm và da diết đến mức có thể làm say cả gỗ đá.
    Lại cũng vì mẹ tôi cứ say mê với nghệ thuật hát mà thuở tôi chưa ra đời, giữa đôi vợ chồng trẻ (là bố mẹ tôi sau này) đã nảy sinh một bi kịch kéo dài đằng đẵng 12 năm. Năm 17 tuổi, mẹ tôi về Thuận Thành, làng Hồ, làm vợ bố tôi, mà tại sao tôi là con đầu lòng, mãi đến năm mẹ 31 tuổi, mới được xổ ra cõi đời này ? Thuở bé, tôi thường nghe các chú, các bác bên nội, bên ngoại kể chuyện một cách khái quát (không có chi tiết) rằng "bố ****** chê nhau lâu lắm, đến hơn 10 năm đấy".
    Tôi nghe thế thôi, biết hỏi ai ? Ai kể chi tiết gì đâu về cái chuyện đôi vợ chồng ấy chê nhau đến hơn 10 năm? Bố tôi nguyên là một nhà nho (1886 - 1959), ba lần thi trường Nam Định không đậu nổi ở cấp hạng bét là tam trường, sau rồi bất đắc chí, bỏ làng đi dạy học lang thang và cũng lại lang thang đi chữa bệnh khắp các huyện trong hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, rồi đâu như cũng là người yêu nước có khí tiết, đã tham gia các phong trào Đông kinh nghĩa thục, Đông du, Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học. Tôi còn nhớ hồi lên 6 tuổi, tôi thường phải đun nước, điếu đóm, hầu trà để bố tôi tiếp bạn thân là ông Xứ Nhu (Nguyễn Khắc Nhu). Năm tôi lên 7 (1929) bố tôi đã bị viên tri huyện Việt Yên đem lính đến khám nhà rồi tống giam ở thị xã Phủ Lạng Thương đến gần một năm mới được tha về (có lẽ là ông bị tình nghi, đế quốc Pháp đã dẹp tan Việt Nam Quốc dân Đảng, bố tôi không có chứng cớ gì cụ thể để chúng buộc tội). Từ đó thì bố mẹ tôi sống yên phận : bố bốc thuốc Nam, thuốc Bắc chữa bệnh, mẹ trĩu nặng hai bồ hàng xén đi các chợ làng, chợ huyện, một cô hàng xén răng đen, cười như mùa thu toả nắng, chăm chút nuôi con ăn học bằng cách thắt lưng buộc bụng. Nhờ vậy tôi mới có điều kiện học được hết bậc trung học ở Hà Nội.
    Vậy là trong người tôi hoà quyện hai dòng máu. Dòng máu của nghệ thuật quan họ, dân ca hoà với dòng máu yêu nước, hào hùng và khí tiết, và cả hai dòng đều rất mực sắt son, thuỷ chung như nhất.
    Thế nhưng, không hiểu sao, tôi sớm có cái buồn cô đơn ngay từ năm lên sáu, lên bảy tuổi. Bẩm sinh chăng? Hay chính là nỗi buồn của người con gái tài sắc lấy chồng từ năm mười bảy tuổi mà phải sống cô đơn đến hơn mười năm ? Tôi lớn lên, chính mình được nghe mẹ kể : Lúc mẹ trở dạ sinh ra tôi thì gian nhà tre, mái rơm vách đất tiều tuỵ ấy rất trống vắng. Bố mẹ thì ở xa. Mẹ chồng goá bụa, già nua cũng ở xa. Chồng tuy mới làm lành với vợ được hơn một năm, mà người vợ ba mươi tuổi kia lúc mang thai cũng vẫn sống nhiều tháng ngày cô đơn, lạnh lẽo vì chồng cứ đi... đi đâu ? Dạy học hay làm thuốc rong, hay hội kín hội hở gì mà đi luôn thế, đến lúc vợ đẻ cũng không có mặt ở nhà ? Đến lúc đau quá, người thiếu phụ ấy kêu thét lên thì bên láng giềng mới có một bà chạy sang đỡ thằng bé ra đời, cắt rốn cho nó bằng con dao bổ cau rồi tắm rửa... tã lót cho nó, cũng may mà nó sống được, chỉ phải cái tội là sau mấy tiếng oa oa đầu tiên thì nó im bặt không khóc nữa. Chào đời mà không khóc cho thật to, thật dài hơi vào à? Thằng cu này gan nhỉ, hay là ai bắt mất vía để nó nghẹn không khóc lên được nhiều? Bà hàng xóm vừa bế tôi, vừa thắp hương lên cái ban thờ phía đầu giường, khấn vái bốn phương. Lúc đó đã gần nửa đêm 12 tháng giêng Nhâm Tuất (1922), chỉ còn một lát nữa là sang ngày hội Lim, hội quan họ, ngày mà nhiều năm về trước, mẹ tôi xúng xính áo the đen tứ thân, khăn vuông mỏ quạ, vành khăn nhiễu tam giang, váy lụa Đình Bảng, đi dép da trâu mũi cong, thắt lưng hoa đào hoa lý, cùng với bốn năm chị em phường hát đi ra đình từ sớm để rồi hát chúc, hát thi... còn ngay lúc sắp nửa đêm ấy, vào cái giờ tôi bật từ bụng mẹ ra cõi nhân gian rất đẹp mà cũng rất rắc rối lắm chuyện này, thì ở đình làng, cách nhà chừng non cây số, như văng vẳng vẫn còn tiếng trống chầu của đêm hát chèo. Mẹ tôi kể vậy nên tôi nhớ cả cái vùng Kinh Bắc cách đây sáu bảy mươi năm, các thôn làng thường mở hội suốt tháng giêng, tháng hai.
    Hội to thì kéo dài dăm ngày, hội nhỏ nhất cũng phải một ngày một đêm mới rã đám. Những lời mẹ kể tôi nghe từ năm lên sáu về cảnh nhà, cảnh xóm, cảnh thôn xã, cảnh phố huyện, phố phủ, cảnh chợ núi chợ sông, rồi đến chuyện người, ông bà, họ hàng nội ngoại, người xóm thượng, xóm hạ, người quê gốc... người ngụ cư, người cấy cầy, người chợ búa, người làm quan, người đi lính, người ?olàm thày, làm thợ với làm thuê?, người dân nghèo, sang hèn, quen thân hay sơ, nhiều lắm, mẹ tôi kể nhiều lắm mà hồn tôi từ thuở bốn năm tuổi cho đến khi biết đến cái cầu Long Biên và phường phố đô thành, hồn tôi đúng là một trang giấy mỏng manh, trắng nõn, tinh khiết, mẹ kể chuyện nào là cũng in đậm ngay vào hồn tôi chuyện ấy để rồi giá tôi được sống đến mười mươi chăng nữa sẽ chẳng có một cái gì có thể xoá đi được, dẫu chỉ là một nét mong manh, một màu thoáng nhạt, một hương vị thoảng qua... Vậy nên, cả tập thơ Về kinh Bắc tôi viết từ lập thu 1959 đến giữa xuân 1960, là quê hương tôi, cảnh ngộ gia đình tôi.... số phận mỗi người thân yêu... nhất là số phận những người gái quê Kinh Bắc đã hiện lên thành 48 bài thơ gắn bó hữu cơ với nhau trong một thể, một khối n-phương thống nhất chia làm tám nhịp, mở đầu là Cúi lạy mẹ, con trở về Kinh Bắc và sau khi Xong cuộc tuần du là mươi dòng ước nguyện tạm kết thúc một chuyến về thăm quê xưa, về Kinh Bắc.


