1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

[Đi và viết] Lính và những chuyến đi...

Chủ đề trong 'Du lịch' bởi GiangQD, 12/01/2011.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. GiangQD

    GiangQD Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    31/07/2010
    Bài viết:
    224
    Đã được thích:
    0
    Thân phận tình yêu !

    Hôm nay tôi đi tìm gặp một con người đặc biệt! Tôi biết ông qua câu chuyện của những bậc tiền bối cách mạng nơi miền đất Khu V anh hùng và qua cuốn tiểu thuyết Tiếng cồng Ama của nhà văn Dương Kiện. Cuộc đời ông như cuốn sử thi về chàng trai xứ Quảng đi theo cách mạng, theo Bác Hồ từ năm 14 tuổi. Ông trải qua 2 cuộc chiến tranh ác liệt của dân tộc cùng với 4 năm chiến đấu trong đội hình quân tình nguyện Việt Nam tại Salavan - Lào. Đặc biệt trong 10 năm từ 1961-1971, ông được biệt phái làm Bí thư huyện ủy Nam Sông Ba (tỉnh Đắc Lắc) rồi từ đó trở thành một Ama (người cha) của buôn làng Tây Nguyên. Để hòa mình vào cuộc sống với đồng bào, ông đã đóng khố, để tóc dài, cà răng, phơi nắng, đi nương, làm rẫy…và học thông thạo các thứ tiếng Lào, Ê đê, Gia rai…Ông là Ama-Trang (Phạm Thành Hân). Cuộc đời ông đầy biến cố và hy sinh thật khó kể hết. Câu chuyện hôm nay tôi muốn kể là về tình yêu đặc biệt của một người lính đã đi qua mọi giông tố cuộc đời…

    Đà Nẵng ngày mưa tầm tã, trong căn nhà nhỏ của đồng đội Võ Thành Tuất (người viết bản cam kết với người yêu sẽ đợi nhau trở về sau chiến tranh), Ama-Trang 85 tuổi, dáng người cao, gầy nhưng nhanh nhẹn hoạt bát và minh mẫn, sắc sảo vô cùng. Sau cái bắt tay thật chặt và lời chào chân thành từ thế hệ hậu sinh non trẻ, tôi hỏi ông câu đầu tiên: “Thưa bác, hôm qua cháu đọc tiểu thuyết Tiếng cồng A ma của nhà văn Dương Kiện, đọc đến đoạn bác đi hoạt động bí mật ở Tây Nguyên 10 năm không về, vợ bác tưởng chồng hy sinh nên đi lấy chồng khác. Cháu buồn quá!...” Tôi chưa nói hết câu thì ông òa khóc, khóc nức nở đến mức người bạn già Võ Thành Tuất 80 tuổi ngồi bên cũng khóc theo. Tôi thực sự bối rối vì chỉ bởi 1 câu hỏi mà làm hai người lính già đã đi gần trọn cuộc đời phải rơi nước mắt. Ama-Trang vừa nín cơn khóc vừa nói: “Tui và bà ấy chia tay đã 40 năm nay, bà cũng đã mất được hơn 3 năm nhưng mỗi khi nghĩ lại chuyện đó tui lại không cầm được nước mắt. Thực sự là tui và bà ấy còn rất yêu nhau nhưng vì chiến tranh mà tui phải tự tay viết đơn xin ly hôn trong khi lòng còn yêu bà ấy tha thiết…

    Năm 1953, tui đánh trận Tha Tăng-Salavan (Lào) và vị trúng đạn làm vỡ đầu gối trái, đứt gân nên được chuyển về hậu phương. Nhờ bà con Lào, Việt Nam mà tui được đưa bằng cáng suốt cả tháng trời về tới bệnh xá Phước Lộc, Quảng Ngãi. Tại đây tui quen Hoa, cô y tá xứ Quảng đã tận tình chăm sóc tôi suốt mấy tháng trời. Sau khi vết thương bình phục, tôi về ở nhà Hoa một thời gian, chúng tui yêu nhau và quyết định đi tới hôn nhân”. Năm 1954 Ama-Trang cưới bà Nguyễn Thị Hoa trong niềm hạnh phúc vô bờ. Ngay sau đó ông lên Tàu Kilinski (của Ba Lan) tập kết ra Bắc theo hiệp định đình chiến. Ama-Trang đưa vợ ra Việt Trì, rồi Hà Nội sinh sống, hai người có một cô con gái tên Phạm Thị Thanh Trang. Những năm tháng xa miền Nam dù khó khăn vất vả nhưng hạnh phúc vì có vợ có chồng và tình yêu mãnh liệt. Năm 1961, tình hình chiến sự miền Nam phức tạp và đau thương. Ama-Trang học xong lớp tiếng Trung Quốc và từ chối đi công tác tại Đại sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh để xung phong trở lại chiến trường với lời nói dối gia đình là đi học ở Liên Xô…

    Từ đây Ama-Trang trở thành người Ê đê, Gia rai, Bana…của núi rừng. Trận càn năm 1964 khiến ông bị thương nặng và rơi xuống vực sâu, đồng đội tưởng ông hy sinh nên đã kể lại với vợ ông như vậy. Ai ngờ hai cha con thợ săn đi rừng bẫy nai tìm được ông trong đêm tối dưới lòng sông bởi nghe tiếng Radio từ ngực áo phát ra: Đây là đài tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, Thủ đô nước…”. Ở Hà Nội, bà Hoa mặc dù không nhận được giấy báo tử nhưng nghe đồng đội báo tin nên đã lập bàn thờ chồng. Năm 1967 bà đi bước nữa với một cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc... Trở lại với già làng Ama-Trang, sau khi bình phục, ông trở lại với buôn làng và tiếp tục hoạt động trong bí mật tới năm 1971…

