Hiệp định genève 1954 và những nghi vấn của chúng ta

Chủ đề trong 'Lịch sử Văn hoá' bởi oke_vn, 06/08/2007.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. oke_vn

    oke_vn Thành viên quen thuộc

    Hiệp định genève 1954 và những nghi vấn của chúng ta

    Trong lịch sử cận đại VN. Hiệp định geneve 1954 là mốc son khẳng định chiến thắng của quân và dân ta, sau 9 năm kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên, đối với nhiều người thì Hiệp định này còn những điều khó hiểu. Topic này lập ra với hi vọng những tư liệu, những trích đoạn của bản hiệp định này sẽ làm sáng rõ những thắc mắc của những người hậu sinh chúng ta, về 1 giai đoạn lịch sử của nước nhà.
  2. oke_vn

    oke_vn Thành viên quen thuộc

    Đầu tiên, để mở hàng. Tôi xin nêu 1 trích đoạn trong hiệp định geneve. Để làm sáng rõ 1 vấn đề : Có phải Miền Bắc cưỡng chiếm miền nam. Như lời của 1 số kẻ chống cộng cực đoan hay không ?
    Đoạn dưới đây, là 1 trich đoạn từ bài viết của giáo sư vật lý việt kiều Trần Chung Ngọc :
    Hiệp Định Genève gồm hai phần: Phần ?oThỏa hiệp Ngưng Chiến Song Phương? giữa Pháp và ********* (Bilateral armistice agreement between France and the VietMinh) làm căn bản cho Phần ?oTuyên Ngôn Đa Phương Có Tính Cách Quyết Định? (The multilateral Final Declaration), đồng ký bởi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Lào, Cambodge, Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc, Nga Sô Viết, và Việt Nam Quốc Gia. Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ của Việt Nam Quốc Gia lên tiếng phản kháng, không đồng ý với nội dung bản Tuyên Ngôn, điều duy nhất ông ta có thể làm được, vì thực tế là chính quyền Bảo Đại do Pháp dựng lên và khi đó vẫn còn nằm dưới cái dù của Pháp, cho nên không có một tư cách quyết định chính trị nào trong Hội Nghị Genève. Phải 8 tháng sau Hiệp Định Genève, đến tháng 3/1955, dưới áp lực của Mỹ, Pháp mới hoàn toàn trao trả độc lập cho Nam Việt Nam, để Mỹ vào thay thế, và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam mới có cơ hội đốt lon của Pháp để đeo lon theo kiểu Mỹ.
    Phần ?oThỏa Hiệp...?, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Tướng Pháp Henri Delteil, Quyền Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương, và ông Tạ Quang Bửu, Thứ Trưởng Quốc Phòng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Có vài điều khoản chính như sau:
    Điều khoản 1 (Article 1) nói về sự thiết lập ?omột đường ranh giới quân sự tạm thời? (A provisional military demarcation line) [Vĩ tuyến 17] để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc, và lực lượng Liên Hiệp Pháp (French Union) [trong đó có quân đội quốc gia nằm dưới cái dù của Pháp] ở phía Nam làn ranh giới.
    Điều khoản 8 ấn định quyền kiểm soát hành chánh ở phía Bắc Vĩ Tuyến 17 thuộc ********* và ở phía Nam thuộc Pháp (Civil administration in the regroupment zone to the North of the 17th parallel was to be in the hands of the Vietminh, and the area to the South of the parallel was to be in the hands of the French)
    Điều khoản 14, đoạn (a) [Article 14, Paragraph (a)] viết rõ: ?oTrong khi chờ đợi cuộc Tổng Tuyển Cử để Thống Nhất Việt Nam, quyền hành chánh dân sự trong mỗi vùng rút quân nằm trong tay các phe có quân đội rút quân (nghĩa là Pháp và *********) theo tinh thần của bản Thỏa Hiệp.? (Pending the general elections which will bring about the Unification of Vietnam, the conduct of civil administration in each regrouping zone shall be in the hands of the party whose forces are to be regrouped there in virtue of the present Agreement).
    Điều khoản 14, đoạn (c) viết: ?oMỗi phe sẽ tự kiềm chế để không có bất cứ hành động trả thù hay kỳ thị nào đối với những cá nhân hay tổ chức vì những hoạt động trong khi có cuộc tranh chấp quân sự, và phải bảo đảm quyền tự do dân chủ của họ.? (Each party undertakes to refrain from any reprisals or discrimination against persons or organizations on account of their activities during the hostilities and to guarantee their democratic liberties) [Có ai còn nhớ đến chiến dịch Tố Cộng của Ngô Đình Diệm không? Chiến dịch này có vi phạm điều khoản trên không?]
    Bản ?oTuyên Ngôn...? gồm 13 đoạn, liên quan đến cả Cambod và Lào, có một đoạn đáng để ý:
    Đoạn (6) [Paragraph (6)] nguyên văn như sau:
    ?oHội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI . Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam?
    (The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that THE MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY. The Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the present Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities creates the necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in Vietnam.)