    Bốn tám dáng thơ đi tám nhịp
    Tuần du
    Chưa vợi khối ân tình

    Vâng, một cuộc "tuần du" đi từ người Mẹ ngược về những sự tích huyền sử, dã sử, về những chuyện tình huyền thoại đến cả những chuyện thực đã diễn ra hôm qua và hôm nay. Gọi là chuyện nhưng thơ lại là kết tinh. Trong viên ngọc kết tinh của muôn vàn nỗi niềm, cảnh sắc, hương vị, âm thanh, tiết tấu của cuộc sống vừa là xa xưa, vừa là đương đại, lúc huyền ảo, lúc hiện thực, như mê mà tỉnh, như ngủ mà thức, hư hư thực thực ấy, thì hình ảnh mẹ tôi bàng bạc bao phủ cả tập thơ, rồi đến một cậu bé con cầm chiếc lá Diêu Bông trong tay đi xuyên thời gian, xuyên suốt vùng quê đa tình, diễm ảo, và bên cạnh cậu bé con ấy là một người gái quê cũng đa tình diễm ảo, như cánh mây trắng mỏng cứ vần vụ, như chạy như bay, lại như đậu tà tà trên lá cỏ, trên cành hoa, lúc cao thì cao vút không ai níu được vạt áo, lúc thấp thì lại rành rành trước mặt như một cành cây, một chiếc lá bình thường. Hai nhân vật EM và chị này choán hết cả một nhịp - nhịp năm - của bản đại hợp xướng Về KInh Bắc trong khi cái giờ tôi ra đời thì tác giả đẩy xuống cuối nhịp bảy, sửa soạn cho nhịp cuối cùng của tập thơ. Đó là một khúc thơ có tên Luân hồi.
    Nói chung, hầu hết những bài thơ của tôi được độc giả ưa thích trong nhiều năm bao giờ cũng bắt đầu một cách vi diệu là từ ngoài tôi, vẳng lên đôi ba câu nghe rất rành rẽ, giọng nữ lảnh lót mà rất xa, như hát mà như đọc. Như một tia nước trong vắt phun lên từ ruột đất khi chúng ta thăm dò mạch nước ngầm để đào giếng, khi đã có đôi ba câu vẳng lên bên tai, tôi ghi ngay, bắt lấy ngay và từ đó là tình cảm, suy tư cuồn cuộn trong người, tôi thường tiếp được mạch khởi xướng ấy và nối luôn các đợt sóng tuôn trào cho đến khi thấy trong người yên ắng, nhẹ nhõm là bài thơ cũng hoàn tất. Ví dụ như bài thơ dài Bên kia sông Đuống (tôi đã viết rất tỉ mỉ, thuật lại những trạng thái của tâm tư mình trước lúc bật ra thơ, bài viết ấy đã đăng trên Tuần báo Văn nghệ số kỷ niệm 35 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, tháng 5 - 1992) tôi đang ở trong trạng thái bồn chồn, thao thức, tâm tư rối bời sau khi nghe báo cáo về quê hương mình bị giặc Pháp xâm lược kéo lên tàn phá, giết chóc, tôi chưa định viết gì, lúc quá nửa đêm vắng lặng, bỗng văng vẳng bên tai ba câu :


    Em ơi buồn làm chi
    Anh đưa em về sông Đuống
    Ngày xưa... cát trắng phẳng lỳ

    Tôi bèn chụp lấy, ghi ngay và cứ thế cảm xúc trào ra một mạch dài, viết rất nhanh, sợ không theo kịp những thanh âm, làn điệu đang cuồn cuộn dâng lên trong lòng mình. Cho đến gần sáng thì xong bài thơ, một trong những bài được các bạn già, trẻ, nam, nữ yêu mến đã gần nửa thế kỷ. Những bài thơ như vậy, thường là không theo một ý nghĩ, một tư duy nào định trước, tác giả giống như một cậu học trò viết chính tả, lúc đầu là viết theo tiếng đọc rành rọt bên tai, sau là viết theo tiếng đọc thầm thì từ trong tâm can mình, ở những trường hợp ấy, tôi không hề cấu tứ, nghĩ ngợi gì về câu, chữ, không theo một luật lệ nào gọi là thi pháp hoặc tu từ, hoặc chịu sự ràng buộc nào của phép tắc về thanh điệu, ngữ điệu gì gì hết. Tôi chỉ tuân theo nhịp rung động của toàn thân, cả tâm hồn và thể chất, khí chất.
    Đương nhiên, những bài bật ra như vậy không nhiều, còn người làm thơ thường phải khổ công tu luyện những con chữ, tu luyện từ ngữ đến nhịp điệu từng câu, tạo ra điệu riêng từng bài thì sau cùng mới có thể tạo cho mình một thế giới riêng. Đặc biệt, có bài Lá Diêu Bông, duy nhất có một bài này hoàn toàn là những lời văng vẳng bên tai, từ đầu chí cuối, quá nửa đêm mùa rét 1959, trên giường ngủ, trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn ngủ 6 watt, bên cạnh người vợ đang ngủ ngon và các con những giường bên cũng đang ngủ say. Tôi không gây một tiếng động khả dĩ làm mất giấc ngủ của những người thân. Đêm nào, khi lên giường nằm, tôi cũng cầm sẵn một tập giấy trắng bên tay trái và cái bút chì bên tay phải. Nếu ngủ được thì càng tốt, nhưng thường về đêm, tôi cứ hay thao thức, trằn trọc vô cớ. Chẳng có chuyện gì phải lo nghĩ, chẳng có ý định gì trong đầu mà sao về quá nửa đêm một mùa rét ấy, tôi vẫn không ngủ được. Bốn bề yên tĩnh. ........
  5. luc_thao

    luc_thao Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    08/01/2006
    Bài viết:
    3.271
    Đã được thích:
    0
    Nhà tôi ở vào một phố nhỏ, lại lùi tít vào phía trong nên tiếng xe cộ thưa thớt ngoài đường tôi cũng không nghe rõ. Im lặng. Chợt bên tai vẳng lên một giọng nữ rất nhỏ nhẹ mà rành rọt, đọc chậm rãi, có tiết điệu, nghe như từ thời nào xa xưa vẳng đến, có lẽ từ tiền kiếp vọng về :


    Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng...

