1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Giải mã các ca khúc của Beatles

Chủ đề trong 'The Beatles' bởi barrygibson, 14/05/2006.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. haitrieu165

    haitrieu165 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    11/05/2006
    Bài viết:
    416
    Đã được thích:
    0
    [​IMG]
    [​IMG]
  2. barrygibson

    barrygibson Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    29/01/2002
    Bài viết:
    546
    Đã được thích:
    1
    Revolver
    [​IMG]
    Sau những chuyến lưu diễn mệt nhoài và những giao kèo sản xuất các album theo kiểu vắt kiệt sức để đáp ứng cơn khát của thị trường, Beatles cuối cùng cũng có được vài tháng nghỉ ngơi năm 1966 trước khi cho ra đời album được đánh giá là hay nhất trong lịch sử nhạc rock ?oRevolver?. Album đánh dấu sự thăng hoa toàn diện về mặt âm nhạc của Beatles. Ca từ của các bài hát trở nên sâu sắc và phản ánh nhiều khía cạnh của cuộc sống hơn chứ không chỉ là những bản tình ca sôi nổi nhưng đơn điệu. Trong khi John thiêng về những cảm xúc cá nhân như trong ?oI?Tm Only Sleeping? hay ?oShe Said, She Said? và những cảm giác siêu thực, kết quả của những lần thử LSD như trong ?o Tomorrow Never Knows? thì Paul bắt đầu quan tâm đến cuộc sống những người chung quanh với những ?oEleanor Rigby? và ?oPaperback Writer? đầy cảm thong. George trong album này thực sự chứng tỏ được tài năng của mình bằng ca khúc mỉa mai ?oTaxman? nhắm và chế độ thuế khoá nặng nề ở Anh và ca khúc mang đậm màu sắc Ấn Độ ?oLove You To?. Về mặt kĩ thuật âm thanh, nhóm đã vượt qua sự giới hạn của công thức guitar và trống để đưa vào âm nhạc những thứ âm thanh chưa từng được giới thiệu trong nhạc pop như tabla, sitar, và dàn kèn đồng. Với sự giúp đỡ của ông George Martin cùng với sự phát triển của kĩ thụât thu âm, Beatles bắt đầu thử nghiệm và tạo ra những hiệu ứng âm thanh khá ?ocách mạng? như hiệu ứng backward trong Rain hay hiệu ứng tiếng tàu ngầm trong ?oYellow Submarine?. Mặc dù mang đầy tình thử nghiệm, Relvover vẫn đảm bảo được sức hấp dẫn của nó với những bài ballad chuẩn mực như ?oHere, There, and Everywhere? hay ?oFor No One?. ?oRelvover? đặt dấu chấm hết cho thời kì ?ođầu nấm? với những ca khúc dễ nghe kiểu ?oShe Loves You? hay ?oI Wanna Hold Your Hand? và mở đầu kỉ nguyên hippie của nhóm Beatles với các sáng tác có giá trị cao cả về mặt lượng và chất.
    Bìa đĩa của album này cũng là cả một câu chuyện thú vị. Theo Pete Shotton, bạn thân của John thì anh cùng với John và Paul nảy ra ý định làm bìa đĩa bằng cách cắt những tấm ảnh Beatles chụp từ các tờ báo rồi dán nó lại với nhau trên một tấm bìa cứng. Sau đó, Klaus Voorman được giao nhiệm vụ vẽ các hình của tứ quái theo phong cách siêu thực để nối các ảnh dán lại với nhau. Lúc đầu nhóm định gọi album là Abracadabra nhưng bỏ ý định đó vì đã có album mang tên như vậy xuất hiện trên thị trường. Những cái tên như Beatles on Safari (ý tưởng của Paul sau những chuyến du lịch ở Nam Phi), Freewheeling Beatles (ảnh hưởng của Bob Dylan), Magical Circles (ý tưởng của John từ những lần phê LSD) và Bubble and Squeak đều bị loại để cuối cùng cái tên Revolver được chọn làm tên của album.
    Album được phát hành vài ngày trước khi Beatles bắt đầu tour diễn cuối cùng của mình. Không có bài hát nào trong album được nhóm chơi lại trong chuyến lưu diễn, đơn giản vì với guitar và trống, nhóm không thể nào thể hiện lại các kĩ thuật phức tạp khi thu âm. Đó cũng là một trong những lí do Beatles ngừng luu diễn hẳn.
    Ở Anh, album được phát hành ngày 5/8/66 và đứng nhất bảng xếp hạng trong vòng 7 tuần liên tiếp. Trong khi đó ở Mỹ, ?oRevolver? đươc phát hành ngày 8/8 với ba bài của John ?oI?Tm Only Sleeping,? ?oAnd Your Bird Can Sing? và ?oDoctor Robert? bị cắt ra và ghép vào album ?oYesterday and Today.? Đây cũng là lần cuối cùng album của Beatles ở Mỹ bị cắt xén với mục đích thương mại như vậy. Album ở Mỹ lên hang nhất vào ngày 9/10 và trụ lại đó sáu tuần.
    Mặc dù bỏ khá nhiều công sức vào album, nhóm Beatles có vẻ khá hoài nghi về sự thành công của nó. Khi đang lưu diễn ở Đức, Paul đã mua album và nghe nó cùng với John và George. Sau khi nghe xong, Paul bỗng dưng có ý định thu hồi lại tất cả các album đã phát hành vì theo anh, album này không giống với những gì nhóm đã từng làm trước đây. Mọi người phải vất vả thuyết phục Paul rằng mọi việc đều ổn và album được giới phê bình lẫn người hâm mộ đón nhận khá nồng nhiệt, Paul mới bỏ ý định dừng phát hành nó.
    Paperback Writer
    (McCartney 8/ Lennon 2)
    UK Chart 2/ US Chart 1
    McCartney: Rickenbacker bas, hát chính
    Lennon: rhythm guitar, hát bè
    Harrison: lead guitar, hát bè
    Starr: drums
    Paul lấy cảm hứng sáng tác bài này trong thời gian giúp một người bạn sắp xếp lại hiệu sách Indica Bookstore. Đặt mình vào vị trí của một nhà văn viết tiểu thuyết, Paul viết bài hát này dưới dạng một lá thư thuyết phục nhà xuất bản cho ra đời tiểu thuyết của mình. Cũng có giả thuyết cho rằng Paul viết bài này khi một người thân trong gia đình khuyến khích anh viết một hit single không phải về tình yêu. Trong lúc giải lao sau một đợt thu âm tại phòng thu, nhìn thấy Ringo say mê đọc cuốn tiểu thuyết bỏ túi mới mua, Paul quyết định viết bài hát về ?oPaperback Writer?. Lần đầu tiên, tiếng guitar bass được sử dụng làm tiếng lead với âm lượng khá lớn và ?odơ?. Để tạo ra hiệu ứng này, kĩ sư phòng thu Ken Townshend đã đặt loa bass đối diện với loa chính để lợi dụng tần số rung động của loa chính khuếch âm tiếng bass. Mặc dù tạo được hiệu ứng mới, Ken Towshend đã bị ban giám đốc của studio Abbey Road quở trách do không tuân theo nguyên tắc bố trí âm thanh. Về hiệu quả tạo ra bới tiếng bass của Paul, John nói đùa rằng: ?oPaul định bắt chước tôi sử dụng hiệu ứng của guitar trong Day Tripper cho bass. ?oPaperback Writer? là con của ?oDay Tripper?. Một điều thú vị về bài hát này nữa là bài hát đồng dao của Pháp ?oFrere Jacques? được sử dụng làm nền. Có giả thuyết cho rằng Beatles đã sử dụng một dàn đồng ca trẻ em để hát phần này, trong khi các giả thuyết khác cho rằng đó là giọng của John, Paul, và George.
    Rain
    (Lennon 10)
    McCartney: bass, hát bè
    Lennon? rhythm, hát chính
    Harrison: lead, hát bè
    Starr: drums, tambourine
    John viết bài này để khẳng định triết lí ?onắng hay mưa là chuyện tự nhiên của trời đất, còn thích hay không đó là chuyện của con người.? Qua đó, John cũng muốn ám chỉ đến sự riêng tư của mình bị bới móc trên các phương tiện truyền thông để người đời mổ xẻ bàn tán. John thu nháp bản này rồi mang về nhà nghe lại. Trong lúc đang phê cần sa, John vô ý xếp cuộn băng gốc theo chiều ngược lại và thế là bài hát được chơi ngược. Cảm thấy thú vị với phát kiến mới này, John đã yêu cầu ông George Martin chen một đoạn băng chơi ngựơc vào bài hát. Ông Martin đã cắt câu? when the rain comes, they run and hide their head? và nối nó vào băng thu âm chính thức theo chiều ngược lại. Từ đó, kĩ thuật sử dụng ?obackward loops? để thu âm được nhóm khai thác triệt để trong các album sau. Một sáng kiến nữa được sử dụng trong bài hát này là sau khi thu âm bài ?oTomorrow Never Knows?, ông Martin cảm thấy nếu thu phần nhạc đệm với tốc độ thật nhanh sau đó chơi lại với tốc độ chậm sẽ hay hơn là thu bằng tốc độ bình thường. Ông đã đề nghị nhóm chơi phần nhạc đệm của bài Rain nhanh gấp đôi, sau đó hạ xuống tốc độ cần thiết. Trước đây, ông đã sử dụng kĩ thuật này với chiều ngược lại, chơi đoạn solo piano của bài ?oIn My Life? với tốc độ chậm rồi tăng nó lên cho đúng nhịp của bài.
    Taxman
    (Harrison 9/ Lennon 1)
    McCartney: bass, hát bè, lead guitar
    Lennon: tambourine, hát bè
    Harrison: lead guitar, hát chính
    Starr: drums
    Với ?oTaxman?, George Harrison là người đầu tiên lên tiếng với chế độ thuế đánh vào nghệ sĩ rất nặng ở Anh. Cứ mỗi một bảng Anh, nghệ sĩ phải nộp thuế đến 96 xu. Do không phải là sáng tác chính như John và Paul, George và Ringo mất đi khoản thu nhập đáng kể từ tiền bản quyền ca khúc. Do vậy mặc dù ở trên đỉnh cao của danh tiếng, trên thực tế, thu nhập của George và Ringo thấp hơn nhiều so với John và Paul. Điều này khiến cho George rất chi li về tiền bạc. Anh cảm thấy mình bị bóc lột công sức lao động qua việc đóng thuế. Trong bài hát George mai mỉa: ?o Nếu anh đi ra đường người ta sẽ đánh thuế con đưòng anh đi, nếu anh ngồi trên ghế, chỗ ngồi của anh cũng bị đánh thuế, ngay cả nhiệt độ cũng bị đánh thuế.? Thủ tướng Anh Edward Heath và Harold Wilson được nhắc đến trong bài hát và trở thành những chính trị gia đầu tiên xuất hiện trong các bài hát của Beatles. Sau này Lennon rất bực tức khi trong cuốn tự truyện ?oI Me Mine?, George đã lờ đi không nhắc tới sự đóng góp của John với ?oTaxman?.