    Chỉ cần đọc vài đoạn trong bản Thỏa Hiệp cũng như bản Tuyên Ngôn, không cần phải diễn giải lôi thôi làm gì, chúng ta có thể thấy ngay là không làm gì có chuyện chia nước Việt Nam thành hai miền độc lập về chính trị và quân sự. Huyền thoại về một miền Nam độc lập như một quốc gia riêng biệt chỉ là sản phẩm do Mỹ tạo ra về sau, tuy trong bản Tuyên Ngôn Đơn Phương (Unilateral Declaration) của Mỹ về Hội Nghị Genève, Mỹ không bao giờ nói đến ?oNam? hay ?oBắc? mà chỉ nói đến một nước Việt Nam (Kahin & Lewis: Nowhere in its unilateral declaration did the US speak of a ?oSouth? or ?oNorth? Vietnam. Every reference of the American representative was to a SINGLE VIETNAM.).
    Như chúng ta đã biết, cuộc Tổng Tuyển Cử để thống nhất đất nước không được miền Nam thi hành dù miền Bắc đã nhiều lần thúc giục. Có hai luận cứ để bào chữa cho chính quyền Ngô Đình Diệm từ chối không thi hành Thỏa Hiệp Genève cũng như không chịu tổ chức Tổng Tuyển Cử là Chính Quyền Diệm không ký vào bản Thỏa Hiệp và dưới chế độ Cộng Sản không có bầu cử tự do. Vào năm 1956 ở miền Nam, hai luận cứ trên nghe có vẻ có tính cách thuyết phục và hợp lý. Nhưng ngày nay, khi nghiên cứu lịch sử, chúng ta thấy rằng cả hai hai luận cứ này đều không có cơ sở chính đáng, chẳng qua chỉ là chính sách ?ocường quyền thắng công lý? của Mỹ cộng với chủ trương Chống Cộng Cho Chúa của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bảo rằng Diệm không ký vào Hiệp Định Genève nên Hiệp Định vô giá trị cũng như Luật sư Trần Thanh Hiệp nói rằng Nguyễn Văn Lý không tuân phục luật pháp Việt Nam nên luật pháp Việt Nam vô giá trị.
    Nhưng vấn đề chính là, thứ nhất, trong Hiệp Định có điều khoản qui định rằng Pháp là phe phải tôn trọng Hiệp Định Genève và những chính quyền nối tiếp Pháp trước cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956 đều phải có bổn phận thi hành những điều khoản đã được ký kết giữa Pháp và ********* [Kahin & Lewis: The Vietminh?Ts interests were further safeguarded by the provision that any administration succeeding the French prior to the 1956 elections would legally assume France?Ts obligations and be ?oresponsible for ensuring the observance and enforcement of the terms and provisions? of the agreements entered between the Vietminh and France.)
    Thứ nhì, ********* có cần phải tổ chức bầu cử không tự do vào thời đó không, khi mà chiến thắng Điện Biên Phủ và tiếng tăm của Hồ Chí Minh đã vang rền trên thế giới? Lý do chính để Mỹ và Diệm phá cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956 là, chính Tổng Thống Hoa Kỳ Eisenhower và báo chí Mỹ, tờ Time ngày 22/11/1954, và tờ Look ngày 25/1/1955, đã ước tính là trong cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do (Free Elections) vào năm 1956 thì ông Hồ Chí Minh sẽ được ít nhất là 80% số phiếu trên toàn quốc. Mỹ muốn ngăn chận Cộng Sản vì cái thuyết Domino sai lầm của mình nên không muốn có Tổng Tuyển Cử mà kết quả chắc chắn là Cộng Sản sẽ thắng trên toàn quốc. Mặt khác, các cuộc bầu cử dưới chế độ Ngô Đình Diệm có tự do và không gian lận hay không? Vì vậy Giáo sư Mortimer T. Cohen đã châm biếm trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam , xuất bản năm 1979, trang 227 và 251, như sau:
    ?oNhưng Eisenhower biết rằng trong một cuộc bầu cử tự do, 80% dân chúng sẽ bầu cho Hồ Chí Minh thay vì Bảo Đại. Diệm có khá gì hơn Bảo Đại không? Làm sao mà khá hơn? Không một người nào ở Việt Nam có thể thắng Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng Tuyển Cử tự do. Ông ta là George Washington của nước Việt Nam. Giáo sư Brown gọi ông ta là một kẻ ?ophản bội?, nhưng trong 15 năm, từ 1954 đến khi ông ta chết vào tháng 9/1969, cái tên phản bội này sẽ thắng bất cứ ứng cử viên nào khác. Các ông không thể đánh bại một người có tên tuổi bằng một người không tên tuổi...
    Nhiều sử gia lý luận như các luật sư ?" hay giáo sư đại học - nhấn mạnh là: vì Việt Nam Cộng Hòa không ký Hiệp Định Genève cho nên không có bổn phận phải hợp tác trong việc tổ chức bầu cử để thống nhất đất nước. Điều này giống như là một tên hiếp dâm bảo nạn nhân là cô ta đã làm hư hại xe của hắn. Chuyện làm hư hại xe chẳng liên hệ gì đến chuyện hiếp dâm. Lý do mà hắn hãm hiếp là vì hắn muốn ********. Lý do Diệm không muốn có cuộc Tổng Tuyển Cử là vì ông ta nghĩ rằng mình sẽ thua...?
    (But Eisenhower knew then that 80 percent of the people in a free election would vote for Ho Chi Minh over Bao Dai. Would Diem do any better than Bao Dai? Why should he? No one in Vietnam could beat Ho Chi Minh in an open election. He was the George Washington of the nation. Professor Brown calls him a ?otraitor?, but for fifteen years, from 1954 to his death in September of 1969, this traitor would have easily won over any other candidate. You can?Tt beat somebody with nobody...
    Several historians, arguing like lawyers ?" or professors ?" insist that because the Republic of Vietnam had not signed the Geneva Accord, it was not obligated to cooperate in holding elections for unification. It?Ts like a rapist telling the victim she damaged his car. This had nothing to do with it. The reason he does what he does is he wants to copulate. The reason Diem did not hold unification elections was that he thought he?Td lose them...)