    Do sức khỏe yếu, tổ chức đưa ông ra Hà Nội điều trị. Ông về Bắc trong niềm hạnh phúc khôn tả khi nghĩ đến cảnh về nhà gặp lại vợ và con gái giờ đã 17 tuổi rồi…Vậy mà số phận trớ trêu thay, ông bước chân vào nhà nhìn thấy trên ban thờ là tấm ảnh của chính mình và trong phòng hai vợ chồng lại treo bộ quần áo của người đàn ông khác…Niềm vui tan biến bị xâm chiếm bởi sự sụp đổ và đau đớn đến tận cùng khi vợ ông cùng chồng mới và con gái bước vào nhà…Cả 4 con người đều vỡ òa trong xót xa và cay đắng…Ama-Trang thương yêu vợ con và đau khổ bao nhiêu thì vợ ông lại hận mình và oán trách bản thân bấy nhiêu…Người cha dượng thì cảm thấy nhục nhã, xấu xa và dặt vặt bản thân bởi mình cướp vợ của một người lính đi chiến đấu bảo vợ đất nước…Cô con gái rối bời, khổ sở vì thương cha và mẹ…Sau những ngày trăn trở suy nghĩ, Ama-Trang quyết định trở lại miền Nam và viết đơn xin ly hôn để vợ ông được hợp pháp, danh chính ngôn thuận sống với người chồng mới…Ông ra đi để lai nỗi niềm vô bờ bến cho cả 4 con người nhưng đó là giải pháp tốt nhất cho hoàn cảnh bấy giờ !


    Điều cảm động nhất là suốt 57 năm qua, từ 1954 tới tận hôm nay ông vẫn luôn mang theo bên mình tấm hình bà Hoa như một điều vô cùng thiêng liêng, quý giá. 85 tuổi rồi, đi qua bom đạn hai cuộc chiến tranh, không nao núng, run sợ trước kẻ thù, trung kiên với Tổ quốc và nhân dân nhưng ông lại rơi nước mắt khi nhắc về bà…
    Bài thơ ông viết tặng bà khi ở chiến trường năm 1963:

    Bông Trang (tên vợ và con) bên đất quê hương
    Gửi sang anh tặng người thương bên cầu
    Dù cho gian khổ dài lâu
    Quyết chờ thắng lợi, gửi câu hẹn thề

    Liệu có được bao nhiêu tình yêu như thế !


    Chia tay tôi ông còn đọc hai câu thơ để nói tâm trạng mình:
    Cả đời chiến đấu hy sinh
    Chữ trung thì trọn, chữ tình lại vơi...


    [​IMG]

    57 năm qua ông mang tấm hình theo mình

    [​IMG]

    bà Nguyễn Thị Hoa vợ Ama - Trang
    [​IMG]

    người lính Phạm Thành Hân

    [​IMG]


    Phạm Thành Hân đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc năm 1955! Anh hùng La Văn Cầu cụt tay, thứ 2 từ bên trái sang, hàng dưới cùng...


    [​IMG]

    Ama-Trang

    [​IMG][​IMG][​IMG][​IMG]

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]

    kể chuyện ngậm gỗ, cà răng để làm Ama
    [​IMG]

    rót rượu Tây Nguyên


    [​IMG]

  2. GiangQD

    GiangQD Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    31/07/2010
    Bài viết:
    224
    Đã được thích:
    0
    Tờ cam kết qua nửa thế kỷ





    Hôm nay tôi gặp bác Võ Thành Tuất (80 tuổi), nguyên cựu cầu thủ đội bóng Ba Tơ, đội bóng Thể Công từ năm 1957, nguyên cựu chiến binh Sư đoàn 308 (Đại đoàn quân tiên phong), cựu lính dù Lữ đoàn Dù 305 (chỉ huy là tướng Nguyễn Nam Khánh)…Một người lính kiên trung đã qua 2 cuộc chiến tranh và cả mặt trận Lào với vết thương 41% do mảnh đạn tại chiến trường Khe Sanh. Ông cho tôi xem một tờ giấy đầy cảm động được viết năm 1966. Khi đó ông và bà Đỗ Thị Sự (bà ở đoàn Văn công Hà Bắc rất đẹp) yêu nhau nhưng gia đình không đồng ý cho cưới do bà chưa đủ tuổi. Ông lên đường vào chiến trường đánh Mỹ và để giữ gìn lời hẹn ước, hai người đã cùng nhau viết một BẢNG CAM KẾT với nội dung như sau:


