1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Kho Tàng Trân Bảo Của Bản Tính Nền Tảng

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi Prahevajra, 21/12/2025.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    5. NHỮNG NGƯỜI MÀ GIÁO LÝ NÀY

    CÓ THỂ ĐƯỢC BAN CHO


    1. Tinh túy của thừa sâu sắc nhất này

    Chỉ nên được tiết lộ riêng

    Cho những ai rõ ràng có

    May mắn và trí thông minh cao nhất.

    Nó nên được giữ lại

    Đối với những người cố chấp bám dính vào

    Những thừa thấp hơn và nguyên tắc nhân quả,

    Với những người kém may mắn và kém thông minh hơn.

    2. Từ những người chỉ trích thầy mình,

    Những người bộc lộ giận duẽ với thân tộc kim cương,

    Người phản bội bí mật, nói về nó công khai,

    Không tin tưởng và nắm chặt, vào một khuynh hướng xấu xa,

    Người mải mê với những thứ phù du

    Phải giữ bí mật giáo lý đối với tất cả những người này.

    3. Những người có phẩm chất cao nhất, được phú cho may mắn,

    Là những chiếc bình thích hợp cho Đại Toàn Thiện.

    Họ tôn trọng đạo sư của mình và sở hữu kiến thức sâu rộng.

    Họ hoan hỷ và rộng lượng,

    Họ là người bạn trung thành và hào phóng.

    Họ không có suy nghĩ tham vọng

    Và có ít bám luyến.

    Họ từ bỏ mọi mối quan tâm về cuộc sống hiện tại

    Và có ý định đạt được giác ngộ của mình.

    Được phú cho niềm tin và tính siêng năng,

    Họ có thể giữ bí mật.

    Đây là những người

    Nên được ban giáo lý.

    4. Với những món quà, họ nên làm hài lòng thầy mình,

    Và trong tinh thần cam kết

    Họ nên hết lòng khẩn cầu hướng dẫn.

    Khi lời dạy đã được ban,

    Họ nên thực hiện đúng đắn

    Và đạt tới trình độ cạn kiệt mọi hiện tượng

    Trong bản tính nền tảng.

    5. Các đạo sư phải rất uyên bác,

    Sở hữu mọi đức tính cần thiết.

    Họ nên khảo nghiệm học trò mình

    Và dần dần ban cho những chỉ dẫn then chốt.

    Nhưng họ nên giữ những giáo lý này

    Từ những người nhận không thích hợp.

    Họ nên đánh dấu chúng với niêm phong bí mật

    Và giấu chúng bằng con dấu ủy thác của mình.

    6. Đối với những đứa con trong tim đạo sư,

    May mắn có năng lực cao,

    Các giáo lý tinh yếu, có ý nghĩa tối hậu,

    Nên được ban truyền.

    7. Và đến lượt họ không được tiết lộ cho tất cả mọi người

    Tinh túy này, tối thượng và không bị suy vong.

    Chúng phải được giữ không bị suy tàn

    Như tinh hoa thực hành của chúng.

    Nếu cánh cửa bí mật bị xâm phạm,

    Sự trừng phạt chắc chắn sẽ đến.

    Do giải thích sai,

    Giáo lý tinh hoa sẽ xa lánh.

    Các đệ tử do đó phải giữ bí mật

    Và duy trì sự đồng hành vui vẻ với thầy mình.

    Họ sẽ đạt tới ngay trong đời này

    Vương quốc vĩnh cửu của pháp thân.


    6. KẾT LUẬN

    1. Giáo lý này đã tiết lộ

    Trực tiếp, không che giấu điều gì,

    Cái thấy của Đại Viên Mãn siêu phàm và bí mật

    Cầu mong nó tự nhiên và không cần nỗ lực

    Mang chúng sinh, không bỏ sót một ai,

    Tới giải thoát trong không gian của nền tảng nguyên sơ.

    2. Lời dạy này, bao trùm tất cả

    Mọi cái thấy thấp hơn,

    Là đỉnh cao của tất cả các thừa,

    Không gian rộng lớn của vua garuda vĩ đại.

    Cầu mong cho lời dạy Atiyoga này,

    Vượt trội hơn mọi giáo lý khác,

    Được lan truyền khắp mười phương.

