1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Gilles Deleuze & Felix Guattari, "Giới thiệu: Thân rễ".

Chủ đề trong 'Tiếng Việt' bởi Tran_Thang, 08/09/2013.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Những bài viết của Keith Hamon khiến tôi liên tưởng đến thời kì Nguyễn Trường Tộ kêu gọi cải cách. Về mặt cá nhân tôi thừa hiểu tính chất biện chứng và ngữ cảnh của vấn đề, không như Việt Nam xưa người Nhật duy tân là do áp lực đồng bộ của đại bộ phân dân chúng hơn là những cá nhân hay nhóm riêng biệt.... Cảm ơn thầy Keith Hamon.

    Phan Biên dịch từ:

    http://idst-2215.blogspot.com/2011/02/decalcomania-and-cck11.html#gpluscomments

    THÚ CHƠI ĐỀ-CAN VÀ KHÓA HỌC CCK11

    Trong blog: Về Chủ nghĩa Kết nối và Học tập, Jaap phân biệt rèn-luyện và học-tập khi chúng ta tự luyện chơi một đoạn nhạc. Tôi nghĩ ông đang nắm bắt sự khác biệt mà tôi đang cố gắng khảo sát giữa đồ-hình và sắp-xếp, năng-lực và thực-thi, làm-việc và vui-chơi. Như thế, rèn-luyện của Jaap là đồ-hình và làm-việc hướng đến năng lực, còn học-tập là sắp-xếp và vui-chơi hướng đến thực thi. Âm nhạc cho ta một ẩn dụ tuyệt vời: chơi đủ hay để mang niềm vui và thỏa mãn (có thể có chi phiếu) đến cho chính mình và khán giả, một nhạc sĩ hẳn phải có năng khiếu âm nhạc cùng nhạc cụ (cần mười nghìn giờ làm việc), nhưng phải chuyển đổi năng lực đơn thuần thành hiện thực, để chơi nhạc bằng nhạc cụ của mình, mở rộng và biểu đạt như một nghệ sĩ. Rèn-luyện/đồ-hìnhhọc-tập/sắp-xếp không phải là những hoạt động đối lập mà là những mục đích khác nhau ở mức độ gia giảm của các hoạt động, và cả hai đều có bản chất kết nối.

    Tôi hiểu rèn-luyện và học-tập đều là Người Kết Nối qua khái niệm đề-can của Deleuze và Guattari, một trong sáu đặc tính cấu trúc thân rễ mà họ khảo sát trong quyển Một Nghìn Cao Nguyên (1988). Thú chơi đề-can là quá trình nghệ thuật truyền một hình ảnh hay mẫu mã từ một cấu trúc sang một cấu trúc khác, thường là bằng cách nén cả hai cấu trúc lại với nhau. Theo ARTTalk, “những lí giải kĩ thuật đề-can mô tả phương pháp này như là hình học bất qui tắc, đứt gãy (không mượt mà bằng phẳng). Hai hình ảnh được sáng tạo bằng cách nén một vùng chất lỏng lên một tấm màng giấy sẽ hiển thị một hình thức “tương tự-chính nó”, đồng dạng (tỉ lệ và độ lớn) – gần như chính xác một bản sao. Khi bắt đầu chế tác thì điều này có nghĩa là việc sáng tạo hai hình ảnh đã được thực hiện với những nỗ lực riêng. Rất nhiều chi tiết tinh tế vẫn hiện rõ khi được khếch đại, sinh những đường vân đáng kinh ngạc”. Trang capitalismandschizophrenia.org định nghĩa đề-can Deleuze-Guattari là phương pháp “thiết lập bằng cách liên tục dàn xếp với ngữ cảnh, luôn sửa đổi thích nghi qua thử nghiệm, vì thế đề kháng tích cực và phi-hệ thống chống lại tổ chức và khu vực cứng nhắc”.

    Một buổi học về phân dạng tại ĐH Yale chú giải rằng đề-can có thể hình thành những phân dạng dạng cây, như hình dưới đây:

    [​IMG]

    Theo tôi, đề-can là quá trình truyền một mẫu mã từ một vật sang một vật khác, nó mô tả hoàn toàn chính xác làm thế nào chúng ta sáng tạo ý nghĩa trong tâm trí mình. Trong thú chơi đề-can, một bề mặt với hình ảnh tiềm năng tức trung-gian được nén vào một bề mặt khác. Sau khi tách hai mặt ra thì những hình ảnh tự-đồng dạng sẽ hiện trên cả hai mặt. Những hình ảnh này có thể càng phân kì hơn khi hai bề mặt biến đổi về vật liệu, kết cấu, trạng thái, mật độ, màu sắc, vân vân. Những hình ảnh này cũng có thể lại phân kì vì độ nhớt và độ đặc của trung gian được nén giữa hai cấu trúc, và các hình ành có thể phân kì hơn nữa nếu việc nén không chính xác hay bề mặt không phẳng cùng những vết bẩn. Đề-can, tôi nghĩ, cho ta một ẩn dụ hay để hiểu việc học-tậprèn-luyện: quá trình in dấu những mẫu mã giữa học sinh và lớp học, con người và thế giới, nhạc sĩ và ghi-ta, nghệ sĩ và bức vẽ.

    Nhưng trước tiên, hãy để tôi sữa chữa một phần định nghĩa của mình. Trong thú chơi đề-can, mẫu mã KHÔNG được truyền từ một vật sang một vật khác. Truyền là một lối nói quen thuộc mà nó làm lu mờ những thấu đáo sâu kín hơn. Chỉ trong hình thức đề-can cơ bản và thông dụng nhất nơi mà một hình ảnh được tháo dỡ từ một tờ giấy cụ thể rồi được áp toàn bộ và nguyên vẹn vào một bề mặt mới, liệu thú chơi đề-can có giảm trừ chỉ còn là việc truyền mẫu mã? Thật không may, đây là phép ẩn dụ thống trị học tập truyền thống và mọi rèn-luyện: một mẫu tri thức được truyền toàn bộ và nguyên vẹn từ một nguồn vào một bộ não mới mà sau đó trở thành mẫu tri thức mới. Điều này sai về cơ bản và dẫn đến mọi chiến lược và lí thuyết sư phạm sai lệch.

    Đúng hơn, thú chơi đề-can đánh thức những mẫu mã trong cả hai cấu trúc. Khi một nghệ sĩ ép một trung gian nào đó – tô vẽ chẳng hạn – giữa hai bề mặt – vải và giấy – thì hành động ép và phóng thích sơn màu sẽ tạo mẫu mã trên cả vải và giấy. Hai mẫu mã này có thể tự-đồng dạng rất chuẩn nhưng không chắc chúng là những bản sao chính xác. Thậm chí trong các quá trình công nghiệp in hình ảnh lên bề mặt nào đó (trên chai Coke chẳng hạn), “những chi tiết tinh tế vẫn hiện rõ, khi được phóng đại, sinh những đường vân đáng kinh ngạc”, tức những biến đổi.

    Thú chơi đề-can giúp tôi lí giải tương tác của tôi với khóa học MOOC CCK11. Tôi đã nén phương tiện đại chúng giữa chính tôi và MOOC CCK11 – những phương tiện như: khóa học Soi Sáng, thảo luận, chuyện phiếm hậu trường, viết blog, tiểu luận, bình luận facebook, youtube, v.v. – và mỗi lần nén đánh thức trong tâm trí tôi những mẫu mã mới, gia cố hay thay đổi những mẫu cũ. Mỗi lần nén cũng đánh thức những mẫu mã khác nhau trong khóa MOOC CCK11. Cả tôi và MOOC CCK11 đều khác biệt vì những ấn tượng mà mỗi phía đã tạo nên ở phía kia (dĩ nhiên CCK11 lớn hơn tôi, vì thế ấn tượng tôi tạo nhỏ hơn ấn tượng mà nó tạo nên ở tôi; tuy nhiên, hãy nghĩ về những ấn tượng của Downes và Siemens để thấy rõ hơn làm thế nào hành động khắc sâu này hoạt động bằng cả hai cách, thay đổi cả cá nhân lẫn nhóm).
    [​IMG]

    Quá trình này có thể được khảo sát thêm. Chẳng hạn, tôi chắc rằng việc học tập của tôi hơi khác biệt, có thể khác biệt một cách triệt để, với việc học tập của những người khác trong MOOC CCK11, thậm chí khi chúng ta xét cùng phương tiện đại chúng. Với những thuật ngữ cơ thể chặt chẽ thì không có hai bộ não nào có cấu trúc giống nhau; vì thế việc nén giữa não tôi và MOOC CCK11 qua trung gian một khóa học Soi Sáng nào đó tất yếu sẽ tạo nên mẫu tri thức khác biệt giữa những nơ-ron của tôi hơn giữa những nơ-ron của Stephen Downes. Bề mặt bộ não của ông và của tôi có thể tương tự nhưng vẫn khác biệt, thậm chí trong từng chi tiết cơ thể và chắc chắn là chi tiết tri thức. Có lẽ tôi thậm chí không sắp-xếp những gì tôi học trong khóa học vào cùng một khu vực não như ông. Chắc chắc tôi sẽ không sắp-xếp nó theo cùng sự sắp xếp của các nơ-ron. Phải mất nhiều lần nén qua những trung gian khác nhau để hai chúng tôi đạt đến những mẫu tri thức thích hợp ở cả hai bộ não và trong ảnh hưởng qua lại giữa chúng tôi (đó là quá trình toàn thể để hiểu biết nhau hơn).

    Quá trình đề-can này dường như mô tả rất nhiều lớp học mà tôi đã chủ nhiệm và giảng dạy. Nó cũng giải thích cho tôi tại sao phương pháp công nghiệp giáo dục như Ông Ken Robinson mô tả đã trở nên quá mất tác dụng. Nếu bạn chưa hiểu đề tài này thì hãy xem Ông lí giải tại sao chúng ta cần thay đổi triệt để thoát khỏi mô hình công nghiệp giáo dục:

  2. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Phan Biên dịch từ:
    http://idst-2215.blogspot.com/2010/01/mapping-rhizome.html

    Chú thích của người dịch: từ "map" và "mapping" theo từ-điển là "bản đồ" và "sắp xếp", hiểu theo ánh xạ thì như bạn nhìn từ vệ tinh xuống các vùng đất. Ảnh vệ tinh là bản đồ tổng quát nhất nhưng khi áp dần xuống mặt đất thì tỉ lệ sẽ thay đổi dần tức ta phải sắp xếp lại bản đồ đó. Bản đồ lí tưởng khi nó có tỉ lệ 1/1 tức chính thực địa.

    SẮP XẾP THÂN RỄ
    Keith Hamon

    Như với hai đặc tính đầu của thân rễ là kết-nốihỗn-tạp, Deleuze và Guattari nhóm hai đặc tính cuối lại với nhau: bản-đồđề-can. Tôi nghĩ họ làm vậy vì cả hai đặc tính này đều phải liên quan đến những toan tính của chúng ta nhằm tạo một cấu trúc, hay một mạng lưới lộ trình, cho thân rễ. Có lẽ tốt hơn nên nói rằng hai đặc tính này đề cập vấn đề thực tế là định hướng chúng ta trong phạm vi cấu trúc thân rễ và dàn xếp những con đường vận hành qua thân rễ từ bất cứ nơi nào chúng ta bắt gặp chính mình.

    Trang capitalismandschizophrenia.org định nghĩa bản đồ học Deleuze-Guattari là “phương pháp sắp-xếp để định hướng từ bất cứ điểm vào nào trong phạm vi “toàn thể”, thay cho phương pháp đồ-hình miêu tả một lối đi tiên nghiệm, một cấu trúc cơ bản hay trục di truyền”. Thú chơi đề-can là phương pháp “thiết lập bằng cách liên tục dàn xếp với ngữ cảnh, luôn sửa đổi thích nghi qua thử nghiệm, vì thế đề kháng tích cực và phi-hệ thống chống lại tổ chức và khu vực cứng nhắc”. Tư duy thứ bậc là đồ một mẫu mã lên hiện thực, chế ngự các điểm nhằm lắp đồ hình và phế phẩm tức tấn công các điểm không vừa với mẫu mã; ngược lại, tư duy thân-rễ cho phép những cấu trúc và mẫu thực tại này nổi bật hơn qua tương tác và thử thách của chúng ta với thực tại, thừa nhận mọi điểm đều là bộ phận của mẫu mã. Tư duy thứ bậc là sơn phết bằng những con số, bằng mẫu mã áp lên trang sách; trong khi tư duy thân rễ là sơn phết bằng cách nén sơn giữa hai mảnh giấy để thấy những mẫu mã gì hiện lên từ tương tác của kết cấu, hình dạng, và tính chất xốp của giấy, độ nhớt cùng màu sắc của sơn, áp lực, độ cứng, cùng sự đều đặn của bàn tay nghệ sĩ tức độ nén lên giấy.

    Bất cứ ai là bộ phận của tổ chức đủ lớn và xứng đáng với đồ thị tổ chức (đồ hình thứ bậc) ngày qua ngày đều nhận biết những khác biệt chức năng giữa đồ-hình thứ bậc và sắp-xếp thân rễ. Chẳng hạn, muốn IT trợ giúp ta có thể gửi yêu cầu đến Tuyến Thu Mua được phê chuẩn bởi cục trưởng rồi sau đó qua trưởng IT người mà sau đó sẽ đẩy yêu cầu vào nhóm Trợ Giúp IT để họ phản hồi. Hoặc ta có thể chụp lấy điện thoại và gọi một người bạn trong nhóm trợ giúp IT yêu cầu họ kiểm tra máy tính của bạn khi họ vào tòa nhà. Hướng hành động đầu đi theo đồ hình thứ bậc, một lối mòn được áp đặt vào một tập hợp người bằng logic của những nhà quản lí tổ chức, trong khi hướng thứ hai theo sắp-xếp thân rễ, một lối mòn xuất hiện từ những phân khúc vô nghĩa của tình bạn, một phạm trù quan hệ không xuất hiện ở đâu trên đồ thị tổ chức của bất cứ ai.

    Như Chuen-Ferng Koh nói trong Internet: Hướng đến một Bản thể học Chính thể: “Những kết nối thân rễ…đều được hình thành qua bản đồ – tức cấu trúc thiết thực dựa trên thử nghiệm về sự linh hoạt và chức năng, đòi hỏi và tài trợ hồi tiếp. Bản đồ không phải là hình ảnh mà từ đó thực tại được đồ hình…tức một bản thiết kế mà khả năng gia công của nó phải được đảm nhận bằng niềm tin; bản đồ không bao giờ được ấn định, mà là một dòng đổi thay sửa đổi và dàn xếp. Nó gắn bó nhau một cách mật thiết với tất thảy những nguyên tắc của thân rễ”. Chiến lược bản-đồ đối lập với đồ-hình làm rõ kết nối của những điểm hỗn tạp, đa-cách của một điểm là một tuyến tức cung hay giao điểm với những tốc độ và quỹ đạo khác nhau, và phân khúc vô nghĩa của bất cứ điểm nào từ tuyến hay cung này đến một tuyến hay cung khác trong một cấu trúc thân rễ khác.

    Làm thế nào chúng ta sắp-xếp một lớp học thay vì đồ-hình nó? Bằng cách theo những dòng chảy và tuyến của những dự-viên ở bên ngoài những biên giới và lớp học đó, tức những dòng chảy và tuyến đối thoại nằm ngoài những biên giới nội dung khóa học. Bằng cách mời những dự-viên lớp sáng tạo giáo án, có thể khi kết thúc lớp học cũng là khi mỗi người đã hoàn thành việc mô tả những gì đã làm trong lớp thay vì thực hiện nó vào lúc bắt đầu lớp học như những qui định.

    Làm thế nào việc giới thiệu mạng xã hội với một lớp học sẽ khuyến khích việc sắp-xếp bản đồ? Là một cấu trúc thân rễ, mạng xã hội kết nối sinh viên với mọi người và thông tin vượt khỏi các nhóm thứ bậc nhỏ gọi là Lớp tiếng Anh 101 của Keith Hamon, khóa học 32, Mùa xuân, 2010, cùng những tiểu tập hợp lí giải, những bài tập lõm bõm và giấy viết, hai-lăm sinh viên đăng kí và một hướng dẫn viên. Khi cả hướng dẫn viên và sinh viên nhận thức và thừa nhận rằng họ không còn bị dồn vào một không gian giới hạn và thứ bậc mà tự do rong chơi vào toàn bộ World Wide Web thì những tua và chồi non của lớp học có thể mở rộng đến bất cứ ai, bất cứ gì, bất cứ đâu.Các điểm đều có thể sinh sôi nảy nở. Chúng ta có thể bắt đầu từ đa-cách các điểm và theo đuổi các đa-cách đó. Chúng ta có thể đắm mình, hay có thể chạy. Chúng ta có thể ở đây và nhảy đến kia qua những phân khúc vô nghĩa mà chúng sẽ thách thức sự đồng nhất, ý nghĩa của lớp học.

    Chúng ta có thể theo đuổi sáng tạo và đam mê của mình, hoặc sáng tạo chúng nếu chúng không tồn tại.

    Và đặc biệt đối với các lớp viết, đam mê và tính sáng tạo này là quan trọng nhất. Qua ba-mươi-năm nghề nghiệp, tôi đã biết nhiều hơn những chia sẻ văn xuôi nhạt nhẽo, buồn chán, thiếu suy xét được viết chỉ nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chuyển nhượng – một sự chuyển nhượng mà tôi đã tạo ra, vì thế tôi không khiển trách ai ngoài chính mình. Tôi thực sự không muốn đọc những dòng đó, vì thế tôi hy vọng rằng việc giới thiệu cấu trúc thân-rễ với lớp học có thể giúp kết nối tôi và sinh viên với đam mê và sáng tạo của chúng tôi với nhau.
    Lần cập nhật cuối: 09/02/2014
  3. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Tiến sĩ Alan Phan hay nói đến cái gọi "phân khúc", tôi nghĩa đó là điều Keith Hamon đang đề cập.

    Phan Biên dịch từ:

    http://idst-2215.blogspot.com/2010/01/asignifying-ruptures-in-classroom.html

    NHỮNG PHÂN KHÚC VÔ NGHĨA TRONG LỚP HỌC
    Keith Hamon

    Đối với Deleuze và Guattari, phân khúc vô nghĩa là quá trình thân rễ chống lại địa hóa, tức những toan tính tạo nghĩa hay đặt tên nó bằng quyền lực quá mã. Đó là quá trình thân rễ phá vỡ những ranh giới (hay tháo dỡ) rồi tái lắp ráp tức tái tập hợp ở một nơi hay một lúc nào đó (tái lập), thường là chuyển sang một sự đồng nhất mới hoặc có thay đổi. Trong lớp học, những phân khúc vô nghĩa đều là những quá trình sinh viên sử dụng để tránh trở thành những sinh viên thuần túy, lớp học sử dụng để tránh trở thành lớp học thuần túy, những nội dung được sử dụng để tránh trở thành những vấn đề của chủ đề, và các giáo viên sử dụng để tránh chỉ là những giáo viên thuần túy. Những phân khúc vô nghĩa đều là những quá trình khác nhau này mà qua đó thân rễ sinh sôi nảy nở, đắm mình, bồi đắp, lan rộng, tan vỡ và tái lập, phân thành trò chơi, gấn như hỗn độn hay mất trật tự. Như Frost trầm ngâm: “Bức vách không giam giữ tình yêu” (Something there is that doesn't love a wall).

    Định nghĩa này nghe có vẻ quá cố chấp, vẫn quá nặng nghĩa hay bị chi phối của thực thể quá mã (tự thân rễ), và đó là ấn tượng sai. Thân rễ là những tập hợp năng lượng, thăng tuyến, bồi đắp, những ao sâu và dòng lan tỏa. Những phân khúc vô nghĩa đều là những gì thân rễ thực hiện, chúng là những bài tập và biểu lộ của sức mạnh, bất chấp một thực thể tương lai nào đó. Mặc dù đôi khi các thân rễ có xu hướng phân khúc thì chúng sẽ phân khúc có hoặc không có mục đích. Một nữ sinh lớp tám có thể thể hiện việc chối bỏ nhãn hiệu học-sinh mà gia đình, nhà trường và xã hội áp đặt vào cô ta song thực ra cô ta đang trở nên chín chắn hơn (một thăng tuyến, lan tỏa năng lượng) và sẽ phân khúc khỏi cái nhãn hiệu hoc sinh, dù cô ta có muốn hay không.

    Phân khúc thân rễ không có ý nghĩa gì, nghĩa là nó chống lại hoặc phớt lờ bất cứ nhãn hiệu nào áp đặt cho nó, hoàn trả lại nhãn hiệu cằn cỗi, không thích hợp, rời rạc, trò chơi quyền lực của nghĩa, kẻ phát-xít quá mã đã áp đặt lên nó (cho dù kẻ phát-xít này tự nó là một thân rễ). Đó là lối nói thân rễ, “Tôi khác biệt và không chỉ có thế”, là bất cứ điều gì.

    D&G mô tả làm thế nào quyển sách là một tập hợp sinh sôi nảy nở qua những phân khúc vô nghĩa, vì thế làm nổi bật những kết nối hư cấu của cuốn sách với một tác giả là người tạo nghĩa cho người đọc. “Gán cho quyển sách một chủ đề là …bịa đặt một Thượng Đế nhân từ nhằm lí giải những vận động địa chất” (3). Như thế vở Macbet, không chỉ được gán cho thiên tài của William Shakespear, blog này, chẳng hơn gì, cũng không chỉ được gán cho Keith Hamon. D&G đảm bảo rằng chúng ta biết Một Nghìn Cao Nguyên không chỉ được gán cho mình họ: “Hai chúng tôi cùng viết Chống-Oedipus. Vì mỗi chúng tôi đều là cá nhân nên hoàn toàn đủ cho một đám đông. Ở đây chúng tôi sử dụng mọi thứ trong tầm…Chúng tôi đã khéo phân công bút danh…nhằm hoàn trả lại tính không thể nhận biết, không phải chính chúng tôi, mà là những gì khiến chúng tôi hành động, cảm nhận và suy nghĩ…Chúng tôi không còn là chính mình…Chúng tôi được giúp đỡ, được truyền cảm hứng, được nhân lên”(3). Thế đây là loại tác giả nào? Ai chịu trách nhiệm về ý nghĩa của quyển sách Một Nghìn Cao Nguyên này? Liệu quyền tác giả có phải là một hư cấu? Nó có phải là hư cấu hữu ích không? Làm thế nào hư cấu về độc quyền tác gỉa này che khuất bản chất của cuốn Một Nghìn Cao Nguyên? Của vở Macbet? Của bài viết này? Của bất cứ thứ gì?

