1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Gilles Deleuze & Felix Guattari, "Giới thiệu: Thân rễ".

Chủ đề trong 'Tiếng Việt' bởi Tran_Thang, 08/09/2013.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Mình phải dành một topic riêng để nói về D&G. Nhưng trước hết phải nhập môn khái niệm thân rễ theo kiến thức Việt Nam.

    Theo wiki:

    THÂN RỄ

    "Trong thực vật học và thụ mộc học, thân rễ danh từ khoa học gọi là căn hành, thông thường là một đoạn của thân cây nằm ngang dưới mặt đất mà từ các mắt của nó mọc ra các rễ và chồi. Thân bò lan là tương tự như thân rễ, nhưng tồn tại trên mặt đất và mọc ra từ thân cây đang tồn tại".

    "Nếu một cây thân rễ được tách ra thành từng nhánh, mỗi nhánh có thể làm phát sinh một cây con mới. Thân rễ chứa các tinh bột, protein và các chất dinh dưỡng khác của cây. Các chất dinh dưỡng này cần thiết khi cây đâm chồi mới (hoặc tồn tại trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt như mùa đông lạnh giá). [2] Quá trình này được gọi là tái sinh sản thực vật và được sử dụng bởi người nông dân và người làm vườn để nhân giống cây. Nhiều loài cây có các thân rễ phục vụ cho việc lan truyền của chúng bằng sinh sản sinh dưỡng. Các ví dụ về các loài thực vật có kiểu sinh sản này là măng tây, linh lan, các loài dong riềng và lan kiểu gốc ghép. Các thân lan rộng của dương xỉ cũng được gọi là thân rễ".

    [​IMG]
    Đây là bản của Nhà Xuất Bản ĐH Minnesota, thành phố Minneapolis, do GS Brian Massumi dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Anh.

    [​IMG]
    GS Massumi ngồi ở góc phải phía xa - ảnh từ nét.

    [​IMG]

    Một Nghìn Cao Nguyên: Chủ Nghĩa Tư Bản và Bệnh Tâm Thần Phân Liệt.
    Dịch: Brian Massumi, Nhà Xuất Bản ĐH Minnesota, 1987, 3-25.

    Sử dụng mô hình phân tâm học của Lacan, Gilles và Felix Guattari lí thuyết hóa một mô hình chính trị-xã hội dựa trên tưởng tượng. Phá vỡ khái niệm “Phức cảm Oedipus” của Freud, hai thi hứng này chống lại cỗ máy có tổ chức là tác nhân của các mô hình có xu hướng phát-xít. Họ ca tụng “tháo dỡ” và “thân rễ”, đề xuất khái niệm “phân tích bệnh phân lập” nhằm phá vỡ những giới hạn quyền lực và thiết lập một chủ quan mới chung để tiếp tục phá vỡ tư tưởng cách mạng.

    MẠNH: nền tảng phân tâm học/Marxist vững chắc.
    YẾU: Hậu quả dục vọng trở nên quá duy tâm.
    KĨ NĂNG ĐẶC BIỆT: những thuật ngữ siêu hậu hiện đại quả lạnh như tiền.

    (còn tiếp)
    Lần cập nhật cuối: 24/11/2013
  2. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Giới thiệu: Thân rễ.
    Phan Biên dịch

    Hai chúng tôi cùng viết cuốn Chống-Oedipus. Vì mỗi chúng tôi đều là cá nhân nên chúng tôi đúng là một đám đông. Ở đây chúng tôi sử dụng mọi thứ trong tầm, những gì gần nhất cũng như xa tít tắp. Chúng tôi đã khéo phân công bút danh nhằm ngăn chặn việc thừa nhận. Tại sao chúng tôi vẫn giữ tên riêng của mình? Vì thói quen, thuần túy vì thói quen. Để làm chính chúng tôi, lần lượt, không thể nhận ra được. Để hoàn trả tính chất không thể nhận biết, không phải bản thân chúng tôi, mà là những gì khiến chúng tôi hành động, cảm nhận, và suy nghĩ. Cũng vì thật thú vị được nói chuyện như mọi người khác, nói mặt trời lên, khi mọi người đều biết đó chỉ là một cách nói. Để đạt đến, không phải một điểm nơi mà người ta không còn nói Tôi nữa, mà là một điểm nơi mà họ nói Tôi hay không không còn bất cứ tầm quan trọng nào. Chúng tôi không còn là chính mình. Mỗi người sẽ biết về riêng mình. Chúng tôi được giúp đỡ, được truyền cảm hứng, được nhân lên.

    Một cuốn sách không có khách thể lẫn chủ thể; nó được tạo nên từ những vấn đề được hình thành một cách khác nhau, và rất khác biệt ngày tháng và thời gian viết. Qui cuốn sách cho một chủ thể là để bỏ qua hoạt động của những nội dung này, và những tương quan bề ngoài của chúng. Đó là để thêu dệt một Thượng Đế nhân từ nhằm lí giải những vận động địa chất. Trong một quyển sách, như trong mọi sự vật, có những tuyến khớp nối và phân khúc, những địa tầng và những vùng lãnh thổ; có cả những thăng tuyến, vận động tháo dỡ và giải tầng. Tốc độ dòng chảy tương đối trên những tuyến này gây ra hiện tượng chậm và đặc tương đối, hoặc, ngược lại, nhanh và đứt gãy. Tất thảy những điều này, các tuyến và tốc độ đáng kể, kiến tạo một tập hợp. Một quyển sách là một tập hợp loại này, và theo đúng nghĩa tập hợp thì không thể qui sách về một điều gì cả. Nó là một đa cách – nhưng chúng ta chưa biết đa cách đưa đến cái gì khi nó không còn thuộc tính, nghĩa là, sau khi nó được nâng lên địa vị một danh từ. Một mặt của tập hợp cơ giới đương đầu với địa tầng, mà không còn nghi ngờ gì nữa, biến nó thành một loại cơ quan nào đó, hoặc một tổng thể có nghĩa, hoặc quyết định khả qui cho một chủ thể; nó cũng có mặt hướng về một phi quan thể, cơ thể này vẫn tiếp tục tháo dỡ các cơ quan, vẫn tạo những mẫu mạo từ vô nghĩa hoặc các từ chỉ cường lực thuần túy để luồn qua, tức lưu thông, và tự nó qui về các chủ thể mà nó đã rời đi không để lại gì hơn một cái tên như là dấu tích của một cường độ. Phi quan thể của một quyển sách thì là gì? Có một số đa cách, dựa vào bản chất các tuyến đang xét, mức riêng tức mật độ của chúng, và khả năng hội tụ trên một“mặt phẳng đồng nhất”, đảm bảo cho sự chọn lọc của chúng. Ở đây, cũng như một nơi khác nữa, các đơn vị đo lường mới là điều thiết yếu: xác định số lượng chữ viết. Không có khác biệt giữa điều cuốn sách đề cập và cuốn sách đó được làm như thế nào. Do đó cuốn sách cũng không có đối tượng. Là một tập hợp, cuốn sách chỉ có chính nó, đề cập đến những tập hợp khác và liên quan đến những phi quan thể khác. Chúng tôi không bao giờ hỏi một cuôn sách nghĩa là gì, là thụ hiệu hay biểu hiệu; chúng tôi không tìm kiếm bất cứ thứ gì để hiểu bên trong nó. Chúng tôi sẽ hỏi cuốn sách hoạt động với cái gì, nó truyền hay không truyền cường lực vào những sự vật gì khác, trong những đa cách khác nào thuộc tính của nó được ***g ghép và bị biến đổi, và với những phi quan thể gì mà nó làm hội tụ những thuộc tính của nó. Cuốn sách chỉ tồn tại xuyên suốt cái bên ngoài và trên cái bên ngoài. Cuốn sách tự nó là một cỗ máy nhỏ; cái gì là quan hệ (có thể đo lường) của cỗ máy văn học này với cỗ máy chiến tranh, cỗ máy tình yêu, cỗ máy cách mạng, v.v. – và với một cỗ máy trừu tượng đã lôi cuốn những cỗ máy kia? Chúng tôi bị phê phán vì trích dẫn quá nhiều các tác giả văn học. Nhưng khi ta viết thì vấn đề duy nhất là cỗ máy văn học có thể kết nối với cỗ máy khác nào, nó phải được kết nối để hoạt động. Kleist cùng cỗ máy chiến tranh điên rồ, Kafka cùng cỗ máy quan chức lạ thường nhất…(Điều gì sẽ xảy ra nếu một người trở thành thú hay thực vật do văn học, mà chắc chắc đó không có nghĩa là văn học? Phải chăng cơ bản không phải do tiếng nói mà người ta thành thú vật?). Văn chương là một tập hợp. Nó chẳng có liên quan gì đến ý thức hệ. Không có ý thức hệ và chưa bao giờ có.

    Mọi điều chúng tôi bàn đến đều là những đa cách, những tuyến, những giai tầngphân khúc, những thăng tuyếncường lực, những tập hợp cơ giới và các thể loại khác nhau của chúng, những phi quan thể cùng cấu trúc và chọn lọc của chúng, những mặt phẳng nhất quán, và trong mỗi trường hợp là các đơn vị đo lường. Máy đo địa tầng, máy đo độ hủy, những đơn vị mật độ BwO (phi quan thể), các đơn vị hội tụ BwO: chúng không những thiết lập cách xác định số lượng chữ viết mà còn định rõ chữ viết luôn là đơn vị đo lường một điều gì đó nữa. Viết lách chẳng liên quan gì đến ý nghĩa. Nó phải liên quan đến việc khảo sát, lập bản đồ, thậm chí những lĩnh vực sắp xuất hiện.

    Loại sách đầu tiên là sách gốc. Cây đã là hình ảnh thế giới, tức càng gốc rễ càng có tính hình ảnh hệ thế giới-cây. Đây là sách cổ điển, vì cao quí, ý nghĩa, và tính chất nội bộ cơ quan chủ quan (các địa tầng của sách). Sách bắt chước thế giới, như nghê thuật bắt chước tự nhiên: bằng những thủ tục cụ thể của nó để nó hoàn thành những gì tự nhiên không thể hay có thể không còn làm. Qui luật về sách là qui luật phản chiếu, Một mà thành hai. Làm thế nào qui luật về sách này có thể thể hiện trong tự nhiên, khi nó là những gì điều khiển phân hóa giữa thế giới và sách, tự nhiên và nghệ thuật? Một trở thành hai: bất cứ khi nào chúng ta đương đầu với công thức này, thậm chí Mao đã tuyên bố một cách chiến lược tức hiểu một cách “biện chứng” nhất có thể, là những gì của chúng ta và đã có trước chúng ta là loại tư tưởng cổ điển nhất, được phản ảnh tốt nhất, cổ nhất và buồn chán nhất. Tự nhiên không hoat động theo cách đó: trong tự nhiên, rễ đều là rễ cái với một hệ thống phức tạp, hướng ngang và tuần hoàn hơn, tức đa nhánh, hơn là một hệ phân đôi. Tư tưởng tụt lại sau tự nhiên. Thậm chí quyển sách trong vai trò một hiện thực tự nhiên là một rễ cái với gai chính và những chiếc lá xung quanh. Các cuốn sách đều là hiện thực tinh thần, cái Cây ung dung hay Rễ là một hình ảnh, phát triển bất tận theo luật Một thành hai, sau đó hai thành bốn…Logic nhị phân là hiện thực tinh thần của hệ rễ-cây. Thậm chí môn học “tiên tiến” như ngữ học vẫn giữ hệ rễ-cây làm hình ảnh cơ sở, và do đó vẫn còn hòa hợp với suy nghĩ cổ điển (vì dụ, Chomsky và cây ngữ pháp của ông, nó bắt đầu ở điểm S và tiến triển bằng cách phân đôi). Quá đủ để nói rằng hệ thống tư tưởng này chưa bao giờ đạt đến mức lí giải về đa cách: để đi đến hai theo phương pháp tinh thần thì ta hầu như phải thừa nhận một nguyên tắc đồng nhất vững chắc. Phụ thêm vào khách thể, không còn nghi ngờ, theo phương pháp tự nhiên, là có thể đi trực tiếp từ Một đến ba, bốn, hoặc năm, nhưng với điều kiện là phải có một nguyên tắc đồng nhất vững chắc, cũng nguyên tắc rễ cái nuôi dưỡng những nhánh rễ thứ cấp. Điều đó không đưa chúng ta đi quá xa. Logic nhị phân về phân đôi đơn giản được thay thế bởi quan hệ lưỡng đơn nghĩa giữa các chu trình liên tiếp. Rễ cái không cung cấp hiểu biết về đa cách tốt hơn rễ phân đôi. Một hoạt động ở khách thể, cái kia thì ở chủ thể. Logic nhị phân và quan hệ lưỡng đơn nghĩa vẫn thống trị phân tâm học (cây ảo giác trong diễn giải của Freud về trường hợp của Schreber), ngữ học, cấu trúc luận, và thậm chí khoa học thông tin.

    Hệ thống rễ con, tức rễ chùm, là dạng thứ hai của sách mà thời hiện đại của chúng ta đang tỏ lòng thành. Thời đại này, rễ chính đã bị thui chột, tức chóp đỉnh của nó đã bị phá hủy; một đa cách tức thời, bất định của những rễ thứ cấy ghép vào nó và trải qua quá trình phát triển sum xuê. Thời gian này, hiện thực tự nhiên là những gì thui chột rễ chính, nhưng tính đồng nhất của rễ vẫn sống, như đã sống, hoặc sẽ sống, với mọi khả năng. Chúng ta phải hỏi liệu hiện thực tinh thần mang tính phản xạ có bù đắp cho trạng thái này của các sự vật bằng cách đòi hỏi một sự đồng nhất bí mật toàn diện, hoặc một tổng thể bao quát hơn không. Hãy lấy phương pháp cắt-ghép của William Burroughs: gấp một văn bản vào một văn bản khác để cấu thành những đa rễ , thậm chí mang tính ngẫu nhiên (như một lát cắt), việc gấp này hàm ý một chiều kích bổ sung vào chiều kích các văn bản đang xét. Trong chiều kích gấp bổ sung này, sự đồng nhất tiếp tục công việc tinh thần của nó. Đấy là tại sao công trình rời rạc dung giải nhất cũng có thể được trình bày như là Công Trình Toàn Diệnhoặc Tác Phẩm Công Phá. Hầu hết các phương pháp làm sinh sôi nảy nở hàng loạt tức tăng trưởng đa cách đều hợp lí một cách hoàn hảo theo một hướng, hướng tuyến tính chẳng hạn, trong khi sự đồng nhất cộng gộp khẳng định mình một cách cương quyết hơn trong một chiều kích vòng quanh tức tuần hoàn, khác. Bất cứ khi nào một đa cách được áp dụng vào một cấu trúc, tăng trưởng của nó là sự bù đắp vào việc giảm các qui luật kết hợp của nó. Những kẻ phá thai đồng nhất, quả thật, là những kẻ sáng tạo thiên thần, những bác sĩ thiên thần, vì họ khẳng định sự đồng nhất thiên thần và cao cấp một cách đúng đắn. Lời của Yoyce, được mô tả một cách chính xác là có “nhiều rễ”, phá vỡ sự đồng nhất tuyến tính của lời nói, thậm chí của ngôn ngữ, chỉ để ấn định một sự đồng nhất tuần hoàn của câu, văn bản, hoặc tri thức. Cách ngôn của Nieitzche phá vỡ sự đồng nhất tuyến tính của tri thức, chỉ để cầu khẩn sự đồng nhất tuần hoàn của luân hồi vĩnh cửu, hiện diện như điều chưa được biết trong tư tưởng. Điều này quá đủ để nói rằng hệ thống tụ thành bó không thực sự cắt đứt với thuyết nhị nguyên, với mối ràng buộc giữa một chủ thể và một khách thể, giữa một hiện thực tự nhiên và một hiện thực tinh thần: sự đồng nhất trước sau gì cũng bị cản phá, bị làm cho bế tắc trong khách thể, trong khi một loại đồng nhất mới ca khúc khải hoàn trong chủ thể. Thế giới đã đánh mất trục của nó; chủ thể thậm chí còn không thể phân đôi mà gia nhập một sự đồng nhất cao hơn, có tính nước đôi hay phức định, trong một chiều kích bổ sung cho chiều kích của khách thể. Thế giới đã trở nên hỗn độn, nhưng sách vẫn còn là hình ảnh thế giới: hệ hỗn tạp-rể con, hơn là hệ hài hòa-gốc rễ. Một trạng thái bí ẩn lạ lùng: cuốn sách thậm chí toàn diện hơn khi bị vỡ thành từng mảnh. Bất luận thế nào, một ý tưởng tẻ nhạt thế nào, sách là hình ảnh thế giới. Quả đúng, không đủ để nói,“Bội số muôn năm”, khó tựa việc phải kêu lên tiếng đó. Không kĩ thuật in ấn tài tình, từ vựng, hay thậm chí cú pháp nào đủ để người ta hiểu nó. Bội số phải được thực hiện, không phải lúc nào cũng thêm vào một chiều kích cao hơn, mà đúng hơn, bằng cách đơn giản nhất trong các cách, bằng nỗ lực điềm tĩnh cùng với số lượng chiều kích thì một đã có sẵn – luôn là n-1 (cách duy nhất để một thuộc về bội số: luôn bị trừ). Trừ cái độc nhất vô nhị khỏi đa cách để xây dựng nó; viết ở n-1 chiều kích. Một hệ thống loại này có thể gọi là một thân rễ. Một thân rễ như cuống ngầm tuyệt đối khác với rễ và rễ mầm. Thân củ và củ đều là thân rễ. Thực vật với rễ hay rễ mầm đều có thể mang tính thân rễ trong những khía cạnh khác nói chung: vấn đề là liệu nét đặc trưng của đời sống thực vật có hoàn toàn mang tính thân rễ hay không. Thậm chí vài sinh vật có tính chất này, trong hình thức bầy đàn. Lũ chuột là những thân rễ. Hang của cầy, thỏ cũng có, trong tất thảy những chức năng ẩn náu và tiếp tế, vận động, lẩn tránh, và vùng vẩy của chúng. Thân rễ tự nó đảm nhận những hình thức riêng đa dạng, từ việc mở rộng bề mặt phân nhánh ra mọi hướng đến việc kết thành củ và thân củ. Trong khi chuột di chuyển bầy đàn con nọ trèo qua con kia cũng thế. Thân rễ gồm có cái tốt nhất và cái xấu nhất: khoai tây và cỏ băng, tức cỏ rong. Thú vật và thực vật, cỏ băng là cỏ cua. Chúng tôi có cảm giác rõ rệt rằng chúng tôi sẽ không thuyết phục được ai trừ khi chúng tôi đề ra những đặc tính gần đúng nhất định về thân rễ.