    Tôi xoay người trong chăn về phía bên trái và ghi ngay lên giấy. Giọng nữ vẫn đọc, không vội vàng mà cũng không quá chậm, và tôi ghi lia lịa trong bóng tối mờ. Đến lúc giọng nữ im bặt hẳn, lòng tôi nhẹ bẫng đi, được một lát thì tôi ngủ thiếp. Sớm hôm sau nhìn lại trang ?obản thảo? thì có chỗ rõ, đọc được, nhiều chỗ dòng nọ đè lên dòng kia, chữ này xoá mất chữ khác. Phải mất nửa giờ, tôi mới tách được ra theo thứ tự đúng như những lời người nữ kỳ diệu nào đó đã đọc cho tôi viết lúc quá nửa đêm hôm qua. Bài Lá Diêu Bông ra đời như vậy, nói có người không tin, nhưng tôi nghĩ bây giờ khoa tâm thần học, vô thức luận, tâm linh học có thể lý giải được hiện tượng đó một cách rất khoa học.
    Vậy nên, cái lá diêu bông là cái lá gì, ở đâu, nào tôi có biết. Thần linh đọc diêu bông, tôi chép diêu bông, thế thôi. Nhưng nó có nguồn gốc đấy. Năm 12 tuổi, tôi say mê một người con gái láng giềng hơn tôi những 8 tuổi. Vì từ năm lên tám, tôi đi trọ học trên thị xã Phủ Lạng Thương, chiều thứ bảy, mươi phút xe lửa lại đưa tôi về nhà, ở cái phố ga xép Như Thiết, tên chữ nhà ga đề là Núi Tiết, thực tên là Thiết Sơn, một tổng thuộc huyện Việt Yên. Phố ga ấy cách Hà Nội 44 km. Còn 6 km nữa thì qua cầu sông Thương (con sông Thương nước chảy đôi dòng), tới ga Phủ Lạng Thương. Đường số 1 chạy qua trước cửa nhà, sau lưng là đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn ngăn cách với mảnh vườn nhỏ sau nhà bằng một hàng rào cắt xén khá đẹp trồng toàn những cây ruối, dâm bụt dày dặn. Nhà tôi có tủ thuốc bắc của ông bố, có đôi bồ hàng xén của bà mẹ.
    Một chiều thứ bảy, khoảng hơn 4 giờ, tôi về chưa kịp bước vào trong nhà đã thấy một cô gái đang mua gì của mẹ tôi. Khi cô ấy ngửng đầu lên, nhìn ra đường thì cậu bé lên tám choáng người, như sau này người ta thường nói là bị "coup de foudre"1. Người con gái đẹp đến mê hồn. Rồi thứ bảy sau, về nhà, tôi trao bức thư tỏ tình đầu tiên viết bằng thơ lục bát, dài hơn một trang giấy kẻ học sinh trên có vẽ hoa vẽ ****, một vài ngọn núi, một dòng sông với chữ viết đậm, mực tím, nắn nót : Em gửi Chị Vinh của Em. ấy, sở dĩ mới bé tí đã làm được một trang thơ lục bát vì ở trên nhà trọ, chỗ thân tình với bố tôi, chủ nhà chính là ông sếp ga xép Núi Tiết ấy, gia đình ông trên tỉnh đông con, làm nghề hàng xay hàng xáo, đêm nào cũng xay lúa giã gạo rồi dần sàng quạt sẩy đến khuya. Tôi học bài, làm bài xong, tuy buồn ngủ, các anh các chị cứ bắt xuống nhà ngang, từ 9 giờ tối, đêm nào cũng phải đọc đủ các thứ truyện dân gian, in khổ nhỏ, bán rẻ từ 2 xu đến 1 hào, đủ các loại truyện, thể thơ lục bát, từ Trê Cóc đến Truyện Kiều, từ Nhị Độ Mai đến Hoa Tiên, rồi Hoàng Trừu, Thạch Sanh, Phạm Công Cúc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa... Lục Vân Tiên, Phạm Tải, cả Cung oán ngâm khúc đến Chinh Phụ ngâm... v. v... Vì thực ra, ngay từ bé tôi sớm có giọng hát hay, ngâm thơ cũng hấp dẫn người nghe lắm.
    Đọc hết lượt, phải đọc lại. Thể thơ lục bát thấm vào người từ nhỏ tuổi, mình lại bẩm sinh yêu thích thơ ca, nên tôi có viết bức thư tình gửi người gái Kinh Bắc, người Chị làm Em say mê ngơ ngẩn suốt năm năm ấy, mà thư tình lại viết bằng thơ lục bát thì hẳn không phải là điều gì đáng ngạc nhiên phải không, thưa các bạn ? Tôi say mê Chị, Chị đi đâu Em theo đấy, chỉ biết gọi Chị ơi, chứ còn biết nói gì hơn. Người gái tuyệt sắc ấy con một nhà nho chẳng may chết sớm, ba mẹ con, mẹ goá con côi nghèo khổ, đèo bòng nhau lên cái phố xép này mở ngôi hàng bán kẹo bánh, nước chè tươi, nước vối, cả bánh đa, bánh đúc, bánh chưng, bánh mật, bánh khoai. Chị Vinh võ vẽ chữ nho, đọc thông quốc ngữ, người quê gốc cũng Tiên Du, nên hát quan họ thì làm mê người ta ngang với nhan sắc của Chị. Chị cũng thừa biết thằng bé con này nó mê đắm mình nên Chị cứ hay trêu đùa, lắm lúc tôi phát khóc, nhưng cũng nhiều giờ phút tôi có một hạnh phúc không gì sánh bằng là được Chị Vinh cho ngồi sát bên Chị, chầu rìa những cuộc chơi tam cúc ngày Tết, ngày xuân hay ngày hội. Chị thường hay nhờ những đêm trăng sáng vào mùa hè, mùa thu, tổ chức những đám thanh thiếu niên tụ tập ở cái bãi sau ga, hát ví, hát trống quân, hát ống, hát giao duyên, hát vấn đáp, đặc biệt là về môn hát quan họ thì Chị là bà Chúa của dân ca ! Giọng ngọt, say như mật ong, đôi mắt đen thăm thẳm với hàng mi cong và dài, má luôn luôn ửng đỏ, môi luôn luôn đã hồng lại thường hay cắn chỉ quết trầu, răng đen rưng rức hạt na.
    Chị Vinh ơi, viết đến đây, Em vẫn bồi hồi nhớ từng sợi tóc Chị dán trên vầng trán, từng con mắt Chị lúng liếng tình tứ, từng giọng hát, từng lời nói, từng nụ cười, Em còn ngửi thấy hơi tóc ấm của Chị thoảng mùi hương nhu mới gội buổi chiều, mà nếu Chị buông tóc dài gần đến mắt cá chân để hong khô thì cả suối tóc ấy làm thành thế giới mê say của riêng Em từ độ ấy đến nay, dẫu tóc Em đã trắng hết, Em vẫn có thể vẽ đúng chân dung Chị tuyệt vời nếu có người chỉ dẫn cho Em đôi điều sơ đẳng về nghệ thuật hội họa. ảnh Chị in mầu trong hồn Em, không một nhà khoa học nào có thể làm ra cho Em những tấm ảnh như Em đang có trong một mảnh hồn lả lướt xanh xao, trong một tâm tư u buồn chạng vạng mà vẫn còn đầy đủ và tươi tắn, nguyên vẹn những kỷ niệm từ sáu bảy chục năm xưa đấy, Chị ơi !
    Tình của người Em với người Chị ấy, sơ lược là thế. Tôi sẽ viết tỉ mỉ hơn nhiều trong tập hồi ký sau này, để một số bạn ở xa quê hương hiểu kỹ về tôi hơn, tránh được những điều bình luận sai lạc thậm chí nguy hiểm nữa mỗi khi luận về những thi phẩm của tôi. Trong tập Về Kinh Bắc, thì hai nhân vật Chị và Em ấy đã xuyên qua năm tháng và không gian, qua mưa phùn và nắng rát, qua biết bao hình thái của tâm tư, của số phận, mà trội lên vẫn là cái sầu đơn phương, cứ vấn vương mãi, cho tôi nhớ mãi đến hết một kiếp này, biết đâu còn xót xa yêu thương vào tận kiếp sau... kiếp sau nữa...
    Vậy chỉ mới sau vụ Nhân văn - Giai phẩm có một thời gian ngắn, thơ của tôi đã lùi về quá khứ, chẳng biết có phải ẩn dụ ẩn diếc gì chăng, chỉ có điều là qua thời gian viết được ra 48 bài thành tập thơ Về Kinh Bắc này, tôi không một phút nào nghĩ đến thời cuộc chính trị và xã hội trước mắt. Tôi chìm về một quê hương xa, có thực mà như ảo ảnh, là ảo ảnh mà tưởng như gần gũi đâu đây, cứ chập chờn năm tháng và bảng lảng không gian, xanh mơ mong manh mầu kỷ niệm pha chút tím của tiếc hận, chút hồng của tuổi thơ, chút biêng biếc thắm của say mê não nùng, của thương cảm không có bến buông neo, và nhìn chung chỉ thấy con mắt của thời gian không hề suy suyển đến một sợi mi cong... Như gần đây tôi đã phải thốt ra : "Mắt thời gian càng miên man xanh".
