1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Đi tìm chủ quyền Hòang sa-Trường sa trong thư tịch cổ

Chủ đề trong 'Lịch sử Văn hoá' bởi vaputin, 03/05/2011.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Trong topic này Va mỗ xin giới thiệu với các bác một số bài về lịch sử chủ quyền Hòang sa, Trường sa mà Va mỗ đã đóng góp trên HSO. Kính mong các bác chỉ giáo
  2. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127



    Đọc Etude sur un Portulan annamite du XV siècle của Dumoutier và việc nghiên cứu bản đồ cổ ở VN

    Xin giới thiệu với bác nào học Pháp văn và thích lịch sử một quyển sách của G. Dumoutier về các cảng biển Việt Nam trong thế kỷ 15
    Ghi chép, nghiên cứu về lịch sử, địa lý Việt Nam (thế kỷ XV) dựa trên các bản đồ, sơ đồ các cảng cổ. Mục đích khẳng định tầm quan trọng của Việt Nam trong lưu thông hàng hoá giữa khu vực Đông Nam Á với châu Á và thế giới qua các hải cảng Việt Nam thời kỳ đó.
    Tải về tại: http://*******.org/forum/downloads.php?do=file&id=1082




    -----------------------------Tự động gộp Reply ---------------------------
    Đọc Etude sur un Portulan annamite du XV siècle của Dumoutier và việc nghiên cứu bản đồ cổ ở VN

    Hẳn quyển trên có một tầm quan trọng nào đó với HS-TS khi trong quyển Sử Địa số 29, năm 75: Quần đảo Hoàng Sa có đến hai học giả nhắc đến quyển này là GS Hoàng Xuân Hãn và TS Nguyễn Nhã


    Báo Chính Luận đăng tin TC chiếm Hoàng Sa 1974

    Chỉ một năm sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa, tập san Sử Địa xuất bản tại Sài Gòn ra số chuyên đề khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này. 35 năm đã trôi qua, bài viết sau đây của học giả Hoàng Xuân Hãn trong tập san nói trên vẫn giữ nguyên giá trị của một thiên khảo cứu công phu, bao quát được nhiều sử liệu của Việt Nam, và của nước ngoài.


    Quần đảo Hoàng Sa

    Hoàng Xuân Hãn
    Quần đảo Hoàng Sa là đất của Việt Nam, hoặc nói cho hợp hơn, là đất của Đại-Việt từ khi dân Việt định cự ở phủ Tư Nghĩa, tức là đất Quảng Ngãi ngày nay.
    Bút chứng cũ nhất và đầy đủ nhất thấy trong sách Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn soạn vào năm 1776, với những tư liệu của các Chúa Nguyễn. Sau đó, các sử gia, địa gia đời vua Nguyễn đều dựa theo đó và thêm thắt việc mới vào. Về đồ vẽ, các “bản đồ” và “lộ đồ” đời Lê cũng có ghi một cách sơ sài cái “bãi cát vàng” hoặc “bãi Trường sa” ấy.
    Sau đây tôi sẽ trích văn dịch từ bản của Viện sử học Hà Nội xuất bản năm 1964 (Hoàng Lộc dịch, nhà xuất bản Khoa học phát hành). Muốn cho văn dịch rõ nghĩa, tôi có sửa chấm câu và có thêm một vài chữ để trong hai dấu ngoặc.
    Trích văn gồm hai đoạn, một ngắn, một dài.
    Đoạn đầu, trang 119:
    “Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, có núi gọi là Cù lao ré, rộng hơn 30 dặm. Trước có phường Tứ chinh, dân cư trồng đậu. Ra biển bốn canh thì đến.
    “Phía ngoài nữa lại có đảo Đại-tràng-sa. Trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu (bị đắm), (đã) lập đội Hoàng Sa để lấy. Đi ba ngày đêm thì mới đến. (Ấy) là chỗ gần xứ (không đúng ý) Bắc Hải.”
    Đoạn sau, trang 123:
    “Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển. Ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày, hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt.
    “Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên đảo có vô số yến sào. Các thứ chim có hàng nghìn hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Bên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi, to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, các vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà. Có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng. Lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được.
    “Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là trắng bông (hình) giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng. Trứng bằng đầu ngón tay cái, có thể muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bên bãi. Lấy về, dùng vôi xát qua, bỏ ruột, phơi khô. Lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi; nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.
    “Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào. Cắt phiên, mỗi năm cứ tháng 2, nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng. Đi bằng năm chiếc thguyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy, tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu (đắm), như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ. Đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hạt ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào Cửa Eo đến thành Phú Xuân nộp. Cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng, trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định. Cũng có khi về người không.
    “Tôi đã xem sổ của một cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu, biên rằng: “Năm Nhâm Ngọ (1762) lượm được 30 hốt bạc (12 ki-lô); Năm Giáp Thân (1764) được 5100 cân thiếc (3 tấn, 24); năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỉ Sửu đến năm Quí tỵ (1769-1773) năm năm ấy, mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi”
    “Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ chinh ở Bình Thuận (trên kia có phường Tứ chinh ở Cù lao Ré) hoặc người xã Cảnh Dương (ở Quảng Bình?) ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần, đò. Cho đi thuyền câu nhỏ ra xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu (đắm) và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm. Cũng sai cai đội Hoàng Sa cai quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc, của quí, ít khi lấy được.
    “Hoàng Sa chính gần phủ Liêm châu đảo hải Nam. Người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc Quốc, hỏi nhau ở trong biển.Tôi đã thấy một đạo công văn của quan chánh đường huyện Văn xương (thuộc) Quỳnh châu gửi cho Thguận Hóa nói rằng “Năm Kiên-long thứ 18 (1753), có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh, đội Cát liềm, huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Ngãi, nước An Nam, ngày tháng 7 đến Vạn lý Tràng sa tìmkiếm cát thứ. Có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh-lan cảng. Quan ở đây xét thật, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai cai bạ Thuận Hóa là Thức-lượng hầu làm thư trả lời”” (Hết lời Lê Quý Đôn)
    Về vụ cuối này, sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên quyển 10, trang 24 bản khắc của Quốc sử quán, soạn vào đời Minh Mạng có chép sơ lược hơn. Chính văn-dịch như sau:
    “Năm Giáp Tuất (1754 chứ không phải 1753) mùa thu tháng 7, dân đội Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi cưỡi thuyền đi quần đảo Hoàng Sa, gặp gió to, giạt vào hải phận Quỳnh Châu thuộc nước Thanh. Quan tổng đốc nước Thanh cấp cho hậu và sai đưa về. Chúa sai viết thư gửi trả lời”
    So với lời Lê Quý Đôn , thì cái thời điểm tháng 7 năm Giáp Tuất là lúc trả lời, một năm sau khi thuyền đội Hoàng Sa bị nạn. Trong sách Thất-Lục có thêm chú thích về quần đảo và đội Hoàng Sa. Lời gần như trích ở sách Phủ biên nhưng rút ngắn. Có thêm rằng “tên tục là bãi Vạn lý Tràng-sa”.
    Sách Hoàng Việt địa dư chí bản khắc năm 1833, tức là phần Dư địa chí của tập Lịch Triều Hiến Chương loại chí tác giả là Phan Huy Chú, cũng đã lược văn của Lê Quí Đôn mà viết hai mục Bãi Hoàng sa và Đội Hoàng sa trong phần viết về phủ Tư Nghĩa (quyển 1 trang 10b).
    Các bản đo vẽ đất ta thời Lê (xem phụ trương) tuy rất sơ sài và bất xác, nhưng đã muốn ghi rõ đất Hoàng sa. Những bản đồ ấy chắc cũng có một gốc trước khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, có lẽ từ đời Lê Thánh tông. Nhưng những bản còn lại ngày nay đều có thêm những sự thay đổi sau khi Trịnh-Nguyễn phân tranh, nhất là những dinh lũy của hai họ xây dựng trên đất Nam Nghệ An và Bắc Quảng Bình. Các bản đồ ấy đều vẽ trên bể trước đất Quảng Ngãi một dải đất dài có đề tên hoặc Đại Tràng Sa hoặc ibãi cát vàng. (Xem các bản đồ phụ trương). Theo những bản vẽ thì nó ở áp gần các cửa sông Tam kì, sông Trà Khúc, sông Vệ, hình như một bãi cát lớn. Nhưng sự thực thì, như thấy rõ trong các bản đồ ngày nay, trong khoảng bờ bể Việt Nam này không có bãi cát dài như những bãi Tiểu-Tràng-sa và Đại-Tràng-sa dọc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, và Thừa Thiên. Henri Maspéro có để lại một sách Toản tập Thiên nam lộ đồ (các bản khác có thêm hai chữ Tứ chí nghĩa là đi bốn phương) vẽ năm Cảnh hưng thứ 2, 1741. Trong sách này, bãi cát ấy mang tên Tràng sa và trên hình nó có thêm ba chữ Quá nhất-nhật, nghĩa là đi đến đó phải hơn một ngày. Hình đảo ở xa ngoaì bể. Giữa khoảng bể từ cửa Sa-kì (cửa sông Tam kì) đến bãi Tràng sa có vẽ hình một đảo có núi đề tên Du-tràng sơn (viết lầm ra Chữ Tràng là dài, chính phải viết chữ Trường là xưởng, là nhà…). G.Dumontier đã vẽ lại trong sách Étude sur un Portulan Annamite du XV siècle một bản đồ tuy cùng gốc với sách nói trên, nhưng có nhiều chi tiết hơn Bức XIX có vẽ bãi cát đề tên Bãi Cát vàng, và đảo Du trường nhưng chữ Trường lại lầm ra chữ Ái vì tự-dạng (trong sách này còn có khá nhiều chữ lầm như vậy: trong bức này, huyện Mộ hoa đã lầm ra Qui hoa vì tự dạng). Đảo Du-trường này chắc là Cù lao Ré ngày nay, thuộc phường An Vĩnh phụ trách việc đội Hoàng Sa, mà tên nôm là cát vàng (theo Tabert thì gọi là Cồn vàng. Bản Giao Châu chí, cũng của H.Maspero để lại, là do tay tiến sĩ Nguyễn Tông vẽ, có bức đồ Quảng Nam xứ (đời Lê) với hình Bãi cát vàng ở xa ngoài khơi (trang 19b).
    Xét các bức đồ ấy, thì ta chắc rằng trong ý địa-đồ-gia xưa, Đại-Tràng-sa hay là Bãi Cát vàng đều trỏ quần đảo Tràng Sa hoặc Hoàng Sa hoặc vạn lý Tràng Sa mà người Âu gọi là parcel hay Paracel. Và trong các địa đồ của Âu châu đang thời khi vẽ vẽ Paracel cũng vẽ như một bãi cát rất dài chắn trước hải phận phần giữa nước ta.

