1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Giới thiệu Địa lý - Du lịch - Văn hoá - Làng nghề đất Hà Tây

Chủ đề trong 'Hà Tây' bởi Lexcom, 13/09/2003.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. Lexcom

    Lexcom Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    05/03/2003
    Bài viết:
    924
    Đã được thích:
    0
    Bia Hà Tây

    Biểu tượng của Công ty TNHH Nhà máy Bia Hà Tây. [​IMG]

    (VietNamNet) - ''''Chúng tôi sẽ sản xuất ngay tại Hà Tây những sản phẩm bia Heineken và bia Tiger có cùng tiêu chuẩn chất lượng với tại bất kỳ nước nào trên thế giới''''. Đây là cam kết của ông Chris Kidd, Giám đốc Khu vực của Tập đoàn các Nhà máy Bia châu Á - Thái Bình Dương (Singapore), công ty bỏ vốn 100% cho Bia Hà Tây trong buổi lễ chào mừng sản phẩm đầu tiên từ dây chuyền sản xuất mới của nhà máy.
    Bia Hà Tây đồng thời cũng cam kết bảo vệ môi trường và bảo vệ nguồn nước địa phương thông qua việc đầu tư xây dựng một nhà máy xử lý nước thải hiện đại với tổng số vốn đầu tư trên 1 triệu USD. Nhà máy xử lý nước thải này được thiết kế nhằm làm sạch nước thải từ dây chyền sản xuất bia.
    Nhận xét về sự kiện này, ông George Yeo, Bộ trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore cho biết: ''''Thành công của Nhà máy Bia Hà Tây gửi một thông điệp mạnh mẽ tới các nhà đầu tư nước ngoài rằng môi trường kinh doanh của Việt Nam đang ngày được cải thiện nhờ việc Việt Nam thực hiện các chính sách đổi mới theo định hướng thị trường''''.
    Ban đầu, Nhà máy Bia Hà Tây là liên doanh giữa 3 công ty: Tập đoàn các Nhà máy Bia châu Á - Thái Bình Dương, Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam và Công ty Lương thực Hà Tây với tỷ lệ góp vốn tương ứng là 55%, 8,5% và 36,5%. Tháng 2/2003, Tập đoàn các Nhà máy Bia châu Á - Thái Bình Dương mua lại phần 36,5% của Công ty Lương thực Hà Tây. Tiếp đó, tháng 4/2003, Nhà máy Bia Hà Tây đã trở thành công ty 100% vốn nước ngoài sau khi mua lại 8,5% cổ phần của Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam.
    Tháng 12/1991, Tập đoàn các Nhà máy Bia châu Á - Thái Bình Dương khởi công xây dựng tại TP.HCM nhà máy bia đầu tiên hiện đại nhất Việt Nam với tên gọi Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam. Tiếp đó, tập đoàn này tiếp tục xây dựng nhà máy bia thứ hai đặt tại Hà Tây với tổng vốn đầu tư thực hiện đạt trên 65 triệu USD. Công ty TNHH Nhà máy Bia Hà Tây dự định cung cấp cho khách hàng Việt Nam những sản phẩm nổi tiếng trên thế giới là bia Heineken, Tiger và Anchor.


    Sometimes the snow comes down in June.Somtimes the sun goes roud the moon......
  2. jachinh

    jachinh Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    12/12/2002
    Bài viết:
    928
    Đã được thích:
    0






    Ngày 11/11, đoàn đại biểu các doanh nghiệp bang Sachsen - Anhalt, Cộng hòa Liên bang Đức do Bộ trưởng Kinh tế và Lao động bang, Tiến sĩ Horst Rehberger đẫn đầu đã có cuộc tiếp xúc và làm việc với tỉnh Hà Tây để tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư.
    Giới doanh nghiệp hai bên đã nhất trí ký thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực đầu tư phát triển năng lượng thay thế và nhiên liệu, kỹ thuật tự động hóa, các ứng dụng trong thông tin đại chúng và lĩnh vực đào tạo nâng cao trình độ công nhân chuyên nghiệp và cán bộ lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp.
    Hiện nay, địa bàn Hà Tây có 54 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 625 triệu USD.
    Doanh nghiệp Đức tìm cơ hội đầu tư vào Hà Tây
    Về Quê với Mẹ ...
  3. vanyeuminhem

    vanyeuminhem Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    21/06/2003
    Bài viết:
    3.649
    Đã được thích:
    1
    Sao không thấy các bác nói về chiếc gậy Trường Sơn quê em nhỉ? Quên à? Đáng tiếc quá...
  4. jachinh

    jachinh Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    12/12/2002
    Bài viết:
    928
    Đã được thích:
    0