    Tôi Võ Thành Tuất và Đỗ Thị Sự. Hai chúng tôi đã tự nguyện, tự do yêu nhau được 1 năm 8 tháng rồi. Nhưng trong thời gian qua, vì điều kiện chưa đủ tuổi cũng như gia đình còn nhiều khó khăn nên không tổ chức được. Nhưng đến ngày nay vì điều kiện chống Mỹ cứu nước, một trong hai chúng tôi phải đi chiến đấu gấp nên cũng không tổ chức được. Chúng tôi phải tạm dừng lại cho đến khi mọi điều kiện cho phép thì hai chúng tôi sẽ tiến hành. Vì thế trước khi tạm xa nhau chúng tôi đồng giao ước và cũng là lời hứa với nhau như sau:
    1. Trong thời gian xa nhau, nếu người được đi chiến đấu không có giấy báo hy sinh thì người ở lại không được đi lấy chồng.
    2. Nếu trong chiến đấu mà bị thương hay người ở lại bị máy bay giặc Mỹ làm bị thương thì lúc bấy giờ tùy hai bên quyết định mà không có sự ràng buộc bên nào.
    3. Dù thời gian xa nhau có dài bao nhiêu, có lớn lên bao nhiêu tuổi đều phải quyết tâm chung thủy với nhau cho đến cùng . Trên đây là ba điều giao ước mà hai chúng tôi đã thảo luận và cam kết nhau. Nếu một trong hai chúng tôi xâm phạm điều này thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Phải lấy tòa án lương tâm và đạo đức con người mà xử.
    Cương Sơn ngày 30-12-1966 Xong lúc 22 giờ 30 phút
    Bên nữ ký tên Bên nam ký tên
    Đỗ Thị Sự Võ Thành Tuất

    Ngoài ra hai ông bà còn đổi nhẫn cho nhau và quy ước đây là kỷ vật duy nhất sẽ không bao giờ rời khỏi tay người giữ nó. Ông tâm sự với chúng tôi rằng, khi đó vào chiến trường chẳng biết sống chết ra sao, viết tờ giấy cam kết chỉ là như lời hẹn ước. Nhưng thực ra trong lòng chúng tôi đã tự hứa với mình là nếu còn sống chắc chắn sẽ về với nhau.Và cam kết đó đã trở thành hiện thực, 2 năm sau ông bà sinh con trai đầu lòng. Năm 1973 ông bị thương ở chiến trường Khe Sanh nên trở về nhà. Ông bà đã có với nhau 4 người con, trong đó con gái Võ Thu Hạnh (hiện công tác tại Báo Quân đội nhân dân Cơ quan thường trực Miền Trung – Tây Nguyên). Đáng buồn là bà chỉ ở được với ông tới năm 1979 rồi mất vì bạo bệnh. Sau này ông có đi bước nữa nhưng trong mọi câu chuyện với thế hệ con cháu sau này, ông luôn nhắc tới bà như một niềm hạnh phúc, tự hào nhất trong cuộc đời mình…

    [​IMG]



    ngày mới yêu nhau 1965
    [​IMG]



    đằng sau bức ảnh cũ nhòe là dòng chữ "Tất cả là hạnh phúc"

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]

    tờ giấy được giữ gìn qua 45 năm năm


    [​IMG][​IMG][​IMG][​IMG]

    cựu trung phong Thể Công Võ Thành Tuất


    [​IMG]

    lính dù Lữ đoàn 305




    [​IMG]
  3. ngogialinh

    ngogialinh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/05/2007
    Bài viết:
    1.113
    Đã được thích:
    8
    Thân gửi cháu GiangQD,

    Giá như mà cháu post những bài viết này trên trang web vnmilitaryhistory để cho các cô các chú CCB xem được thì hay biết mấy.
  4. GiangQD

    GiangQD Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    31/07/2010
    Bài viết:
    224
    Đã được thích:
    0
    cảm ơn bác ngogialinh. Cháu chưa tham gia web đó bao giờ nên ko rành ạ!
  5. ngogialinh

    ngogialinh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    26/05/2007
    Bài viết:
    1.113
    Đã được thích:
    8
    Cháu vào đây và tạo một cái nick để đăng nhập. Bác hay viết ở mục Một thời máu và hoa - Chuyện của lính thối tai chai đít với nick là linh thong tin
    http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php
  6. GiangQD

    GiangQD Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    31/07/2010
    Bài viết:
    224
    Đã được thích:
    0
    PHA LONG NƠI ẤY ANH HÙNG

    Ba năm trấn thủ lưu đồn
    Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan.
    Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn
    Hữu thân hữu khổ, phàn nàn cùng ai.
    Miệng ăn măng trúc, măng mai
    Những dang cùng nứa, lấy ai bạn cùng...


    Những ngày cuối năm, tiết trời miền biên ải Mường Khương, Lào Cai se sắt lạnh, sương sớm đọng hạt long lanh trên từng chồi lá, từng nụ đào đang hé nụ trong sân vườn Đồn biên phòng 235 Pha Long. Một mùa xuân mới đang tới thật gần càng làm nhân lên niềm vui, lòng tự hào của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ mang quân hàm xanh nơi đây khi đơn vị của họ vừa vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) lần thứ 2 (lần đầu năm 1979).

    Điểm tựa biên cương

    Trong niềm vui chung của đồn vừa được ************* phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND lần thứ 2, Thượng tá Trần Quốc Khải, Đồn trưởng Đồn Biên phòng 235 Pha Long kể cho chúng tôi nghe về đơn vị của mình. Đồn Biên phòng 235 thuộc Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Lào Cai đ­ược thành lập tháng 3-1959. Đơn vị đóng quân tại trung tâm xã Pha Long, huyện Mư­ờng Khư­ơng, tỉnh Lào Cai, đ­ược giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với đoạn biên giới dài 18,347 km, gồm 19 cột mốc, từ Mốc 150 đến Mốc 167 (có 1 mốc phụ 165 +1). Ngoài ra còn có cửa khẩu phụ Lồ Cô Chin (Việt Nam) - Lao Kha (Trung Quốc). Nơi đây có đặc điểm đư­ờng biên giới đất liền, địa hình phức tạp, nhiều núi cao, rừng rậm, khí hậu khắc nghiệt (mư­a nhiều về mùa hè, gió rét, sư­ơng mù dày đặc về mùa đông). Bên cạnh đó đường giao thông đi lại khó khăn (chủ yếu là đ­ường mòn). Khu vực biên giới đơn vị phụ trách gồm hai xã Pha Long, Tả Ngải Chồ có 1.077 hộ/5.967 khẩu gồm 8 dân tộc anh em sinh sống, chủ yếu là dân tộc Mông, Nùng, Pa Dí, Tu Dí (người Pa Dí chỉ có ở Mường Khương, Lào Cai)… Với diện tích tự nhiên là 4.807 héc-ta, thuộc diện đặc biệt khó khăn, đây là địa bàn có nhiều phức tạp do lịch sử để lại như hoạt động phỉ, ********* câu móc qua biên giới...

    Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1979, cán bộ chiến sĩ trong đơn vị đã anh dũng, kiên cường phối hợp với quân và dân địa ph­ương chiến đấu, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của địch, tiêu diệt, làm bị thư­ơng hàng trăm tên, thu nhiều vũ khí, khiến địch phải rút lui về biên kia biên giới. Với chiến công đó, đơn vị đã đ­ược Nhà n­ước tặng thư­ởng 2 Huân ch­ương Quân công. Đặc biệt, ngày 19-12-1979 Đồn Biên phòng 235 (trư­ớc đây là Đồn Biên phòng 133 Pha Long, Công an nhân dân Vũ trang tỉnh Hoàng Liên Sơn) đã vinh dự được Chủ tịch n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

    Đồn là nhà, biên giới là quê hương...

    Thiếu tá Phan Đức Mạnh, Chính trị viên Đồn Biên phòng 235 nhấn mạnh rằng, với truyền thống hơn 50 năm là điểm tựa vững chắc nơi biên cương, thế hệ cán bộ, chiến sĩ biên phòng đang công tác tại đồn hôm nay sẽ không ngừng phấn đấu, rèn luyện để giữ gìn và phát huy truyền thống của các thế hệ đi trước. Cán bộ, chiến sĩ của đồn đã luôn đoàn kết một lòng, đồng cam chịu khổ, kiên trì bám trụ, gắn bó máu thịt với đồng bào nhân dân các dân tộc trên địa bàn để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh biên giới.

    Trong những năm qua, đơn vị đã tổ chức tuần tra bảo vệ biên giới hơn 3.120 buổi với 18.070 lư­ợt cán bộ, chiến sĩ tham gia (trong đó có 1.800 buổi/ 3.610 lư­ợt dân quân và nhân dân các thôn bản giáp biên giới tham gia tuần tra), kiểm soát, làm thủ tục qua lại cho hàng nghìn lượt nhân dân qua lại biên giới đúng thủ tục, quy định của pháp luật. Từ năm 2002 đơn vị đã cùng với cấp uỷ, chính quyền địa phương tổ chức giao đoạn biên giới cho nhân dân tham gia bảo vệ. Đến nay đã thành lập đ­ược 10 “Tổ tự quản đ­ường biên, cột mốc”/10 thôn giáp biên giới với 285 hộ dân đăng ký tham gia bảo vệ biên giới. Những hộ dân đăng ký tham gia bảo vệ biên giới thông qua việc đi chăm sóc rừng, ruộng nư­ơng, nhân dân đã tổ chức tuần tra đoạn biên giới cho đồn biên phòng qua đó gắn kết đ­ược trách nhiệm và quyền lợi của ng­ười dân trong từng từng tấc đất, tấc rừng với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng thế trận “Biên phòng toàn dân”, gắn với thế trận “An ninh nhân dân”, “Quốc phòng toàn dân” vững mạnh. Không chỉ có vậy, trong thời gian qua nhân dân đã cung cấp cho đơn vị hàng nghìn nguồn tin giúp cho đồn phối hợp với các lực l­ượng đấu tranh thắng lợi 34 chuyên án, vụ án; bắt giữ 41 đối tượng, thu giữ 19,15kg thuốc phiện, 195 viên ma tuý tổng hợp, 4,570 ống DIAZAPAM, 2,45kg Heroin, 5,4kg thuốc nổ, 14 khẩu súng quân dụng, 12 súng tự tạo, 115 viên đạn các loại... Đồng thời giải thoát cho hàng chục phụ nữ, trẻ em bị bán sang Trung Quốc, đưa về bàn giao cho chính quyền, đoàn tụ cùng gia đình...

    Với nhiều chiến công trong những năm qua, 32 năm sau lần đón nhận anh hùng đầu tiên, tháng 12-2011, Đồn Biên phòng 235 Pha Long đã được ************* phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND lần thứ 2. Mùa xuân mới đang về, xin được chúc các anh nơi miền núi cao mây mù ấy luôn vững lòng, chắc tay súng, chân cứng đá mềm để gìn giữ biên cương thiêng liêng của Tổ quốc.