    Eleanor Rigby
    (McCartney 8/ Lennon 2)
    UK Chart 1/ US Chart 11
    McCartney: hát chính
    Lennon: hát bè
    Harrison: hát bè
    Phần nhạc đệm được chơi bởi dàn nhạc dây gồm 4 violins, 4 violas và 2 cellos
    Paul viết phần nhạc bài này theo kiểu ?oYesterday?, có nghĩa là có nhạc trước còn phần lời phải sau một thời gian mới được viết. Cái tên Eleanor Rigby được kết hợp từ tên của Eleanor Bron, nữ diễn viên cùng đóng phim Help! với Beatles và cửa hang rượu mang tên Rigby & Events mà Paul tình cờ thấy được trong một lần dạo phố với Jane Asher. Lúc đầu, tên nhân vật chính trong bài hát là Miss Daisy Hawkins, nhưng Paul cảm thấy cái tên này không được tự nhiên cho lắm. Vì thế anh đổi lại thành Eleanor Rigby cho tự nhiên hơn. Một điều trùng hợp khá lí thú là vào thập kỉ 80, người ta tìm thấy tại nghĩa trang St Peter của hạt Woolton, Liverpool nơi John và Paul lần đầu tiên gặp nhau có một ngôi mộ mang tên Eleanor Rigby được chon năm 1939. Có lẽ Paul đã từng biết đến ngôi mộ này lúc còn ở Liverpool nhưng không nhớ và câu chuyện hư cấu về Eleanor Rigby trong bài hát một cách vô thức có liên quan đến ngôi mộ của Eleanor Rigby người thật tại Liverpool.
    Về tác quyền, đây là một ca khúc gây nhiều tranh cãi. John bảo rằng Paul chỉ viết lời đầu, còn phần lời còn lại, kể cả phần điệp khúc là do mình viết. Điều này làm Paul rất tức giận vì theo anh, John chỉ đóng góp được vài từ trong bài này. Tuy nhiên theo Pête Shotton, người chứng kiến sự ra đời của bài này thì tất cả các tay Beatles đều có đóng góp nhất định, cụ thể là George góp câu: ?oAh, look at all the lonely people!? Ringo đề nghị câu: ?oFather McKenzie, darning his sock in the night? . Cái tên Father McKenzie là do Shôtton đề nghị Paul tìm trong danh bạ điện thoại để thay thế Father McCartney, còn đóng góp của John thì không rõ rang lắm. John chê đoạn cuối là ?ocải lương? nhưng không có ý kiến nào xây dựng cụ thể. Sau này, lời của ca khúc được các trường đại học ở Anh và Mỹ sử dụng để giảng dạy trong chương trình văn học hiện đại Anh.
    I?Tm Only Sleeping
    (Lennon 10)
    McCartney: bass, hát bè
    Lennon: acoustic guitar, hát chính
    Harrison: lead guitar, hát bè
    Starr: drums
    Ca khúc này được sáng tác trong thời gian nhóm Beatles ngừng lưu diễn hẳn. Các thành viên có thời gian để mà tập trung thu âm và hưởng thụ cuộc sống bình yên mà trong thời gian đỉnh cao của cơn Beatlemania họ đã không được hưởng thụ. Lúc này John vừa mua được một căn biệt thự rất đẹp ở Kenwood và anh gần như dành trọn thời gian của mình ở đây. Bản thảo của "I''''m Only Sleeping" được John viết trên bì thư của sở Bưu chính gửi đến nhắc nhở về món tiền 12 pound và 3 shiling John còn nợ thuê bao điện thoại với cái tựa đề đầu tiên là " I''''m Sleeping" và hai câu mở đầu: "Try to sleep again, got to get to sleep".
    Khoảng thời gian thu âm 1966 là khoảng thời gian John bắt đầu chán cuộc sống của một Beatles. Anh thường rút lui để tìm sự yên tĩnh để cho Paul dần dẫn tiến lên nắm lấy quyền lãnh đạo nhóm. Trong cuộc phỏng vấn cho tờ báo Everning Standard (bài phỏng vấn gây scandal khi John phát biểu Beatles nổi tiếng hơn cả Jesus và Cơ Đốc giáo), người phỏng vấn Maureen Cleave đã gọi John là "người lười nhất nước Anh". Chẳng những không phật lòng, John còn khẳng định rằng mình rất lười: " Ngoài việc xem TV, nói chuyện, viết ca khúc và...********, tôi chỉ nằm suốt ngày, chẳng làm gì cả." Lần này đến lượt George Harrison thử nghiệm với kĩ thuật backward bằng cách yêu cầu ông Martin chơi ngược đoạn solo của mình để tạo nên hiệu ứng uể oải, mệt mỏi.
    Love You To
    (Harrison 10)
    Harrison: vocal, guitar, sitar
    Anil Bhagwat: tabla
    George tự hào khoe tài chơi sitar và phong cách âm nhạc Ấn Độ huyền bí trong bài hát này, kết quả của thời gian tầm sư học đạo với nghệ sĩ sitar trứ danh Ravi Shankar, Cái tên ?oLove You to? được chọn một cách ngẫu nhiên vì George không tìm được cái tên nào thích hợp đặt cho nó. Anh gọi nó là ?oGranny Smiths? theo tên một giống táo trước khi đổi thành ?oLove You to?. Không có tay Beatles nào tham gia thu ca khúc này với George.
    Here, There and Everywhere
    (McCartney 10)
    McCartney: acoustic guitar, hát chính
    Lennon: hát bè
    Harrison: lead guitar, hát bè
    Starr: drums
    Một trong những bài hát đẹp nhất về ca từ lẫn giai điệu của Beatles nói chung và của Paul nói riêng. Paul viết bài này bên hồ bơi của nhà John ở Kentwood. Paul đến khi John còn ngủ, trong lúc chờ đợi, anh đã viết ca khúc này với sự ảnh hưởng của ca khúc ?oGod Only Knows? của Beach Boys và giọng ca của Marianne Faithful trong đầu. Sau này, John trả lời phỏng vấn đã gọi bài này là một trong những bài hát mình yêu thích nhất.
  3. haitrieu165

    haitrieu165 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    11/05/2006
    Bài viết:
    416
    Đã được thích:
    0
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
  4. barrygibson

    barrygibson Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    29/01/2002
    Bài viết:
    546
    Đã được thích:
    1
    Yellow Submarine
    (McCartney 8/ Lennon 2)
    US Chart 2
    McCartney: acoustic guitar, hát bè
    Lennon: acoustic guitar; hát bè
    Harrison: tambourine, hát bè
    Starr: drums, hát chính
    Dàn nhạc đệm: kèn đồng
    Tham gia hát phụ hoạ gồm: Mal Evans, Neil Aspinall, George Martin, Geoff Emerick, Pattie Harrison và các nhân viên phòng thu.
    Trái với suy nghĩ của nhiều người, đây là đứa con tinh thần của Paul chứ không phải của John. Khi làm album ?oRevolver?, nhóm Beatles vô tình phá vỡ qui luật bất thành văn của các ca khúc là: dài không quá ba phút, giai điệu và ca từ dễ thuộc và nhất thiết phải viết về tình yêu trai gái. Tuy nhiên, tài năng sáng tác của John và Paul không chấp nhận bị qui luật đó bó buộc, từ sau Revolver, cặp sáng tác này viết về bất cứ những gì họ thích. ?oYellow Submarine? là một bài hát như thế, một bài hát cho thiếu nhi, gợi nhớ đến những kỉ niệm và trí tưởng tượng phong phú của trẻ thơ. Rủi thay, bài hát ra đời khi nhóm Beatles dính líu đến ma tuý nên bài hát bị liên tưởng đến những cảm giác siêu thực mà ma tuý mang lại. Có người còn đoán già đoán non rằng ?oYellow Submarine? là tiếng long chỉ loại thuốc kích thích Nembutan hình con nhộng màu vàng mà Paul hay sử dụng. Vì đây là bài hát theo kiểu vui là chính nên Ringo được phân công hát chính. Một điều khá thú vị là để tạo ra hiệu ứng như tàu ngầm đi dưới nước, John và George đã dung ống hút thổi bong bong vào li nước và sục tay vào một bể nước. Còn tiếng người nói qua hệ thống liên lạc trên tàu ngầm được Jọhn và Paul nói qua một cái li giấy.
    She Said, She Said
    (Lennon 10)
    McCartney: bass,
    Lennon: acoustic guitar, hát chính
    Harrison: lead guitar
    Starr: drums
    Năm 1965, nhóm Beatles trong chuyến lưu diễn ở Los Angeles đã thuê một ngôi biệt thự to ở số 2580 Benedict Canyon để nghỉ ngơi và dĩ nhiên là ?hút hít. Nhiều người nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ Mỹ được mời đến nơi đây cùng với Beatles trong đó có vợ chồng của diễn viên Peter Fonda và Jane Fonda. Theo lời kể của Don Short, phóng viên tờ Daily Mirror thì tất cả mọi người có mặt ngày hôm đó đều phê LSD, ngoại trừ Paul. Khi George nói với Peter Fonda về cảm giác gần chết khi lần đầu tiên thử LSD, Pete bắt đầu lải nhải về kỉ niệm của mình năm 10 tuổi khi vô ý tự bắn vào bụng. Pete hứng chí kể tiếp rằng tim mình ngừng đập thế nào, bị mất bao nhiêu máu và trải qua giải phẫu ra sao để chừng tỏ với mọi người rằng mình mới là người hiểu được cảm giác cận kề cái chết. John vô tình đi ngang qua và nghe đựơc câu chuyện. Dưới tác dụng của LSD, John cảm thấy bực dọc vô cớ vì giống như bị Pete dạy khôn. John giận dữ nói với Peter Fonda rằng: ?oYou?Tre making me feel like I?Tve never been born/ Who put all this **** in your head?? Cơn giận vô lí đó ám ảnh John suốt cả tuần lễ cho đến khi anh quyết định viết nó thành bài hát. Lúc đầu John đặt tựa bài hát là ?oHe Said. He Said? với lời lẽ thô bạo và trực tiếp nhắm vào Peter Fonda: ?o I said, who put all this crap in your head? I know what it?Ts like to be mad. And it?Ts making me feel like my trousers are torn? Nhưng sau này khi nghĩ lại, để tránh phiền phức về kiện tụng có thể xảy ra, John đổi thành She Said, She Said với lời lẽ nhẹ nhàng hơn. Pete Fonda sau khi nghe bài này biết ngay John ám chỉ mình nhưng không làm lớn chuyện cũng như nói cho những người khác biết.