    Làng Cổ Đô - Hà Tây
    * Làng là đất học, đất khoa cử. * Làng có hai vị Thượng thư nổi tiếng triều Lê, trong đó có một là Lưỡng Quốc thượng thư. * Làng có truyền thống đánh giặc cứu nước, được công nhận đơn vị Anh hùng LLVTND. * Làng lụa - Làng thơ - Làng hoạ sĩ.
    Ở quãng giữa hai ngã ba sông - sông Hông hợp lưu với sông Đà tại gót Nung, sông Lô hợp lưu với sông Hồng tại Việt Trì, còn gọi là Ngã Ba Hạc, địa danh đã đi vào văn thơ với bài Ngã Ba Hạc phú nổi tiếng của Nguyễn Bá Lân - có một ngôi làng nhỏ bé nằm ven sông, mang một cái tên khá độc đáo: làng Cổ Đô.
    Làng Cổ Đô ngày nay thuộc huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây. Từ ngày hình thành, Cổ Đô có nhiều tên khác nhau. Từ xa xưa, Cổ Đô có tên gọi là Cổ Cẩm, huyện Tiên Phong, trấn Sơn Tây. Sau đó được đổi tên là Yên Đô (hay An Đô). Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Cổ Đô có tên là Cổ Sắt, một cái tên tượng trưng cho ý chí kiên cường của người dân Cổ Đô đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp khi tạm bị chiếm.
    Theo nhiều nhà nghiên cứu, Cổ Đô là một vùng tụ cư của các cộng đồng người Việt cổ, có nhiều dấu vết văn hoá - lịch sử cùng nhiều hiện vật khảo cổ được chôn cất trong các khu mộ táng có niên đại từ thế kỷ III (trước Công nguyên) đến thế kỷ I (sau Công nguyên), như: bình, thạp gốm, rìu đồng, lưỡi xéo (binh khí), các viên gạch nung có hoa vãn hình ô trám. Những hiện vật đó được trưng bày tại nhà truyền thống của làng cùng với những tý liệu lưu giữ ở Viện Sử học, Viện Hán Nôm đã chứng minh cho nhận định đó.
    Làng Cổ Đô có ngôi đền nổi tiếng ở núi Cẩm Sơn,có kiểu kiến trúc cổ khá đặc biệt với cổng tam quan kỳ vĩ có đại tự đề Thánh tích Cẩm Sơn (dấu vết thánh ở núi Cẩm). Theo thần phả, đức thành hoàng được thờ ở ngôi đền này là một vị nhân thần đã chết tại Cổ Đô khi đang thực thi một sự nghiệp lớn là tìm cách khôi phục nhà Trần vào thế kỷ XIII. Vì vậy, trong ngôi đền có đại tự đề Đại đức đô thành hoàng (Thành hoàng có đức độ lớn).
    Cổ Đô còn có đền thờ bà Công chúa Thiếu Hoa, con gái vua Hùng đời thứ 9 từ thành Phong Châu sang dạy cho dân làng nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa. Lụa Cổ Đô là một trong những sản vật tiến vua, đã đi vào kho tàng ca dao cổ:
    Lụa này thật lụa Cổ Đô
    Chính tông lụa cống, các cô ưa dùng
    Tiếc rằng, nghề truyền thống này đã mai một; địa phương đang có phương án khôi phục.
    Cổ Đô vẫn được dân trong vùng tôn vinh là đất học, có truyền thống khoa bảng từ đời này sang đời khác. Tiêu biểu là hai vị Thượng thư nổi tiếng thời Lê: Nguyễn Sư Mạnh, Nguyễn Bá Lân, hai ông tổ của hai dòng họ Nguyễn lớn nhất làng.
    Nguyễn Sư Mạnh đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức 15 (1484) đời Lê Thánh Tông. Được bổ làm quan, ông luôn tỏ ra là một ông quan thanh liêm, cương trực, được nhà vua tin cậy, phong cho chức Thượng thư Bộ Lễ, tước Sùng Tín hầu. Thời ấy, giữa hai nước Đại Việt và Trung Hoa có nhiều bất hoà. Nguyễn Sư Mạnh vốn là người biết nhiều, hiểu rộng, được vua Lê cử đi sứ Trung Quốc (năm 1500). Có nhiều giai thoại về chuyến đi sứ này, được đòng họ Nguyễn truyền.tụng và ghi vào tộc phả. Khi vào yết kiến vua Minh, không biết vô tình hay hữu ý, Nguyễn Sư Mạnh không cài khuy áo, đế hở cả bụng. Vua Minh giận dữ, cho là sứ thần nước Nam thất lễ, hạch tội khi quân, định trục xuất về nước. Nguyễn Sư Mạnh quỳ tâu rằng: ''''Vì đường sá xa xôi, bụng thần đầy chữ, nhiều ngày đi đường âm u, ẩm ướt, sợ khú mất chữ thánh hiền, thần xin được phanh áo ra hong, mong nhà vua đại xá''''. Nghe vậy, vua Minh vừa muốn thử tài, vừa muốn hại người nước Nam, ra chiếu: ''''Nếu sứ thần nước Nam là người hay chữ thì hãy giúp Thiên triều chép lại thiên Vi chính trong sách Luận mới bị thất lạc". Nguyễn Sự Mạnh nhận lời và hỏi lại: ''''Đại vương cần thiên Vi chính trong bao nhiêu ngày?''''