    Hoàng Trường Giang

    [​IMG]

    tuần tra
    [​IMG]
    điểm tựa
    [​IMG]
    tuần tran với chó Rex đi cùng

    [​IMG]

    dừng chân
    [​IMG]
    Nụ cười biên giới
    [​IMG]
    [​IMG]

    quân dân
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    Vườn rau trên núi

    [​IMG]

    Đồn trưởng Khải và Chính trị viên Mạnh
    [​IMG]
    Chính trị viên Phan Đức Mạnh

    [​IMG]

    trên đường lên Pha Long
  7. windysmile

    windysmile Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    24/02/2004
    Bài viết:
    3.261
    Đã được thích:
    1
    Mình nhớ có lần gặp bạn Giang ở Apachai, mặc quân phục nghiêm chỉnh đẹp trai, chứ không phải lúc say sưa chém gió.
    Bạn bảo là đi lên viết bài về biên giới, post bài dịp đó lên đây được không hả bạn ? Có chuyện gì về Apachai, kể luôn vào đây cho anh em nghe
  8. GiangQD

    GiangQD Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    31/07/2010
    Bài viết:
    224
    Đã được thích:
    0

    Mùa xuân năm ấy chúng tôi ngược sông Đà




    Bao giờ Tây Bắc có kem

    Mường Tè có điện thì em lấy chàng…

    Miền trung những ngày cuối năm mưa dầm và gió lộng, có cô bé “lít đờ” Kathy xinh đẹp ngoài Hà Nội gọi điện hỏi đường và nhờ xin giấy phép để vào Trạm Biên phòng Kẻng Mỏ, nơi thượng nguồn dòng sông Đà kỳ vĩ. Bất chợt tôi nhìn về phương bắc xa xôi lại nhớ mùa xuân năm ấy, nhớ chuyến hành hương thiên lý đến huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu), nơi Đà giang nhập quốc tịch Việt Nam để tận thấy và ghi lại những câu chuyện của thiên nhiên và con người nơi tận cùng miền Bắc đất nước…

    Kỳ 1: Phương bắc ngàn dặm

    Mường Tè chẳng biết từ bao giờ đã trở thành mảnh đất biểu tượng của sự khó khăn, gian nan, cách trở trong mọi câu chuyện day dứt về mảnh đất nơi tận cùng Tổ quốc. Muốn vào huyện Mường Tè chỉ có con đường giao thông bộ “một mùa” độc đạo là tỉnh lộ 127. Chúng tôi rời thị xã Lai Châu khi “sáng thức dậy núi còn đầy trong mắt” để đến thị trấn huyện Mường Tè bằng xe máy với chặng đường 200km bụi mờ mịt. Giao thông chính là cản trở lớn nhất để Mường Tè đi lên phát triển. Mà không chỉ đường vào huyện ngăn sông cách núi, ở đây hành trình của đồng bào ở những xã vùng bắc Ka Lăng, Thu Lũm, Pa Ủ… khi mùa mưa muốn ra trung tâm huyện vẫn thường phải đi bộ cả tuần trời. Một cô giáo cắm bản ở Mù Cả thốt lên khi thấy chúng tôi rồng rắn 5 chiếc xe máy chạy qua con đường mòn đầy vết chân trâu, “sao hôm nay nhiều xe máy qua đây thế vậy?...Có lẽ đối với nhiều người dân nơi đây, giấc mơ ra đến huyện lỵ Mường Tè hay thị xã Lai Châu suốt đời vẫn chỉ là điều xa xỉ…

    Tôi lại nhớ câu chuyện cách đây ngót nửa thế kỷ, từ những năm 50 của thế kỷ trước, có người thầy giáo Nguyễn Văn Bôn (quê ở Hải Phòng) đã tình nguyện xung phong lên đây dạy học. Ông đi bộ 400km từ thị xã Lai Châu cũ để vào Mù Cả (người biến Mù Cả thành sáng cả) truyền chữ cho người Hà Nhì (khi đó được người Pháp gọi là U ní – nghĩa là mông muội). Ông Bôn đã gùi trên lưng bảng, phấn, sách vở…rong ruổi cả tháng trời vượt những con dốc đứng vừa đi vừa úp mặt xuống đường, qua những ghềnh thác hung dữ của dòng Đà giang để mang văn minh vào cho đồng bào… Những ngày đầu tiên ấy ông chặt tre, dựng lớp, vận động người Hà Nhì đến lớp để rồi bỗng sốc giật mình khi chứng kiến cảnh quần hôn của họ…Không nản lòng ông đã cải hóa suy nghĩ của đồng bào để họ biết trồng lúa, biết cái chữ, biết Bác Hồ…Sau này có những người học trò của ông đã trở thành Đại biểu quốc hội, Chủ tịch HĐND tỉnh Lai Châu (Lỳ Khai Phà), Bí thư huyện ủy Mường Tè Lý Anh Po…Ông Bôn trở thành Anh hùng đầu tiên của ngành giáo dục nước Việt Nam do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng. Năm 2004 ông quay trở lại Mường Tè, có những người học trò cũ của ông giờ đã già yếu lắm rồi vẫn đi bộ từ Mù Cả ra huyện để được khóc và nhìn thấy người thầy giáo 50 năm trước…Ai đến Mường Tè bây giờ có thể lại nghe những địa danh dốc ông Thọ (Anh hùng LLVTND Trần Văn Thọ, Công an vũ trang vào bảo vệ và dạy dân trồng lúa, hy sinh vì sốt rét), dốc ông Bôn một cách thân thương nhất…

    Mường Tè từ những năm 90 trở lại khó khăn tới mức tất cả tiếp tế cho các xã vùng Ka Lăng, Thu Lũm, Sín Thầu, Tà Tổng, Mù Cả…đều bằng máy bay trực thăng quân sự. Nguời dân không biết tới đồng tiền Việt Nam bởi họ chẳng bao giờ mua sắm gì, mọi thứ đều là đổi qua lại hoặc có chăng là dùng tiền Nhân dân tệ qua biên giới TQ để trao đổi. Lên Mường Tè lại được nghe người già kể chuyện mấy chục năm trước có hai cô giáo miền xuôi xung phong lên đây dậy học. Họ đi bộ vào, khi leo ngược dốc Tà Tổng (18km liên tục chỉ có lên), lên tới đỉnh mệt quá, hai cô ngồi thở rồi “tè” vào hòn đá trên đỉnh dốc mà khóc rằng: thề không bao giờ đi bộ quay trở ra nữa. Sau này có máy bay trực thăng vào tiếp tế, các cô xin đi nhờ ra thị xã rồi chuồn thẳng về xuôi ko quay lại nữa….