    Sách Hồng Đức bản đồ xuất bản ở Sài Gòn năm 1963 cũng chỉ là một toản tập những địa đồ nước ta đến cuối đời Lê. Nhân tiện, xin mách một sự lầm trong sách ấy về tên vị đốc suất Đoan quận-công sai vẽ bản Giáp ngọ niên Bình Nam đồ. Đó không phải là Nguyễn Hoàng như chú thích ở trang 139 đã ghi. Ấy là Bùi Thế Đạt, làm đốc suất coi trấn Nghệ An năm Giáp Ngọ 1774 (Đại Việt Sử kí tục biên). Vậy những bản đồ này vẽ năm ấy. Tuy ở trang 149 có vẽ bãi, trên đề: Đại Tràng sa dĩ hạ, nhưng hình như chỉ muốn nói bờ bể từ cửa sông Thu bồn đến cửa sông Tam kì mà thôi.
    Lại có sách Thâụn Hóa Quảng Nam địa đồ Nhật trình nối sau bản Giao Châu chỉ. Về bãi Tràng sa, vẽ ở ngoài xã Du Trường (Cù lao Ré), có đề: “Bãi Tràng sa hành nhị nhật. Tam tổng cư thử, đa điền sản”, nghĩa là: đây là bãi Tràng sa, đi hai ngày; ba tổng ở đó, có nhiều vật ở ruộng sinh ra. Hoặc giả phải đọc hải sản thay Điền sản chăng? Còn nói đến ba tổng thì ý ra sao. Hoặc có tổ chức Hoàng sa chia ra làm ba tổng chăng?
    Kết luận về các bản đồ trước đời Gia long cho biết rằng “Bãi” Tràng sa, hoặc Cát vàng được coi là phần quan trọng của đất Việt.
    Đời Gia long, tháng giêng năm Ất Hợi 1815, sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo hoàng Sa thăm dò đường bể (Đại Nam Thực lụcChính biên đệ nhất kỉ, quyển 50). Ý chừng bấy giờ, thấy các người Tây-dương chiếm các đất chung quanh bể Đông, cho nên triều Nguyễn đã sai đội Hoàng Sa ra đó để biểu thị bản quyền về Việt Nam.
    Trong tờ báo của Á-châu hội của người Anh tại xứ Bengale, linh mục Taberd đã có viết bài dài về Việt Nam trong hai số báo, số 6 và số 7. Về Hoàng Sa, nguyên văn bằng Anh ngữ như sau:
    Pracel or Paracels (Cồn vàng)
    Although this kind of archipetago presents nothing but rocks and great depths which promises more inconveniences than advantages, the king Gia Long thought he had increased his dominions by this sorry ad***ion. In 1816, he went with solennity to plant his flag and take formal possession of these rocks, which it is not likely anybody will dispute with him.
    (Note on the geography of Cochinchina by the Right Rev, Jean Louis, Bishop of Isauropolis. Vic. Apost. Of Cochin China – The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol. VI, page 745)
    Dịch nghĩa: Pracel hoặc Paracels (Cồn Vàng). Tuy rằng cái thứ quần đảo này không có gì ngoài đá tảng và những cồn lớn nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn lợi, vua Gia Long đã nghĩ tăng lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm 1816, ông đã tới long trọng cắm cờ ông và chính thức giữ chủ quyền các hòn đá này, mà hình như không một ai tranh giành với ông.
    Trong bài Geography of the Cochinchinese empire đăng trong tập san Journal of the Geographical Society of London, Gutzlaff có chép khá dài về Hoàng Sa. Nguyên văn như sau:
    “We should not mention here the Paracels (Katvang) which approach 15-20 leagues to the coast of Annam, and extend between 15-17 N. lat. and 111-113 E. longitude, if the king of Cochinchina did not claim these as his property, and many isles and reefs, so dangerous to navigators. Whether the coral animals or other causes contribute to the growth of these rocks we shall not determine; but merely state that the islets rise every year higher and higher, and some of them are now permanently inhabited, through which the waves, only a few years ago, broke with force. They would be no value if the fisheries were not very productive, and did not remunerate all the perils of the adventurer. From time immemorial, junks in large number from Haenan, have annually visitted all these shoals, and proceeded in their excursions as far as the coast of Borneo. Though more than ten percent are annually wrecked, the quantity of fish taken is so freat as to ensure all loss, and still leave a very good profit. The Annam government, perveiving the advantages which it might derive if a toll were raised, keeps revenue cutters and a small garrison on the spot to collect the duty on all visitors, and to ensure protection to its own fishermen. A considerable intercourse has thus gradually been established, and promises to grow in importance on account of the abundance of fish which come to these banks to spawn. Some isles bear a stunted vegetation, but fresh water is wanting; and those sailors who neglect to take with them a good supply are often put to great straits.
    (vol. the 19th – 1849 – page 93)
    Dịch nghĩa:
    Đây chúng tôi đáng lẽ không kể đến quần đảo Cát vàng nó ở gần bờ be An-nam 15 đến 20 dặm và lan giữa các vĩ tuyến 15 và 17 độ Bắc, và các kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, nếu vua xứ Cochin-China đã không đòi quần đảo ấy là của mình, với nhiều đảo và ghềnh rất nguy hiểm cho người hàng hải. Không biết vì san hô hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần; nhưng rõ ràng nhận thấy rằng các đảo ấy càng năm càng cao, và một vài cái bây giờ đã có người ở vĩnh viễn, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đã vỗ mạnh đập qua. Những đảo ấy đáng lẽ không giá trị nếu nghề chài ở đó không phồn thịnh và không bù hết mọi nguy nan cho kẻ phiêu lưu. Từ lâu đời, những thuyền phần lớn từ Hải Nam tới, đã hằng năm đến thăm các bãi nổi này và tiến hành cuộc viễn du xa xa đến tận bờ đảo Borneo. Tuy rằng hằng năm hơn phần mười bị đắm, nhưng cá đánh được rất nhiều, đến nỗi không những bù hết mọi thiệt thòi, mà còn để lại món lợi rất to. Chính phủ An nam thấy những lợi có thể mang lại nếu một ngạch thuế đã đặt ra, bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này mà mọi người ngoài tới đây đều phải trả, và để bảo trợ người đánh cá bản quốc. Vậy nên, một cuộc giao dịch lớn được dần dà gây nên và có cơ bành trướng nhờ sự có rất nhiều cá tới trên các bãi này đẻ trứng. Một vài đảo có cây cối cằn cỗi, nhưng thiếu nước ngọt; và những thủy thủ nào quên mang theo nước trữ đầy đủ, thường bị lâm vào cơn khốn đốn lớn.
    (Trích tập san Á châu hội tại London năm 1849)
    J. B. Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng) đã ghi lại chuyện vua Gia Long khẳng định bản quyền trên quần đảo Hoàng sa, Nguyên văn bằng tiếng Pháp ngữ như sau:
    La Cochinchine don’t le sourverain prote aujourd’hui le titre d’empereur, comprend la Cochinchine proprement ***e, le Tonquin, une portion du Royanme de Cambode, quelques isles habitées peu éloignées de la cote et l’archipel de Paracel, composé d’ilots d’écueils et de rochers inhabités. C’est senlement en 1816, que l’empereur actuel a pris possession de cet archipel.”
    (Le mémoire sur la Cochinchine par J. B. Chaigneau)
    Bulletin des Amis du Vieux Hué, No 2, 1923, page 257
    Lời dịch: Nước Cochinchine mà vua bây giờ lấy hiệu Hoàng đế gồm xứ Cochinchine thật hiệu, xứ Đông kinh, một phần xứ Cao miên, một vài đảo có dân cư không xa bờ bể và quần đảo paracel hợp thành bởi những tiểu đảo, ghềnh, đá không dân cư. Chỉ đến năm 1816, mà Hoàng đế bấy giờ mới lấy chủ quyền trên quần đảo ấy.
    Đời Minh Mạng, triều đình chú tâm đến Hoàng Sa về phương diện che chở thuyền mành và thủy thủ trong hải phận quần đảo ấy. Thủy thủ tất cả mọi nước khi qua Đông Hải đều rất sợ quần đảo Hoàng Sa. Nhiều tàu bể bị cạn hoặc bị đắm trong vùng ấy. Eugène Chaigneau, cháu điệt Nguyễn Văn Thắng (Jean Baptiste chưởng cơ quản tàu Phi long đời Gia Long) khi sang làm phó lãnh sự ở nước ta năm 1830 đi tàu Saint Michel bị đắm ở đó. Lời y kể (trích từ Le Consulat de France à Hué par H. Cordier, trang 127): “Khốn nỗi, tàu này đã đắm ngày mồng 9 tháng 8 năm 1830 trên ghềnh đá thuộc Paracels cách Tourane chừng 80 hải lý (450 km)…”
    Tháng 8 năm Quí-tị 1833:
    “Vua (Minh Mạng) bảo bộ Công rằng: “Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu, không pâh nbiệt được nông sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu lập bia, và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người ta dễ nhận biết, ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”
    (Đ.N.T.L. Chính biên Đệ nhị kỷ quyển 104,
    Theo bản dịch nhà xuất bản Khoa học Hà Nội 1965
    Tập 13, trang 53)
    Tháng ba năm sau 1834:
    “Sai giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ. Khi trở về, vua hỏi về những thứ sản vật ở đấy. Sĩ tâu: “Nơi này là bãi cát giữa bể, man mác không bờ, chỉ có người nhà Thanh đi lại đánh cá bắt chim mà thôi”. Nhân đem dâng vua những thứ chim cá, ba ba, ốc, sò, ngao, đã bắt được ở nơi đó, đều là những vật lạ ít thấy.
    “Vua vời thị thần đến xem và thưởng những những người đi về, tiền bạc, có khác nhau”
    (Sách trên, quyển 122, bản dịch quyển 14, trang 189)
    Ý vua Minh-mệnh muốn xây miếu thờ thần bể ở Hoàng Sa phải đợi đến năm sau mới thi hành được. Một sự-ngạc-nhiên là phát giác rằng trước đã có miếu, có bia rồi. Sách ĐNTL chép: về tháng 6 năm Ất Mùi:
    “Dựng đền thờ thần 9ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um. Giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bài khắc bốn chữ VẠN LÍ BA BÌNH
    “Chú thích: Cồn Cát trắng chu vi 1070 trượng (5 cây số), tên cũ là núi Phật tự. Bờ đông , tây, nam, đều đá san hô, thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc giáp với một cồn toàn đá san hô sừng sững nổi lên, chu vi 910 trượng (1 cây số rưỡi), cao một trượng ba thước (6,11 mét), nagng với Cồn Cát. Tên gọi là Bàn-than thạch
    “Năm ngoái, vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây, mới sai cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ giám-thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu, cách toà Miếu cổ 7 trượng (33 mét). Bên tả Miếu, dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong, rồi về”
    (Sách trên quyển 154, bản dịch quyển 16, trang 309)
    Sách Đại Nam Nhất thống chí quyển Tỉnh Quảng-nghĩa chép khá dài về đảo Hoàng Sa, đại để lặp lại những chi tiết đã thấy trong Hoàng Việt địa dư chí và Đại Nam Thật lục nhưng cũng cho biết thêm một vài điểm: một là Hoàng sa cũng gọi là Hoành-sa, nghĩa là bãi bể chắn ngang; hai là: “Năm Minh mệnh thứ 16 (tức là 1835, xem trên), sai thuyền công chở gạch đá đến đây xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả, hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được lá đồng và gang sắt có đến hơn hai nghìn cân (1,3 tấn)”
    (bản dịch Viện Sử học Hà Nội 1970, quyển 2, trang 370)
    Về những biến cố liên quan đến quần đảo Hoàng Sa về thời Pháp thuộc và sau vụ đại chiến trang 1939-1945, giáo sư Nguyễn Khắc Kham đã trình khá tường trong bài Lịch sử hai quần đảo Trường sa và Hoàng sa.
    Cuối cùng tôi xin mách một bút ký cảm tưởng sợ hãi của thủy thủ Việt đối với Hoàng sa trong khi vượt bể.
    Năm 1832, một sai nhân Việt đi tàu sang phi Luật Tân, suýt bị cạn ở Hoàng Sa. Ấy là Lí Văn Phức, một văn nhân rất có tiếng đời Minh Mệnh. Ông đã ghi cảm tưởng kinh khủng khi thấy bóng bãi cát ấy trong bài tựa và bài thơ đề: “Vọng kiến Vạn lí tràng sa tác. Bài tựa rằng:
    “Vạn lí Tràng sa là một dải cát trắng từ bể nổi lên, phía tây tiếp dương phận trấn Quảng Ngãi, phía giáp đông dương phận nước Lữ Tống (Lưu xông), phía bắc tiếp dương-phận các tỉnh Quảng đông và Phúc Kiến. Giằng-dặc kéo ngang, không thể lu72ng đo được. Ấy là chỗ rất hiểm đệ nhất có tiếng từ xưa đến nay. Tàu thuyền qua đó, thường thường kiêng dè sự không thấy nó. Ấy vì chân bãi cát ra rất xa. Một khi lầm (đi đụng phải) thì không thể trở lại.
    “Ngày 14 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1832), thuyền (Định tường) rời khỏi cõi Quảng Ngãi, đã vào hải-phận trấn Bình Định. Trù tính là không lầm, một đường thẳng vo, lấy hướng kim Mão-ất (đông, hơi xế nam) mà tiến. Không dè gió trái, nước xiết, con thuyền không tiến. Thình lình trưa hôm sau, ngóng trông thấy nó. Sắc cát lờ mờ, khắp chân trời đều trắng. Tất cả người trên thuyền, trong lòng bừng bừng, nước mắt rưng rưng. Trên thuyền, ngoảnh hỏi đà-công (người cầm lái). Y là một tay lão luyện Tây dương. Nó nói rằng: lấy thước Đạc thiên (lục phân, ***tant) mà đo thì may thuyền chưa phạm vào chân bãi cát, còn chuyển buồm kịp”.
    “Bèn lấy hướng kim Dậu (Tây), nhằm Quảng Ngãi mà lùi. May nhờ phúc lớn của triều đình, về đến cửa bể Thái-cần mà tạm đỗ. Cuối cùng không việc gì.”
    (Sách Đông hành thi thuyết thảo của Lí Văn Phức)
    Nguồn: Sử Địa số 29, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1975, tr. 7-18.
    Nguồn: http://boxitvn.blogspot.com/2010/02/...-xuan-han.html
  3. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Đọc Etude sur un Portulan annamite du XV siècle của Dumoutier và việc nghiên cứu bản đồ cổ ở VN

    Cụ Nguyễn Nhã thì trong bài [FONT=&quot]HOÀNG SA QUA TOẢN TẬP THIÊN NAM TỨ CHÍ LỘ ĐỒ, QUYỂN 1 CỦA ĐỖ BÁ (THẾ KỶ 17)[/FONT]

    Toản tập Thiên Nam Tứ Chí Đồ Thư([1]) là một cuốn sách gồm 4 quyển ([2]), trong mỗi quyển có một số bản đồ với những hàng chữ chú giải, do nho sinh họ Đỗ Bá, tên tự là Đạo Phủ soạn vào khoảng năm 1630 đến 1653[3]. Theo H. Dumoutier, Thiên nam Tứ Chí Lộ Đồ đã vẽ theo những chi tiết thâu lượm vào cuối thế kỷ 15, khi vua Lê Thánh tông (1460 – 1497) thân chinh đi đánh Chiêm Thành[4].