. ''''Trong 30 ngày phải hoàn tất", vua Minh hạ lệnh và ra điều kiện cho sứ thần không được ra khỏi dinh thự trong 30 ngày chép lại thiên Vi chính. Vua Minh chắc mẩm sứ thần nước Nam không thể làm nổi việc đó, sai người theo dõi. Lạ quá, gần hết thời hạn quy định mà không thấy sứ thần làm gì, chỉ ngồi đánh cờ. Đến ngày thứ 25, vua Minh sai người nhắc nhở, Nguyễn Sư Mạnh trả lời: ?oNgày mai thần sẽ viết?. Đến ngày thứ 29, ông đã dâng thiên Vi chính cho vua Minh. Nhận sách, vua Minh khen sứ thần có trí nhớ tuyệt vời, sách chép lại y như bản chính, chỉ có chữ "công'''' thừa một dấu chấm. Vua Minh hạch tội, Nguyễn Sư Mạnh khảng khái nói: ''''Nếu thần viết thừa dấu chấm thì chắc chắn bản gốc của thượng quốc cũng thừa''''. Vua Minh cho đem bản gốc ra so sánh thì y như lời Nguyễn Sư Mạnh, chữ ''''công'''' cũng thừa dấu chấm thật. Phục tài, vua Minh không lý gì để làm hại sứ thần nước Nam, lại phong cho ông chức Thượng thư của Trung Quốc. Bốn chữ ''''Lưỡng quốc Thượng thư? được khắc tại từ đường họ Nguyễn Cổ Đô nhắc đến công lao của nhà ngoại giao đại tài Nguyễn Sư Mạnh.
    Từ đó, Nguyễn Sư Mạnh được nhà Lê tin dùng và được ban quốc tính họ Lê, được nhà vua gả cho công chúa, được phong chức Vinh Lộc Đại Phu, coi việc Viện Hàn lâm kiêm Đông Các Đại Học Sĩ. Tuy vậy ông vẫn sống giản dị, cửa nhà đơn sơ, tài sản không có gì đáng giá. Ông thọ 82 tuổi.
    Vị Thượng thư thứ hai, người của dòng họ Nguyễn thứ hai làng Cổ Đô, là một người không những nổi tiếng chốn quan trường, mà còn nổi tiếng về văn chương, thơ phú. Đó là Lục bộ Thượng thư Nguyễn Bá Lân, tác giả bài Ngã Ba Hạc phú nổi tiếng. Ông sinh ngày 27 tháng Giêng năm Canh Thìn (1700). Cha của Nguyễn Bá Lân là Nguyễn Công Hoàn, cũng là người nổi tiếng, được người đời liệt vào trong ''''Tràng An tứ hổ'''' (Bốn con hổ của đất Tràng An), gồm: Nhất Quỳnh, nhị Nham, Tam Hoàn, tứ Tuấn. Dù tài ba xuất chúng, nhưng con đường khoa cử của Nguyễn Công Hoàn thì lận đận. Năm Nguyễn Bá Lân 15 tuổi, ông Hoàn về dạy học ở quê để trực tiếp dạy con. Cha dạy con học nhưng đồng thời lại cùng nhau xướng hoạ văn chương. Nguyễn Bá Lân là một người ham mê đọc sách, nên kiến thức uyên bác, có tài ứng đáp, xuất khẩu thành chương.. . Có nhiều chuyện kể về xướng hoạ văn chương giữa hai cha con: Một hôm hai cha con qua đò, cha nhìn thấy đàn dê bên kia sông bèn ra bài phú Dịch đình dương xa phú (Bài phú xe dê cung cấm) và thách con: ''''Sang bên kia sông, nếu ta làm xong bài phú mà con chưa xong, ta sẽ ném con xuống sông, còn không thì ngược lại?. Không ngờ, Nguyễn Bá Lân làm song bài phú trước cha, còn cha mới xong một nửa, nhưng ông không dám ném cha xuống sông, liền bị cha đánh. Đó là bài phú nổi tiếng được người đời truyền tụng Nhất độ giang thành chương phú (Bài phú làm trên một chuyến đò qua sông).
    Năm 18 tuổi, Nguyễn Bá Lân đỗ giải nguyên tại kỳ thi Hương. 20 tuổi, ông thi đỗ tại kỳ thi Hội, và 31 tuổi ông đô Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân tại kỳ thi Đinh năm Tân Hợi (1731).
    Về tài thơ văn của Nguyễn Bá Lân, không ai không nhớ bài Ngã Ba Hạc phú, vì nó là bài phú Nôm có vai trò rất lớn đối với sự phát triển thể loại văn biền ngẫu bằng chữ Nôm. Cảm hứng chủ đạo của bài phú là tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước và yêu con người của tác giả. Tình yêu đó đã quyện vào ngọn bút của ông, bay vút lên thành hồn thơ lai láng.
    Tài thơ văn của ông không chỉ dừng ở bài Ngã Ba Hạc phú, điếm chói sáng nhất của sự nghiệp văn chương của ông, mà còn phải kể đến hàng chục bài phú chữ Hán trong các tuyển tập phú cố: Danh phú tập, Bát vận phú, Hoàng Lê Cát vận phú v.v...
    Điều đáng nói nữa về Nguyễn Bá Lân là hoạt động quan trường, là sự nghiệp trong suốt cuộc đời ông. Trong 50 năm ông có 17 lần thăng quan tiến chức với những trọng trách ngày càng nặng nề, phức tạp hõn trong thời Hậu Lê đầy biến động, đàng trong do nhà Nguyễn nắm quyền, đàng ngoài là vua Lê ?" chúa Trịnh. Năm 1732, ông giữ chức Tý Huấn, năm 1734: Hàn Lâm viện kiểm thảo, giám sát đạo Nam Sơn, Đề hình Giám sát (Ngự sử); năm 1737: Đốc đồng xứ Sơn Tây; năm 1740: Tòng Tham tụng, rồi Lưu thủ Hưng Hoá, Thống đốc Cao Bằng; năm 1756: Bồi tụng kiêm Tế Tửu Quốc Tử Giám; năm 1767 làm Thượng Thư Bộ Lễ rồi Thượng thư Bộ Hộ và cuối đồi là Thượng thư Bộ Công...