    1 và 2. Những Nguyên Lí kết nối và hỗn tạp: bất cứ điểm nào của thân rễ cũng có thể được kết nối với bất cứ điểm khác, và phải thế, điều này rất khác với thân cây hay rễ cây vốn đánh dấu một điểm, ấn định một trật tự. Cây ngữ học trong mô hình Chomsky vẫn bắt đầu tại điểm S và tiến triển bằng cách phân đôi. Ngược lại, không phải mỗi đặc điểm của thân rễ nhất thiết phải kết nối với một tính năng ngữ học: chuỗi dấu hiệu của mỗi bản chất được nối với chính các phương thức mã hóa đa dạng (sinh học, chính trị, kinh tế, v.v.) mà nó phát huy không những các chế độ dấu hiệu khác nhau mà còn cả trạng thái sự vật của những thân phận khác nhau. Các tập hợp tuyên ngôn chung hoạt động trực tiếp trong phạm vi các tập hợp cơ giới; không phải không thể cắt đứt hoàn toàn quan hệ giữa các chế độ dấu hiệu và đối tượng của chúng. Thậm chí khi ngữ học khẳng định tự giới hạn vào những gì là rõ ràng và không tạo những giả định về ngôn ngữ, nó vẫn trong phạm vi một hàm ngôn hàm ý những phương thức tập hợp riêng và các loại quyền lực xã hội. Ngữ pháp của Chomsky, biểu tượng S vô điều kiện thống trị mỗi câu cú, cơ bản là một kẻ ghi dấu quyền lực hơn là kẻ ghi dấu cú pháp: bạn sẽ xây dựng câu cú đúng theo ngữ pháp, bạn sẽ chia mỗi tuyên ngôn thành cụm danh từ và cụm động từ (phân đôi đầu tiên…). Phê phán của chúng tôi về những mô hình ngữ học này không phải vì chúng quá trừu tượng, mà ngược lại, vì chúng không đủ trừu tượng, vì chúng không đạt đến cỗ máy trừu tượng kết nối một ngôn ngữ với nội dụng ngữ nghĩa và thực dụng của những phát biểu, với tập hợp tuyên ngôn chung, với toàn bộ chính trị vi mô trong phạm vi xã hội. Một thân rễ liên tục thiết lập những kết nối giữa các chuỗi dấu hiệu, các tổ chức quyền lực, và những trường hợp liên quan đến nghệ thuật, khoa học, tranh đấu xã hội. Một chuỗi dấu hiệu giống như một thân củ tích tụ những hành động hết sức đa dạng, không chỉ mang tính ngữ học mà còn là cảm thụ, bắt chước, điệu bộ và nhận thức: tự thân nó không có ngôn ngữ, bất cứ ngữ học phổ quát nào cũng không, chỉ là một tập hợp phương ngữ, thổ ngữ, tiếng lóng, và ngôn ngữ chuyên môn. Không có người nói – người nghe lí tưởng, không hơn gì một cộng đồng ngữ học đồng nhất. Ngôn ngữ là, theo lời của Weinreich, “một hiện thực, về bản chất, không đồng nhất”. Không hề có tiếng mẹ đẻ, chỉ là quyền lực tiếp quản bởi ngôn ngữ thống trị trong phạm vi một đa cách chính trị. Ngôn ngữ ổn định quanh một giáo xứ, một địa phận nhà thờ, môt thủ phủ. Nó hình thành củ. Nó tiến hóa bằng những cuống và dòng chảy ngầm, , dọc theo những lưu vực hay những đường tàu hỏa: nó lan rộng như một vệt dầu. Ta luôn có thể phá vỡ một ngôn ngữ thành những yếu tố nội cấu trúc, một nhiệm vụ về cơ bản không khác biệt với việc tìm kiếm rễ cây. Cây luôn có một cái gì đó có tính chất phả hệ. Nó không phải là phương pháp cho mọi người. Một phương pháp kiểu thân rễ, ngược lại, có thể phân tích ngôn ngữ chỉ bằng cách làm lệch tâm nó vào những chiều kích khác và những sổ sách khác. Một ngôn ngữ không bao giờ khép kín với chính nó, trừ khi nó là chức năng bất lực.

    3. Nguyên lí đa cách: chỉ khi bội số thực sự được đối xử như nó tồn tại độc lập, “đa cách”, đó là nó chấm dứt mọi quan hệ với Một trong vai trò chủ thể hay khách thể, hiện thực tự nhiên hay tinh thần, hình ảnh và thế giới. Những đa cách đều mang tính thân rễ và vạch trần những đa cách giả dạng cây cho dù chúng là gì. Không có sự đồng nhất nhằm phục vụ như một trục đứng trong khách thể, tức phân chia trong chủ thể. Thậm chí không có sự đồng nhất nhằm trục xuất trong khách thể và “hoàn trả” trong chủ thể. Một đa cách không có chủ thể lẫn khách thể, chỉ có những quyết định, độ lớn và các chiều kích vốn không thể gia tăng về số lượng mà không có đa cách thay đổi về bản chất (các qui luật kết hợp do đó gia tăng về số lượng khi đa cách phát triển). Những sợi dây điều khiển con rối, là thân rễ hay đa cách của những sợi thần kinh, chúng tạo thành con rối nữa trong những chiều kích khác kết nối với con rối đầu: “Gọi sợi dây hoặc chiếc cần điều khiển con rối là đan dệt. Có lẽ người ta phản đối vì đa cách của nó thể hiện ở người diễn viên, kẻ hóa thân nó vào chủ đề. Cứ cho là như thế; những sợi thần kinh của diễn viên lần lượt hình thành việc đan dệt. Và chúng phân li chất xám, mạng lưới, làm chúng trở nên vô định hình…Những tác động lẫn nhau rất gần với hoạt động thuần túy của người thợ dệt được cho là do Ba Nữ Thần Mệnh (the Fates or the Norns) trong thần thoại điều khiển". Đây đúng là một tập hợp mà nó gia tăng những chiều kích của một đa cách, đa cách này nhất thiết phải thay đổi bản chất khi nó phát triển những kết nối. Không có những điểm tức vị trí nào trong một thân rễ, như chúng được tìm thấy trong một cấu trúc, thân cây, hoặc rễ cây. Chỉ có những tuyến. Khi Glenn Gould tăng tốc độ trình diễn một bản nhạc, ông không chỉ phô trương sự điêu luyện, ông đang biến đổi các điểm nhạc thành các tuyến, ông đang làm toàn bộ bản nhạc đó sinh sôi nảy nở. Con số không còn là một khái niệm chung đo đạc các yếu tố dựa theo công dụng của chúng trong một chiều kích nhất định, mà tự nó đã trở thành một đa cách biến đổi theo các chiều kích đang xét (tính ưu việt của một lĩnh vực qua một phức hợp các con số gắn với lĩnh vực đó). Chúng tôi không có các đơn vị đo lường, chỉ có các đa cách tức nhiều cách đo khác nhau. Ý niệm về sự đồng nhất chỉ xuất hiện khi có một sự tiếp quản quyền lực trong đa cách bằng kí hiệu hay một tác động chủ quan tương ứng: đây là trường hợp mà sự đồng nhất-trục hình thành nền tảng cho một tập hợp quan hệ lưỡng đơn nghĩa (biunivocal) giữa các yếu tố chủ quan tức các điểm, hoặc nền tảng để Một chia theo luật logic vi biệt nhị phân trong chủ thể. Sự đồng nhất luôn hoạt động trong một chiều kích rỗng bổ sung cho chiều kích của hệ thống đang xét (những mã hóa quá mức). Điểm mà một thân rễ tức đa cách không bao giờ tự cho phép bị mã hóa quá mức không khi nào sẵn có một chiều kích bổ sung vượt quá số lượng các tuyến của nó, nghĩa là, vượt đa cách về tổng số gắn với những tuyến này. Mọi đa cách đều phẳng, trong ý thức là chúng lấp đấy tức chiếm chỗ mọi chiều kích của chúng: do đó chúng ta sẽ nói về một mặt phẳng đồng nhất hoặc các đa cách, cho dù các chiều kích của “mặt phẳng” này gia tăng số lượng các kết nối được tạo nên từ nó. Các đa cách được định rõ bởi cái bên ngoài: bằng những tuyến trừu tượng, thăng tuyến tức những tháo dỡ theo cách mà chúng thay đổi bản chất và kết nối với những đa cách khác. Mặt phẳng đồng nhất (mạng lưới) là cái bên ngoài của mọi đa cách. Thăng tuyến đánh dấu: thực tại của một số lượng bất tận các chiều kích mà đa cách choán đầy một cách hiệu quả; sự bất khả của chiều kích bổ sung, trừ đa cách, được biến đổi bởi thăng tuyến; khả năng và nhu cầu san phẳng mọi đa cách trên một mặt phẳng đồng nhất đơn tức tình trạng ngoài, bất chấp số lượng các chiều kích của chúng. Điều lí tưởng của một quyển sách sẽ là trải mọi thứ ra trên một mặt phẳng ngoài loại này, trên một trang sách giản đơn, trên cùng tờ giấy: những sự kiện thực, những quyết định lịch sử, những khái niệm, những cá nhân, những nhóm, những cơ cấu xã hội. Kleist phát minh cách viết theo thể loại này, một chuỗi những tác động đứt quãng và những tốc độ biến thiên, cùng với gia tốc và những biến đổi, luôn tương quan với bên ngoài. Hãy mở những vòng đai. Do đó, những văn bản của ông đều chống đối sách cổ điển hay lãng mạn được thiết lập bởi tính chất bên trong của một bản thể tức chủ thể bằng mọi cách. Sách-cổ máy chiến tranh chống lại sách-cơ cấu Nhà Nước. Những đa cách Phẳng n chiều kích đều vô nghĩa và vô cầu. Chúng được định rõ bởi những mạo từ bất định, hoặc đúng hơn bởi những từ định lượng (một loài cỏ băng nào đó, một ít của một thân rễ…).

    4. Nguyên lí về sự gián đoạn vô nghĩa: tương phản với sự quá nghĩa vốn phá vỡ làm đôi một cấu trúc tức cắt qua một cấu trúc đơn. Một thân rễ có thể bị gãy, bị phá vỡ ở một nơi nhất định, nhưng nó sẽ lại khởi phát tại một trong những tuyến cũ của nó, hay tại những tuyến mới. Bạn có thể chẳng bao giờ rũ bỏ được những con kiến vì chúng hình thành một thân rễ động vật có thể phục hồi nhiều lần sau khi hầu hết đã bị phá hủy. Mỗi thân rễ gồm nhiều tuyến phân khúc dựa theo đó nó được phân tầng, được khu vực hóa, được tổ chức, được biểu đạt, thuộc tính hóa .v.v. cũng như các tuyến tháo dỡ, nó luôn lẩn trốn xuôi theo đó. Có một sự gián đoạn trong thân rễ bất cứ khi nào các tuyến phân khúc nổ tung thành một thăng tuyến, nhưng thăng tuyến là một phần của thân rễ. Những tuyến này luôn ràng buộc với một tuyến khác. Đấy là tại sao ta có thể chẳng bao giờ ấn định một thuyết nhị nguyên tức một lưỡng phân, thậm chí trong hình thức thô sơ của cái tốt và cái xấu. Bạn có thể tạo sự gián đoạn, vẽ một thăng tuyến, mặc dù vẫn có nguy cơ rằng bạn sẽ lại đương đầu với những tổ chức mà chúng tái phân tầng mọi thứ, những cơ cấu phục hồi quyền lực cho cái biểu đạt, những thuộc tính mà chúng tái thiết chủ thể - bất cứ thứ gì bạn muốn, từ việc hồi sinh phức cảm Oedipus đến những khối phát-xít. Các nhóm và các cá thể gồm có chủ nghĩa phát-xít vi mô chỉ chờ đợi để kết tinh. Vâng, cỏ băng cũng là một thân rễ. Điều tốt và điều xấu chỉ là sản phẩm của chọn lựa chủ động và nhất thời, việc chọn lựa này phải được phục hồi.

    Làm thế nào những trào lưu tháo dỡ và các quá trình tái lập không thể liên quan với nhau, luôn được kết nối, choán chỗ lẫn nhau? Cây phong lan tháo dỡ bằng cách hình thành một hình ảnh, một đồ hình về một con ông vò vẽ; nhưng con ong tái lập trên hình ảnh đó. Tuy nhiên con ong bị tháo dỡ thành một bộ phận trong bộ máy tái sản xuất của phong lan. Nhưng nó tái lập phong lan bằng cách chuyên chở phấn hoa. Ong vò vẽ và phong lan, là những yếu tố hỗn tạp, hình thành một thân rễ. Ta có thể nói rằng phong lan bắt chước ong vò vẽ, tái sản xuất hình ành của nó trong kiểu dáng có nghĩa (ngụy trang, bắt chước, nhử mồi.v.v.), nhưng điều này là thực chỉ ở mức địa tầng – tính chất song song tương đương giữa hai địa tầng đã khiến một tổ chức thực vật ở một bên bắt chước một động vật ở bên kia. Đồng thời, một cái gì đó nữa đang tiếp diễn một cách toàn bộ: không chút bắt chước, mà là một sự bắt giữ mật mã, giá trị thặng dư của mật mã, một sự gia tăng về hóa trị, một điều đang trở nên thực, phong lan đang trở thành ong vò vẽ và ong vò vẽ đang trở thành phong lan. Mỗi trong những điều đang trở thành này dẫn đến việc tháo dỡ một giới hạn và tái lập một giới hạn khác; cả hai cái đang trở thành này khâu nối vào nhau và hình thành những rơ-le trong hệ thống tuần hoàn của những cường lực và đẩy sự tháo dỡ xa hơn bao giờ hết. Không có việc bắt chước hay giống nhau, chỉ là sự bùng nổ của hai chuỗi hỗn tạp trên thăng tuyến được sắp xếp bởi một thân rễ chung mà nó có thể không còn được gán thuộc tính hoặc bị khuất phục bởi bất cứ điều gì có nghĩa. Remy Chauvin nhấn mạnh một cách sâu sắc: “sự tiến hóa song song của hai thực tồn tuyệt đối không có gì liên quan nhau”. Tổng quát hơn, những phối hợp tiến hóa có thể bị buộc phải từ bỏ mô hình cây cũ và dòng dõi xưa. Dưới những điều kiện nhất định, một vi-rút có thể kết nối với nguyên bào và truyền chính nó y như gen tế bào của một loài phức hợp; hơn nữa, nó có thể lẩn trốn, di chuyển vào trong các tế bào của một loài hoàn toàn khác biệt, nhưng không phải là không mang theo “thông tin di truyền” từ người chủ đầu tiên (ví dụ, nghiên cứu hiện nay của Benveniste và Todaro về chủng loại vi-rút C, với kết nối đôi của nó với DNA của khỉ đầu chó và DNA của những loại mèo nhà nào đó). Giản đồ tiến hóa không còn theo những mô hình phả hệ đi từ khác biệt nhỏ nhất đến lớn nhất, mà thay vào đó là một thân rễ hoạt động trực tiếp trong sự hỗn tạp và nhảy từ một tuyến vốn được khu biệt sang một tuyến khác. Một lần nữa, có một sự tiến hóa song song, của khỉ đầu chó và mèo; rõ ràng là chúng không phải là những mô hình hay bản sao của nhau (một con khỉ đang trở thành trong con mèo không có nghĩa là con mèo “chơi” con khỉ). Chúng ta hình thành một thân rễ với những động vật khác. Như Francois Jacob nói, những di chuyển của vật liệu gen bởi vi-rút tức qua những thủ tục khác, sự dung hợp các tế bào hình thành trong những loài khác, đều có kết quả tương tự với những kết quả về “sự móc nối xấu xa quen thuộc thời xưa và thời Trung Cổ”. Những truyền đạt theo chiều ngang giữa những tuyến khác nhau góp nhặt thành những cây phả hệ. Luôn tìm kiếm phân tử, hay thậm chí hạ phân tử, phần tử liên kết với chúng ta. Chúng ta tiến hóa và chết vì tính đa dạng và bệnh cúm thân rễ của mình hơn là những bệnh di truyền, tức những bệnh thuộc riêng một dòng dõi. Thân rễ chống lại cây phả hệ.
  3. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    (tiếp)

    Những áp dụng tương tự đối với sách và thế giới: tương phản với niềm tin đã bén rễ sâu, sách không phải là một hình ành của thế giới. Nó hình thành một thân rễ với thế giới, có một sự tiến hóa song song giữa sách và thế giới; sách đảm bảo việc tháo dỡ thế giới, nhưng thế giới cũng đem lại sự tái lập sách mà đến lượt, sách cũng tháo dỡ chính nó trong thế giới (nếu nó có năng lực, nếu nó có khả năng). Bắt chước là một khái niệm xấu xa, vì nó dựa vào logic nhị phân để mô tả hiện tượng của một bản chất hoàn toàn khác biệt. Cá sấu không tái sinh một thân cây, chẳng khác gì tắc kè tái sinh sắc màu xung quanh nó. Con Báo Hồng chẳng bắt chước gì cả, nó chẳng tái sinh gì cả, nó sơn phết thế giới bằng sắc màu của nó, hồng cạnh hồng; đây là thế giới đang trở thành của nó, được thực hiện theo đúng cái cách nó đang trở thành không thể nhận biết chính nó, vô nghĩa, tự làm gián đoạn, tự tạo thăng tuyến riêng, nó theo đuổi “tiến hóa phi song song” của chính nó, kiên trì bền chí. Tính chất khôn ngoan của thực vật: thậm chí với một thứ gì khác nữa – với gió, một động vật, con người (và cũng có khía cạnh mà sau nó các động vật tự chúng thiết lập thân rễ, cũng như con người ta, v.v.). “Chứng nghiện rượu là sự xâm nhập khải hoàn của thực vật vào trong chúng ta”. Luôn theo sau thân rễ bằng sự gián đoạn; kéo dài, nối dài, và chuyển tiếp các thăng tuyến; làm nó biến đổi, cho đến khi bạn trình bày tính chất trừu tượng và khúc khuỷu nhất của những tuyến thuộc N chiều kích và làm gãy các hướng. Tiếp hợp những dòng được tháo dỡ. Tiếp bước thực vật: bạn bắt đầu bằng việc phân định tuyến đầu tiên gồm các vòng hội tụ xung quanh những điểm kì dị kế tiếp nhau; sau đó bạn sẽ hiểu rằng liệu bên trong tuyến đó những vòng hội tụ mới có tự thiết lập không, cùng với những điểm mới nằm ở bên ngoài những giới hạn và trong những hướng khác. Hãy viết, thiết lập một thân rễ, gia tăng lãnh địa bằng tháo dỡ, mở rộng thăng tuyến đến điểm mà nó trở thành một cỗ máy trừu tượng bao phủ toàn bộ mặt phẳng đồng nhất. “Trước hết, hãy đến khu vườn cũ của bạn và quan sát kĩ dòng nước tạo bởi cơn mưa. Ngay bây giờ, cơn mưa hẳn đã mang những hạt mầm đi xa. Hãy quan sát những kẻ hở tạo bởi những rãnh thoát nước, và từ đó quyết định hướng của dòng chảy. Sau đó hãy tìm cây thực vật đang mọc ở điểm xa nhất của nó. Mọi cỏ cây quái gỡ đang mọc ở giữa đều là của bạn. Sau này…bạn có thể mở rộng kích thước lãnh địa của mình bằng cách men theo dòng nước từ mỗi điểm cây mọc dọc theo nó”. Âm nhạc luôn gửi đi những thăng tuyến, giống như rất nhiều “đa cách biến đổi”, thậm chí lật đổ chính những mật mã đã cấu trúc hoặc cây hóa nó; đấy là tại sao hình thức âm nhạc, đích thực là những gián đoạn và sinh sôi nảy nở, có thể sánh với rong rêu, với một thân rễ.