    Sử liệu này cho ta thấy danh xưng chữ nôm “Bãi Cát Vàng” đã xuất hiện trong tài liệu xưa nhất còn lưu truyền đến ngày nay. Danh xưng Hoàng Sa về sau mới được thông dụng.

    Sau đây là phần phiên dịch đoạn văn đề cập tới Hoàng Sa trong “Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ”[5].

    … Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng[6], dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm[7], đến cửa Sa-Vinh mỗi lần có gió Tây-nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đấy; gió đông bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi giạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hóa thì đều để nơi đó[8]. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc tiền tệ súng đạn[9]. Từ cửa Đại Chiêm vượt biên đến đấy thì phải một ngày rưỡi. Từ cửa Sa-kỳ đến đấy thì phải nửa ngày[10].

    Chỗ bãi cát dài ấy cũng có đồi mồi. Ngoài cửa biển Sa-Kỳ[11]có một hòn núi, trên núi sản-xuất phần nhiều là cây dầu, gọi là trường dầu, có đặt quan tuần sát…”

    [FONT=&quot]Nguyên văn phiên âm[/FONT]
    Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ đồ thư,
    quyển chi nhất: Tự Thăng Long chí Chiêm Thành quốc
    (Thanh Giang Bích Triều nho sinh trúng thức, Đồ-Bá-thị Công-Đạo-phủ soạn)
    “… Hải trung hữu nhất Trường Sa, danh Bãi Cát vàng ước trường tứ bách lý, khoát nhị thập lý, trác lập hải trung. Tự Đại Chiêm hải môn, chí Sa- Vinh, mỗi tây nam phong, tắc chư quốc thương bạc nội hành phiêu bạc tại thủ; đông bắc phong, ngoại hành diệc phiêu bạc tại thử, tịnh giai cơ tử. Hóa vật các trí kỳ xứ. Nguyễn thị mỗi niên quí đông nguyệt trì thuyền thập bát chích, lai thử thủ hóa, đa đắc kim ngân tiền tệ súng đạn đẳng vật. Tự Đại Chiêm môn Việt hải chí thử nhất nhật bán. Từ Sà-kỳ môn chi thử bán nhật.
    Kỳ trường sa xứ diệc hữu đại mội. Sa kỳ hải môn ngoại hữu nhất sơn, sơn thượng đa sản mộc, danh du trường, hữu tuần…”


    Đọc Etude sur un Portulan annamite du XV siècle của Dumoutier và việc nghiên cứu bản đồ cổ ở VN

    Vấn đề là trong bài viết trên ngoài một lỗi nhỏ là ông đốc học Dumoutier có tên họ đầy đủ là Gustave Emile Dumoutier thì phải viết là G. Dumoutier như Cụ Hãn thì cụ Nhã lại ghi là H. Dumoutier còn có câu Theo H. Dumoutier, Thiên nam Tứ Chí Lộ Đồ đã vẽ theo những chi tiết thâu lượm vào cuối thế kỷ 15, khi vua Lê Thánh tông (1460 – 1497) thân chinh đi đánh Chiêm Thành[4]. với chú thích [4] H. Dumoutier, “[4] H. Dumoutier, “Etude sur un portulan Annamite du Xve Siècle”, Bulletin de Géographie Historique et Desxriptive (1896). Cf. Hồng Đức Bản Đồ, Saigon, Bộ Q.G.G.D., 1962, tr. XII làm người ta hiểu là trong quyển “Etude sur un portulan Annamite du Xve Siècle” cụ Dumoutier có nhắc gì đến Thiên nam Tứ Chí Lộ Đồ hay những bản đồ được nhắc đến trong “Etude sur un portulan Annamite du Xve Siècle” chính là Thiên nam Tứ Chí Lộ Đồ.

    Nhưng dường như không phải là thế

    Va mỗ đã đọc tới lui
    “Etude sur un portulan Annamite du Xve Siècle” vài bận nhưng không thấy Cụ Dumoutier đả động gì đến Thiên nam Tứ Chí Lộ Đồ hay tác giả của nó là nho sinh họ Đỗ Bá, tên tự là Đạo Phủ, không rõ trên cơ sở nào mà cụ Nhã lại phán như thế?

    ---------------------------------------------------------------------------------
    [FONT=&quot][4][/FONT][FONT=&quot] H. Dumoutier, “Etude sur un portulan Annamite du Xve Siècle”, Bulletin de Géographie Historique et Desxriptive (1896). Cf. Hồng Đức Bản Đồ, Saigon, Bộ Q.G.G.D., 1962, tr. XII

    [/FONT]
  4. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Đọc Etude sur un Portulan annamite du XV siècle của Dumoutier và việc nghiên cứu bản đồ cổ ở VN

    Quyển “Etude sur un portulan Annamite du Xve Siècle” được cụ Dumoutier biên soạn theo một tài liệu quân sự của Đại Việt không có tựa đề mà cũng không có ghi tác giả mà Cụ đồ rằng nó có nguồn gốc xuất phát từ

    "Tân Mão, [Hồng Đức] năm thứ 2 [1471], (Minh thành Hóa năm thứ 7). Mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 2, vua cho là khi đại quân sắp vào đất giặc, quân lính càng cần phải luyện tập. Do đó, xuống chiếu cho quân Thuận Hóa ra biển tập thủy chiến.
    Vua nghĩ núi sông nước Chiêm có chỗ chưa biết rõ ràng, liền sai thổ tù ở Thuận Hóa là Nguyễn Vũ vẽ hình thế hiểm dị của nước Chiêm để dâng lên. "
    (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư) Bản kỷ thực lục Q2(b)Nhà Hậu Lê (1460 - 1472)

    Cụ cũng có nói thêm là tập bản đồ cụ dựa trên đó để viết quyển Portulan không phải là chính những bản đồ Nguyễn Vũ vẽ mà trễ hơn, khi nhà vua đã diệt thành Chà Bàn và khi Quảng Nam đã được sáp nhập vào Đại Việt như là thừa tuyên thứ 13. Cụ cho là vào khoảng năm 1477.

    Tuy nhiên với địa danh Quãng Nghĩa xuất hiện trong số bản đồ này thì có thể niên đại của nó không thể sớm hơn 1601 sau khi Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam


    Cụ HOÀNG XUÂN HÃN cho rằng

    Về đồ vẽ, các “bản đồ” và “lộ đồ” đời Lê cũng có ghi một cách sơ sài cái “bãi cát vàng” hoặc “bãi Trường sa” ấy.


    và Cụ cũng cho rằng có sự tiến hóa về tri thức Hoàng sa qua từng thời kỳ dựa trên nền kiến thức cũ

    Bút chứng cũ nhất và đầy đủ nhất thấy trong sách Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn soạn vào năm 1776, với những tư liệu của các Chúa Nguyễn. Sau đó, các sử gia, địa gia đời vua Nguyễn đều dựa theo đó và thêm thắt việc mới vào.

    Do đó đọc qua “Etude sur un portulan Annamite du Xve Siècle” người ta có thể thấy cụ Dumoutier biên soạn theo một tài liệu quân sự có nguồn gốc giống như Thiên nam Tứ Chí Lộ Đồ nhưng có thể có niên đại sớm hơn Thiên nam Tứ Chí Lộ Đồ căn cứ vào sự đơn giản hơn của các chú giải

  5. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Đọc Etude sur un Portulan annamite du XV siècle của Dumoutier và việc nghiên cứu bản đồ cổ ở VN

    Lần lại nguồn gốc các bản đồ nhà Lê có vẽ "bãi cát vàng" ta có thể thấy

    1- Những bản đồ quân sự do Nguyễn Vũ vẽ năm 1471 theo lệnh của Vua Lê Thánh Tông
    Những bản đồ này đã thất truyền và người ta hoàn toàn không rõ là các bản đồ thời sao có dựa trên những bản đồ này không?

    2-Thiên hạ bản đồ

    Lê Thánh Tông đã cho vẽ bản đồ chi tiết và đầy đủ về lãnh thổ Đại Việt và bộ bản đồ các vương quốc trong vùng (gọi là Thiên hạ bản đồ).
    Bộ bản đồ Đại Việt được hoàn thành năm 1490, gồm 13 thừa tuyên (sau đó đổi làm xứ)

    Thiên hạ bản đồ hẳn là có quy mô và chi tiết hơn bản đồ Nguyễn Vũ nhưng không rõ có kế thừa gì của bản đồ Nguyễn Vũ hay không?

    Thiên hạ bản đồ cũng bị thất truyền nhưng người ta cho là các bộ bản đồ về sau dựa trên bộ bản đồ này

    [​IMG] [​IMG]
    Bản đồ Hoàng thành Thăng Long thời Hồng Đức (1490)

    3- Bản đồ Portulan
    là các bản đồ mà theo đó cụ Dumoutier biên soạn “Etude sur un portulan Annamite du Xve Siècle” , niên đại sau 1601 nhưng chắc sớm hơn Thiên nam Tứ Chí Lộ Đồ

    [​IMG]

    4- Thiên nam Tứ Chí Lộ Đồ

    Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (纂集天南四至路图書, BBT), quyển chi nhất: Tự Thăng Long chí Chiêm Thành quốc (Thanh Giang Bích Triều nho sinh trúng thức, Đồ Bá thị Công Đạo phủ soạn)[​IMG]
    Hình 1 Nguyên văn chữ Hán trích trong Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ, Quyển 1, nằm trong Hồng Đức Bản Đồ, hiện tàng trữ tại Toyo Bunko (tức là 東洋文庫 - Đông Dương Văn Khố http://www.toyo-bunko.or.jp/, BBT), và được Viện Khảo Cổ Sài Gòn dịch theo vi ảnh số 100-891 năm 1962.

    Năm soạn của bộ này hình như vẫn chưa thống nhất
    Cụ Hãn cho rằng:
    Henri Maspéro có để lại một sách Toản tập Thiên nam lộ đồ (các bản khác có thêm hai chữ Tứ chí nghĩa là đi bốn phương) vẽ năm Cảnh hưng thứ 2, 1741.
    Cụ cũng chua thêm
    G.Dumontier đã vẽ lại trong sách Étude sur un Portulan Annamite du XV siècle một bản đồ tuy cùng gốc với sách nói trên, nhưng có nhiều chi tiết hơn Bức XIX có vẽ bãi cát đề tên Bãi Cát vàng, và đảo Du trường nhưng chữ Trường lại lầm ra chữ Ái vì tự-dạng (trong sách này còn có khá nhiều chữ lầm như vậy: trong bức này, huyện Mộ hoa đã lầm ra Qui hoa vì tự dạng).

    tức là
    theo ý Cụ Hãn thì bản đồ của
    cụ Dumoutier tuy cùng gốc với sách nói trên (Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ), nhưng có nhiều chi tiết hơn.

    Chổ này cũng là lạ vì nếu thế ta có thể nghĩ bản đồ của cụ Dumoutier có thể từ một bản có sau Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ?

    Riêng cụ Nhã thì có vẻ lại theo phe [FONT=&quot]ông Trương Bửu Lâm
    , cụ ghi chú:

    [FONT=&quot]Theo sự nghiên cứu của ông Trương Bửu Lâm cho rằng vào năm 1653 theo Đại Nam Nhất Thống Chí, biên giới nước ta và Chiêm-Thành đã tới sông Phan Lang (Khánh Hòa), mà những bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư lại xác định biên giới trên vẫn ở núi Thạch Bi tức ở tỉnh Phú Yên. Như thế, Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư khó soạn sau 1653. Đồng thời nhiều chứng cớ khác như Toàn Tập này đã đề cập tới Hội An và Trà Nhiêu, là nơi “có thể chứa các thuyền buôn đi biển của các nước đậu lại đó”, mà chúng ta biết rằng Hội An chỉ trở thành hải cảng cho các thương thuyền ngoại quốc vào đầu thế kỷ 17. Đồng thời trên bản đồ của Toản Tập này có nói tới Động Hải hay Đồng Hới và có vẽ nhiều lũy trong cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn mà việc đắp lũy đã không thực hiện trước năm 1630. Do đấy ông Trương Bửu Lâm đã xác quyết Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư do Đạo Phủ (không biết rõ tên thật), họ Đỗ Bá đã soạn thảo vào khoảng 1630 đến 1653.

    Vậy cụ thể là
    [/FONT]Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ đã được soạn năm nào? Va mỗ thì thấy ông Lâm có lý hơn, không lẽ năm 1741, biên giới Đại Việt đã kéo dài đến Vĩnh Long mà cụ Đỗ Bá lại không biết? Nếu cụ chỉ cóp lại tài liệu của tiền nhân thì sao lại được ghi là "soạn" nhỉ?
    [FONT=&quot]

    [/FONT] 5- Hồng Đức bản đồ (1774)


    Đây là bản đồ vẽ rõ địa thế xứ Đàng Trong cuối thế kỷ 18, từ Đồng Hới đến biên giới Cao Miên, do Đoàn Quận Công Bùi Thế Đạt vẽ dâng lên Chúa Trịnh năm 1774 để phục vụ chiến dịch Nam Tiến năm 1775.