    Cầu mong ngọn cờ chiến thắng của nó không bao giờ bị hạ xuống.

    3. Ba lớp, chín không gian

    Đều được gom tụ trong bốn nguyên tắc.

    Cái thấy cuối cùng của toàn bộ mười sáu đoạn

    Được giải thích trong Kho Tàng Trân Bảo của Bản Tính Nền Tảng này,

    Mà Longchen Rabjam Zangpo

    Đã biên soạn hoàn hảo.

    4. Cái thấy cuối cùng được chứa đựng

    Trong năm chủ đề của Kho Tàng

    Của Bản Tính Nền Tảng

    Được trang hoàng hoàn hảo với sự giàu có,

    Vừa thâm sâu vừa rộng lớn.

    Nó được làm đẹp bằng sự lộng lẫy

    Của ngôn từ và ý nghĩa trong nó.

    Hãy để chúng đệ tử may mắn

    Nhận lấy đại hoan hỷ trong đó.


    Đến đây là kết thúc Kho Tàng Trân Bảo của Bản Tính Nền Tảng. Nó được sáng tác bởi Longchen Rabjam, một yogi của thừa tối cao.
  2. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    PHẦN HAI

    MỘT LỄ VẬT LÀM HÀI LÒNG

    THẾ TÔN TOÀN TRI


    Những chỉ dẫn từ Vị Thầy Vinh Quang của tôi,

    Một Lời Bình Luận về

    Kho Tàng Trân Bảo của

    Bản Tính Nền Tảng,

    Một Giáo Lý về

    Đại Toàn Thiện

    NỘI DUNG VĂN BẢN


    Lời mở đầu

    Chương một: Giới thiệu chuyên luận

    Tiêu đề

    Sự bày tỏ lòng tôn kính của Longchenpa

    Một tán thán ngắn gọn

    Một tán thán chi tiết

    Lời hứa của Longchenpa về việc biên soạn văn bản

    Chương hai: Giải thích sâu rộng về chuyên luận của Longchenpa

    Một thuyết trình ngắn gọn

    Một thuyết minh chi tiết

    Chủ đề kim cương đầu tiên: không tồn tại

    Phần một: những điểm chính yếu được tiết lộ

    Phần hai: những điểm chính yếu về không tồn tại được tinh túy hóa

    Phần ba: mọi hiện tượng được gom vào trạng thái không hiện hữu

    Phần bốn: đạt được niềm tin rõ ràng rằng các hiện tượng là không tồn tại

    Chủ đề kim cương thứ hai: tính bình đẳng

    Phần một: những điểm thiết yếu được tiết lộ

    Một giải thích ngắn gọn

    Một giải thích chi tiết

    Phần hai: những điểm chính yếu về tính bình đẳng được tinh túy hóa

    Phần ba: các hiện tượng được gom vào tính bình đẳng

    Phần bốn: đạt được niềm tin rõ ràng rằng mọi hiện tượng đều bình đẳng liên tục

    Chủ đề kim cương thứ ba: hiện diện tự phát

    Phần một: những điểm than chốt được tiết lộ

    Phần hai: những điểm then chốt của hiện diện tự phát được tinh túy hóa

    Phần ba: các hiện tượng được cộng gộp vào hiện diện tự phát

    Phần bốn:có được niềm tin rõ ràng rằng mọi hiện tượng là hiện diện tự phát

    Chủ đề kim cương thứ tư: bản tính đơn nhất

    Phần một: những điểm than chốt được tiết lộ

    Phần hai: những điểm then chốt của bản tính đơn nhất được tinh túy hóa

    Phần ba: mọi hiện tượng được gom tụ vào trong tính giác duy nhất

    Phần bốn: đạt được niềm tin rõ ràng rằng mọi hiện tượng đều là trí tuệ bản nguyên tự sinh khởi

    Chương ba: Một chỉ dẫn liên quan đến những người có khả năng lĩnh hội giáo lý này