    Good Day Sunshine
    (McCartney 10)
    McCartney: bass, lead vocal
    Lennon:hát bè
    Harrison: hát bè
    Starr:Drums
    George Martin: piano.
    Paul viết bài hát này tại nhà riêng của John trong một ngày nắng đẹp hiếm hoi của nước Anh với sự ảnh hưởng của ca khúc ?oDaydream? của nhóm folk rock Mỹ Lovin?T Spoonful. Nhóm Spoonful kết thân với nhóm Beatles trong tour diễn của Beatles tại Mỹ năm 1965. Sau buổi diễn ở Shea Stadium, John Sebastian đã ra sau sân khấu để chúc mừng nhóm Beatles. Điều khá thú vị là John Sebastian có ngoại hình khá giống John Lennon nên hai tay John thường gọi đùa nhau là anh em song sinh.
    And Your Bird Can Sing
    (Lennon 10)
    McCartney: bass, hát bè
    Lennon: rhythm guitar, hát chính
    Harrison: lead guitar, hát bè
    Starr: drums, tambourine
    Từ năm 1965 trở đi, Paul dành nhiều thời gian để mở rộng kiến thức của mình để nhanh chóng hoà nhập vào giới tiểu tư sản ở London, trong khi John, George, và Ringo vẫn hài long với xuất thân ?oworking class? của mình. Paul không bỏ lỡ một cơ hội nào đến tham dự những vở kịch cổ điển, opera hay tham gia vào các buổi triễn lãm nghệ thuật dành cho giới thượng lưu cũng như du lich vòng quanh thế giới. John cảm thấy ?ongứa mắt? trước thói trưởng giả của Paul nên viết bài này để châm chọc. Trong bài hát, John viết ?o You said you?Tve seen seven wonders, and your bird can sing, but you can?Tt see me? ám chỉ việc Paul ngày càng tự cách li mình với các tay Beatles khác. Tuy nhiên Paul phủ nhận bài hát này nói về mình. Sau này, khi trả lời phỏng vấn báo Playboy, John gọi bài hát này là một bài hát tệ nhất của mình.
    For No One
    (McCartney 10)
    McCartney: bass, piano, hát chính
    Starr: drums, tambourine
    Alan Civil: French horn
    Paul viết bài này trong kì nghỉ trượt tuyết với Jane Asher tại Thuỵ Sĩ với tựa đề ?oWhy did I die?? Tất cả công việc sáng tác và thu âm chỉ diễn ra trong một ngày, sau đó Paul gửi bài hát về để them phần trống và kèn vào. Mãi đến năm 1984, Paul mới chơi lại bài hát này trong bộ phim ?oGive My Regards to Broad Street?. Bài hát phản ánh tâm trạng bất an của Paul trong mối quan hệ của Jane Asher vì không như Cynthia và Pattie, Jane không chịu làm cái bong của Paul mà nhất định theo đuổi sự nghiệp diễn viên của mình. Điều này khiến Paul cảm thấy khó mà giữ được mối quan hệ giữa hai người.
    Doctor Robert
    (Lennon 7,5/ McCartney 2,5)
    McCartney: bass, hát bè
    Lennon: harmonium, maracas, hát chính
    Harrison: lead guitar
    Starr: drums
    Nhân vật bác sĩ Robert trong bài hát này lúc đầu được nhiều người cho rằng đó là Charles Robert, phụ tá của hoạ sĩ lập dị Andy Warhol, người chuyên lo về việc hút hít cho ông này. Tuy nhiện, sau này mọi người mới phát hiện ra Charles Roberts là một nhân vật tưởng tượng không có thực. Kì thực, ông bác sĩ Robert trong bài hát của John là bác sĩ người Đức mang tên Robert Freymann, người chuyên cung cấp chất amphetamine cho giới nghệ sĩ như một thứ thuốc an thần. Cho đến năm 1967, chất amphetamine vẫn được cho là hợp pháp tại Mỹ.
    I Want to Tell You
    (Harrison 10)
    McCartney: bass, piano, hát bè
    Lennon: tambourine, hát bè
    Harrison: lead guitar, hát chính
    Starr: drums
    George viết bài này như để giải toả những khỏ khăn không thể nói bằng lời. Trên thực tế, có lẽ luôn là người trầm lặng nhất và bị chèn ép bởi cái bong của hai ông khổng lồ Lennon và McCartney, George luôn cảm thấy rằng tiếng nói của mình không có trọng lượng. Lúc viết bài hát này, George không nghĩ rằng nó sẽ được đưa vào album nên chỉ gọi nó bằng cái tên ?oLaxton?Ts Superb? theo tên một giống táo, sau đó gọi là ?o I Don?Tt Know?. Cái tựa ?o I Want to Tell You? là do ông Martin đề xuất.
    Got to Get You Into My Life
    (McCartney 10)
    McCartney: bass, hát chính
    Lennon: tambourine
    Harrison: lead guitar
    Starr: drums
    George Martin: organ
    Eddy Thorton, Ian Hamer, Les Colon: trumpet
    Alan Branscombe, Peter Comb :tenor sax
    Paul viết bài này theo phong cách Motown của nhóm Supreme. Đây cũng là bài hát đầu tiên nhóm Beatles thu âm với dàn kèn đồng. John thích ca khúc này vì theo anh đây là một bài có ca từ đẹp. Tuy nhiên John cho rằng Paul viết bài hát này về ma tuý dưới dạng một bản tình ca. Ca từ ?o another kind of mind? ám chỉ đến việc sử dụng ma tuý. Năm 1967, Paul đã thú nhận trên truyền hình về vịêc sử dụng chất kích thích khiến nhiều fan tức giận và thất vọng.
    Tomorrow Never Knows
    (Lennon 10)
    McCartney: bass,
    Lennon: tambourine, hát chính
    Harrison: tambourine, sitar
    Starr: drums
    George Martin: piano
    Đây là ca khúc ?ođiên? nhất của Beatles cho tới thời điểm này. Mặc dù là track cuối cùng của album, đây lại là ca khúc được viết đầu tiên và thu âm đầu tiên. Cảm hứng của bài hát này được lấy từ cuốn sách Psychedelic Experience của Timothy Leary viết năm 1964, dịch lại từ cuốn kinh Book of the Dead của Phật giáo Tây Tạng. The Psychedelic Experience là cách giải thích thiên về ảo giác do ma tuý đem lại của cuốn Book of the Dead. John thích cuốn sách này và lập tức viết ca khúc ?oThe Void? dựa vào những triết lí trong sách. Tựa đề ?oTomorrow Never Knows? là ý tưởng của Ringo. Khi thu âm ca khúc này, mỗi Beatles được giao nhiệm vụ tạo ra những âm thanh ngẫu nhiên trên những băng gốc rồi mang những băng này đến giao cho Paul sắp xếp chúng với nhau trên chiếc máy thu âm hiệu Grundig. Paul để cho các băng gốc này chạy với tốc độ nhanh qua một đầu tẩy của bút chì và lợi dụng sự ma sát đó gọt bớt đi những tạp âm. Về phần hát, John muốn giọng hát của mình phải nghe như tiếng tụng kinh của các nhà sư Tây Tạng vọng từ trên núi cao xuống. George Martin đã dung loa xoay Leslie để tạo ra hiệu ứng mà John đòi hỏi.
  5. barrygibson

    barrygibson Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    29/01/2002
    Bài viết:
    546
    Đã được thích:
    1
    Penny Lane
    (McCartney 8/ Lennon 2)
    UK Chart 2/ US Chart 1
    McCartney: bass, Arco String bass, Mellotrone, hát chính
    Lennon: piano, hát bè
    Harrison: conga drum. Firebell
    Starr; drums
    George Martin: piano
    David Mason: piccolo trumpet
    Philip Jones: trumpet
    Theo Paul, Penny Lane là tên của một bùng binh của thành phố Liverpool nơi có một tiệm hớt tóc mà lúc nhỏ John, Paul và George đã từng được người chủ tiệm người gốc Ý Bioletti cắt tóc cho. Tuy nhiên trên thực tế, ở Liverpool chỉ có con đường mang tên Penny Lane và một khu vực mua sắm với cái tên không chính thức là Penny Lane. Những thứ như bùng binh, ngân hang, tiệm hớt tóc và trạm cứu hoả đều không nằm trên con đường mang tên Penny Lane mà nằm rải rác trong khu vực Penny Lane, chủ yếu trên đường Allerton. ?oPenny Lane? là ca khúc gợi nhớ những kỉ niệm thời thơ ấu của Paul McCartney tại Liverpool. Paul có cảm hứng sáng tác ca khúc này sau khi đọc bài thơ ?oFern Hill?, một bài thơ với những hồi ức tuổi thơ của nhà thơ Mỹ Dylan Thomas. Penny từ âm nhạc đến hình tượng mang một nét Anh rất đặc trưng. Đây là lần đầu tiên một địa phương của Anh với phong cảnh được mô tả trong nhạc rock thay vì những ?oChicago? hay ?oKansas city? hay ?oNew Orleans? của Mỹ. Điều này chứng tỏ rằng, nhạc rock Anh bắt đầu có vị trí cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngang ngửa với nhạc rock Mỹ chứ không chỉ đứng ở vị trí thứ hai nữa. Điều nghịch lí là mặc dù bài hát đứng hạng nhất ở Mỹ, ở Anh nó chỉ xếp hạng thứ 2. Đây là đĩa đơn đầu tiên của Beatles từ ?oPlease Please Me? không lọt vào hạng nhất bảng xếp hạng ở Anh. Trong bài hát, Paul sử dụng hai cụm từ tiếng long khá tục của thành phố Liverpool là ?ofinger pie? và ?othe fireman keeps his fire engine clean?.
    Do sự nổi tiếng của bài hát, khu Penny Lane ở Liverpool đã trở thành khu du lịch hút khách vào bậc nhất. Tấm biển tên đường Penny Lane cũ đã bị ai đó gỡ mất để làm kỉ niệm. Chính quyền thành phố phải thay vào đấy một tấm biển mới gắn vào tường ở xa tầm với của các du khách để tránh bị mất cắp. Tiệm hớt tóc xưa đã trở thành một beauty salon với hình của nhóm Beatles dán ở cửa ra vào. Bùng binh xe bus được sửa chửa và biến thành quán rượu mang tên Sgt Pepper?Ts Bistro. Một tiệm rượu nữa mang tên Penny Lane thu hút khách du lịch với lời bài hát được viết trên cửa sổ.