    Trên bản đồ, Bãi Cát Vàng được vẽ ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi.




    [​IMG]

    [/FONT]
    [​IMG]
  6. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Qua việc điểm lại vài bản đồ cổ, ta có thể thấy việc nghiên cứu các bản đồ cổ cũng chưa được xúc tiến chu đáo, dẫn tới nhiều ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu khác nhau.

    Các học giả viết về HS-TS cũng không thích dẫn Portulan vì có thể do nhiều lý do khác nhau:
    1-Không rõ bản gốc của các bản đồ mà Cụ Dumoutier nghiên cứu có tên tuổi, tác giả là ai?
    2- Vì nó giống giống như Thiên Nam tứ chí lộ đồ nên dùng Thiên Nam tứ chí lộ đồ có căn bản hơn?
    3- Hay là vì Portulan không được thuận lợi lắm trong việc khẳng định chủ quyền của VN ở Hoàng sa, như Cụ Dumoutier cho rằng cái bãi cát đó chính là cù lao Chàm?

    ..vv và vv

    Va mổ muốn nhắc lại là TQ có hẳn vài trăm học giả nghiên cứu về TS-HS, chắc chắn Portulan đã nằm trong tầm ngắm của họ. Họ đang ra sức chứng minh HS trong thư tịch cổ của VN là một bãi cát hay hòn đảo nào đó nằm gần bờ và Portulan có thể là tài liệu họ ưa chuộng.

    "Biết người biết ta trăm trận trăm thắng" cho nên Va mỗ mong các học giả "xịn" nên để tâm một chút đến Portulan.
  7. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    BẢN ĐỒ BÃI CÁT VÀNG CỦA ĐỖ BÁ VÀ NHỮNG TƯ LIỆU ĐẦU TIÊN CHÉP VỀ ĐỘI HOÀNG SA

    PGS TS. Nguyễn Quang Ngọc

    1. Về bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá
    Hiện nay tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm vẫn còn lưu giữ được sách Hồng Đức bản đồ ký hiệu A2499, trong đó có Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư. Không chỉ ở trong nước mà tại Đông Dương văn khố Tôkyô (Nhật Bản) cũng có một quyển Hồng Đức bản đồ khổ 32,5 x 22,0, dầy 87 trang mang ký hiêu X-2-24. Tất cả các tập bản đồ mà chúng tôi có điều kiện được khảo sát cả ở trong nước và ngoài nước đều là các bản sao của đời sau và đều có sách Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Thiên Nam tứ chí lộ đồ trong đó.
    Năm 1896, nhà nghiên cứu người Pháp là Dumoutier công bố công trình Nghiên cứu về một bản đồ cổ An Nam thế kỷ XV, trong đó mảnh số 19 có vẽ một bãi cát dài kéo từ cửa Đại Chiêm qua cửa Sa Kỳ đến Sa Huỳnh có ghi rõ là Bãi Cát Vàng mà người đọc có thể hiểu là Hoàng Sa Chử hay Hoàng Sa. Dumoutier dự đoán có nhiều khả năng bản đồ này được lập trong thời gian vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành vào năm 1471. Có thể đoán được rằng Dumoutier đã nghiên cứu bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư được đính chung vào trong bộ Hồng Đức bản đồ. Cũng như nhiều tấm bản đồ khác trong bộ Hồng Đức bản đồ, rất có thể phần “họa” về Bãi Cát Vàng đã được vẽ từ thời Lê Thánh Tông đúng như dự đoán khoa học của Dumoutier, nhưng phần “chú” tạo nên độ xác thực của bản đồ thì hình như không thuộc vào khung niên đại này.

    Thật ra trong kho sách Hán Nôm của ta ngoài Hồng Đức bản đồ cũng còn một số bộ sách khác có chứa Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hoặc Toản tập An Nam lộ... Giống như Hồng Đức bản đồ các bộ sách này cũng chỉ là bản sao và đều ghi tên tác giả là Đỗ Bá Công Đạo. Chúng tôi đồng ý với nhiều ý kiến cho rằng Toản tập An Nam lộ là bản sao thời Lê gần với nguyên tác nhất1. Ngay trang đầu của sách (cũng đồng thời là trang bìa), dòng đầu tiên ghi rõ tên sách là Toản tập An Nam lộ. Tiếp sau là dòng chữ “Chính Hoà thất niên” cho biết sách được soạn vào năm Chính Hoà thứ 7 (1686). Phần dưới nối với tên sách và niên đại là các dòng chữ: “Thanh Giang, Bích Triều nho sinh trúng thức Đỗ Bá thị tự Công Đạo tập”. Điều đáng lưu ý ở đây là chính ông Đỗ Bá (tên chữ là Công Đạo), một Nho sinh trúng thức, người xã Bích Triều, huyện Thanh Giang (nay là xã Bích Triều, huyện Thanh Chương,
    ------------------------------------------------------------
    1 Sách được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm ký hiệu A.2628.
    Tham khảo Trần Bá Chí: Đỗ Bá Công Đạo với bản đồ Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa), Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 3-1990, tr 27.
    -----------------------------Tự động gộp Reply ---------------------------
    tỉnh Nghệ An) tự nhận mình là người tập hợp, biên tập bộ bản đồ này. Tập hợp, biên tập chắc chắn không phải là làm mới hoàn toàn, tuy nhiên Đỗ Bá đã ghi đậm dấu ấn của mình và biến thành bản đồ mang tên mình thì tập bản đồ này không thể coi là bản đồ các đời trước ông được. Vì thế chúng tôi tin rằng tác giả chính hay tác giả hoàn chỉnh của bản đồ Bãi Cát Vàng chỉ có thể là Đỗ Bá mà thôi.
    Sách Thanh Chương huyện chí xác nhận: Đỗ Công Luận (tên chữ là Công Đạo), người thôn Cẩm Nang, xã Bích Triều, huyện Thanh Chương (nay là thôn Cẩm Nang, xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An)2. Gia phả họ Đỗ (mà nhân dân địa phương gọi là họ Đậu) ở thôn Cẩm Nang cho biết Đỗ Công Luận (hay Công Đạo) chính là người vẽ bản đồ và ghi lại lộ đồ cho chúa Trịnh, phù hợp với các thông tin trong Toản tập An Nam lộ: “Họ ta xưa có Đậu Bá, tự Công Luận hoặc Công Đạo tuổi trẻ đã đậu Hương giải, triều đình gia ân cho làm Giám sinh, nhưng ông không thích (không đến học). Ông lại là ấm tử, nên cho làm Tri huyện huyện Thạch Hà, ông cũng không muốn làm quan. Ông thường than rằng đất ta liền cõi Chiêm Thành, trước kia hàng năm bị xâm lấn, có lần giặc giã vào chợ Phuống giết người cướp của thậm khổ. Vào khoảng thời Chính Hoà (1680-1705) ông từ quan giả dạng người buôn, xuôi sông Lam, vượt Thuận Quảng, qua Chiêm Lạp và các nước, xem xét sông núi, đường biển xa gần, vẽ bản đồ mang ra Bắc, hiến kế mở biên giới vào phía Nam. Chúa Trịnh (Trịnh Căn) rất vui mừng, đưa bản đồ cất vào kho. Lại yêu cầu ông soạn vẽ cho bộ Tứ chí lộ đồ”3.
    Những thông tin cụ thể và xác thực về quê hương, dòng họ, gia thế và hành trạng của Đỗ Bá là cơ sở đủ để tin bản đồ Bãi Cát Vàng do chính chúa Trịnh Căn sai Đỗ Bá vẽ (ở đây phải được quan niệm là cả “hoạ” và “chú”) trên cơ sở tư liệu cũ (có thể là bản đồ thời Hồng Đức), kết hợp với tư liệu mới bí mật điều tra tập hợp thêm tại vùng đất phía Nam. Bản đồ được chuẩn bị công phu trong nhiều năm và được hoàn thành vào năm Chính Hoà thứ 7 (1686).
    Trong Toản tập An Nam lộ, phần bản đồ phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi, phía ngoài biển có vẽ Bãi Cát Vàng kéo dài từ khoảng cửa Đại Chiêm qua cửa Sa Kỳ. Phần chú trên trang bản đồ bằng chữ Nôm viết to và khoẻ, với nội dung như sau: “Bãi Cát Vàng phỏng dài 400 dặm, rộng 20 dặm, ở giữa biển khoảng từ cửa biển Đại Chiêm kéo đến cửa biển Quyết Mông. Gió Tây Nam thuyền đi phía trong sẽ dạt lại đó. Gió Đông Bắc mà thuyền đi cũng bị tắc lại đấy, đều bị chết đói, của cải phải bỏ lại. Mỗi năm đến tháng cuối đông (Chúa Nguyễn) đưa 18 chiếc thuyền đến đó nhặt vàng bạc... Từ cửa Đại Chiêm đến bãi đảo ấy đi thuyền một ngày ruỡi, từ cửa Canh Sa đi thuyền cũng mất một ngày rưỡi. ở bãi đó cũng sinh sản loại đồi mồi.”.
    -----------------------------------------------------------------------------------------------
    2 Thanh Chương huyện chí, bản chữ Hán, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv 2577.
    3 Gia phả họ Đỗ (Đậu) thôn Cẩm Nang, xã Thanh mai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An do PGS -TS Trần Bá Chí (Đại học Quốc gia Hà Nội) sưu tầm và dịch. ​



    -----------------------------Tự động gộp Reply ---------------------------

    Như thế tập bản đồ đã cung cấp những thông tin hết sức cơ bản về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của đảo Hoàng Sa (mà khi ấy thường được gọi là Bãi Cát Vàng), cũng như chủ quyền của chúa Nguyễn đã được xác lập ở đó:
    - Bãi Cát Vàng ở giữa Biển Đông và chạy song song với bờ biển đoạn từ cửa sông Thu Bồn (cửa Đại Chiêm, Quảng Nam) cho đến cửa sông Trà Khúc (cửa Sa Kỳ). Trên đảo sản sinh loại đồi mồi và là nơi cực kỳ nguy hiểm cho thuyền bè qua lại.
    - Bãi Cát Vàng là cái tên thông dụng và thuần Việt, sau mới được phiên ra chữ Hán Việt là Hoàng Sa (hoặc Hoàng Sa Chử).
    - Bãi Cát Vàng là nơi có nhiều hoá vật của tầu đắm bỏ lại nên hàng năm chúa Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền ra lấy vàng bạc.

    Nhìn chung thông tin trong phần “chú” về cơ bản là chính xác, tuy nhiên cũng có một vài số liệu cụ thể như chiều dài, chiều rộng, khoảng cách xa bờ của bãi cát là rất ước lệ, thậm chí mâu thuẫn với nhiều nguồn tư liệu khác. Chẳng hạn về chiều dài, chiều rộng của bãi cát nếu so với An Nam hình thắng đồ thì nhỏ hơn (400 và 20 dặm so với 500 và 50 dặm)... Đặc biệt, số liệu về khoảng cách từ các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ ra Bãi Cát Vàng trong bản đồ Đỗ Bá đã gây ra không ít băn khoăn cho người nghiên cứu. Thông thường tất cả các tài liệu đều chép thống nhất và chính xác từ đất liền ra Hoàng Sa mất ba ngày, ba đêm. Bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá (cũng như dị bản của nó là Nam Việt bản đồ) chỉ đưa ra con số một ngày rưỡi đường, thậm chí An Nam hình thắng đồ còn thu lại trong nửa ngày đường thì rõ ràng là một sự ước đoán thiếu chính xác, hoặc có thể do nhầm lẫn trong những lần sao đi chép lại (vì tất cả các bản chúng tôi nghiên cứu đều là bản sao). Điều cần phải nói thêm là Đỗ Bá vẽ bản đồ Bãi Cát Vàng trong điều kiện phải tiến hành điều tra bí mật và gián tiếp, không có điều kiện khảo sát trực tiếp hay tham khảo tư liệu một cách chính thức, đàng hoàng thì sự phỏng đoán của ông về khoảng cách xa bờ, chiều dài, chiều rộng của Bãi Cát Vàng .... chưa được chính xác cũng là điều dễ hiểu.

    2. Bản đồ Đỗ Bá trong mối quan hệ với những tư liệu đầu tiên chép về đội Hoàng Sa

    Trong số những tài liệu thư tịch cổ Trung Quốc có chép đến hoạt động của đội Hoàng Sa trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông, theo chúng tôi Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán có vị trí đặc biệt quan trọng.