    Những người nhận giáo lý này

    Một trình bày chung

    Một trình bày chi tiết về những người mà giáo lý này nên được giữ lại

    Những người giáo lý này nên được ban cho

    Tính cách của những đệ tử đủ tiêu chuẩn

    Cung cách mà những đệ tử này nên hành xử

    Trình độ chuyên môn của vị thầy ban truyền giáo lý

    Cung cách mà vị thầy trao truyền

    Lời dạy thiết yếu cần được truyền thụ

    Cách giao phó giáo lý và lợi ích thu được từ đó

    Chương bốn: Kết luận của toàn bộ luận văn

    Một lời cầu nguyện hồi hướng cho sự giải thoát của mọi chúng sinh trong tam giới

    Lời cầu nguyện hồi hướng cho giáo lý này được rộng truyền và phồn thịnh khắp mười phương

    Tác giả chuyên luận này và hoàn cảnh sáng tác nó

    Lời động viên hứng khởi gửi đến những chúng sinh may mắn trong các thế hệ tương lai

    Lời cuối của chính tác giả
  3. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    MỞ ĐẦU


    Trong cõi tịnh độ của pháp giới,
    Ngài là pháp thân, Phổ Hiền
    Ngài là Kim Cương Tát Đỏa, báo thân
    Được phú cho tính chắc chắn năm phần
    Và Kim Cương Cực Hỷ, hóa thân
    Và vị thầy của vô số chúng sinh khác nhau.
    Tới ngài, nơi ba thân biểu lộ,
    Tới ngài, thầy tôi, tôi cúi đầu.


    Pháp Vương được giao phó giải thích
    Lời dạy trong ba lớp
    Và cái thấy của vị thầy bí mật bậc nhất vô song
    Matisara tối thượng, toàn tri,
    Tôi cầu nguyện ngài luôn nghỉ ngơi trong hoa sen tâm trí của tôi.


    Orgyen Chokyi Dawa Palzangpo có lần nói:
    Pan***a Pháp Vương Sakya, ánh mặt trời giáo lý của năm khoa học,
    Tsongkhapa, suối nguồn của những bài giảng về kinh điển và mật điển,
    Longchenpa, chúa tể tối cao của mọi giáo lý
    Cả ba đều thực sự là Manjughosa của Xứ Tuyết.


    Bây giờ, như những lời này tuyên bố, một trong ba biểu lộ trực tiếp của Manjughosa ở xứ tuyết Tây Tạng của chúng ta là Longchenpa chiến thắng, bậc minh giải vĩ đại về giáo lý Tinh Túy Bí Mật Vĩ Đại. Ông là tác giả của Bảy Kho Tàng, trong đó trình bày chu kỳ mở rộng của giáo lý (thuộc về con đường học thuật) của các học giả, và ông biên soạn Bốn Phần của Tâm Yếu, trong đó trình bày giáo lý sâu sắc của các yogi. Ngoài ra ông còn viết Bộ Ba Nghỉ Ngơi, những giáo lý tối hậu trình bày không sai sót toàn bộ ý nghĩa toàn bộ những lời dạy vừa sâu vừa rộng; và cuối cùng, ông biên soạn Bộ Ba Giải Thoát Tự Nhiên, Bộ Ba Xua Tan Bóng Tối, cùng một loạt các tác phẩm khác, tất cả đều không thể phân biệt được với bài phát biểu cao quý của đức Kim Cang Trì chiến thắng. Trong số này, hai văn bản siêu phàm và sâu sắc nhất, phát lộ tất cả những điểm cốt yếu của trekcho, giáo lý Đại Toàn Thiện về tính thanh tịnh bản nguyên, là Kho Tàng Trân Bảo của Pháp Giới, Bản Tính Nền Tảng.

    Kho Tàng Trân Bảo của Pháp Giới là một chuyên luận xác lập dứt khoát mọi hiện tượng của luân hồi và niết bàn là pháp giới vĩ đại, tính giác đơn nhất. Kho Tàng Trân Bảo của Bản Tính Nền Tảng áp dụng giáo lý này vào tâm trí của từng hành giả trong một trình bày có hệ thống trong các giai đoạn kế tiếp nhau, Là một hướng dẫn đặc biệt xuất sắc, nó thiết lập bốn nguyên tắc kim cương: sự không tồn tại của các hiện tượng, tính bình đẳng của các hiện tượng, hiện diện tự phát của các hiện tượng, và bản tính đơn nhất của các hiện tượng. Nếu hành giả đưa những nguyên tắc tương tự này vào tâm trí mình, họ sẽ dễ dàng thực hiện giáo lý này một cách tuần tự và có hệ thống.