    Trong hoàn cảnh xã hội đầy nhiễu nhương, Nguyễn Bá Lân.vẫn giữ tư cách là một ông quan thanh liêm, cương trực, luôn giữ kỷ cương phép nước. Có một chuyện người đời nhớ mãi: Vào khoa thi năm Ất Mùi (1775), Trịnh Sâm đến giảng sách, bắt các quan trong triều phai mũ áo triều yết như vua Lê ra xem thi (Trịnh Sâm muốn bá quan phải coi mình như nhà vua). Là Thượng thư Bộ Lễ, ông phản đối kịch liệt, ông vẫn mặc thường phục và tâu rằng: ''''Các đấng liệt thánh tiên vương xưa nay vẫn giữ đạo tôn vua, truyền đời trải 200 năm, nay một sớm thay đổi sợ làm kinh hãi cho mọi người. Nguyễn Hoàn là Sư phó đại thần không biết uốn nắn cho chúa (chỉ Trịnh Sâm) đi vào đường chính, xin chém đầu để tạ thiên hạ''''. Trước thái độ quyết liệt và đúng đắn của ông, Trịnh Sâm buộc phải hồi loan, trong lòng đầy ấm ức.
    Hai vị Thượng thư, hai học giả nổi tiếng làng Cổ Đô là tấm gương cho bao đời con cháu noi theo, biến cái làng nhỏ bé ven sông Hồng này trở nên đất học, đất khoa cử, đất làm quan, đất văn thơ - nghệ thuật. Ở thời nào, Cổ Đô cũng có người đỗ đạt, dòng họ nào cũng có người làm quan. Sau Nguyễn Bá Lân, chỉ tính từ 1807-1818 có nhiều người đỗ cử nhân, như Phan Văn Hưng, Nguyễn Văn Ký, Nguyễn Duy Hành, Nguyễn Văn Quy, Nguyễn Văn Nhuận.. . trong 16 đời họ Nguyễn Sư Mạnh đã có 89 vi cử nhân và tú tài. Dưới chế độ mới, Cổ Đô vẫn tiếp tục nêu truyền thống đất học, có 285 người có trình độ đại học, gần 20 người trên đại học (tính đến năm 2000).
    Phát huy truyền thống vãn chương ?" nghê thuật, dưới chế độ mới làng Cổ Đô có một nét văn hoá ít có làng quê Việt Nam nào sánh kịp, đó là làng hoạ sĩ. Sau hoạ sĩ Sĩ Tốt khá nổi tiếng với những bức tranh được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia như Bố con, Tiếng đàn bầu cùng nhiều tranh khác được lưu giữ ở các Bảo tàng lớn ở Mỹ, Pháp, Đức, Thuỵ Điển... là gần hai chục hoạ sĩ thế hệ kế tiếp được đào tạo ở hai trường Đại học Mỹ thuật lớn của đất nước là trường Đại học Mỹ thuật Yết Kiêu và trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội. Đó là các hoạ sĩ Sĩ Tuấn, Sĩ Thiết, Sao Mai, Ngô Bình Thiểm, Giang Khích, Trần Hoà, Nguyễn Thạch, Nguyễn La Vuông, Quang Trung.. . Chính nhờ nét đẹp văn hoá đó mà người dân trong vùng đã ghép làng Cổ Đô thành làng lụa ?" làng thơ - làng hoạ sĩ, thật chẳng ngoa.
    Những nét đẹp văn hoá đó đã hun đúc cho người Cổ Đô một phẩm chất cao quý. Đó là phẩm chất yêu nước, yêu quê hương và truyền thống anh hùng chống giặc ngoại xâm. Phải là một người yêu nước, tự tôn dân tộc, Nguyễn Sư Mạnh mới hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một sứ thần nước Nam trước thói hách dịch, nước lớn của vua Minh. Nguyễn Bá Lân là một ông quan vặn võ song toàn, có công dẹp loạn ở trấn Sơn Tây, Cao Bằng. Khi giặc Pháp xâm lược Việt Nam, thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai, Đề đốc Trần Vàng, người của dòng họ Trần làng Cổ Đô đã lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp ở vùng Sơn Tây, Phú Thọ. Khi triều đình Huế ký hoà ước đầu hàng, giặc Pháp rải truyền đơn kêu gọi nghĩa quân đầu hàng, Đề đốc Trần Vàng động viên quân sĩ chiến đấu đến cùng, bằng lời lẽ đanh thép: ''''Triều đình hàng, chúng ta không chịu nỗi nhục đầu hàng!''''. Sau 6 năm chống giặc, do lực lượng chênh lệch, nghĩa quân Trần Vàng thất bại, ông bị giặc bắt nhưng không chịu quy phục chúng và bị chúng sát hại dã man. Truyền thống chống Pháp của nghĩa quân Trần Vàng lại hun đúc nên sự nghiệp anh hùng của người dân Cổ Đô trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Cổ Đô được Nhà nước phong tặng là Đơn vị Anh hùng LLVT- ND'''', với 1630 Huân chương các loại trao tặng cho tập thể và cá nhân, 15 bà mẹ được phong tặng Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, làng Cổ Đô được công nhận là Làng Văn hoá.
    Tháng 11-2002