    Thích Đại Sán là một hoà thượng nổi tiếng, quê ở huyện Cửu Giang, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc), trụ trì ở chùa Trường Thọ tỉnh Quảng Đông. Ông sang vùng Thuận Quảng nước Đại Việt vào năm ất Hợi (1695) và trở về Trung Quốc vào năm Đinh Sửu (1697). Cuốn sách đúng như tên gọi của nó chỉ là ghi chép lại chuyến đi sang Đại Việt của tác giả. ở quyển III có đoạn viết: “Khách có người bảo: mùa gió xuôi trở về Quảng Đông chừng vào độ nửa tháng trước và sau ngày lập Thu. Chừng ấy gió Tây Nam thổi mạnh, chạy một lèo gió xuôi chừng 4, 5 ngày đêm có thể đến Hổ Môn. Nếu chờ đến sau mùa nắng, gió bấc dần dần thổi lên, nước chẩy về hướng Đông, sức gió Nam yếu, không chống nổi
    dòng nước chảy mạnh về Đông, lúc đó sẽ khó giữ được sự yên ổn. Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng giữa biển, chạy từ Đông Bắc qua Tây Nam, động cao dựng đứng như bức tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển, mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành. Bãi cát rộng đến trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là Vạn Lý Trường Sa, mù tít chẳng cỏ cây, nhà cửa. Nếu thuyền bị trái gió, trái nước mà tạt vào, dẫu không tan nát cũng không gạo không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt 7 ngày đường, chừng 700 dặm. Các Quốc vương thời trước hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo các bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào. Mùa thu nước ròng cạn, chảy rút về hướng Đông, bị một ngọn sóng đẩy đi, thuyền có thể trôi xa trăm dặm; gặp khi gió mạnh, càng sợ hiểm hoạ Trường Sa”4.

    Bãi cát được Thích Đại Sán gọi là Vạn Lý Trường Sa chính là Bãi Cát Vàng với tất cả những đặc điểm tự nhiên, địa hình được mô tả trong phần chú của bản đồ Đỗ Bá. Thích Đại Sán nói đến đội thuyền do chúa Nguyễn (mà sách gọi là Quốc vương) cử ra khu vực bãi cát lượm vàng bạc, khí cụ của các tầu hư hỏng, phải chăng đấy là 18 chiếc thuyền được đề cập tới trong lời chú của bản đồ Đỗ Bá. Điều đặc biệt lý thú ở đây là Hải ngoại kỷ sự ra đời chỉ sau bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá 11 năm, nên nó như là một khẳng định thêm, một bảo đảm vững chắc cho tính xác thực của tấm bản đồ Đỗ Bá. Mặt khác, chính bản đồ Đỗ Bá, đến lượt nó lại trở thành minh chứng cho độ chính xác trong ghi chép của Thích Đại Sán.

    Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán đã cho biết khá cụ thể, sinh động hoạt động thực thi chủ quyền của chúa Nguyễn ở giữa vùng biển đảo Vạn Lý Trường Sa vô cùng nguy hiểm nhất và lâu nay thuyền bè Trung Quốc chỉ có một ứng xử là tìm cách tránh xa nó. Giá trị của trang tư liệu này còn được nhân lên ở chỗ nó được chính người Trung Quốc từ cuối thế kỷ XVII xác nhận và ghi chép lại một cách khách quan, trung thực. Sự tương đồng về nội dung phản ánh của hai tài liệu (một của Việt Nam, một của Trung Quốc) xuất hiện độc lập, khách quan và cùng thời là một bằng chứng hùng hồn khẳng định chúa Nguyễn là người nắm giữ chủ quyền ở khu vực Bãi Cát Vàng (hay Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa) một cách tự nhiên, hợp pháp và thật sự.

    Những hình ảnh ban đầu của đội Hoàng Sa đã được Đỗ Bá và Thích Đại Sán phác thảo những nét căn bản nhất vào những thập kỷ cuối thế kỷ XVII, sau đó 7, 8 thập kỷ đã được nhà bác học Lê Quý Đôn khảo tả đầy đủ hơn, cụ thể và sáng rõ hơn trong Phủ biên tạp lục. Thông qua một hệ thống các tư liệu gốc, Lê Quý Đôn đã giớí thiệu tương đối đầy đủ và cụ thể vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa 130 đảo (bao gồm cả Trường Sa), cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của hai đội Hoàng Sa (chủ yếu ở khu vực quần đảo Hoàng Sa) và Bắc Hải (chủ yếu ở khu vực quần đảo Trường Sa). Phủ biên tạp lục dần dần đã trở thành cuốn sách gốc cho các sử gia, địa gia đời sau dựa vào để giới thiệu bổ sung và làm phong phú thêm trang lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường sa bằng những chi tiết mới.

    Cũng đúng vào năm 1776, khi Lê Quý Đôn viết sách Phủ biên tạp lục thì ở quê hương của đội Hoàng Sa dân phường cù lao Ré làm đơn trình bày đội Hoàng Sa vốn có lịch sử lâu đời (trước năm 1691) và giải thích thêm về chức năng bảo vệ vùng biển đảo của tổ chức đặc biệt này: “... Mong đội ơn trên: Nguyên xã chúng tôi từ xưa đã có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương.... Bây giờ chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp...”. Điều này không chỉ xác nhận việc thành lập đội Hoàng Sa để khai thác và bảo vệ các quần đảo giữa Biển Đông không chỉ là chủ trương của nhà nước mà nó đã được thực thi đầy đủ, nghiêm chỉnh ở địa phương với những con người cụ thể có chức năng, nhiệm vụ, địa chỉ rõ ràng, minh bạch.
    Bên cạnh các nguồn tư liệu Việt Nam và Trung Quốc, nguồn tư liệu phương Tây cũng không kém phần phong phú, sinh động. Từ thế kỷ XVI trở về trước đã có nhiều ghi chép và bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây gọi vùng các quần đảo giữa Biển Đông (I.de Pracel) là Baixos de Chapar (Bãi đá ngầm Chăm Pa), Pulo Capaa (đảo của Chăm Pa) và đoạn bờ biển tương đương với khu vực từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa biển Sa Kỳ như trong bản đồ Đỗ Bá được đánh dấu là Costa da Pracel (Bờ biển Hoàng Sa). Như thế từ rất lâu đời các nhà hàng hải phương Tây không chỉ coi các quần đảo này có quan hệ hữu cơ với vùng bờ biển từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi, mà trong thực tế họ đã xác nhận chúng thuộc chủ quyền của Vương quốc Chăm Pa. Bước sang thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII số lượng tầu thuyền của người phương Tây đi qua vùng Biển Đông thường xuyên hơn và nhận thức của họ về các quần đảo giữa Biển Đông cũng ngày càng phong phú và chính xác hơn. Nhiều tư liệu chép đến các vụ đắm tầu ở Paracel đã được những người Việt xứ Đàng Trong ra tận nơi cứu hộ rồi đưa các nạn nhân về vùng Quảng Nam. Chính quyền Đàng Trong đã dành cho mình quyền giải quyết hậu quả và xử lý các hàng hoá, tiền bạc trên các tầu bị đắm ở Hoàng Sa. Năm 1701, các giáo sĩ người Pháp trên tầu Amphitrite đã khẳng định một thực tế hiển nhiên rằng: “Paracel là một quần đảo thuộc về vương quốc An Nam”. Đây là một bổ sung hết sức đắt giá cho Bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá và Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán vì nguồn thông tin này chắc chắn không phụ thuộc vào một trong hai nguồn thông tin trên và lại xảy ra gần như đồng thời (cách nhau nhiều nhất không quá 15 năm: 1686- 1697- 1701).
    -------------------------------------------------------------------

    4 Thích Đại Sán: Hải ngoại kỷ sự, Bản dịch Viện Đại học Huế, 1963, tr 125.
    -----------------------------Tự động gộp Reply ---------------------------

    Đến giữa thế kỷ XVIII ngoài tầu thuyền của người Bồ, tầu thuyền các nước Hà Lan, Anh, Pháp đến vùng Biển Đông nhiều hơn. Pierre Poivre (1719-1786) là một giáo sĩ kiêm thương nhân người Pháp có dịp đi qua vùng Hoàng Sa kể lại trong Mô tả xứ Đàng Trong, 1749-50 rằng “Tôi nghe nói hàng năm nhà vua (chúa Nguyễn) thường cho vài chiếc thuyền ra Hoàng Sa để tìm kiếm những báu vật tự nhiên cho bộ sưu tập của mình”. Khi được Chúa Võ Vương Nguyễn PhúcKhoát tiếp ở Phú Xuân, P.Poivre mô tả kinh đô mới xây dựng và xác nhận những khẩu súng của công ty Đông ấn Hà Lan ở đây là thu lượm được từ quần đảo Hoàng Sa.

    Khoảng non chục năm sau, năm 1759 Bá tước D’Estaing, Phó Thuỷ sư đô đốc của Pháp thị sát vùng Biển Đông đã gửi một bức tường trình về Pháp cho biết ở Phú Xuân có đến 400 khẩu súng đại bác mà số lớn được đem về từ các vụ đắm tầu ở quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1768 ông viết từ Paris về cuộc hành trình này trên Biển Đông: “Đôi khi khó khăn được nhân lên gấp đôi ở vùng quần đảo Hoàng Sa. Tầu thuyền đi giữa đám đảo đá ngầm này và đất liền thì thực là khó hơn đi ở ngoài khơi. Hơn nữa, vùng biển này lại luôn luôn có những thuyền nhỏ của người bản xứ qua lại, họ có thể biết được tầu chúng tôi đến đó”.

    Như thế các ghi chép của người phương Tây đương thời cũng đều cho biết hàng năm thường xuyên có những tầu thuyền từ đất liền xứ Đàng Trong đi ra vùng quần đảo Hoàng Sa để thu lượm hàng hoá, hải sản. Đây chính là các đội Hoàng Sa mà Đỗ Bá lần đầu tiên nhắc đến trong tấm bản đồ của mình. Sự thống nhất về thông tin được phản ánh trong tấm bản đồ của Đỗ Bá (1686) với cuốn sách của Thích Đại Sán (1697), nhận định của thương nhân người Pháp (1701) và những ghi chép của Lê Quý Đôn, của các thương nhân, giáo sĩ, các nhà quân sự, phái bộ ngoại giao phương Tây thế kỷ XVIII về các đội tàu thuyền Đàng Trong ở Hoàng Sa chỉ có thể được giải thích là lúc này hoạt động chủ quyền của chúa Nguyễn ở đây đã trở thành thường xuyên đến mức mà hầu như cả người trong nước và người nước ngoài đều không thể không đề cập tới nó. Các nguồn tư liệu này bổ sung cho nhau, kiểm chứng lẫn nhau và làm tăng lên bội lần giá trị của nhau. Đặt Bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá trong mối quan hệ với những tư liệu đầu tiên của Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây có chép tới hay có đề cập tới đội Hoàng Sa, chúng ta có đủ cứ liệu để nhận định Việt Nam là nước chiếm hữu thật sự Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa, Paracels) từ khi chúng còn là vùng đất chưa có chủ và đã thực thi chủ quyền của mình dưới danh nghĩa nhà nước, bằng nhiều hình thức, biện pháp phong phú, độc đáo và được nhân dân địa phương chấp hành một cách triệt để.

    3. Bãi Cát Vàng, quần đảo Hoàng Sa với khu vực cửa biển Đại Chiêm xưa


    Cửa Đại Chiêm (tức cửa Đại ngày nay) là cửa sông Thu Bồn đổ ra biển- vốn là cửa ngõ quan trọng nhất của vương quốc Chăm Pa nối thông với kinh đô Simhapura (Trà Kiệu) và thánh địa Mỹ Sơn. Đây cũng chính là vùng kinh tế sôi động của cư dân Việt- Chăm ở trên dải đất miền Trung khi các vương triều Chăm Pa chuyển dần kinh đô xuống phía Nam. Sau cuộc tấn công của Lê Thánh Tông, cửa Đại Chiêm bỗng chốc lụi tàn rồi bước sang thế kỷ XVI và nhất là thế kỷ XVII nó lại bột phát hưng khởi và khai hoa một cảng- thị quốc tế Hội An lừng danh hàng đầu đất nước. Thời kỳ hưng thịnh của Hội An cũng chính là thời kỳ chúa Nguyễn thi hành chủ trương xác lập chủ quyền của mình trên vùng quần đảo giữa Biển Đông được mệnh danh là Bãi Cát Vàng. Thật ra chủ trương này được hình thành trên cơ sở kế thừa những kinh nghiệm và thành quả của các vương quốc Champa trước đây mà cửa biển Đại Chiêm, đảo cù lao Chàm, phố Lâm ấp... là cơ sở quan trọng và lâu dài nhất trong chiến lược tiến ra biển của người Chàm.