    Còn tôi thì lang thang, lảng tránh, sinh sôi nảy nở, lan tỏa, phân khúc. Tôi không bám vào chủ đề này.

    Trở lại với phân khúc vô nghĩa mà sau rốt là nhãn hiệu cho bài viết này, một nỗ lực nhằm địa hóa cuộc thảo luận và chủ đề này. Đó là nỗ lực của tôi để nói rằng bài viết này là về chủ đề này và không gì khác. Nó là một hư cấu thuận tiện, ý tưởng này của chủ đề mà hầu hết đọc giả của tôi sẽ hiểu và noi theo. Tôi sử dụng nhãn hiệu phân khúc vô nghĩa này, “vì thật thú vị được nói chuyện như tất thảy mọi người, nói mặt trời lên, khi mọi người đều biết đó chỉ là một cách nói” (3). Như bất cứ thân rễ nào, bài viết này là một tập hợp “các tuyến khớp nối tức những đoạn, địa tầng và vùng đất” (3) mà nó cho phép tôi bắt đầu viết bài tại đây và chấm dứt ở kia và có cả phần này lẫn phần kia. Những địa tầng này cho phép tôi chỉ ra những cơ quan trang hoàng cho thân bài, quyển sách hay lớp học hoặc bất cứ thứ gì khác nữa. Nhưng cũng như bất cứ thân rễ nào, bài viết này có “những thăng tuyến, vận động tháo dỡ và giải tầng” (3). Tất thảy những thứ đó lập tức và đồng thời chỉ là chữ VÀ này. Mọi thân rễ đều chứa “những phân khúc mà tùy theo đó nó được phân tầng, địa hóa, tổ chức, được kí-hiệu, gán thuộc tính, v.v, cũng như các tuyến tháo dỡ mà nó luôn lẩn trốn dọc theo đó. Có một phân khúc trong thân rễ bất cứ khi nào những đoạn tuyến này nổ tung thành những thăng tuyến, song thăng tuyến này là một phần của thân rễ” (9).

    Thế nên bài viết của tôi có những địa tầng: một câu luận văn, những đoạn văn phụ cùng những câu văn của chủ đề, những câu với những chủ ngữ và động từ, những biển chỉ đường nối tiếp để hướng người đọc – có thể, có lẽ thực sự - đến một kết luận. Nhưng nó cũng có những sai lạc, trệch hướng, những thăng tuyết và vận động tháo dỡ. Tên tiểu phát-xít trong đầu tôi muốn giam tôi vào chủ đề, hoạt động theo những tuyến logic chặt chẽ. Tên tiểu phát-xít xóa những phân khúc vô nghĩa đó khi tôi nghĩ về chúng hay sau khi tôi viết chúng trong không gian này.
  4. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Phan Biên dịch từ:
    http://wwwmcc.murdoch.edu.au/ReadingRoom/VID/jfk/thesis/ch1.htm

    INTERNET: HƯỚNG ĐẾN MỘT BẢN THỂ LUẬN TỔNG THỂ

    Chương I:

    INTERNET – THÂN RỄ

    Chương này sẽ khảo sát mức độ tương tự giữa Internet và khái niệm thân-rễ, một “phong cách tư tưởng” (Goodchild, 1996: 85) được Deleuze và Guattari giới thiệu trong đoạn mở đầu cuốn Một Nghìn Cao Nguyên (1987). Để đơn giản hơn, thân-rễ hoạt động bằng sinh sôi nảy nở bên sườn thay vì tăng trưởng thẳng như cây. Nó được đưa ra như là một chọn lựa luân phiên với cấu trúc hẹp hòi dạng cây và sự thống trị của thuyết nhị nguyên trong cái mà Deleuze và Guattari gọi là “triết học trạng thái” (Massumi, 1987a: xi):

    Gần như tự mình, và áp đặt chiếc nắp trên kỉ luật riêng của mình, triết học thường nhầm lẫn sự trống rỗng và vô lí với khôn ngoan và khắc khổ, còn mùi ươn thối loạn luân với dấu hiệu tri thức và đạo đức chính trực. Để mở chiếc nắp này, để cho một cơn gió lành có thể tràn vào, thì phải không phí thời gian giải mã những dấu hiệu một kết cục cấp bách của triết học (Boundas, 1993: 1)

    Điều quan trọng là không xem thân-rễ là đối lập nhị-phân với thân-cây, như Boundas gợi ý qua tiêu đề chương “Thân-Rễ vũ sự Thân-Cây” (1993: 27) của ông. Chính Deleuze và Guattari đã cảnh báo “hệ rể-cây và hệ ống-thân-rễ không phải là hai mô hình đối lập” (20). Khái niệm thân-rễ được thiết lập một cách chính xác nhằm thách thức những nhánh nhị phân; tuy nhiên, bằng cách đặt thân-rễ chống lại thân-cây thì làm thế nào chúng ta có thể phớt lờ thuyết nhị nguyên tự-mâu thuẫn? Làm thế nào Deleuze và Guattari trù tính cho tên lửa của họ - những thăng-tuyến chẳng hạn - rời khỏi mặt đất? Họ phát huy luận đề viết: để thiết kế cái gì đó một cách chính xác, không thể tránh tuyệt đối những biểu đạt không chính xác…Chúng ta viện dẫn một chủ nghĩa nhị nguyên chỉ nhằm thách thức một chủ nghĩa nhị nguyên khác. Chúng ta sử dụng các mô hình nhị nguyên chi để đạt đến một quá trình nhằm thách thức mọi mô hình (20).

    Điều này cũng quá đủ cho ví dụ “lắp bắp” tu từ mà qua đó Deleuze được biết đến là đã đạt những khái niệm triết mới mẻ (Boundas, 1993: 1); vì nhờ “những đa lối vào” của thân-rễ mà ta có thể vào nó qua hệ nhị nguyên-cây, “thừa nhận những cảnh báo cần thiết đã được ghi nhận” bao gồm, một cách nghịch lí, cả việc tránh “nhị nguyên Manichael” (14). Quan hệ của thân-rễ với thân-cây không phải là một nhị nguyên mà là địa-hóa (territorialization), nhưng chúng ta sẽ trở lại việc này theo mô tả về sáu nguyên tắc của thân rễ.

    Thân-rễ là gì, và mạng Net là một thân-rễ như thế nào?

    Sáu nguyên tắc thân-rễ được Deleuze và Guattari liệt kê như sau:

    . kết nối
    . hỗn độn
    . đa-cách
    . phân khúc vô nghĩa
    . bản đồ học
    . đề-can

    Goodchild gợi ý chúng ta rằng “những nguyên tắc này vẫn không bị tách biệt mà trộn lẫn nhau và sinh sôi nảy nở” (1996: 85). Nói cách khác, chúng ta nên nhớ rằng chúng không hoạt động cách li mà cùng nhau như một thân-rễ. Phương pháp thân-rễ lí tưởng bao gồm việc dàn xếp qua tất thảy những nguyên tắc này một cách đồng thời để chúng có thể sinh sôi nảy nở trong tâm trí đọc giả; nhưng vì những lí do được để cập trong phần Giới Thiệu trên mà phiên bản giấy của luận điểm này sẽ ở lại cùng phương thức lí giải tuyến tính, trong khi phiên bản HTML sẽ cho phép một sự dàn xếp phi-tuyến bởi người đọc. Thay vì trình chi tiết những nguyên tắc rồi sau đó nói chúng tồn tại như thế nào trong trường hợp mạng Net, tôi sẽ lập bản đồ mỗi nguyên tắc vào mạng Net khi tôi tiếp tục, với hy vọng khuyến khích một hình thức sắp-xếp sinh sôi nảy nở.

    Kết-nối và hỗn-độn

    Trong khi cấu trúc cây hoạt động theo thứ-bậc và ấn định trật-tự các vị trí vào các chủ thể (do đó thúc ép quan hệ với các chủ thể khác), thì trong hệ thống thân-rễ mỗi điểm có thể kết nối với tất thảy những điểm khác, không bị gò ép bởi bất cứ trật tự phân nhánh nào (7). Nguyên tắc phân nhánh bị từ bỏ, vì nó tự-kiềm hãm và không mở ra kết nối những lĩnh vực khác. Chẳng hạn, Deleuze và Guattari đã phê bình mô hình ngôn ngữ học phân nhánh của Chomsky là không thể kết nối “một ngôn ngữ với nội dung ngữ nghĩa và thực tế trình bày, với những tập hợp phát ngôn, với toàn bộ chính trị vi mô của lĩnh vực xã hội” (7). Thay vào đó, thân-rễ tập trung vào những kết nối mở rộng nhằm “đa dạng những mô hình mã hóa (sinh vật, chính trị, kinh tế, v.v.) nhằm phát huy không chỉ những chế độ dấu hiệu khác biệt mà còn là các trạng thái sự vật của những tình trạng khác biệt”(7). Nghiên cứu thân-rễ ngôn ngữ vì thế sẽ tích cực khảo sát những phạm vi xã hội thực trong đó không có ngôn ngữ phổ quát đơn lẻ, không có sự đồng nhất mà là một tương tác phức hợp giữa tất thảy mọi mô hình khớp nối, “không chỉ ngôn ngữ học, mà còn là thụ cảm, bắt chước, cử chỉ và nhận thức” (7).

    Mặc dù Deleuze và Guattari lưu ý rằng “không có tiếng mẹ đẻ” mà chỉ là “một đám đông biện chứng, thổ ngữ, tiếng lóng, và ngôn ngữ chuyên ngành” (7), một quyền lực tiếp quản bởi một ngôn ngữ thống trị trong phạm vi một đa-cách chính trị. Ngôn ngữ ổn định quanh những giáo xứ, địa phận, thủ phủ. Nó hình thành một loại củ. Nó tiến hóa bằng cuống ngầm, trôi nổi dọc con sông vào những thung lũng hay uốn lượn theo những lối mòn; nó lan tỏa như một vệt dầu (7).

    Phương pháp thân-rễ nỗ lực tính đến đa-cách này. Nó khác với phương pháp dạng cây của Chomsky vốn không muốn “phá vỡ ngôn ngữ thành những yếu tố nội cấu trúc, một nhiệm vụ về cơ bản không khác biệt với việc tìm kiếm rễ cây”, thay vào đó là thiết lập phân tích bằng cách mở nó ra “những chiều kích và sổ sách khác” (7-8).

    Nếu đây là phương pháp nghiên cứu mà Deleuze va Guattari chiếu cố nhằm phân tích ngôn ngữ - một phương pháp tính đến bản chất nội dung chủ thể - thì ta cũng có thể xây dựng một phân tích thân-rễ của mạng Nét vốn được kiến tạo bằng những kết nối giữa những môi trường đa dạng, hỗn độn. Barrett đánh bạo đưa ra một định nghĩa thẳng thắn về mạng Nét có thể giúp chúng ta hiểu hình thức thân-rễ của nó:

    Từ viễn cảnh kĩ thuật thuần túy, mạng Internet có thể được định nghĩa như tập hợp những chuẩn mực, nghi thức và cơ giới cho phép một tập hợp máy tính toàn cầu – từ hệ thống lớn cho đến máy đơn lẻ - tương tác, chia sẻ phần mềm và dữ liệu (1996: 12)

    Vì thế, dù là một thực thể vật lí, mạng Nét bao gồm nhiều kết nối giữa các điểm hoặc nút đa dạng một cách hiển nhiên, như việc “nói” làm đa dạng hóa “ngôn ngữ” vậy – trong thuật ngữ kĩ thuật thì đấy là những sơ đồ mã hóa và các bậc hoạt động. Một cách tiềm năng, sự đa dạng của mạng Nét khi đó thậm chí to lớn hơn đòi hỏi của Deleuze và Guattari đối với ngôn ngữ tự nhiên. Những kết nối này về cơ bản được kiến tạo bằng những cỗ máy vật lí hoạt động kết hợp với TCP/IP, một “siêu ngôn ngữ” chung tức nghi-thức, kênh thông tin bằng nhiều phương tiện truyền thông khác nhau.

    Mở rộng hơn định nghĩa của ông, để về mạng Nét không bị giới hạn chỉ trong kĩ thuật kết nối, Barrett đưa ra một định nghĩa chung hơn:

    Internet: một cái ao thông tin và dịch vụ toàn cầu, khả truy bằng những phương tiện phần mềm thực thi qua những giao thức địa phương (1996: 12)

    Bằng cách này, ông tung ra một mạng rộng hơn, rào đón một tạo vật lớn hơn, u ám và được xác định một cách lỏng lẻo hơn. Nhờ việc mở rộng mạng lưới này mà ông đã tìm thấy những giao-điểm trên mọi mô tả: những trang riêng, công chức chính quyền, cơ sở dữ liệu phim ảnh, các bản liệt kê thư viện, những thảo luận qua e-mail, những lợi ích thương mại, những tổ chức phi lợi nhuận – tất thảy đều có trong những ngôn ngữ khác nhau, một cái gì đó rất giống mô tả của Deleuze và Guattari: “đám đông biện chứng, thổ ngữ, tiếng lóng và ngôn ngữ chuyên môn” (7). Mặc dù Barrett không qui về Deleuze và Guattari, ý tưởng mạng Nét là một ví dụ giáo khoa về thân-rễ không có cấu trúc tổ chức rõ ràng, không có những điểm nguyên thủy xác định, không có xu hướng chuyên chế. Tuy nhiên, các điểm ổn định sẽ thống trị. Chẳng hạn, mạng Nét bắt đầu ở Mỹ (Hafner & Lyon, 1996), và đồng đô Mỹ là đồng tiền được chọn để giao dịch trực tuyến, đúng như tỉ giá hối đoái toàn cầu đã hòa hợp với giấy bạc (Mỹ). Tương tự, tiếng Anh thống trị, mặc dù những ngôn ngữ khác duy trì những cơ hội ngàn vàng: “ngôn ngữ ổn định quanh những giáo xứ, địa phận, thủ phủ” (7). Phiên bản mạng Nét của Barrett quả thực là một “thân củ tích tụ những hành động thực sự đa dạng”, và nó “lan tỏa như một vệt dầu” (7).

    Về mặt lịch sử, những nguyên tắc kết-nối và hỗn-độn đều được thực hiện qua cách đặt nặng phát triển mạng Nét. Vào năm 1965, Vụ Dự án Nghiên Cứu Tiên Tiến (Advanced Research Projects Agency - ARPA) đã nhận và phê chuẩn một đề xuất nghiên cứu từ một hãng máy tính nhỏ mới thành lập đang tìm kiếm những hợp đồng sau khi đã mất nhà đầu tư chính (Hafner & Lyon, 1996: 68). Tom Marill, người đã đưa ra đề xuất nhằm trói buộc hai máy tính khác nhau và cách xa nhau, đã có một mục đích cụ thể:

    Máy tính đã đạt đến một trạng thái làm việc đáng tiếc; những dự án chia sẻ thời lượng đang sinh sôi nảy nở nhưng không có “nền tảng chung để trao đổi chương trình, cá nhân, kinh nghiệm, hay ý tưởng”. Ấn tượng của ông về cộng đồng khoa học máy tính là nó“chủ yếu thuộc về một số dự án cùng loại, mỗi dự án phai nhạt dần theo những hướng riêng và hoàn toàn bỏ mặc những dự án khác”. Tại sao lại phí các nguồn lực như thế? (1996: 68)

    Là kết quả của lợi ích cá nhân và nỗi ám ảnh của những nhà khoa học và kĩ sư phi chính thống được Larry Roberts tại ARPA điều hành, kinh nghiệm khiêm tốn của Marill đã dẫn đến dự án ARPANET mà nó thực sự trổ hoa vào mạng Nét. Marill không cố gắng mang những công nghệ tạp nham vào bất cứ thứ gì hội tụ thành dạng cây mà gắn bó chúng với nhau để tránh phân nhánh. Quả thực ông đang cố gắng kết nối những yếu tố hỗn độn.

    Đa-cách

    Một đa-cách, theo Deleuze và Guattari, là một tập hợp các điểm được xem như toàn bộ thân-rễ. Những điểm không là bộ phận của số đông đều bị xem như vô giá trị. Trong đa-cách, “bội số được xem là một thực tồn hữu ích” mà những hoạt động của nó vượt khỏi chính trị của chủ thể và vị trí của khách thể. Thay vào đó, đa-cách sẽ bao gồm “những quyết định, độ lớn, và chiều kích mà chúng không thể gia tăng về số lượng khi đa-cách không thay đổi về bản chất”. Nói cách khác, đa-cách biến đổi chính nó, thay đổi về độ lớn và chất lượng (“qui luật kết hợp để gia tăng số lượng khi đa-cách phát triển”), không bao giờ là một thực thể tĩnh, vì nó mở rộng kết nối và luôn luôn bổ sung các chiều kích. Deleuze va Guattari sử dụng ví đa-cách như những sợi dây điều khiển con rối nối với “đa-cách những sợi thần kinh” của cánh tay rồi nối với bộ não là cái “vô định hình”. Nhưng ý tưởng bộ não là “vô định hình” có thể vẫn bị đẩy ngược xa hơn nữa bằng ý tưởng bộ não là một đa-cách những nơ-ron nối liền nhau một cách tiếp hợp (Marshall & Zohar, 1997: 241). Từ đó đa-cách sinh sôi nảy nở bằng cách mở rộng những kết nối với những đa-cách khác.

    Deleuze và Guattari nói rằng một đa-cách không gồm các “điểm hay vị trí” mà gồm các “tuyến”. Vì một đa-cách không phải là một sự “hợp nhất” như một “cấu trúc, thân-cây hay rễ-cây” trong đó các yếu tố của tập hợp được đặt vào, nó không thể đo đạc bằng cách đếm đơn giản – “ý niệm về một sự hợp nhất nào đó xuất hiện chỉ khi có một quyền lực tiếp quản trong đa-cách bởi biểu-hiệu hay một diễn tiến của chủ thể thích hợp”, đó chính là hoạt động phân nhánh của cây. Loại logic nhị phân này cho rằng có một “chiều kích bổ sung”vượt trước nó mà trong đó hệ thống tồn tại, “quá mã” tức quyết định hệ thống. Tại đó tồn tại những đa-cách khác biệt, vì chúng đều “phẳng”, trong ý thức chúng chỉ được tạo bằng những chiều kích mà trong đó chúng trú ngụ, và không gì hơn. Vì thế các đa-cách tồn tại trên một “mặt phẳng nhất quán”, tức một mặt phẳng thi hành “việc cùng nắm giữ những yếu tố tách biệt” (Massumi, 1987a: xiv), một cái “lưới” những kết nối tồn tại “bên ngoài mọi đa-cách”. Những đa-cách bị “bên ngoài” nắm giữ này – chiều kích-giữa-những chiều kích mà trong đó tồn tại “những tuyến trừu tượng, những thăng-tuyến hay tháo dỡ mà theo đó chúng thay đổi về bản chất và kết nối với mọi đa-cách”. Nói các khác, những đa-cách không được cấu trúc bởi chiều kích tiên nghiệm, quá mã mà được tạo điều kiện bởi chiều kích-giữa-những chiều kích của những kết nối bên-ngoài. Một đa-cách có thể chẳng bao giờ tự-chứa đựng tức “được kiến tạo bởi cái bên-trong của một thực-thể hay chủ-thể”; đúng hơn, nó luôn là bộ phận của một bức tranh rộng hơn nào đó. Theo cách đó, những đường biên của một đa-cách có thể chẳng bao giờ được rút hết.

    Vậy thì mạng Nét là một đa-cách như thế nào? Trước tiên, ta không thể đo lường nó: “Không ai biết có bao nhiêu người sử dụng Internet, vì…nó là một mạng lưới của những mạng lưới” (Negroponte, 1996: 181). Thứ đến, nó không vừa vặn như một tập hợp những yếu tố có thể đếm được – vì nó không phải là một; nó thậm chí không phải nhiều, mà là một bao gồm nhiều. Thứ ba, nhiều máy tính cần được kết nối trước khi chúng trở thành một đa-cách. Mạng Nét chỉ là một tập hợp thực thể, toàn bộ được trang hoàng bằng đa-cách các yếu tố: phần mềm, phần cứng, con người, máy tính cá nhân, hệ thống, định tuyến, cáp, modem, đường điện thoại, Telnet, World Wide Web, FTP, thẻ tín dụng, cơ sở dữ liệu, camera số, ATM, danh sách thị trường chứng khoán, nhà xuất bản, các công ty ảo…tất thảy đều là những đa-cách trong những đa-cách.

    Nếu chúng ta phớt lờ mọi đa-cách của mạng Nét trừ một đa-cách – là mạng lưới những thiết bị kết nối (đường điện thoại, cáp, định tuyến, vân vân) – thì những gì còn lại là mặt-phẳng-nhất-quán, một chiều kích-giữa-những chiều kích bên ngoài, giữ mạng Nét lại với nhau. Nó không tĩnh mà thay đổi về kích thước và bản chất cùng mọi loại kết nối mới được tạo. Những chiều-kích mới luôn được bổ sung: hôm qua là thư viện trực tuyến; hôm nay là thương mại điện tử; ngày mai có thể là thực tại ảo. Mạng Net là một dòng động lực những đa-cách chống lại việc quá mã và quyết định. Mặc dù vẫn có những điểm quyết định siêu nghiệm trên Net mà chúng ta sẽ thảo luận ở cuối chương.