    5 và 6, nguyên lí bản đồ học và thú chơi đề-can: một thân rễ không tuân theo bất cứ mô hình cấu trúc hoặc sinh sản nào. Nó là kẻ xa lạ với bất cứ ý tưởng về trục di truyền hoặc cấu trúc có chiều sâu nào. Một trục di truyền giống như một sự đồng nhất then chốt khách quan mà dựa trên đó các giai đoạn kế tiếp nhau được tổ chức ; một cấu trúc có chiều sâu giống với một chuỗi cơ bản có thể bị gãy vỡ thành những phần tử kề nhau, trong khi sự đồng nhất của sản phẩm chuyển thành một chiều kích khác có thể biến đổi và mang tính chủ quan. Điều này không cấu thành một khởi điểm từ mô hình biểu đạt dạng cây, hay hệ rể - rễ cái tức những bó rễ (“cây” của Chomsky chẳng hạn, được kết hợp với chuổi cơ bản và biểu đạt quá trình của thế hệ riêng của nó về mặt logic nhị phân). Một sự biến thiên ở hình thưc tư tưởng xưa cũ nhất. Đó là quan niệm của chúng ta, rằng trục di truyền và cấu trúc thâm sâu là quan trọng hơn mọi nguyên lí tái sinh đồ hình vô cùng tận. Mọi logic dạng cây đều là logic đồ hình và tái sinh. Trong ngữ học cũng như phân tâm học, đối tượng của nó là một tiềm thức biểu đạt chính nó, được kết tinh thành những phức hợp có hệ thống, trải dọc theo trục di truyền và phân bố trong phạm vi cấu trúc cú pháp. Mục tiêu của nó là để mô tả một nguyên trạng, để duy trì cân bằng trong các quan hệ liên chủ thể, tức để thám sát một tiềm thức đã sẵn đó hình thành sự khởi đầu, ẩn nấp nơi sấu kín tối tăm của trí nhớ và ngôn ngữ. Nó gồm có đồ hình, trên cơ sở một cấu trúc mã hóa vượt mức tức trục chống đỡ, một cái gì đó đang trở nên sẵn sàng được tạo. Chiếc cây khớp nối và sắp xếp các đồ hình theo thứ bậc; các đồ hình giống những chiếc lá trên cây.

    Thân rễ hoàn toàn khác biệt, một bản đồ mà không là đồ hình. Lập một bản đồ chứ không phải một đồ hình. Phong lan không tái sinh đồ hình của ong vò vẽ; nó thiết lập một bản đồ với con ong, trong một thân rễ. Điều phân biệt bản đồ với đồ hình là nó hoàn toàn hướng đến một thử nghiệm tiếp xúc với điều thực. Bản đồ không tái sinh một tiềm thức tiếp xúc chặt chẽ với điều thực. Bản đồ không tái sinh một tiềm thức tiệm cận với chính nó; nó xây dựng tiềm thức. Nó tăng cường những kết nối giữa các phạm vi, di dời những bế tắc của phi quan thể, mở toang chúng trên mặt phẳng đồng nhất. Nó chính là một phần của thân rễ. Bản đồ mở và có thể kết nối ở mọi chiều kích của nó; nó có thể tách, đảo ngược, luôn dễ sửa đổi. Nó có thể bị xé rách, đảo ngược, thích ứng với bất cứ sự lắp đặt nào, có thể được chỉnh sửa bởi một cá nhân, nhóm tức tổ chức xã hội. Nó có thể được vẽ trên tường, được quan niệm như một tác phẩm nghệ thuật, được xây dựng thành một hành động chính trị hay trầm tư mặc tưởng. Có lẽ một trong những đặc tính quan trọng nhất của thân rễ là nó luôn có nhiều lối vào; trong ý thức này, hang hốc là một thân rễ động vật, và đôi khi nó duy trì khu biệt giữa các thăng tuyến là những lối nhỏ và kho lưu trữ hay địa tầng sống (ss. the muskrat). Một bản đồ có nhiều lối vào, là đối lập với đồ hình vốn luôn trở về tính chất “đơn điệu”. Bản đồ phải liên quan đến việc thực thi, trong khi đồ hình luôn bao gồm một “thẩm quyền” được viện dẫn. Không giống như phân tâm học, năng lực phân tâm học (nó giam hãm mọi khát vọng và tuyên ngôn vào trục di truyền tức cấu trúc mã hóa vượt mức, và tạo nên hằng hà sa số, những đồ hình buồn tẻ của những giai đoạn trên trục đó tức những phần tử của cấu trúc đó), việc phân tích bệnh tâm thần phân lập bác bỏ bất cứ ý tưởng nào về vận mệnh tiền nguyên, bất cứ tên gì được gán cho nó – thần thánh, thuyết thần bí, lịch sử, kinh tế, cấu trúc, di truyền hay đơn vị cú pháp (rõ ràng Melanie Klein không giải thích bản đồ học của một trong những đứa trẻ bệnh nhân của cô, Little Richard, và sẵn sàng đồ lại những đồ hình tạo sẵn – Phức Cảm Oedipus, người cha tốt và người cha tồi, người mẹ tồi và người mẹ tốt – trong khi đứa trẻ liều lĩnh thực thi điều mà nhà phân tâm học hoàn toàn hiểu sai). Những chiều hướng và đối tượng tùy nhiệm đều không phải là những giai đoạn trên trục di truyền, cũng không phải là những vị trí trong một cấu trúc có chiều sâu; chúng là những chọn lựa chính trị cho các vấn đề, chúng là những lối vào và ra, những ngõ cụt mà đứa trẻ vượt qua được một cách khôn ngoan, nói cách khác, với mọi tác động dục vọng của cha hay mẹ.

    Tuy nhiên, liệu chúng ta có trở lại thuyết nhị nguyên đơn sơ bằng cách tạo tương phản bản đồ với đồ hình, như giữa tốt và xấu hay không? Có phải bản đồ về cơ bản là có thể đồ được? Có phải thân rể về cơ bản là để phân cách rễ và đôi khi hợp nhất với chúng? Có phải bản đồ gồm những hiện tượng thừa thải vốn giống những đồ hình của riêng nó? Có phải một đa cách không có các địa tầng mà trên đó những hợp nhất và liên kết, những đại chúng hóa, những cơ chế bắt chước, nắm quyền kiểm soát ý nghĩa, và những thuộc tính chủ quan bén rễ? Có phải ngay cả những thăng tuyến, do sự phân kỳ ngẫu nhiên của chúng, tái sinh chính những cơ cấu mà chức năng của chúng là để tháo dỡ hoặc công sườn? Nhưng đối lập cũng đúng. Đó là vấn đề về phương pháp: đồ hình nên được đặt lại trên bản đồ, luôn thế. Thao tác này và những thao tác trước không chút đối xứng. Vì không chính xác khi nói rằng đồ hình tái sinh bản đồ. Nó, thay vì giống như một bức ảnh X quang bắt đầu bằng việc chọn lọc tức cách li, lại bắt đầu bằng những phương tiện nhân tạo như tô màu tức những thủ tục hạn chế, những gì nó định tái sinh. Kẻ bắt chước luôn sáng tạo mô hình, và thu hút nó. Đồ hình vốn đã biên dịch bản đồ thành một hình ảnh; nó cũng đã biến đổi thân rễ thành rễ và rễ mầm. Nó đã tổ chức, ổn định, trung lập hóa những đa cách dựa theo những trục tạo nghĩa và chủ quan hóa vốn cũng thuộc về nó. Nó đã sản sinh, cấu trúc hóa thân rễ, và khi nó nghĩ nó đang tái sinh một cái gì đó nữa thì nó, quả thực, chỉ đang tái sinh chính nó. Đấy là tại sao đồ hình quá nguy hiểm. Nó tiêm những thừa thải và nhân giống chúng. Những gì đồ hình tái sinh cho bản đồ tức thân rễ đều chỉ là những ngõ cụt, những phong tỏa, những phôi rễ cái, tức những điểm cấu trúc. Hãy nhìn vào phân tâm học và ngữ học: mọi thứ mà cái trước đã từng tạo nên, đều là những đồ hình tức ảnh chụp tiềm thức, và cái sau thuộc ngôn ngữ, cùng với mọi tiết lộ mà nó hàm ý (không ngạc nhiên rằng phân tâm học trói buộc số mệnh của nó vào số mệnh ngữ học). Hãy nhìn những gì đã xảy ra cho Little Hans, một ví dụ về phân tâm học trẻ em ở mức độ thuần túy nhất: họ đã liên tục PHÁ VỠ THÂN RỄ và BÔI BẨN BẢN ĐỒ của nó, gán cho nó điều nó không hiểu, khóa mọi ngõ ra của nó, cho đến khi nó bắt đầu khát khao sự hổ thẹn và tội lỗi của riêng nó, cho đến khi họ gieo mầm xấu hổ và tội lỗi vào nó, NỖI SỢ (họ ngăn cản nó khỏi thân rễ xây dựng, sau đó khỏi thân rễ đường phố, họ chôn chân nó trên giường của ba mẹ nó, họ cấy mầm vào cơ thể nó, họ gắn bó nó với Gíao sư Freud). Freud rõ ràng chiếu cố đến bản đồ học của Little Hans, nhưng luôn luôn và chỉ để đặt nó trở lại hình ảnh gia đình. Và hãy nhìn những gì Melanie Klein làm đối với những bản đồ địa chính trị của Little Richard: bà đã phát triển những hình ảnh từ chúng, tạo ra những đồ hình từ chúng. Làm dáng hay làm theo trục, giai đoạn di truyền tức số mệnh có cấu trúc – cách này hoặc cách khác, thân rễ của bạn sẽ bị phá vỡ. Bạn sẽ được phép sống và nói, nhưng chỉ sau khi mọi lối thoát đã bị tắc nghẽn. Một khi một thân rễ bị tắc nghẽn, cây hóa, thế là hết, không có dục vọng nào khuấy động; vì nó luôn nhờ thân rễ mà dịch chuyển và sinh sôi. Bất cứ khi nào dục vọng trèo lên cây, những tác động ngược bên trong ngáng ngang nó và nó ngã chết; thân rễ, mặt khác, tác động đến dục vọng bằng việc sản sinh chồi ngoài.

    Đấy là tại sao việc thử những hoạt động khác, ngược nhưng phi đối xứng, là hết sức quan trọng. Cắm lại những đồ hình vào bản đồ, kết nối những rễ hay cây vào lại thân rễ. Trong trường hợp Little Hans, việc nghiên cứu tiềm thức sẽ chứng tỏ nó cố gắng xây dựng một thân rễ như thế nào, không những với các thành viên gia đình mà còn với các thăng tuyến của cao ốc, đường phố v.v.; những tuyến này bị khóa như thế nào, đứa trẻ được tạo ra để bén rễ vào gia đình, được khuôn hình theo người cha, bị theo dấu trên giường người mẹ như thế nào; khi đó sự can thiệp của Giáo sư Freud đảm bảo một quyền lực tiếp quản bởi biểu hiệu, một sự chủ quan hóa những ảnh hưởng; lộ trình thoát duy nhất còn lại cho đứa trẻ là trở thành một con thú, được lĩnh hội như là điều đáng xấu hổ và tội lỗi (chứng sợ trở thành ngựa của Little Hans, một sự chọn lựa chính trị đích thực). Nhưng những bế tắc này phải luôn được tái định vị trên bản đồ, bằng cách đó mở chúng ra với những thăng tuyến khả dĩ. Tương tự áp dụng cho nhóm bản đồ: chỉ ra tại những điểm gì trong thân rễ đó hình thành hiện tượng đại chúng hóa, bộ máy quan chức, việc lãnh đạo, sự quyến rũ .v.v., những tuyến nào bất chấp để sống còn, giá như ngầm dưới đất càng hay, tiếp tục tạo nên thân rễ trong những bóng râm. Phương pháp của Deligny: lên bản đồ những cử chỉ và vận động của đứa trẻ tự kỉ, kết hợp nhiều bản đồ cho cùng một đứa trẻ, cho nhiều đứa trẻ khác nhau. Nếu sự thật bản chất của bản đồ tức thân rễ là có nhiều lối vào, thì điều hợp lí là ta thậm chí có thể bước vào chúng qua những đồ hình tức hệ rễ-cây, giả định rằng những phòng ngừa cần thiết đã được thực hiện (một lần nữa, ta phải tránh bất cứ chủ nghĩa nhị nguyên Manichaean nào). Chẳng hạn, ta sẽ thường xuyên bị buộc phải lâm vào đường cùng, phải làm việc với những khả năng có nghĩa và những ảnh hưởng chủ quan, phải tìm một chỗ đứng trong những cơ cấu phức cảm Oedipus tức hoang tưởng hoặc thậm chí xấu hơn, những tính chất lãnh thổ xơ cứng mà nó mở lối cho những hoạt động biến đổi khác. Thậm chí khả năng để phân tâm học phục vụ với tư cách một chỗ đứng, bất chấp chính nó. Ngược lại, trong những trường hợp khác, ta sẽ trực tiếp ủng hộ chính mình trên một thăng tuyến cho phép ta thổi tung những địa tầng, cắt rễ, và tạo những kết nối mới. Như thế, có nhiều tập hợp bản đồ-đồ hình, thân rể-rể đa dạng, cùng những hệ số tháo dỡ biến thiên. Tồn tại những cấu trúc cây hay rễ trong thân rễ; ngược lại, việc phân hóa một nhánh cây hay rễ có thể bắt đầu đâm chồi thành một thân rễ. Những phối hợp được quyết định không phải bằng những phân tích lí thuyết hàm ý những phổ quát mà bằng những thực tế gồm những đa cách tức kết hợp những sức mạnh. Một thân rễ mới có thể hình thành ở trung tâm của cây, trong hốc rễ, ở những đoạn uốn của cành. Hoặc nữa, nó là một yếu tố cực nhỏ của hệ rễ-cây, một rể mầm mà nó làm năng suất thân rể gia tăng

    Tài khoản và bộ máy quan chức tiến về phía những đồ hình: chúng có thế bắt đầu đâm chồi, tuy nhiên, lại đâm sau các cuống thân rễ, như trong một cuốn tiểu thuyết của Kafka. Một đặc trưng mạnh mẽ bắt đầu hoạt động vì chính nó, một cảm nhận ảo giác, loạn cảm giác, sự đột biến tai quái, hay trò chơi hình ảnh tự giải thoát, thách thức quyền lãnh đạo của biểu hiệu. Trong trường hợp đứa trẻ, những hệ thống cử chỉ, bắt chước, giải trí và dấu hiệu học khác giành lại tự do của chúng và giải thoát chính chúng khỏi “đồ hình”, nghĩa là, hình thành năng lực thống trị ngôn ngữ mà người giáo viên đang sử dụng – một sự kiện cực nhỏ lật đổ cân bằng quyền lực địa phương. Tương tự, những cây khả sinh được cấu trúc theo mô hình đơn vị cú pháp của Chomsky có thể mở ra mọi hướng, và lần lượt hình thành một thân rể. Trở thành dạng rể là để sản sinh những cuống và sợi giống như rể cây, hay tốt hơn là kết nối với chúng bằng cách thâm nhập thân cây, nhưng trói buộc chúng vào những mục đích mới lạ. Chúng ta mệt mỏi với những cái cây. Chúng ta nên chấm dứt tin tưởng vào cây, rễ, hoặc rễ mầm. Chúng làm chúng ta khổ sở quá nhiều. Tất thảy những văn hóa dạng cây đều được thiết lập trên chúng, từ sinh vật học cho đến ngữ học. Chẳng có gì đẹp hay đáng yêu hoặc chính trị ngoài những cuống ngầm và rễ trên không, những tăng trưởng ngẫu nhiên và những thân rễ ngẫu nhiên. Amsterdam, một thành phố hoàn toàn không có rễ, một thành phố-thân rể với hệ cuống-kênh đào, nơi tính thiết thực kết nối với sự điên rồ vĩ đạt nhất, tương quan với một cỗ máy chiến tranh thương mại.