    Chúa Nguyễn và cả sau này là triều Tây Sơn và triều Nguyễn đều đóng đô ở Phú Xuân (Huế), nhưng cửa ngõ giao tiếp và thông thương quốc tế, nơi đầu mối giải quyết các vấn đề có liên quan đến biển đảo là ở Đà Nẵng, Hội An và Dinh Chiêm, chứ không phải Phú Xuân. Thông thường, tầu thuyền nước ngoài đều phải đến Dinh Chiêm (trấn dinh Quảng Nam) để trình báo và dâng lễ vật, tức là để làm các thủ tục đối ngoại. Vì thế tài liệu phương Tây đương đại hầu như đều coi vùng Đàng Trong là vùng cai quản của vua Quinam, thuộc vương quốc Quinam (tức là vua Quảng Nam và vương quốc Quảng Nam)6. Trong số những tài liệu của Công ty Đông ấn Hà Lan còn lưu giữ được ở Lưu trữ Quốc gia Denhaag chúng tôi đặc biệt lưu ý đến vụ tầu Grootebrock xuất phát từ vịnh Đà Nẵng để đi Đài Loan, nhưng gặp gió bão bị đắm ở gần đảo Hoàng Sa. Đoàn thuỷ thủ đã được người Đàng Trong cứu hộ, nhưng đồng thời cũng lấy đi tổng số tiền là 25.580 réaux. Quan chức của chúa Nguyễn ở Đà Nẵng đã bắt giữ những người sống sót, tịch thu hàng hoá được cứu hộ và cho phép họ trở lại Hoàng Sa để chở ngườì và hoá vật còn lại đi Batavia7. Sau này có rất nhiều lần người Hà Lan tìm cách đòi lại số hoá vật của tầu Grootebrock, nhưng đều bị từ chối vì chúa Nguyễn cho đó là hành động hợp pháp trên vùng quần đảo thuộc chủ quyền của mình.

    Không phải ngẫu nhiên mà bản đồ của Đỗ Bá lại lấy cửa Đại Chiêm làm vị trí mốc chuẩn để đi ra Bãi Cát Vàng. Nam Việt bản đồ có thể được xem như một dị bản của bản đồ Đỗ Bá thuộc vào khung niên đại cuối thế kỷ XVIII, bên cạnh đoạn chú hoàn toàn giống như bản đồ Đỗ Bá có phần hoạ khá chi tiết đánh dấu các vị trí của Đại Chiêm môn (cưả Đại Chiêm), Hội An đàm (đầm Hội An), Hội An phố (phố Hội An), Hội An kiều (cầu Hội An)... đã thực sự làm rõ hơn mối quan hệ giữa vùng cửa sông Thu Bồn với quần đảo Hoàng Sa.

    Nguồn tài liệu thư tịch có giá trị tuyệt đối để khẳng định chủ quyền của nhà Nguyễn đối với vùng biển đảo thiêng liêng giữa Biển Đông là các Châu bản triều Nguyễn. Trong số hơn một chục văn bản Châu bản bước đầu được tập hợp, chúng tôi thấy có đến bốn văn bản đều là lời tấu lên vua Minh Mệnh của Thủ ngự Đà Nẵng Nguyễn Văn Ngữ với cùng một nội dung: Đêm 21 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), một thuyền buôn Pháp vượt biển sang Philipin buôn bán, khi qua phía Tây quần đảo Hoàng Sa đã bị mắc nạn, phải chia nhau lên hai thuyền ván. Một thuyền đã về được, còn một thuyền chưa thấy đến. Được tin ông đã lập tức cho các thuyền tuần hải gấp rút trang bị và mang nước ngọt ra khơi tìm kiếm. Đến khoảng quá trưa thì chủ thuyền, 15 thuỷ thủ và số bạc mangtheo đã về đến cửa biển an toàn. Văn bản này xác định rõ thêm chức năng cứu hộ cứu nạn ở vùng quần đảo Hoàng Sa của Thủ ngự Đà Nẵng.

    Mặc dù đội Hoàng Sa là một tổ chức đặc biệt ở khu vực các làng An Vĩnh, An Hải cửa biển Sa Kỳ và đảo Lý Sơn và địa bàn hoạt động chủ yếu của nó là vùng quần đảo Hoàng Sa, thế nhưng dường như nó vẫn có mối quan hệ gắn bó với khu vực cửa biển Đại Chiêm. Chúng ta từng biết đội Hoàng Sa còn có lực lượng đi lấy tổ yến ở cù lao Chàm mà năm 1832 trên đường đi công cán ở Giang Lưu Ba (Gia- các- ta), Phan Huy Chú cho biết: “Trên núi có nhiều yến sào. Triều trước đặt ra đội Hoàng Sa để lấy tổ yến”8. Đành rằng những người dân binh hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước thì có thể phải được điều đi làm bất cứ công việc gì nhà nước cần, nhưng hình như đội Hoàng Sa còn có chức năng bảo vệ cả vùng biển đảo quan trọng này./.

    -----------------------------------------------------------------
    6 Tham khảo Trương Văn Bình và John Kleinen: Tư liệu VOC về quan hệ giữa công ty Đông ấn Hà Lan và chúa Nguyễn trong thế kỷ XVII và XVIII trong Đô thị cổ Hội An, Nxb KHXH, Hà Nội, 1991, tr 63-77.
    7 Tham khảo J.M.Buch: Công ty ấn Độ Hà Lan và Đông Dương (BEFEO 1936-1937).
    8 Hải trình chí lược, Cahier d’Archpel 25, 1994, tr 141.
    -----------------------------Tự động gộp Reply ---------------------------

    Đọc bài trên về thân phận Đỗ Bá ta thấy vấn đề Bản đồ Đỗ Bá khá là phức tạp.
  8. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Đỗ Bá Công Đạo, người vẽ bản đồ Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam
    28.04.2009

    Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    [​IMG]
    Bản đồ Việt Nam trong “Đại Nam Nhất thống toàn đồ” đã chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. (Theo sách họ Đỗ ở Việt Nam)
    (Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng tuyên bố ngày 9-12-2007)


    Đầu tháng 4-1975 thành phố Huế vừa giải phóng, đồng chí Trưởng đoàn tiếp quản Bộ tư lệnh Pháo binh phân công tôi (hạ sĩ quan duy nhất trong đoàn) quản lý hướng dẫn nhóm học sinh lớp 11, 12 Trường Đồng Khánh-Huế đi thu gom, tiêu hủy văn hóa phẩm đồi trụy của những kẻ tháo chạy vứt lại ngổn ngang trong, ngoài Viện đại học Huế và khu vực lân cận. Lẫn trong đống sách báo khiêu dâm bạo lực, **********, một nhóm nữ sinh tìm đưa cho tôi cuốn Tập san Sử Địa của Trường đại học Sư phạm Sài Gòn, trong đó đăng loạt bài nói về quần đảo Hoàng Sa -Trường Sa.



    Tôi ngấu nghiến đọc hết các bài về quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa đăng trong Tập san ấy, và đặc biệt chú ý bài viết của học giả Hoàng Xuân Hãn, người xứ Nghệ, sống và làm việc tại Pháp. Ông viết: Quần đảo Hoàng Sa là đất của Việt Nam. Bút chứng cũ nhất và đầy đủ nhất thấy trong sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn soạn năm 1776 với những tư liệu của các chúa Nguyễn!



    Tập san này còn cho biết: Sách Hải ngoại ký sự (quyển 3) của nhà sư Trung Quốc Thích Đại Sán soạn năm 1696 ghi: Chúa Nguyễn sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu trên quần đảo Vạn lý Trường Sa (tức Hoàng Sa).



    Năm 2002 (tức 27 năm sau), tình cờ anh bạn Đào Tam Tĩnh, Phó giám đốc Thư viện Nghệ An cho tôi mượn cuốn Tạp chí Hán Nôm số 6 (56)-2002, trong đó đăng bài Người vẽ bản đồ quần đảo Hoàng Sa thế kỷ XVII-Đỗ Bá Công Đạo với Bản đồ bãi cát vàng (Hoàng Sa), tác giả là PGS-TS Trần Bá Chí (ĐHQG Hà Nội).
    Nghiên cứu của PGS-TS Trần Bá Chí cho biết, sách Hồng Đức bản đồ, phần trình bày 13 bản đồ vẽ hình thế 13 xứ thừa tuyên đời Vua Lê Thánh Tông (1460-1497), và tờ bản đồ nước ta (không có tiêu đề và niên đại lập) còn có phần Mục lục tổng quát bản đồ nước ta tổng hợp các phủ, huyện, châu, xã, thôn thuộc 13 xứ thừa tuyên. Tác giả Mục lục tổng quát bản đồ nước ta là “Nho sinh họ Đỗ Bá tự Công Đạo, quê xã Bích Triều, huyện Thanh Giang” (xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương-Nghệ An hiện nay). Trong lời mở đầu Toàn tập Thiên Nam tứ chi lộ đồ thư (vẽ 4 tuyến đường từ Thăng Long tỏa ra 4 phía) cũng ghi:“Nho sinh họ Đỗ Bá tự Công Đạo, người xã Bích Triều, huyện Thanh Giang phủ soạn”. Phần Thiên Nam tứ chi lộ đồ (bản đồ đường đi 4 phía), thể hiện tuyến đường từ Thăng Long đến Chiêm Thành, đoạn vẽ địa hình địa mạo phủ Quảng Ngãi (Quảng Nghĩa phủ) có chú giải Bãi Cát Vàng tức là quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa ngày nay.


    Trong gia phả họ Đậu (Đỗ) ở Thanh Chương chép, năm Giáp Tuất niên hiệu Đức Long thứ 6 (1634), hậu duệ Đậu Hoằng Văn dời nhà sang xứ Núi Xú thuộc xã Bích Triều, huyện Thanh Chương cùng người họ Trần, họ Phạm, họ Nguyễn khai phá vùng đất đầy cây cỏ, mở ra khu chợ gọi là chợ Phuống, lập thành thôn Bàng Thị (thôn Phuống), sau đổi là Bích Thị. Gia phả họ Đậu (Đỗ) vùng này chép: “Đậu Bá Công Luận (Đỗ Bá Công Đạo) thi trúng Giám sinh vào năm đầu niên hiệu Dương Đức đời Lê Gia Tông (1672), làm tri huyện Thạch Hà được phong tước Đoan triều nam...”.

    Cuối gia phả có phần Phụ lục chép các kỳ tích của tổ tiên nói rõ hơn về Đỗ Bá Công Đạo:


    “Họ ta xưa có Đỗ Bá tự Công Luận hoặc Công Đạo tuổi trẻ đã đậu Hương giải, Triều đình gia ơn cho làm Giám sinh, nhưng ông không lấy làm mừng. Ông lại là ấm tử được bổ làm Tri huyện Thạch Hà, ông cũng không muốn làm quan. Ông thường than rằng: Nước ta liền cõi Chiêm Thành, trước kia hằng năm bị xâm lấn, có lần giặc giã vào chợ Phuống giết người cướp của thậm khổ. Vào khoảng thời Chính Hòa (1680-1705) ông từ quan, giả dạng người buôn sông Lam, vượt vùng biển Thuận Quảng (nay là dải đất từ Quảng Bình đến Phú Yên), qua các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, xem xét núi sông, đường biển xa gần, vẽ bản đồ mang ra Bắc, hiến kế Nam chinh mở rộng biên cương. Chúa Trịnh (Trịnh Cán) rất mừng, mang bản đồ cất đi. Lại trưng dụng ông soạn vẽ cho Tứ chi lộ đồ”. Theo huyện chí, gia phả và truyền văn, Đỗ Bá Công Đạo thích giao du nên không học trong khuôn khổ của trường Giám, mà tìm thầy giỏi học tư, rồi đi thi Hội lọt được hai trường. Tuy chưa đậu Tiến sĩ song người đời vẫn khen ông là người hay chữ, lại có khiếu cầm kỳ thi hoạ, tinh thông địa lý phong thủy và truyền dạy cho thân nhân. Tương truyền, dòng dõi Đỗ Bá Công Đạo có Giám sinh Đỗ Công Bàn rất giỏi địa lý phong thủy, được bố của Nguyễn Hữu Chỉnh (người làng Cổ Đan, xã Đông Hải, huyện Chân Phúc, nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc) mời chọn lấy huyệt đất. Công Bàn đã điểm cho huyệt đất “phát tướng” ở núi Côn Bằng, về sau Nguyễn Hữu Chỉnh thành tướng giỏi lừng lẫy Bắc Hà, được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ tiếp đãi hàng thượng khách. Chuyện này cũng được Phạm Đình Hổ nói trong sách Tang thương ngẫu lục.