    Được phát hành dưới dạng đĩa đơn cùng với ca khúc cũng nổi tiếng không kém "Strawberry Fields Forever" của Lennon , "Penny Lane" khiến kẻ đã trót yêu hình ảnh "comple, đầu nấm" và những ca khúc đơn giản như "She Loves You" hay "Love Me Do", bị shock nặng. Việc Beatles tuyên bố ngừng lưu diễn vĩnh viễn đã khiến họ cảm thấy hụt hẫng. Giờ đây với những ca khúc phức tạp và đầy tính triết lí cùng với hình ảnh những chàng trai Beatles râu ria rậm rạp lại càng khiến cho các cô các cậu thiếu niên thấy rằng mình bị phản bội. Tuy nhiên đối với những người hâm mộ thực sự và giới phê bình, đĩa đơn này được hoan nghênh như một bước trưởng thành thực sự về mặt nội dung lẫn nghệ thuật của nhóm Beatles. Thoát khỏi được cái vỏ bọc hiền lành dễ thương nhưng đầy tính thương mại và những cuộc lưu diễn dường như bất tận, tứ quái Beatles đã được sáng tạo theo đúng tài năng thiên phú của mình. "Penny Lane/ SFF" mở đầu cho cuộc cách mạng thử nghiệm trong âm nhạc với tất cả các ý tưởng điên rồ nhất của những năm cuối thập niên 60 với thể loại psychedelic và progressive/art rock.
    Strawberry Fields Forever
    (Lennon 10)
    US Chart 8
    McCartney: bass, bongos, piano, Mellotron,
    Lennon: lead guitar, harpsichord, hát chính
    Harrison: lead guitar, tympani
    Starr: drums
    Mal Evans: tambourine
    Philip Jones: alto trumpet
    Session musicians: 2 cellos, 2 horns
    Sau khi ngừng đi tour, các tay Beatles dành một khoảng thời gian ngắn để nghỉ ngơi và "giải độc". John bay sang Tây Ban Nha để tham gia vào bộ phim "How I Won the War" trong vòng sáu tuần lễ. Tại đây, anh đã sáng tác "Strawberry Fields Forever", ca khúc được xem như là cột mốc của thể loại psychedelic rock và là một trong những ca khúc hay nhất của Beatles. Strawberry Field trên thực tế là trại mồ côi của tổ chức tôn giáo từ thiện Salvation Army trên đường Beaconsfield, Woolton, cách ngôi nhà của dì Mimi chỉ khoảng 5 phút đi bộ.Thuở nhỏ, John và các bạn như Pete Shotton và Ivan Vaughan hay đến chơi đùa.
    Về mặt nội dung, "SFF" là những hồi tưởng về những kỉ niệm thời thơ ấu của John Lennon đan xen với triết lí cuộc sống theo kiểu rất "John". Anh cảm thấy áp lực nặng nề trong cái vỏ bọc của một người nổi tiếng trong một thế giới đầy nghi kị và hiểu lầm. John cảm thấy mình không được sống thật như chính bản thân mình muốn sống để rồi mơ ước được cùng với người mình yêu đi về những cánh đồng dâu, một miền đất hoang đường cổ tích nhưng lại là một miền đất không có những lo toan bề bộn. Ca từ và âm nhạc của "SFF" đã thể hiện được độ chín về mặt tư tưởng của John Lennon, mở màn cho những sáng tác mang tầm vóc thiên tài khác.
    Khi trở về Anh, John trình bày ca khúc này với nhà sản xuất George Martin và các con bọ khác bằng guitar thùng. Ngay lập tức, mọi người đều nhận ra đây là một ca khúc thực sự tuyệt vời. Với John Lennon chơi guitar thùng và hát chính, Paul McCartney chơi mellotron, George Harrison chơi slide guitar và Ringo chơi trống, nhóm đã hoàn thành phiên bản đầu tiên của "SFF" ngay trong chiều hôm ấy và mọi người đều cảm thấy mãn nguyện trước thành quả của mình.
    Nhưng khi chưa kịp đưa ca khúc ra phát hành, John bất chợt lại đổi ý vì anh cảm thấy chưa vừa lòng với bản thu âm này. Anh muốn hát phần điệp khúc trước khi vào lời chính. Anh mang ý nghĩ của mình nói với Paul và kì lạ thay chính McCartney cũng trăn trở với "SFF". Anh bỏ ra hàng tuần đánh vật với nhạc cụ Mellotron để tạo ra khúc intro hoàn hào cho bài hát.Thế là phiên bản thứ hai hoàn hảo hơn được thu âm ngày 28/11/1966 dưới sự chỉ đạo nghệ thuật của George Martin với phần intro bằng tiếng sáo giả của nhạc cụ Mellotron và phần điệp khúc mở đầu bài hát. Nhưng chỉ trong vòng một tuần, Lennon lại tìm George Martin để xin thu âm lại ca khúc. Là một nhạc sĩ viết nhạc theo cảm tính chưa từng được đào tạo một cách chính qui, John Lennon có nhiều ý tưởng độc đáo nhưng anh không biết diễn đạt thế nào bằng giấy trắng mực đen để có thể biến ý tưởng thành hiện thực. Rất may cho John và cho cả nhóm Beatles vì George Martin không những là một nhà sản xuất giàu kinh nghiệm, được đào tạo bài bản mà còn là một người biết lắng nghe và ủng hộ những ý tưởng mới. Chính ông là người đã biến nhiều ý tưởng tưởng chừng như điên rồ của John, Paul và George thành những bản thu âm chuẩn mực cho các nghệ sĩ đàn em noi theo. Lần này ý tưởng thu âm của John làm cho mọi người khá kinh ngạc. Anh muốn sử dụng dàn nhạc khí dây và kèn đồng để thu âm để tăng độ dày cho ca khúc. Được Martin chấp thuận dễ dàng, George Harrison được nước "mè nheo" đòi đưa nhạc cụ swordmandel của Ấn độ vào ca khúc. Việc thu âm ca khúc ngày càng trở nên phức tạp và tốn kém hơn.
    Phiên bản hoàn chỉnh thứ ba của "SFF" hoàn thành vào ngày 21/12/1966 với đầy đủ guitar, Mellotron, dàn nhạc dây, kèn đồng, sáo và swordmandel, gần một tháng sau khi ca khúc được John giới thiệu với mọi người. Lần đầu tiên trong lịch sử nhạc rock, một ca khúc được thu âm lâu và có nhiều thay đổi đến như vậy được biết đến.
    Nhưng rồi cả phiên bản này cũng không làm vui lòng chàng Lennon khó tính. Anh nói với George Martin rằng mình vừa thích cả phiên bản "sạch sẽ" lẫn phiên bản mới và đề nghị George tìm cách nối hai phiên bản lại với nhau. George giải thích rằng hai phiên bản được thu âm với hai tone nhạc khác nhau và tốc độ cũng khác nhau nên việc nối chúng lại là một việc không đơn giản. Không chịu thua, John năn nỉ George tìm cách nâng tốc độ của phiên bản 1 và giảm tốc độ của phiên bản 2 xuống cho đến khi chúng cùng tốc độ và đổi về cùng một tone. Thay vì bực mình vì bị yêu sách quá nhiều, George Martin một lần nữa chấp nhận yêu cầu của John. Và đó là bản thu âm mà các fan hâm mộ đã được thưởng thức, một ca khúc được thu âm phức tạp nhất tính tới thời điểm đó.
  6. barrygibson

    barrygibson Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    29/01/2002
    Bài viết:
    546
    Đã được thích:
    1
    Sgt Pepper?Ts Lonely Hearts Club Band​
    Năm 1967 là một năm quan trọng trong lịch sử của âm nhạc đương đại. Nó đánh dấu sự toàn cầu hoá của chủ nghĩa hippie và cái được gọi là ?omùa hè của tình yêu?. Ở Mỹ, khi các nhóm acid rock như Doors, Jefferson Airplane, Grateful Dead bắt đầu cho ra đời những album mang tính thử nghiệm với ảnh hưởng của ma tuý ngày càng rõ rệt thì ở Anh, Beatles là nhóm đầu tiên khơi mào cho loại âm nhạc đầy tính sáng tạo. Nếu như ?oRevolver? đánh dấu sự bứt phá của nhóm ở mức ban đầu thì Sgt. Pepper năm 1967 làm thay đổi hoàn toàn cách nhìn nhận của mọi người về khái niệm album. Cho đến những năm giữa thập niên 60, thành công của một ban nhạc còn dựa vào sự phổ biến của đĩa single. Thông thường, nếu một nhóm nhạc có đĩa single bán chạy và có tên trên bảng xếp hạng thì hang đĩa sẽ góp nhặt khoảng mười bài hát vô thưởng vô phạt nào đó để cho nhóm nhạc đó thu âm rồi dồn cả mớ hổ lốn ấy vào một album. Và một single ăn khách cho tới thời điểm đó phải thoả mãn ba yêu cầu nhất định : không được dài quá ba phút, có nội dung về tình yêu và quan trọng là phải dễ thuộc. Nếu so sánh công thức của một single ăn khách lúc đấy với các bài hát kiểu UPH, DT hiện nay của ta thì quả thật không khác nhau bao xa. Nhưng Beatles là một nhóm hoàn toàn không chịu để khả năng sáng tạo tuyệt vời của mình bị trói buộc bằng những qui định mang đầy tính thương mại như vậy. Với single ?oPenny Lane/ Strawberry Fields Forever? nhóm làm các fan hâm mộ cũ sửng sốt thậm chí quay lưng. Nhưng bù lại, Beatles mở rộng tầm ảnh hưởng của mình đến những đối tượng trước đây chỉ xem nhóm như là một nhóm nhạc pop bình thường. Khi ?oSgt Pepper? ra đời, bỗng nhiên mọi bài hát trong album đều có giá trị ngang nhau, và các bài hát trong đĩa single không xuất hiện trong album như một chiêu thức câu khách. Điều đó có nghĩa là người nghe nhạc mua album để thưởng thức những ca khúc hoàn toàn mới chứ không phải mua album vì đĩa đơn trích từ album đó ra đạt đựoc thành công. Với 105 giờ thu âm cùng với những điều kiện thu âm hiện đại nhất, nhóm có cơ hội vươn tới những giới hạn thiên tài và điên rồ nhất của sáng tạo.
    Nhiều người vẫn cho rằng ?oSgt. Pepper? là concept album đầu tiên của nhạc rock, thật ra điều này không chính xác lắm. SP chưa bao giờ là một concept album theo đúng nghĩa của từ này mặc dù nó được dự định làm theo hướng đấy. Giữa các bài hát trong album không có mối liên kết như các bài hát trong một concept album thực sự ngoài trừ ca khúc chủ đề ?oSgt. Pepper?Ts Lonely Heart Club Band? và phần reprise của nó. Tuy nhiên, có một điều không thể chối cãi được là mỗi ca khúc trong album đều có một vẻ đẹp nhất định và được đầu tư khá kĩ lưỡng về mặt nội dung lẫn nghệ thuật. Trong suốt cả album, không có bài hát nào chỉ đơn thuần nói về tình yêu trai gái bình thường. Một điều quan trọng hơn nữa là SP khuyến khích các nhóm nhạc và nghệ sĩ Anh viết và hát về những gì xung quanh mình, về cuộc sống của những người Anh chứ không phải hát lại hoặc bắt chước theo người Mỹ. Có thể nói không ngoa rằng, từ sau SP, British pop mới thực sự được sinh ra với những nhóm nhạc Anh như Kinks, Bee Gees, Traffic, những nhóm nhạc theo gót Beatles đưa văn hoá Anh vào âm nhạc của mình.