    Rồi Chị Em Đi Về Kinh Bắc, lúc thì đố Lá diêu bông, lúc vào Vườn ổi, lúc Đánh tam cúc, lúc lên Ngọn sông Thương, lên tít Ngọn Kỳ Cùng, lúc Đếm sao, Đếm nắng, Đếm giờ, Em cứ theo đuổi Chị qua hội hè rồi qua cả những tàn tạ của cảnh vật và lòng người, cho đến mùa rét năm 1934. Cái Lá diêu bông bắt nguồn từ buổi chiều năm ấy, hình như vào dịp lễ Thiên chúa Giáng sinh, những bốn năm ngày liền tôi về gia đình ở cái phố ga xép đìu hiu ấy, nghĩa là cứ được nghỉ học thì tôi về ngay nhà với niềm say mê đơn phương, một chuyện tình có Chị có Em mà tôi vẫn chỉ là một khối cô đơn "lẽo đẽo bụi hồng". Tôi đã 12 tuổi và chị Vinh đã 20.
    Vào chiều mùa đông năm ấy, nắng hanh vàng rộm. Trời xanh trong màn sương cực mỏng không một gợn mây. Heo may se se lạnh. Chị mặc váy kiểu Đình Bảng, áo cánh lụa mỡ gà đã cũ, có mảnh vá trên vai, ngoài bó chẽn lưng ong bằng cái gi-lê tím, sờn rách, chiếc yếm màu cánh sen đã nhạt, dây thắt lưng hoa đào phai, Chị thoăn thoắt đi ra ngoài cánh đồng, ngày ấy lúa đã gặt hết. Cả cánh đồng rộng đầu cái phố ga xép ấy chỉ còn trơ những cuống rạ tít tắp đến chân dãy núi Neo. Cậu bé Em 12 tuổi, vốn dĩ lúc nào cũng trông ngóng, ngó nhìn, chờ đợi Chị, thấy Chị đã bỏ cửa hàng chiều vắng khách, mặc cho đứa em trai lên sáu ngồi xua ruồi hoặc ăn vụng cái kẹo vừng, rồi thấy Chị bước nhanh ra cánh đồng, đương nhiên là cậu Em theo ngay, và bất kỳ đi theo Chị ở đâu, đến đâu, cũng chỉ cách sau lưng Chị có ba bước. Chị đi trên bờ ruộng, cứ vạch từng búi cỏ đầu bờ hoặc từng đám cây hoang dại trên mấy cái gò nhỏ giữa đồng và cứ cúi tìm... tìm mãi... chả biết Chị tìm gì vậy.
    Em cứ theo sau, không hỏi, không nói, trống ngực cứ thập thùng từng giây phút theo đuổi, miệt mài lâng lâng say. Lâu lắm, bỗng Chị đứng thẳng người quay mặt nhìn Em, rồi nói, như một lời trách, như một lời quở mắng, lại như một lời mình nói với chính mình (gần 60 năm rồi, hôm nay tôi còn nhớ như in từng lời trong bộ não đã hơi suy, trong tấm lòng may thay vẫn là tấm lòng 12 tuổi) : "Ơ hay ! Sao mày cứ theo tao lẵng nhẵng mãi thế nhỉ ?". Máu Em dồn lên nóng ran khắp người, hẳn là cậu Em đang đỏ mặt, môi Em run run, không nói lại với Chị được nửa lời. Hình như Em thoáng thấy Chị mỉm cười, rồi Chị lại bước sang bờ ruộng khác, vẫn tìm... tìm mãi. Nắng đã sẫm dần. Mãi sau, Em mới bạo dạn hỏi :
    - Chị Vinh ơi ! Chị đi tìm cái gì thế ?
    Chị Vinh quay phắt lại, hình như má Chị hồng hơn lúc nãy. Chị nhìn thẳng, nhìn xoáy vào mắt Em và gần 60 năm rồi, tôi vẫn nhớ như vẽ cái miệng rất tươi của Chị đậm nét một nụ cười trêu cợt rất bí ẩn kiêu xa. Chị nói, cũng một giọng bỡn cợt như thách đố, như đùa vui trêu ghẹo :
    - ừ, Chị (các bạn chú ý dùm tôi cách thay đổi chủ từ trong câu nói này của Chị) Chị đi tìm cái lá... ấy đấy, đứa nào tìm được cái lá ấy (Chị càng cười càng rõ vẻ trêu cợt) ta gọi là chồng !
    Các bạn ơi, nghe vậy, tim tôi như lặng đi ngừng lại vài giây rồi đập rất mạnh, người tôi nóng ran lên trong buổi xế chiều càng lạnh. Lúc đó, Chị nói tên một cái lá có lẽ có thật, chỉ mấy năm sau thì tôi quên bẵng, thôi thì hôm nay tôi cứ gọi cho nó có tên như Chị đã gọi tên, lá thanh thảo hay đài bi chẳng hạn, hoặc gọi lá tai voi, lá mắt nai gì đó, xin thú thật với các bạn là ít lâu sau buổi chiều mùa rét ấy, tôi không nhớ nữa. Nhưng ngay lúc bấy giờ, sau cơn nóng bừng, toàn thân ấm áp vào tận đáy thẳm tâm hồn ấy, tuy mới 12 tuổi, tôi cũng đã nghĩ ngay ra rằng cái lá ấy rất hiếm, ở những vùng nào nhiều đồi núi, khe suối cơ, may ra mới tìm được, mà tìm lá ấy chắc là để chữa khỏi một chứng bệnh gì hiểm nghèo nguy kịch hoặc có khi lại lấy lá vò nát ra, hay giã kỹ lấy nước xoa lên khắp mặt sẽ làm cho da dẻ tươi hồng, mịn màng lên. Nhưng hẳn là khó tìm lắm lắm, chả thế mà Chị đi hết bờ này bãi nọ, gần cả một buổi chiều, có thấy được đâu ! Cái lá oái oăm thế ! Chị mới trêu đùa thằng bé mà Chị biết là nó đang say mê mình, nó "phải lòng" mình từ năm năm nay rồi... còn gì ! "Đứa nào tìm được... ta gọi là chồng !".
    Chị Vinh ơi, bây giờ Chị ở cõi nào, nếu còn sống, Chị cũng đã gần tám mươi tuổi đấy chứ, sao hôm nay, Em đã ngoài 70, lúc Em viết những trang nhớ lại này, Em hoàn toàn vẫn là đứa em 12 tuổi đang theo Chị và Chị vẫn đang tuổi hai mươi, ngoài cánh đồng chiều làng Như Thiết ấy, Chị vẫn trẻ đẹp diệu kỳ Chị ơi !
    Chiều ấy, trời xẩm tối rồi, Chị lại cho Em được cầm tay Chị. "Chị em thơ thẩn dan tay ra về"... mà nào đâu chiếc lá ? Hết phép nghỉ, tôi lại lên thị xã ở trọ, ngày hai buổi đến trường, cặp sách trong tay, hình ảnh Chị trước mắt, lời nói trêu đùa của Chị không lúc nào không réo gọi trong tấm lòng cô đơn trống trải của cậu con trai sớm đã si tình.
    Chiều thứ bảy sau, khi tôi xuống tàu, vào phố xép đi về nhà, nhìn sang nhà Chị Vinh thấy cánh liếp đóng im ỉm. Tôi như lạc mất trí, chạy vội vào nhà, cũng không kịp chào mẹ tôi đang ngồi khâu vá trên cái chõng tre, mà hỏi ngay :
    - Mẹ ơi, sao bên nhà chị Vinh lại đóng kín cửa thế
    hả mẹ ?
    Mẹ tôi kéo tay tôi ngồi sát bên, nói rất nhỏ, mà hình như trong giọng nói của mẹ tôi có cái gì như nước mắt nghẽn lại :
    - Nó đi lấy chồng rồi, con ạ.
    Tôi bỗng khóc oà lên, khóc như có một thế giới nào vừa đột ngột nổ vỡ tung ra trong vũ trụ. Tôi gục đầu vào lòng mẹ, khóc m?i, lòng mẹ tôi đấy mà sao tôi lại khóc như đứa trẻ lên ba, mẹ đang bế đi chơi, đến một cánh đồng chiều vắng, bỗng dưng mẹ biến đi đâu mất, để đứa bé bơ vơ giữa mênh mông trời đất cô quạnh và xa lạ, lạnh lẽo thế. Mà nó khóc !
    Tôi chỉ kể với các bạn đến đây thôi, còn cuộc đời người Chị ấy về sau, tôi chỉ xin tóm gọn bằng bốn chữ đã quá cũ kỹ, nghe rất sáo mòn, nhưng tôi không thể dùng được những từ nào khác ngoài bốn chữ ấy : Hồng nhan bạc mệnh...
    Trở lại mùa rét năm 1959, nghĩa là đúng một phần tư thế kỷ đã qua sau cái buổi chiều mùa đông có Chị có Em trên cánh đồng quê. Chị đi tìm lá rồi... Chị đố lá... "Đứa nào tìm được... ta gọi là chồng..." Và bài thơ Lá diêu bông ra đời trong đêm khuya, như tôi đã kể ở trên, bài thơ duy nhất trong đời làm thơ của tôi do thần linh giọng nữ cao đọc từ đầu đến cuối cho tôi chép như viết chính tả. Còn một số bài khác như Cây tam cúc, Quả vườn ổi, Cỏ Bồng thi, Bên kia sông Đuống, Chùa Hương, Về với ta... những bài cũng được nhiều bạn đọc ưa thích trong nhiều năm nay thì bao giờ cũng ra đời trong đêm và vài ba câu đầu bao giờ cũng không phải là của tôi nghĩ ra, mà đúng thật là những lời văng vẳng bên tai như có một giọng nữ đang hát, hay đang đọc có nhịp điệu, có tiết tấu, mà tôi cứ xin gọi là lời của thần linh đọc cho mình chép lại được. Nếu chợt nghe mà lười biếng, hoặc chủ quan nghĩ rằng để sáng mai sẽ ghi lại ra giấy thì chỉ một vài phút sau, muốn nhớ lại, không tài nào nhớ nổi một chữ, đừng nói là cả ba bốn dòng...
    ...........
  6. luc_thao