    Người Si La và người La Hủ

    Cách Mường Tè khoảng 35km là xã Kan Hồ nơi định cư chủ yếu của người Si La. Vì cố chạy khỏi sự bụi bặm mịt mù của đường xá để vào đến huyện trước khi trời sập tối mà chúng tôi đã bỏ qua một điểm cần dừng lại. Cho đến khi Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Mường Tè Lò Phù Mé cứ trăn trở nhắc lại rằng, Mường Tè có 5 dân tộc đặc biệt khó khăn thì người Si La ở Kan Hồ là dân tộc đặc biệt khó khăn của cả nước vì họ không chỉ đói nghèo mà còn đang có khả năng suy giảm chất lượng dân số. Người Si La có nguy cơ thoái hóa giống nòi do quan hệ hôn nhân cận huyết thống, bị đồng hóa ngôn ngữ và mai một các giá trị văn hóa truyền thống. Bản làng của người Si La thường nằm cách biệt thế giới bên ngoài, cơ bản là không có đường giao thông, không điện, không nhà văn hóa, không nước sinh hoạt…Đồng bào Si La có cuộc sống hết sức nghèo khổ khi khoảng gần 80% dân số sống trong đói nghèo. Trong khi nền kinh tế tự cung tự cấp của nhiều dân tộc đã dần được thay thế thì các hoạt động của người Si La vẫn mang tính tự phát, manh mún, chắp vá trở thành thói quen cố hữu ăn sâu vào tiềm thức. Kinh tế truyền thống của đồng bào là nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công và khai thác tự nhiên chỉ đóng vai trò bổ trợ. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ ưu tiên phát triển kinh tế-xã hội cho đồng bào thiểu số miền núi, trong đó có công văn 933 năm 2004 để hỗ trợ các dân tộc rất ít người như Si La. Tuy nhiên thực tế cho thấy cuộc sống đồng bài Si La ở Lai Châu vẫn còn muôn vàn khó khăn và nhiều người vẫn còn xa lạ với các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại và cuộc sống văn minh bên ngoài…

    Trên đoạn đường hơn 40km từ đồn biên phòng vào trạm Kẻng Mỏ chúng tôi gặp 2 đứa trẻ người La Hủ nhem nhuốc, trần truồng, run rẩy, ngơ ngác ngồi trông nhau trong căn chòi dựng ven đường. Bên cạnh chúng là nồi cơm nguội vàng ệch, vón cục, đặt trên mấy thanh củi đã nguội lửa. Chúng tôi dừng lại chụp ảnh, hỏi han hai đứa trẻ nhưng chúng không biết tiếng phổ thông mà chỉ mở đôi mắt đen láy với cái nhìn sợ sệt. Anh bạn đồng nghiệp động lòng quá, không đứng dậy nổi và cứ tự trách mình sao không mang theo gói bánh, cái kẹo nào cho chúng, đành rút tờ tiền 50.000 đồng ra đưa cho hai đứa nhỏ rồi vội vã quay đi thật nhanh... Đem nỗi trăn trở đó nói với các anh bộ đội biên phòng ở Đồn 311 Ka Lăng, các anh bảo, với số tiền 50.000 đồng đó, gia đình 5 đến 6 người La Hủ có khi sống được cả tháng trời. Nghe thì khó tin nhưng sự thật là như vậy. Với nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, rau ở rừng, nước ở suối, ngô cằn cỗi trên nương… tiền có chăng chỉ để mua ít muối, ít dầu hỏa, ít thuốc đau bụng mà thôi…

    Bộ đội biên phòng đã phải rất vất vả để giúp người La Hủ (Xá Lá vàng) định cư nhưng mỗi khi bản làng mái ấm biên cương được dựng lên họ cũng chỉ về ở được một thời gian ngắn. Nhà có người ốm là họ bảo đi bởi nghĩ rằng đang sống cùng con ma rồi đó…Ngay cả việc tắm giặt với họ cũng thật kỳ lạ, muốn cho bọn trẻ con tắm, bộ đội phải tóm 1 đứa đem xuống suối trát xà phòng, dầu gội tắm cho nó thơm phức rồi thả ra. Thằng được tắm chạy lên bờ, bọn còn lại lao ra hít hà, thấy thơm tho mới chịu nhảy xuống suối cho bộ đội tắm…



    [​IMG]

    Chàng trai Mường Tè cạnh cột mốc

    [​IMG]

    thị trấn Mường Tè nhìn từ đỉnh cao

    [​IMG]

    bia Lê Lợi năm xưa giờ đã di chuyển về TX LC

    [​IMG]

    tỉnh lộ 127 qua ngã ba sông Đà-Nậm Na

    [​IMG]

    đường vào Ka Lăng

    [​IMG]

    người La Hủ ở Mường Tè

    [​IMG]

    người đàn ông La Hủ mưu sinh trong rừng

    [​IMG]

    hai đứa trẻ người La Hủ bên đường

    [​IMG]

    chúng cứ ngây dại, hoang dã như cây rừng như cỏ hoa...

    [​IMG]

    phụ nữ Si La

    [​IMG]

    mắc điện về Mường Tè

    [​IMG]

    trường tiểu học Mường Tè giờ thể dục
    [​IMG]

    chợ huyện

    [​IMG][​IMG]
    [​IMG]
    ông quần đỏ đại gia nhất

    [​IMG]
    Nghe sông Đà vặn mình rung núi...