    Qua phần phân tích những tài liệu ở trên, chúng ta thấy rằng: 1) Hiệp Định Genève không chia đôi đất nước thành hai miền độc lập về chính trị và đất đai; và 2) Mỹ và Diệm đã cố ý không thi hành điều khoản Tổng Tuyển Cử để thống nhất đất nước. Trước tình hình như vậy, Bắc Việt không còn con đường nào khác là phải tiếp nối sự nghiệp thống nhất đất nước. Nhưng những tài liệu viết bởi chính người Mỹ cho biết, dù miền Nam từ chối không thi hành Tổng Tuyển Cử, Bắc Việt vẫn hi vọng đi đến một giải pháp chính trị, hòa bình để thống nhất đất nước..
    Giải pháp quân sự của Bắc Việt chỉ là chuyện bất đắc dĩ trước sự can thiệp sâu đậm của Mỹ có tính cách xâm lăng vào Việt Nam. Và đây chỉ là, như trên đã nói, tiếp nối sự nghiệp chống xâm lăng và thống nhất đất nước. Khi xưa, chúng ta ở miền Nam tin tưởng rằng Mỹ giúp miền Nam vì lý tưởng tự do dân chủ, cũng như ngày nay, nhiều người tin rằng ông Bush xâm chiếm Iraq [người Mỹ gọi là ?oinvasion and occupation?] cũng là để cho tự do dân chủ. Không có gì là xa sự thực hơn
    .
    Không phải là sau Hiệp định Genève Mỹ mới can thiệp vào Việt Nam mà Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam từ trước đã lâu. Mỹ đã đồng lõa với thực dân Pháp trong mưu toan tái lập nền đô hộ của Pháp trên dân Việt Nam. Những người thực sự tin rằng Mỹ là ?ođồng minh? của Nam Việt Nam, muốn giúp dân Việt Nam để chống lại Cộng Sản, để cho dân Việt Nam, hay ít ra là dân miền Nam, được tự do dân chủ, nên nhớ kỹ rằng chính Mỹ đã đài thọ hơn 80% chiến phí cho Pháp trong cuộc chiến tiền-Genève, từ 1945 đến 1954, để Pháp tái lập nền đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam, đưa Việt Nam trở lại vòng nô lệ Pháp, trong khi Mỹ đã biết rõ chế độ thực dân Pháp đối với dân Việt Nam là như thế nào? Lịch sử Việt Nam sẽ lên án hành động đế quốc thực dân này. Nếu chúng ta coi Pháp là quân xâm lăng thì Mỹ cũng là kẻ xâm lăng không kém. Chỉ sau khi Pháp thất trận Mỹ mới đưa ra chiêu bài giúp Việt Nam, bảo vệ nền tự do (sic) của Nam Việt Nam trong khi, như chúng ta đã biết, theo Hiệp Định Genève, Nam Việt Nam không phải là một quốc gia độc lập mà chỉ là một vùng rút quân của Pháp và những lực lượng quân sự dưới quyền Pháp, trong đó có lực lượng quốc gia, chờ ngày Tổng Tuyển Cử trên toàn thể đất nước vào năm 1956. Cuộc kháng chiến chống Pháp đã chứng tỏ lòng người dân Việt muốn gì. Và đây là quyền tự quyết của Việt Nam mà Mỹ đã hứa là sẽ không can thiệp trong một bản tuyên ngôn đơn phương (unilateral declaration) sau khi Hiệp Định Genève được ký kết.
    Thật vậy, Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, Walter Bedell Smith xác định trong bản Tuyên Ngôn tại Washington D.C. về Hiệp Định Genève và cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956 để thống nhất đất nước như sau:
    ?oTrong trường hợp những quốc gia nay bị chia đôi ngoài ý muốn, chúng ta sẽ tiếp tục tìm kiếm giải pháp thống nhất qua bầu cử tự do, giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm là bầu cử được thi hành nghiêm chỉnh? và ?oHoa Kỳ sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp?