    luc_thao Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    08/01/2006
    Bài viết:
    3.271
    Đã được thích:
    0

    Trong đời làm thơ của tôi, thời còn trai trẻ, tôi đã mất khá nhiều những câu thơ "xuất thần" bất chợt trong đêm khuya, lúc chưa ngủ được, nên từ hồi đầu kháng chiến chống Pháp, tôi đã rút kinh nghiệm, cứ đến giờ (thường là gần nửa đêm) lên giường ngủ, bao giờ tôi cũng để bên phía tay trái mình một tập giấy trắng và tay phải cầm cái bút chì học sinh (bây giờ đ? có bút bi thay cái bút chì). Hễ không ngủ được, tâm tư lan man đâu đâu, gì gì đó, mà bỗng nghe vẳng một câu, dẫu chỉ là một câu bâng quơ, tôi phải ghi ngay lập tức. Lười một tí thôi là mất đứt. Mà thường lại là những câu thơ rất có sức gợi cảm. Dẫu tiếng văng vẳng đã tắt, mà cảm xúc chưa tan, thì những dòng thơ cứ tự nhiên bật trào ra ngay, tôi viết tiếp bằng cảm xúc của mình. Y như đã có tia nước phun lên thì phải tiếp tục đào đất, chắc chắn sẽ có được cái giếng đầy nước. Lúc đó thì cả ba loại thơ (như các nhà phê bình văn học Trung Quốc đã đúc kết thành lý luận về thơ) là ngôn thi, tâm thi và thần thi đều có thể xuất hiện trên trang viết.
    Và cùng lúc đó thì có ba cái "thức" đều phải vận động, phải làm việc cho thơ. Đó là ý thức, tiềm thức và vô thức, cũng đủ cả một cặp : trí thức và tâm thức nữa. ở tôi thì luôn luôn cái tâm thức làm việc nhiều hơn trí thức, nhất là với toàn tập Về Kinh Bắc, tôi đã huy động tất cả nội lực của mình : cả thể lực, trí lực, tâm lực và đương nhiên, ở tôi, thần lực thường tự động làm bật ra rất nhiều lời thơ lắm khi tưởng như vô nghĩa, mà ngay bản thân tôi cũng không hiểu những từ ngữ chính mình viết ra mang ý nghĩa gì cụ thể. Ai hỏi tôi lá diêu bông, cỏ bồng thi là lá gì, cỏ gì, ở đâu ? Tôi chịu không giải thích được. Ngay cả nhiều sinh viên khoa Văn ở Hà Nội cũng đã hỏi tôi : "Miếu Hai Cô" là ở đâu ? Hai Cô nào ? Tại sao lại thờ ? Hoặc cầu bà Sấm là trên con sông nào, bến cô

    Mưa là ở khúc nào của con sông nào, tôi cũng chịu không có lời giải đáp.