    Về mặt hình ảnh, nhóm Beatles đã thay đổi hình tượng của mình bằng cách để tóc dài và ria mép từ khi làm album Revolver, tuy nhiên, họ vẫn chưa thực sự dám giới thiệu hình ảnh mới của mình với công chúng cho đến khi single ?oPenny Lane/ Strawberry Fields Forever?. Điều này giải thích tại sao Beatles lại chọn giải pháp cắt dán những hình ảnh của nhóm trên báo từ những năm trước để làm bìa cho album ?oRevolver?. Sự thay đổi về mặt nghệ thuật cũng như hình ảnh bên ngoài đối với Beatles là một thắng lợi lớn, nhưng đối với ông Brian Epstein, đó là một trong những bất lợi. Với vai trò là một người quản lí, lợi nhuận chính mà ông Epstein thu đựơc là từ những show diễn live của nhóm. Việc Beatles quyết định ngừng lưu diễn vĩnh viễn là một đòn khá nặng giáng vào vai trò dẫn dắt và quan trọng hơn là chén cơm của ông Epstein. Giờ đây, các con bọ trút bỏ luôn cái vỏ bên ngoài ?omày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao? để khoác vào cái lớp vỏ già dặn hơn là hoàn toàn đi ngược lại qui luật của thị trường. Ông Brian có thể không quan tâm đến sự phát triển về mặt âm nhạc của nhóm vì điều đó không có lợi gì cho ông một khi Beatles thay đổi hình tượng và ngừng lưu diễn. Ngược lại, nhóm Beatles cũng không cần quan tâm đến cái gọi là lợi nhuận thị trường của thời kì đầu nấm với những chuyến lưu diễn và họp báo bất tận. Điều quan trọng nhất đối với Beatles trong thời điểm đó là chứng tỏ được năng lực sáng tạo thật sự của mình. Từ bỏ vai trò những ngôi sao nhạc pop, tứ quái bắt đầu gánh vác sứ mạng nặng nề hơn, sứ mạng của những nhà tiên tri, những người lãnh đạo về văn hoá (hay đúng hơn là của phong trào phản văn hoá) của giới trẻ trong thập niên 60.
    Với tầm vóc vĩ đại của album, tất nhiên bìa đĩa cũng là một chuyện đáng phải bàn đến. Ý tưởng về bìa đĩa của SP là do Paul đề xướng với ý nghĩa là ?omọi người? tập hợp xung quanh tâm điểm là tứ quái trong hình tượng mới Sgt. Pepper?Ts Lonely Hearts Club Band. Và dĩ nhiên, ?omọi người ở đây? không phải là bất cứ ai mà là những người nổi tiếng, trong đó có cả nhóm Beatles cũ. Bìa đĩa thể hiện tham vọng của nhóm Beatles vượt lên tất cả những đỉnh cao về mặt văn hoá, chính trị, nghệ thuật của thời đại. Mỗi thành viên của Beatles được hỏi ý kiến về việc chọn lựa những gương mặt muốn đưa lên bìa đĩa. George muốn sử dụng những hình ảnh các thầy tu Ấn Độ, Ringo thì không hứng thú lắm với chuyện này nên để việc chọn lựa cho John và Paul đảm nhiệm. Trong số những gương mặt mà John chọn có chúa Jesus, thánh Gandhi của Ấn độ và nhà độc tài Hitler. Với scandal Beatles nổi tiếng hơn chúa Jesus năm trước, hang EMI không dại gì mà đưa hình ảnh chúa Jesus lên bìa đĩa một lần nữa. Hình của Hitler cũng bị loại do không muốn chọc giận người Do Thái mà gần nhất là ông Brian Epstein. Cuối cùng cả hình của Gandhi cũng bị loại vào giờ chót thay vào đó là hình của nữ diễn viên Diana Dors vì hang sợ làm phật long cộng đồng người Ấn. Người khổ nhất trong vấn đề này không ai khác hơn là ông Epstein. Là đại diện của nhóm về mặt pháp lí, ông Epstein phải liên hệ với hầu hết những người có mặt trên bìa đĩa để xin phép họ cho sử dụng hình ảnh của mình trong vòng thời gian một tuần. Nhiều người tỏ ra dễ chịu nhưng cũng có nhiều ngôi sao không cảm thấy thoải mái trong việc sử dụng hình ảnh của mình trên đĩa của Beatles. Shirley Temple đòi phải cho nghe album trước khi cho phép sử dụng hình của mình còn Marlon Brando thì lúc đầu cực lực phản đối. Cho đến ngày chụp bìa đĩa vẫn có hơn một nửa số nhân vật chưa được xin phép. Do quá căng thẳng vì sợ bị thưa kiện, trong chuyến bay từ New York về London, ông Epstein đã đánh điện về cho trợ lí của mình rằng nếu ông có mệnh hệ nào do tai nạn máy bay thì album phải được phát hành với bìa giấy màu nâu đơn giản để tránh phiền phức về mặt pháp luật.
    Pete Blake, người chịu trách nhiệm thiết kế bìa đĩa phải mất hai tuần để sắp xếp các nhân vật cho hợp lí. Nhóm Beatles xuất hiện với bộ quân phục kiểu Victorian sặc sỡ và thay vì cầm những cây guitar quen thuộc, nhóm lại ôm những cây kèn như một ban quân nhạc. Mặt trống Ludwig với logo Beatles nổi tiếng được thay thế bằng mặt trống kẻ tên Sgt. Pepper?Ts Lonely Hearts Club Band. Các nhân vật đứng cùng hang với Beatles là tượng sáp được mượn từ bảo tang Madam Tussaud, còn lại tất cả đều được làm bằng bìa cứng.
    Không chỉ dừng ở đó, bên trong đĩa là cuốn booklet với tên của tất cả các nhân vật ngoài bìa đĩa được đánh số thứ tự cẩn thận theo trình tự sắp xếp, một postcard, hai cầu vai và huân chương cùng với ria mép của Sgt. Pepper và một bức hình nổi của nhóm Beatles có thể cắt ra, (những thứ này không có trong booklet của đĩa CD). Và quan trọng hơn hết là lần đầu tiên trong lịch sử nhạc pop, tất cả lời của các ca khúc được in trong booklet kèm theo album.

    Như vậy với khẩu hiệu ?o a splendid time is guaranteed for all,? và một album được đầu tư cẩn thận đến từng chi tiết nhỏ nhất, SP ngay từ khi chưa phát hành đã đảm bảo một thành công rực rỡ. Thật vậy, khi được phát hành ngày 1/6/67 ở Anh, album đã leo thẳng lên hạng nhất bảng xếp hạng và bán được 250.000 bản ngay trong tuần đầu tiên. Ở Mỹ, thắng lợi của album còn kinh khủng hơn. Ngay từ lúc trước phát hành, album đã được đặt hang trước 1 triệu bảng và trong vòng ba tháng đầu tiên, doanh số bán ra đã vượt con số 2,5 triệu bảng. Album đã đứng nhất Billboard suốt 15 tuần liên tiếp. Tuy nhiên, tình cảm của từng con bọ đối với album này hoàn toàn trái ngược nhau. Bắt đầu từ album này, Paul bứt phá lên giành vị trí đầu tàu, ý tưởng của album cũng là của Paul, phần lớn các sáng tác trong album cũng là của Paul nên việc Paul hoàn toàn thoả mãn với đứa con tinh thần của mình cũng là điều dễ hiễu. John, mặc dù không có nhiều đất diễn như Paul vẫn coi thời gian nhóm làm album này là thời gian hạnh phúc nhất trong đời mình. Trong khi đó George và Ringo cảm thấy mình bị phân biệt đối xử nhất là Ringo. Anh có cảm giác mình chỉ là một kẻ đánh thuê vì phần lớn các ca khúc được thu âm với dàn nhạc giao hưởng hoặc dàn kèn đồng. Cho đến nay, SP vẫn là album ít được yêu thích nhất của Ringo thời kì Beatles.
  7. haitrieu165

    haitrieu165 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    11/05/2006
    Bài viết:
    416
    Đã được thích:
    0
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG][​IMG][​IMG]
    [​IMG][​IMG]
    [​IMG][​IMG]
    [​IMG][​IMG]
    [​IMG][​IMG]
    [​IMG][​IMG][​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]
    Được haitrieu165 sửa chữa / chuyển vào 01:10 ngày 21/06/2006
  8. barrygibson

    barrygibson Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    29/01/2002
    Bài viết:
    546
    Đã được thích:
    1
    Sgt. Pepper?Ts Lonely Hearts Club Band (and reprise)
    (McCartney 10)
    McCartney: bass, hát chính
    Lennon: lead guitar, hát bè
    Harrison: lead guitar, hát bè
    Starr:Drums
    George Martin: organ
    Session musicians: kèn đồng
    Phần reprise:
    McCartney: bass, hát chính
    Lennon: lead guitar, maracas, hát chính
    Harrison: lead guitar,hát chính
    Starr: drums
    Paul có ý tưởng về một ban nhạc Beatles trá hình dưới một cái tên và hình ảnh khác khi bay từ Nairobi về London. Là một Beatles, các thành viên của nhóm mất đi cái quyền tự do cá nhân khi đi lại. Mỗi lần đi du lịch, các thành viên của nhóm thường phải mang tóc và râu giả để mọi người không để ý đến sự hiện diện của mình. Theo cách nghĩ của Paul, bằng cách cải trang thành một ban nhạc khác, nhóm Beatles có thể tự giải phóng mình ra khỏi sự rang buộc về mặt sáng tạo. Cái tên Sgt. Pepper?Ts Lonely Hearts Club Band là do tay roadie Mal Evans nghĩ ra. Có hai giả thuyết cho cái tên Sgt. Pepper, giả thuyết thứ nhất là ông trung sĩ Pepper này thực ra là do từ Salt and Pepper đọc trại ra. Giả thuyết thứ hai là Mal Evans nghĩ đến loại nước giải khát có gas mang tên Dr. Pepper khá phổ biến ở Mỹ. Bài hát được thu âm với tiếng reo hò của khán giả như là một buổi diễn thật sự và phần reprise ở cuối album. Có lẽ đây là cách bù đắp của Beatles cho các fan khi nhóm quyết đinh ngừng lưu diễn. Ca khúc thể hiện sự kết hợp giữa nhạc rock vùng West Coast California với guitar điện và trống và phần nhạc truyền thống của Anh được thể hiện qua phần giang tấu bằng kèn đồng. Như vậy, Sgt. Pepper?Ts Lonely Hearts Club Band là một ban nhạc vừa cổ điển vừa hiện đại, kết hợp giữa những giá trị hiện thời với những giá trị truyền thống.