    URL của bản tin này::
    http://www.nguoiquyhau.vn//modules.p...=viewst&sid=31
    -----------------------------Tự động gộp Reply ---------------------------
    website họ Đỗ

    ĐỖ BÁ CÔNG ĐẠO - NGƯỜI VẼ BẢN ĐỒ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM

    [​IMG]
    Quả bàng vuông ở đảo trường sa ​
    Đỗ Bá Công Đạo, còn có tên là Đỗ Công Luận, người làng Bích Triều, xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Nay thuộc chi họ Đậu Cẩm Nang ở xã Thanh Mai, Thanh Chương, Nghệ An.
    Ông là người phóng khoáng, thích giao du. Là giám sinh nhưng ông không học theo khuôn khổ của trường Giám, mà tìm thầy giỏi học tư và tự học, rồi đi thi hội lọt được 02 trường. Tuy chưa đỗ tiến sĩ, nhưng người đời vẫn khen ông là người hay chữ. Ngoài ra Đỗ Công Đạo còn tinh thông môn địa lý phong thuỷ, truyền dạy được nhiều học trò giỏi. Sách Tang thương Ngẫu lục của Phạm Đình Hổ có chép truyện giám sinh Đậu Công Bàn, hậu duệ của ông rất giỏi địa lý phong thuỷ, đã điểm huyệt phát tướng cho gia tộc Bằng Quận Công Nguyễn Hữu Chỉnh. Gia phả họ Đậu ở Cẩm Nang ghi: "Đậu Công Luận thi trúng giám sinh vào năm đầu niên hiệu Dương Đức, đời Lê Gia Tông (1672), sau được bổ làm tri huyện Thạch Hà, được phong tước Đoan triều Nam... phần chép các kỳ tích của tổ tiên có chép rõ hơn " Họ ta xưa có Đỗ Bá, tự Công Luận hoặc Công Đạo, tuổi trẻ đã đậu Hương giải, triều đình gia ơn cho làm giám sinh, nhưng ông không lấy làm mừng. Ông lại là ấm Tử, được bổ làm Tri huyện, huyện Thạch Hà, ông cũng không muốn làm quan. Ông thường than rằng: Nước ta liền cõi Chiêm Thành, trước kia hàng năm bị xâm lấn, có lần giặc đã vào chợ Phuống, giết người cướp của, thậm khổ".
    Trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, dân tộc Việt đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược của phong kiến phương bắc và quấy phá của giặc Chiêm Thành từ phương nam, Kinh thành Thăng Long đã nhiều lần bị giặc Chiêm đốt phá, cướp bóc. Chủ quyền của Quốc gia là thiêng liêng. Vua Lê Thánh Tông đã từng nói một câu rất nổi tiếng về chủ quyền quốc gia: "Một thước núi, một tấc sông của ta có lẽ nào tự tiện vứt bỏ đi được. Nếu kẻ nào dám đem một thước, một tấc đất của vua Thái Tổ để làm mồi cho giặc thì người đó sẽ bị trừng trị nặng"
    Là người yêu nước, Đỗ Bá Công Đạo không cam tâm nhìn giặc nước hoành hành, ông mong muốn tìm ra phương sách giữ gìn và phát triển đất nước. Thực hiện mục đích của mình, vào khoảng thời Chính Hoà (1680-1705), ông từ quan. Sau khi bỏ quan phục, ông mặc quần áo dân thường, giả dạng làm người khách buôn sông Lam, vượt biển Thuận Quảng ( nay là giải đất từ Quảng Bình đến Phú Yên), qua các nước Chiêm Thành, Chân Lạp xem xét hình thế núi sông, đường biển xa gần. Trải qua bao gian nan, nguy hiểm rình rập tính mạng khi thám sát vùng đất lạ , nhưng ông không nhụt chí, sờn lòng. Sau nhiều cuộc hải hành suốt một dải miền trung vaò miền nam ông đã bí mật khảo sát và vẽ thành bản đồ các xứ từ Thuận Quảng trở vào. Công trình hoàn thành ông lại mang lên Kinh thành vào ra mắt Chúa Trịnh, hiến kế nam chinh để trừ hoạ cho đất nước. Chúa Trịnh Căn rất mừng, mang bản đồ cất đi, lại trưng dụng ông soạn vẽ cho "Tứ chí Lộ đồ."
    Tập "Tứ chí Lộ đồ" do ông vẽ và biên tập, theo chúng tôi tổng kết có: 53 phủ, 181 huyện, 49 châu, 14 làng, 8.992 xã, 205 thôn, 335 trang, 451 sách, 43 sở, 442 động, 41 trại. 67 phường, 10 vạn, 8 nhà, 2 tuần, 1 quan, 2 giác, 15 nguyên, 15 châu. Riêng Thuận- Hoá có 02 phủ, 8 huyện, 4 châu, Quảng- Nam có 3 phủ 9 huyện.
    [​IMG]Hiện nay trong kho sách Hán- Nôm còn bốn tập bản đồ ghi tên Đỗ Bá Công Đạo. Thường trên bốn chữ Tứ Trí Lộ Đồ có thêm hai chữ An Nam hoặc Toản tập. Một trong bốn quyển đó là quyển " Đường từ phủ Phụng Thiên đến Chiêm Thành" có phần vẽ và chú giải bằng chữ Nôm về hai quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa ngày nay như sau: ở khu vực Phủ Thăng Hoa và Phủ Quảng Ngãi phía ngoài biển hình bãi cát kéo dài từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Kỳ với tên gọi Bãi Cát Vàng, lại ghi rõ : "... hai núi, mỗi núi đều có mỏ vàng, có cơ quan tuần sát. Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi- cát -vàng. Dài độ 400 dăm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm đến biển Sa Vinh, mỗi lần có gió tây nam, thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; gió đông bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi giạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hoá thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm vượt biển đến đấy thì phải một ngày rưỡi. Từ cửa Sa Kỳ đến đấy thì phải nửa ngày. Chỗ bãi cát dài ấy cũng có đồi mồi. Ngoài cửa biển Sa Kỳ có một hòn núi, trên núi sản xuất phần nhiều là cây dầu, gọi là Trường dầu, có đặt quan tuần sát.....
    Nho sinh trúng thức họ Đỗ Bá, tự Đạo-phụ phủ ở Bích -triều (Thanh Giang) biên soạn."
    "Tứ chí Lộ đồ" là một tài liệu chính thức của quốc gia. " Bãi Cát vàng" được ông thể hiện trong bộ Lộ đồ phản ánh cương giới xứ Đàng trong do chúa Nguyễn quản lý từ cuối thế kỷ XVI, đã mở rộng ra vùng quần đảo ở Biển Đông. "Bãi Cát vàng" là tên gọi nôm na mà nhân dân xứ Đàng Trong đặt cho 02 quần đảo san hô, rồi chuyển sang âm Hán Việt là "Hoàng Sa", "Hoàng Sa chữ". Tên gọi "Hoàng Sa", "Hoàng Sa chữ " được thông dụng trong các văn kiện thời Lê và thời Nguyễn, như trong Đại Nam Thực lục, Đại nam nhất thống chí, Đại nam nhất thống toàn đồ, chỉ chung cả hai quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa ngày nay. Đây là một tập tài liệu quí giá chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.
    Đỗ Quang (biên soạn theo tài liệu do họ Đậu ở Thanh Chương cung cấp và sách họ Đỗ Việt Nam tập II )




    -

  9. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Đọc bài BẢN ĐỒ BÃI CÁT VÀNG CỦA ĐỖ BÁ VÀ NHỮNG TƯ LIỆU ĐẦU TIÊN CHÉP VỀ ĐỘI HOÀNG SA

    của PGS TS. Nguyễn Quang Ngọc thấy cụ Ngọc viết

    "Cũng như nhiều tấm bản đồ khác trong bộ Hồng Đức bản đồ, rất có thể phần “họa” về Bãi Cát Vàng đã được vẽ từ thời Lê Thánh Tông đúng như dự đoán khoa học của Dumoutier, nhưng phần “chú” tạo nên độ xác thực của bản đồ thì hình như không thuộc vào khung niên đại này." và cuối cùng cụ Ngọc kết luận Những thông tin cụ thể và xác thực về quê hương, dòng họ, gia thế và hành trạng của Đỗ Bá là cơ sở đủ để tin bản đồ Bãi Cát Vàng do chính chúa Trịnh Căn sai Đỗ Bá vẽ (ở đây phải được quan niệm là cả “hoạ” và “chú”) trên cơ sở tư liệu cũ (có thể là bản đồ thời Hồng Đức), kết hợp với tư liệu mới bí mật điều tra tập hợp thêm tại vùng đất phía Nam. Bản đồ được chuẩn bị công phu trong nhiều năm và được hoàn thành vào năm Chính Hoà thứ 7 (1686).

    tức là cụ Đỗ Bá chả phải là người vẽ cái bản đồ đó mà cụ Đỗ Bá chỉ biên tập lại mấy cái ghi chú thôi.

    Có thể đúng là cụ Đỗ Bá đã làm thế nhưng không hiểu sao cụ Ngọc lại tin
    Những thông tin cụ thể và xác thực về quê hương, dòng họ, gia thế và hành trạng của Đỗ Bá. dễ thế nhỉ?

    Thông tin về cụ Đỗ Bá không nhiều nhưng lại đá nhau côm cốp:
    Cụ Đỗ Bá không phải tay kém cỏi,
    tuổi trẻ đã đậu Hương
    giải nhưng Ông thường than rằng: Nước ta liền cõi Chiêm Thành, trước kia hằng năm bị xâm lấn, có lần giặc giã vào chợ Phuống giết người cướp của thậm khổ.
    không lẽ cụ Đỗ Bá không biết rằng vào những năm thành lập chợ Phuống (sau
    1634) thì biên giới Chiêm Thành đã lùi rất xa vào Nam (ít nhất cũng đến đèo Cả ngày nay).
    Sau đó c
    giả dạng người buôn sông Lam, vượt vùng biển Thuận Quảng (nay là dải đất từ Quảng Bình đến Phú Yên), qua các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, xem xét núi sông, đường biển xa gần, vẽ bản đồ mang ra Bắc

    Cụ vào Nam cũng đâu có đi bộ qua xứ đàng Trong (chắc cụ sợ bị quân đàng trong bắt về tội gián điệp chăng?) mà dong thuyền đi tít vào Chiêm Thành sang Chân Lạp để vẽ bản đồ (Chiêm Thành vá Chân Lạp?)

    Sau đó cụ hiến kế Nam chinh mở rộng biên cương. Chúa Trịnh (Trịnh Cán) rất mừng, nhưng chắc thấy cụ Đỗ Bá không trình bày được kế hoạch làm sao đưa được bộ binh vào đến Chiêm Thành để sử dụng bản đồ của cụ Đỗ Bá vẽ nên Chúa Trịnh mang bản đồ cất đi. Vì thiếu cái đoạn phải đi bộ làm sao từ Thăng Long đến Chiêm Thành nên Chúa Lại trưng dụng ông soạn vẽ cho Tứ chi lộ đồ” chăng?
    Chắc chắn là cụ Đỗ Bá làm sao vẽ nổi bản đồ từ sông Gianh đến Chiêm Thành vì đoạn này cụ dong thuyền ngoài biển nên cụ đã mượn tạm bản đồ cổ trong kho ra "tập" lại chăng? Và không hiểu ở cái đoạn dong thuyền ngoài biển thì cụ Đỗ Bá lấy thông tin ở đâu ra mà "chú" nhỉ?

    Theo cụ Ngọc Bản đồ được chuẩn bị công phu trong nhiều năm và được hoàn thành vào năm Chính Hoà thứ 7 (1686).( Không rõ cụ Đỗ Bá đi vào Nam năm nào trong khoảng sau năm 1680, ở Chiêm Thành và chân Lạp để vẽ bản đồ trong bao nhiêu năm, ra bắc năm nào)

    ông Trương Bửu Lâm thì cho rằng họ Đỗ Bá đã soạn thảo vào khoảng 1630 đến 1653 do thông tin trong Tứ chí lộ đồ ứng với khoảng những năm trên. Có thể thấy dù ở những năm 1680 nhưng cụ Đỗ Bá lại "chú" những thông tin cũ cách đó ít nhất 30 năm.


    Vậy cụ thể là cụ Đỗ Bá đóng góp gì
    Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ? Hay cụ chỉ đề tên lên một tài liệu cụ mua được/nhặt được?

    Nếu cụ chỉ cóp lại tài liệu của tiền nhân thì sao lại được ghi là "tập" nhỉ?