    Tôi nghĩ rằng, trong lĩnh vực thơ ca, những khúc hát hay, những bài thơ, những câu thơ hay thường rất khó giảng hết được cái hay của nó. Vì ngoài ý nghĩa cụ thể của từng câu, từng chữ, thơ lại còn nhạc điệu, mà theo tôi hiểu, nhạc điệu của một bài thơ lại chính là chiếc xe chở cái hồn của bài thơ đi để nhập, để hoà với hồn người đọc. Và người xưa cũng đã nói từ lâu đến "thi tại ngôn ngoại". Thơ đã có ý là dễ hiểu. Nhưng thơ lại còn cái tứ. Cái tứ ở đâu ra ? Từ chữ, từ âm vận, rồi âm điệu. Cái tứ của thơ, phải đọc được ngoài lời. Có nhiều bài thơ mang một tứ rất lạ, rất khó giảng, khó bình, mà nhiều khi chỉ cảm thấy được thôi.
    Tôi hy vọng, rất chân thành, được gặp những tâm hồn bầu bạn, có độ lượng để bao dung, có tấm lòng nhân ái để thông cảm, có tri thức đủ để hiểu thấu đáo tác phẩm và tác giả, hiểu cả điểm mạnh và điểm yếu của một người suốt đời lấy Thơ làm cứu cánh, làm mục đích, làm lẽ sống, chứ không bao giờ lấy Thơ làm phương tiện để cho mình đạt tới những gì gì đó mà tâm hồn mình không thể chấp nhận. Ví dụ như danh và lợi, sự bon chen, sự cầu cạnh, sự tâng bốc nịnh hót, dèm pha, thù hận v..v... là những cái rất xa lạ với tôi, có lẽ xa lạ cả với Thơ chân chính nữa.
    Tôi đã trở về với tâm tư riêng, thế giới riêng của mình như đã nói ở trên, về với quê hương xưa, vùng Kinh Bắc xa xưa mà vẫn gần gũi, về với những người đã khuất bóng ở nhân gian nhưng mãi mãi hiện diện trong tâm hồn tôi. Và tập Về Kinh Bắc đã ra đời như thế, mặc nhiên thành cột xương sống cho toàn bộ thi phẩm của tôi kể từ những năm 40 của thế kỷ này.

    Hà Nội, những ngày cuối năm
    Nhâm Thân 1992
    theo http://vietnamnet.vn/vanhoa/tacpham/2005/10/495735/
  7. nguoiquanho

    nguoiquanho Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    16/06/2004
    Bài viết:
    737
    Đã được thích:
    0
    Trogn không khí mừng ngày thầy thuốc 27-2. Mình mới lượm đucợc bài viết về a Lương y này. Mong là sẽ xó ích cho các bạn:
    Diệu kỳ thầy lang bó xương
    TP - Đến năm 2009, lương y 34 tuổi này ở tỉnh Bắc Ninh có thâm niên 18 năm bó xương cứu cho khoảng 20 ngàn người thoát khỏi bị tàn phế, trở lại cuộc sống bình thường, với phương pháp rất đơn giản, thời gian ngắn, chi phí thấp.

    Nguyễn Mạnh Hùng và hộp cao dán
    Nhiều người trên 80 tuổi, bệnh viện phải trả về, cũng được chữa khỏi nhờ phương pháp bó xương cổ truyền độc đáo này.
    Ba đời gìn giữ
    Nghe cha nói, thời phong kiến thực dân đói khát, ông nội Hùng phải đi tha hương bạt xứ, lang bạt cả sang Trung Quốc. Không rõ ông học được phương pháp bó xương cổ truyền này ở đâu, nhưng từ khi về quê, ông chữa khỏi cho nhiều bà con trong làng, trong vùng.
    Ông nội Hùng mất năm 79 tuổi và kịp truyền lại cho con trai Nguyễn Văn Dị - cha của Hùng. Từ lúc trẻ đến 58 tuổi, ông Nguyễn Văn Dị chuyên phụ giúp cha. Cho đến khi cha ngoài 60 tuổi, ông Dị thay cha chữa chạy cho những người không may bị hoạn nạn.
    Lên 10, Nguyễn Văn Hùng loanh quanh xem ông nội cùng cha bó cho những người bị gãy chân tay. Trong nhiều ca gãy xương nặng, Hùng vẫn còn nhớ ca ông nội chữa cho ông giám đốc nhà máy xay Đáp Cầu năm 1985.
    Ông giám đốc bó bột và nằm hàng tháng ở bệnh viện nhưng không khỏi, thậm chí còn bị rò xương. Ông nội Hùng chỉ bằng đôi tay nhạy cảm, mấy nẹp tre quê và mồi cao dán gia truyền, đã tháo bột, khử thuốc sạch, đắp cao bó lành lại vết thương cho ông giám đốc.
    Năm 16 tuổi, Hùng có thể thay cha hành nghề. Mỗi tháng, anh thực hiện dăm bảy chục ca bó xương chân tay.
    Nguyễn Mạnh Hùng chỉ cần dùng tay sờ nắn là biết chính xác thực trạng vết thương ra sao, xương bị rạn, bị dập, gẫy đôi, vặn vỏ đỗ... Cũng bằng tay, Hùng sắp xếp lại các vết gãy theo đúng trật tự vốn có rồi dùng cao bôi kín vết thương. Cao dán được cô lại từ chân gà đen, gạo nếp, lá rừng... pha trộn với dầu tây hoặc xăng.
    Lương y Hùng đưa tôi xem cóng sữa bò đựng cao dán. Lương y cho biết chỉ cần 1/2 cóng bò là có thể chữa được từ 4 - 5 bệnh nhân. Sau khi mục sở thị việc lương y Hùng khám và điều trị, nhiều bác sỹ giỏi đầu ngành y tế khẳng định lương y Nguyễn Văn Hùng có đôi bàn tay vàng và cao dán liền xương thần diệu.
    Hiệu nghiệm của cao dán là, qua chân lông, nó ngấm vào vết xương gãy, giảm đau nhanh, tiêu máu tụ, kích thích xương liền và phát triển nhanh. Chỉ cần đắp thuốc sau ba tiếng là bệnh đã biến chuyển.
    Nạn nhân bị gẫy các loại xương như xương đùi, cánh tay, xương sườn, gẫy vỡ các trục khớp, xương chậu? thậm chí vỡ cả đốt cột sống, bị bong gân, trật khớp? lương y Hùng đều chữa khỏi.
    Hầu hết nạn nhân không cần phải nẹp, bó bột, không phải đóng đinh. Chỉ có các ca gẫy cả hai xương ống, xương đùi, xương cánh tay mới phải nẹp cố định bằng phương pháp thủ công với bốn mảnh tre nẹp dài 20 phân.
    Cứu tinh của những cụ già