    Phân-khúc-vô-nghĩa

    Để hiểu nguyên tắc thân-rễ này trước tiên chúng ta phải hiểu những gì Deleuze và Guattari qui về cái “đang-trở-thành” – một ý niệm được thỏa mãn bằng những quá trình tháo-dỡ và tái-lập mà chúng “luôn được kết nối, tiêm nhiễm trong một quá trình khác nữa”. Nếu việc tháo dỡ làm đứt gãy tuyến phân giới không gian khái niệm hay vật lí của chủ thể thì việc tái lập sẽ kéo ngược tuyến đó lại – không nhất thiết lưu trữ nó vào những gì nó vốn có mà tái xác định không gian chủ thể một cách rõ ràng. Chúng ta có thể bảo đảm rằng giới tuyến đầu tiên đơn thuần chỉ là một trạng thái tạm thời, một chốt đèn-hiệu trôi qua giữa phông cảnh nhìn qua một con tàu đang chạy. Trong một ẩn dụ khác, Deleuze và Guattari phác họa những quá trình này bằng cách sử dụng ví dụ về sự thụ phấn của phong lan bởi ong bắp cày.

    Phong lan tháo dỡ “tính-chất-thực-vật” hay “tính-chất-hoa” của nó bằng cách thể hiện chính nó trong hình-ảnh hay đồ-hình của con ong. Con ong sau đó xác nhận hình-ảnh đó, tái lập nó. Đồng thời, con ong được tháo dỡ bởi phong lan, nó “đang-trở-thành một phần trong bộ máy sản sinh của phong lan”. Tính chất đồng thời của hai quá trình này không phải là một hoạt động tạo nghĩa tuyến tính (“đồng màu, bắt chước nhau, nhử mồi, v.v.) trong đó một vật bắt chước vật kia chỉ theo một hướng mà là một cái gì đó vượt khỏi “quan hệ song song giữa hai địa tầng (khác biệt)”. Những địa tầng tạo nghĩa này tự chúng phân khúc:

    Một cái gì đó nữa đang tiếp diễn: không chút bắt chước mà là bắt giữ mật mã, giá trị thặng dư mật mã, một sự gia tăng hóa trị, một cái đang-trở-thành thực thụ, phong lan đang-trở-thành ong và ong đang-trở-thành phong lan. Mỗi trong những cái đang-trở-thành này dẫn đến việc tháo dỡ một giới hạn và sự tái lập của một giới hạn khác; cả hai cái đang-trở-thành này móc nối vào nhau và hình thành nên những chuyển tiếp trong sự tuần hoàn của những cường độ đang đẩy việc tháo dỡ đi xa hơn mãi.

    Hai yếu tố hỗn-độn sau đó được kết nối nhau bởi một thăng-tuyến, sự phân-khúc giữa chúng không được quyết định bởi những địa tầng nghĩa mà bằng cái hình thành nên thân-rễ.

    Khái niệm đang-trở-thành là một nghịch lí: khi A tác động đến đang-trở-thành B, A không từ bỏ A. Nó tiếp tục là A, mặc dù nó trở thành B mà không biến đổi thành B có sẵn. Tháo dỡ không thể được tách biệt khỏi tái lập. Khi Deleuze nói “Alice trở nên lớn hơn” thì có nghĩa là cô bé “hiện tại lớn hơn, trước đó nhỏ hơn” (1993: 39). Nhưng khoảnh khắc hiện thời quá ngắn nên khoảnh khắc trước đó không thể phân biệt được với nó. Khoảnh khắc mà Alice nhỏ hơn và khoảnh khắc mà cô bé lớn hơn đều là một phần của cùng một tính chất đồng thời:

    Tới một chừng mực mà nó vượt lên hiện tại, cái đang-trở-thành không thể chấp nhận việc chia cách hay khác biệt giữa trước và sau, tức quá khứ và tương lai. Nó gắn bó với bản chất cái đang-trở-thành nhằm dịch chuyển và lôi kéo theo cả hai hướng: Alice không lớn lên mà không co giãn và ngược lại (1993: 39)

    Khái niệm đang-trở-thành là gì, cùng với việc đồng thời tháo-dỡ và tái-lập, chung qui nó là sự nhòe tức tái cấu hình những khác biệt về nghĩa – một motif chung được đồng nhất trong công nghệ thông tin (IT). Một trong những tái cấu hình rõ nhất được tìm thấy trong điều đang giảm dần giá trị mà Ohmae gọi là “sự ngẫu nhiên lịch sử” của những phân giới địa-chính trị trong ngữ cảnh IT – những nền kinh tế khu vực được lèo lái ôm lấy những đường biên giữa các nhà nước (1996: 5). Khác biệt giữa môi trường công cộng và riêng tư cũng đang dần được xóa nhòa – ví dụ bằng chứng là những thảo luận công cộng về Usenet được chỉ đạo từ không gian riêng tại gia. Hiện tượng viễn thông cũng đã đạt đến đường biên giữa công-việc và giải-trí dọc theo hệ trục không-thời gian. Nhưng cơ bản nhất là mạng Nét là một vật lai ghép hỗn-độn của nhiều công nghệ trước đó, gồm cả đánh máy, điện tín. Logic luận lí, điện thoại, ống tia âm cực, cáp xuyên đại dương, truyền thông vệ tinh, khoa mật mã, transitor, mạch in, máy tính, vân vân. Trong ngữ cảnh này, Rheingold viết: “Rất nhiều lần, những bộ phận quan trọng nhất của mạng Net cõng trên lưng những công nghệ được tạo cho nhiều mục đích khác nhau” (1994: 67). Những công nghệ này đều đã mất một bậc nghĩa trong thuật ngữ riêng của chúng nhưng qua việc tháo-dỡ và tái-lập (đang-trở-thành mạng Nét), chúng hình thành những thăng-tuyến với nhau. Đồng thời, mạng Net hẳn đã không thể “trở-thành” nếu không có những phân-khúc vô nghĩa giữa những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau – viễn thông, máy tính, tâm lí học, quốc phòng, vân vân.

    Bản đồ học và thú đề-can

    Hai nguyên tắc này thiết lập việc đào thoát khỏi hình thức phân nhánh dọc của cây:

    Quan điểm của chúng tôi là trục di truyền và cấu trúc chiều sâu trước hết đều là những nguyên tắc tái sinh bất tận của đồ-hình. Mọi logic dạng cây đều là logic đồ-hình và tái sinh…Nó chứa đựng đồ-hình, trên cơ sở cấu trúc quá mã hay trục phụ, một cái gì đó đang được tạo sẵn. Thân cây khớp nối và tạo thứ bậc cho đồ-hình, các đồ hình giống những chiếc lá cây. (12)

    Chính sự lệ thuộc chiều dọc vào sự chống đỡ của những gì đã đến trước đó, sự lệ thuộc vào trục di truyền hay kế hoạch cơ bản cho bất cứ hình thức phát triển phân nhánh nào mà Boundas đã xem nó như là “dấu vết ung nhọt bẩm sinh” (1993: 1). Phương pháp cây lợi dụng và mặc định những đồ-hình nội tại như thế nhằm tìm cách xây hoặc phá cấu trúc, nhưng mọi vận động sẽ luôn bị sập bẫy trong phạm vi của cấu trúc và trở thành một bộ phận của nó.

    Ngược lại, những kết nối thân-rễ đều không phải đồ-hình. Chúng được hình thành qua việc lập bản đồ – tức xây dựng tích cực dựa trên thực nghiệm một cách linh động và thực dụng, đòi hỏi và lợi dụng sự hồi tiếp. Bản-đồ không phải là hình ảnh mà từ đó thực tại được đồ lại (đảo ngược của nhiếp ảnh, nghĩa là đồ lại hình ảnh vào thực tại), tức một kế hoạch mà khả năng thi công được đảm nhiệm bằng niềm tin; bản-đồ không bao giờ cố định mà là dòng thay đồi bằng thích nghi và dàn xếp. Nó gắn bó mật thiết và tương hỗ với tất thảy những nguyên tắc khác của thân-rễ.

    Bản-đồ mở và khả kết trong mọi chiều kích của nó; nó có thể gắn kết, đảo ngược, dễ sửa đổi bất cứ lúc nào. Nó có thể bị xé, đảo ngược, thích ứng với mọi loại lắp ghép, được gia công lại bởi cá nhân, nhóm hay tổ chức xã hội…Bản-đồ phải liên quan đến việc thực thi, trong khi đồ-hình luôn kéo theo “năng lực” được gán cho nó. (12-13)

    Trong khi thân-cây chỉ có trục di truyền như một điểm vào đơn mà “dựa vào đó tất thảy những giai đoạn nối tiếp nhau được tổ chức”, thân-rễ lại có “nhiều lối vào”. (12)

    (còn tiếp)
    Lần cập nhật cuối: 19/03/2014
  5. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Trong bài "Giới thiệu: Thân-rễ" của D&G trang 1, tớ có nhầm lẫn chữ "weed"(cỏ dại) với "seed"(hạt mầm), đoạn đó tớ dịch lại như sau:

    Trong Hoa là cỏ dại trong đĩa bắp cải con người…Thực ra cỏ dại đã trên tay. Thực ra các sự vật ngã lưng về trạng thái Trung Hoa…Cỏ là lối ra duy nhất…Cỏ dại tồn tại chỉ để lấp đầy những không gian bỏ hoang mà những khu vực canh tác để lại. Nó mọc lên giữa những sự vật khác (Quoted in 18-19)

    (tiếp theo)


    Lịch sử của mạng Net phản ảnh nguyên tắc sắp-xếp bản đồ này. Nó là thần thoại chung mà mục đích nguyên thủy duy nhất của nó có thể được truy ngược về một dự án quân sự nhằm sống còn qua một thảm họa hạt nhân (Hafner & Lyon, 1996: 10). Rheingold mô tả mạng Net như có một cái gì đó có tính chất “lịch sử ngẫu nhiên” (1994: 65), hoặc đúng hơn là một lịch sử của nhiều ngẫu nhiên thú vị, dù uy tín đối với việc phát triển mạng Net nói chung được gán cho ARPA và Tổ Chức Khoa Học Quốc Gia (National Science Foundation - NSF) (Rheingold, 1994; Hafner & Lyon, 1996;Barrett, 1996: 21-22), một khảo sát kín ngược về những ngày đầu của nó những năm 1950 tiết lộ rằng chưa bao giờ có kế hoạch xây dựng nó theo chủ ý. Không ai nảy ra kế hoạch mang tính kiến trúc và được tuyên bố, “Nào các bạn, chúng ta hãy xây dựng cái này. Chỉ việc theo thiết kế và chúng ta sẽ có Internet”. Thay vào đó mạng Net đã dần xuất hiện qua mấy thập kỉ như là một loạt những dàn-xếp và ứng biến tích cực bao gồm nhiều lợi ích khác nhau, và thực sự trở thành những gì ta thấy hôm nay. Hơn nữa, mạng Net đã không “đến” theo ý thức rằng nó đã đạt đến trạng thái hoàn chỉnh được xác định trước. Barrett chắc chắn đã tránh một định nghĩa về mạng Net dựa trên phác họa kĩ thuật (1996: 12) vì mạng Net vẫn không ngừng tiến hóa, và có lẽ sẽ không bao giờ ngừng. Vì thế một định nghĩa đúng hơn về mạng Net có lẽ phải đề cập đến sự thay đổi không ngừng về kích thước và bản chất này, một cách chính xác đó là thuộc tính thân-rễ của việc lập bản-đồ, nó đối lập với đồ-hình.

    Một khi mạng Net không còn tin cậy vào bất cứ kế hoạch mã hóa nào mà lệ thuộc vào việc thích nghi và dàn-xếp linh động cho một cơ cấu liên tục, nó có thể được xem là ngoan cố, như rong rêu cỏ dại. Deleuze và Guattari đã trích dẫn Henry Miller:

    Trong Hoa là cỏ dại trong đĩa bắp cải con người…Thực ra cỏ dại đã trên tay. Thực ra các sự vật ngã lưng về trạng thái Trung Hoa…Cỏ là lối ra duy nhất…Cỏ dại tồn tại chỉ để lấp đầy những không gian bỏ hoang mà những khu vực canh tác để lại. Nó mọc lên giữa những sự vật khác (Quoted in 18-19)

    Theo Hafner và Lyon thì Internet tiến hóa từ một thử nghiệm vào năm 1967 gọi là ARPANET (1996: 68-81) – một mạng lưới máy tính về cơ bản đạt đến mức độ giống như cỏ hay rong khi không có ai chú ý đến nó. Trong ngữ cảnh những căng thẳng Chiến Tranh Lạnh mà chính quyền Eisenhower đã đặt niềm tin vào cộng đồng khoa học, và tại đỉnh điểm cuộc đua vào không gian năm 1958 mà ARPA đã được thành lập với sứ mệnh phát triển các dự án quốc phòng theo kiểu chương trình “Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao” của Reagan, nhưng đã bị bỏ mắc cạn khi NASA làm nó xuất hiện lại và đoat lấy vai trò của nó (1996: 20-22). Cùng với việc tồn tại qua khủng hoảng, ARPA đã tái xác định mục đích của mình: bỏ rơi quốc phòng vì khoa học, và trở thành người bảo trợ dài hạn cho nghiên cứu tiến bộ và phát triển (1996: 22). Chính trong môi trường này mà các nhà nghiên cứu đã được trao dây cương – đặc biệt thời kì giám đốc ARPA thứ ba là Jack Ruina, với phong cách điều hành thoải mái và tin tưởng vào các nhà nghiên cứu nhằm “chọn lọc công nghệ tốt nhất” (1996: 23) – mà Internet-cỏ dại đã bén rễ.

    Quả thực, Internet-cỏ dại đã không được tạo để được đón nhận trong một nền quân sự tri thức và cả những thửa ruộng thương mại. Năm 1965, Paul Barab ở Mỹ đã hưởng ứng nhận thức về sự đe dọa của chiến tranh hạt nhân với ý tưởng sử dụng những kết nối thừa để tạo một mạng lưới truyền thông ít bị hỏng hóc hoàn toàn hơn (1996: 56).8 Không lâu sau đó, Donald Davies ở Anh cũng độc lập nhận thấy một mạng lưới tương tự dựa trên những kết nối thừa; nhưng trong khi Davies thành công về trợ cấp để thử nghiệm trên mạng máy tính thì Baran nhận được quá ít hỗ trợ thương mại và quân sự để thực hiện ý tưởng của ông (1996: 52-67). Trong nhiều năm, những đề nghị của Baran hoặc là bị dập tắt từng phần hoặc chỉ là những cam kết thẩm quyền thiếu hụt (1996: 52-67). Tuy nhiên, trong cuộc gặp gỡ Larry Roberts năm 1967 ông đã hỗ trợ nhóm ARPANET một nền tảng ngẫu nhiên, dù Roberts không mấy liên quan đến việc xây dựng một mạng lưới sống còn trong một thảm họa hạt nhân (1996: 77). Mấu chốt là mạng Net chưa bao giờ thống trị theo hoạch định hay một chương trình thương mại có chủ ý; nó có thể chỉ phát triển lên từ giữa những mảnh chắp vá được chấn chỉnh này.

    Theo chức năng, mạng Net cũng đang tác động đến việc tích cực lập bản-đồ. Thử nghiệm mạng lưới của Marill năm 1965 bao gồm phương pháp trao đổi dữ liệu giữa các máy tính mà ông gọi là “giao- thức” (1996: 69). Giao-thức đầu tiên đã được tiếp nối bằng những ứng biến vẫn được sử dụng đến ngày nay, tên là Telnet, FTP, TCP/IP và SMTP (1996: 174, 224, 236-237, 252).10 Những giao-thức này cho phép và tinh lọc những kết nối giữa các giao-điểm, đã được thông qua sau những thử nghiệm thực tế và chức năng trên mạng Net; chúng là những cấu trúc thiết thực dựa trên quá trình lập bản-đồ liên tục, không phải kế-hoạch hay đồ-hình. Năm 1988, Tổ Chức Tiêu Chuẩn Quốc Tế - vốn không có vai trò gì trước đó trong việc xây dựng mạng Net – đã công bố một giao-thức khác, Liên Kết Các Hệ Thống Mở (Open-Synstems Interconnection - OSI), tiêu chuẩn chính thức nhằm thay thế TCP/IP. Mặc dù OSI thuộc phạm vi công chức, nó chưa bao giờ được ưa chuộng.

    OSI có thiết kế phức tạp và phân ngăn hơn. Nó là một thiết kế, chưa bao giờ được thử nghiệm. Cho đến khi liên quan đến đám đông Internet thì họ mới thực sự bổ sung TCP/IP nhiều lần, ngược lại mô hình OSI đã chẳng bao giờ được kiểm tra qua sử dụng hàng ngày, cũng như qua thử sai. (1996: 247)

    Theo từ ngữ của Deleuze và Guattari thì TCP/IP là bản-đồ có liên quan đến việc “thực thi”, trong khi OSI là đồ-hình gồm một “năng lực” mặc định. TCP/IP là sản phẩm của việc thử sai và nó phải là việc lập bản-đồ kết nối, thích ứng và mở ra cho những sửa đổi về chức năng được đặt trọng tâm ở việc thực thi, “một thử nghiệm tiếp xúc với điều-thực” (12). OSI ngược lại, được hình thành cách li với việc thực thi, luôn quay về với trục di truyền nguyên thủy của những kế hoạch được thiết kế.

    Cũng đáng chú ý về mặt này là việc thiết kế OSI đã bám rễ vào nỗ lực trọng tâm của một tổ chức thống nhất. Ngược lại, TCP/IP và những giao-thức liên quan đều là kết quả của những nỗ lực đặc biệt của những lập trình viên khác nhau, những người đã tích cực tìm kiếm những phản hồi từ người sử dụng mạng Net qua một kênh gọi là Thỉnh Cầu Bình Luận (Requests For Comments - RFCs), đó là “cách đã được thừa nhận nhằm giới thiệu, xem xét và thông qua những tiêu chuẩn kĩ thuật mới” và là “một cơ giới luận giản đơn để phân phối công khai tài liệu đến bất cứ ai”, chúng được sử dụng để phổ biến những ý tưởng và “trải rộng văn hóa mạng” (Hafner & Lyon, 1996: 145). Bằng cách này, RFCs đáp ứng như một kênh hồi tiếp trong việc lập bản-đồ và địa hóa thân-rễ TCP/IP một cách thiết thực.

    TCP/IP tự nó hoạt động như một tác động thân-rễ giữa hai giao-thức khác biệt, TCP và IP, nhưng nó cũng có thể dễ dàng thiết lập những kết nối thân-rễ. Thành công của nó theo cách một giao-thức trên thực tế dựa vào việc phân phối rộng rãi miễn phí vào năm 1982 là một phần của phiên bản hệ điều hành UNIX của Sun Microsystem (1996: 250). Thực vậy, TCP/IP đã sinh sôi nảy nở qua quá trình địa hóa với UNIX.

    Vậy thì mạng Net có tính chất thân-rễ như thế nào?

    Đến đây thì sáu nguyên tắc thân-rễ đã lần lượt được mô tả trong mạng Net. Tuy vậy, việc lập bản đồ thân-rễ như thế đối với công nghệ Internet không hoàn toàn mới lạ. Burnett đã tạo kết nối giữa thân-rễ và siêu văn bản (1993), và Hamman đã áp dụng những nguyên tắc thân-rễ vào mạng Net thành một toàn-thể chung (1996). Cả hai việc này đã khảo sát tính chất tượng tự thực chứng giữa thân-rễ và công nghệ Net. Những gì còn lại phải làm là tìm những tính chất tượng tự mang tính phủ định để hoàn thành bức tranh.

    Ở đây chúng ta cần phân biệt thuật ngữ “tính thân-rễ”“dạng thân-rễ”. “Tính thân-rễ” mô tả một hệ thống bám chặt vào tất thảy sáu nguyên tắc thân-rễ, không có đặc tính cây nào. “Dạng thân-rễ” nghĩa là có những xu hướng thân-rễ mà không loại trừ những thuộc tính dạng cây. Lí luận của tôi là mạng Net không phải là một ví dụ đơn giản về hệ thống thân-rễ mà đúng hơn chính là mạng có dạng thân-rễ. Nói cách khác, lí luận này vẫn cần phải bàn cải khi cho rằng mạng Net là một thân-rễ mà không phải là thân-cây.

    Với ví dụ trước, TCP/IP với tư cách hồng-huyết-cầu của mạng Nét được mô tả là “mở ra một cách không sai sót” (Hafner & Lyon, 1996: 250), có thể kết nối mạng Net với bất cứ máy tính hay mạng lưới nào bằng bất kì hình thức nào. Chính tính chất mở này của TCP/IP đã cho phép nhiều mạng lưới khác nhau kết nối với ARPANET vào những năm 1980, kết quả là một mạng-lưới của những mạng-lưới rộng lớn thực sự được gọi là Internet (1996: 244). Mỗi khi một mạng-lưới đang tồn tại được kết nối với Internet qua một cổng-vào thì đa-cách lại phát triển. Hafner và Lyon xem “cổng-vào” như một “máy tính định tuyến” dùng để kết nối hai mạng lưới (1996: 223), nhưng hiện dụng của thuật ngữ này bao hàm một điểm đi vào xương sống Internet (đường truyền chính). Xương sống có khả năng kết nối cao tương-tự với đường cao tốc nối những thành phố chính trên toàn cầu. Bất cứ ai muốn trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) trước hết phải có cổng truy cập vào xương sống này. Một khi được thiết lập, ISP sẽ hoạt động như một “cổng vào” (điểm vào) cho những người thuê bao truy cập mạng Net. Như chúng ta thấy sau đây, cấu trúc này gợi ý dạng thân-rễ thay cho tính thân-rễ.