    [​IMG]
  9. GiangQD

    GiangQD Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    31/07/2010
    Bài viết:
    224
    Đã được thích:
    0
    Kỳ 2: CÂU CHUYỆN MƯỜNG TÈ



    Chưa đi chưa biết Mường Tè
    Đi rồi mới thấy vãi tè ra luôn…

    Tôi tự trộm nghĩ với suy nghĩ của một kẻ lang thang non trẻ sinh ra, lớn lên ở Lai Châu và đã có vài lần đặt chân tới Mường Tè: Nếu đến Lai Châu mà chưa vào Mường Tè thì như chưa đến Lai Châu, vào Mường Tè mà chưa đặt chân tới Ka Lăng để ghé thăm nơi dòng Đà giang nhập quốc tịch Việt Nam thì như chưa đến Mường Tè….Lai Châu là tỉnh xa xôi, nghèo khó bậc nhất đất nước thì Mường Tè là huyện nghèo khó nhất của Lai Châu. Khi chưa tách tỉnh (2004), huyện Mường Tè là huyện rộng nhất Việt Nam, rộng gấp gần 7 lần thành phố Hà Nội cũ, mật độ dân số trung bình chỉ mấy chục người/km2, cá biệt có những nơi chỉ có 2 người/km2… Ngày nay, diện tích tự nhiên huyện Mường Tè là 3.670 km² với địa hình núi cao xen lẫn thung lũng. Ít người biết đến Mường Tè như một vùng núi cao hiểm trở nhưng nơi đây có những đỉnh núi như Pú Tả Tông (cao 2.109 mét), Pú Đen Đinh (1.886 m), Pú Si Lung (3.076 m ngang ngửa Fanxipan)...
    Đã có một thời ở Mường Tè voi, hổ nhiều như hươu, nai, nhiều đến nỗi khi cậu bé Pờ Hùng Sang (chàng trai người Hà Nhì ở bản Tả Kho Khừ, Sín Thầu nay thuộc huyện Mường Nhé-Điện Biên) 8 tuổi đi học lớp 1 phải đi bộ 147km qua cảng Pác Ma, qua dốc Tà Tổng, qua rừng già hoang vu đã phải luôn tâm niệm trong đầu bố dặn rằng tránh voi ra sao, tránh hổ thế nào…Ở Mường Tè có những câu chuyện ly kỳ, huyền bí và đậm chất sử thi như chuyện ông Pờ Xì Tài ở Sín Thầu khỏe tới mức có thể tay không can hai con nghé húc nhau, có thể bắn súng AK 1 tay rơi diều hâu. Ông Tài là một trong những huyền thoại sống, cây đại thụ, là thủ lĩnh của người Hà Nhì ở ngã ba biên giới, Mường Tè trong nhiều năm. Cuộc đời ông như cây rừng, như đá núi, mạnh mẽ, hoang dã, nguyên sơ và thuần chất đến vô cùng. Cho tới tận những năm gần 70 tuổi về Hà Nội để chữa bệnh với cái hồ sơ “Tiểu đường” mà ông gìa vùng cao vẫn khăng khăng quả quyết với bác sĩ BV 198 rằng: “Cả đời bố không ăn một miếng đường nào thì làm sao bố bị tiểu đường được”…Chỉ có điều ông không nghĩ ra và cũng chẳng nhớ nổi là mình đã ăn bao nhiêu thịt voi, thịt hổ, thịt hươu, nai…uống bao nhiêu mật ong rừng, rượu cao lương…Đó chuyện ông Lỳ Hứ Gía đi rừng gặp hổ, ông leo lên đỉnh thác vần đá ném chết hổ mẹ, bắt sống hổ con (con hổ con sau này được gửi về tặng Vườn thú Hà Nội); chuyện ông Hừ Chè đi săn, bắn được con lợn rừng hơn 1 tạ, ông vác lên vai cõng liền một mạch về bản với đôi chân trần chai sạn đến nỗi dẫm cả lên đám gai hạt dẻ dài vài xăng-ti-mét mà ko hề gì…

    Đó chuyện về Khoàng Phu Cà, Đồn phó quân sự Đồn Biên phòng Pác Ma (nay là đồn Mù Cả), những năm 1980 đi học ở Sơn Tây-Hà Nội, anh nhớ rừng, nhớ sông Đà và sợ cái nóng, cái đông đúc của Thủ đô đến mức hét lên rằng: Nếu học xong tôi sẽ về ngay chứ không ở lại thêm một ngày nào, dù có phong quân hàm cấp tướng tôi cũng về…Đó là lời lẽ tha thiết trong lá thư của Trung đội trưởng người Khơ Mú Lò Văn Xá khi nhờ nhà báo Nguyễn Như Phong (Đại tá, Phó TBT Báo CAND, nay là Tổng biên tập Báo Năng lượng mới của PVN) chuyển về Hà Nội năm 1984 : “Gửi các bạn đang xây dựng Nhà máy thủy điện sông Đà. Các bạn hãy xây nhà máy nhanh lên. Có chúng tôi đang ngày đêm đang bảo vệ đầu nguồn dòng nước khỏi bị bọn TQ làm vẩn đục. Khi nào xong nhà máy, các bạn nhớ cho chúng tôi ít điện…”


    Trên đỉnh Ka Lăng
    Làm trai cho đáng nên trai
    Đêm vô Nậm Củm, ngày vào KaLăng (Longwaves)