    Cụ Lệ Thị Riệc, 83 tuổi ở thành phố Thái Bình được lương y Hùng chữa khỏi
    Cụ Lê Thị Riệc, 83 tuổi, ở số nhà 67, phố Phan Bá Vành, Phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình. Năm 2008, cụ Riệc ngã, gẫy cổ xương đùi, bệnh viện xác định không thể khỏi, nằm liệt giường. Nếu muốn khỏi thì phải thay chỏm xương đùi với giá khoảng từ 30 đến 60 triệu đồng.
    Qua một người mách, Hùng về chữa cho cụ Riệc. Hùng cắt bột, chỉnh lại xương và chỉ bốn lần đắp thuốc. 22 ngày sau cụ Riệc đi lại được. Đến nay, sinh hoạt bình thường.
    Bố anh Giáp, 82 tuổi, ở xã Thái Hồng, Thái Thụy. Năm 2008, cụ gãy cổ xương đùi. Gia đình đưa lên bệnh viện nhưng không bó được đành đưa về nhà. Hùng đắp thuốc ba lượt. Cụ đã lành vết thương, tự ngồi dậy, chống gậy đi lại được.
    Sau đó, ông thông gia với bố anh Giáp, 86 tuổi cũng bị gẫy cổ xương đùi phải. Gia đình đón cả lương y Trung Quốc, sau gần một tháng không khỏi. Anh Giáp mời Hùng và sau 20 ngày, cụ đã đi được và hiện giờ trở lại bình thường.
    Mẹ anh Chuẩn thôn Xuân Thọ, xã Đông Cường, huyện Đông Hưng cũng bị gẫy cổ xương đùi. Gia đình cũng đưa cụ lên các bệnh viện, trong đó có Bệnh viện 108, Việt Đức... Do cụ đã già, không bó được, xương mục không đóng đinh, cụ cũng phải về như bao trường hợp cao niên khác. Hùng đã chữa trị cho cụ lành vết gẫy, giờ chống gậy đi lại bình thường.
    Tại Hà Nội, nhiều năm qua, Hùng cũng chữa khỏi cho nhiều bệnh nhân, nhất là các bệnh nhân tuổi già, nan y. Năm 2007, Hùng chữa cho anh Phương, 52 tuổi, con trai nhà thơ Tố Hữu ngã cầu thang vỡ ba đốt xương ***g ngực.
    Trước đó, anh Phương đến các viện nhưng không xử lý được và đang định đi nước ngoài điều trị. Hùng ép và đắp thuốc. 12 ngày sau, anh Phương đã khỏi hẳn.
    Mẹ cô Lan và cũng là mẹ thượng tướng Song Hào ở số nhà 28 Hoàng Diệu, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội. Năm 2008, cụ đã 90 tuổi, không may bị ngã vỡ xương trật khớp bả vai. Cụ được đưa tới các bệnh viện, chiếu chụp song vẫn để nguyên vì bó bột không được. Hùng tới đắp thuốc cho cụ và chỉ sau hai tuần cụ đã khỏi.
    Bà dì ruột 91 tuổi và mẹ (98 tuổi) của ông Trần Xuân Tường (bác sỹ thuộc ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe T.Ư) cả hai đều ngã bị gãy cổ xương đùi. Hùng cũng trực tiếp cứu chữa cho hai cụ khỏi và đi lại được. Hùng cho biết riêng ở Hà Nội, một năm anh cũng phải chữa tới vài trăm ca.
    Tại Quảng Ninh, Hùng chữa khỏi cho nhiều nạn nhân bị tai nạn đá như con rể ông Sinh ở ga Yên Cư bị gãy ba đoạn xương ống. Tại Vũng Tàu, cô Vang có mẹ chồng 95 tuổi, tháng 1/2009 cụ bị gẫy cổ xương đùi. Hùng đáp máy bay vào chữa trị cho cụ lành bệnh.
    Tại Bắc Ninh, quê hương của Hùng, năm 2005, anh Nguyễn Văn Bình 46 tuổi ở thôn Thượng, xã Khắc Niệm, Tiên Du bị ô tô đè gẫy xương con hai đoạn, xương lớn dập hai khúc, mất một miếng xương.
    Anh Bình vào viện đóng gông, bó bột không khỏi. Hùng tháo bột, nắn xếp lại xương, dán thuốc, nửa tháng sau anh khỏi và hiện đang làm nghề thợ xây. Anh Nguyễn Văn Thực ở thôn Lục Sơn, thị trấn Lim, bị gãy vỡ vòng cung xương chậu, cổ xương đùi, do tai nạn ô tô. Đi viện, không chữa lành được. Nếu thay vành xương chậu phải mất hàng trăm triệu đồng. May mắn gặp Hùng, anh Thực trở lại bình thường...
    Nguyễn Mạnh Hùng cho biết ở hầu hết các tỉnh từ Bắc vào Nam anh đều chữa khỏi cho nhiều bệnh nhân.
    Chỉ lấy chút tiền thuốc và tiền xăng xe
    Các bệnh nhân bị gãy xương thông thường đến bệnh viện bó bột và cố định chữa trị trong ba tháng. Với phương pháp đắp cao này chỉ cần trên dưới 15 ngày.
    18 năm qua, đa số các bệnh nhân nặng trong gần hai vạn bệnh nhân nhiều miền đất nước, đều được Hùng đến tận nhà chữa trị. Với bệnh nhân ở các tỉnh phía Bắc, Hùng đi xe máy, ở miền Trung anh đi ô tô. Nhiều thợ xe ôm chuyên nghiệp trợ giúp việc đi lại cho Hùng. Người đi nhiều nhất là anh Thụ được tám năm, người thứ hai là anh Mạnh được bốn năm.
    Mấy người khác chỉ đi với anh được mấy tháng là xin nghỉ. Lý do mỗi ngày đi tới hàng trăm, có ngày vài trăm cây số, đi cả trong đêm, trong mưa gió, rét mướt, trên nhiều địa hình đồng bằng, miền núi nên không trụ nổi.
    Mấy năm gần đây, Hùng tự đi xe máy, bình quân trên dưới bốn vạn cây số. Chiếc xe máy Hùng mua ngày 28/11/2007 đến ngày gặp tôi tại Thái Bình là hơn một năm mà công tơ mét đã chỉ con số 4,2 vạn cây.
    Ngay từ khi mới hành nghề chữa bệnh, Hùng đã chia sẻ với những người hoàn cảnh khó khăn; các cụ già thường được miễn phí. Hùng bày tỏ, cái bệnh này phải thế; nếu để bệnh nhân đi lại thì không cố định được vết thương; mà ở lại thì gia đình không có chỗ.
    Các bệnh nhân trong tỉnh kể cả gẫy xương đùi, xương chậu, đến nhà lương y chữa trị thì chỉ vài ba chục đến một trăm ngàn đồng là khỏi.
    Chị Bộ ở khu 5, thị trấn phố Mới, Quế Võ, Bắc Ninh, chồng kỹ sư giỏi mắc bệnh thần kinh, hai con còn nhỏ đang ăn học. Khi đứng bán hoa quả, chị bị xe tông vào gẫy đôi cả hai xương lớn chân phải. Đi viện ít nhất cũng phải hàng triệu đồng.
    Nhà chị Bộ cách nhà Hùng 30 cây số. Biết hoàn cảnh, Hùng xuống tận nhà, bỏ cả công sức, tiền xăng xe, tiền thuốc chữa cho chị. Sau khi khỏi, chị tiếp tục gánh vác việc gia đình.
    Bà Ngô Thị Khoa, 80 tuổi, ở Thọ Đức, Tam Đa sống độc thân, kinh tế thiếu thốn, bị gẫy cổ xương đùi. Lương y Hùng đến tận nhà chữa khỏi cho bà mà không nhận một đồng tiền nào...
    Được biết, điều kiện kinh tế của gia đình Hùng cũng chỉ bình thường như bao gia đình khác. 18 năm qua Hùng chỉ tâm niệm chữa trị làm phúc cho mọi người.
    Tôi đang có ý định sau bài viết này, lên Bắc Ninh gặp lương y Nguyễn Văn Dị - người cha, người thầy của lương y Nguyễn Mạnh Hùng. Nhưng khi tôi đang gõ những dòng cuối bài viết này thì được tin người cha của Hùng, vừa mới qua đời. Qua điện thoại, Hùng nghẹn ngào: Cha cháu vào nghề từ năm 14 tuổi. 44 năm hành nghề, cha cháu chữa cho hàng vạn bệnh nhân khỏi bệnh.
    Để biết địa chỉ và điện thoại liên hệ với lương y Nguyễn Mạnh Hùng, mời các bạn đón xem Tiền Phong số 60, ra ngày Chủ nhật.
    Nguồn: http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=153732&ChannelID=13
  8. anhyeuvanmaihuong

    anhyeuvanmaihuong Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    22/10/2016
    Bài viết:
    84
    Đã được thích:
    1
    Android TV box Vinabox X2, biến TV thường thành TV thông minh, truyền hình internet

    Cấu hình cũng khá mạnh mẽ với chip lõi tứ 4 nhân, chạy trên nền tảng chip ARM Cortex A7, Ram 1G, Android 4.4, với giá cả phân phối khá hợp lý thì Vinabox X2 đang là một sản phẩm đáng được xem xét và lựa chọn cho những khách hàng ở ngoại thành, chưa tiếp cận nhiều với nền tảng Android hay người già và trẻ nhỏ.