    Nói chung là nhức đầu với cụ Đỗ Bá thật đấy
  10. vaputin

    vaputin Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    27/09/2008
    Bài viết:
    5.351
    Đã được thích:
    127
    Dù sao thời đó đàng Trong đàng Ngoài đều chưa ký công ước quốc tế về bản quyền nên hình như cũng có một cụ khác "cầm nhầm" ở đây

    http://newvietart.com/index4.177.html


    ĐỊA DANH KHÁNH HÒA
    THỜI MỞ ĐẤT
    QUA MỘT BẢN LỘ ĐỒ THỜI LÊ




    VỀ TÁC GIẢ VÀ NIÊN ĐẠI CỦA “GIÁP NGỌ NIÊN BÌNH NAM ĐỒ” (GNNBNĐ)

    Năm 1962, Viện Khảo Cổ Sài Gòn có phiên dịch và xuất bản một tập bản đồ cổ trong kho sách Hán Nôm Việt Nam có tên là “Hồng Đức Bản Đồ ” (HĐBĐ)(1). Theo lời giới thiệu của nhóm biên dịch, sách này được in lại từ vi ảnh mang ký hiệu 100891 mà nguyên bản tàng trữ tại Đông Dương Văn Khố ở Tokyo, Nhật Bản. Nội dung sách này gồm 6 tư liệu khác nhau viết ở những thời điểm khác nhau nhưng đều nói về địa lý Việt Nam từ đời Gia Long trở về trước. Hiện nay trong thư viện của Viện Hán Nôm (Hà Nội) cũng có lưu trữ một bản chép tay sách HĐBĐ ký hiệu A.2499. Qua so sánh, đối chiếu với bản của Đông Dương Văn Khố, chúng tôi thấy nội dung và thứ tự trình bày ở hai bản này hoàn toàn giống nhau (2).
    Phần thứ tư của sách HĐBĐ là một tập bản đồ cổ có tên là “Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ” (tạm dịch: Bản đồ dẹp yên miền Nam năm Giáp Ngọ). Trên trang đầu, sau nhan đề có ghi thêm dòng chữ: Đốc suất Đoan Quận công hoạ tiến (tạm dịch: Quan đốc suất Đoan Quận công vẽ xong dâng lên) . Vậy Đoan Quận Công là ai? Lần giở các trang lịch sử trong giai đoạn này, ta thấy ngay một trường hợp đáng chú ý: Đoan Quận Công là tước của Nguyễn Hoàng do vua Lê phong cho trước khi vào trấn nhậm đất Thuận Hóa (1558). Vậy phải chăng Nguyễn Hoàng là tác giả của GNNBNĐ? Nguyễn Hoàng mất vào năm 1613. Nếu quả thật Nguyễn Hoàng là tác giả của GNNBNĐ thì những bản đồ này phải được vẽ trước năm ông mất. Nhưng nếu xem kỹ, ta sẽ thấy trong GNNBNĐ có những địa danh mà thời điểm xuất hiện muộn hơn nhiều.
    Tra cứu các sử liệu thời Lê hoặc viết về thời Lê như “Đại Việt Sử Ký Tục Biên”, “Phủ Biên Tạp Lục”, “Lê Quý Dật Sử”, “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí”, chúng tôi phát hiện rằng nhân vật Đoan Quận Công trong trường hợp này chính là Bùi Thế Đạt, người được chúa Trịnh Sâm phong chức Kiêm Đốc suất Bình Nam Đại tướng quân, đặc phái cùng Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào đánh chúa Nguyễn ở Thuận Hóa và Quảng Nam năm Giáp Ngọ (1774). Đoạn văn trong sách “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn viết về sự kiện này như sau: “Năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774), Giáp Ngọ, tháng 5, trấn thủ Nghệ An là Đoan Quận công Bùi Thế Đạt khải đệ lên tờ báo cáo của Trà Vũ Bá là tướng đồn Bố Chính đại khái nói về tình hình rối loạn ở Quảng Nam. Bấy giờ triều đình đã dẹp yên Hưng Hóa, đánh được Trấn Ninh, thế nước rất thịnh. Chúa Thượng đã biết rõ họ Nguyễn suy yếu, có cơ hội lấy được, thấy tờ khải của Đoan Quận Công, đang đêm cho gọi Chưởng phủ Đại tư đồ quốc lão Việp Quận công Hòang Ngũ Phúc và Tham tụng Đại tư đồ Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm vào bàn, đều nói rằng nên đánh. Bèn quyết kế đi đánh. Tức thì sai Việp Quận công Hòang Ngũ Phúc làm Thống suất Bình Nam thượng tướng quân, Đoan Quận công Bùi Thế Đạt làm Kiêm Đốc suất Bình Nam đại tướng quân đi kinh lược trước” (3). Vậy phải chăng Bùi Thế Đạt chính là tác giả của GNNBNĐ, và năm Giáp Ngọ 1774 cũng chính là niên đại thực hiện bản đồ này?
    Dựa vào sự hiện diện của các địa danh “Thái Khang phủ”, “Diên Ninh phủ” (được lập năm 1653, nay là tỉnh Khánh Hòa) và địa danh “Chính phủ” (lập năm 1687 ở xã Phú Xuân, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong) là những dữ liệu muộn nhất được ghi lại trên bản đồ, chúng tôi cho rằng thời điểm thực hiện GNNBNĐ nằm đâu đó trong khoảng từ năm 1687 (là năm chúa Nguyễn Phúc Thái lập Chính Phủ ở Phú Xuân) đến trước năm 1690 (là năm phủ Thái Khang sẽ được đổi tên thành phủ Bình Khang).
    Sau khi xác định niên đại của GNNBNĐ, ta lại thấy rằng niên đại này dường như mâu thuẫn với chính cái tên của nó, bởi vì năm Giáp Ngọ, như đã xác minh, là năm 1774, cách thời gian bản đồ này được thực hiện gần cả thế kỷ. Chúng tôi nghĩ rằng có thể lý giải điều này như sau: GNNBNĐ đúng là bản đồ do quan Đốc suất Đoan Quận công Bùi Thế Đạt dâng lên chúa Trịnh trong cuộc hành quân vào Nam năm 1774, nhưng có lẽ trong quá trình thám sát, ông đã không trực tiếp vẽ bản đồ vùng đất này vào cùng năm đó (vì nếu thế thì trên bản đồ phải có những địa danh cùng thời xuất hiện), mà chỉ sao chép lại một bản đồ của Đàng Trong đã có từ trước vào cuối thế kỷ XVII. Bản đồ này có thể họ Bùi đã thu thập được từ sổ sách, văn thư của chính quyền chúa Nguyễn đã bỏ lại khi chạy vào Nam.

    CÓ MỘT BẢN ĐỒ KHÁNH HÒA THỜI MỞ ĐẤT

    Năm 1653, sau khi đánh bại vua Chiêm là Bà Tấm, chúa Nguyễn Phúc Tần lấy đất từ phía đông sông Phan Rang đến đầu địa giới Phú Yên đặt làm 2 phủ là Thái Khang (gồm 2 huyện Quảng Phúc và Tân Định) và Diên Ninh (gồm 3 huyện Phúc Điền, Hoa Châu và Vĩnh Xương), tức là địa phận tỉnh Khánh Hòa hiện nay(4). Nếu chúng ta nhận rằng thời điểm vẽ GNNBNĐ nằm đâu đó trong khoảng từ 1687 đến trước 1690 tức là vào khoảng cuối thế kỷ XVII, mặt khác, những sử liệu có đề cập đến vùng đất này như “Phủ Biên Tạp Lục” của Lê Quý Đôn cũng chỉ được viết sau thời điểm ra đời của bản đồ này cả thế kỷ, thì GNNBNĐ chính là một trong những nguồn tư liệu sớm nhất, phản ánh chân xác và kịp thời bộ mặt địa lý-lịch sử của vùng đất Khánh Hòa ở buổi đầu hình thành và phát triển. GNNBNĐ là một bản lộ đồ ghi vẽ lại khá chi tiết sông núi, đường xá, dinh sở, thành lũy, nhà trạm, kho tàng, cầu, chợ, bến đò, cửa biển, hải đảo... kèm theo những lời chỉ dẫn về lộ trình từ Đồng Hới đến biên giới Cao Miên, tức là vùng đất phía nam của Tổ Quốc, giang sơn của các chúa Nguyễn mà thời bấy giờ gọi là xứ Đàng Trong hay Nam Hà. Dưới đây là ảnh chụp trích đoạn GNNBNĐ (phần vẽ 2 phủ Thái Khang và Diên Ninh, tức vùng đất Khánh Hòa hiện nay) và bảng phiên âm các địa danh (bằng chữ Hán và chữ Nôm) trên bản đồ. Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi tạm phân chia bản đồ thành từng ô có đánh số.



    [​IMG]

    Ô trên bản đồ Nội dung ghi chú 1A Phú Yên phủ giáp Thái Khang phủ 1C Điền dĩ hạ 2C Đèo Hổ Dương (5) 3C Bộ Tuần – Quán 4B Kiều – Thị 4C Cỏ Ống - Kiều - Thị - Tô Hà (6) - Tiểu hải môn thâm 4D Nhũ Nương Sơn 5C Vũng Sò 6B Trung cương - Sông Ngang thị 6C Kiều -Trúc tịch hải môn thiểu thâm 7B Đồng Giữa thị 7C Thái Khang doanh: bộ binh nhị bách ngũ thập nhân, thủy
    binh nhị bách nhân - Hoa Đằng Sơn (7) - Vũng Tàu 8C Khố - Nha Tù hải môn (8) trung thâm 9A Thái Khang phủ giáp Diên Ninh Phủ 9C Đèo Nha Trang - Bộ Tuần - Thái Khang phủ tam huyện: Quảng Phúc,
    Tân Khang, Tân Định (9) - Thử phủ công đồng 10C tại doanh 10D Chúa Ngọc tháp (10) - Nha Trang hải môn (11) thâm 11B Chu hành tự Nha ... 11C Diên Ninh phủ tam huyện: Hoa Châu, Phúc Điền, Vĩnh Xương - Diên
    Ninh phủ: bộ binh nhất bách ngũ thập nhân 11D - Khố - Kiều. 12B Tân thị - Vĩnh Hoan hải môn thâm 12C ...Trang hải môn chí Cao Miên hải môn nhị thập nhất dạ Cam Linh –
    Quán - Tuần - Quảng giáp Chiêm Thành Cam Linh môn (12) thâm đại

    __________________________________________________ _______

    CHÚ THÍCH:

    (1) Hồng Đức bản đồ, Viện Khảo cổ Sài Gòn xuất bản, 1962.

    (2) Xem Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, NXB Văn Hóa, Hà Nội 1984, tập 1, tr.345 và Bùi Thiết, Thêm một số bản đồ thời Lê, Tạp chí Khảo cổ học số 1/1982, tr.68.

    (3) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1977, tr.72

    (4) Đại Nam thực lục tiền biên, NXB Sử học, Hà Nội 1962, tập 1, tr.83.

    (5) Đèo Hổ Dương: Sách Lịch triều hiến chương loại chí - phần Dư địa chí của Phan Huy Chú (1782-1840) chép: “Đầu đời Thịnh Đức Hiếu Triết Hoàng đế (Nguyễn Phúc Tần) sai quân đi đánh Chiêm Thành, qua núi Thạch Bi, đỉnh Hổ Dương đi đến trại vua Bà Tấm phóng lửa đốt phá, Chiêm Thành phải xin hàng”. Núi Thạch Bi tức là núi Đá Bia (nằm giữa địa giới hai tỉnh Phú Yên-Khánh Hòa). Vậy đèo Hổ Dương chính là đèo Cả hiện nay

    (6) Tô Hà: Sách Đại Nam nhất thống chí - Tỉnh Khánh Hòa (ĐNNTC) chép: “Núi Tô Hà: Ở phía tây bắc huyện Quảng Phước 59 dặm, trước tên là Hoa Sơn. Sông Tô phát nguyên ở đây cho nên có tên là núi Tô Hà. Gió nam thường từ núi này thổi lại, cho nên có ngạn ngữ: “gió Tô Hà”. Vùng đất phía bắc huyện Vạn Ninh (hiện nay gồm 5 xã Đại Lãnh, Vạn Thọ, Vạn Phước, Vạn Long, Vạn Khánh) trước kia gọi là Tu Bông, phải chăng bắt nguồn từ tên sông Tô (Tô/Tu), núi Hoa (Hoa=Bông) ghép lại?

    (7) Hoa Đằng Sơn: còn có tên là Phước Hà Sơn, tức núi Hòn Hèo (huyện Ninh Hòa). Sách ĐNNTC chép: “Núi Phước Hà: Ở phía đông nam huyện Quảng Phước 5 dặm. Núi này có nhiều cây mây hoa cho nên cũng gọi là núi Hoa Đằng. Sườn núi cao lớn, bao quanh vài mươi dặm, phía đông bắc gối bờ biển, phía tây nam chận ngăn cửa biển Nha Phu”.

    (8) Nha Tù hải môn: tức cửa biển Nha Phu (huyện Ninh Hòa). Sách Đại Nam thực lục chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833) đổi tên tấn sở Nha Tù ở tỉnh Khánh Hòa là Nha Phu”.

    (9) Các sách Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí đều chép phủ Thái Khang gồm 2 huyện là Quảng Phước và Tân Định, nhưng trong GNNBNĐ lại có thêm tên một huyện thứ ba là Tân Khang. Xin chép lại đây để tồn nghi.

    (10) Chúa Ngọc tháp: Bà Chúa Ngọc là cách gọi tôn kính của cả người Chăm lẫn người Việt đối với nữ thần Pô Na-ga hay còn gọi là Thiên Y A Na Thánh Mẫu, nay vẫn được thờ phụng tại di tích Tháp Bà trên núi Cù Lao bên cửa sông Cái, Nha Trang.

    (11) Nha Trang hải môn: cửa biển Nha Trang.

    (12) Cam Linh môn: cửa biển Cam Ranh.




    NGUYỄN MAN NHIÊN

Chia sẻ trang này