    Tư tưởng không có dạng cây và bộ não không phải là chất liệu bám rể hay phân nhánh. Những gì được gọi một cách sai lạc là “nhánh thần kinh” không đảm bảo sự kết nối của những nơ-ron trong một kết cấu liên tục. Gián đoạn giữa các tế bào, vai trò của các sợi trục, hoạt động của những khớp thần kinh, tồn tại của các vết nứt siêu nhỏ của khớp thần kinh, bước nhảy mà mỗi thông điệp thực hiện qua những vết nứt này, tạo cho não một đa cách mọc chìm trong mặt phẳng nhất quán tức tế bào thần kinh đệm của nó, một hệ thống toàn thể bất định, mang tính xác suất (“hệ thống thần kinh bất định”). Nhiều người có một cái cây đang mọc trong đầu, nhưng bản thân bộ não thì giống một bãi cỏ hơn là một cái cây. “Sợi trục và sợi nhánh cuốn quanh nhau giống như bụi cây bìm bìm quấn quanh các bụi gai, cùng những khớp thần kinh tại mỗi chiếc gai”. Cùng một thứ được áp dụng cho trí nhớ. Bác sĩ thần kinh và nhà phân tâm học phân biệt giữa trí nhớ dài hạn và trí nhớ ngắn hạn (trong khoảng một phút). Khác biệt giữa chúng không là định lượng giản đơn: trí nhớ ngắn hạn thuộc về thân rễ tức dạng sơ đồ, còn trí nhớ dài hạn có dạng cây và được tập trung (vết in, vết tích, đồ hình tức ảnh chụp). Trí nhớ ngắn hạn không thể dễ dàng tuân theo qui luật cận kề tức trực tiếp với đối tượng của nó; nó có thể hành động ở một khoảng cách, đến hay trở lại một thời gian dài sau đó, nhưng luôn dưới những điều kiện gián đoạn, đứt gãy và đa cách. Hơn nữa, những khác biệt giữa hai loại trí nhớ không phải là khác biệt giữa hai phương thức thời gian nắm bắt cùng một sự việc; chúng không túm lấy cùng sự việc, kỉ niệm hay ý tưởng. Vẻ lộng lẫy của Ý Tưởng ngắn hạn: ta viết bằng cách sử dụng trí nhớ ngắn hạn, và như thế, cũng là những ý tưởng ngắn hạn, cho dù ta đọc hay đọc lại bằng cách sử dụng trí nhớ dài hạn về những khái niệm dài hạn. Trí nhớ ngắn hạn (gia đình, chủng tộc, xã hội hay văn minh) theo dấu và phiên dịch, nhưng những gì nó phiên dịch tiếp tục hành động trong nó, từ một khoảng cách, dị thường, trong một cách thức “không đúng lúc”, một cách không tức thời.

    Cây và rễ tạo hình ảnh ảm đạm về tư tưởng mà nó cứ mãi bắt chước bội số trên nền tảng đồng nhất trung tâm tức phân đoạn cao hơn. Nếu chúng ta xem tập hợp nhánh–rể, thân cây đóng vai trò phân đoạn đối lập đối với một trong những tập con chạy từ đáy lên đỉnh: loại phân đoạn này là một “ngẫu cực kết nối”, trái ngược với những “ngẫu cực đơn vị” hình thành bởi những nan hoa xòe ra từ một trung tâm đơn. Cho dù những kết nối tự chúng sinh sôi nảy nở, như trong hệ thống rể mầm, ta có thể không bao giờ vượt quá quan hệ Một-Hai, và giả mạo những đa cách. Những phục hồi, những tái sinh, quay trở lại, thủy tức và sứa không đưa chúng ta đi xa hơn chút nào. Các hệ thống dạng cây là hệ thống thứ bậc với những trung tâm tạo nghĩa và chủ quan hóa, là những người máy trung tâm, như những bộ nhớ có tổ chức. Trong những mô hình tương ứng, một yếu tố chỉ nhận thông tin từ một đơn vị cao hơn, và chỉ nhận một tác động chủ quan dọc theo những đường mòn được thiết lập trước. Điều này là hiển nhiên trong những vấn đề hiện hành của khoa học thông tin và khoa học máy tính vốn vẫn bám víu lấy những phương thức tư tưởng xưa cũ nhất mà qua đó họ ban phát mọi quyền lực cho một bộ nhớ hay tổ chức tập trung. Pierre Rosenstiehl và Jean Petitot trong một bài báo tỉ mỉ lên án “hình tượng những cây mệnh lệnh” (những hệ thống trung tâm tức các cấu trúc thứ bậc), không phải“việc chấp nhận nguồn gốc các cấu trúc thứ bậc rốt cuộc chỉ nhằm trao tặng những cấu trúc dạng cây địa vị ưu tiên…”. Hình thức dạng cây chỉ thừa nhận một hàng xóm tích cực, thượng cấp theo thứ bậc của anh hay chị…Các kênh truyền phát đều đã được thiết lập trước: hệ thống dạng cây có trước cá thể, cá thể được tích hợp vào đó tại một nơi được phân bố (tạo nghĩa và chủ quan hóa). Các tác giả chỉ ra rằng thậm chí khi ta nghĩ ta đã đạt đến một đa cách, nó có thể là một đa cách giả - là những gì chúng ta gọi là thể loại rễ mầm – vì hiện diện bề ngoài phi thứ bậc tức tuyên ngôn của nó quả thật chỉ chấp nhận giải pháp hoàn toàn có thứ bậc. Định lí hữu nghị nổi tiếng sau là một ví dụ: “Nếu bất cứ hai cá thể nhất định nào đó trong xã hội có đúng một người bạn chung thì tồn tại một cá thể là người bạn của tất thảy những người khác”. (Rosentiehl và Petitot hỏi rằng ai là người bạn chung đó. Ai là “người bạn chung trong xã hội của những cặp đôi này: bậc thầy, giáo sĩ, bác sĩ? Những ý tưởng này, thật lạ, đã được tháo dỡ rất nhiều khỏi những tiên đề ban đầu”. Ai là người bạn này của nhân loại? Có phải là nhà triết học khi ông xuất hiện trong tư tưởng cổ điển, cho dù ông là sự đồng nhất bị sẩy thai chỉ tự cảm nhận qua vắng mặt tức chủ quan, có thể nói trong thời gian đó, tôi không biết gì, tôi chẳng là gì?). Như thế các tác giả phát ngôn về những định lí chuyên chế độc tài. Đó quả thực là nguyên lí hệ rễ-cây, hay tác động của chúng: giải pháp rễ mầm, những cấu trúc của Quyền Lực.

    Đối với những hệ thống trung tâm này, các tác giả tương phản với những hệ thống phi tâm, những mạng lưới hữu hạn các máy tự động mà trong đó truyền thông chạy từ bất cứ đồng loại nào sang bất cứ đồng loại khác, những cuống tức kênh không tiền tồn, và mọi cá thể đều có thể thay thế nhau, chỉ được xác định bởi tình trạng của chúng trong một khoảnh khắc nhất định – đến khi mà những hoạt động địa phương được phối hợp và kết quả cuối cùng mang tính toàn cầu được đồng bộ hóa mà không có một cơ quan trung tâm nào. Việc truyền tính trạng của những trạng thái cao thay thế địa hình học, và “đồ thị điều hòa tuần hoàn thông tin theo cách đối lập với đồ thị thứ bậc…Không có lí do để đồ thị đó trở thành một cái cây” (chúng ta gọi loại đồ thị này là bản đồ). Vấn đề của cỗ máy chiến tranh, tức đội hành quyết: là cần thiết chung cho n cá thể nhằm đảm bảo việc khai hỏa đồng loạt? Giải pháp không cần Tướng được tìm thấy trong một đa cách phi tâm và nó sở hữu một số lượng có hạn các trạng thái cùng những tín hiệu để chỉ thị những tốc độ tương ứng, từ một thân rễ chiến tranh tức quan điểm logic du kích, không có bất cứ đồ hình nào, không có bất cứ sự sao chép nào về một trật tự trung tâm. Các tác giả thậm chí chứng minh rằng loại đa cách máy móc, tập hợp, tức xã hội này loại trừ bất cứ kĩ thuật tự động hóa tập trung và hợp nhất nào, xem đó như một “sự xâm phạm phi xã hội”. Dưới những điều kiện này, n quả thực luôn là n-1. Rosentiehl và Petitot nhấn mạnh rằng đối lậptrung tâm-phi trung tâm, ít hợp lí hơn khi nó chỉ định các sự việc so với khi nó là một phương thức tính toán áp dụng cho những sự việc đó. Những cái cây có thể tương ứng với thân rể, tức chúng có thể đâm chồi thành một thân rễ. Sự thật là cùng một sự việc, nói chung, dễ bị ảnh hưởng bởi cả hai phương thức tính toán tức cả hai loại qui tắc, nhưng không phải không trải qua một thay đổi về trạng thái. Hãy xem phân tâm học như một ví dụ nữa: nó đưa tiềm thức vào các cấu trúc dạng cây, các đồ thị thứ bậc, những kí ức thu gọn, những cơ quan trung tâm, những *********, *********-cây – không chỉ trong lí thuyết của nó mà còn trong thực hành tính toán và xử lí. Phân tâm học không thể thay đổi phương pháp về mặt này: nó đặt quyền lực độc tài của riêng nó lên một khái niệm độc tài về tiềm thức. Lề của cuộc thao diễn phân tâm học vì thế rất giới hạn. Trong phân tâm học lẫn đối tượng của nó luôn có một vị tướng, luôn có một lãnh đạo (Tướng Freud). Phân tích bệnh phân lập (schizoanalysis), ngược lại, xử lí tiềm thức như một hệ thống phi trung tâm, nói cách khác, như một mạng lưới cơ giới những chiếc máy tự động hữu hạn (một thân rễ), và vì thế nó đi đến một trạng thái tiềm thức hoàn toàn khác biệt. Cùng những nhận xét như thế đối với ngữ học; Rosentiehl và Petitot đều đúng khi đưa ra khả năng về một “tổ chức phi trung tâm của một xã hội tranh cãi”. Đối với cả những tuyên ngôn lẫn khát khao, vấn đề là không bao giờ làm giảm tiềm thức tức diễn giải nó tức làm nó có nghĩa theo mô hình cây. Vấn đề là sản sinh tiềm thức, và cùng với nó, những tuyên ngôn mới, những khát khao khác biệt: thân rễ đúng là sản phẩm này của tiềm thức.
  4. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    (tiếp)

    Thật kì lạ làm thế nào thuyết cây thống trị hiện thực phương Tây và mọi thứ thuộc tư tưởng phương Tây, từ thực vật học đến sinh vật học và phẫu thuật học, cho đến tri thức học, thần học, bản thể học, tất thảy về triết học…: sự lập thành-rễ, Grund, racine, nền tảng. Phương Tây có mối liên hệ đặc biệt với rừng, và phá rừng; những cánh đồng được chạm khắc từ rừng đều có thực vật hạt giống sản sinh từ canh tác trên cơ sở những giống loài thuộc dạng cây; trang trai gia súc, được thực hiện trên những cánh đồng hoang, chọn lọc các giống hình thành một dạng cây động vật hoàn toàn. Phương Đông hiện diện một dáng vẻ khác biệt: tương quan với thảo nguyên và vườn tược (hoặc trong trường hợp nào đó, sa mạc và ốc đảo), hơn là rừng và cánh đồng; trồng những thân củ bằng những mảnh vỡ của một cá thể; loại bỏ hay khoanh vùng trang trại gia súc, nó được giới hạn vào những không gian kín hay bị đẩy vào những thảo nguyên của người du cư. Phương Tây: nông nghiệp có nền tảng là một giống được chọn lọc gồm một số lượng lớn những cá thể khác nhau. Phương Đông: nghề làm vườn dựa trên một số lượng nhỏ những cá thể có nguồn gốc từ đủ loại “vô tính”. Phải chăng phương Đông, đặc biệt châu Đại Dương, đưa ra một cái gì đó tựa như mô hình thân rễ tương phản với mỗi khía cạnh của mô hình cây phương Tây? Andre Haudricourt thậm chí xem đây là cơ sở cho đối lập giữa các giáo lí tức các triết học siêu nghiệm thân thiện với phương Tây và những triết lí mang tính nội tại của phương Đông: Thượng Đế gieo hạt và thu hoạch, như đối lập với Thượng Đế trồng lại và đào xới (trồng lại những nhánh vũ sự với gieo hạt). Siêu nghiệm: một căn bệnh đặc trưng châu Âu. Âm nhạc cũng không như nhau, âm nhạc của trái đất là khác biệt, là bản năng giới tính: thực vật hạt giống, thậm chí loại với hai giới tính trong cùng một cây, nô dịch hóa giới tính bằng mô hình tái sinh; thân rễ, ngược lại, là giải phóng giới tính không những khỏi sự tái sinh mà còn khỏi cơ quan sinh dục ngoài. Đây ở phương Tây, cây đã tự nó khắc sâu vào thân thể chúng ta, làm xơ cứng và phân tầng thậm chí cả giới tính. Chúng ta đã đánh mất thân rễ, tức cỏ. Henry Miller: “Trung Hoa là hạt giống trong miếng cải bắp con người…Hạt giống là Nữ Thần Báo Thù (Nemesis) nỗ lực của con người…Trong mọi tồn tại ảo chúng ta qui cho thực vật, con thú và sao trời thì hạt giống dẫn đến cuộc sống thỏa đáng nhất. Đúng, hạt giống không sản sinh những cây huệ trắng, không chiến thuyền, không bài Thuyết Giáo trên Núi… Cuối cùng, hạt giống vượt trội. Cuối cùng sự vật trở về trạng thái Trung Hoa. Điều kiện này thường ám chỉ bởi những sử gia là Thời Kì Đen Tối. Cỏ là lối thoát duy nhất…Hạt giống tồn tại chỉ để lấp đầy những không gian bỏ đi mà các khu vực trồng trọt để lại. Nó sinh trưởng giữa, trong số những vật khác. Huệ trắng đẹp, bắp cải làm thức ăn, cây anh túc làm phát điên – còn hạt giống là sự tăng trưởng xum xuê…: nó vót nhọn giáo lí”. Thế Miller đang nói về Trung Hoa nào? Trung Hoa cổ, mới, một Trung Hoa ảo, hoặc một Trung Hoa khác trên bản đồ đang thay đổi?

    Nước Mỹ là một trường hợp đặc biệt. Dĩ nhiên nó không miễn giảm khỏi sự thống trị của cây hay tìm kiếm rễ. Điều này là rõ ràng thậm chí trong văn chương, trong việc truy tìm sự đồng nhất quốc gia và thậm chí một tổ tiên châu Âu tức cây phả hệ (Kerouac khởi hành tìm kiếm tổ tiên mình). Tuy nhiên, mọi việc quan trọng đã xảy ra hay đang xảy ra đều theo lộ trình thân rễ Mỹ: những kẻ hip-pi lập dị, tổ chức ngầm, băng đảng và cướp giật, những chi nhánh phàm tục hết lớp nọ đến lớp kia kết nối trực tiếp với bên ngoài. Sách Mỹ khác sách châu Âu, thậm chí khi người Mỹ bù trừ bằng việc theo đuổi mô hình cây. Khái niệm về sách là khác biệt. Những Chiếc Lá Cỏ. Và mọi hướng ở Mỹ đều khác biệt: việc tìm kiếm dạng cây và sự trở lại với Thế Giới Cũ đều thấy nằm ở phương Đông. Nhưng có phương Tây mang tính thân rễ, là những người Da Đỏ không có tổ tiên ở đó, là giới hạn luôn lùi xa mãi của nó, là những biên giới đang thay đổi và bị dịch chuyển của nó. Có một “bản đồ” toàn bộ nước Mỹ ở phương Tây, nơi mà thậm chí những cái cây cũng thiết lập thân rễ. Nước Mỹ đảo ngược các hướng: nó đặt phương Đông của nó vào phương Tây, như đúng là ở Mỹ trái đất đi đủ một vòng vậy; phương Tây của nó là rìa của phương Đông (Ấn Độ không là trung gian giữa phương Tây và phương Đông, như Haudricourt tin tưởng: Mỹ là mũi đất then chốt và cơ giới luận về sự đảo ngược). Ca sĩ Mỹ Patti Smith ca ngợi kinh thánh của nha sĩ Mỹ: Đừng tìm kiếm rễ, hãy theo con kênh…

    Có đúng là không có hai loại chế độ quan chức, hoặc thậm chí ba (hoặc còn hơn)? Chế độ quan chức phương Tây: ruộng đất của nó, những nguồn gốc địa chính; những rễ và cánh đồng; những cây và vai trò của chúng là những biên cương; cuộc điều tra dân số vĩ đại của William Kẻ Chinh Phục; chủ nghĩa phong kiến; những chính sách của vua nước Pháp; tịch thu tài sản xung công qũi Nhà Nước; vùng đất đang dàn xếp qua chiến tranh, tranh chấp kiện tụng, và hôn nhân cưới xin. Các vua nước Pháp chọn hoa huệ trắng vì nó là một thực vật có rễ sâu và bám chặt những sườn núi. Phải chăng chế độ quan chức cũng như thế ở phương Đông? Dĩ nhiên, tất thảy đều quá dễ chưa đủ miêu tả một phương Đông của những thân rễ và tính nội tại; mặc dù đúng là ở phương Đông Nhà Nước không hành động theo một giản đồ dạng cây tương ứng với những tầng lớp đã bén rễ, đã bị cây hóa được thiết lập trước; chế độ quan chức của nó là một trong các kênh, chẳng hạn trường hợp đã thảo luận quá nhiều là về năng lượng dòng nước với “tài sản yếu kém”, trong đó Nhà Nước sinh ra những tầng lớp được định hướng và kênh hóa (ss: các khía cạnh chưa biện bác của công trình Wittfogel). Bạo chúa hành động như một dòng sông, không như một nguồn nước, vốn vẫn là một điểm, một điểm-cây hay rễ; nó chảy cùng hiện hành hơn là ngồi ở gốc cây; cây của Phật tự nó trở thành một thân rễ; sông của Mao và cây của Louis. Có đúng là nước Mỹ không đóng vai trò trung gian hòa giải ở đây cũng được? Vì nó tiến lên bằng cả những kì thi nội bộ lẫn phá sản (không chỉ người da đỏ mà cả những nông dân, v.v.) và trừ những làn sóng nhập cư kế tiếp nhau từ bên ngoài. Dòng vốn sản sinh một kênh rộng lớn, một số lượng xác định về quyền lực cùng những “lượng tử” tức thì, khi mỗi người trục lợi từ hành lang dòng chảy tiền bạc theo những cách riêng của ông hay bà (thế mới có thần thoại-hiện thực về người đàn ông nghèo phất lên và sau đó lại rơi vào nghèo nàn): ở Mỹ mọi thứ đi với nhau, cây và kênh, rễ và thân rễ. Không có chủ nghĩa tư bản phổ quát, không có chủ nghĩa tư bản trong chính nó; chủ nghĩa tư bản ở tại những giao lộ của mọi loại cơ cấu, nó là chủ nghĩa tư bản mới từ bản chất. Nó phát minh bộ mặt phương đông và hoàn cảnh phương tây của nó, và tái định hình cả hai – tất thảy vì điều xấu nhất.