    [​IMG]

    Android TV box Vinabox X2 TRANG BỊ CẤU HÌNH MẠNH MẼ:

    CPU: Rockchip RK3128 (Thương hiệu Rockchip sản xuất Minix X5, MINIX X7, Zidoo X6)
    GPU: Mali400P
    RAM: DDR3 - 1G/32bit
    Bộ Nhớ Trong: 8G
    OS: Android 4.4.2
    Kodi: 16.1

    Hỗ Trợ Cổng Kết Nối:


    HDMI: 01 Cổng HDMI 1.4A
    USB: 02 Cổng USB 2.0
    AV: Cổng AV 3 chân LRV riêng biệt, giúp chất lượng hình ảnh và âm thanh tốt hơn với loại 1 chân ra 3.
    Kết nối TV CRT, TV LED, TV Plasma


    [​IMG]

    Ấn tượng với chiếc Android TV box Vinabox X2, một sản phẩm của công ty Việt Nam, với giá rẻ nhưng có phần cứng thiết kế rất bắt mắt.
    Android TV box Vinabox X2 sở hữu vỏ nhôm nguyên khối, màu vàng đồng như những thiết bị Android box quốc tế cao cấp khác.
    Nổi bật thiết kế với những đường viền sắc cạnh, chắc khỏe.
    Với vỏ nhôm nguyên khối giúp VINABOX X2 tản nhiệt mát mặc dù chạy liên tục 24h/24h vẫn không làm hao hiệu năng của thiết bị.
    [​IMG]


    Android TV box Vinabox X2 với vỏ nhôm ngoài ra còn được thiết kế rất thoảng và thời trang khá chuyên nghiệp.
    Được trang bị 2 râu anten wifi giúp cải thiện đáng kể chất lượng wifi của Vinabox so với các Android box thông thường.


    [​IMG]

    Tất cả cổng kết nối trên Android TV box Vinabox X2 được thiết kế khéo léo ở mặt sau, với đầy đủ các cổng kết nối cần thiết với 1 chiếc Android box thông thường.
    HDMI, Cổng USB, Cổng AV, Cổng LAN RJ45, và nút nguồn để tắt mở thuận tiện mà không cần rút nguồn.


    [​IMG]

    Android TV box Vinabox X2 - Một Box Android Cho Người Việt Với Nội Dung Phong Phú Bậc Nhất và Việt Hóa 100%.

    Vinabox X2 được công ty Vinago Co, đây là đơn vị lớn chuyên phân phối các Android box quốc tế lớn như HIMEDIA, MINIX, MYGICA đầu tiên tại thị trường Việt Nam, nhờ vậy sản phẩm Vinabox cũng được tích hợp những ứng dụng giải trí độc quyền với chất lượng cao, và nội dung giải trí phong phú độc đáo bậc nhất hiện nay.
    Vinabox X2 được tích hợp đầy đủ các kho phim HDplay, KODI ITVPLUS, HDviet, Các kho truyền hình... hơn 26 ứng dụng được tích hợp.


    [​IMG]

    Truyền hình số internet

    Android TV box Vinabox X2 đã tích hợp hơn 250 kênh truyền hình HD, SD ngoài ra cập nhật liên tục chuyên mục thể thao giải trí giúp khách hàng xem trực tiếp bóng đá và các kênh truyền hình yêu thích mà không cần tới đầu kỹ thuật số, truyền hình cab.
    Trên Android TV box Vinabox X2 cũng đã tích hợp chuyên mục xem lại truyền hình yêu thích và các liveshow trong vòng 7 ngày, hoàn toàn miễn phí.


    [​IMG]

    Biến TV thường thành TV thông minh

    Android TV box Vinabox X2 đã tích hợp 11 kho phim HD miễn phí, không cần đăng nhập, ngoài ra bạn còn được tích hợp những ứng dụng vip độc quyền như HDplay trên Android box Vinabox X2, Các kho phim HDviet, Hayhaytv, HDonline, Phimnhanh, Phimmoi... đều được tích hợp tk vip mà không cần đăng nhập.
    Đây là một sự cải tiến về kỹ thuật giúp cả những người it khi tiếp cận với android hay máy tính cũng có thể sử dụng được chiếc TV box Vinabox X2 này.
    Thật tiện ích khi bạn không cần phải ra ngoài rạp để thưởng thức những bộ phim bom tấn mới nhất vì đã có Vinabox X2


    [​IMG]

    Nếu bạn và gia đình bạn yêu thích hát karaoke, thích nhạc vàng thì thực sự Vinabox X2 là một thiết bị giải trí sẽ làm cả gia đình bạn bất ngờ.
    Với kho tiện ích trên Vinabox X2 đã tích hợp 7 server ca nhạc Karaoke với những beat mới nhất, chất lượng video MV HD, số lượng bài hát lên tới 20.000 bài sẽ làm cả gia đình bạn thỏa mái ca hát những dịp lễ đặc biệt mà không cần đầu tư những bộ đầu karaoke tới gần chục triệu.


    [​IMG]

    Vinabox X2 tích hợp trọn bộ kho Thúy Nga, Asia, nhạc vàng chất lượng cao, nhạc hải ngoại và nhiều kho Hài, Táo Quân thường xuyên được cập nhât.
    X2 sẽ đem lại một không khí vui vẻ cho cả gia đình những dịp lễ tết với vô vàn kho tiện ích giải trí.
    Với Vinabox X2 bạn sẽ không tốn tiền mua những bộ đĩa hay chép phim, thúy nga vào mỗi dịp lễ nữa.


    [​IMG]

    Với hệ điều hành Android 4.4, vinabox x2 sẽ là một đầu game giải trí tiện ích với nhiều game và các ứng dụng học tập giải trí cho trẻ.

    [​IMG]

    Ngoài ra, X2 còn tích hợp hàng triệu tiện ích Android giải trí khác giúp các bạn hoàn toàn giải trí lướt web, Facebook, Youtube, đọc báo và làm việc.

    Xem chi tiết và mua hàng tại: http://viettellongan.vn/android-box-vinabox-x2-gia-cuc-tot-cau-hinh-manh-2-anten-wifi/
  9. phinphacafe

    phinphacafe Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    15/12/2016
    Bài viết:
    17
    Đã được thích:
    0

Chia sẻ trang này