  5. jachinh

    jachinh Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    12/12/2002
    Bài viết:
    928
    Đã được thích:
    0

    Làng Đường Lâm - Hà Tây: Đất hai vua

    Nói đến Đường Lâm là nói đến vùng đất của một cộng đồng dân cư gồm năm, sáu làng họp lại Không nên quan niệm Đường Lâm là một xã với sự phân chia hành chính hiện thời do các làng: Mông Phụ, Đông Sàng, Phụ Khang, Cam Lâm, Cam Thịnh, Đoài Giáp, Văn Miếu... làm nên. Bởi như thế khó có thể đánh giá một cách tổng quát về lịch sử - Văn hoá đã diễn ra trên mảnh đất này.
    Đường Lâm tên nôm gọi là Kẻ Mía, có lẽ tục danh này được bắt đầu từ một cái tên rất chữ nghĩa: Cam Giá (Mía ngọt)! Cam Giá xưa kia được chia ra thành hai ''''Tổng'''': Cam Giá Thượng và Cam Giá Hạ. Cam Giá Thượng là các xã thuộc miền Cam Thượng, Thanh Lũng, Bình Lũng.. .(Nay thuộc về huyện Ba Vì). Cam Giá Hạ là xã Đường Lâm (Nay thuộc thị xã Sơn Tây). Phải chăng đai đất hữu ngạn sông Hồng từ thời thượng cổ, khi chưa có hai bờ đê sừng sững chạy dài định vị dòng sông (Đê sông Hồng trở thành hệ thống có lẽ vào thời Lý), để mỗi khi vào mùa nước lại ào ạt đổ vê ngầu đỏ phủ sa, bồi đắp nên Tam giác châu thố đồng bằng Bắc Bộ mà sông Hồng là cái trục phân chia địa giới hành chính hai tỉnh rất rõ rệt: Vĩnh Phúc - Hà Tây. Dải đồng bằng hữu ngạn sông Hồng kéo dài từ những bậc thềm của núi Tản (Tản Viên Sơn - Núi Tổ) xoải mải về xuôi, tạo ra một miền phì nhiêu trù phú, một năm hai vụ bốn mùa rộn rã tiếng canh cửi tằm tang: Ngọt mãi đến tận bây giờ với một địa danh đã đi vào lịch sử bằng những kỳ tích như những huyền thoại.
    Đường Lâm là vùng bán Sơn địa, trên những quá đồi trung du thuộc làng Cam Lân, đến tận bây giờ vẫn còn lại những cái tên: Đồi Cấm, Nghẽn Sơn, Vũng Hùm... in đậm dấu tích một thời trai trẻ của ạnh em Phùng Hưng, Phùng Hãi.. . Truyền thuyết kể lại rằng: Thủa ấy trên đồi là rừng đại ngàn rậm rạp, dưới trằm giộc lau lách um tùm. Năm ấy cọp về, có một con cọp hung đữ đã bắt đi bao mạng người. Dân trong vùng sợ hãi không dám vào đồi kiếm củi hái chè. Đêm đêm cọp dữ còn mò cả vào làng rình bắt trâu bò lợn gà, khắp cả làng chưa nhọ mặt người đã vội vã về nhà, luồng lạch rấp kín, cổng ngõ văng chặt, xóm làng eo óc một nỗi sợ hãi rình rập bất cứ lúc nào. Có một trai làng cực kỳ khoẻ mạnh quyết tâm diệt hổ dữ trừ hoạ cho dân làng. Lựa một tháng cuối đông gió Bấc se sắt thối, khí lạnh trên đồi tràn về làm rờn rợn da người, chàng trai bện người nộm đem vào đồi đến bên mép nước cắm xuống, ba bốn đêm liền như thế... Đêm ấy như bao đêm khác, hổ dữ ra vũng nước duy nhất còn xót lại trong vùng, trước khi vục đầu uống hổ ta lấy tay tát đổ người nộm như mọi hôm thường vẫn thế. Nhưng nó đâu có ngờ hôm nay có một cánh tay rắn chắc đã túm chặt lây bờm nó và liên hồi giáng xuống những quả đấm nặng như búa tạ... Chàng trai thông minh dũng cảm, có sức khoẻ phi phàm đó chính là Phùng Hưng!
    Phùng Hưng sinh ra và lớn lên ở làng Cam Lân (xã Đường Lâm), nửa sau thế kỷ VIII, đất nước ta chịu ách đô hộ của nhà Tùy Đường cực kỳ hà khắc. Phùng Hưng đã cùng em là Phùng Hãi và Bồ Phá Cần chiêu tập binh sĩ cùng nhân dân phất cờ khởi.nghĩa. Từ quê hương ông đánh thành Tống Bình (Hà Nội), đập tan tành đạo quân xâm lược của Cao Chính Bình, dành lại quyền độc lập tự chủ (791- 802). Nhân dân tôn vinh ông là: Bố Cái Đại Vương!
    Nói đến Phùng Hưng không thể không nói đến một người còn ưu tú nữa đó là Ngô Quyền. Ngô Quyền là con trai Châu Mục Đường Lâm Ngô Mân (Ông chính là người làng Cam Lâm). Ngô Quyền sinh ra tướng mạo tuấn kiệt hơn người, sáng mắt như sao, sức địch muôn người. Thuở tráng niên đã từng ghì sừng hai con trâu đực đánh nhau làm cho chúng hoảng sợ mà buông nhau bỏ chạy. Lớn lên ông làm nha tướng cho Dương Diên Nghệ, trấn thủ châu Hoan, Châu Ái. Sau loạn Kiều Công Tiễn ông đã trấn yên nước nhà và tiến hành cuộc kháng chiến chống thù ngoài, trận đánh trên sông Bạch Đằng thể hiện sự thông minh tài trí thiên tài trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.