    Đồng thời, chúng tôi theo dấu vết sai lầm cùng mọi phân bố địa lí này. Một ngõ cụt. Thế càng hay. Nếu đó là vấn đề để chứng tỏ rằng các thân rễ cũng có nền chuyên chế và thứ bậc riêng, thậm chí cứng rắn hơn, sau đó thì cũng tốt đẹp thôi: vì không có nhị nguyên luận, không có nhị nguyên bản thể học giữa đó và đây, không có nhị nguyên giá trị học giữa tốt và xấu, không có hỗn hợp hay tổng hợp Mỹ. Có những điểm nút thuộc dạng cây trong thân rễ, và những nhánh thân rễ trong rễ. Hơn nữa, có những tổ chức nội tại chuyên quyền và kênh hóa đặc biệt đối với những thân rễ, đúng là có những biến dạng mang tính phá cách trong những hệ thống siêu nghiệm của cây, rễ trên không và cuống ngầm. Điểm quan trọng là hệ cây-rễ và hệ kênh-thân-rễ không phải là hai mô hình đối lập nhau: hệ thứ nhất hoạt động như một mô hình siêu nghiệm và đồ hình, cho dù nó sinh ra những lối thoát riêng cho nó; hệ thứ hai hoạt động như một quá trình nội tại, nó lật đổ mô hình và phác họa một bản đồ, cho dù nó kiến tạo những thứ bậc riêng, cho dù nó tạo nên một kênh chuyên quyền. Đó không phải là vấn đề của nơi này nơi nọ trên trái đất, tức của những khoảnh khắc nhất định trong lịch sử, hẳn cũng không phải phạm trù tư tưởng này nọ. Đó là vấn đề của một mô hình mà nó không ngừng kéo dài chính nó, đứt gãy và khởi động lại. Không, đây không phải là một nhị nguyên luận mới tức khác biệt. Vấn đề viết: nhằm chỉ định một cái gì đó một cách chính xác thì không thể né tránh những biểu lộ không chính xác một cách tuyệt đối. Không phải vì điều cần thiết là bước tới, tức vì ta chỉ có thể tiến tới bằng cách ước lượng: tính chất không chính xác không hề là một sự ước lượng; ngược lại, nó là lối đi chính xác mà việc ước lượng đang được xúc tiến. Chúng ta viện dẫn một nhị nguyên luận nào đó chỉ để thách thức một nhị nguyên luận khác nữa. Chúng ta sử dụng một nhị nguyên luận về những mô hình chỉ để đi đến một quá trình mà nó thách thức mọi mô hình. Mỗi khi, những hiệu chỉnh tinh thần là cần thiết để tháo gỡ những nhị nguyên luận thì chúng ta lại không muốn xây dựng mà chỉ muốn đi xuyên qua chúng. Đi đến một công thức ma thuật mà tất thảy chúng ta đều tìm kiếm – ĐA NGUYÊN LUẬN = NHẤT NGUYÊN LUẬN - qua mọi nhị nguyên luận mà chúng đều là kẻ thù, một kẻ thù hoàn toàn tất yếu, là trang bị mà chúng ta mãi đang sắp đặt lại.

    Chúng ta hãy tóm tắt những đặc tính chính của một thân rễ: không giống như cây hay rễ của chúng, thân rễ kết nối bất cứ điểm nào với bất cứ điểm khác, và những nét tiêu biểu của nó không nhất thiết được kết nối với những nét tiêu biểu của cùng một bản chất; nó phát huy chính những chế độ khác biệt của các dấu hiệu, và thậm chí cả trạng thái phi dấu hiệu. Thân rễ không thể giảm về Một hoặcbội số. Nó không phải là Một trở thành Hai, hay thậm chí trực tiếp thành ba, bốn, năm, v.v. Nó không phải là một bội số xuất phát từ Một, tức Một được thêm vào (n+1). Nó được kết hợp không phải bởi những đơn vị mà bằng những chiều kích, hay đúng hơn là những hướng vận động. Nó không có bắt đầu lẫn kết thúc mà luôn ở giữa (môi trường), từ đó nó tăng trưởng và tràn ra. Nó xây dựng những đa cách tuyến tính với n chiều kích, không có chủ thể lẫn khách thể, nó có thể trãi rộng trên mặt phẳng nhất quán, và từ đó Một luôn bị trừ (n-1). Khi một đa cách thuộc loại này thay đổi chiều kích, nó tất yếu thay đổi cả về bản chất , qua một một sự biến dạng. Không giống một cấu trúc vốn bị giới hạn bởi một tập hợp các điểm và các vị trí, với những quan hệ nhị phân giữa các điểm và các quan hệ lưỡng đơn nghĩa giữa các vị trí, thân rễ được tạo chỉ bởi những tuyến: tuyến phân khúc và phân tầng là những chiều kích của nó, và thăng tuyến tháo dỡ là chiều kích cực đại mà sau nó đa cách trải qua sự biến dạng, thay đổi về bản chất. Những tuyến này, tức những đường nét đặc trưng, không nên nhầm lẫn với dòng giống dạng cây vốn đơn thuần là dòng giống có thể địa phương hóa nằm giữa các điểm và các vị trí. Không giống như cây, thân rễ không phải là đối tượng tái sinh: không phải tái sinh bên ngoài là hệ hình ảnh-cây, cũng không phải tái sinh bên trong là hệ cây-cấu trúc. Thân rễ chống phả hệ. Nó là trí nhớ ngắn hạn, hay chống trí nhớ. Thân rễ hoạt động bằng sự biến thiên, bành trướng, chinh phục, bắt giữ, phân nhánh. Không giống như nghệ thuật đồ họa, vẽ phác thảo hoặc nhiếp ảnh, không giống như những đồ hình, thân rễ gắn liền với một bản đồ mà nó phải được trình bày, được xây dựng, một bản đồ luôn có thể tách, nối, đảo ngược, sửa chữa, và có nhiều lối ra vào cùng những thăng tuyến riêng. Chính những đồ hình mới phải được đặt trên bản đồ, không phải ngược lại. Tương phản với các hệ thống trung tâm (thậm chí đa tâm) với những phương thức truyền đạt có tính thứ bậc và những lối mòn được thiết lập trước, thân rễ là một hệ thống phi trung tâm, phi trật tự, vô nghĩa, nó không có một vị Tướng và không có một trí nhớ có tổ chức tức kĩ thuật tự động có trung tâm, nó chỉ được xác định bằng sự tuần hoàn của các trạng thái. Điều gì còn được đặt thành vấn đề về thân rễ là một tương quan với giới tính – mà cũng là với động vật, rau củ, thế giới, chính trị, sách vở, sự vật tự nhiên và nhân tạo – nghĩa là hoàn toàn khác biệt với quan hệ dạng cây: thảy mọi thể loại “đang-trở-thành”.

    Cao nguyên luôn ở giữa, không phải là điểm đầu hay cuối. Thân rễ được tạo bằng những cao nguyên. Gregory Bateson sử dụng từ “cao nguyên” để chỉ một cái gì đó hết sức đặc biệt: một vùng cường lực, liên tục, ngân nga mà sự phát triển của nó né tránh bất cứ sự định hướng nhằm đến một điểm cực hay kết thúc ở bên ngoài nào. Bateson trích dẫn văn hóa Bali làm ví dụ: trò chơi ******** mẹ-con, và thậm chí có những tranh cãi giữa đàn ông, trải qua sự ổn định sâu sắc kì dị này.“Một loại cao nguyên mạnh mẽ đang tồn tại nào đó được thay thế cho (********) cao trào”, chiến tranh, tức một điểm cực. Nó là một đặc tính đáng tiếc của tinh thần phương Tây nhằm liên kết những biểu đạt và hành động với bên ngoài tức những mục đích siêu nghiệm, thay vì đánh giá chúng trên mặt phẳng đồng nhất dựa trên nền tảng giá trị bên trong của chúng. Ví dụ, một quyển sách được soạn thảo bằng các chương có các điểm cực và điểm kết thúc. Điều gì xảy ra trong một cuốn sách được soạn thảo bằng những cao nguyên mà chúng có thể truyền thông với một cuốn sách khác qua những kẻ nứt cực nhỏ, như trong một bộ não? Chúng tôi gọi bất cứ đa cách kết nối với những đa cách khác bằng những cuống ngầm nông cạn theo cách như thế để thiết lập tức mở rộng một thân rễ“cao nguyên”. Chúng tôi đang viết cuốn sách này với tư cách một thân rễ. Nó được soạn thảo bằng những cao nguyên. Chúng tôi đã cho nó một hình thức loanh quanh, nhưng chỉ để cho vui. Mỗi sáng chúng tôi thức dậy, và mỗi chúng tôi sẽ tự hỏi rằng loại cao nguyên gì mà người đó sẽ thảo luận, viết năm dòng ở đây, mười ở kia. Chúng tôi có những trải nghiệm ảo giác, chúng tôi quan sát các tuyến rời khỏi một cao nguyên và đạt đến một cao nguyên khác giống như những đàn kiến bé tí. Chúng tôi tạo những vòng tròn hội tụ. Mỗi cao nguyên có thể được hiểu là bắt đầu bất cứ đâu và có thể liên quan đến bất cứ cao nguyên nào khác. Để có được bội số, ta phải có một phương pháp xây dựng nó hiệu quả; không có tài nghệ in ấn nào, không có sự nhanh nhẩu về từ vựng nào, không có sự pha trộn hay sáng tạo từ ngữ nào, không có sự táo bạo cú pháp nào, có thể thay thế nó. Quả thực, những thứ này không thường trực hơn những thủ tục bắt chước một cách đơn thuần được sử dụng để truyền bá, tức phân tán một sự đồng nhất vốn được giữ lại trong một chiều kích khác biệt dành cho một hệ hình ảnh-sách. Hội chứng tự yêu theo kĩ nghệ. Những sáng tạo về in ấn, từ vựng hay cú pháp mà chúng là cần thiết chỉ khi chúng không còn thuộc về hình thức biểu lộ một sự đồng nhất ẩn giấu, đang trở thành chính những chiều kích của đa cách đang xét; chúng tôi chỉ biết về một thành công hiếm hoi trong đây. Chúng tôi không thể tự thực hiện nó. Chúng tôi chỉ sử dụng các từ ngữ mà lần lượt chúng thực hiện thay chúng tôi với vai trò những cao nguyên. TÍNH CHẤT THÂN RỄ = PHÂN TÍCH BỆNH PHÂN LẬP = PHÂN TÍCH ĐỊA TẦNG = NGHIÊN CỨU THỰC DỤNG = VI CHÍNH TRỊ. Những từ này đều là những khái niệm, mà các khái niệm là tuyến, nghĩa là, đếm những hệ thống gắn với một chiều kích riêng của những đa cách (những địa tầng, những chuỗi phân tử, những thăng tuyến hay gián đoạn, những vòng tròn hội tụ, v.v.). Không có nơi nào chúng tôi đòi hỏi những khái niệm của mình là tiêu đề một khoa học. Chúng tôi chẳng chút quen thuộc với tính chất khoa học hơn với ý thức hệ; mọi điều chúng tôi biết đều là những tập hợp. Và những tập hợp duy nhất đều là những tập hợp cơ giới của khát vọng và tập hợp chung của những phát ngôn. Không tạo nghĩa, không chủ quan hóa: viết cho quyền lực vô biên (mọi phát ngôn cá thể vẫn còn mắc kẹt trong phạm vi tạo nghĩa thống trị, mọi dục vọng có nghĩa được kết hợp với những chủ thể thống trị). Một tập hợp, trong đa cách của nó, tất yếu tác động đến những dòng chảy dấu hiệu học, những dòng chảy vật chất, và những dòng chảy xã hội một cách đồng thời (độc lập với bất cứ sự lặp pha tạo bởi chính nó nào trong một tập hợp khoa học hay lí thuyết). Không còn sự phân ba giữa phạm vi hiện thực (thế giới), phạm vi biểu đạt (sách) và phạm vi chủ quan (tác giả). Đúng hơn, một tập hợp thiết lập những kết nối giữa những đa cách nhất định rút ra từ mỗi trong những trật tự này, vì thế sách không có đoạn kế tiếp, thế giới cũng không là đối tượng của nó, và một hay nhiều tác giả cũng không là chủ thể của nó. Tóm lại, chúng tôi nghĩ rằng ta không thể viết đầy đủ nhân danh một cái bên ngoài. Cái bên ngoài không có hình ảnh, không có ý nghĩa, không có tính chủ quan. Sách là tập hợp cùng cái bên ngoài tương phản với sách là hình ảnh thế giới. Một hệ sách-thân rễ, không phải sách lưỡng phân, lõi, hay chùm. Đừng bao giờ tống rễ xuống dưới, tức trồng chúng, tuy nhiên có thể khó mà tránh khỏi việc trở về những thủ tục cũ. “Những ý tưởng đó nảy ra trong tôi, nảy ra trong tôi không phải từ bộ rễ bị nhổ, mà đúng hơn chỉ từ một nơi nào đó gần với điểm giữa của chúng. Sau đó hãy để một người nào đó thử nắm lấy chúng, hãy để một người nào đó thử nắm một lá cỏ và giữ chặt nó khi nó bắt đầu mọc ngay từ chính giữa. Tại sao điều này quá khó?". Vấn đề là một trong những dấu hiệu họcmang tính giác quan trực tiếp. Thật không dễ nhìn giữa các sự việc, hơn là nhìn xuống chúng từ trên cao hay ngước nhìn chúng từ dưới, hoặc từ trái qua phải hay từ phải qua trái: hãy thử đi, bạn sẽ thấy rằng mọi thứ thay đổi. Không dễ nhìn thấy mùa xuân giữa các sự vật và từ ngữ (tương tự, Nietzsche nói rằng một cách ngôn phải “được nhai lại”; không bao giờ một cao nguyên tách biệt khỏi những con bò sinh sống ở đấy, tương tự với những áng mây trên bầu trời).

    Lịch sử luôn được viết từ quan điểm tĩnh tại và nhân danh bộ máy Nhà Nước trung ương tập quyền, ít nhất là một bộ máy có thể chấp nhận được, thậm chí khi vấn đề là người du cư. Những gì đang thiếu là một ngành Du Cư Học (Nomadology), một sự đối lập với lịch sử. Cũng có những thành công hiếm hoi trong ngành này, ví dụ, về chủ đề Những Cuộc Thập Tự Của Trẻ Con (Children’s Crusades): sách của Marcel Schwob nhân lên những tường thuật giống với rất nhiều cao nguyên cùng những số lượng biến thiên các chiều kích. Sau đó có sách của Andrzejewski, Những Cánh Cổng Thiên Đàng (Les pontes du paradis), được viết bằng một câu đơn không gián đoạn; một dòng trẻ con; một dòng người lững thững bước đi, tứ tán, và đổ xô về phía trước; dòng chảy dấu hiệu học những nhóm đức tin của tất thảy bọn trẻ, tiến lên vị tu sĩ già đang dẫn đầu đám rước để tuyên bố; một dòng chảy khát vọng và dục tính, mỗi đứa trẻ giũ bỏ tình yêu và ít nhiều được trực tiếp dẫn dắt bởi hậu vọng ******** trẻ em của bá tước vùng Vendome; tất thảy những điều này cùng với những vòng tròn hội tụ. Những gì không quan trọng không phải là dòng chảy cho dù nó có là “Một hay bội số” – chúng tôi đã qua điểm đó: có một tập hợp phát ngôn chung, một tập hợp cơ giới của khát vọng, cái này ở trong cái kia và cả hai được kết nối vào cái bên ngoài rộng lớn là một đa cách trong bất cứ trường hợp nào. Ví dụ gần đây hơn là sách của Armand Farrachi về Cuộc Thập Tự Thứ Tư, Sự Dời Chỗ (La dislocation), trong đó các câu đặt cách nhau bằng khoảng cách của chính chúng và tản mác, hay xô đẩy nhau và cùng tồn tại, và trong đó các chữ cái, là kĩ thuật in ấn bắt đầu nhảy múa như cuộc thập tự đang mỗi lúc một cuồng hơn. Đây là những mô hình viết có tính chất thân rễ và du cư. Việc viết kết hợp một cỗ máy chiến tranh và những thăng tuyến, bỏ lại những địa tầng, những phân khúc, sự tĩnh tại, bộ máy Nhà Nước. Nhưng tại sao một mô hình vẫn còn cần thiết? Phải chăng những cuốn sách này vẫn còn những “hình ảnh” về các cuộc Thập Tự? Phải chăng chúng không còn lưu giữ một sự đồng nhất, trong trường hợp Schwob, là sự đồng nhất then chốt, trong trường hợp Farrachi, là sự đồng nhất bị sẩy thai, và trong ví dụ đẹp nhất, Les porte du paradis, là sự đồng nhất của vị bá tước u buồn? Có chăng nhu cầu về một du cư luận thâm sâu hơn luận cứ của các cuộc Thập Tự, một du cư luận của người du cư thực sự, tức của những người mà họ thậm chí không còn dich chuyển hay bắt chước bất cứ thứ gì? Du cư luận về những người mà họ chỉ tập hợp. Làm thế nào quyển sách tìm thấy cái bên ngoài thích đáng mà cùng với nó tập hợp trong sự hỗn tạp, còn hơn một thế giới để tái sinh? Sách văn hóa tất yếu là một đồ hình: tự nó đã là một đồ hình, một đồ hình của cuốn sách trước của cùng một tác giả, một đồ hình của những cuốn sách khác, tuy nhiên, chúng có thể khác biệt, một đồ hình bất tận những khái niệm và từ ngữ đã được thiết lập, một đồ hình của hiện tại, quá khứ và tương lai thế giới. Thậm chí sách phản văn hóa cũng vẫn trĩu nặng bởi tải lượng văn hóa: nhưng nó sẽ sử dụng nó một cách tích cực, vì quên đi thay vì nhớ đến, vì chậm phát triển thay vì tiến triển theo hướng phát triển, thà trong du cư luận còn hơn tĩnh tại, nhằm tạo một bản đồ thay vì đồ hình. TÍNH CHẤT THÂN RỄ = PHÂN TÍCH NHẠC POP, cho dù người ta có những thứ khác để làm bên cạnh việc hiểu nó, cho dù những khối văn hóa hàn lâm tức khoa hoc giả tạo trong nó vẫn quá khó nhọc hay nặng nề. Vì khoa học sẽ hoàn toàn hóa điên nếu ở lại cùng những thiết bị của riêng nó. Hãy nhìn vào toán học: đó không phải là một khoa học, đó là một từ lóng quái vật, đó là du cư. Thậm chí trong vương quốc của lí thuyết, đặc biệt trong vương quốc lí thuyết, bất cứ cơ cấu nhất thời và thực dụng nào cũng tốt hơn các khái niệm đồ hình, cùng những đứt gãy và tiến triển của chúng, chẳng thay đổi gì cả. Gián đoạn không thể nhận thấy không biểu thị sự đứt gãy. Người du cư phát minh cỗ máy chiến tranh nhằm đối lập với bộ máy Nhà Nước. Lịch sử chưa bao giờ lĩnh hội du cư luận, sách chưa bao giờ hiểu thấu đáo cái bên ngoài. Nhà Nước là mô hình cho sách và tư tưởng, nó có một lịch sử dài: thần ngôn, nhà triết học-vua, siêu nghiệm của Ý Tưởng, nội tính chất của khái niệm, giới trí tuệ, tòa án của lí trí, những công chức của tư tưởng, người làm lập pháp và chủ thể. Kỳ vọng của Nhà Nước trở thành một trật tự thế giới và bén rễ con người. Quan hệ của cỗ máy chiến tranh với một cái bên ngoài không phải là một “mô hình” khác; nó là một tập hợp tự nó tạo nên tư tưởng du cư, và cuốn sách là một bộ phận hoạt động trong mọi cỗ máy lưu động, một cái cuống cho một thân rễ (Kleist và Kafka chống lại Goethe).