    (In the case of nations divided against their will, we shall continue to seek to achieve unity through free elections, supervised by the United Nations to ensure that they are conducted fairly... The US will refrain from the threat or the use of force to disturb them)


    Giải phóng Điện Biên, bộ đội ta kéo quân trở về....
  3. maseo

    maseo GDQP - KTQSNN Moderator

    Khà khà, các chủ đề trên box này cứ 01 năm lại quay lại 1 lần:
    http://www9.ttvnol.com/f_533/811624.ttvn
    Sao nhiều chú cứ coi Sử huyết đài như f_69 ấy nhể :D
    Chào thân ái và quyết thắng!
  4. oke_vn

    oke_vn Thành viên quen thuộc

    Topic này, cần làm rõ vấn đề hiệp định cụ thể nó như thế nào, hơn là những lời bình loạn
    geneve là 1 hiệp định, Vì vậy chúng ta không thể bình luận khi mà chúng ta, chưa biết rõ về nó. Nghe thông tin từ mồm người khác, chi bằng chúng ta hãy tự tìm hiểu, để có câu trả lời cho riêng mình.
    Bạn nào có thêm những tài liệu rõ ràng về geneve 1954, có thể post để cho mọi người hiểu rõ hơn sự thật lịch sử.
  5. maseo

    maseo GDQP - KTQSNN Moderator

    Đấy là bác chưa biết rõ chứ ko phải người khác, toàn bộ Hiệp định gồm những gì bác có thể xem trong bài của Thainhi_vn và Altus ở ngay trang đầu link topic dẫn trên. Phần liên quan đến VN cũng đã được Thainhi_vn dẫn link. Trong link đó bác có thể tìm thấy cả toàn văn Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định. Trừ phi bác muốn tìm hiểu hộ người Lào, người Kam luôn thể hoặc ko đọc được tiếng Anh thì móc cái topic cũ ấy lên mà hỏi. Nó có phải là topic bình loạn hay ko thì nói chung là bác cứ đọc đi đã rồi phát ngôn gì thoải mái.
    Chào thân ái và quyết thắng!
  6. oke_vn