    Tuyên bố của Rafaeli rằng mạng Net “cư xử với cơ quan kiểm duyệt như với nhiễu tạp và được thiết kế để né tránh nó” (Newhagen & Rafaeli, 1996: 5) đã gợi đến ý tưởng về dư-thừa của Baran, nó như là một cách nhằm gia tăng độ tin cậy của mạng lưới chống lại những hỏng hóc hoàn toàn của truyền thông. Với những kết nối dư-thừa này, khi một định tuyến bị tắc nghẽn thì dữ kiện vẫn có thể được tìm thấy bằng cách khác. Tuy nhiên, bất cứ khảo sát nào về các định tuyến xương sống toàn cầu cũng sẽ bộc lộ rằng mức dư-thừa hiện nay có phần bị giới hạn và không phân phối đều khắp thế giới. Bằng chứng giai thoại về những kết nối chậm khét tiếng thế giới đã quá phổ biến đến độ đã xuất hiện thuật ngữ lóng: “World Wide Wuê (wait)”. Dựa trên những xu hướng hiện hành, Stephenson đã quan sát rằng vào những năm cuối 1990, Hoa Kì sẽ được kết nối với châu Âu và Á mười lần nhanh hơn Châu Âu và Á với nhau (1996: 109). Vì sự dư-thừa cũng cần phải có tiền để xây dựng, nên những lợi ích kinh tế luôn kiểm soát khả năng của nguyên tắc kết nối; ít dư-thừa cũng có nghĩa ít những kết nối chất lượng.

    Cho dù tồn tại mức dư-thừa nào đó giữa những đốt xương sống của mạng Net thì việc hỏng hóc có thể vẫn xảy ra tại bất cứ điểm nào giữa cổng-vào và cá nhân người sử dụng, nơi tồn tại dư-thừa mức không và nhiều yếu điểm (Garfinkel, 1996). Hầu hết người thuê bao đều đã kinh qua những trường hợp rớt mạng nào đó do những rắc rối kĩ thuật. Thực ra một thân-rễ có đa điểm-vào; nhưng nếu một cổng-vào cá biệt nào đó là cổng vào duy nhất khả dĩ của một khu vực địa lí thì chỉ có một điểm vào duy nhất có hiệu quả. Tôi luôn có thể quay một số ISP khác nhưng nếu chọn lựa gần nhất gồm cả tiền điện thoại giá đắt thì tôi cũng có thể chờ truy cập của tôi trở lại hay thậm chí chẳng làm gì. Các điểm vào không những được xác định bằng sự tồn tại vật lí không thôi mà còn bằng sự tiện lợi mà chúng đạt được. Do đó TCP/IP cho phép đa điểm-vào và kết-nối nhưng nó không đảm bảo những đa điểm-vào cho truy cập. Thực vậy, ở môt số khu vực kém phát triển sự hiện diện của Internet có thể hoàn toàn bất khả - và những địa-tầng xã hội nào đó có thể bị loại khỏi mạng Net vì kinh tế và những lí do khác. Việc loại trừ này hạn chế mức độ hỗn độn của mạng Net. Trong chừng mực này nó không thể được xem là có tính thân-rễ một cách đầy đủ.

    Hơn nữa, sự đình trệ diện rộng gần đây cũng đã thu hút sự chú ý vào tiềm năng phân nhánh của mạng Net, tức quay trở lại một hình thức dạng cây. Một “danh sách chủ những tên miền hàng đầu bị lỗi (“.com”hướng dẫn những thư điện tử và trang Web browser vào đúng nơi)” đã được Giải Pháp Mạng (Network Solution) phân phát một cách sai lầm qua mạng Net, nó điều hành những tên miền ở Mỹ, và điều này đã “ném gần như toàn bộ Internet vào xáo trộn tuyệt đối” trong bốn giờ trước khi vấn đề được sửa chữa (Rushkoff, 1997). Giải Pháp Mạng điều hành việc đăng kí tên miền Internet có lợi nhuận và có những lợi ích được đảm bảo nào đó trong việc tập trung và kiểm soát lưu thông Net. Những lợi ích thương mại như thế thiên về một Internet-cây hơn, nó có thể bị đốn hạ thành gỗ, qua Internet-thân-rễ.

    Như Deleuze và Guattari viết: “Thực vật cùng rễ hay rễ mầm đều có thể có dạng thân-rễ…vấn đề là liệu đời sống thực vật đặc trưng có hoàn toàn tính thân-rễ hay không”; và “tồn tại những cấu trúc cây hay rễ trong thân-rễ; ngược lại, một nhánh cây hay rễ có thể đâm chồi vào thân-rễ” (15).14 Vì thế cây có thể chỉ là cây nhưng khu rừng là một thân-rễ; một máy tính có thể có bộ nhớ và xử lí có cấu trúc trung tâm (16), nhưng một mạng lưới máy tính có thể bị phân quyền và hoán đổi thông tin dựa trên sắp-xếp bản đồ. Bản-đồ hay “đồ thị điều hòa tuần hoàn thông tin là cách đối lập với đồ thị thứ bậc” (Rosenstiehl & Petitot, 1974, quoted in 17), nhưng nó vẫn có khả năng cây hóa những hoạt động của đồ thị, tức trong trường hợp của mạng Net là danh sách miền, nhằm mang nó đến một điểm trung tâm thống nhất. Vì thế, Deleuze va Guattari thừa nhận:

    Bạn có thể tạo phân-khúc, vẽ một thăng-tuyến, dù vẫn có nguy cơ sẽ lại đối đầu với những tổ chức vốn tái phân tầng mọi thứ, những cơ cấu khôi phục lại quyền lực cho một biểu-hiệu, những thẩm quyền mà chúng tái kiến tạo chủ-thể (9)

    Và:

    Điểm quan trọng là hệ rễ-cây và hệ kênh-thân-rễ không phải là hai mô hình đối lập: cái thứ nhất hoạt động như một mô-hình và đồ-hình siêu nghiệm, cho dù nó sinh ra hai lối thoát riêng; cái thứ hai hoạt động như một quá trình nội tại làm đảo lộn mô hình và phác họa một bản đồ, cho dù nó kiến tạo những thứ bậc riêng, cho dù nó tạo ra một kênh chuyên quyền.

    Vì thế vấn đề còn lại là mạng Net là một hệ rễ-cây cùng những xu hướng thân-rễ hay một thân-rễ thiên về dạng cây. Điều này có thể chỉ là vấn đề ngữ nghĩa; sự khác biệt hữu ích hơn giữa thân-cây và thân-rễ có lẽ là mỗi thứ là“một phương thức dự tính được áp dụng vào sự-vật”(17) theo cách riêng của chúng. Điều quan trọng là mạng Net đủ linh động để dàn xếp một sự địa-hóa với và giữa hai thứ trên – “cùng sự vật nói chung dễ chấp nhận cho cả hai mô hình dự tính hay cả hai loại điều hòa, nhưng không phải là không trải qua thay đổi trạng thái” (17). Thế sự thay đổi về trạng thái là gì? Câu trả lời đơn giản đó là sự chuyển-dịch giữa thân-cây và thân-rễ nhưng chúng ta sẽ khảo sát những hệ biến hóa khả dĩ khác trong những chương sau.
  6. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Một số từ đáng lưu ý:

    - Organism: theo từ điển là "cơ thể, sinh vật, cơ quan, hệ thống", đặc biệt còn có nghĩa là "sinh-vật". Theo tôi thì chúng ta nên hiểu phàm những gì có tính chất hữu-cơ đều có vận-động sống nội-tại , khác với tính chất vô-cơ vận động theo những qui luật vật lý, song ở đây người ta phát hiện thấy nét tương-tự giữa hai hệ thống hữu-cơ và vô-cơ.

    - Coevolution: chưa thấy ai cập nhật, tôi đề nghị dùng từ Việt: Cộng-tiến-hóa.

    - Meme: cũng chưa thấy ai cập nhật, tôi đề nghị dùng từ Việt: Chước-cách.

    Phan Biên dịch từ:
    http://wwwmcc.murdoch.edu.au/ReadingRoom/VID/jfk/thesis/ch2.htm


    Chương II:

    CƠ CẤU ĐIỀU KHIỂN HỌC


    Mặc dù Deleuze và Guattari đặt tên khái-niệm triết học trung tâm của họ theo phạm trù sinh-học thân-rễ, chương trước xem mạng Net có tính sinh-học chỉ về mặt cấu-trúc. Sự phong phú của ẩn-dụ sinh-học không thoát khỏi những nhà-văn nổi tiếng, những người đã sử dụng hình ảnh hữu-cơ để miêu tả mạng Net. Rheingold chẳng hạn, nói rằng mạng Net là “truyền-bá và tiến-hóa” như những bầy đàn vi-khuẩn; những thực-thể trên mạng Net là những thành viên của những “hệ-sinh-thái toàn vẹn”; sự phát triển song song của hệ-thống bảng thông báo đang xảy ra “như những thường dân thực…từ thuở ban sơ…tự sinh sôi…rất khó trừ tận gốc”; và tốc độ phát-triển của Usenet là “có tính sinh-học – trước tiên chậm, sau đó theo hàm mũ” (1994: 6, 107, 131 & 119). Cũng vậy, Rheingold đề cập rằng vào năm 1960, J.C.R. Licklider, một nhân-vật then chốt trong buổi đầu phát triển mạng Net, viết một bài báo nhan đề “Sự Cộng Sinh Con Người – Máy Tính” – một cách diễn đạt xem máy-tính thuộc phạm trù sinh-hoc (1994: 70). Trong mô tả của Licklider về “quan hệ cộng-sinh” này, con người và máy-móc hoạt động như một hệ-thống điều-khiển-học (Hafner & Lyon, 1996: 31, 34-5). Khái niệm máy-tính này là sự mở rộng trí tuệ con người đã được Douglas Engelbart, một nhân vật then chốt khác, chia sẻ (Hafner & Lyon, 1996: 78; Rheingold, 1994: 70).

    Với cách nhìn phê phán, việc sử dụng những hình ảnh như thế bộc lộ rằng tính chất tương-tự giữa sinh-học và kĩ-thuật có khả năng mở rộng vượt khỏi cấu-trúc, tiến đến căn-nguyên và phát-triển – mạng Net có thể xem có tính chất sinh-học về mặt thực-thể lẫn quá-trình. Có lẽ sẽ khôn ngoan hơn nếu nói rằng mạng Net giống như sinh-học, thay vì nói nó là một loại sinh-học, một tuyên bố đòi hỏi một định-nghĩa về sinh-học rộng hơn. Thay vì định nghĩa lại sinh-học, chương này sẽ mượn từ điều-khiển-học, đặc biệt “khoa-học về điều-khiển và truyền-đạt ở động-vật và máy-móc” được Norbert Wiener và Arturo Rosenbleuth thiết lập những năm 1940. Điều-khiển-học không tạo khác biệt thông-tin giữa máy-móc và sinh-vật, dựa trên thuyết cho rằng “các qui-luật chi phối viêc điều-khiển đều phổ quát” (Beer, 1988: 197). Điều-khiển-học cho rằng dòng thông-tin là hoạt động điều-khiển mang tính thích-nghi, một phong-cách quản lí “giống với nghệ thuật lái tàu hơn là độc-tài”, như đã được phản ảnh trong từ-nguyên-học Hy Lạp về thuật ngữ này (1988: 197). Khi tạo sự tương-tự giữa hệ thống sinh-học và kĩ-thuật, chúng ta có thể hiểu cả hai đều được xếp vào chuyên mục của một lí-thuyết điều-khiển-học tiến-hóa vẫn còn được định-nghĩa một cách sai lạc với nhiều thuật-ngữ mượn từ sinh-học. Chương này sẽ khảo-sát một lí thuyết điều-khiển-học tiến-hóa bằng cách khảo-sát những ý tưởng của Rothschild, Dawkins, Lynch, Routt và Kelly.

    Một túi ẩn-dụ pha trộn

    Chúng ta bắt đầu bằng tập-hợp những gợi-ý liên quan đến sự tương-đồng giữa sự duy-trì của sinh-vật và sự lan-truyền của thông-tin. Trong cuốn Sinh Thái Học : Kinh Tế là Hệ Sinh Thái, Rothschild tìm đến một hệ-biến-hóa chuyển dịch khỏi cơ cấu đồng hồ “kinh tế là guồng máy” của Newton, và hướng đến một trí-tuệ mới dựa trên tính chất tương-tự sinh-học “kinh-tế là một hệ-sinh-thái tiến-hóa” (1990: 334-5). Để giải quyết những thất bại của “những nhà kinh-tế chính thống” lỗi thời, những kẻ tiếp tục “cho rằng công-nghệ không thay đổi” và những kẻ là hậu-quả của việc “đánh mất mọi liên lạc với thực tại kinh-tế” (1990: xii), Rothschild đã mượn cách tiếp cận tổng thể của sinh-thái-học. Đây là “nhánh sinh-thái-học khảo sát những quan hệ kinh-tế giữa sinh-học và môi-trường” nhằm đạt đến một viễn cảnh làm thế nào “tương-tác của những lực lượng…duy trì ổn-định trong khi vẫn tạo sự thay-đổi” (1990: 335). Ông quan sát sự tương đương này bằng cách chú ý đến yếu tố trao-đổi chung:

    Nói ngắn gọn, thông-tin là bản chất của cả hai hệ-thống. Trong môi trường sinh-học, thông-tin di truyền được ghi vào phân tử DNA, là cơ sở mọi sự sống.Trong môi trường kinh-tế, thông-tin kĩ nghệ được nắm bắt qua sách vở, kế hoạch, tạp chí khoa-học, cơ sở dữ liệu, và bí quyết của hàng triệu cá thể, là nguồn gốc cơ bản của mọi đời sống kinh-tế . (1990: xi)

    Trong khi thừa nhận sự tương-tự của mình không hoàn hảo thì Rothschild cũng tuyên bố là nó đủ mạnh để lí giải những hiện tượng kinh-tế phức tạp như “cạnh tranh, chuyên môn, hợp tác, khai thác, học tập, phát-triển và nhiều thứ khác” chung cho cả các hệ-sinh-thái và kinh-tế thị trường (1990: xiii). Cả hai sử dụng “những vòng-hồi-tiếp được kết nối một cách phức tạp” nhằm tự-tổ-chức và duy-trì một cân-bằng nhạy cảm nhưng linh-động (1990: xiv). Ông sử dụng quan điểm sinh-thái-học này để giải quyết nhữn lợi ích kinh-tế trong khoảng từ tiết-kiệm và đầu-tư đến nghèo-khó, giáo-duc công cộng và kiểm soát ô nhiễm. Nếu Rothschild đúng thì thất bại hiển nhiên của các nền kinh-tế Marxist không phải ở “việc thực thi yếu kém một lí-thuyết kêu vang” mà đúng hơn vì “những yếu-tố cốt lõi của nó xâm phạm vào các quá-trình thiết yếu đối vớihoạt động của mọi hệ-thống sống, tiến-hóa” (1990: 107). Ông lí giài rằng cnxh phong cách Soviet đã thất bại vì việc kiểm-soát nhà-nước sinh ra bộ-máy quan chức lớn không chỉ thiếu khả năng quản-lí những công việc phức tạp mà tốt nhất nên thuộc vềcác lực-lượng thị-trường được phân-quyền, mà còn bòn rút nặng nề các nguồn tài-nguyên, để rồi sau cùng trở thành một tổ chức kí-sinh, vì việc thực thi không ràng buộc với thù lao (1990: 323-33). Trong một nền kinh-tế thị trường, vòng-hồi-tiếp sử dụng giá-cả như là một máy phát tín-hiệu để trong trường hợp vắng-mặt bất cứ thẩm-quyền đang chi phối nào thì thị-trường, vốn là một mạng liên-thông, vẫn có thể tự lèo lái vào các giá trị sáng tạo qua hợp tác chung (1990: 323-33). Thuyết-hỗ-sinh đáng giá như thế tồn tại một cách dư dả trong những hệ-sinh-thái tự nhiên như một sự cộng-sinh – một quá-trình sáng tạo-giá trị “tổng số-dương” trong đó mọi người đều hưởng lợi, trái ngược với giả định Marxist quá đơn giản rằng sinh lợi là trò chơi “tổng số-zero” trong đó nguồn tài-nguyên vẫn có giá-trị cố định và các chủ đầu tư trục lợi từ công sức của nhân-công.

    Nếu việc kiểm soát nhà-nước quá tàn ác thì họ đặt vai-trò của chính-phủ ở đâu? Ở đây Rothschild thiên về phong cách tự do phóng nhiệm (laissez-faire style) trong quản lí kinh-tế trong đó:

    Ý-niệm truyền thống về vai trò kinh-tế của chính-phủ - nhấn nút và quay các số của guồng máy kinh-tế xã-hội – được thay thế bằng viễn cảnh chính-phủ là một nhà trồng trọt tinh khôn của hệ-sinh-thái kinh-tế xã-hội, đang kiên nhẫn nuôi dưỡng những quá-trình phát triển tự-nhiên (1990: xv)

    Nói cách khác, trong khi các hệ-sinh-thái tự nhiên điều hành hoàn toàn theo cách riêng thì các nền kinh-tế vẫn cần được giám sát theo một kiểu cách nào đó. Đấy là tại sao Rothschild xem sinh-thái-học không hơn gì một sự tương đồng.

    Năm 1976, nhà sinh-học máy tính Dawkins đề xuất trong cuốn Gien Ích Kỉ rằng “trong vài khía cạnh, những ý-tưởng (mà ông gọi là những “chước-cách”) hành xử giống như gene, tự-sao-chép qua những bộ não cách mà genethực hiệntrong cơ-thể” (Wallace & Mangan, 1996: 232). Wallace và Mangan thêm rằng công-nghệ truyền thông đã khếch đại việc tái sinh những chước-cách qua không-gian và thời-gian (1996: 233). Hai đề xuất này biện hộ cho trường hợp thông-tin không tạo khác biệt giữa trí-nhớ theo nhận thức và công-nghệ truyền thông vốn là bản-sao phương tiên truyền-thông. Gần đây hơn, trong Sự Lây Nhiễm Tư Tưởng, Lynch đã lặp lại những ý-tưởng này: tư-tưởng và niềm-tin, giống như virus, tự-sinh-sôi qua những nhóm cư dân bằng cách “lên chương trình” riêng để phát lại” (1996a). Vay mượn lí-thuyết “kẻ sống còn là kẻ thích-nghi nhất”của Darwin, ông tuyên bố rằng những kết-hợp chước-cáchthích-nghi nhất đều thành công nhất khi chúng càng có khả năng sao-chép trong các nhóm cư dân chủ là con người (1996b). Tuy nhiên, ông đã cố gắng phóng thích những ý-tưởng còn bị hạn chế về ẩn-dụ của mình bằng cách chưng cất một phân-tích hình thức về lối hành xử của chước-cách bằng ngôn-ngữ toán học biểu tượng, trong nỗ lực tiến đến một lí-thuyết chước-cách cụ thể (n.d.). Ta vẫn có thể lí luận rằng lí-thuyết này đã có vị-trí trong lí-thuyết điều-khiển-học tiến-hóa tổng quát

    Trên vũ đài lí-thuyết văn-hóa, Routt đã quan sát rằng tính chất phù-du của những tác phẩm nghệ-thuật đặc trưng nổi tiếng, một cách nghịch lí, tạo nên “độ bền nhiều mức độ”, một trong số đó là giống-loài (1993: 134-5). Trong khi Lynch đã chối bỏ “lí-thuyết tiêu thụ niềm-tin thụ đắc”, thay vào đó nghiêng về lí thuyết chước-cách về “sự lan-truyền và cảm-thụ có tính chất đệ qui” (1996c), thì Routt không né tránh xem ẩn-dụ hữu cơ việc tiêu thụ nghệ-thuật phổ biến như là quá trình chuyển hóa thiết yếu đối với tồn tại lành mạnh của con người (1993: 135-6). Tuy nhiên nghệ-thuật phù du phổ biến “không thể tin cậy vào sự cưỡng bách tất yếu nhằm mang thính giả đến với nó”, mà phải cạnh tranh trên cơ-sở tươi mát và mới lạ (1993: 137), dường như mượn từ nguồn Darwin tương tự với cách của Lynch. Trong luận-điểm Tiến Sĩ của mình với cùng chủ đề, Routt thậm chí đã sử dụng những thuật-ngữ như có cùng một láng giềng lí-thuyết như Dawkins và Lynch: “sao-chép” và “đại-chúng-hóa” phù hợp với “sự lỗi thời được hoạch định”(quãng thời gian sống hữu hạn), sản-sinh sự tươi mát và mới lạ liên tục (biến đổi nhằm thích-nghi) và kiên định giống-loài (tồn tại giống-loài) (1981). Máy-móc thực có thể hơi khác với máy móc sinh-học nhưng những điều-kiện cần thiết để hoạt động dường như cũng hiện diện trong viễn cảnh của Routt, cho dù ông không tham khảo trực tiếp thuyết Darwin.

    Sự tương đương giữa sinh-học và công-nghệ đã trở nên rõ rệt hơn khi chúng ta xem xét thông-tin được hoàn trả trong công nghệ số. Dawkins lí giải trong Con Sông Từ Địa Đàng rằng mọi đời sống di-truyền có thể hiểu là “quá-trình truyền thông-tin số” là chủ yếu (Schrage, 1995). Những mã di-truyền, tức “đơn vị mã”, tự truyền xuống các thế hệ tiếp theo với độ chính xác gần như hoàn mỹ, ngoại trừ nơi mà cơ-giới-luận tiến hóa đột-biến tình cờ bước vào (Dawkins, 1995, excerpted in Schrage, 1995). Hàm ý thông-tin điện tử số và gene sinh-học đều là “họ hàng di truyền”, nói như vậy thì tính tương-tự chấm dứt và sự đồng-nhất bắt đầu. Sự đồng-nhất tạo ra tình thế hấp dẫn cho thông-tin dễ tiến-hóa; nhưng thậm chí nếu không có lí-thuyết đồng nhất, nó vẫn có thể hợp lí khi chỉ sử dụng tính tượng-tự nhằm đưa ra một lí thuyết tiến-hóa hợp nhất trong đó các quá-trình như chọn-lọc tự nhiên và đột-biến áp dụng lên cả hai mặt phân chia thể-chế, giữa sinh-học và công nghệ thông-tin. Bằng cách nghiên cứu tính tương tự tích-cực và tiêu-cực giữa hai thể-chế trên ta có thể tìm kiếm một lời giải thích về những hoạt động tiến-hóa chung biến đối ở những hệ thống điều-khiển-học tự-tổ-chức như mạng Nét.