    Kho Tàng Trân Bảo của Bản Tính Nền Tảng bình luận chung về ba lớp giáo lý của Đại Toàn Thiện: lớp tâm bên ngoài, lớp không gian bên trong, và lớp hướng dẫn cốt lõi bí mật. Đặc biệt, nó xác lập quan điểm tối hậu về lớp bí mật của những chỉ dẫn cốt lõi. Hạnh phúc, quả thực là những người chỉ cần nhìn thấy, nghe thấy, nhớ lại hoặc chạm vào văn bản này. Nếu trong số những chúng sinh may mắn đó có một số người, được phú cho những duyên nghiệp phù hợp, thực hành giáo lý này, thì chẳng nghi ngờ gì, họ sẽ đạt đến trạng thái hợp nhất trong một đời.27

    Vì lý do này, để đáp ứng những yêu cầu nhiều lần, tôi sẽ viết một bản bình luận bằng lời về Kho Tàng Trân Bảo của Bản Tính Nền Tảng theo lời hướng dẫn truyền khẩu từ đạo sư vinh quang tối cao Lodro Gyatso của tôi. Vì mục đích này, tôi khấn nguyện và cầu xin thầy tôi, bản tiin của tôi, những vị hộ pháp và chủ nhân của giáo lý này, các daka, dakini và Hộ Pháp, hãy cho phép và hướng dẫn tôi.

    Bản bình luận có bốn phần: một là giới thiệu về chuyên luận; hai, giải thích sâu rộng nội dung của văn bản, ba, hướng dẫn về những phẩm chất của những người có thể lĩnh hội được ý nghĩa của nó, và bốn, kết luận toàn thể luận văn.
  4. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    1. GIỚI THIỆU VỀ CHUYÊN LUẬN


    Mục giới thiệu chia làm ba phần: giải thích tiêu đề của chuyên luận, bày tỏ lòng tôn kính của Longchenpa, và lời hứa biên soạn văn bản.


    1. Tiêu đề

    Tiêu đề tiếng Phạn của văn bản là Tathavaratnakosanama. Tựa đề tiếng Tây Tạng là Gnas lugs rin po chei mdzod cé bya ba.28 Dịch từng chữ, tathatva (gnas lugs) nghĩa là “bản tính nền tảng”, ratna (rinpoche) nghĩa là “trân bảo”, kosa (mdzod) nghĩa là “kho tàng”, và nama (ces bya ba) nghĩa là “tên”.29

    “Bản tính nền tảng” phải được hiểu theo nghĩa “tính giác”, tâm trí giác ngộ tối thượng, pháp thân, vượt ngoài tầm chứng minh và bác bỏ, vượt trên chuyển động và biến đổi. Nó là phương thức tồn tại của mọi hiện tượng, là bản tính nền tảng sâu xa, bí mạt của chúng. Nó vượt ngoài luật nhân quả, vượt trên nỗ lực và hành động.

    Văn bản này là một “kho tàng trân bảo” bởi vì, giống như từ một kho chứa ngọc như ý sẽ xuất hiện một dòng bất tận tất cả những gì người ta có thể mong ước, theo cách tương tự, nếu bản tính nền tảng của tâm trí, chân lý tối hậu và trí tuệ bản nguyên tự sinh, được chứng ngộ đúng như nó là, trạng thái cuối cùng và kết quả, những viên ngọc quý của 25 phẩm tính của kết quả, chẳng hạn như bốn thân và năm trí tuệ nguyên sơ, sẽ xuất hiện dễ dàng và tự nhiên. Mô tả tương tự cũng có thể được áp dụng cho nền tảng, con đường và kết quả. Bởi vì bản tính của nền tảng, đặc tính sáng ngời của tâm trí, nguyên sơ và tự nhiên được phú cho mọi phẩm chất tuyệt hảo của cả tồn tại và bình an, bản tính căn bản của nền tảng cũng là một kho báu quý giá.