    Viết cho quyền lực vô biên, quyền lực thứ n-1, viết với những khẩu hiệu: Hãy tạo những thân rễ, không phải rễ, không bao giờ thực vật! Đừng gieo hạt, hãy trồng các nhánh! Đừng là một hay bội số, hãy là những đa cách! Hãy vượt các tuyến, đừng bao giờ đánh dấu một điểm! Tốc độ sẽ xoay điểm đó vào một tuyến! Hãy nhanh lên, thậm chí khi đang đứng yên! Tuyến cơ may, tuyến hông, tuyến thăng. Đừng biểu lộ vị Tướng trong bạn! Đừng có những ý tưởng công bằng, chỉ nên có một ý tưởng (Godard). Hãy có những ý tưởng ngắn hạn. Hãy tạo những bản đồ, mà không là những ảnh chụp hay phác họa. Hãy là Con Báo Hồng và tình yêu của bạn sẽ như ong vò vẽ và phong lan, chú mèo và khỉ đầu chó. Như họ nói về dòng oldman:

    Anh không trồng khoai tây
    Không trồng cây bông vải
    Nào ông trồng bà trồng cũng sớm bị lãng quên
    Chỉ dòng oldman anh vẫn giữ cuộn xuôi chiều.


    Thân rễ không có khởi đầu hay kết thúc; nó luôn ở lưng chừng, giữa những sự vật, trung tồn, trung vừa. Cây là quan hệ dòng giống, nhưng thân rễ là liên minh, liên minh độc nhất vô nhị. Cây áp đặt động từ “tồn tại”, nhưng kết cấu của thân rễ là liên từ, “và…và…và…”. Liên từ này có đủ sức mạnh để rung lắc và nhổ bật động từ “tồn tại”. Bạn đang đi đâu? Bạn từ đâu đến? Bạn đang hướng về cái gì? Những điều này hoàn toàn là những vấn đề vô ích. Hãy vô tư làm lại cuộc đời, khởi hành tức bắt đầu từ ze-ro mặt đất, tìm kiếm một khởi đầu tức một cơ sở - tất thảy đều hàm ý một khái niệm giả tạo về một chuyến du hành và vận động (một khái niệm có tính phương pháp, sư phạm, khai tâm, biểu tượng…). Nhưng Kleist, Lenz và Buchner có cách du hành và vận động khác: xuất phát từ giữa, xuyên qua giữa, đến và đi hơn là bắt đầu và kết thúc. Văn học Mỹ, và văn học Anh trước đó, biểu lộ xu hướng thân rễ này đến một phạm vi thậm chí to lớn hơn; họ biết cách làm thế nào để di chuyển giữa các sự vật, thiết lập logic VÀ , lật đổ bản thể học, phế bỏ những cơ sở, vô hiệu những kết cục và khởi đầu. Họ biết làm thế nào để thực hành thực tế. Lưng chừng không phải là một mức trung bình; ngược lại, đó là nơi các sự vật tăng tốc. Những sự vật ở giữa không chỉ rõ mối quan hệ địa phương hóa đi từ một sự vật đến một sự vật khác và quay lại, mà là một hướng trực giao, một vận động ngang mà nó quét sạch sự vật này và kia, một dòng chảy không có khởi đầu hay kết thúc, nó xói mòn đôi bờ và tăng tốc ở giữa.

    ………………………................................... Hết...............................................
    Lần cập nhật cuối: 24/11/2013
  5. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Phan Biên dịch từ:
    http://idst-2215.blogspot.com/2011/11/change11-defining-rhizome.html

    ĐỊNH NGHĨA THÂN RỄ
    Keith Hamon​

    Tôi vừa xem Tuần San Ed Tech phỏng vấn Dave Cormier về thế học, và vào cuối giờ, tôi cảm thấy bực dọc trước toan tính nhằm động viên Cormier định nghĩa khái niệm này. Người phỏng vấn Jeff Lebow và Jenifer Maddrell dường như rất hài lòng, hứa hẹn những nhà giáo dục vốn thực sự muốn hiểu quan điểm của Cormier, còn tôi thậm chí không chút nghi ngờ việc họ quấy rầy Cormier, đúng hơn, tôi nghĩ chính bản chất ngôn ngữ hàn lâm tự nó buộc chúng ta trước hết phải tìm kiếm những định nghĩa rồi nói về chúng sau. Tất thảy những người tham dự muốn phân biệt thế học như là một lí thuyết học tập cá biệt tức quá trình hay cách hiểu biết (có thể là tất thảy những thứ này) khác biệt,có thể nói, với cách hiểu biết thực chứng tức cách học cấu trúc. Hy vọng, tôi nghĩ, là khái niệm thế học có thể dẫn đến những hành vi dạy và học đặc biệt sẽ góp phần cải thiện giáo dục. Tôi nghĩ có vài vấn đề với toan tính nhằm thuyết phục thân rễ với điều gì đó mà nó không có.

    Trước tiên, thân rễ là một ẩn dụ, không phải một lí thuyết hay qui trình dựa trên một lí thuyết. Jeff Lebow nói về tính chất thân rễ trong cuộc phỏng vấn , “Tôi nghĩ ẩn dụ này hữu ích”. Đối với tôi đây là một sự ô uế. Một phép ẩn dụ giúp hiểu một cái gì khác nữa, không phải là tự nó khác với một cái gì đó nữa. Thế học nói về một cách nhìn nhận và tư duy học tập ít nhiều hữu ích. Nó không phải là qui định về học tập – tốt nhất nó là mô tả khá hữu ích việc học tập diễn ra thế nào. Qua ẩn dụ về thân rễ như khảo sát ban đầu rất thú vị bởi Deleuze và Guattari trong cuốn Một Nghìn Cao Nguyên (1987), các nhà giáo dục có thề nhìn lại việc học tập từ đầu và thấy những sự vật mà họ chưa bao giờ thấy. Đối với tôi ít nhất đây là trường hợp đó.

    Chẳng hạn, ẩn dụ về thân rễ là thuốc giải độc tốt đối với xu hướng qui giảm luận. Qui giảm luận này nằm trong phông nền những toan tính của nhà phỏng vấn nhằm định nghĩa thế học, tôi nghĩ vậy. Như hầu hết chúng ta, họ muốn một mỏ vàng trong tầm tay đại loại “Ồ vâng, đấy là thế học”. Tuy nhiên, ẩn dụ thân rễ giúp chúng ta hiểu rằng qui giảm luận luôn là hư cấu. Không sự-vật nào từng thực sự được qui giảm về một sự vật riêng biệt, tức không có trong thực tại. Chúng ta có thể nghĩ chúng ta đơn độcvà riêng biệt trong Vũ trụ, một con tàu tư tưởng thường dẫn đến mọi đớn đau và khổ sở, nhưng không ai trong chúng ta là riêng biệt cả, tuy rằng những hư cấu qui giảm luận là tiện lợi tức thuyết phục.

    Tôi không nói rằng chúng ta nên tránh tư tưởng qui giảm luận. Đó là ngu ngốc. Như Morin đã chỉ ra, khoa học đã đạt được những thành công to lớn qua việc giảm trừ một khía cạnh thực tại thành một điềm đơn, nghiên cứu nó một cách chi tiết, và khám phá rằng sự-vật được qui giảm từ thực thể này có thể khó mà khám phá bằng bất cứ cách nào khác. Qui giảm luận có một sự tập trung lớn và vì thế, có ảnh hưởng lớn. Tư tưởng thế học, ngược lại, khuyến khích chúng ta chuyển đổi sự vật riêng biệt thành hệ sinh thái của nó, nhằm tái ngữ cảnh nó, và nhằm tích hợp những gì chúng ta học được qua việc tập trung cao độ vào tri thức toàn thể của mình. Tóm lại, chúng ta có thể học nhiều qua việc nghiên cứu một cái cây đơn, nhưng những gì chúng ta học chỉ tạo ý thức trong ngữ cảnh một khu rừng. Chúng ta phải thấy cả rừng và cây. Ẩn dụ thân rễ giúp chúng ta làm việc này.

    Điều thứ hai làm tôi khó chịu là một định nghĩa về thế học giảm trừ thân rễ về trạng thái một sự vật giữa những sự vật khác: thế học là đối lập với lối học cấu trúc tức hành vi. Sự việc là ở đây: thân rễ không phải là một sự vật, nó không là gì cả. Đây phần nào là điều khiến thân rễ quá khó thảo luận trong phạm vi một ngôn ngữ với danh và động từ, tức các sự vật tác động lẫn nhau. Đây phần nào tại sao D&G quá khó hiểu: họ cố gắng sắp xếp một cấu trúc vì một ngôn ngữ trước hết thích nghi với việc sắp xếp những loại cấu trúc khác nhau. Ngôn ngữ hàn lâm hiện đại là một công cụ tốt để sắp xếp những cấu trúc tuyến tính, thứ bậc, thực chứng. Việc sắp xếp thân rễ bằng công cụ này hơi giống với việc xây dựng một lều tuyết với búa và tuốc-nơ-vít.Tôi cho rằng ta có thể thực hiện nó, nhưng…Trong thảo luận của họ về thân rễ, Deleuze và Guattari không cố gắng tập trung chú ý vào thân rễ quá nhiều như khi họ cố gắng nới lỏng tập trung, nới lỏng trí năng phản biện của chúng ta, nhằm nắm bắt những vòng cung, những phân đoạn vô nghĩa, những khởi đầu, khớp nối và liên kết các sự vật. Theo quan điểm này thì các sự vật đều là sự lắng đọng kinh nghiệm (sử dụng thuật ngữ Randall Collins) tại giao điểm của những đa cung tồn tại tại bất cứ thời điểm nhất định nào. Hãy nghĩ về một đĩa mì ống. Keith Hamon là một sợi dây mì được bện lại và được ***g hoàn toàn vào khối mì, còn ý thức của tôi về chính mình hay ý thức của bạn về tôi là một thực thể hoàn toàn riêng biệt phụ thuộc vào nơi bạn hay tôi tình cờ tập trung suốt dọc theo sợi mì đó và điều mà những sợi mì khác phân cách tôi ở đó.

    Qui giản luận muốn gỡ rối sợi mì riêng lẻ của cuộc đời tôi, trải rộng nó trên một cái khay khảo sát, đặt tên và đánh số các bộ phận, thiết lập những chuỗi trật tự nhân quả, và sau cùng tuyên ngôn rằng nó hiểu tôi. Còn đây là sự việc: nó sẽ hiểu rất nhiều về tôi mà khi tôi bị rối tung trong đĩa mì nó đã không thể hiểu tôi một cách dễ dàng. Nhưng nó cũng sẽ đánh mất rất nhiều, nếu không nói là hầu hết, những đường viền, những cung, những nút xoắn và những biến chuyển, những kết nối và giao điểm, những tác động và phản tác động thực sự làm cuộc sống của tôi thú vị đối với tôi, nếu không với những người khác. Trải rộng trên mặt bàn khảo sát, rửa sạch nước xốt, tách biệt khỏi những sợi mì khác, và để cho khô cứng, sợi mì của đời tôi sẽ được giảm trừ thành những sự kiện trần trụi. Đáng chán. Qui giảm luận bộc lộ một cách thú vị những gì về tôi giống như những sợi mì ống khác, nhưng khó mà nắm bắt những đường viền độc nhất vô nhị khiến tôi quan tâm, tức tôi.

    Tư tưởng thân rễ khi đó là một chiến lược hữu ích nhằm nhìn nhận việc học tập theo một cách khác. Nó bao gồm tư tưởng thực chứng và tư tưởng giảm trừ cùng tất thảy những hệ thống tư tưởng khác, nhưng đồng thời thân rễ cung cấp một ngữ cảnh phong phú cho những hệ thống tư tưởng này, nó cũng đang thay đổi, tháo dỡ và tái lập, và vìthế làm xói mòn chính những hệ thống tư tưởng mà nó ấp ủ. Công việc của chúng ta là xây dựng những cấu trúc này trong phạm vi thân rễ vì chúng hữu ích, trong khi vẫn biết rằng sự hữu ích của chúng có một hạn dụng. Điều nguy hại là khi chúng ta trở nên gắn bó với một hệ thống, một ý thức hệ, và từ chối thừa nhận rằng nó không còn hữu ích nữa.

    Điều này khiến tôi nghĩ về bầu trời đêm. Con người chúng ta nhìn lên bầu trời sao và chọn một vài ngôi sao để xây dựng những chòm sao, những bức tranh hay câu chuyện. Vì theo quan điểm của chúng ta những ngôi sao dường như dịch chuyển quá chậm – hầu như bất động trong suốt cuộc đời chúng ta – sau đó chúng ta bị cuốn hút vào ý nghĩ rằng những bức tranh và câu chuyện của mình là bất diệt. Vật lí thiên văn hiện đại dạy chúng ta tốt hơn.Thân rễ của vũ trụ đang dịch chuyển đều với tốc độ không thể tin được , và thực ra những câu chuyện và bức tranh tích lũy được của chúng ta sẽ chẳng còn được sắp xếp đúng với hiện thực. Những vì sao vẫn sẽ dịch chuyển. Đòi hỏi của thân rễ là nhìn nhận lại những ngôi sao này và sáng tạo những câu chuyện và bức tranh mới. Đó là những gì thân rễ đang thực hiện.
  6. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Người ta quen dịch từ critical thinkingtư duy phê phán rất dễ dẫn đến ngộ nhận là tìm cách chê bai, cãi càn, thậm chí hết sức vô căn cứ. Tôi tra từ điển thì thấy từ "critical" không "nhẹ nhàng" đến thế. Critical là khó tính, là nguy ngập,tới hạn hay "truy cùng"...Ý tôi thì nên dịch là "tư duy phản biện". Việt Nam đang khuyến khích tư duy phản biện thì thế giới đã có người ...phản biện lại lối tư duy này.

    Tiếp tục bài viết về đề tài này của Keith Hamon.

    Phan Biên dịch từ:
    http://idst-2215.blogspot.com/2010/09/critical-thinking-and-blind.html#gpluscomments

    TƯ DUY PHẢN BIỆN VÀ TRI THỨC MÙ
    Keith Hamon

    Tôi thực sự quan tâm về năng lực những khám phá tư duy phản biện truyền thống phương Tây đủ để dàn xếp thân rễ, bất cứ thân rễ nào.

    Đề tài đầu tiên của tôi là mọi khám phá về tư duy phản biện mà tôi tìm thấy trong nghiên cứu của mình đều giới hạn vào một trí tuệ: của tôi hay của bạn, mà không là cả hai. Các hệ thống tư duy phản biện dường như là một chức năng trí tuệ đơn độc vì nó dự liệu và phân tích vũ trụ tách biệt. Đa số học giả tôi đọc đến nay ngầm thừa nhận rằng tư duy phản biện là một tập hợp những hoạt động được thực hiện bởi chủ-thể riêng biệt, là “người-biết”, dựa trên các đối tượng riêng biệt, là “điều-được-biết”, mua vào những gì Edgar Morin gọi là “hệ biến hóa giản hóa”. Morin nói rằng Descartes sáng tạo hệ biến hóa này bằng cách “tách rời chủ thể tư duy…và sự-vật được tư duy” (Về Phức hợp, 3). Hệ biến hóa tư tưởng giản đơn này đã “thống trị tư tưởng phiêu lưu phương Tây từ thế kỉ mười bảy”“không còn nghi ngờ phải kể đến những tiến bộ to lớn về tri thức khoa học và phản ảnh triết học” (3), tuy nhiên, theo Morin, nó dẫn chúng ta đến tri thức mù “phá hủy tính hợp nhất và toàn thể”…“cách li mọi đối tượng với môi trường của chúng”…“không thể nhận thức mối nối bất phân cách giữa người quan sát và đối tượng quan sát” (4). Tư tưởng đơn giản đã sáng tạo bệnh học hiểu biết mà nó đang tiêm nhiễm “mất mát khốc liệt vào hiện tượng con người” (5), như Morin kết luận về “viễn cảnh cắt xén, một chiều” này:

    Sự bất lực trong việc thừa nhận tính phức hợp về hiện thực nhân loại học xã hội, cả trong chiều kích vi mô (tồn tại cá nhân), và trong chiều kích vĩ mô (tập thể hành tinh con người), đã dẫn dắt chúng ta đến những bi kịch bất tận…Chiến lược chính tri cần hiểu biết phức hợp, vì chiến lược tự tiễn biệt bằng thích nghi và chống lại tính bất định, cơ may, đa vai trò tương tác và những phản tác dụng (vòng lặp).