    Hầu hết những gì còn lại của chương này sẽ có cách tiếp cận mượn từ cuốn Mất Điều Khiển của Kevin Kelly (1994), một nghiên cứu phi-kĩ thuật nhưng tỉ mỉ và liên-ngành về sự hội tụ giữa sinh-học và công-nghệ, tập trung vào những gì ông gọi là “nền văn minh sinh-học mới” (1-a).

    Công nghệ sinh học mới

    Một hệ thống sinh-học mới, theo điều khoản của Kelly, có nét tương-đồng nổi bật với thân-rễ của Deleuze và Guattari, và có thể được mô tả bằng nhiều đặc tính chính: bị phân quyền; là một mạng-lưới, là tổng-số những bộ phận hỗn-độn được kết-nối; nó là phi-tuyến và phức-hợp; nó tiến-hóa; nó hình thành những mối quan hệ cộng-sinh tức cộng-tiến-hóa; nó thích-nghi; tự-tổ-chức; và có logic phản trực giác. Như trong mô tả về thân-rễ, việc đi vào chi tiết những thuộc-tính của hệ thống sinh-học mới này không phải là việc đơn giản, vì chúng đều là những bộ-phận tương quan lẫn nhau của một tổng-thể được tích-hợp và không hoạt động tách biệt. Tuy vậy Kelly đã thành công trong việc biên dịch một tập-hợp những nguyên-tắc nhằm sáng tạo những hệ thống sinh-học mới. Ông vui sướng gọi chúng là “Chín Qui Luật của Chúa”:

    Tồn-tại phân-bố
    Kiểm-soát từ dưới lên
    Tích lũy gia tăng phản-hồi
    Phát-triển bằng cách lớn lên
    Cực-đại-hóa các tua
    Tôn kính sai-sót của bạn
    Không mưu cầu tối-ưu; có đa mục-tiêu.
    Nhằm đến sự mất-cân-bằng bền
    Thay-đổi là tự-thay-đổi (24-a)

    Những hướng-dẫn này cung cấp manh mối làm thế nào chúng ta hiểu một phức-thuyết về các hệ-thống điều-khiển-học tiến-hóa, và làm thế nào áp dụng nó vào mạng Net. Chúng ta có thể đánh bạo đưa một dòng thẩm tra dọc theo những tuyến phạm-trù này, được thu xếp tùy theo nguyên-nhân hợp lí:

    - Phân-bố cấu trúc mạng.
    - Tự-tổ chức
    - Thích-nghi
    - Cộng-tiến-hóa

    Ở đây chúng ta ghi nhớ rằng những đề-tài này mang tính tương-quan hơn là cụ-thể, và việc phân loại là nhằm mục đích nghiên cứu.

    Phân-bố cấu trúc mạng

    Hệ thống sinh-học mới của Kelly không phải là một nguyên-thể khác thường mà là một mạng lưới những bộ-phận liên quan nhau – một hình ảnh đối xứng gương của nguyên tắc đa-cách Deleuze và Guattari. Nó bắt đầu bằng những thực-thể hỗn độn hình thành nên những quan-hệ-ngang với một thực-thể khác nữa, những quan-hệ mà không ưu tiên thẩm-quyền cho bất cứ vị trí nào. Kelly làm cho hầu hết sự hiệp-lực xuất hiện từ những kết-nối trở thành: “Nhiều là nhiều hơn cả nhiều; nó khác biệt”; “một thuộc-tính nổi bật”, như nhiệt-độ, là một “đặc tính nhóm” vắng bóng ở cá thể (2-e). Hơn nữa, việc gia tăng phản-hồi có vai trò thường xuyên, vì thế nhiều kết-nối hơn nghĩa là nhiều hiệp-lực hơn: “Tổng số những tương-tác khả dĩ giữa hai hay nhiều thành-viên tích lũy theo hàm mũ khi gia tăng số-lượng của những số-lượng” (2-e). Deleuze và Guattari đã ghi nhận hiện tượng này:

    Một đa-cách có …những quyết định, độ lớn, và các chiều-kích mà chúng không thể gia tăng về số-lượng nếu đa-cách không thay đổi về bản chất (các qui luật kết-hợp do đó gia-tăng về số-lượng khi đa-cách phát triển) (1987: 8)

    Một quan-sát quan trọng về mạng-lưới hay đa-cách như thế cho thấy hướng ý-thức ít khi, thậm chí chưa bao giờ được tập trung vào bất cứ một cơ-quan duy nhất nào. Trong tự-nhiên, sự hiệp-lực thường xảy ra bất cứ khi nào các sinh-vật, theo hòa hợp riêng của chúng, thiết lập những quan-hệ cộng-sinh cùng có lợi và hướng vào nhau, chúng đều được tưởng thưởng hậu hỉ. Trong lĩnh vực nhân-tạo, những kĩ sư robot đã đối diện với những giới-hạn thực tế khi họ cố gắng xây dựng những hệ-thống phức có trung-tâm điều khiển (3-a).

    Khi Rodney Brooks ở MIT thử một tiếp cận khác sử dụng điều khiển phân-bố thì nó hoạt động đạt đến mức NASA sát nhập thiết kế này vào Sojourner, robot lang thang đầu tiên thám thính bề mặt sao Hỏa (Coale, 1997). Tiếp cận này gọi là “kiến trúc gộp”, một phương pháp xây dựng phức hợp theo hướng từ dưới lên:

    Làm những việc đơn giản trước.
    Học làm chúng một cách hoàn-hảo
    Thêm vào những tầng hoạt-động mới dựa trên kết-quả của những công việc đơn giản
    Đừng thay-đổi những việc đơn-giản
    Làm cho tầng mới này làm việc hoàn-hảo như tầng đơn giản.
    Lặp lại, đến bất tận. (3-c)

    Một trong những thiết kế đầu của Brook – một con gián robot – mỗi chân của nó có vi-xử-lí riêng và có thể tự động bước đi. Bằng cách dò các vị-trí và vận-động của những cái chân khác, nó tự phối hợp với chúng để “việc bước đi bật khỏi trạng-thái chung của 12 mô-tơ” (3-b). Vì việc điều-khiển không được tập-trung mà phân-bố nên robot không nhầm lẫn nếu một trong các chân gặp sự cố, nó có thể tiếp tục bước đi bằng các chân còn lại, như cách của con gián. Hóa ra trong tự-nhiên khả năng đi của côn-trùng lại dựa vào cùng một “thiết kế” (3-b). Người ta có thể thêm một cấu-kiện lái mới vào chóp đỉnh các chân nhằm điều-khiển mọi hướng đi, xuất phát và đứng lại mà không cần phải bảo chúng phải làm như thế nào. Cho dù những hướng-dẫn đi đứng, một cách nghiêm khắc, đều có trong mỗi chân, nó vẫn bước đi như là một bộ phận xử-lí của cấu-kiện lái, như thể nó điều khiển mọi việc đi đứng – việc xử-lí các chân được xếp bên dưới xử lí cấu-kiện lái. Khác biệt tinh vi giữa cấu-trúc-gộpcấu-trúc-cây đỉnh-gốc (như nền kinh-tế Marxist) là vị-trí điều khiển chuyên-dụng. Một được phân-bố giữa những bộ-phận chuyên-dụng; một được tập-trung ở đỉnh nhằm chuyên mọi công việc thành phần.

    Những bộ-phân chuyên dụng của một mạng lưới phân-bố được thử nghiệm và gỡ rối trong thế-giới thực trước khi thêm vào những mức-kiểm-soát cao hơn. Thí nghiệm đang diễn ra này khiến chúng ta phải suy nghĩ về những nguyên-tắc thân-rễ của bản-đồ học và đề-can. Cấu-trúc-gộp hình thành bản-đồ động lực của thực-tại, trong khi cách tiếp cận tập-trung tạo một mô-hình tức đồ-hình thế giới trong phạm vi “trí tuệ” của nó và cố gắng dùng lối xử-lí của nó chống lại đồ-hình này. Việc giải quyết và duy trì “mô-hình nội thế-giới” này chịu chi phí phối-hợp cao trong những thiết-kế robot trước, một vấn-đề đã được giải quyết bằng cách từ bỏ hoàn toàn đồ-hình nhằm khuyến khích một hình-thức gắn kết thiết thực và đúng chức năng:

    Vì thế việc phối-hợp một thế-giới quan trung-tâm mà Brooks đã khám phá là khó, sẽ dễ hơn nhiều khi sử dụng thế-giới thực làm mô hình riêng:“Đây là một ý tưởng hay khi thế-giới thực sự là một mô-hình thích hợp cho chính nó” (3-e)

    Việc kiểm soát phân-quyền này tương đương với “hệ thống phi-trung-tâm”của Rosenstiehl và Petitot mà Deleuze và Guattari đã tham khảo:

    Đặc tính chính của hệ-thống phi-trung-tâm là những khởi sự cục bộ được phối-hợp độc lập với quyền lực trung-tâm, với những tính toán được thực hiện qua mạng lưới (đa-cách). “Đấy là tại sao nơi duy nhất các hồ-sơ về người dân có thể được giữ ngay trong nhà riêng của họ, vì họ có thể tự mô tả và cập nhật: xã-hội tự nó chỉ là ngân-hàng dữ-liệu khả dĩ về con người. Một xã hội phi-trung-tâm cố nhiên loại bỏ trung-tâm một cách tự động như loại bỏ một sự xâm nhập phi-xã-hội” (1987: 519-520; quotation from Rosenstiehl & Petitot, 1974: 62)

    (còn tiếp)
  7. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    (tiếp theo)

    Cấu-trúc-gộp là bản-chất của mạng Net, mặc dù trong thực-tế nó có vai-trò hướng-dẫn hơn là một qui-tắc. Hãy nhớ lại thảo-luận trong chương trước: thử-nghiệm và thi-hành TCP/IP một cách chặt chẽ theo phương pháp bản-đồ tức xem thế-giới là mô-hình của chính nó, trong khi OSI thiết lập một đồ-hình về thực-tại làm cơ sở thiết kế. Trong cấu-trúc-gộp, sau khi những chức năng cơ bản được thiết lập thì mức hoạt động cao hơn kế tiếp có thể được xây dựng trên đó; vì thế sau khi chuyển-mạch-gói được bảo dưỡng thì tiếp theo có thể đến e-mail, FTP và World Wide Web. Can thiệp vào những tầng cơ-bản sau khi chúng đã được thiết lập có thể là tai họa. Điều này giải thích tại sao giao-thức OSI đã không thể thay thế TCP/IP bất chấp sự ủng hộ chính thức rộng rãi – TCP/IP đã bám chặt vào Internet, và quản-trị mạng chỉ miễn cưỡng thay thế một nền móng đã được thử thách và chứng minh (Hafner & Lyon, 1996: 249-50). Khoảng năm 1983 khi mạng ARPANET nhỏ hơn phải chuyển từ Giao Thức Điều Khiển Mạng cũ và có giới hạn hơn sang TCP/IP, đó là chuyển tiếp khó nhọc, dù cần thiết (1996: 248-9).

    Ngoài việc đang xây-dựng một mạng phức-hợp cùng độ tin-cậy tốt hơn, thì còn một cấu-trúc mạng phân-bố cũng có ưu điểm là toàn diện hơn hệ-thống kiểm soát trung-tâm chặt chẽ: thay vì có một tác-nhân-đơn theo dõi một chương trình nghị sự đặc biệt, thì nhiều tác-nhân-ghép độc lập và lỏng lẻo có thể tìm kiếm nhiều mục tiêu, và nhờ một thư-mục chuyên-môn phong phú mà chúng bền với những thay đổi môi trường hơn (6-c). Những kết-nối lỏng lẻo và có thể tự tái-cấu-hình sao cho phù hợp với những điều-kiện khác nhau. Trong máy tính, chương-trình định hướng đối-tượng (object-oriented programming – OOP) được thiết lập một cách chính xác trên nền triết-học này. Bất cứ nơi nào khả thi, mật-mã chương trình thực hiện một chức-năng cụ thể chứa trong một cấu-kiện hay trình-con là nơi nó sẵn sàng được gọi lên bằng chức-năng chính hay những trình-con khác. Những lỗi dễ dàng bị cách li và sửa chữa theo cách này, và chương-trình “phát-triển bằng cách tăng cường ráp nối những đơn-vị con đang hoạt động”, gia tăng phức-tính như nó vốn thế (11-d). Một khía cạnh quan trọng của thiết-kế theo cấu-kiện này là nó dễ dàng cho phép truy-hồi. Ở đây, một cấu-kiện có thể tự viện dẫn, lặp đi lặp lại, trong một vòng-lặp cho đến khi một công việc được hoàn thành; hoặc nếu không thì hai cấu-kiện có thể viện dẫn nhau luân phiên, liên tục kiểm soát và cung cấp thông-tin ngược trở lại nhau. Loại quan-hệ kết-nối này – vòng-hồi-tiếp – là nền móng của việc tự-tổ-chức, theo điều-khiển-học cổ điển.

    Tự-tổ-chức

    Những kết-nối của một mạng-lưới dường như tạo cho nó nét đặc trưng cố-kết, vì thế nó chẳng phải là một tập-hợp các bộ-phận tách rời, cũng chẳng phải một sự đồng-nhất có giới-hạn chặt chẽ, mà là một nơi ở giữa chúng. Trong trạng-thái lưng chừng này những yếu-tố tạp nham bắt đầu đảm nhiệm trạng-thái bản thể học của một thực-thể riêng biệt, và đặc-tính nổi bật của thực-thể này mang sắc thái ích kỉ: tự-điều-hòa, tự-cai-quản, tự-tổ-chức, và thậm chí tự-nhận-thức. Kelly thêm rằng tính ích-kỉ bắt đầu xuất hiện với vòng-hồi-tiếp, và trích dẫn ví dụ về một phát-minh của Ktesibios người đã sống ở Alexandria thế kỉ ba TC: cái đồng-hồ-nước “nó chính xác một cách phi thường (trong khi) bằng cách tự-điều hòa nguồn cấp nước”, được thực hiện bằng sự điều-hòa lẫn nhau giữa phao và van - ý tưởng này được phục hồi trong toilet hiện đại (7-a).

    Có hai hình-thức vòng-hồi-tiếp khác nhau: dương và âm. Ví dụ về nấm-bào-tử (slime mold) của Rothschild là trường hợp tự-tổ-chức phức-hợp, chúng mọc tự phát từ trùng amip đơn gắn với một vòng-hồi-tiếp-dương. Nấm-bào-tử có vẻ đồng-nhất cố kết nhưng thực ra “chỉ là một pha trong vòng đời đặc biệt của một loài amip nào đó” (1990: 255). Để vòng qua những giới-hạn về khả năng tìm thức ăn của nó, một amip sẽ gửi đi những xung hormone gọi là vòng AMP cho những amip bên cạnh, sai khiến chúng tiếp cận đồng thời phản-hồi cùng một tín-hiệu. Những tín-hiệu này kích hoạt nhiều tín-hiệu hơn nữa. Vòng lặp thông-tin leo thang này trao-đổi kết quả trong một khối tế bào cùng đến và cùng hành động như thể nó là một sinh-vật hồn nhiên, dâng cúng cái “mũi dọc dừa” cho những tạo-vật khác để chúng ăn và đẻ trứng ở một nơi khác (1990: 255-6). Rothschild tuyên bố việc tự-tổ-chức đúng là có thể xảy ra tự phát từ việc xử-lí tập thể của amip khi trao đổi những tín-hiệu hóa học, vì thế nó cũng có thể xảy ra từ hành động hợp nhất của những nhà buôn độc lập trao đổi tín-hiệu thị trường – một nền kinh-tế thị trường vì thế là một hệ-thống tự-tổ-chức hoạt động theo vòng-hồi-tiếp sử dụng giá-cả như một cơ chế phát tín-hiệu (1990: 263). Trong trường hợp amip, một vòng-hồi-tiếp-dương leo thang đến một điểm nơi một hình-thức trật tự mới – nấm-bào-tử - xuất hiện

    Tuy nhiên tại trung tâm tự-tổ-chức này có vòng-hồi-tiếp-âm, trong đó thông-tin được sử dụng để điều chỉnh hệ-thống vì nó lưu lại trong phạm vi những giới-hạn nhất định. Bộ-ổn-nhiệt là một ví dụ về hệ thống vòng-hồi-tiếp-âm đơn giản, nó là cải tiến “kẻ thống trị” (bộ điều tốc) của James Watt cho máy hơi nước (7-a). Trong mỗi trường hợp, việc điều khiển đạt được bằng dòng thông-tin: đầu-ra của cấu-kiện trở thành đầu-vào của một cấu-kiện khác. Nguyên-nhân thành kết-quả và ngược lại, trong cái mà nhà điều-khiển-học Heinz von Foerster gọi là “vòng nguyên nhân” (7-c). Trong vòng-hồi-tiếp nhân tạo thì các cấu-kiện được ghép chặt thành đôi, việc kiểm-soát hoàn toàn một cấu-kiện có nghĩa là kiểm-soát hoàn toàn và toàn bộ hệ-thống (7-c). Thay vì điều-hòa mọi hoạt động đơn thì một mức kiểm-soát cao hơn – mà Kelly gọi là “siêu kiểm-soát” (7-c) - ủy thác việc kiểm-soát cho nhiều vòng-hồi-tiếp khác nhau.

    Lí thuyết hỗn-độn cung cấp một viễn cảnh khác để hiểu việc tự-tổ-chức. Khoa học liên-ngành trẻ trung này nhìn thấy “những mẫu-mã cơ bản” trong các hệ-thống hỗn-độn như thời-tiết, kinh-tế và hệ-sinh-thái (Rothschild, 1990: 260). Nhà vật lí Doyne Farmer quan sát cách mà trật-tự xáo trộn với mất-trật-tự.

    Đây là một đồng xu hai mặt. Đây là trật-tự, cùng hỗn-độn đang xuất hiện, và rồi một bước xa hơn là hỗn-độn với trật-tự cơ bản riêng của nó (Quoted in Gleick, 1993: 252)

    Những năm 1960, người ta khám phá ra rằng những hệ-thống phức có thể được mô-hình-hóa bằng những phương trình phi-tuyến đơn giản, và những hệ-thống này đã bộc lộ “sự lệ-thuộc nhạy cảm vào những điều-kiện ban đầu”“những vi-biệt đầu-vào có thể nhanh chóng trở thành khác biệt vượt trội ở đầu ra” (Gleick, 1993: 8). Vì những hệ-thống ngẫu nhiên, hỗn-độn như thời-tiết không thể dự báo trong tương lai xa với độ chính xác cao. Tuy nhiên ai cũng biết rằng thời-tiết là “ổn định về tổng thể, có tính cục bộ, khó dự đoán” – nó cho phép nhiễu liên tục, hấp thu nhiễu và sẵn sàng quay về tính chất bất-qui-tắc ổn định của nó (1993: 48). Hai đặc-tính then chốt của hệ-thống hỗn độn này – không-thể-dự-đoán và ổn-định – được mô tả riêng biệt bằng khái niệm “phi-tuyến” và “điểm-hấp-dẫn”.

    Nghiên cứu tính chất phi-tuyến quan trọng hơn vì khi các vòng-hồi-tiếp-phức có thể được dự đoán bằng những chức năng tuyến-tính, các nhà sinh-thái-học khám phá vào những năm 1950 rằng chúng được mô-hình-hóa tốt hơn bằng những phương trình phi-tuyến (Gleick, 1993: 61-4). Đây là lĩnh-vực rõ ràng nằm ngoài toán học tuyến-tính, hay như lời Rothschild, “thế giới phi-tuyến chiếm giữ phần đất trung gian giữa tất-định Newton hoàn hảo và hỗn-độn hoàn toàn” (1990: 260). Những phương trình phi-tuyến sinh ra những kết-quả thay đổi một cách đột ngột với mọi vòng-lặp được thực hiện hay lặp-lại, vì mọi phát-triển mới đều hồi-tiếp về hệ-thống để thay đổi những điều-kiện đang tác động đến kết quả tương lai. Như Gleik đã viết: “Phi-tuyến nghĩa là hành động chơi trò chơi, và hành động này có cách thay đổi những qui-tắc” (1993: 24). Cách duy nhất để dự đoán kết-quả sau cùng là giải các phương-trình bằng số lượng lặp-lại cần thiết. Tính chất phi-tuyến đã nảy sinh trong thế giới mạng. Chẳng hạn, “tổng chiều dài được tháo dỡ của một mạng lưới cáp có thể được thu ngắn bằng cách thêm những giao-điểm vào đó!” – nhưng chỉ đến một giới-hạn nhất định trước khi nhu-cầu tăng lên lại (2-g).

    Ngược lại, vào năm 1968 Dietrich Braess, một nhà nghiên cứu các quá trình hoạt động Đức đã khám phá rằng việc thêm những định-tuyến vào một mạng đã chật ních chỉ làm chậm nó. Giờ được gọi là Nghịch Lí Braess, các nhà khoa-học đã tìm thấy nhiều ví dụ cho thấy việc tăng khả năng cho một mạng-lưới đông đúc sẽ giảm toàn bộ năng xuất của nó như thế nào (2-g)

    Vì thế không có liên kết cân-xứng, tuyến-tính giữa kết-nối và thực-thi.

    Một tính chất nữa của phi-tuyến, nhiều hệ-thống hỗn-độn được quan sát cũng tùy thuộc vào những “điểm-hấp-dẫn” – những điểm hay mẫu-mã cố định thu hút những hệ-thống hỗn-độn trên (Gleick, 1993: 121-53). Vì thế, cho dù có tính chất bất-định-phi-tuyến, những khuynh hướng ổn-định vẫn xảy ra:

    Hồi-tiếp phi-tuyến điều hòa sự vận động, làm cho nó tráng kiệt hơn. Trong hệ thống tuyến-tính, nhiễu-loạn có hiệu-ứng bất biến. Với sự hiện diện của phi-tuyến, nhiễu-loạn có thể tự ăn nó chết dần chết mòn và hệ-thống tự quay về trạng thái ổn-định (Gleick, 1993: 193-4)

    Trong khi ta không thể dự đoán trước chính xác nhiệt-độ của một ngày thì “thời-tiết sẽ không vượt khỏi những giới-hạn được xác định bởi mẫu-mã hỗn-độn cơ bản của nó” (Rothschild, 1990: 260-2). Và trong khi chúng ta chẳng biết nhiều về những điểm-hấp-dẫn nói chung thì chúng là hiện tượng cơ bản đã được lên sơ đồ toán học (Gleick, 1993: 140, 143, 151). Trước khi chúng ta nghiên cứu làm thế nào mà những điểm-hấp-dẫn có thể có vai trò trong mạng Net, chúng ta hãy xem xét tính chất kết-nối của mạng Net.