    Chẳng phải ngẫu nhiên mà huyện Mường Tè có 4 xã là Mường Mô, Mù Cả, Tà Tổng và Ka Lăng được thực hiện bầu cử quốc hội sớm cùng với huyện đảo Trường Sa…Lần này, chúng tôi đến KaLăng để thỏa ước nguyện tận mắt với miền cổ tích sông Đà kỳ bí. Ai đó đến Ka Lăng một lần, nếu có lòng hẳn ra về rồi sẽ còn day dứt suy nghĩ về mảnh đất xa xôi, núi cao mây mù, rừng thiêng, gió độc…cách Thủ đô phồn hoa nước Việt cả ngàn cây số… Ka Lăng nằm ở độ cao 2000 mét so với mực nước biển, buổi sớm biển mây vẫn vũ, buổi trưa trời xanh ngắt cao vợi, buổi chiều nắng vàng ruộm tưới tràn lên các đỉnh núi, buổi đêm sương giá lạnh tê người…Ka Lăng một ngày có 4 mùa, đủ khắc nghiệt để hành hạ cuộc sống của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm bám trụ nơi đây. Đồn biên phòng 311 là một trong số những đồn xa nhất của Lai Châu và cả nước trên đất liền (xa nhất là đồn 313 Thu Lũm-Mường Tè) khi nằm cách Trung tâm Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh hơn 300km và cách Hà Nội hơn 800km. Đồn Biên phòng 311 quản lý khu vực biên giới của xã Ka Lăng với hơn 32km đường biên với Trung Quốc, trong đó đặc biệt ý nghĩa nhất là mốc 18 và 17.1 tại trạm Kẻng Mỏ là nơi con sông Đà chảy vào nước Việt Nam…

    Tôi gặp Chính trị viên phó Đồn BP Ka Lăng Tô Văn Cường, trông anh già hơn nhiều so với cái tuổi chưa tới 40 của mình. Anh cẩn thận tới mức sau khi xem xong cả mớ giấy tờ, chứng minh thư, thẻ nhà báo, giấy giới thiệu, thẻ sĩ quan…của tôi mà vẫn không đủ yên tâm. Có lẽ nhìn mặt tôi quá non so với cách nghĩ của anh về một tay nhà báo quân đội phóng xe từ tận Hà Nội lên đây. Chưa kể mấy ông bạn đi cùng, ông nào trông cũng lem nhem, lếch thếch, bụi bặm với quần hộp, khăn rằn, kính đen, túi nọ, túi kia…Cực chẳng đã tôi đành phải mò mẫm hứng sóng để gọi điện cho Đại tá Đào Quang Mạnh, Chính ủy BP Lai Châu để xác thực sự việc (cũng có chút cơ duyên, ngày còn ở thành phố ĐBP, nhà tôi cạnh nhà đ/c Mạnh và hay sang đó đánh điện tử nợ tiền, hình như bây giờ vẫn chưa trả hết…). Sau màn kiểm duyệt kỹ càng, anh em trở nên thân thiện và vui vẻ vô cùng, câu chuyện trở nên gần gui và sôi nổi hơn bao giờ hết. Mặc cho Dugia gặm cá Lăng ở trạm, đêm hôm ấy ở đồn Ka Lăng, rượu đổ như thác Kẻng Mỏ (thác đầu tiên trên sông Đà phần lãnh thổ VN). Rượu nhiều đến nỗi tới 2 giờ sáng mà nhà thơ LongWaves vẫn giơ tay đứng lên phát biểu: Tôi xin phép đọc một bài thơ mới cho anh em nghe. Dù bài này cả buổi tối anh đã đọc tới 20 lần…Còn đồng nghiệp HảiDT và Thành John tối đó ngủ chung phòng, chẳng hiểu sao khát nước quá mà có chậu nước tưới cây để trên lan can mà sáng ra…hết sạch…
    Hết kỳ 2...

    [​IMG]

    Buổi sáng ở Đồn BP Ka Lăng
    [​IMG]

    cập bến Ka Lăng
    [​IMG]

    biển mây nhìn từ đồn BP 311
    [​IMG]
    [​IMG]

    lữ khách dừng chân
    [​IMG]

    con đường đẹp như mơ
    [​IMG]

    khai phá
    [​IMG]

    hò zô ta nào ...
    [​IMG]

    đẩy xe qua dốc
    [​IMG]mệt quá
    [​IMG]

    cầu treo Pác Ma, cây cầu treo thứ 2 bắc qua sông Đà, phần lãnh thổ VN
    [​IMG]

    nghỉ ngơi tí đã
    [​IMG]

    người trong giang hồ
    [​IMG]

    đi giữa thiên nhiên


    [​IMG]
    [​IMG]

    thời tiết khắc nghiệt đến nỗi vườn rau của bộ đội đồn BP 311 cũng héo hắt, lụi tàn

    [​IMG]

    lợn cũng còi cọc

    [​IMG]
    [​IMG]

    phút giây thể thao

    [​IMG]

    trạm gác đồn 311, từ đây nếu năng to, trời xanh có thể bao quát cả Ka Lăng
  10. letaon22

    letaon22 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    14/08/2007
    Bài viết:
    56
    Đã được thích:
    0
    Ka Lăng à
    Thứ nhất đường rất xấu
    Thứ hai biên phòng ở đây tra xét như tội phạm và thích đánh rượu hội đồng.
    Nhưng nếu được lựa chọn sẽ vẫn chọn đi lại Ka Lăng- hoang dã đến lạ thường...

Chia sẻ trang này