    Một nhân vật lỗi lạc nữa đã để lại mốc son chói lọi trong trang sử nước nhà là Thám Hoa Giang Văn Minh. Ông sinh năm Nhâm Ngọ (1582) ở làng Mông Phụ. Tháng 2 năm Mậu Thìn (1628), đời Lê Vĩnh Tộ ở nước ta ông dự khoa thi Hội, đỗ nhất giáp Tiến sĩ, cập đệ tam danh. (Có điều đáng lưu ý là khoa thi năm ấy không lấy Trạng Nguyên, Bảng nhãn). Năm Đinh Sửu (1637) ông được Triều đình cử làm chánh sứ, dẫn đầu một phái bộ sang Triều Minh. Sử cũ chép rằng: Trong khi hội kiến với vua nhà Minh, sứ thần Giang Văn Minh đã trổ tài thao lược, đối đáp với vua nhà Minh. Một lần vua Minh ra vế đối: ''''Đồng trụ chí kim đài dĩ lục" (Cột đồng trụ đến ray rêu đã phủ xanh) Giạng Văn Minh khảng khái đối lại rằng: ?oĐằng giang tự cổ huyết do hồng" (Sông Bạch Đằng từ xưa máu thù còn loang đỏ). Vua Minh nổi giận vì bị nhắc đến nỗi nhục thua trận, liền sai mổ bụng sứ thần Giang Văn Minh xem "gan to mật lớn" đến nhường nào! Giang Văn Minh chết, vua Minh tiếc một bậc tài danh, sai người ướp thủy ngân vào xác đưa về nước.
    Đường Lâm không chỉ là mảnh đất ?ođịa linh'''' sinh ''''nhật kiệt" tên tuổi họ đã gắn liền với trang sử hào hùng của dân tộc, mà Đường Lâm còn là một địa chỉ Văn hoá có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu tìm hiểu những "cộng đông cư dân nông nghiệp cổ". Theo một số nghiên cứu đánh giá gần đây của một số học giả thì làng Mông Phụ (thuộc xã Đường Lâm) là: Đại diện duy nhất về lúa nước châu Á còn xót lại! Đây là làng Việt cổ đá ong, đá ong ở đây được xây dựng với một quy mô rộng lớn và hoành tráng, nghệ thuật kiến trúc tinh xảo, tiêu biểu là đình làng Mông Phụ. Căn cứ vào niên đại xây dựng còn xác định được, đình Mông Phụ đã có cách đây 364 năm. Ngồi đình mang đậm dấu ấn của lối kiến trúc Việt - Mường (Đình có sàn gỗ), có thể nói đây là một bông hoa về nghệ thuật kiến trúc những nét tài hoa có một không hai ấy còn được lưu giữ trên những bức trạm cốn và đầu dư.. Tinh vi trong từng nhát đục, song cũng cực kỳ tinh tế trong quy hoạch tổng thể mang tính vĩ mô. Giai thoại kể rằng: Đình Mông phụ đặt trên đầu một con rồng mà giếng làng là hai mắt, sân đình đào thấp hơn so với mặt bằng xung quanh, có vẻ như là một nghịch lý so với kiến trúc hiện đại, song thực ra đó lại là một dụng ý của người xưa. Khi mưa xuống, nước từ ba phía ào ạt đổ vào (Nước chảy chỗ trũng), phải chăng đó là một khát vọng về một đời sống ấm no! Sau đó nước từ từ thoát ra theo hai cống nhỏ chạy dọc theo nách đình (Chống thủy lôi tâm), từ xa nhìn lại, trong mưa hai rãnh nước vẽ nên hai râu rồng vừa thật lại vừa ảo, quả thật là một ý tưởng hết sức lãng mạn của các kiến trúc sư cổ... Trước cửa đình là một cái sân rộng, sân này là nơi biểu diễn các trò khi làng vào đám (Hội làng). Không chỉ là như thế, sân này còn là một cái "ngã sáu" khổng lồ, xoè ra như những cánh hoa, rồi quy tụ mọi con đường trong làng về trung tâm. Có điều rất đặc biệt, từđình có thể đi đến bất cứ xóm nào trong làng cũng không ai phải trực liếp quay lưng lại với hướng đình. Thật là độc đáo!
    Vốn là mảnh đất giàu truyền thống, đến những năm đầu thế kỷ XX làng Mông Phụ lại sinh những người con ưu tú khác, đó là cụ Phan Kế Toại. Phan Kế Toại (1898-1973) là con tậi Tuần phủ Phan Kế Tiến. Lúc còn trẻ ông được cha cho đi du học tại Pháp ở Pháp ông được đưa vào đào tạo ở trường "Hành Chính" trong khi nguyện vọng ông muốn học luật. Tại đây, ông đã được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong những năm bôn ba hải ngoại, Nguyễn Ái Quốc đã khuyên ông nên học trựờng "Hành Chính", sau này có nhiều điều kiện giúp ích cho nước nhà... (Theo lời kể của Hoạ sĩ Phan Kế An). Học xong Phan Kế Toại về nước, ông được thăng nhậm từ "tri phủ" đến "Khâm sai đại thần"... Sau khi cách mạng Tháng Tám bùng nổ ông bỏ nhiệm sở về nhà, sống nhàn tản nhưmột người làng Mông Phụ. Nếu có ai hỏi ông chỉ cười mà rằng: "Lão giả an tri!" (Già rồi về nhà dưỡng lão). Sau đó ông nhận thý của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã lên Việt Bắc tham gia vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Tại chiến khu ông được chính phủ cử giữ chức: Bộ trưởng Bộ Nội vụ, chức năng của Bộ Nội vụ ngày ấy, rộng hơn bây giờ, nó bao gồm cả Bộ Công an trong quán lý lãnh đạo... ở cương vị của mình trong chính phủ kháng. chiến tại Việt Bắc ông đã có một phần đóng góp rất khoa học, quan trọng; nhiều nhân sĩ sống trong "thành" tấm tắc ngợi khen, và họ tham gia rất tích cực. "Hoà bình lập lại" (1954) ông cùng chính phủ về Hà Nội, và được Đảng, Nhà nước cử giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ!