    Phân tích của Kelly về các hệ thống tự-tổ-chức đặc biệt chú ý đến những kết-nối giữa những thành viên của mạng. Ông tin rằng việc kết-nối mọi thứ một cách bừa bãi sẽ không có tác dụng; mấu chốt sáng tạo sự tự-tổ-chức nằm ở những vât-đang-kết-nối “theo cách có tổ-chức, trực-tiếp và có giới-hạn” (20-e). Phần lớn chúng ta có nhiều số điện thoại , fax, máy-nhắn-tin và địa chỉ thư điện tử, sẽ đồng ý với Kelly rằng kết-nối quá nhiều không hề gia tăng hiệu quả tổ chức - những mạng lưới kết-nối quá nhiều sẽ thoái hóa về trạng-thái tắc nghẽn mang tính quan liêu (20-d). Theo gợi ý này thì việc kết-nối quá nhiều có thể bị phản năng xuất, Kelly lấy trường hợp những công-nghệ cách li phân biệt, như mã-hóa, là một “phản lực cần thiết cho khuynh hướng chạy trốn liên-kết của mạng Net” (12-f). Nhu-cầu ngắt hữu ích, dù quá nhiều, có thể là một phần của vòng-hồi-tiếp-âm hợp lí nhằm điều chỉnh kết-nối tối ưu. Đây có thể là xu hướng tự-tổ-chức của mạng Net.

    Trong lí thuyết hỗn-độn, những điểm-hấp-dẫn được xem là kém ổn định và kém tự-tổ-chức. Kelly gợi ý rằng khi ta đạt đến một mức kết-nối nào đó, những hình thức tự-tổ-chức sẽ dẫn đến kết quả là:

    Tôi đã ghi nhận…ý-tưởng gây tranh cãi rằng trong bất cứ xã-hội nào với sức mạnh thích đáng của cộng-đồng và kết-nối thông tin, dân-chủ trở nên tất yếu. Nơi những ý-tưởng tự do chảy và sinh ra những ý-tưởng mới, tổ chức chính-trị rồi cũng sẽ hướng đến nền dân-chủ như điểm-hấp-dẫn mạnh, tự-tổ-chức và không thể tránh được. (20-d)21

    Giả thiết rằng Kelly có một điểm, chúng ta cần hỏi: mạng Net đã đạt đến điểm tự-tổ-chức “tất yếu” đó chưa? Chắc chắn rồi, có vẻ như không có cơ quan trung tâm nào tổ chức nên mạng Net. Liên Doanh World Wide Web được Tim Berners-Lee sáng lập, nhà phát minh của trang Web, đang dần trở thành một thế lực Net toàn cầu, nhưng Berners-Lee khăng khăng rằng Liên Doanh này không “áp đặt bất cứ thứ gì” tức “ra lệnh”, và chẳng hơn gì một điều-giải-viên nhằm liên ứng giữa các công ty sản xuất những chi tiết kĩ thuật cho mạng Net (Schwartz, 1997). Nói cách khác, một hình thức kiểm-soát được phân-bố tức nền dân-chủ đã lan tràn vào cấu-trúc mạng Net.

    Tự-tổ-chức phải được phân biệt với tự-ý-thức bằng những phương tiện mà các sinh-vật trí tuệ dùng để tự định hướng. Một cách nghiêm khắc thì không phải mạng Net sản sinh những chi tiết kĩ thuật cho nó; người ta có thể cho rằng nó đạt đến chúng qua quan hệ cộng-tiến-hóa với những công ty được tạo điều-kiện bởi Liên Doanh Web của Burners-Lee. Mạng Net không cần phải là một sinh-vật sống có khả năng tự định hướng theo ý-thức và dàn-xếp với những thực-thể khác nhằm gắn kết vào mối quan-hệ như thế. Vi-rút sinh-học không được phân loại chặt chẽ như sinh-vật, vì chúng không có trao đổi chất và có thể sống còn qua kết tinh (OERD: 1614-5), nhưng điều đó không ngăn chúng tự-sao-chép. Theo nhà sinh-học tiến hóa Tom Ray thì nó có vẻ là “một thuộc-tính chung của đời sống khi mọi hệ-thống thành công đều lôi cuốn những vật-kí-sinh” (quoted in 15-a). Trong công-nghệ, mạng Net đã trở thành mảnh đất sinh sôi cho rất nhiều viruse máy-tính mà nói chung chúng giống về mặt chức năng với phần tương ứng sinh-học. Virus máy tính đã đủ phổ biến trước cả sự phổ biến của mạng Net, trong trường hợp thông-tin được trao-đổi trên mạng Net thì chúng thậm chí đã được làm cho phổ biến hơn. Để mạng Net hỗ trợ virus máy tính thì nó hẳn phải phải đạt đến mức độ thành công của một hệ-thống. Điều này cũng không mấy ngạc nhiên, khi xem xét khẳng định của Dawkins rằng mọi đời sống sinh-học, về cơ bản, đều có tính chất thông-tin (Schrage, 1995). Vì thông tin điện-tử trôi nhanh hơn thông tin sinh-học nên một hệ-thống thông tin điện tử có thể đạt đến ổn định tự tổ-chức nhanh hơn so với hệ-sinh-học.

    Mạng Net là một hệ-thống tuần hoàn thông-tin thuần túy, nếu chúng ta tán thành ý-niệm kết nối thông-tin của Kelly chịu ảnh hưởng của một điểm-hấp-dẫn mạnh nào đó thì việc tự-tổ-chức có thể là một phần hợp lí của điểm-hấp-dẫn đó. Ở trung-tâm của mạng Net là chuyển-mạch-gói, cơ-cấu cơ bản cung cấp việc điều-khiển giao thông tự-động của dòng dữ-liệu (December, 1996). Ở đây máy móc tự do trao đổi thông-tin mà không có sự can thiệp của con người, trừ khi để duy trì và sửa chữa. Trong chuyển-mạch-gói, việc điều-khiển lưu thông được phân-bố, để những gói dữ-liệu phát sinh đều có thể tìm thấy những cách thức riêng đi đến đích của chúng – giống như một tổ kiến hay giao-thông trong thành phố. Nhưng để chúng ta không quên rằng mạng Net hẳn đã không có được khả năng đó nếu thiếu con người, và đã không phục vụ một chương trình nghị sự có thể tưởng tượng được nào mà thiếu họ, một mức tự-tổ-chức thú vị hơn có thể quan sát bằng cách xem xét một hệ-thống rộng hơn bao gồm việc ghép nối giữa con người và mạng Net – một ý-niệm không hoàn toàn xa lạ với Licklider và Engelbart. Giờ thì chúng ta hãy xem xét một hình thức tự-tổ-chức chuyên hóa với một chương trình nghị sự.

    Tính-thích-nghi

    Như đã đề cập trong chương trước, Baran là người đầu tiên nhận ra rằng càng nhiều những kết-nối-thừa thì mạng truyền-thông càng cường tráng (quả thật, ý bà là kết-nối-thừa như một phương tiện để sống còn qua thảm họa hạt nhân). Như Kelly viết: “nhiều hơn là khác biệt” (2-e). Sự hiệp-lực này đi từ mức kết-nối – nhiều kết-nối hơn ở mỗi giao-điểm có nghĩa độ tin cậy càng lớn.

    Ý-niệm về sự dư-thừa dựa trên giả-thiết rằng, vào bất cứ lúc nào, một bộ-phận nào đó của nó sẽ hỏng. Giả định này có tính quyết định, vì chừng nào mà những hỏng-hóc như thế là thực-tế không thể tránh khỏi thì những kết-nối-thừa sẽ cung cấp những tuyến thay thế mà qua đó những gói-dữ-liệu có thể đi vòng qua những tuyến bị tắc nghẽn. Trong một ý-thức, hỏng-hóc là bất hợp tác trong vai-trò một bộ-phận của thiết kế, việc thực hiện lời kêu gọi thẩm tra xã-hội-học của Malpas và Wichham nhằm nhận-thức những hỏng-hóc không thể tránh khỏi và bất-toàn trong bất kì dự-án đang thực thi nào, và kêu gọi vai-trò quản lí nhằm xử dụng hỏng-hóc và đề-kháng như những lực-lượng dương dùng để áp đặt và ra lệnh, như những bánh răng của một cỗ máy (1995). Trong ngôn-ngữ lí thuyết hỗn-độn hay điều-khiển-học, hỏng-hóc là bất hợp tác khi hồi tiếp thông-tin vào lại hệ-thống, và là yếu tố tự-tổ-chức côt lõi. Trong chọn lọc tự-nhiên, tổn-hao được sử dụng như vai-trò sống còn trong việc loại bỏ điều không thích hợp, để các cư-dân lành mạnh và có sức cạnh tranh. Sự tiến-hóa không chỉ đi đến dự đoán rằng hình thức hỏng-hóc cục bộ là sự tổn-hao, mà còn đòi hỏi nó, theo trật tự, lèo lái hệ-sinh-thái đến độ vững chắc toàn cầu hơn. Những hệ-sinh-thái thảo nguyên chẳng hạn đã trở nên quá thích-nghi với hỏa hoạn theo mùa đến mức chúng dựa vào lửa để diệt trừ những giống-loài xâm nhập và để làm nảy nở những hạt giống thảo nguyên của chúng (4-a). Lửa quá thiết yếu đối với hệ-sinh-thái thảo nguyên đến nỗi chúng không thể được thiết-lập hay duy-trì mà không có nó.

    (còn tiếp)
  8. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    (tiếp theo)

    Ý-niệm hỏng-hóc liên miên là điều cần thiết không chỉ với sự dư-thừa mà còn với sự tiến-hóa của mạng Net. Garfinkel dự đoán rằng giống như mạng lưới điện Mỹ cần thông qua dự luật “Cúp Nguồn Diện Rộng” năm 1965 nhằm đạt đến mức dịch vụ cung cấp như ngày nay, mạng Net cũng thế, nó cần trải nghiệm một loạt những đình trệ thường xuyên nhằm chủng ngửa chống lại sự-cố trong tương lai (1996). Bob Metcalfe, một trong những người cha sáng lập mạng Net, là “một trong những tiếng nói nặng kí nhất công bố sự diệt vong đang đến”, nhưng, như Garfinkel lưu ý, Metcalfe cũng đã dự đoán rằng “mỗi sụp đổ” sẽ đưa mạng Nét đến gần hơn một Internet mang sức mạnh công-nghiệp mới”(1996).

    Những gì được gán cho kinh-nghiệm và phát-triển thường tạo ấn tượng sai lầm rằng đó là quá-trình kết hợp phức-tính, một quá trình gia-tăng và gián-tiếp mà như Kelly đã chỉ ra, cần “nhiều cố gắng qua thời gian”, cần các nền kinh-tế gia tăng tiền lãi, và cần thiết-lập tạm-thời những yếu tố hỗ trợ (4-d). Công-nghệ tìm kiếm cũ hơn, như Gopher, là một yếu tố phụ tạm-thời như thế, đã mở đường cho bộ trình duyệt Web có đồ họa và thân thiện người sử dụng hơn, và khi World Wide Web vượt Gopherspace thì sự hữu-dụng của những trình duyệt lại gia tăng.

    Một hình thức dư-thừa nữa là chiến-lược thích-nghi lớn hơn nhằm đến nhiều loại chuyên môn hơn là ta có thể nhận biết về mặt kinh-tế, để thích-nghi với những điều kiện khắc nghiệt. Ví dụ, một quan sát được thực hiện suốt dự án Biosphere 2 là những hoang mạc “đã tiến-hóa trong những điều kiện hỗn-độn tuần hoàn và thỉnh thoảng cần một sức bật tự nhiên” (9-a). Tony Burgess cũng đã lưu ý rằng những hệ-sinh-thái sa mạc phong phú phát triển nhờ vào lượng mưa biến thiên: “nếu bạn có một thời-biểu cố định về lượng mưa liên quan đến chu kỳ nhiệt độ hàng năm thì bạn sẽ thấy hệ-sinh-thái sa mạc đẹp đẽ sẽ gần như luôn sụp đổ thành một cái gì đó đơn giản hơn” (quoted in 6-a). Những hệ-thống phức thích nghi bằng tính linh-động, nghĩa là chúng đang phát triển một dãy thư mục. Trong chọn lọc tự nhiên, việc sản sinh những chuyên môn khác nhau bằng cách biến đổi là cần thiết để đối trọng lại những ảnh hưởng của hao-mòn.“Bộ-đôi tác giả và chủ bút” này sản sinh những giống-loài mới và thành công (19-d). Kelly suy ra rằng một mạng lưới phải luôn mở ra cho những yếu tố hỗn-độn nếu nó muốn khỏe mạnh; nó phải cân nhắc tổng chi phí phát-triển và duy-trì tính đa-dạng để chống lại lợi-ích dung sai đối với những điều kiện khắc nghiệt – cho dù việc mở ra với tính đa-dạng như thế đôi khi chứng tỏ kém hữu ích:

    Việc chuyển đổi qua hệ-thống bầy đàn 17 triệu giao-điểm máy tính trên Internet mà nó không sụp đổ (nói chung), chúng ta có được một lĩnh-vực có thể xuất hiện những con-sâu máy tính hiểm ác, tức xuất hiện những hỏng-hóc cục bộ không thể giải thích. Nhưng chúng ta vui vẻ trao đổi những bất hiệu quả lãng phí của đa đường truyền nhằm giữ tính chất linh-động đáng ghi nhận của Internet (2-f)

    Một cách nghiên-cứu sự thích-nghi mạng nữa là tập trung vào chất lượng của những kết-nối. Ashby và Gardner viết một bài báo năm 1970 chỉ ra rằng việc gia tăng kết-nối của một mạng lưới khi vượt khỏi một điểm nhất định “sẽ đột ngột làm giảm khả năng của hệ-thống nhằm phục hồi sau nhiễu loạn” (6-b). Stuart Kauffman đã khám phá rằng việc gia tăng kết-nối giữa các giao-điểm của một mạng lưới sẽ gia tăng khả năng thích-nghi của nó với sự thay đổi môi-trường, nhưng “vượt khỏi một mật-độ kết nối nhất định, việc kết-nối liên tục chỉ làm giảm khả năng thích-nghi của toàn bộ hệ-thống” (20-d). Một khi mạng lưới đạt đến kết-nối tối ưu, nó có thể thay đổi về độ-lớn trong khi vẫn duy-trì khả năng thích-nghi bằng cách giữ lại cùng một “tốc độ kết nối trung bình” (20-d). Dựa trên Định Luật Kauffman, Kelly khuyên như sau:

    Trong xã hội kết-nối, chúng ta bơm căng cả tổng số người kết nối (năm 1993, mạng của những mạng toàn cầu đã mở rộng thêm với tốc độ 15 phần trăm người sử dụng mỗi tháng!), lẫn số-lượng người và địa-điểm mà mỗi thành viên được kết nối vào. Fax, điện thoại, thư rác, và cơ sở dự-liệu tham khảo chéo trong kinh-doanh và chính-quyền quả thực đang gia tăng về số-lượng kết nối giữa mỗi người. Việc mở rộng nói riêng cũng không làm gia tăng tính thích-nghi của hệ thống (xã hội) nói chung. (20-d)

    Hệ quả của môi-trường mà nó khuyến-khich việc kết-đôi chặt chẽ giữa các giống-loài trong một hệ-sinh-thái là sự phát-triển hội tụ tiến-hóa, tức cộng-tiến-hóa giữa các giống-loài. Sự hội-tụ hay cộng-tiến-hóa này là hiển nhiên giữa những công-nghệ khác nhau của mạng Net, như phác họa trong phần sau.

    Cộng-tiến-hóa

    Cộng-tiến-hóa mô tả những mối quan-hệ chung trong đó cộng-sinh là sự đa-dạng có lợi cho cả hai. Nó không phải là ý tưởng hoàn toàn mới – Darwin trong Nguồn Gốc Các Loài đã chứng kiến “những cộng-thích-nghi của sinh tồn hữu cơ với nhau” (quoted in 5-b). Cộng-tiến-hóa xem sự hội-tụ, như Kelly mô tả, “giống như một bản tango”:

    Con **** được phản ảnh trong thực-vật, và thực-vật được phản ảnh trong con ****. Cây bông-tai sử dụng mọi biện-pháp nhằm giữ những ấu trùng **** chúa ở khoảng cách an toàn để con trùng không ăn tươi nuốt sống nó hoàn toàn, buộc **** chúa “thay màu đổi sắc” và tìm cách né tránh sự phòng-vệ của thực-vật... Nhằm tự-vệ chống lại **** chúa, cây bông-tai đã trở nên không thể tách biệt khỏi con ****. Và ngược lại. Một quan-hệ dài hạn mang tính đối kháng dường như nuôi dưỡng loại tương-thuộc này…

    Cây bông-tai và ****-chúa, vai kề vai, khóa vào một hệ thống đơn, tiến-hóa hướng vào nhau và với nhau. Mỗi bước tiến trong cộng-tiến-hóa lại quấn hai địch thủ chặt hơn, cho đến khi mỗi bên hoàn toàn lệ thuộc vào sự đối kháng của bên kia. Hai bên trở thành một (5-b)

    Nghe có vẻ giống như cái “đang-trở-thành” thân-rễ, ngoại trừ nơi mà cái “đang-trở-thành” này đúc kết thời gian thành một sự đồng-thời (Deleuze, 1993), cộng-tiến-hóa dịch chuyển dọc theo một quỹ-đạo tiến triển theo thời gian. Quá-trình này là không thể đảo ngược; mối quan-hệ càng cộng-tiến-hóa, càng khó phá vỡ nó. Không có côn-đồ thì sự nghiệp của siêu-nhân cũng chấm dứt. Nước Mỹ đối mặt với khủng hoảng đồng nhất khi “Đế Quốc Ác” (Evil Empire) sụp đổ. Lợi ích của Microsoft không phải là nhìn Apple chìm. Các công ty sản xuất phần mềm chống virus tin vào sự xuất hiện liên tục của virus máy tính mới. Như ví dụ của Kelly, những thảo-nguyên cần lửa và hoang-mạc cần những điều kiện khắc nghiệt (4-a; 6-a). Ông thấy sự cộng-tiến-hóa có ở hầu hết mọi hình thức quan-hệ mà trong đó những dự-viên thích-nghi và tương-thuộc vào một dự-viên khác nữa: “bất cứ sinh-vật nào thích-nghi với những sinh-vật khác xung quanh nó sẽ hành động như một tác-nhân cộng-tiến-hóa gián tiếp ở một mức độ nào đó” (5-b). Ta bắt đầu nghi ngờ rằng việc cộng-tiến-hóa được định nghĩa rộng rãi một cách chính xác nhằm gây chú ý đến các quan-hệ của web tồn-tại trong mọi khía cạnh của bất cứ mạng-lưới nào, nhưng sự gắn kết về chất với khái-niệm này sinh ra nhiều lợi ích hơn.

    Cộng-tiến-hóa là một hình-thức phức của vòng-hồi-tiếp mà trong đó những dự-viên không chỉ trao đổi thông-tin và hành động theo đó mà còn thích-nghi với một dự-viên khác nhằm mở rộng phát-triển dựa vào những kết-nối giữa chúng. Trong một ý thức, khi những dự-viên tự-định-hướng vào một dự-viên khác nữa, thì hệ-thống nói chung dường như cũng tự-định-hướng – nó tự-cai-quản và tự-tổ-chức. Trong khi thuyết tiến-hóa Darwin nhấn mạnh vào sự cạnh-tranh giữa các giống-loài vì các nguồn tài-nguyên thì cộng-tiến-hóa nhấn mạnh vào những phần-thưởng cho sự hiệp-lực phát sinh từ hợp-tác và cộng-sinh, và “mỗi giống-loài được khóa vào toàn bộ môi-trường của nó bằng số lượng những vòng-hồi-tiếp” (Marshall & Zohar, 1997: 93). Kelly tham khảo Giả Thiết Gaia (Gaia: Nữ Thần Mẹ) vốn xem sinh quyển Trái Đất là một hệ-thống cộng-tiến-hóa, tự-tổ-chức khổng lồ: “Nếu một máy-điều-nhiệt hay một máy-hơi-nước có thể tự-cai quản thì ý-tưởng về một hành-tinh đang làm tiến-hóa những mạch-hồi-tiếp duyên dáng kia không quá xa lạ” (5-d). Điều này mới đầu nghe có vẻ giống mô hình kết-nối của mạng-trung-tâm, trong đó các năng lực tinh thần đều xuất phát từ những liên-kết phong phú giữa những bộ-xử-lí riêng biệt (Marshall & Zohar, 1997: 107-8).