    With a Little Help From My Friends
    (McCartney 75/ Lennon 25)
    McCartney: bass, piano, hát bè
    Lennon: hát bè
    Harrison: tambourine
    Starr: drums, hát chính
    Nhà báo Hunter Davies là người may mắn được chứng kiến quá trình Paul và John sáng tác ca khúc này cho ?oBilly Shears? mà ngoài đời chính là Ringo Starr. Vì là ca khúc viết cho Ringo nên phần giai điệu khá đơn giản. Tuy nhiên đối với phần lời, cả Paul và John đều rất vất vả để hoàn tất. Theo Davies, những lúc bị cạn nguồn cảm hứng, cả hai lại chơi lại một số bài rock and roll cũ xem có khai thác gì được từ đấy không. Cuối cùng John gợi ý viết bài hát này dưới dạng một câu hỏi xen lẫn với một câu trả lời. Vì John vô ý bị đứt tay trong lúc sáng tác ca khúc này nên cả hai gọi nó là ?oBad Finger Boogie? trước khi đổi thành ?oWith a Little Help From My Friend? ngày hôm sau. Cái tên Badfinger sau này trở thành tên của nhóm nhạc the Iveys của Pete Ham do Beatles bảo trợ.
    Lucy In the Sky With Diamonds
    (Lennon 8/McCartney 2)
    McCartney: bass, Hammond organ, hát bè
    Lennon: lead vocal, lead guitar
    Harrison: sitar, hát bè
    Starr: drums
    Câu chuyện về bài hát này được John sáng tác lấy cảm hứng từ bức tranh vẽ ?oLucy in the sky with diamonds? của cậu con trai Julian thì ai cũng biết. Cô bé Lucy trên thực tế có tên là Lucy O?TDonnell, bạn học thời mẫu giáo của Julian. Hiện tại, Lucy là một cô giáo dạy trẻ khuyết tật ở London. Điều thú vị là mãi đến năm 13 tuổi, Lucy mới biết đựoc rằng mình đã ảnh hưởng cho một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của nhạc rock. Những hình ảnh siêu thực trong bài hát đựơc John lấy từ hai quyển sách thiếu nhi nổi tiếng của nhà văn Lewis Carroll là ?oAlice in Wonderland? và ?oThrough the Looking Glass? và chương trình hài kịch Goon Show, một chương trình mà John rất hâm mộ. Theo John, Paul đóng góp những cụm từ như ?ocellophane flowers? và ?onewspaper taxi?. Điều mà John không ngờ là bài hát bị cấm phát song trên đài BBC vì các chứ đầu của tựa đề đựơc ghép lại thành LSD.
    Getting Better
    (McCartney 65/Lennon 35)
    McCartney: bass, hát chính và hát bè
    Lennon: lead guitar, hát bè
    Harrison: lead guitar, tamboura, hát bè
    Starr: drums, bongos
    George Martin: piano
    Paul viết bài hát này dựa trên những kỉ niệm với tay trống Jimmy Nichol, người thay thế Ringo trong tour diễn thế giới năm 1964. Vì chưa quen với các ca khúc của Beatles, Nichol phải tập gấp rút để có thể chơi như Ringo. Sau mỗi lần tập như thế, khi mọi người hỏi anh cảm thấy thế nào, câu trả lời thường xuyên của Nichol là ?oIt?Ts getting better?. Trong một ngày nắng đẹp, Paul và chú chó cưng Martha đi dạo trên đồi Primrose, bỗng dưng Paul nhớ lại những câu nói của Jimmy Nicol và bắt đầu có cảm hứng về một bài hát mới. Chiều hôm ấy, Paul mời John đến để giúp mình hoàn tất bài hát. Bài hát thể hiện rất rõ rệt hai cá tính đối lập của hai tay sáng tác chính nhóm Beatles. Trong khi Paul luôn lạc quan cho rằng mọi việc đều có thể trở nên tốt hơn, John lại chem vào một câu lót khá mỉa mai là ?obởi vì nó chẳng còn có thể nào tệ hơn thế nữa?. John cũng công nhận đoạn ?oI used to be cruel to my woman, I beat her and kept her apart from the things that she loves" là do mình viết. Anh tự nhận rằng mình là một kẻ vũ phu với vợ, mỗi khi không biết thể hiện cảm xúc của mình thế nào, John lại giở võ ra với Cynthia. Ngay cả với Yoko thời kì đầu, John cũng dung nắm đấm để giải quyết vấn đề.
    Một giai thoại khá lí thú khi thu âm ca khúc này là John do ảnh hưởng của LSD đã không dám cầm micro thu âm vì sợ. Anh đòi được ra ngoài để hít thở không khí một chút. Vì bên ngoài studio luôn có hang trăm fan hâm mộ đứng chầu chực bất kể ngày đêm, George Martin đề nghị Mal Evans đưa John lên sân thượng hóng mát. John suýt té lộn cổ xuống đất nếu không có Mal ở đó vì anh không nhận ra rằng sân thượng không có phần lan can bảo vệ. Tối hôm ấy Paul phải đưa John về nhà vì sợ John lái xe một mình không an toàn. Điều đáng nói là khi về tới nhà John, Paul cũng bị John dụ chơi LSD. Đó là lần đầu tiên Paul nếm mùi LSD.
    Fixing a Hole
    (McCartney 10)
    McCartney: bass, harpsichord, lead guitar, hát chính
    Lennon: maracas, hát bè
    Harrison: lead guitar, hát bè
    Starr:Drums
    Bài hát này cũng là một bài trong album SP bị nghi là có dính líu đến ma tuý vì ?ofixing a joint? là tiếng long của dân nghiện ám chỉ việc hút cần sa. Thật ra bài này nói về công việc sửa chửa lại căn nhà gỗ mà Paul mua ở Scotland để làm nơi thư giãn và trốn các fan hâm mộ. Do căn nhà đã xuống cấp vì không có người ở, Paul quyết định bỏ thời gian ra sửa chữa lại và sơn nó ?oin a colorful way? như trong bài hát. Hôm thu âm ca khúc này, một kẻ lạ mặt đã xuất hiện trước cửa nhà Paul và tự giới thiệu rằng mình là chúa Jesus. Cảm thấy thú vị, Paul mời ông Jesus này đến phòng thu để giới thiệu với mọi người. Khi đến phòng thu, trứơc khi các tay Beatles khác có vinh dự được gặp mặt Jesus, kẻ mạo danh đã lẳng lặng đánh bài chuồn không để lại dấu vết nào.
    She?Ts Leaving Home
    (McCartney 65/ Lennon 35)
    McCartney: hát chính và bè
    Lennon: hát chính và bè
    Session musician: strings and harp.
    Thập niên 60, nhất là giai đoạn từ năm 1967 đến 1969 được mệnh danh là giai đoạn nổi loạn của giới trẻ. Thanh thiếu niên của giai đoạn này, dưới sự ảnh hưởng của cuộc chiến VN, các phong trào phản văn hoá và dĩ nhiên là chất ma tuy, tìm mọi cách để thoát khỏi sự quản lí của cha mẹ và những người lớn tuổi để được sống theo bản năng của mình. Được sự khuyến khích của Timothy Leary, một nhân vật có ảnh hưởng khá lớn đối với các phong trào hippie, ngày càng có nhiều thanh thiếu niên bỏ học và từ chối những công việc bình thường. San Francisco trở thành thủ đô của dân hippie. Theo số liệu của FBI năm 1967, số lượng thanh thiếu niên bỏ nhà đi theo các nhóm hippie lên đến con số kỉ lục là 90,000.
    Ở Anh, mục tìm người thân trên các tờ báo đầy ắp tên tuổi của các cô cậu mới lớn. Câu chuyện về bài hát ?oShe?Ts Leaving Home? là một ví dụ điển hình về mẫu tin nhắn tìm người trên báo. Cô gái trong bài hát ngoài đời có tên là Melanie Coe, 17 tuổi. Sinh ra trong một gia đình trung lưu ở London, Melanie được bố mẹ cung cấp đầy đủ nhu cầu về vật chất nhưng luôn phải chịu sự quản thúc nghiêm ngặt và rất ít tình cảm. Melanie nhớ lại rằng bố mẹ cô sắm cho cô những thứ mà các cô gái khác phải ghen tị như nhẫn kim cương, áo khoác long đắt tiền nhưng chưa bao giờ hôn cô hoặc chúc cô ngủ ngon. Một ngày kia, Melanie đã bỏ lại tất cả để đi theo một cậu trai mà cô quen ở một casino. Cả hai thuê một căn hộ nhỏ ở vùng Sus*** và sống với nhau được khoảng hơn 10 ngày thì gia đình của Melanie tìm được chỗ làm của người bạn trai và làm áp lực buộc cô phải trở về nhà. Năm 18 tuổi, Melanie lại tìm cách thoát khỏi gia đình bằng cách kết hôn với một người đàn ông lớn tuổi hơn mình. Tuy nhiên cuộc hôn nhân cũng không tồn tại lâu. Đến năm 21, cô dọn đến Hollywood với hi vọng trở thành một diễn viên điện ảnh. Hiện tại Melanie đang sống ở Tây Ban Nha với hai người con bằng nghề buôn bán những mẫu của nữ trang thập niên 50. Cũng như Lucy O?TDonnell ( xem phần Lucy in the Sky with Diamonds), Melanie mãi đến những năm sau này mới biết được mình là cảm hứng của ca khúc này khi xem một chương trình phỏng vấn Paul trên truyền hình. Một điều khá thú vị là Melanie Coe đã có duyên gặp gỡ với nhóm Beatles từ trước. Năm 14 tuổi, cô đoạt giải nhất cuộc thi khiêu vũ của đài BBC và được chọn làm người múa phụ hoạ cho nhóm Beatles trên show truyền hình Ready! Steady! Go! Một tấm ảnh hiếm hoi thời đó chụp Melanie đứng bên cánh gà sân khấu xem nhóm Beatles biểu diễn. Cô nhớ rằng đã có dịp nói chuyện với George và Ringo sau buổi diễn, còn Paul và John trong kí ức của cô thì ?okhông được thân thiện cho lắm?.