    Sinh thời, cụ Phan Kế Toại rất quan tâm đến đời sống dân làng, chính cụ là người mang nghề làm nón, làm áo tơi lá về làng. Mông Phụ, mở lớp dạy ngay tại "từ đường" họ Phan. Rất tiếc trong làng có kẻ độc mồm bảo: "Cụ đi làm quạn với thíên hạ, lại đem cái nghề ăn mày về làng..." (Ãn mày nón lá áo tõi). Cùng thời điểm này, dân làng Phú Châu - Phủ Quảng Oai đã du.nhập nghề chằm nón vào, hiện nay trở thành nghề truyền thống của làng Phú Châu huyện Ba Vì. Không thành, cụ đem Cô-ta của nhà máy sợi Nam Định về cho làng dệt lấy công. Chiến tranh thế giới nổ ra, nhà máy sợi dưới "Nam" đóng cửa, hàng trăm khung sợi của làng gác trên sà nhà cho nhện xây tổ... Thế mới biết cụ là người luôn lo đên việc mở nghề cho dân.
    Trong thời kỳ hiện đại còn một người nữa phải kể đến là Bộ truởng Bộ Thủy lợi Hà Kế Tấn. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống rất nổi tiếng về nghề thợ mộc, ông nội được cả vùng trân trọng gọi là "cụ Mục'''' (Đầu Mục sứ- Người cai quản thợ của cả sứ Đoài). Lớn lên ông ra Hà Nội kiếm sống và được giác ngộ lý tưởng Cách mạng. Trong phong trào "dân chủ" (1936-1939) ông đã lập ra "ái hữu thợ mộc" ở Hà Nội, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ... Toàn quốc kháng chiến ông lên chiến khu, hoà bình lập lại ông được Đảng và Chính phủ cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Thủy lợi. Có thể nói Bộ trưởng Hà Kể Tấn là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho Công trình thuỷ đĩện Hoà Bình hôm nay... Cũng giống như cụ Phan Kế Toại, cụ Hà Kế Tấn cũng hết sức chăm lo đến đời sống dân làng Đường Lâm, cụ là người quy hoạch và xây dựng hệ thống thủy lợi của đồng đất Đường Lâm, vốn một vùng bán Sơn địa rất nhiều khó khăn trong canh tác đã bao đời nay... Suốt mấy chục năm qua (từ 1946), nhờ vào hệ thống tưới cấp I & II, đời sống người dân nơi đây cũng được cải thiện đáng kể, một phần không nhỏ phải kể đến cụ!
    Nói đến Đường Lâm còn rất nhiều tên tuổi phải kể đến, đó là cụ Phó Bảng Giá Sơn Kiều Oánh Mậu ở Đông Sàng, chính cụ là người hiệu đính Truyện Kiều, có thể nói nhờ vào bản "Kiều" này (cùng với hai bản Kiều Khác!à: Bản Kiều Kinh - Do Tự Đức biên soạn, và bản Kiều Phạm Quý Thích) là những tư liệu hết sức bổ ích cho việc hiệu đính và biên soạn Truyện Kiều sau này của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.
    Vào thế kỷ XVII, ở Đông Sàng còn có bà Ngô Thị Ngọc Dung (tức gọi là Bà Chúa Mia), bà là phi tần của chúa Trịnh Tráng. Chính bà là người hưng công xây dựng chùa Mía (Sùng Nghiêm tự), một trong những ngôi chùa đẹp của Sứ Đoài và cả nước. Bên cạnh đó chính bà là người "mở chợ, lập bến đò", chấn hưng lại nghề nấu kẹo trộn đường, cung cấp đường mật cho phố Hàng Đường Hà Nội...
    Trải năm tháng thời gian, gần đây nhất là hai cuộc kháng chiến cứu nước, nhân dân Đường Lâm luôn làm tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, trong đợt tuyên dương công trạng vừa qua, nhân dân xã Đường Lâm được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang...
    Đến Đường Lâm vào thăm làng Việt cổ đá ong, một mình mình nghe tiếng bước châm mình rộn lên trong từng ngõ nhỏ, chắc bạn cũng cảm thấy hình như có một điều kỳ diệu còn tiềm ẩn dưới lớp đá dày trầm mặc đã tích tụ tự bao đời. Ra khỏi cổng làng Mông Phụ (Chiếc cổng duy nhất còn xót lại) mấy chữ đại tự còn in đậm trong lòng: "Thế hữu hưng ngơi đại" (thời nào cũng có người tài giỏi). Phải chăng đó là lời động viên, nhắn nhủ của tiền nhân với chúng ta hôm nay.