    Tương tự, trong giây phút hiện tại, vào thời điểm của con đường, nhờ kết quả chín muồi của việc gia trì sức mạnh tỉnh giác và nhờ năng lực giải thoát của những hướng dẫn tinh túy từ đạo sư mà trí tuệ bản nguyên nội tại không còn bị che giấu. Nó được đánh thức và xuất hiện trần trụi trong tâm trí người học trò may mắn, người ngay trong khoảnh khắc đó chứng ngộ bản tính nền tảng đúng như nó là. Theo đó, bản tính nền tảng, chói ngời của con đường cũng là một kho tàng trân bảo.

    Cuối cùng, bởi vì tính giác tự nhận thức vỗ nhiễm, bản tính nền tảng được phú cho tính thanh tịnh hai phần, là pháp thân, báo thân và hóa thân, nên kết quả không thể tìm kiếm ở nơi nào khác. Nó an trú bất động và bất biến suốt ba thời như tính giác, nền tảng vĩ đại. Và vì nó giống như một kho báu quý giá nên kết quả cũng là một kho tàng trân quý.

    Longchenpa bày tỏ lòng tôn kính

    Lời tán thán ngắn gọn

    Kính lễ Phổ Hiền vinh quang

    Phổ Hiền được mô tả là vinh quang vì ngài đạt được vinh quang của pháp thân tối cao vì lợi ích của chính ngài và không bao giờ rời khỏi sự mở rộng tối thượng này, ngài sở hữu vinh quang hoàn hảo của ba thân tối cao vì lời ích của những người khác.Ngài là Phổ Hiền bởi vì, như vị đầu tiên của chư Phật, ngài là vị Phật pháp thân “toàn thiện”. Ngài là Phật trước sự xuất hiện của bất cứ vị Phật nào có chứng ngộ bình đẳng và trước sự xuất hiện của chúng sinh không có sự chứng ngộ như vậy.

    Làm thế nào điều này xảy ra? Trong không gian nguyên sơ chung của cả luân hồi và niết bàn, được khuấy động bởi khí trí tuệ được phú cho mạng lưới ánh sáng ngũ sắc, tính giác xuất hiện trên nền tảng và các hình tướng của nền tảng hiển lộ. Ngay thời điểm đó, Phổ Hiền thấy rằng chúng là kinh nghiệm tự thân của chính mình. . Và như được nói:

    Trong một khoảnh khắc, ngài nhìn thấy những phẩn tính cụ thể của chúng;

    Trong một khoảnh khắc, ngài là vị Phật hoàn hảo.

    Như vậy, Phật quả của ngài được phú cho sáu đặc điểm đặc biệt.30 Trong khoảnh khắc của một hành động giác ngộ hoàn hảo duy nhất, vị thế tôn Phổ Hiền nguyên thủy này, xuất hiện như bậc thầy của cả luân hồi và niết bàn, được giải thoát trong trạng thái nội tại của trí tuệ bản nguyên. Vì vậy, Phổ Hiền là người hướng dẫn hoàn hảo, với thẩm quyền bậc thầy, tiết lộ con đường nhanh chóng và sâu sắc chính xác như nó vốn là. Đối với ngài, Longchen Rabjam, tác giả của văn bản này, bày tỏ lòng tôn kính bằng cách nghỉ ngơi trong cái thấy, sự chứng ngộ tính bất khả phân trong tâm trí tuệ của họ, một trạng thái được khơi gọi qua niềm tin không lay chuyển của chính ông.

    Nền tảng của Phổ Hiền là chân như, thực tại tối hậu của vạn sự. Sự trang hoàn của Phổ Hiền là phương diện hình tướng của của hiện diện tự phát, thứ không khuấy động từ nền tảng, xuất hiện như sự phô diễn của các hiện tượng. Tính giác của Phổ Hiền là trí tuệ bản nguyên tự khởi sinh, tâm giác ngộ tối thượng; nó là sự tỉnh giác, như lai tạng. Con đường Phổ Hiền là sự khám phá về bản tính nền tảng đúng như nó là, nói cách khác, tính giác tự sinh, xuất hiện nguyên thủy và và sự hiển lộ của nó trong thực tế. Đối với tất cả những điều này, Longchenpa, tác giả văn bản này, bảy tỏ lòng tôn kính với niềm tin không lay chuyển. Đây là lời dạy khẩu truyền từ vị thầy tối cao và vinh quang của tôi.