    Khi thu âm bài hát này, Paul nhờ George Martin phổi phần nhạc nền giúp mình vì ông Martin có trình độ về nhạc cổ điển và giao hưởng nhưng vì đang bận một dự án khác, George Martin đã bảo Paul hoãn lại vài ngày. Paul lập tức liên hệ với nhạc sĩ Mike Leander và nhờ ông này viết giúp mình phần nhạc dây và harp rồi thu âm luôn. Khi biết được chuyện này, ông Martin cảm thấy bị xúc phạm ghê gớm vì trước nay ông vẫn là người phụ trách phối âm và sản xuất cho nhóm. Phải mất nhiều năm ông Martin mới có thể tha thứ cho Paul về sự qua mặt này.
  9. barrygibson

    barrygibson Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    29/01/2002
    Bài viết:
    546
    Đã được thích:
    1
    Being For the Benefit of Mr. Kite
    (Lennon 10)
    McCartney: bass, lead guitar
    Lennon: Hammon Organ, hát chính
    Harrison: harmonica
    Starr:Drums, harmonica
    George Martin: Wurlizter organ, piano
    Mal Evans: harmonium
    Neil Aspinall: harmonium
    Lennon mua được tấm poster cổ những năm 40 của thế kỉ 19 về gánh xiếc rong của Pablo Fanquer và John Henderson trong chuyến đi quay ngoại cảnh của bài ?oStrawberry Fields? ở Kent. Bị hấp dẫn bởi lời văn khá trau chuốt trong tờ quảng cáo, John quyết định sử dụng nó để làm lời cho bài hát mới của mình. Kết quả là gần như toàn bộ những dòng quảng cáo trên tờ poster được John đưa vào bài hát. John chỉ sửa địa danh Rochdale thành Bishopgate cho có vần với ?odon?Tt be late?. Khi thu âm bài hát, John nói với ông George Martin rằng mình muốn ngửi thấy không khí của một rạp xiếc lưu động với mùi bột mạt cưa và kim tuyến bay trong không khí. So với Paul, John có những đòi hỏi khá trừu tượng và mang nhiều tính thách đố hơn trong việc phối âm. Tuy nhiên, điều đó không làm cho ông Martin nản long hay phật ý. Mỗi yêu cầu đưa ra là một thử thách về mặt chuyên môn đối với ông. Để thực hiện ý tưởng này, ông Martin đã đề nghị phần giang tấu chuyển sang điệu valse thay vì chơi với nhịp 4/4 như trong bài hát. Được voi đòi tiên, John lại tiếp tục đòi sử dụng nhạc cụ đàn hơi nước (steam organ), loại nhạc cụ tự chơi nhờ áp suất của hơi nước đun nóng thường dung ở các hội chợ làng trong thế kỉ 19. Do không thể lắp đặt đàn hơi trong phòng thu âm, ông Martin phải chìu long John bằng cách tìm một đoạn băng thu âm tiếng đàn hơi, cắt ra làm nhiều đoạn, sau đó nối các đoạn lại với nhau rồi chơi với tốc độ nhanh ở nhịp ¾ cho khớp với phần giang tấu.
    Xin được nói một chút về lai lịch của những nhân vật trong bài hát nổi tiếng này. Mr. Kite, Pablo Fanque và nhà Hendersons đều là những nhân vật nổi tiếng có thật. Mr. Kite tên thật là William Kite, con trai của ông chủ gánh xiếc James Kite. Là một diễn viên xiếc, William Kite lập nhóm Kite?Ts Pavillion Circus năm 1810 và sau đó là gánh Well?Ts Circus. Thời điểm từ năm 1843-45, tức là thời điểm tấm poster được in, William Kite biểu diễn với gánh xiếc của Pablo Fanque.
    Pablo Fanque, tên thật là William Darby, là một diễn viên xiếc tạp kĩ sinh năm 1796 trong một gia đình gốc Phi ở Norwich, Anh. Từ năm 1830, ông này đổi tên thành Pablo Fanque và lập gánh xiếc riêng. Ở Anh, Pablo Fanque là chủ gánh xiếc da đen đầu tiên.
    Nhà Hendersons bao gồm John Henderson, nghệ sĩ đu dây và nhào lộn cùng với vợ là Agnes, cũng là một nghệ sĩ xiếc. Hai vợ chồng lập gánh xiếc rong lưu diễn khắp Châu âu trong thập kỉ 40-50 của thế kỉ 19. Còn chú ngựa Henry trong bài hát có tên là Zanthur, sở hữu của nhà Hendersons.
    Lúc đầu John tỏ ra không thích bài này vì anh cho rằng mình không tự viết lời. Nhưng về sau, khi trả lời phỏng vấn tạp chí Playboy, John cho rằng đây là một bài hát đẹp và tinh khiết như một bức tranh vẽ bằng màu nước.
    Within You, Without You
    (Harrison 10)
    Harrison: tamboura, vocal
    Neil Aspinall: tamboura
    Indian musicians: dilruba (một loại đàn dùng vĩ kéo), tamboura, tabla, sitar, swordmandel
    Western musicians: 9 violins, three cellos
    Từ sau khi làm quen với cây đàn sitar và nhà ẩn sĩ Maharishi Maheshi Yogi, George trở nên mê mẩn với văn hoá và âm nhạc Ấn Độ. Từ một thành viên trẻ nhất và ham vui nhất của Beatles, George trở nên thâm trầm, già dặn và đầy triết lí. Bài ?oWithin You, Without You? được George viết sau một buổi ăn tối tại nhà của Klaus Voorman, lúc này đang chơi bass cho nhóm Manfred Mann. George đã sử dụng cây đàn harmonium (một dạng đàn organ có bàn đạp để ngân tiếng) của Klaus để viết bài này với cảm hứng là cuộc đối thoại trong buổi ăn tối mà chủ đề chính là cái tôi của từng cá nhân. Theo George, nếu mọi người có thể từ bỏ được cái tôi của mình thì tự nhiên các bức tường vô hình ngăn cách sẽ bị phá vỡ và mọi người có thể xích lại gần nhau hơn. Một đoạn của bài hát này ảnh hưởng lời răn của chúa Jesus với các tín đồ trong Kinh Thánh rằng không nên dung linh hồn mình để đánh đổi bất cứ thứ gì, cho dù đó là cả thế giới. Bài hát này nâng tầm vóc sáng tác của George lên ngang hang với John và Paul về cả nội dung lẫn nghệ thuật. John phải công nhận rằng đây là một bài hát hay và là bài hát yêu thích của mình. Còn Stephen Stills, ca sĩ và nhạc sĩ của nhóm Crosby, Stills and Nash sau khi nghe bài này đã thuê thợ khắc toàn bộ lời bài hát lên bia đá trong vườn nhà mình.
    Mỗi khi nhóm Beatles có một ý tưởng thu âm lạ, người khổ nhất không ai khác hơn là ông George Martin. Để dàn nhạc dây phương Tây chơi cho khớp với dàn nhạc cổ truyền Ấn Độ, ông Martin phải tìm cách chuyển những kĩ thuật chơi nhạc của đàn tamboura, dilruba sang ngôn ngữ âm nhạc phương Tây để cho violins và cellos chơi theo. Pete Blake, người thiết kế bìa đĩa Sgt. Pepper đã mô tả buổi thu âm ca khúc này như một buổi ngồi thiền thực sự với George và các nhạc sĩ Ấn Độ ngồi xếp bằng trên một tấm thảm trải dưới đất trong mùi nhang trầm nghi ngút. Các micro khi thu âm đều được giấu đi vì các nhạc sĩ dân gian người Ấn cảm thấy không được thoải mái khi tiếp cận với các phương tiện thu âm hiện đại.
    When I?Tm Sixty-Four
    (McCartney 85/ Lennon 15)
    McCartney: bass, piano, hát chính và hát bè
    Lennon: lead guitar, hát bè
    Harrison: hát bè
    Starr: drums
    Session musicians: bass clarinet, 2 clarinets
    Paul viết bài này năm 15 tuổi, một thời gian ngắn sau khi gia nhập Quarry Men theo phong cách cabaret của những năm 20-30, như một món quà dành cho cha mình ông James McCartney người cũng là một nhạc sĩ. Về ca khúc này Paul phát biểu: ?o Khi tôi viết bài này, cha tôi chỉ mới 56 tuổi, nhưng ở Anh, tuổi về hưu là 65, vì thế tôi lấy số 64 làm mốc đánh dấu tuổi về già.? Do lúc này Paul hoàn toàn không biết rằng mình sẽ trở nên giàu có và nổi tiếng nên ước mơ tuổi già của anh khá bình dân: hai vợ chồng già sống với nhau trong một căn nhà nhỏ bằng tiền dành giụm với các cháu quanh quẩn bên chân. Trong khoảng thời gian 61-62, Paul thường chơi độc tấu bài này trên piano để thay đổi không khí sau khi nhóm đã mệt nhoài với những bài rock and roll. Bài hát được viết với dạng một bức thư tỏ tình của một người đàn ông với một người đàn bà không quen, nhưng thay vì những lời ngọt ngào tán tỉnh, người đàn ông lại đặt ngược câu hỏi với người đàn bà rằng ?oEm có còn yêu anh và chăm sóc cho anh không khi anh trở nên già cả vô dụng?? Paul thu âm bài này trong album Sgt.Pepper năm 67, đúng dịp ông James 64 tuổi. Một điều khá mỉa mai là năm nay khi Paul 64, ông lại phải đối mặt với vụ li dị đầy tai tiếng với người vợ Heather Mills. Đúng là trên đời không ai học được chữ ngờ.
    Lovely Rita.
    (McCartney 10)
    McCartney: bass, piano, lược và giấy, hát chính, hát bè
    Lennon: acoustic guitar, lược và giấy, hát bè
    Harrison: acoustic guitar, lược và giấy, hát bè
    Starr: drums
    Martin: honky-tonk piano
    Ở các nước tiên tiến như Anh và Mỹ, khi đậu xe trên đường phố công cộng, người đậu xe phải đậu trước những đồng hồ gọi là parking meter. Sauk hi đậu xe, người đậu ấn nút ở đồng hồ để bắt đầu tính giờ. Thường thì sau một khoảng thời gian nhất định, nếu người đậu xe không quay về lấy xe, đồng hồ bắt đầu tính tiền phạt. Công việc kiểm tra đồng hồ đậu xe ở Anh lúc bấy giờ được giao cho nữ là chính. Ở Mỹ, nữ cảnh sát cũng làm công việc này như không phổ biến bằng. Một người bạn Mỹ của Paul khi đến Anh đã cảm thấy rất ngạc nhiên khi phần lớn người làm công việc này là phụ nữ. Paul cũng cảm thấy thú vị khi những ?oparking-meter women? ở Anh được người Mỹ gọi là ?ometer maid?. Paul viết ca khúc này để thi vị hoá cái nghề chỉ chăm chăm viết giấy phạt mà không mấy ai có cảm tình này. Trong mắt của Paul, các cô meter maid mặc dù ăn mặc giống như nhà binh và khá thiếu ?onữ tính? cũng có thể trở nên rất đáng yêu. Và nếu bị một cô nàng dễ thương như thế ghi giấy phạt, Paul sẽ dung số điện thoại trên biên lại phạt để gọi và tán tỉnh cô nàng. Trên thực tế, Paul đã dung bộ mặt ngây thơ và tiếng tăm của mình để tán tỉnh một cô meter maid để cô này xoá tên anh khỏi sổ phạt. Sau khi bài hát được phát hành, một nữ cảnh sát viên với cái tên Meta Davies đã tự nhận rằng mình là người trong bài hát. Theo câu chuyện của Meta này thì năm 1967, cô có ghi giấy phạt đậu xe của Paul ngay lúc Paul trở lại xe của mình. Thế là chàng Paul chạy theo và giở ngón năn nỉ để được miễn đóng phạt. Tuy nhiên Paul chỉ năn nỉ để thoát nạn chứ không tán tỉnh gì Meta Davies vì bà này trên thực tế hơn anh đến 22 tuổi và có một đứa con gái là fan của Beatles. Để đổi lại, Paul phải tặng Meta chữ kí để mang về cho con gái mình.