  6. onggiachayratnhanh

    onggiachayratnhanh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    30/04/2004
    Bài viết:
    4.237
    Đã được thích:
    0
    Thế cho mình hỏi khu du lịch Đầm Long ( Hà Tây ) là ở đâu vậy ?
    Tuần sau lớp mình tổ chức đi theo trường nhưng mà hỏi ai trong lớp cũng không biết !
    Có đứa bạn nhà ở Thạch Thất ( Hà Tây ) , cũng nằm trên đường đi Khoang Xanh , Thác Đa vậy mà nó cũng mù tịt nốt !!!
    Help me !!
  7. onggiachayratnhanh

    onggiachayratnhanh Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    30/04/2004
    Bài viết:
    4.237
    Đã được thích:
    0
    Cuối cùng thì mình cũng đi Đầm Long rồi ! Thất vọng tràn trề ! Xe qua Thạch Thất rồi hướng vào Ao Vua ! Ao Vua và Đầm Long cạnh nhau ( tức là lối đi để rẽ vào ) Nhìn đường tới Ao Vua , chắc là đường dành cho vua : )) nhựa trải phẳng . Đường vào Đầm Long , đất gò ghề , cả đoàn xe nhảy múa liên tục ! Đến nơi , mỗi đoàn trường mình là du khách vinh dự ở đó ! Có 1 bể bơi , 1 quả đồi thoai thoải , và hay nhất đến phút chót là Đầm Long chỉ là 1 cái hồ bé xinh nhu hồ Văn Miếu ( Hà Nội ở giữa có tượng con rồng !! Tuyệt , cả nhóm mệt mà cũng nhếch mép cười .! Hỏi người dân ở đấy , khu này đi vào hoạt động được 2 năm rồi . Cũng có cả 1 khu đầm sen rộng nhưng sang thu rồi còn sen đâu mà ngắm !
    Bất ngờ kế tiếp , chân đứa bạn xoè trên rừng , rất cần Ơ gâu , hỏi mua 2 Ơ gâu cho chị xin 2.500 đồng ! Chị lễ tân tươi cười . Mình ngạc nhiên chưa , hỏi chị ơi , đắt gấp 5 lần so với giá thực ! Chị trả lời : " Giá ở đây nó thế em ạ ! " . Rốt cuộc chán quá ! Chụp được 3 tấm ảnh , cũng hay là lúc trèo lên đồi , có gấu , hươu , khỉ, công !
    Mong là khu du lịch này sớm phát triển hơn nữa !
  8. hangngoc3002

    hangngoc3002 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    10/09/2004
    Bài viết:
    16
    Đã được thích:
    0
    Cả nhà mình ơi box Hà Tây nói về du lịch không hấp dẫn gì cả
    Hà Tây mình nổi tiếng với những danh nam thắng cảnh mà nói như thế thì không hấp dẫn với những người muốn có những tours du lịch ở Hà Tây chút nào.
    em thích các anh các chị làm liveshow đi cho nhưng điểm du lịch nổi tiếng đó
  9. hangngoc3002

    hangngoc3002 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    10/09/2004
    Bài viết:
    16
    Đã được thích:
    0
    Mà em quên mất các anh chị ơi
    em chỉ thấy các anh chi nói về những điểm du lịch thôi còn văn hoá thì sao nhỉ em chưa thấy gì cả, và các danh nhân Hà Tây nữa em thấy cũng nhiều mà chẳng ai đả động đến cả. Em muốn tìm hiểu quá nhưng chẳng biết ở đâu cả anh chỉ nào có bài post nên cho em hoc hỏi với
    đời buồn như chiếc là mùa thu
  10. tuanno1

    tuanno1 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    29/10/2003
    Bài viết:
    3.227
    Đã được thích:
    0
    Quê tôi ở làng Vác chảng biết gì nhiều về nó chỉ biết là dân ở đấy buôn tre và làm một số đồ thủ công từ tre thôi. Nếu ai có thêm thông tin về quê tui thì cho biết với nhỉ, cảm ơn nhiều.

Chia sẻ trang này