    Tôi thích những phép ẩn dụ nhỏ khi cố gắng nghĩ suy thấu đáo về một ý tưởng, và đối với tôi, phương thức tư tưởng này gần giống với việc cắt một con ếch, một con ếch sống. Nếu tôi có đủ kĩ năng với dao mổ - lí do phân tích của tôi – tôi có thể chia một cách gọn gàng con ếch thành những cấu phần, qui giảm nó thành một tập hợp các bộ phận riêng biệt, như nhau, và từng loạimà chúng quả thật sẽ giúp tôi hiểu được cách các bộ phận khớp vào nhau và hoạt động trong con ếch, nhưng dĩ nhiên khi đó tôi giết con ếch, và tôi không có kĩ năng lắp chúng lại với nhau. Việc “lắp chúng lại với nhau” không phải việc tầm thường (nhất định không đối với con ếch). Hơn nữa, trật tự rõ ràng, thứ bậc, dứt khoát mà tôi áp đặt lên các bộ phận của con ếch không những vô ích cho cố gắng tái lắp ráp sự hài hòa bừa bộn của món mì ống là con ếch sống mà còn cho cấu trúc thứ bậc dường như chống lại việc lắp ghép.

    Điều này nhắc nhở tôi rằng đối với Deleuze va Guattari tư tưởng thứ bậc là một loại quá mã về hiện thực toan tính áp đặt tất thảy những điểm thích ứng của một đối tượng vào những cột nhỏ ngăn nắp, mỗi điểm chiếm lĩnh một, và chỉ một, chỗ nhỏ ngăn nắp. Như D&G lưu ý: “Một thân rễ hay đa cách (như con ếch, hay vũ trụ) không bao giờ tự chop hép được quá mã, không bao giờ có chiều kích bổ sung thêm vào số lượng các tuyến của nó, nghĩa là gia tăng đa cách những con số được gắn kết vào những tuyến này”(9). Tôi thấy tư duy phản biện là một quá mã, theo ý thức này, như tri thức mù. Vâng, tri thức. Vâng, mù. Do đó thuộc về sử dụng có giới hạn để tiếp cận thực tại thân rễ.

    Ảnh vui chôm từ nét:
    [​IMG]
  7. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Phan Biên dịch từ:
    http://idst-2215.blogspot.com/search/label/multiplicity

    ĐA CÁCH VÀ LỚP HỌC HỖN HỢP
    Keith Hamon
    À,những suy tư của tôi về giáo dục thế học đang có chiều hướng rất thực tế. Rồi tôi cũng đã quay lại công việc dạy học trọn ngày. Hợp đồng dạy học trọn ngày cuối cùng của tôi là ở ĐH Reinhardt vào năm 1977. Wow.

    Tôi cũng quay lại việc viết. Kể từ bài viết cuối, tôi đã rút khỏi hệ thống giáo dục bang Georgia, rời khỏi ĐH Albany State (không phải ngẫu nhiên), thu dọn nhà cửa sau 25 năm sống và chuyển đến nam Florida, hưởng Giáng sinh ở Bahamas, và bắt đầu công việc dạy học mới tại ĐH South. Tôi chỉ không tìm thấy thời gian để viết, vì tôi quá phân khúc – có lẽ, quá phức tạp.

    Dù sao, tôi có chỗ đứng mới để từ đó cân nhắc những hàm ý thực tế của giáo dục thế-học: những lớp học của riêng tôi. Trước tôi đã nói về hai đặc tính đầu tiên của thân rễ: kết-nối và hỗn-tạp. Những đặc tính này dẫn đến – theo tôi là hoàn toàn trực tiếp – đặc tính thứ ba trong danh sách của Deleuze và Guattari: đa-cách.

    Lí do nữa cho sự trục trặc này là tôi không nghĩ rằng tôi vẫn hiểu những gì D&G muốn nói bằng khái niệm đa-cách, hay đó là cách tốt hơn để nói rằng khái niệm này vẫn có những cộng hưởng mà tôi không cảm thấy được. Tuy nhiên, việc thiếu hiểu biết không nên là lí do để không viết – ít nhất, để không viết trong từng blog riêng biệt. Viết làm nổi bật những hiểu biết của tôi, đại loại thế.

    Trong những lớp học của tôi bạn dễ dàng thảo luận về đa-cách cùng những quan sát đơn giản, rằng sinh viên của tôi là một đa-cách. Họ có khoảng 80 dàn trải có phần không đều qua bốn lớp học khác nhau. Vì thế, sinh viên của tôi là bội số, hơn là một. Tuy nhiên, tôi có thể nhắm đến một sự hợp nhất nào đó bằng cách nói rằng họ tất thảy đềulà sinh viên của một trong những những lớp học của tôi. Đây là qui ước cách của phạm trù hiện thực, và hầu hết mọi người sẽ hiểu điều này, mặc dù Deleuze và Guattari chống lại chính khái niệm này. Phát ngôn của tôi: “80 người này là bội số học sinh trong các lớp học của tôi” là sử dụng ngôn ngữ của tôi nhằm phân loại, tổng kết, và hợp nhất một đa-cách để tôi có thể ý thức về họ, và chắc chắn để tôi có thể thực hiện một thẩm quyền nào đó đối với họ. Có một chút chủ nghĩa phát xít trong tôi mà D&G nhấn mạnh là nó hoạt động khắp nơi: “những nhóm và cá nhân hàm chứa chủ nghĩa phát xít vi mô chực chờ để kết tinh” (10). Nhưng tôi sẽ làm gì? Từ chối rằng 80 sinh viên này là sinh viên của tôi? Điều này đạt được gì?

    D&G gợi ý một đường lối khác khi họ lưu ý rằng những ý nghĩa và đo lường của chúng ta về thân rễ, thậm chí với những phạm trù lớn như Thiện và Ác, đều là những kẻ ghi dấu nhất thời: “Tốt và xấu đều chỉ là những sản phẩm của một sự chọn lựa thiết thực và nhất thời mà nó cần được phục hồi”(10). Tôi phải làm những phép đo và tạo ý nghĩa về tập hợp 80 người vì tôi là một cơ quan sáng tạo nghĩa, cơ quan thừa nhận mẫu. Ví dụ, tôi là tạo vật nhìn lên bầu trời sao với hằng hà sa số đa cách ánh sáng và nhìn thấy những con bọ cạp, những con gấu, những chiếc vày và những chiến binh. Hoặc ít nhất đó là những gì tôi đã thấy 3000 năm trước khi tôi đứng trên ngọn Olympus của Hy lạp cổ đại. Hôm nay, khi tôi đứng trên ngọn Palomar ở California, tôi nhìn thấy những quasar, những dải ngân hà, và bảo mẫu. Nhưng cùng một hoạt động tạo nghĩa, thừa nhận mẫu, và cả những hiểu biết khoa học và thần thoại – những cách gọi tên và đo lường khác nhau đó – đều là “những sản phẩm của chọn lọc thiết thực và nhất thời mà nó phải được phục hồi”.

    Chúng ta có thể hỏi: chọn lựa từ những gì.Từ đa-cách, Deleuze và Guattari có lẽ trả lời như thế. Vậy đa cách là gì? Từcái chúng ta chọn lựa và từ cái chúng ta hình thành những mẫu đã tạo ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta.

    Nhưng – và đối với tôi đây là bài học lớn ngày chủ nhật – chọn lựa của chúng ta không bao giờ, chưa bao giờ là toàn bộ tức cứu cánh của đa-cách. Những chọn lựa của chúng ta luôn thiết thực và nhất thời, và khi chúng không thiết thực và nhất thời thì chúng trở thành những vấnđề giáo điều được ta kết tinh thành những phe phái phát xít nhỏ. Vì thế đa-cách là một nền móng tồn tại lớn mà từ đó tất thảy đều hiện ra? Tôi không thể nắm vững ý tưởng này một cách toàn bộ, nhưng đó chính xác là vấn đề: tôi không thể nắm bắt đa-cách. Nó luôn lớn hơn nắm tay tôi.

    Dĩ nhiên con người chúng ta không thích điều này. Chúng ta thích những hệ thức – Chúa Là Tình Yêu và E = MC2 đi vào tâm trí – để chúng nắm bắt đa-cách, ý thức về nó cho chúng ta, và nằm dưới sự kiểm soát của chúng ta, nhưng như D&G chỉ ra với khái niệm phân đoạn vô nghĩa, đa-cách cười vào những toan tính của chúng ta nhằm kiểm soát nó.

    Điều này phần nào làm ta có ý thức nếu chúng ta nghĩ về đa-cách như Chúa của Thánh Paul hay Vũ trụ của Einstein, nhưng đa-cách có tính địa phương hơn thế. Mỗi trong số 80 sinh viên của tôi cũng là một đa-cách. Không chỉ vì họ xuất hiện từ đa-cách – cả với họ và tôi – mà thật ra họ là một đa-cách trong phạm vi chính họ và trong phạm vi tôi. Sau đó đa-cách hoạt động ở mọi mức độ, cả vi mô lẫn vĩ mô. Một tế bào đơn trong mỗi cơ thể họ là một đa-cách, như Wordsworth đã quan sát 200 năm trước:

    Với tôi hoa tầm thường chỉ có thể nở
    Mà tư tưởng thâm sâu suối lệ nào thấm đến.


    (To me the meanest flower that blows can give
    Thoughts that do often lie too deep for tears)


    Tất thảy mọi hiện thực, tại bất cứ thời điểm nào ở bất cứ mức độ nào mà chúng ta toan tính gắn kết nó, đều là đa-cách– không phải bộ phận của đa-cách hay một khía cạnh của đa-cách tức hiển hiện từ đa-cách, mà là tự thân đa-cách. Chúng ta chạm vào đa-cách khi chạm vào bất cứ gì.

    Bài học thực tế đối với tôi từ tất thảy những điều này là có nhiều điều để biết về mỗi sinh viên của tôi hơn tôi có thể hy vọng để biết, và những đo lường của tôi về họ qua những tuyên bố, những danh tính và điểm số đếu là thiết thực và nhất thời. Thậm chí những lớp học màtôi đã phát kiến dưới sự bảo trợ và trong phạm vi những cấu trúc ĐH đỡ đầu của tôi, mỗi lớp đều là chọn lựa thiết thực và nhất thời. Mỗi lớp đều có lợi ích, cho phép chúng ta gặt hái, kết hợp, và có thể cộng tác, nhưng mỗi lớp đều là tạm thời.

    Lớp học, giáo án, tập hợp con người. Những thứ này đều là những mỏ neo nhất thời cho phép chúng ta chơi cùng một trò chơi trong chốc lát, nhưng như bất cứ người chèo thuyền nào nói với bạn: những cái mỏ neo luôn là tạm thời, mong manh, rất hữu ích khi bỏ neo và cũng rất hữu ích khi nhổ neo. Con tàu tìm kiếm chiếc mỏ neo vĩnh cửu làvô ích và chắc chắn rất nguy hiểm đối với thủy thủy trên boong.

    À, tôi thực sự thích sự trợ giúp nào đó của khái niệm đa-cách. Những bạn với hiểu biết triết học tốt hơn tôi đã có thể đã rung chuông ở đây, đặc biệt với việc gạn lọc khái niệm đa-cách của Bergson mà rõ ràng Deleuze đang sử dụng. Cảm ơn.
  8. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Thầy Keith Hamon có nhiều quan điểm hiện đại và độc đáo. Mong rằng những nhà giáo Việt Nam cũng có những bài viết về chuyên môn như thế này.

    Phan Biên dịch từ:
    http://idst-2215.blogspot.com/search/label/Deleuze and Guattari

    THỰC TẠI VÔ THỨC

    Khía cạnh khó nắm bắt thứ nhì của vấn đề “chúng ta biết tất thảy về Thực Tại” qui về việc làm thế nào chúng ta diễn đạt tri thức. Nếu tri thức là cái gì đó có ý thức và thường là trí năng thì tôi không nghĩ chúng ta có thể biết tầt thảy về Thực Tại, hay thậm chí phần lớn Thực Tại. Nói cách khác, chúng ta có nhiều trải nghiệm về điều Thực mà không ý thức về nó và có thể khó mà biểu đạt bằng bất cứ ngôn ngữ nào. Chúng ta gắn kết và biết nhiều sự vật với trí tuệ và cơ thể của mình khá lâu trước khi ý thức về chúng, nếu chúng ta đã từng có ý thức. Chẳng hạn, nếu bạn hít vào một mớ vi-rút cúm có hại cho sức khỏe, hệ thống miễn dịch của bạn sẽ biết và bắt đầu huy động việc phòng thù khá lâu trước khi bạn ý thức được về việc lây nhiễm. Hoặc hỏi một cầu thủ tài năng làm thế nào anh ta biết nơi quả bóng sẽ chạm hai lần trước khi nó đến chỗ của mình, có thể anh ta không thể nói được, nhưng bất luận anh ta vẫn biết chỗ đó ở trên sân. Những dự báo về sự vật khá lâu trước khi ta ý thức về chúng đều là kinh nghiệm thường thức trong cuộc sống.

    Tất thảy chúng ta đều biết điều này, nhưng những nhà giáo dục chúng ta thường cư xử như thể không biết. Chúng ta cho rằng, và cư xử như thể, tri thức có tính tham khảo chặt chẽ, chỉ dựa trên những biểu đạt, mô tả, hình ảnh, hay công thức toán học, nhằm sử dụng danh sách Nicolescu. Tri thức là một cái gì đó mà chúng ta có thể dùng cho bài kiểm tra vào thứ ba tới. Không phải (bạn sẽ thảo luận tốt hơn nhiều về những đề tài này cùng các quan điểm tri thức tiêu biểu từ blog “Nửa Giờ” của Stephen Downes). Tri thức trải rộng vượt ra khỏi tri thức ý thức.

    Nhưng liệu đây có phải là quan điểm tri thức mở rộng mà nó hữu ích đối với giáo dục? Tôi nghĩ nó cực kì hữu ích đối với những ai mường tượng giáo dục giống như quá trình phức hợp của những mạng lưới cắt ngang – không như thực hiện một quảng đường bộ (theo dấu), mà là đi dạo (sắp đặt). Ở đây tôi đang nô đùa với những ý tưởng lượm lặt từ Morin và Deleuze và Guattari. Khái niệm của Morin về nghiên cứu liên ngành gợi ý rằng chúng ta không đi theo lối mòn để đến với tri thức, nó đã bị lãng quên. Ông khếch đại ý tưởng này với dòng mà tôi thường trích dẫn trong blog này: chúng ta phải học để xác định từ bên trong ra bên ngoài mà không là bên ngoài vào bên trong. Deleuze và Guattari gợi ý rằng sự gắn kết của thân rễ, điều Thực, là một quá trình sắp đặt các cấu trúc và lối đi, không phải đồ hình những cấu trúc và lối đi cho trước. Theo tôi, những ý tưởng này đặt Người-biết vào trung tâm của khu vực gắn kết như là một du-thức là người chọn gắn kết với khía cạnh nào đó của thân rễ. Hoặc không.

    Đường lối này đặt tôi vào vị trí du-thức và gợi ý những vấn đề về những gì thúc đẩy một du-thức gắn kết hay tách rời một khía cạnh nào đó của thân rễ. Điều này làm đảo ngược vấn đề sư phạm thông thường về việc làm thế nào thúc đẩy sinh viên, như thể việc thúc đẩy là một chiếc lẩy cò mà ta có thể nhấn vào, một phản hồi mà ta có thể kích hoạt. Tôi không dám chắc điều này. Vậy thì những gì thúc đẩy sinh viên gắn kết với giáo viên, giáo trình cho trước, và lớp học? Điều này từ đâu đến? Và liệu giáo viên có thể làm bất cứ gì nhằm tạo điều kiện cho việc gắn kết đó?

    Chúng ta hãy học hỏi quan điểm của du-thức: tại sao một nhà nghiên cứu hai-mươi-tuổi sẽ là một nhà trị liệu vật lí lại muốn gắn kết một nhà nghiên cứu sáu-mươi-tuổi trong một khóa học về viết? Tại sao họ muốn tránh một sự gắn kết như thế? Trong sách Nghệ thuật Thay đổi Bộ não (2002), James Zull nói rằng hầu hết sinh viên quyết định liệu họ có thích hay không một cách vô thức trong vòng 30 giây đầu khi bước vào một lớp học. Hoặc như tôi. Chắc chắn tôi biết trong vòng 30 giây đầu liệu tôi có thích một lớp học cá biệt hay không. Những gắn kết cảm xúc với điều Thực này cài đặt những thông số của điều Thực của lớp học, và chúng rất khó thay đổi, phần nhiều vì chúng ta chẳng bao giờ làm cho họ có ý thức một cách hoàn toàn, tức rõ ràng. Chúng ta chỉ có cảm giác rằng một số lớp học làm việc và một số thì không. Tuy nhiên, việc cảm thụ nào đó rất nặng nề, có tính chất thần kinh và quá trình nhận thức vẫn diễn ra dưới bề mặt ý thức để làm cho Thực Tại cá biệt này xuất hiện trong khu vực gắn kết mà tôi và sinh viên của tôi gọi là Cấu Phần 1. Việc hé lộ tập hợp vô thức của lớp học nhằm xác định tại sao một lớp học không làm việc lại có tác dụng hơn hầu hết chúng ta quan tâm đảm nhiệm, mà nó cực kì quan trọng cho sự thành công của lớp học.

    Có rất nhiều vấn đề để học hỏi từ quan điểm của du-thức: có phải tuổi-hai-mươi này có đôi chút ý thức về nơi mà tôi muốn dẫn dắt họ đến trong lớp học? Và họ có muốn đến đó? Họ có hy vọng thành công nào không? Bất cứ khát vọng thành công nào? Kết nối này, theo bất cứ cách nào, với lối mòn mà họ đã đi trên đó, hay liệu đây có phải cuộc di cư men theo vách núi (side-trek) mà họ thà tránh? Và điều chủ yếu là: họ có thực sự muốn kết nối với gã lùn, da trắng tuổi-sáu-mươi này cùng với trò đùa cũ rích được kể bằng giọng miền nam nhẹ nhàng?