    oke_vn Thành viên quen thuộc

    Bài của nhà sử học, đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc :
    Tư tưởng coi thường giá trị Hiệp định Geneve là sai lầm
    Sau 50 năm nhìn lại
    Chỉ một ngày sau khi Hiệp định Geneve được ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời kêu gọi, mở đầu bằng một câu khẳng định: "Hội nghị Geneve đã kết thúc: Ngoại giao ta đã thắng lợi to" (22/7/1954).
    50 năm sau, trải qua một chặng đường dài đầy gian khổ, hy sinh, từ những kinh nghiệm và bản lĩnh của một dân tộc từng trải và trưởng thành, chúng ta nhìn lại những diễn biến của Hội nghị và nội dung bản hiệp định này với nhiều suy nghĩ khác nhau. Trong những suy nghĩ ấy, có cả ý kiến đặt dấu hỏi: Hiệp định Geneve có thực là một thắng lợi ngoại giao to lớn hay chỉ là kết quả của một sự thỏa hiệp giữa các nước lớn trên lợi ích của nhân dân Việt Nam?
    Liệu chúng ta có thể đạt được một lợi thế xứng đáng hơn trên bàn Hội nghị so với những gì chúng ta đã đạt được trên chiến trường sau 9 năm kháng chiến anh dũng và kiên cường. Và người ta có thể cụ thể hóa nỗi băn khoăn đó bằng việc xem xét đến vị trí của đường giới tuyến tạm thời, có thể mở rộng một không gian lãnh thổ có lợi hơn nhờ sự xê dịch vĩ độ được lựa chọn (lúc đầu là 13, 14, sau đó là 16, 17 hay 18?); rồi vấn đề thời gian tiến tới tổng tuyển cử là nửa năm hay 1 hoặc 2 năm?... Một số tài liệu khảo cứu hay các hồi ức đưa ra thêm nhiều chi tiết: có sức ép của các nước lớn đối với ta khi thỏa thuận những điều khoản chi tiết, có sự gợi ý chia cắt lâu dài, có tiếp xúc hay tranh thủ các thế lực đối lập với ta (người của Bảo Đại thân Pháp hay Ngô Đình Diệm thân Mỹ)...
    Những cách suy nghĩ ấy đều dựa trên những tình tiết có thực, nhưng cần phải nhấn thêm rằng, nó được nung nấu trong một thực tiễn nhiều thập kỷ sau sự kiện ở Geneve, khi chúng ta đã có một sưu tập những bài học sâu sắc hơn rút ra từ 20 năm đất nước bị chia cắt; từ cuộc kháng chiến gian khổ chống Mỹ can thiệp và xâm lược; từ thực tiễn "vừa đánh vừa đàm" tiến tới Hiệp định Paris 1973; từ những cuộc bắt tay giữa các nước lớn nhằm kìm hãm mục tiêu của nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ và thống nhất đất nước; từ cuộc chiến tranh biên giới với những người đồng minh cũ và từ ngót 15 năm cấm vận và thù địch đến từ cả hai phía: những kẻ thù và những người đồng minh; rồi cả kinh nghiệm gắn liền với công cuộc Đổi mới; bình thường hóa quan hệ và hội nhập với thế giới đa phương...
    Mục tiêu chung: Hòa bình
    Ngày nay khó có thể nói rằng vào thời điểm 1954 ta có thể tự lực đạt được mục tiêu trọn vẹn hoặc đủ sức tiếp tục cuộc chiến tranh giải phóng mà không cần có sự viện trợ của bên ngoài, cũng như khả năng can thiệp của Mỹ, một khi Anh và Pháp vì quyền lợi của mình bật đèn xanh để Mỹ tự do hành động.
    Điều mà chúng ta đạt được sau Hiệp định Paris 1973 để tự định đoạt mục tiêu toàn thắng của mình vào năm 1975, bất chấp cản lực của những nước lớn, điều chưa có được ở thời điểm năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên phủ. Bởi vậy, quan điểm cho rằng ta xứng đáng có được những điều khoản có lợi hơn những gì đã thoả thuận ở Geneve là không sai, nhưng nếu nhìn nhận Hiệp định ấy trong toàn cục của thế giới vào thời điểm cuộc chiến tranh ở Đông Dương cũng như mọi cuộc xung đột khác lúc này đã bị cuốn vào xu thế quốc tế hoá thì phải thừa nhận rằng đó là một thắng lợi lớn, phản ánh đúng tương quan giữa các bên có liên quan.
    Nên lưu ý rằng, ngay trước Hội nghị Geneve về Đông Dương là Hội nghị Geneve về Triều Tiên. Cũng giống như Hội nghị tứ cường ở Berlin (tháng Giêng 1954), Hội nghị này đã diễn ra nhằm cố đạt được sự thoả hiệp giữa các nước lớn khi sự căng thẳng đã tới đỉnh điểm vào đầu thập kỷ 50 khiến mọi bên đều bắt đầu một xu thế hoà hoãn. Sau Berlin là Triều Tiên, tiếp đó là Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Phong trào hoà bình thế giới với sự ra đời của hình tượng con chim hoà bình của Pablo Picasso phản ảnh xu thế chung của nhân loại mà chúng ta không thể đứng ngoài...
    Do vậy, những ai lập luận rằng vào thời điểm sau chiến thắng vĩ đại Điện Biên phủ, nếu chúng ta đánh dấn thêm và không ai bị ngáng trở thì có thể giành được những thắng lợi quyết định trên toàn cục mà không phải trả giá cho 20 năm tiếp theo... là không tưởng và có phần siêu hình khi không tính đến Việt Nam lúc này đã là một quân cờ trên bàn cờ quan hệ quốc tế, mà người cầm quân chơi chính lại là các nước lớn, lúc này có thêm CHND Trung Hoa mới nhập cuộc sẵn sàng "fair play" với các cường quốc khác.