    Lúc thu âm bài này, Paul nảy ra ý định tạo ra tiếng lạo xạo để nhái tiếng xé biên lai phạt của các nữ cảnh sát viên bằng cách dung những cây lược bằng kim loại cọ xát trên giấy. Tony King, người phụ tá của ông George Martin lúc bấy giờ đã phát biểu rằng: ?oNhóm Beatles được ông Martin nuông chiều hết mức. Chỉ có họ mới có thể khiến ông chấp thuận những yêu cầu điên rồ nhất.?
    Good Morning, Good Morning
    (Lennon 10)
    McCartney: bass, lead guitar, hát bè
    Lennon: hát chính, hát bè
    Harrison: lead guitar
    Starr:Drums
    Dàn kèn Sounds Incorporated: 3 saxophoness, 2 trombones, French horn
    Trong khoảng thời gian 66-67, John hầu như giao phó việc điều khiển Beatles cho Paul đảm nhận. John tự nhận mình là kẻ lười nhất nước Anh, suốt ngày nằm ườn ở nhà, xem tivi, ngoài việc đến studio, John hầu như không đi đâu cả. Hiếm lắm mới thấy John rời nhà đi dạo lúc chạng vạng tối. Bài Good Morning, Good Morning phản ánh khá đúng đắn tâm trạng và sinh hoạt của John trong thời điểm này. Tựa đề của bài hát được ảnh hưởng bởi mục quảng cáo bột ngũ cốc Kellogg?Ts với tiếng gà gáy và bài hát: ?oGood morning, good morning, the best to you each morning?. Mặc dù tựa bài hát là ?oGood Morning? nội dung của bài hát khá u ám và chán nản. Sau này John thú nhận rằng hình bong của Yoko bắt đầu xuất hiện trong bài này ở đoạn ?oGo to the show, you hope she goes?. ?oThe show? ở đây là những buổi triễn lãm của Yoko và lí do duy nhất của John đến đó là hi vọng có thể gặp Yoko ở đó. Bài hát này được thu âm với ảnh hưởng của album Pet Sounds. John muốn George Martin sử dụng những tiếng gia súc trong album để tạo hiệu ứng đặc biệt với điều kiện, tiếng của con vật sau phải lấn át tiếng của tiếng con vật trước. Và dĩ nhiên, yêu cầu không giống ai của John một lần nữa được ông Martin chiều theo.
  10. barrygibson

    barrygibson Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    29/01/2002
    Bài viết:
    546
    Đã được thích:
    1
    A Day In the Life
    (Lennon 6/McCartney 4)
    McCartney: piano, hát chính
    Lennon: acoustic guitar, lead guitar, hát chính
    Starr: drums, piano
    George Martin: piano
    Mal Evans : piano
    Dàn nhạc giao hưởng 41 người.
    Đó là một buổi sáng tháng 1 năm 1967 khi nhóm Beatles đang bắt tay vào thu âm album nổi tiếng "Sgt. Pepper''''''''s Lonely Hearts Club Band". John Lennon tỉnh dậy, vớ vội lấy tờ nhật báo Daily Mail vừa đọc vừa chơi đàn piano. Giai điệu đến một cách bất chợt kết hợp một cách hài hoà với những mẫu tin tức trên báo. Lennon lẩm nhẩm hát :"I read the news today oh boy..." Hai mẫu tin gây chú ý cho John trên tờ báo hôm đó là cái chết do tai nạn giao thông của Tara Browne, người thừa kế của hãng bia Guinness, đồng thời cũng là một người bạn thân của nhóm Beatles. Tin thứ hai là về kế hoạch lấp hơn 4000 ổ gà trên những con đường vùng Blackburn, Lancashire. Thế là một cách tự nhiên, John đưa hai mẫu tin đó vào bài hát mới của mình. Phần lời còn lại về cuốn phim trong đó quân đội Anh thắng trận là những kỉ niệm của John khi đóng bộ phim "How I Won the War" năm 1966.
    Ca khúc mới được tạm gọi là "In the Life of..." được viết theo kiểu "một giai điệu" (single-verse) tức là không có phần điệp khúc hoặc hợp xướng. Cảm thấy ca khúc vẫn thiếu thiếu một cái gì đó, John tìm đến Paul nhờ giúp sức. Một điều trùng hợp là Paul vừa có một đoạn của một sáng tác mới về những kỉ niệm thời còn thiếu niên tại Liverpool. Thế là hai bài hát chưa hoàn chỉnh được ráp nối với nhau bằng một đoạn 24 khuông nhạc để trống. Để tạo hiệu ứng đặc biệt, phụ tá của nhóm Beatles lúc bấy giờ là Mal Evans được phân công đếm từng ô nhịp từ 1 đến 24. Giọng đếm của Evans được khuyếch đại từ từ và tăng echo dần lên. Đến ô nhịp thứ 24, một chiếc đồng hồ báo thức được cài sẳn sẽ reng chuông để báo hiệu chuyển sang phần nhạc của Paul. Lúc đầu tiếng chuông báo thức được dự định loại khỏi bản thu âm chính thức, nhưng vì phần ca khúc của Paul bắt đầu với "Woke up, got out of bed..." nên George Martin quyết định giữ tiếng chuông báo thức lại như một sự trùng hợp ngộ nghĩnh.
    Khoảng trống 24 ô nhịp giữa hai đoạn nhạc vẫn là một thách đố với cả nhóm Beatles lẫn George Martin vì nó vẫn không thể làm tròn trách nhiệm là làm cho bài hát được liền mạch. Paul McCartney đề nghị sử dụng một dàn nhạc giao hưởng 91 người để chơi một đoạn nhạc nối liền khoảng trống đó. Nhưng đối với những nhạc sĩ giao hưởng cổ điển, việc chơi ngẫu hứng là một điều cấm kị nên họ từ chối tham gia. Hơn nữa việc chi cho một dàn nhạc giao hưởng để chơi một đoạn nhạc ngắn là một điều phung phí không thể chấp nhận. Không bỏ cuộc, Paul đã thuyết phục George Martin viết một đoạn hoà âm ngắn 24 khuông nhạc và mướn dàn nhạc gồm 40 nhạc sĩ để thu âm đoạn đó. Kết quả là đoạn "cực khoái âm nhạc" được sáng tác trong đó tất cả các nhạc cụ chơi từ nốt E thấp nhất dần lên đến nốt E cao nhất mà tai người có thể nghe thấy và chơi từ nhỏ đến lớn dần. Phần hợp tấu này tiếp tục được sử dụng để kết thúc ca khúc với tiếng piano ngân dài đến 45 giây. Tiếng piano này là kết quả của ba cây piano được John, Paul ,Ringo, George (Martin) và Mal Evans chơi cùng một lúc.
    Ê kíp sản xuất "Sgt. Pepper" đã mất hơn 36 giờ để thu âm hoàn chỉnh ca khúc " A Day in the Life", một thời gian kỉ lục để thu âm một ca khúc. So với album đầu "Please Please Me" hoàn tất chỉ trong vòng 10 tiếng đồng hồ, " A Day in the Life" quả là một kì công trong phòng thu. Số tiền bỏ ra cũng tốn kém không ít. Riêng cho dàn nhạc 40 người, George Martin đã phải chi gần 400 bảng Anh, một số tiền không nhỏ thời đó. Đã vậy để ăn mừng, nhóm quyết định mở một party ngay tại phòng thu với tất cả các nhạc sĩ tham gia thu âm và một số khách mời như Mick Jagger, Keith Richards, Marriane Faithfull....Buổi tiệc này được thu hình làm video quảng bá cho ca khúc " A Day in the Life" với các nhạc sĩ nhạc giao hưởng mỗi người đeo một chiếc mũi đỏ giả trên mũi của mình.
    Sau khi ca khúc kết thúc khoảng 10 giây, người nghe có thể nghe câu "Never could see any other one!" được lặp đi lặp lại nhiều lần. Đây là lỗi kĩ thuật khi thu âm, George Martin đã nối nhầm một cuộn băng khác vào "A Day in the Life" nhưng sau đó nhóm quyết định không xoá nó đi. Nhóm the Who trong album "Sells Out" phát hành vài tháng sau đó đã nhại lại lỗi kĩ thuật này bằng cách phát đi phát lại câu "Track Records" ở cuối đĩa.Trong album "Sgt. Pepper" bài hát này đóng vai trò của một bài hát encore, tức là bài hát thêm sau khi ban nhạc đã chính thức kết thúc buổi diễn. Vì thế nó được xếp sau bài Sgt. Pepper''s reprise để người nghe có cảm giác rằng album là một buổi diễn live thực sự.
    A Day in the Life" được đánh giá như một kì công trong lĩnh vực thu âm do sự phối hợp một cách nhuần nhuyễn nhạc pop và nhạc cổ điển theo phong cách nghệ thuật tiên phong avant garde và trường phái nghệ thuật ấn tượng. Sự thành công trong việc thu âm ca khúc này đã nâng giá trị một ca khúc nhạc pop từ một nhạc phẩm mang tính thương mại cao lên tầm một tác phẩm nghệ thuật thật sự.
    Sau vụ khủng bố 911, các đài phát thanh ở Mỹ lập ra một danh sách các ca khúc tạm thời ngưng phát để tránh chạm vào vết thương lòng của gia đình những nạn nhân trong đó có "A Day in the Life". Đến nay, vẫn còn một số người mê tín không nghe ca khúc này khi đang lái xe vì họ cho rằng ca khúc này mang đến điềm gở.

Chia sẻ trang này