    Thiện ý gắn kết luôn đến từ chính những du-thức. Du-thức phải nhìn thấy một lối đi cắt ngang đáng giá nào đó, vì sắp xếp thân rễ là việc khó khăn. Và chính những du-thức hiếm hoi, đặc biệt những du-thức trẻ, mới là những kẻ muốn biết tại sao họ muốn hay không muốn gắn kết. Phần lớn thiện ý của chúng ta nhằm gắn kết hay không với một khía cạnh thân rễ cá biệt, điều Thực, đều được quyết định trước, tức hoàn toàn bên ngoài ý thức. Là những nhà giáo dục, chúng ta liều mình giám sát khía cạnh vô thức này của hiện thực.

    Lưu ý: du-thức (knowmad) là từ do Phan Biên đặt ra.
  9. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Bài nay có hai từ đáng chú ý. Theo từ điển thì:

    - Fractal: phân dạng, cũng là một ngành toán học. Đây là một hình ảnh phân dạng:

    [​IMG]

    panorama: Ảnh toàn cảnh.

    [​IMG]

    Phan Biên dịch từ:
    http://idst-2215.blogspot.com/search/label/decalcomania

    CÁC XU HƯỚNG GIÁO DỤC: ĐA-CÁCH
    Keith Hamon

    Xu hướng then chốt thứ hai trong giáo dục có thể mô tả bằng đặc tính thứ ba và thứ tư của cấu trúc thân rễ như Deleuze va Guattari thảo luận trong cuốn Một Nghìn Cao Nguyên:

    . Đa-cách
    . Những phân khúc vô nghĩa.

    Trong bài này tôi sử dụng thuật ngữ đơn đa-cách để nói về cả hai đặc tính, trừ khi tôi muốn nói về những phân khúc vô nghĩa bằng chính những phân khúc đó.

    Đa-cách là một khái niệm phức mà chúng ta có thể tiếp cận trước tiên từ những ý tưởng về kết-nối và hỗn-tạp. Mọi điểm trong thân rễ có thể và phải kết nối với mọi thứ khác; do đó, chúng ta không thể hiểu bất cứ điểm đơn nào, ngoại trừ bằng cách trừu tượng và hàn lâm nhất mà không xem xét và giải thích mọi kết nối của nó. Điều này trực tiếp đưa chúng ta đến tư duy mang tính tổng thể, môi trường, hệ thống, tương đối, cơ quan, phân dạng, hỗn độn, và xung đột trực tiếp với loại chủ nghĩa cá nhân hợp lí một cách cứng nhắc đã thống trị phần lớn tư tưởng phương Tây và hầu hết tư tưởng Mỹ trong hai thế kỉ qua. Về mặt đa-cách thì chúng ta xem bất cứ sự vật nào cũng là một tập hợp của những tập hợp bội số - cả gần và xa, đôi lúc và thường tồn, trong và ngoài, lên và xuống – tự chúng là tập hợp của những tập hợp bội số. Do đó, chúng ta xem bất cứ sự-vật nào ở bất cứ mức độ hay tỉ lệ nào đều là tập hợp của những tập hợp trong phạm vi những tập hợp, tất thảy đều liên quan với nhau trong một kiểu cách dễ đổi thay một cách trật tự, như một hình ảnh phân dạng đẹp.

    Một cách trật tự, nó mang chúng ta đến đặc tính then chốt thứ hai của đa-cách: đa-cách nào cũng tự-tổ chức. Đây là tự-chứng từ quan điểm khoa học hiện đại. Nếu chúng ta xem Vũ Trụ - Thân Rễ-sinh sản - ta sẽ hiểu rằng hầu hết mọi vật trong đó đều tự-tổ chức. Tia sáng ban đầu hợp lại thành hydrogen và những cấu trúc nguyên tử khác, sau đó chúng được tổ chức thành những ngôi sao, sau đó là hành tinh, và thành…à, chúng ta và sau cùng thành lớp học này. Tự chúng ta bắt đầu bằng đôi tế bào rồi tự-tổ chức thành một đứa bé trong phạm vi một cấu trúc thân rễ khác, tức đa-cách mà chúng ta gọi là mẹ. Ngôi sao có ánh sáng, trọng lực và tự-tổ chức riêng của nó, nhưng ánh sáng và trọng lực đó trải rộng khắp vũ trụ, và để hiểu được ngôi sáo đó, chúng ta phải xem cả ánh sáng, trọng lực và tự-tổ chức của nó cùng quan hệ với mọi ánh sáng, trọng lực và tổ chức khác. Vậy thì bất cứ cấu trúc thân rễ nào cũng đều chứa đựng mọi sự-kiện và tất thảy khả năng bí ẩn, và để hiểu được nó, chúng ta có thể không chỉ giới hạn mình vào các sự kiện hay vào sự bí ẩn, mà phải xem ngôi sao ở mọi đa-cách của nó. Rõ ràng, chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu hết được bất cứ ngôi sao nào, hay bất cứ bông hoa hay người nào, và tôi lấy làm sung sướng và an ủi với điều này. Vũ Trụ và vạn vật là một đa-cách vô cùng tận.

    Điểm thứ ba, cũng là tự-chứng, là những cấu trúc thân rễ đều có tính chất động lực. Chúng không tự-tổ chức thành những thực thể tĩnh. Chúng biến hình, chúng thay đổi, chúng hiển hiện và chuyển hướng, chúng tái tổ chức. Chúng dễ trở thành những phân khúc vô nghĩa mà chúng hoán đổi và chuyển hướng thành những cấu trúc thân rễ khác có thể tái sắp xếp thân rễ đến mức mà nó dường như đánh mất ý nghĩa và sự biểu thị đối với chúng ta. Nó trở thành phi-thụ hiệu, không còn phù hợp với ngôn ngữ mà chúng ta quen sử dụng để biểu đạt nó. Chúng ta cố gắng nắm bắt thân rễ bằng ngôn ngữ, thiết lập các dấu hiệu chỉ cách này hay cách nọ, xây tường quanh không gian này nọ, mà thân rễ thì thay đổi nên các dấu hiệu đều chỉ sai. Như Robert Frost giải thích một cách mộc mạc rằng: có cái gì ở đó mà nó không thích bức tường.

    Và sự biểu đạt mang chúng ta đến điểm cuối trong bài này: ngôn ngữ chúng ta dùng để biểu đạt một cấu trúc thân rễ tự chúng là những đa-cách, cung cấp cho chúng ta nhiều cách để nói và biểu đạt bất cứ thứ gì, mỗi ngôn ngữ cùng với giá trị và hữu dụng riêng của nó và mỗi ngôn ngữ tương tác và gắn kết với sự vật một cách khác biệt hơn so với một ngôn ngữ khác nữa. Chúng ta có thể bắt đầu việc đo đạc tại bất cứ đâu trong thân rễ, tại bất cứ mức độ nào, sử dụng bất cứ ngôn ngữ nào. Mọi đo đạc đều ít nhiều hữu ích, ít nhiều kĩ năng, ít nhiều góc cạnh, ít nhiều phổ biến. Không có đo đạc nào tuyệt đối đúng hay sai.

    Theo tôi, một đa-cách được hình dung một cách dễ dàng trong trình diện diệu kì của phần mềm Blaise Agüera y Arcas của kĩ thuật Photosynth mới của Microsoft. Một cách cơ bản, photosynth cung cấp kĩ thuật tập hợp hình ảnh, về Tháp Eiffel chẳng hạn, từ khắp nơi trên Net, kết hợp chúng và tạo ra một bức ảnh toàn cảnh, đa chiều phong phú và nhiều thông tin hơn bất cứ bức ảnh đơn nào. Do đó, đa-cách tạo nên hình ảnh vượt xa toàn bộ các bộ phận của nó.

    Vậy thì luận điểm cho giáo dục là gì? Đó là không sinh viên, không giáo viên, không chủ thể nào có thể giảm trừ về một thuật ngữ đơn. Mọi tuyên ngôn về bất cứ sinh viên nào đều là tạm thời. “Đây là John, một sinh viên A gương mẫu, còn đây là Mary, một sinh viên F có vấn đề” đều là tạm thời, và không có nghĩa mọi thứ có thể nói hay đo lường về John hoặc Mary hoặc chính chúng ta đều là đo lường và nói về những việc như thế. Đó là dạy bất cứ điều gì, chúng ta phải định nghĩa việc này, nhưng những định nghĩa của chúng ta luôn là tạm thời, luôn dễ thay đổi, thường thì thà sớm hơn còn hơn trể hơn. Đám đông bắt nguồn theo phong cách photosynth sẽ sản sinh một hình ảnh hiện thực phong phú hơn bất cứ một giáo viên đơn lẻ hay sách giáo khoa nào có thể làm được.
  10. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Phan Biên dịch tham khảo từ:
    http://idst-2215.blogspot.com/search/label/multiplicity

    ĐA-CÁCH CỦA LỚP HỌC
    Keith Hamon

    Nguyên tắc thứ ba của thân rễ trong Một Nghìn Cao Nguyên của Deleuze và Guattari là đa-cách. Tôi vẫn đánh vật với khái niệm này, nhưng đang hình thành một hình ảnh rõ hơn về những gì có ý nghĩa với tôi trong lớp học.

    Mỗi người trong lớp, sinh viên và giáo viên, đều là một thân rễ, một đa-cách, và như thế họ không giảm trừ về một thuật ngữ đơn như sinh viên hay giáo viên, mặc dù việc giảm trừ đó có thể có lợi ích nhất thời nào đó, như thuận tay khi viết tốc kí. Deleuze và Guattari lưu ý sự thuận tiện này trong lời mở đầu hóm hỉnh cuốn MNC: “Tại sao chúng tôi giữ tên riêng của mình? Chỉ vì thói quen, thuần túy vì thói quen…Để hoàn trả tính chất không thể nhận biết, không phải bản thân chúng tôi, mà là những gì khiến chúng tôi hành động, cảm nhận, và suy nghĩ. Cũng vì thật thú vị được nói chuyện như mọi người khác, nói mặt trời lên, khi mọi người đều biết đó chỉ là một cách nói…Chúng tôi không còn là chính mình. Mỗi người sẽ biết về riêng mình. Chúng tôi được giúp đỡ, được truyền cảm hứng, được nhân lên” (MNC, 3). Đấy không tài sao? Một cái tên không những dùng để bộc lộ chúng ta mà còn để che dấu nữa, “để hoàn trả tính không thể nhận biết…những gì khiến chúng tôi hành động, cảm nhận, và nghĩ suy”.

    Cái tên làm việc đó như thế nào? Bằng cách giảm trừ đa-cách của bất cứ người nào về một điểm đơn, một nhãn hiệu, một cái tên đánh lừa chúng ta với niềm tin rằng chúng ta biết người đó khi biết tên của họ. Mọi danh xưng, thậm chí các con số, đều là những hư cấu thiết thực, một tốc kí cho phép chúng ta nhanh chóng duyệt thế giới, nhưng chúng ta phải luôn đề phòng, kín đáo đối với đa-cách được tập hợp lại quanh đầu ghim cùa mỗi tên gọi.“Con số không còn là khái niệm chung đo lường những yếu tố theo qui hoạch trong một chiều kích nhất định, mà tự nó đã trở thành một đa-cách biến đổi tùy theo các chiều kích đang xét (Tính ưu việt của lĩnh vực qua phức hợp những con số đính kèm với lĩnh vực đó). Chúng ta không có những đơn vị đo lường, chỉ là những đa-cách tức những phép đo đa dạng” (MNC, 8). Khi chúng ta nói đây là John, một sinh viên hạng A, và đây là Mary, một sinh viên hạng F là chúng ta đã qui giảm những đa-cách phức về một vài nét đặc tính trong một ngữ cảnh hết sức hạn hẹp.

    Nội dung khóa học cũng không thể qui giảm về một vài điểm-đạn (bullet point) trên PowerPoint. Như mọi người, tri thức là một đa-cách, kết nối với mọi thứ khác, và mọi đường biên giữa tri thức này và nghĩa của nó, tốt nhất, là một hư cấu thiết thực. Là những giáo viên, chúng ta phải nhạy cảm nhất với những kết nối giữa tri thức và sinh viên của mình, nhìn nhận rằng mỗi mối nối đều có thể khác biệt, một đa-cách những kết nối. Mỗi sinh viên là một tập hợp những thân rễ trí thức duy nhất, có cảm xúc, mang tính xã hội, giới tính, tôn giáo và kinh tế mà nó liên kết và ít nhiều tương tác với thân rễ là nội dung khóa học theo cách riêng độc nhất vô nhị của nó, rồi sau đó tập hợp kết quả liên kết ít nhiều với tất thảy những tập hợp lớp học khác, của cả giáo viên nhằm tạo nên một tập hợp lớp học độc nhất vô nhị mà nó khiến khóa học ENG 1101 này khác biệt với bất cứ khóa học ENG 1101 khác của tôi trong hiện tại, quá khứ và tương lai.

    Điều này làm tôi nhớ đến bình luận châm biếm của Shunryu Suzuki trong cuốn sách Tâm Thiền, Tâm trí của Người mới bắt đầu (Zen Mind, Beginner’s Mind) của ông: “Trong tâm trí người nhập môn có rất nhiều khả năng, còn trong tâm trí chuyên gia thì chỉ có một vài”.Tôi không tin rằng Suzuki tấn công chuyên môn; đúng hơn, ông lưu ý rằng chuyên môn thường phụ thuộc vào tài khéo léo của họ nhằm giảm thiểu những rắc rối của tình huống về một vài chọn lựa để gạn lọc và quyết định cho nhanh. Sau đó thì chuyên môn có thể cho phép chuyên gia tham dự hoặc rút nhanh khỏi tình huống, song nó cũn che mắt chuyên gia trước những xoáy lốc của đa-cách xung quanh tình huống. Tôi không biết nếu qui giảm luận là cần thiết cho việc dàn xếp thực tại, nhưng tôi chắc rằng nó là một thực hành theo thói quen tiện lợi. Vấn đề là chúng ta quên rằng nó là một hư cấu, một thời điểm căng thằng nhằm tranh thủ kiểm soát vật chất, trí năng, chính trị, xã hội, tôn giáo và thẩm mỹ qua thực tại, nhưng nó không phải là thực tại. Sinh viên không phải là sinh viên. Họ còn hơn thế nhiều. Cả giáo viên và sinh viên phải nhạy cảm đối với đa-cách của nhau, thậm chí khi chúng ta xây dựng những hư cấu, thần chú, công thức giúp chúng ta xuyên suốt cuộc sống hàng ngày. Điều này khiến tôi nghĩ đến quang phổ ánh sáng tràn ngập. Chúng ta chỉ có thể thấy một phần nhỏ hẹp của toàn bộ quang phổ, nhưng thật ngốc nghếch nếu nghĩ rằng chẳng có gì hơn để xem. Những gì chúng ta thấy về thế giới nếu chúng ta có thể xử lí toàn bộ quang phổ? Những nhà qui giảm đã ngu ngốc giới hạn thân rễ về những gì họ có thể thấy; tuy nhiên, thân rễ, bất cứ thân rễ nào,cũng đều phong phú một cách bất tận, có thể nâng cao và thứ thách trí tuệ chúng ta. Quang phổ ánh sáng đấy, dĩ nhiên, đủ cho một tiệm tạo hóa hay một bài kiểm tra, mà quang phổ thì rộng, thậm chí rộng hơn chúng ta nghĩ. Chúng ta có thể nhìn thấy những gì ở bước sóng -1? Có lẽ chúng ta phải chiếm hữu thân, nhưngchúng ta phải luôn sẵn sàng tháo dỡ. Như Deleuze và Guattari lưu ý: “Không đủ để nói – bội số muôn năm”… Ta phải tạo nên bội số, không phải lúc nào cũng thêm vào một chiều kích cao hơn, mà đúng hơn, bằng cách đơn giản nhất, bằng nỗ lực điềm tĩnh cùng với số lượng chiều kích thì một đã có sẵn – luôn là n-1 (cách duy nhất để một thuộc về bội số: luôn bị trừ). Trừ cái độc nhất vô nhị khỏi đa-cách để xây dựng nó; viết ở n-1 chiều kích. Một hệ thống thuộc loại này có thể gọi là một thân rễ” (MNC, 6).

    Qui giảm luận luôn dẫn đến bất lực, đến vùng khô hạn của sự vật được qui giảm. Qui giảm một con ếch về những cấu phần bằng dao mổ luôn giết con ếch. Qui giảm con ếch bằng ngôn ngữ bộc lộ năm mươi triệu năm tiến hóa, hệ sinh thái và giáo dục của riêng bạn. Như Wordsworth viết trong Ngợi ca vĩ đại:

    Với tôi hoa tầm thường chỉ có thể nở
    Mà tư tưởng thâm sâu suối lệ nào thấm được

    (To me the meanest flower that blows can give
    Thoughts that do often lie too deep for tears).

    Như Pirsig viết trongThiền và Nghệ thuật bảo trì Mô-tô (Zen and the Art ofMotorcycle Maintenance): “Mỗi sự kiện đều có vô số giả định”. Mọi thân rễ đều sinh sôi nảy nở, chúng đắm mình trong pha tạp, ráp nối, gãy vụn chỉ để tái ráp nối lại. “Khi lũ chuột di chuyển bầy đàn con nọ trèo qua con kia” (MNC, 7).

    Mọi sinh viên, mọi giáo viên, mọi hệ thống tri thức bị hạn chế vô cùng tận, đều là những tập hợp thân rễ. Trong những lớp học, chúng nhiều vô kể, vô cùng tận pha trộn một cáchvô cùng tận. Như thế giáo viên dạy văn phải chấp nhận rằng bất cứ hình thức nào cũng đều là những hư cấu tạm thời, thiết thực để thực hiện những công việc cụ thể trong phạm vi ngữ cảnh cụ thể. Chúng không vĩnh cửu.Người giáo viên sâu sắc phải rộng mở cho tương tác thậm chí của những cấu trúc được hình thức hóa nhất với sinh viên. Chúng ta phải có khả năng dõi theo thân rễ, “những thăng tuyến tức tháo dỡ mà tùy theo đó (thân rễ) thay đổi về bản chất và kết nối với những đa-cách khác” (MNC, 9). Mọi lí thú đều ở đấy.

Chia sẻ trang này