    Cuộc đình chiến ở Đông Dương vào thời điểm 1954 là phản ánh đúng tương quan và mong muốn của các bên tham chiến (trực tiếp và đồng minh), trong đó có cả chúng ta. Sự thất vọng của các phái đoàn gắn quyền lợi với nước Pháp thực dân và đặc biệt là thái độ không tôn trọng Hiệp dịnh Geneve của Mỹ cho thấy thành công của Hội nghị nhìn từ phía chúng ta và các đồng minh. Hai chữ "Hoà Bình" sau 1954 luôn xuất hiện trong các văn kiện, lời nói của lãnh tụ; trong các đề tài văn học nghệ thuật của các nghệ sĩ; và lá cờ in hình con chim hoà bình đang sải cánh trên nền trời xanh trở nên rất quen thuộc và xuất hiện ở khắp nơi.
    Trong sử học, có một đề tài quan trọng là nghiên cứu sự hình thành tư tưởng bạo lực cách mạng giải phóng miền Nam (GPMN). Đề cương cách mạng miền Nam và nghị quyết 15 từng được coi như những văn kiện làm nền tảng chỉ đạo cho công cuộc vũ trang GPMN vào cuối thập kỷ 1950. Điều đó chứng tỏ rằng, sau mấy năm đấu tranh thi hành Hiệp định Geneve, chúng ta đã không còn ảo tưởng nhiều vào con đường hoà bình thống nhất đất nước mà đã nhận thấy sớm muộn gì cũng phải dùng đường lối bạo lực cách mạng để GPMN. Tuy vậy, những văn kiện này cũng như những nguồn sử liệu khác của thời kỳ sau Geneve đã cho chúng ta thấy rằng tư tưởng chủ đạo của các nhà lãnh đạo cho đến trước thập kỷ 60 vẫn tin vào khả năng tranh thủ hoà bình, đấu tranh thực hiện điều khoản tổng tuyển cử giữa hai miền. Có một thực tế lúc đó là tất cả mọi phía đều tin rằng, một cuộc tổng tuyển cử như vậy sẽ dẫn đến một sự toàn thắng của Chính phủ Hồ Chí Minh.
    Ngay từ trong báo cáo của Hội nghị Trung ương lần thứ 6, diễn ra trước khi Hiệp định Geneve được ký kết (15/7/1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: "Trước kia khẩu hiệu của ta là kháng chiến đến cùng, nay vì tình hình mới, ta cần nêu khẩu hiệu mới là hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ"... "ta phải nắm vững lá cờ hoà bình", "tranh thủ và củng cố hoà bình trở thành một nhiệm vụ hàng đầu". Nghị quyết của Hội nghị 6 còn nhấn mạnh rằng, chủ trương hoà bình cũng chính là phá tan âm mưu chiến tranh của đế quốc Mỹ... Và cho đến Nghị quyết 15 (tháng Giêng 1959), gần 3 năm sau thời hạn cuộc tổng tuyển cử không thực hiện được như Hiệp định Geneve quy định, trong văn kiện quan trọng này, Đảng vẫn xác định: "Chúng ta chủ trương tích cực tranh thủ giải quyết vấn đề thống nhất nước nhà bằng con đường hoà bình... cần thấy rằng cách mạng ở miền Nam vẫn có khả năng hoà bình phát triển... khả năng đó hiện nay rất ít, song Đảng ta không gạt bỏ khả năng đó, mà cần tranh thủ khả năng đó".
    Về Hiệp định Geneve, Nghị quyết xác định thái độ rõ ràng "Những tư tưởng ỷ lại vào Hiệp định Geneve, hoặc coi thường giá trị pháp lý của Hiệp định Geneve đều là sai lầm".
    Giá trị pháp lý của Hiệp định Geneve - cột mốc quan trọng trên tiến trình thống nhất đất nước
    Giá trị pháp lý của Hiệp nghị Geneve trước hết là một cam kết quốc tế đầu tiên có liên quan đến Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Nhìn nhận lại lịch sử mối giao bang quốc tế, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, cho đến trước khi nước ta bị thực dân xâm lược và trở thành thuộc địa của đế quốc Pháp (cuối thế kỷ XIX), Việt Nam (Đại Việt, Đại Nam) chỉ có những mối quan hệ bang giao song phương mà chủ yếu là đối với Trung Hoa, với hai thuộc tính căn bản là tự chủ và thần phục, ngay cả khi thế nước đang mạnh.
    Cuối thế kỷ XIX, sau Hiệp ước 1883 ký kết giữa triều đình Việt Nam với Pháp và sau khi Liên bang Đông Dương được thiết lập (1897) thì nước Pháp trở thành pháp nhân đại diện cho "lợi ích lãnh thổ Việt Nam" trong các cam kết quốc tế.
    Trong công cuộc đấu tranh GPDT, các lực lượng chính trị chống Pháp cũng đi tìm những mối quan hệ song phương để tìm nguồn lực thực hiện mục tiêu của mình (ví như Quang Phục hội có những liên hệ với nước Đức thế lực đối địch với Pháp trong Đại chiến I, như các chiến sĩ Đông Du sang cầu viện nước Nhật...). Và tổ chức yêu nước đầu tiên muốn tìm những cam kết quốc tế cho lợi ích của dân tộc VN lại chính là "Nhóm người VN yêu nước tại Pháp" đứng tên Nguyễn Ái Quốc trong bản Yêu sách của nhân dân VN (Revendicatión du Peuple Annamite) gửi Hoà hội Versailles 1919. Văn bản này được trực tiếp gửi cho các đoàn đại diện chính phủ thành viên của hoà hội, đặc biệt là Đoàn Hoa kỳ do Tổng thống Wilson, người đưa ra chủ thuyết về một trật tự thế giới sau Đại chiến I của nước thắng trận. Tìm một cam kết quốc tế đầu tiên cho những lợi ích căn bản của nhân dân VN phù hợp với những tiêu chí mang tính pháp lý của xã hội hiện đại là nét đặc sắc của văn kiện lịch sử này.
  7. oke_vn