    Mức cộng-tiến-hóa được quyết định bởi điều-kiện kết-nối mạng. Nhà sinh-thái-học Tây Ban Nha Ramon Margalef đã quan sát sự cân bằng giữa chất-lượng và số-lượng của những kết-nối trong một mạng lưới – đó là một “sự bảo toàn kết nối”:

    Margalef lưu ý…rằng các hệ-thống có nhiều hợp-phần thì chúng có các quan-hệ-yếu, trong khi các hệ-thống ít hợp-phần có quan-hệ-đôi chặt chẽ. Margalef giải thich như sau: “Từ chứng-cứ theo kinh nghiệm, dường như các giống-loài tự do tương-tác với những giống-loài khác lại rất có liên quan đến một số lớn những giống-loài khác nữa. Trái lại, giống-loài có tương-tác mạnh thường là bộ-phận của một hệ-thống với số lượng nhỏ giống-loài” (6-b)

    Kelly đã tổng quát hóa rằng chúng ta “nên mong tìm kiếm một qui-luật tương tự về bảo-toàn kết-nối trong các hệ-thống văn-hóa, kinh-tế và cơ-giới”, mặc dù việc ước đoán như thế vẫn phải được thông qua bằng những nghiên-cứu thực tế (6-b). Trong một môi trường khuyến khích cộng-tiến-hóa nhiều hơn cách-li thích-nghi sinh-lí-học thì các giống-loài lại liên-kết chặt chẽ đến nỗi “sẽ khó mà phân biệt nơi đâu sự đồng nhất của một giống-loài bắt đầu và của giống khác dừng lại”,“chúng ta nên hy vọng nhìn thấy nhiều trường hợp quan-hệ cộng-sinh và kí-sinh kì bí – vật-kí-sinh săn mồi các vật-kí-sinh, những con-đực sống bên trong những con-cái, và những tạo-vật bắt chước và phản ảnh những tạo-vật khác” (6-d). Đấy chính xác là những gì chúng ta tìm thấy trên mạng Net, nơi một số nhỏ vừa phải những “giống-loài” riêng biệt kết-nối với một “giống-loài” khác nữa. Những site nhân bản đầy dẫy trên World Wide Web. Những chương-trình khách hàng cạnh-tranh về cấu-hình với những chương-trình khác nhằm dàn-xếp với các giao-thức của mạng. Người sử dụng nắm lấy những đồng-nhất trực-tuyến của giới đối lập. Những moderm đòi hỏi cả điện-thoại đồng thời với jack-phone. Những mức đệ qui cao xảy ra, tỉ như toàn bộ mạng máy tính móc nối vào mạng Net tại những điểm dùng cho những máy tính đơn. Những dịch-vụ hai chiều tức xuất hiện trong phạm-vi những dịch-vụ khác: Gopher cách li người sử dụng khỏi những ngôn-ngữ khó của Telnet và FTP với một tầng bảng chọn và những lệnh đơn (Rheingold, 1994: 107); Web - dựa trên dịch-vụ chat xuất hiện độc lập với IRC. Những thử nghiệm của Tom Ray về tiến-hóa nhân tạo của virus máy-tính đã thành công trong việc sản xuất những kí-sinh cộng-tiến-hóa mà chúng lợi dụng các virus, cũng như những siêu-kí-sinh lợi dụng các kí-sinh (15-a). Tương tự, mạng Net không chỉ quan sát những diện mạo của virus và chống-virus máy tính mà còn chống-chống-virus và chống-virus-virus (Hyppönen, 1994).

    Virus máy-tính là một trường hợp lí thú để khảo-sát về cộng-tiến hóa. Virus – dù là máy-tính hay sinh-học – mang mật-mã dùng cho việc sao-chép của chúng, nhưng đặc biệt hơn là chúng “tận dụng những cơ cấu hóa-sinh của tế-bào-chủ để lắp ráp những virus sao-chép” (OERD: 1614-5). Về mặt sinh sản, virus tự chúng đã bất hoàn chỉnh như những con ong đực của một tổ ong; nhưng virus kết-đôi với những vật-chủ hình thành một khối sinh sản hoàn toàn mới. Vì thế, việc cộng-tiến-hóa của virus với vật-chủ sản sinh những khả năng tươi mới, trong trường hợp này là việc tự-sao chép của virus.

    Mượn ý tưởng về sao chép chước-thức của Lynch và những lí-thuyết của Deleuze và Guattari, tôi muốn đề xuất một phương-thức sinh sôi thân-rễ cụ thể - một quá trình tự-sao-chép mang tính công-nghệ đạt được qua cộng-tiến-hóa. McHoul gần đây đã đề xuất ý niệm về “siêu tồn tại” (cyberbeing) mà nó kiến tạo “một quan-hệ mới giữa con người và thiết-bị; đến điểm nơi mà cả hai không còn là những phạm-trù bản-thể-học riêng biệt trong ý-thức nghiêm khắc nhất” (1997: 17). Vì lợi-ích của mình, báo in cho phép nhân đôi công-nghệ được phép của nó (1997: 22) – những hướng-dẫn cách làm báo in và sử-dụng nó, hay nói cách khác mật-mã để sao-chép của nó. Tiềm năng sao-chép phải được thực hiện bằng quan-hệ của nó với người-sử-dụng. Một cách nghiêm khắc, việc in báo không chứa bất cứ mật-mã sao-chép nào. “Tổ-chức thiết bị cho trang bị” của McHoul (1997: 22) có thể được cung-cấp đầy đủ bằng cộng-tiến-hóa, vì mối quan-hệ này thực hiện việc sao-chép thực tế mà nó chỉ tiềm ẩn trong trang-bị in báo. Còn như những dự-viên thích nghi và lợi-dụng một dự-viên khác thì quan hệ cộng-tiến-hóa định hình chúng theo những cách cụ thể. Nhà điều khiển học W. Ross Ashby viết năm 1952:

    Một mẫu gen của một sinh-vật không định rõ chi-tiết mèo con sẽ bắt chuột như thế nào, mà cung cấp một cơ-cấu học tập và một xu-hướng chơi, vì thế chính chuột đã dạy mèo con những nét-lí-thú để bắt nó (Quoted in 5-b)

    Ở qui mô lớn hơn, chính quan-hệ cộng-tiến-hóa mà mèo đã phát-triển cùng chuột đã “dạy” mèo con bắt chuột như thế nào. Tương tự, tôi có thể dễ dàng khôi-phục lại thông-tin từ mạng Net cách làm thế nào thực-hiện một Web chủ, hoặc ít tham vọng nhất, làm thế nào thiết-lập một trang Web, nhưng tôi cần phải nhặt nhặn, chẳng hạn những kĩ-năng duyệt thông-tin nhất định. Về tư cách cá nhân, tôi cần thiết-lập quan hệ cộng-tiến-hóa với công-nghệ trước khi công-nghệ đó, và lợi ích của tôi, có thể sinh sôi. Về tư cách giống-loài, con-người luôn có quan-hệ này với công-nghệ - mỗi loài phục vụ và được định hình bằng loài khác, trong một liên-minh mà nó tụ-hội cả hai xa hơn vào quỹ-đạo cộng-tiến-hóa. Người ta có thể lí-luận rằng công-nghệ là dự-viên thụ động vì nó không tích cực thích-nghi, vì nó cần tác-nhân con-người để sửa đổi nó, nhưng ý-niệm cộng-tiến-hóa không xem việc thích-nghi được-tự-quyết một cách tất yếu. Chẳng hạn, môi trường cũng có thể là một dự-viên cộng-tiến hóa:

    Nhiều nhà sinh-học tiến-hóa thế kỉ trước như như T. H. Huxley, Herbert Spencer và Darwin nữa, đã hiểu nó một cách trực giác – rằng môi-trường vật lí định hình những tạo-vật của nó và những tạo-vật này lại định hình môi-trường của chúng, còn nếu xem xét rộng hơn thì môi-trường là tổ-chức và tổ-chức là môi-trường. Afred Lotka, một nhà sinh-học lí thuyết ban đầu, đã viết năm 1925, “Cơ-cấu hay giống-loài tiến hóa không đáng kể mà toàn bộ hệ-thống, giống-loài cùng môi-trường. Cả hai không thể tách biệt” (5-d)

    Nếu chúng ta xem mạng Net là môi-trường ảo thì cộng-tiến-hóa sẽ xảy ra trong môi-trường này, những hợp-phần như phần-cứng, phần-mềm và “phần-sống” (con người). Viễn-cảnh tổng thể này xem môi-trường ảo là một hệ-thống điều khiển học tiến-hóa.

    *​

    Một trong những chủ-đề chính trong sách của Kelly là khi chúng ta đạt đến khả năng thích-nghi, tự-tổ-chức, tiến-hóa, văn-minh sinh-học mới, chúng ta tất yếu phải từ bỏ một mức kiểm-soát sự sáng-tạo này (2-f). Một số người nhấn mạnh vào chủ-nghĩa hoài-nghi với ý-tưởng rằng mạng Net có thể tự chăm sóc, thậm chí còn cả quyết rằng việc để chúng tự quyết như thế sẽ là một công thức thảm họa. Chương tiếp theo sẽ khảo-sát những quan-điểm này, và đề xuất rằng chúng quả thực không mâu thuẫn với Kelly.
  9. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Qua một thời gian sử dụng facebook tôi nhận thấy từ "đa-bội" thích hợp với khái niệm multiplicity hơn từ Việt cũ là "đa-cách".

    Multiplicity = Đa-bội

    Từ nay tôi sẽ dùng từ Việt "đa-bội" thay cho "đa-cách" để chỉ khái niệm "multiplicity"

  10. Tran_Thang

    Tran_Thang Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/01/2005
    Bài viết:
    4.574
    Đã được thích:
    193
    Phiên bản mới.

    Bản tiếng Anh: 11.000 từ, 56.269 tự. Bản tiếng Việt: 15.700 từ, 55.250 tự

    “GiỚI THIỆU: THÂN RỄ”

    Hai chúng tôi cùng viết cuốn Chống-Oedipus. Vì mỗi chúng tôi đều là cá nhân nên chúng tôi đúng là một đám đông. Ở đây chúng tôi tận dụng mọi thứ trong tầm, những gì gần nhất cũng như xa tít tắp. Chúng tôi đã khéo phân công bút danh nhằm ngăn chặn việc thừa nhận. Tại sao chúng tôi vẫn giữ tên riêng của mình? Vì thói quen, thuần túy vì thói quen. Để làm chính chúng tôi, lần lượt, không thể được thừa nhận. Để hoàn trả tính chất không thể nhận biết, không phải bản thân chúng tôi, mà là những gì khiến chúng tôi hành động, cảm nhận, và suy nghĩ. Cũng vì thật thú vị được nói chuyện như mọi người khác, nói mặt trời lên, khi mọi người đều biết đó chỉ là một cách nói. Để đạt đến, không phải một điểm nơi mà người ta không còn nói Tôi nữa, mà là một điểm nơi mà họ nói Tôi hay không không còn bất cứ tầm quan trọng nào. Chúng tôi không còn là chính mình. Mỗi người sẽ biết về riêng mình. Chúng tôi được giúp đỡ, được truyền cảm hứng, được nhân lên.

    Một cuốn sách không có khách thể lẫn chủ thể; nó được tạo nên từ những vấn đề được hình thành một cách khác nhau, và rất khác biệt ngày tháng và thời gian viết. Qui cuốn sách cho một chủ thể là để bỏ qua hoạt động của những nội dung này, và những tương quan bề ngoài của chúng. Đó là để thêu dệt một Thượng Đế nhân từ nhằm lí giải những vận động địa chất. Trong một quyển sách, như trong mọi sự vật, có những tuyến khớp nối và phân khúc, những địa tầng và những vùng lãnh thổ; có cả những thăng tuyến, vận động tháo dỡ và giải tầng. Tốc độ dòng chảy tương đối trên những tuyến này gây ra hiện tượng chậm và đặc tương đối, hoặc, ngược lại, nhanh và đứt gãy. Tất thảy những điều này, các tuyến và tốc độ vừa phải, thiết lập một tập hợp. Một quyển sách là một tập hợp loại này, và theo đúng nghĩa tập hợp thì nó bất khả qui. Nó là một đa trạng – nhưng chúng ta chưa biết đa trạng đòi hỏi điều gì khi ta không còn qui cho nó điều gì, nghĩa là, sau khi nó được nâng lên tình trạng của một tồn tại riêng biệt. Một mặt của tập hợp cơ giới đương đầu với địa tầng, mà không còn nghi ngờ gì nữa, biến nó thành một loại cơ quan nào đó, hoặc một tổng thể có nghĩa, tức một quyết định khả qui cho một chủ thể; nó cũng có mặt hướng về một phi quan thể, cơ quan này tiếp tục tháo dỡ các cơ quan, tạo những mạo từ vô nghĩa tức các từ chỉ cường lực thuần túy để luồn qua, tức luân chuyển, và qui về chính các chủ thể mà nó đã rời đi không để lại gì hơn ngoài một cái tên như là dấu tích của một cường lực. Phi quan thể của một quyển sách thì là gì? Cũng dăm ba, tùy vào bản chất các tuyến đang xét, mức riêng tức mật độ của chúng, và khả năng mà chúng hội tụ lại ở một “mặt phẳng nhất quán”, đảm bảo cho sự chọn lọc của chúng. Ở đây, cũng như một nơi khác nữa, các đơn vị đo lường mới là điều thiết yếu: xác định số lượng chữ viết. Không có khác biệt giữa điều cuốn sách đề cập và cuốn sách đó được làm như thế nào. Do đó cuốn sách cũng không có đối tượng. Là một tập hợp, cuốn sách chỉ có chính nó, là cầu nối đến những tập hợp khác và liên quan đến những phi quan thể khác. Chúng tôi không bao giờ hỏi một cuốn sách nghĩa là gì, là thụ hiệu hay kí hiệu; chúng tôi không tìm kiếm bất cứ thứ gì để hiểu bên trong nó. Chúng tôi hỏi cuốn sách hoạt động với cái gì, nó truyền hay không truyền cường lực vào những sự vật gì khác trong vai trò cầu nối, trong những đa trạng khác nào mà đa trạng của nó được ***g ghép và bị biến đổi, và với những phi quan thể gì mà nó hội tụ phi quan thể của nó. Cuốn sách chỉ tồn tại xuyên suốt cái bên ngoài và trên cái bên ngoài. Cuốn sách tự nó là một cỗ máy nhỏ; quan hệ (có thể đo lường) của cỗ máy văn học này với cỗ máy chiến tranh, cỗ máy tình yêu, cỗ máy cách mạng, vân vân, là gì – và một cỗ máy trừu tượng đã lôi cuốn những cỗ máy kia là gì? Chúng tôi bị phê bình vì trích dẫn quá nhiều các tác giả văn học. Nhưng khi ta viết, vấn đề duy nhất là cỗ máy văn học có thể kết nối với cỗ máy khác nào, ta phải được kết nối để hoạt động. Kleist cùng cỗ máy chiến tranh điên rồ, Kafka cùng cỗ máy quan chức lạ thường nhất…(Điều gì sẽ xảy ra nếu một người trở thành thú hay thực vật do văn học, mà chắc chắc điều này không phải là văn học? Phải chăng, về cơ bản không phải do tiếng nói mà người ta thành thú vật?). Văn chương là một tập hợp. Nó chẳng có liên quan gì đến ý thức hệ. Không có ý thức hệ và chưa bao giờ có.

    Mọi điều chúng tôi bàn đến đều là những đa trạng, những tuyến, những giai tầng và phân khúc, những thăng tuyến và cường lực, những tập hợp cơ giới và các thể loại khác nhau của chúng, những phi quan thể cùng cấu trúc và chọn lọc của chúng, những mặt phẳngnhất quán, và trong mỗi trường hợp là các đơn vị đo lường. Máy đo địa tầng, máy đo độ hủy, những đơn vị mật độ BwO (phi quan thể), các đơn vị hội tụ BwO: chúng không những thiết lập một định lượng chữ viết mà còn định rõ chữ viết luôn là hệ đo lường một điều gì đó nữa. Viết lách chẳng liên quan gì đến tạo nghĩa. Nó phải liên quan đến việc khảo sát, lập bản đồ, thậm chí những lĩnh vực sắp xuất hiện.

    Loại sách đầu tiên là sách gốc. Cây đã là hình ảnh thế giới, tức cái gốc rễ hình ảnh hệ thế giới- là cây. Đây là sách cổ điển, vì cao quí, ý nghĩa, và tính chất nội bộ cơ quan chủ quan (các địa tầng của sách). Sách pháp thế giới, như nghê thuật pháp tự nhiên: bằng những thủ tục riêng của nó nhằm hoàn thành những gì tự nhiên không thể hay có thể không còn làm. Qui luật về sách là qui luật phản chiếu, Một mà thành hai. Làm thế nào qui luật về sách này có thể có trong tự nhiên, khi nó là thứ chủ trì sự phân hóa giữa thế giới và sách, tự nhiên và nghệ thuật? Một trở thành hai: bất cứ khi nào chúng ta đương đầu với công thức này, thậm chí Mao đã tuyên bố một cách chiến lược tức hiểu một cách “biện chứng” nhất có thể, là những gì chúng ta có mà lại có trước chúng ta là loại tư tưởng cổ điển nhất, được phản ảnh tốt nhất, cổ nhất và buồn chán nhất. Tự nhiên không hoat động theo cách đó: trong tự nhiên, rễ đều là rễ cái với một hệ thống phức tạp, hướng ngang và tuần hoàn hơn, tức đa nhánh, thay vì một hệ phân đôi. Tư tưởng tụt lại sau tự nhiên. Ở đây quyển sách với tư cách một hiện thực tự nhiên, nó còn là một rễ cái với gai chính và những chiếc lá xung quanh. Nhưng sách là hiện thực tinh thần, cái Cây ung dung hay Rễ là một hình ảnh, phát triển bất tận theo luật Một thành hai, sau đó hai thành bốn…Logic nhị phân là hiện thực tinh thần của hệ rễ-cây. Thậm chí ngành học “tiên tiến” như ngữ học vẫn giữ hệ rễ-cây làm hình ảnh cơ sở, và do đó vẫn còn hòa hợp với suy ngẫm cổ điển (ví dụ, Chomsky và cây ngữ pháp của ông, nó bắt đầu ở điểm S và tiến triển bằng cách phân đôi). Quá đủ để nói rằng hệ thống tư tưởng này chưa bao giờ đạt đến mức lí giải về đa trạng: để đạt đến hai theo phương pháp tinh thần thì ta hầu như phải thừa nhận một nguyên tắc đồng nhất vững chắc. Về phía khách thể, không còn nghi ngờ, theo phương pháp tự nhiên, là có thể đi trực tiếp từ Một đến ba, bốn, hoặc năm, nhưng với điều kiện là phải có một nguyên tắc đồng nhất vững chắc, đó cũng là nguyên tắc rễ cái nuôi dưỡng những nhánh rễ thứ cấp. Điều này không đưa chúng ta đi quá xa. Logic nhị phân về phân đôi đơn giản được thay thế bởi quan hệ lưỡng đơn nghĩa giữa các chu trình liên tiếp. Rễ cái không cung cấp hiểu biết về đa trạng tốt hơn rễ phân đôi. Một hoạt động ở khách thể, một ở chủ thể. Logic nhị phân và quan hệ lưỡng đơn nghĩa vẫn thống trị phân tâm học (cây ảo giác trong diễn giải của Freud về trường hợp của Schreber), ngữ học, cấu trúc luận, và thậm chí khoa học thông tin.

    Hệ thống rễ con, tức rễ chùm, là dạng thứ hai của sách mà thời hiện đại của chúng ta đang tỏ lòng thành. Thời đại này, rễ chính đã bị trụy, tức chóp đỉnh của nó đã bị phá hủy; một đa trạng tức thời, bất định của những rễ thứ cấy ghép vào nó và trải qua quá trình phát triển sum xuê. Thời đại này, hiện thực tự nhiên là thứ làm trụy rễ chính, nhưng tính đồng nhất của rễ vẫn sống, như đã sống, hoặc sẽ sống, với mọi khả năng. Chúng ta phải hỏi liệu hiện thực tinh thần mang tính phản thân có bù đắp cho trạng sự này bằng cách đòi hỏi một sự đồng nhất bí mật toàn diện, hoặc một tổng thể có phạm vị rộng hơn không. Hãy lấy phương pháp cắt-ghép của William Burroughs: gấp một văn bản vào một văn bản khác để cấu thành những đa rễ, cho dù mang tính ngẫu nhiên (như một lát cắt), thì việc gấp này hàm ý một chiều kích bổ sung vào chiều kích các văn bản đang xét. Trong chiều kích gấp bổ sung này, sự đồng nhất tiếp tục công việc tinh thần của nó. Đấy là tại sao công trình rời rạc dung giải nhất cũng có thể được trình bày như là Công Trình Toàn Diện hoặc Tác Phẩm Công Phá. Hầu hết các phương pháp hiện đại làm sinh sôi nảy nở hàng loạt tức tăng trưởng đa trạng đều hợp lí một cách hoàn hảo theo một hướng, hướng tuyến tính chẳng hạn, trong khi sự đồng nhất tổng thể lại tự khẳng định một cách cương quyết hơn trong một chiều kích vòng tức tuần hoàn, khác. Bất cứ khi nào một đa trạng được áp dụng vào một cấu trúc, tăng trưởng của nó sẽ bù đắp những giảm trừ các qui luật kết hợp của nó. Những kẻ phá thai đồng nhất, quả thật, là những kẻ sáng tạo thiên thần, những bác sĩ thiên thần, vì họ khẳng định sự đồng nhất thiên thần và cao cấp một cách đúng đắn. Lời của Joyce, được mô tả một cách chính xác là “bội rễ”, làm tan vỡ sự đồng nhất tuyến tính của lời nói, thậm chí của ngôn ngữ, chỉ để ấn định một sự đồng nhất tuần hoàn của câu, văn bản, tức tri thức. Cách ngôn của Nieitzche làm tan vỡ sự đồng nhất tuyến tính của tri thức, chỉ để cầu khẩn sự đồng nhất tuần hoàn của luân hồi vĩnh cửu, hiện diện như điều chưa được biết đến trong tư tưởng. Nghĩa là quá đủ để nói rằng hệ thống tụ thành bó không thực sự chấm dứt với thuyết nhị nguyên, với vai trò bổ sung giữa chủ thể và khách thể, giữa hiện thực tự nhiên và hiện thực tinh thần: sự đồng nhất trước sau gì cũng bị cản phá và bế tắc trong khách thể, trong khi một loại đồng nhất mới ca khúc khải hoàn trong chủ thể. Thế giới đã đánh mất trục của nó; chủ thể thậm chí còn không thể phân đôi mà chỉ có thể gia nhập một sự đồng nhất cao hơn, có tính nước đôi hay phức định, trong một chiều kích bổ sung cho chiều kích của khách thể của nó. Thế giới đã trở nên hỗn độn, nhưng sách vẫn còn là hình ảnh thế giới: hệ hỗn tạp-rể con, thay vì hệ hài hòa-gốc rễ. Một trạng thái bí ẩn lạ lùng: cuốn sách thậm chí toàn diện hơn khi bị vỡ thành từng mảnh. Bất luận thế nào, một ý tưởng tẻ nhạt thế nào, sách vẫn là hình ảnh của thế giới. Quả thực, nói “Bội số muôn năm”vẫn chưa đủ, khó tựa việc phải cất lên lên tiếng reo đó. Không kĩ thuật in ấn, từ vựng, hay thậm chí cú pháp tài tình nào đủ để người ta hiểu nó. Bội số phải được thực hiện, không phải bằng cách thêm vào một chiều kích cao hơn, mà đúng hơn, bằng cách đơn giản và tỉnh táo nhất trong các cách, với số chiều kích mà ta có sẵn – luôn là n-1 (cách duy nhất để một thuộc về bội số: luôn bị trừ). Trừ cái độc nhất vô nhị khỏi đa trạng được thiết lập; viết ở n-1 chiều kích. Một hệ thống loại này có thể gọi là một thân rễ. Một thân rễ như cuống ngầm tuyệt đối khác với rễ và rễ mầm. Thân củ và củ đều là thân rễ. Thực vật với rễ hay rễ mầm đều có thể mang tính thân rễ trong những khía cạnh khác nói chung: vấn đề là liệu nét đặc trưng của đời sống thực vật có hoàn toàn mang tính thân rễ hay không. Thậm chí vài sinh vật có tính chất này, trong hình thức bầy đàn. Lũ chuột là những thân rễ. Hang của cầy, thỏ cũng vậy, trong tất thảy những chức năng ẩn náu và cung ứng, vận động, lẩn tránh, và vùng vẩy của chúng. Thân rễ tự nó đảm nhận những hình thức đa dạng riêng, từ việc mở rộng bề mặt phân nhánh ra mọi hướng đến việc kết thành củ và thân củ. Khi đám chuột di chuyển bầy đàn con nọ trèo qua con kia cũng thế. Thân rễ gồm có cái tốt nhất và cái xấu nhất: khoai tây và cỏ băng, tức cỏ dại. Thú vật và thực vật, cỏ băng là cỏ cua. Chúng tôi có cảm giác rõ rệt rằng chúng tôi sẽ không thuyết phục được ai trừ khi đề ra những đặc tính gần đúng nào đó về thân rễ.