    oke_vn Thành viên quen thuộc

    .....tiếp theo :
    Hoạt động ngoại giao tiếp theo mang ý nghĩa gắn kết lợi ích của dân tộc (đúng hơn là sự nghiệp giải phóng dân tộc) VN với những cam kết mang tính chất quốc tế là những thoả thuận không thành văn nhưng bằng hành động thực tế giữa Hồ Chí Minh, lãnh tụ của tổ chức Mặt trận *********, với tướng C. Chennault, người đứng đầu lực lượng quân đội Hoa Kỳ tại khu vực Đồng Nam Á, cũng là đại diện cho Đồng minh ở khu vực này.
    Ý nghĩa và giá trị của những cam kết (không thành văn bản) này không chỉ là những phối hợp hành động có hiệu quả hạn chế (thành lập Đại đội Việt - Mỹ, hỗ trợ vũ khí, thông tin liên lạc...) mà quan trọng hơn là sự khẳng định của phía VN và sự xác nhận cam kết của Mỹ rằng cách mạng giải phóng dân tộc của VN mà người đại diện ********* đang đứng trong hàng ngũ các quốc gia và lực lượng Đồng minh chống chủ nghĩa phát xít. Đó chính là cơ sở pháp lý mang tầm vóc quốc tế đối với cách mạng VN và với Nhà nước độc lập VN DCCH ra đời sau Cách mạng tháng Tám 1945.
    Trong Tuyên ngôn Độc lập cũng như trong các văn kiện đối ngoại của Nhà nước VN độc lập đều luôn xác định vị thế này. Nói cho sòng phẳng, chính sự hợp tác ngắn ngủi nhưng rất có ý nghĩa này giữa Hồ Chí Minh - ********* với Hoa kỳ - Đồng minh đã tạo ra lợi thế vô cùng quan trọng giúp chúng ta vượt được nhiều khó khăn trong buổi đầu thiết lập Nhà nước VN hiện đại. Trong những nỗ lực ngoại giao thời điểm sau khi giành độc lập, đặc biệt là nhằm tranh thủ những quan hệ tích cực với Mỹ và hướng tới sự công nhận của LHQ vừa mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn tìm kiếm được những cam kết quốc tế đầu tiên thừa nhận không chỉ nền độc lập dân tộc mà gắn với nó là chủ quyền lãnh thổ và thống nhất quốc gia.
    Đó là một mục tiêu vô cùng quan trọng đảm bảo sự bền vững của nền độc lập quốc gia, được xác lập sau ngót một thế kỷ là thuộc địa bị chia cắt của đế quốc Pháp và trong trường kỳ lịch sử phải gắn nền tự chủ của mình với sự bảo hộ (dù trên danh nghĩa) của quốc gia phương Bắc. Nhưng đó cũng là một mục tiêu đầy khó khăn mà lực cản chính là do tình hình thế giới sau cuộc đại chiến: lợi ích thực dân trỗi dậy và sự phân cực của một thế giới chiến tranh lạnh. Nước Pháp Tự do vẫn chưa dứt bỏ được tâm lý và lợi ích thực dân; nước Mỹ từng giương cao lý tưởng chống thực dân khi đó lại vì lợi ích và tham vọng bá chủ toàn cầu và chủ nghĩa chống cộng mà thoả hiệp đi đến tập nhiễm chủ nghĩa thực dân và quay lưng lại với lợi ích nhiều dân tộc, trong đó có nước VN Độc lập.
    Chính cái nghịch lý của lịch sử ấy đã làm cho những nỗ lực của Hồ Chí Minh bằng con đường ngoại giao đã đạt tới những cam kết quốc tế (song phương và đa phương) nhằm đảm bảo cho nền độc lập dân tộc và thống nhất. Những nỗ lực thể hiện tại bàn hội nghị ở Đà Lạt rồi Fontainebleau; những cuộc vận động cá nhân (với Sainteny ở Hà Nội hay với M.Moutet tại Paris) với những nhượng bộ rất lớn trong việc chọn các hình thức quan hệ Việt - Pháp (từ một khái niệm nước VN độc lập đến một "nước VN tự do trong Liên hiệp Pháp" cuối cùng cũng bất thành khi vấp vào một vấn đề cốt tử mang tính nguyên tắc là sự toàn vẹn lãnh thổ của một nước VN thống nhất. "Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi".
    Chính vì cái chân lý "Nam Bộ là máu của máu VN, là thịt của thịt VN" mà nguyên lý không thể chia sẻ chủ quyền lãnh thổ của dân tộc VN và lợi ích thực dân thiển cận của nước Pháp đã không đối thoại để dẫn đến cuộc chiến tranh bùng nổ kéo dài và kết thúc bằng Hiệp định Geneve 1954. Sau này, Tổng thống Charle de Gaulle là người có trách nhiệm với chính trường nước Pháp năm 1946, 20 năm sau (8/2/1966), đã viết trong lá thư gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng: "Giá có sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa người Việt và Pháp ngay sau đại chiến thế giới thì đã có thể tránh được những sự biến tai ác đang giằng xé đất nước của Ngài hôm nay".
    Sự hiểu biết tốt hơn ấy, nước Pháp chỉ biết đến sau 9 năm chiến tranh tốn kém và một thảm bại ở Điện Biên Phủ, khi phải thừa nhận trong văn bản Hiệp định Geneve một điều khoản quan trọng nhất, vì nó mà người VN đã không lùi bước và buộc phải chấp nhận một cuộc chiến tranh tàn hại.
    Đó là sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế về nền độc lập, chủ quyền và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc VN và sự cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của VN. Mặc dù chấp nhận một thực tế là đất nước tạm thời phân đôi qua đường ranh giới tạm thời (với khu phi quân sự) ngang vĩ tuyến 17, nhưng bước tiếp theo với một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước đã được ấn định như một lộ trình có sự cam kết và chứng kiến quốc tế, là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng cho việc thực hiện mục tiêu thiêng liêng mà dân tộc VN đã phấn đấu trong trường kỳ lịch sử của mình, đó là thống nhất quốc gia. Cho dù người ta có thể nhắc đến những chi tiết liên quan đến hội nghị này, như việc Mỹ thực sự không đồng ý với bản tuyên bố cuối cùng, về những phản ứng tiêu cực của Mỹ và chế độ tay sai..., nhưng Hội nghị và bản Hiệp định được ký kết ở Geneve năm 1954 là một cái mốc vô cùng quan trọng vì nó đã "đặt cơ sở pháp lý cho việc thống nhất nước VN" (Báo cáo chính trị Đại hội III) và "là cơ sở pháp lý quan trọng để nhân dân ta tiến lên đòi thống nhất đất nước".
    Xin nhắc lại hai cách phản ứng của những thế lực "không thoả mãn" (vì trên thực tế là không chống lại) với Hiệp định Geneve:
    - Ngoại trưởng Mỹ F.Dulles khi nói về điều khoản tổng tuyển cử cho rằng: "Chắc chắn là tuyển cử cuối cùng có nghĩa là thống nhất nước Việt Nam dưới quyền ông Hồ Chí Minh. Điều quan trọng hơn hết là trì hoãn tuyển cử càng lâu càng tốt".
    - Ngoại trưởng của Chính phủ Bảo Đại là Trần Văn Đỗ thì nghẹn ngào tỏ sự đau khổ vì nước nhà bị chia đôi và lấy thái độ đó để bày tỏ sự phản kháng kết quả của Hội nghị (về sau trở thành một giai thoại tranh luận xem ông ta có khóc thật hay không). Nhưng thái độ ấy đã được đáp lại bằng một phát biểu sâu sắc và đanh thép của Trưởng đoàn Đại biểu Việt Nam DCCH Phạm Văn Đồng: "Những ai yêu nước Việt Nam, những ai yêu sự thống nhất Việt Nam thì không cần phải khóc lóc hôm nay. Hãy thực hiện tốt những gì đã ký kết hôm nay thì hai năm nữa sẽ có một nướcViệt Nam thông nhất, độc lập, hoà bình và giàu mạnh. Những gì Chính phủ Việt Nam DCCH làm trong những năm qua chính là vì mục đích đó. Nước mắt của chúng tôi đổ ra trong cuộc đấu tranh cho sự nghiệp đó nhiều hơn rất nhiều so với những giọt lệ mà quý vị nhỏ ra ở đây." và trịnh trọng tuyên bố: "Chúng tôi cần có hoà bình để thực hiện thống nhất quốc gia chúng tôi và bắt tay vào công cuộc kiến thiết quốc gia. Chúng tôi sẽ thi hành thẳng thắn và triệt để tất cả các điều khoản trong các hiệp định mà chúng tôi đã ký..." Do vậy, giá trị pháp lý của Hội nghị Geneve là ở chỗ nó đảm bảo cho sự thực hiện trọn vẹn một mục tiêu thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, mặc dù dân tộc Việt Nam phải đi tiếp gần hai thập kỷ đương đầu quyết liệt với đế quốc Mỹ, nước đã không tôn trọng văn bản cuối cùng của Hiệp định Geneve để phải ký vào Hiệp định Paris 1973 trong đó có điều khoản: "Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Geneve năm 1954 về Việt Nam đã công nhận".
    Và hơn 2 năm sau Hiệp định Paris, mùa Xuân đại thắng 1975 đã biến mục tiêu thiêng liêng: thống nhất đất nước thành hiện thực. Đó cũng là thành tựu lớn nhất của thế kỷ XX đối với tiến trình ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
  8. Vo_Quoc_Tuan

    Vo_Quoc_Tuan Thành viên rất tích cực

    Chúng ta tức là có cả bác đúng không ạ, nếu có nghi vấn gì thì bác cứ bày tỏ ạ.
  9. oke_vn

    oke_vn Thành viên quen thuộc

    Thành phần tham gia hiệp định geneve 1954

    1/ Phái đoàn Mỹ, do Bedell Smith làm trưởng đoàn.
    2/ Phái đoàn Liên Xô, do Viacheslav Molotov làm trưởng đoàn.
    3/Phái đoàn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, do Chu Ân Lai làm trưởng đoàn.
    4/Phái đoàn Pháp, do Georges Bidault làm trưởng đoàn.
    5/Phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn.
    6/Phái đoàn Quốc gia Việt Nam, do Nguyễn Quốc Định làm trưởng đoàn sau Trần Văn Đỗ thay thế.
    7/Phái đoàn Lào, do Phumi Sananikone làm trưởng đoàn.
    8/ Phái đoàn Anh, do Anthony Eden làm trưởng đoàn.
    9/Phái đoàn Campuchia, do Tep Than, làm trưởng đoàn.
    Hai đồng chủ tịch Hội nghị là Liên Xô và Anh.
    Nhìn thành phần tham gia hiệp định có thể thấy, có mặt hầu hết
    các cường quốc trên thế giới. "Nền hoà bình ở Đông dương" thực sự là miếng bánh cho nhiều chiếc vòi cơ hội. Với tình thế như thế này, quả thật là quá khó cho chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà của ông Hồ Chí Minh có thể làm được cái việc: bảo toàn thống nhất quốc gia.
    Những câu hỏi được đặt ra, đó là mục đích của từng thành phần tham dự hiệp định ?
    Trung quốc muốn gì ?
    Mỹ muốn gì ?
    Pháp muốn gì ?
    .....
    Việt Nam dân chủ cộng hoà ?
    Chúng ta (Việt Nam dân chủ cộng hoà ) đã bị các nước lớn mặc cả trên lưng như thế nào ?
    Làm rõ được mục đích của từng thành phần tham dự và sức hảnh hưởng của họ, sẽ trả lời câu hỏi "Hiệp định geneve thực sự được ký kết bởi ai ? "
  10. Vo_Quoc_Tuan

    Vo_Quoc_Tuan Thành viên rất tích cực

    Câu này cũ rồi bác. Bác không cần phải tìm hiểu "nguồn *********" mà nên tìm cuốn Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất của NXB Thông tin Lý luận thì rõ hơn. Những vấn đề như ta chỉ làm việc qua TQ và LX còn thì Mỹ và TQ, LX đàm phán trực tiếp là điều sách ta đã nói đến rất nhiều.
    Trước khi bác đưa thêm bài lên, em xin hỏi bác một câu thôi. Chiếu theo văn bản hiệp định, hiệp định Geneve có chia cắt đất nước Việt Nam không?

Chia sẻ trang này