    1 và 2. Nguyên Lí kết nối và hỗn tạp: bất cứ điểm nào của thân rễ cũng có thể được kết nối với bất cứ điểm khác, và cần phải thế, điều này rất khác với thân cây hay rễ cây vốn đánh dấu một điểm, ấn định một trật tự. Cây ngữ học trong mô hình Chomsky vẫn bắt đầu tại điểm S và tiến triển bằng cách phân đôi. Ngược lại, không phải mỗi đặc điểm của thân rễ nhất thiết phải kết nối với một tính năng ngữ học: chuỗi dấu hiệu của mỗi bản chất được nối với chính các phương thức mã hóa đa dạng (sinh học, chính trị, kinh tế, v.v.) mà nó phát huy không những các chế độ dấu hiệu khác nhau mà còn cả trạng sự của những thân thế khác nhau. Các tập hợp tuyên ngôn chung hoạt động trực tiếp trong phạm vi các tập hợp cơ giới; không phải không thể cắt đứt hoàn toàn quan hệ giữa các chế độ dấu hiệu và đối tượng của chúng. Thậm chí khi các nhà ngữ học tuyên bố tự giới hạn vào những gì hiển hiện và không đưa ra những giả định về ngôn ngữ, nó vẫn trong phạm vi một hàm ngôn hàm ý những phương thức tập hợp riêng và các loại quyền lực xã hội. Ngữ pháp của Chomsky, biểu tượng S vô điều kiện thống trị mỗi câu cú, cơ bản là một kẻ ghi dấu quyền lực thay vì cú pháp: bạn sẽ xây dựng câu cú đúng theo ngữ pháp, bạn sẽ chia mỗi tuyên ngôn thành cụm danh từ và cụm động từ (phân đôi đầu tiên…). Phê bình của chúng tôi về những mô hình ngữ học này không phải vì chúng quá trừu tượng, mà ngược lại, vì chúng không đủ trừu tượng, vì chúng không đạt đến cỗ máy trừu tượng nơi kết nối một ngôn ngữ với nội dụng ngữ nghĩa và thực dụng của những phát biểu, với tập hợp tuyên ngôn chung, với toàn bộ chính trị vi mô trong phạm vi xã hội. Thân rễ không ngừng thiết lập những kết nối giữa các chuỗi dấu hiệu, các tổ chức quyền lực, và những trường hợp liên quan đến nghệ thuật, khoa học, tranh đấu xã hội. Một chuỗi dấu hiệu giống như một thân củ tích tụ những hành động hết sức đa dạng, không chỉ mang tính ngữ học mà còn là cảm thụ, bắt chước, điệu bộ và nhận thức: tự thân nó không có ngôn ngữ, bất cứ ngữ học phổ quát nào cũng không, chỉ là một tập hợp phương ngữ, thổ ngữ, tiếng lóng, và ngôn ngữ chuyên môn. Không có người nói – người nghe lí tưởng, hơn thế nữa, còn là cộng đồng ngữ học thuần nhất. Ngôn ngữ, theo lời của Weinreich, là “một hiện thực không đồng nhất về bản chất”. Không hề có tiếng mẹ đẻ, chỉ là quyền lực tiếp quản bởi ngôn ngữ thống trị trong phạm vi một đa trạng chính trị. Ngôn ngữ ổn định quanh một giáo xứ, một địa phận nhà thờ, một thủ phủ. Nó hình thành củ. Nó tiến hóa bằng những cuống và dòng chảy ngầm, dọc theo những lưu vực hay những đường tàu hỏa: nó lan rộng như một vệt dầu. Ta luôn có thể phá vỡ một ngôn ngữ thành những yếu tố nội cấu, một nhiệm vụ về cơ bản không khác biệt với việc tìm kiếm rễ cây. Cây luôn có một cái gì đó có tính chất phả hệ. Nó không phải là phương pháp cho mọi người. Một phương pháp kiểu thân rễ, ngược lại, có thể phân tích ngôn ngữ chỉ bằng cách làm lệch tâm nó vào những chiều kích khác và những tình huống khác. Một ngôn ngữ không bao giờ khép kín với chính nó, trừ khi nó là chức năng bất lực.

    3. Nguyên lí đa trạng: chỉ khi bội số thực sự được cư xử như một tồn tại độc lập thực sự, “đa trạng”, thì nó mới chấm dứt mọi quan hệ với Một trong vai trò chủ thể hay khách thể, hiện thực tự nhiên hay tinh thần, hình ảnh và thế giới. Những đa trạng đều mang tính thân rễ và bộc lộ những đa trạng giả dạng cây vì bản chất của chúng. Không có sự đồng nhất để đáp ứng như một trục đứng trong khách thể, tức để phân chia trong chủ thể. Thậm chí không có sự đồng nhất nhằm trục xuất trong khách thể và “hoàn trả” trong chủ thể. Một đa trạng không có chủ thể lẫn khách thể, chỉ có những quyết định, độ lớn và các chiều kích vốn không thể gia tăng về lượng mà không có sự thay đổi về chất ở đa trạng (các qui luật kết hợp do đó gia tăng về lượng khi đa trạng phát triển). Những sợi dây điều khiển con rối, là thân rễ hay đa trạng của những sợi thần kinh, chúng tạo thành con rối khác trong những chiều kích khác vốn kết nối với con rối đầu: “Gọi sợi dây hoặc chiếc cần điều khiển con rối là thêu dệt. Có lẽ người ta phản đối vì đa trạng của nó thể hiện ở người diễn viên, kẻ hóa thân nó vào chủ đề. Cứ cho là như thế; nhưng đến lượt nó, các sợi thần kinh của diễn viên lại tạo thành một tấm dệt. Và chúng chảy xuyên qua chất xám, mạng lưới, trở nên vô định hình…Tương tác này giống với hoạt động của người thợ dệt được cho là do Ba Nữ Thần Mệnh (the Fates) trong thần thoại điều khiển”. Đây đúng là một tập hợp mà nó gia tăng những chiều kích của một đa trạng, đa trạng này nhất thiết phải thay đổi bản chất khi nó phát triển những kết nối. Không có những điểm hay vị trí nào trong một thân rễ, như những điểm và vị trí được tìm thấy trong một cấu trúc, thân cây, hoặc rễ cây. Chỉ có những tuyến. Khi Glenn Gould tăng tốc độ trình diễn một bản nhạc, ông không chỉ phô trương sự điêu luyện, ông đang biến đổi các điểm nhạc thành các tuyến, ông đang làm toàn bộ bản nhạc đó sinh sôi nảy nở. Con số không còn là một khái niệm chung đo đạc các yếu tố dựa theo công dụng của chúng trong một chiều kích nhất định, mà tự nó đã trở thành một đa trạng biến đổi theo các chiều kích đang xét (tính ưu việt của một lĩnh vực qua một phức hợp các con số gắn với lĩnh vực đó). Chúng tôi không có các đơn vị đo lường, chỉ có các đa trạng tức đa dạng đo lường. Ý niệm về sự đồng nhất chỉ xuất hiện khi có một sự tiếp quản quyền lực trong đa trạng bằng kí hiệu tức một sự khởi phát chủ thể hóa tương ứng: đây là trường hợp đồng nhất-trục hình thành nền tảng cho một tập hợp quan hệ lưỡng đơn nghĩa (biunivocal) giữa các yếu tố khách quan tức các điểm, tức nền tảng để Một chia theo luật logic nhị phân vi biệt trong chủ thể. Sự đồng nhất luôn hoạt động trong một chiều kích rỗng bổ sung cho chiều kích của hệ thống đang xét (những quá mã). Điểm mà một thân rễ tức đa trạng không bao giờ tự cho phép bị quá mã, không bao giờ có sẵn một chiều kích bổ sung , bên cạnh đó lại còn số lượng các tuyến của nó, nghĩa là, còn có đa trạng về lượng số gắn với những tuyến này. Mọi đa trạng đều phẳng, theo ý thức là chúng lấp đầy tức chiếm chỗ mọi chiều kích của chúng: do đó chúng tôi sẽ nói về một mặt phẳng nhất quán thay vì các đa trạng, cho dù các chiều kích của “mặt phẳng” này gia tăng số lượng các kết nối được tạo nên từ nó. Các đa trạng được định rõ bởi cái bên ngoài: bằng những tuyến trừu tượng, thăng tuyến tức những tháo dỡ theo cách mà chúng thay đổi bản chất và kết nối với những đa trạng khác. Mặt phẳng nhất quán (mạng lưới) là cái bên ngoài của mọi đa trạng. Thăng tuyến đánh dấu: thực tại của một số lượng bất tận các chiều kích mà đa trạng choán đầy một cách hiệu quả; sự bất khả của một chiều kích bổ sung, trừ khi đa trạng này được biến đổi bởi thăng tuyến; khả năng và sự cần thiết phải san phẳng mọi đa trạng trên một mặt phẳng đồng nhất đơn tức tình trạng ngoài, bất chấp số lượng các chiều kích của chúng. Lí tưởng đối với một quyển sách là trải mọi thứ ra trên một mặt phẳng ngoài loại này, trên một trang sách giản đơn, trên cùng tờ giấy: những sự kiện thực, những quyết định lịch sử, những khái niệm, những cá nhân, những nhóm, những cơ cấu xã hội. Kleist phát minh cách viết theo thể loại này, một chuỗi những tác động đứt quãng và những tốc độ biến thiên, cùng với gia tốc và những biến đổi, luôn tương quan với bên ngoài. Hãy mở những vòng đai. Do đó, những văn bản của ông đối lập với sách cổ điển tức lãng mạn được thiết lập bởi tính chất bên trong của một chất thể tức chủ thể bằng mọi cách. Sách-cổ máy chiến tranh chống lại sách-cơ cấu Nhà Nước. Những đa trạng phẳng n chiều kích đều vô nghĩa và vô cầu. Chúng được định rõ bởi những mạo từ bất định, hoặc đúng hơn bởi những từ định lượng (một loài cỏ băng nào đó, một số của một thân rễ…).

    4. Nguyên lí về sự gián đoạn vô nghĩa: tương phản với sự quá nghĩa vốn phá vỡ những cấu trúc riêng biệt tức cắt qua một cấu trúc đơn. Một thân rễ có thể bị gãy, bị phá vỡ ở một nơi nhất định, nhưng nó sẽ lại khởi phát tại một trong những tuyến cũ của nó, hoặc tại những tuyến mới. Bạn có thể chẳng bao giờ rũ bỏ hết được những con kiến vì chúng hình thành một thân rễ động vật có thể phục hồi nhiều lần sau khi hầu hết đã bị phá hủy. Mỗi thân rễ gồm nhiều tuyến phân khúc dựa theo đó nó được phân tầng, khu vực hóa, tổ chức, biểu đạt, thuộc tính hóa .v.v. cũng như các tuyến tháo dỡ, nó luôn lẩn trốn xuôi theo đó. Có sự gián đoạn trong thân rễ bất cứ khi nào các tuyến phân khúc nổ tung thành một thăng tuyến, nhưng thăng tuyến là một phần của thân rễ. Những tuyến này luôn ràng buộc với một tuyến khác. Đấy là tại sao ta có thể chẳng bao giờ ấn định một thuyết nhị nguyên tức một lưỡng phân, thậm chí trong hình thức thô sơ của cái tốt và cái xấu. Bạn có thể tạo sự gián đoạn, vẽ một thăng tuyến, mặc dù vẫn có nguy cơ rằng bạn sẽ lại đương đầu với những tổ chức mà chúng tái phân tầng mọi thứ, những cơ cấu phục hồi quyền lực cho một kí hiệu, những thuộc tính mà chúng tái thiết chủ thể – bất cứ thứ gì bạn muốn, từ việc hồi sinh phức cảm Oedipus đến những khối phát-xít. Các nhóm và các cá thể bao gồm chủ nghĩa phát-xít vi mô chỉ chờ đợi để kết tinh. Vâng, cỏ băng cũng là một thân rễ. Điều tốt và điều xấu chỉ là sản phẩm của chọn lựa chủ động và nhất thời, việc chọn lựa này phải được phục hồi.

    Làm thế nào những trào lưu tháo dỡ và các quá trình tái lập không thể liên quan với nhau, luôn được kết nối, tiêm nhiễm lẫn nhau? Cây phong lan tháo dỡ bằng cách hình thành một hình ảnh, một đồ hình về một con ông vò vẽ; nhưng con ong tái lập trên hình ảnh đó. Tuy nhiên con ong bị tháo dỡ thành một bộ phận trong bộ máy tái sản xuất của phong lan. Nhưng nó tái lập phong lan bằng cách chuyên chở phấn hoa. Ong vò vẽ và phong lan, là những yếu tố hỗn tạp, hình thành một thân rễ. Ta có thể nói phong lan pháp ong vò vẽ, tái sản xuất hình ảnh của nó trong kiểu dáng có nghĩa (ngụy trang, bắt chước, nhử mồi.v.v.), nhưng điều này là thực chỉ ở mức địa tầng – trạng thái song hành giữa hai địa tầng đã khiến một tổ chức thực vật ở một bên pháp một động vật ở bên kia. Đồng thời, một cái gì đó nữa đang tiếp diễn một cách toàn bộ: không chút bắt chước, mà là bắt giữ mật mã, giá trị thặng dư của mật mã, một sự gia tăng về hóa trị, trạng thái đang trở thành hiện thực, phong lan đang trở thành ong vò vẽ và ong vò vẽ đang trở thành phong lan. Mỗi trong những điều đang trở thành này dẫn đến việc tháo dỡ một giới hạn và tái lập một giới hạn khác; cả hai cái đang trở thành này khâu nối vào nhau và hình thành những rơ-le trong hệ thống tuần hoàn của những cường lực và đẩy sự tháo dỡ xa hơn bao giờ hết. Không có sự bắt chước hay giống nhau, chỉ là sự bùng nổ của hai chuỗi hỗn tạp trên thăng tuyến được sắp xếp bởi một thân rễ chung mà nó có thể không còn được gán thuộc tính hoặc bị khuất phục bởi bất cứ điều gì có nghĩa. Remy Chauvin nhấn mạnh một cách sâu sắc: “sự tiến hóa song song của hai thực tồn tuyệt đối không có gì liên quan nhau”. Tổng quát hơn, những phối hợp tiến hóa có thể bị buộc phải từ bỏ mô hình cây cũ và dòng dõi xưa. Dưới những điều kiện nhất định, một virus có thể kết nối với nguyên bào và truyền chính nó y như gen tế bào của một loài phức hợp; hơn nữa, nó có thể lẩn trốn, di chuyển vào trong các tế bào của một loài hoàn toàn khác biệt, nhưng không phải là không mang theo “thông tin di truyền” từ người chủ đầu tiên (ví dụ, nghiên cứu hiện nay của Benveniste và Todaro về chủng loại virus C, với kết nối đôi của nó với DNA của khỉ đầu chó và DNA của những loại mèo nhà nào đó). Giản đồ tiến hóa không còn theo những mô hình phả hệ đi từ khác biệt nhỏ nhất đến lớn nhất, mà thay vào đó là một thân rễ hoạt động trực tiếp trong sự hỗn tạp và nhảy từ một tuyến khu biệt sang một tuyến khác. Một lần nữa, có một sự tiến hóa song song, của khỉ đầu chó và mèo; rõ ràng là chúng không phải là những mô hình hay bản sao của nhau (một con khỉ đang trở thành trong con mèo không có nghĩa là con mèo “chơi” con khỉ). Chúng ta hình thành một thân rễ với những động vật khác. Như Francois Jacob nói, những di chuyển của vật liệu gen bởi virus tức qua những thủ tục khác, sự dung hợp các tế bào hình thành trong những loài khác, đều có kết quả tương tự với những kết quả về “sự móc nối xấu xa quen thuộc thời xưa và thời Trung Cổ”. Những truyền đạt theo chiều ngang giữa những tuyến khác nhau góp nhặt thành những cây phả hệ. Luôn tìm kiếm phân tử, hay thậm chí hạ phân tử, phần tử liên kết với chúng ta. Chúng ta tiến hóa và chết vì tính đa dạng và bệnh cúm thân rễ của mình hơn là những bệnh di truyền, tức những bệnh thuộc riêng một dòng dõi. Thân rễ chống lại cây phả hệ.

    Những áp dụng tương tự đối với sách và thế giới: tương phản với niềm tin đã bén rễ sâu, sách không phải là hình ảnh của thế giới. Nó hình thành một thân rễ với thế giới, có một sự tiến hóa song song giữa sách và thế giới; sách đảm bảo việc tháo dỡ thế giới, và thế giới cũng tái lập sách mà đến lượt, sách cũng tự tháo dỡ trong thế giới (nếu nó có năng lực, nếu nó có khả năng). Bắt chước là một khái niệm xấu xa, vì nó dựa vào logic nhị phân để mô tả hiện tượng của một bản chất hoàn toàn khác biệt. Cá sấu không tái sinh một thân cây, chẳng khác gì tắc kè tái sinh sắc màu xung quanh nó. Con Báo Hồng chẳng bắt chước gì cả, nó chẳng tái sinh gì cả, nó sơn phết thế giới bằng sắc màu của nó, hồng cạnh hồng; đây là thế giới đang trở thành của nó, được thực hiện theo đúng cái cách mà nó trở nên không thể nhận biết chính nó, trở nên vô nghĩa, gián đoạn, đó là thăng tuyến của nó, theo đuổi “tiến hóa phi song song” của nó đến cùng. Tính khôn ngoan của thực vật: thậm chí với một thứ gì khác nữa – với gió, động vật, con người (và cũng với những vẻ ngoài mà dưới đó động vật tự thiết lập thân rễ, cũng như con người ta, vân vân). “Chứng nghiện rượu là sự xâm nhập khải hoàn của thực vật vào trong chúng ta”. Theo sau thân rễ luôn là sự gián đoạn; kéo dài, nối dài, và chuyển tiếp các thăng tuyến; làm nó biến đổi, cho đến khi bạn trình ra tính chất trừu tượng và khúc khuỷu nhất của những tuyến thuộc N chiều kích và làm gãy các hướng. Tiếp hợp những dòng được tháo dỡ. Tiếp bước thực vật: bạn bắt đầu bằng việc phân định tuyến đầu tiên gồm các vòng tuần hoàn hội tụ xung quanh những điểm kì dị kế tiếp nhau; sau đó bạn sẽ hiểu rằng liệu bên trong tuyến đó những vòng tuần hoàn hội tụ mới có tự thiết lập không, cùng với những điểm mới nằm ở bên ngoài những giới hạn và trong những hướng khác. Hãy viết, thiết lập một thân rễ, gia tăng lãnh địa bằng tháo dỡ, mở rộng thăng tuyến đến điểm mà nó trở thành một cỗ máy trừu tượng bao phủ toàn bộ mặt phẳng nhất quán. “Trước hết, hãy đến khu vườn cũ của bạn và quan sát kĩ dòng nước tạo bởi cơn mưa. Ngay bây giờ, cơn mưa hẳn đã mang những hạt mầm đi xa. Hãy quan sát những kẻ hở tạo bởi những rãnh thoát nước, và từ đó quyết định hướng của dòng chảy. Sau đó hãy tìm cây thực vật đang mọc ở điểm xa nhất của nó. Mọi cỏ cây quái gỡ đang mọc ở giữa đều là của bạn. Sau này…bạn có thể mở rộng kích thước lãnh địa của mình bằng cách men theo dòng nước từ mỗi điểm cây mọc dọc theo nó”. Âm nhạc luôn gửi đi những thăng tuyến, giống như rất nhiều “đa trạng biến đổi”, thậm chí lật đổ chính những mật mã đã cấu trúc hoặc cây hóa nó; đấy là tại sao hình thức âm nhạc, đích thực là những gián đoạn và sinh sôi nảy nở, có thể sánh với rong rêu, với một thân rễ.
    ............................

Chia sẻ trang này