    Tán thán chi tiết

    Đức Phật đầu tiên,

    Nền tảng của giác ngộ thực sự,

    Vượt trên mọi thay đổi và hiện diện của chính nó,

    Không gian của tinh túy kim cương, không thể phá hủy

    Đây là bản tính của tâm trí,

    Hoàn thiện tự nhiên vĩ đại.

    Tôi không lấy gì và tôi không bỏ gì

    Không có gì đến và chẳng có gì đi.

    Như vậy tôi cúi đầu đỉnh lễ.

    Không phụ thuộc vào bất cứ nguyên nhân và điều kiện mới nào, bản tính nền tảng, ngay từ đầu, đã là Phật quả thanh tịnh bản nguyên. Đây là giác ngộ thực sự, sự rộng mở nguyên thủy vĩ đại và tự do của nền tảng.

    Tính giác, hiện diện tư nhiên như trí tuệ nguyên sơ bất biến, xuyên qua tính liên tục của thời gian, là Phật quả tự sinh khởi. Trong bối cảnh hiện tại, nó được coi là sự mở rộng tối thượng như kim cương bất hoại hay bản tính kim cương. Nó được xác lập như pháp tính, thực tại tối hậu, sự mở rộng kim cương tối thượng bất biến. Chính pháp tính này, không bị giới hạn và nghiêng về cực đoan hoặc phía nào,, là bản tính của tâm trí được phú cho bảy phẩm chất kim cương.31 Nó là, nói cách khác, sự hoàn thiện vĩ đại tự nhiên. Chính vì điều này mà tác giả bày tỏ lòng tôn kính theo cách cao siêu nhất bằng cách an trú trong sự chứng ngộ cái thấy của mình. Đây là dấu hiệu cho thấy đối tượng của sự tôn kính là tính giác, trí tuệ bản nguyên tự sinh, nề tảng cho sự hiển lộ của cả luân hồi và niết bàn.

    Sự tôn kính đó được thể hiện như thế nào? Khi không có sự chấp nhận hay bác bỏ, không phóng chiếu cũng như tan biến các ý nghĩ, không đi cũng không đến, không có gì khuấy động từ địa tầng căn bản của pháp tính và chính khuôn mặt của tính giác, an trú như nền tảng, pháp thân, được hiện thực hóa. Trong bối cảnh này, chứng ngộ hoặc kinh nghiệm trạng thái này được mô tả là tỏ lòng tôn kính. Trí tuệ bản nguyên vĩ đại về tính bình đẳng, trong đó không tìm thấy ba phạm trù về chủ thể, đối tượng và hành động (vì chúng không tồn tại thực sự) ở đây tượng trưng cho người được bày tỏ lòng tôn kính.

    Sáu câu đầu của bài thơ trên đề cập đến bản tính nền tảng tự sinh. Ba dòng còn lại mô tả con đường mà người ta hành thiền trên cùng nền tảng này. Về kết quả, vì sự ổn định đạt được trong tầng bậc căn bản của bản tính tối hậu chỉ đơn giản là một trường hợp cụ thể của sự vững vàng trong nền tảng, cần phải hiểu rằng nền tảng, con đường, và kết quả chỉ là tính giác mà thôi.

    Lời hứa của Longchenpa về việc biên soạn văn bản

    Sự mở rộng của bản tính không thể diễn tả được của mọi hiện tượng,

    Đỉnh cao của mọi quan điểm và khác biệt với tất cả chúng,

    Ý nghĩa siêu việt tất cả của Đại Toàn Thiện

    Bây giờ tôi sẽ giải thích theo sự chứng ngộ của tôi.

    Hãy lắng nghe!

    Bản tính tuyệt đối của mọi thứ trong thế giới hiện tượng, dù của luân hồi hay niết bàn, là pháp tính: thực tại tối hậu tính giác không thể diễn tả và chẳng thể nghĩ bàn. Đó là tâm giác ngộ tối thượng, tính bao la sáng ngời của đại toàn thiện. Như giáo lý nói:

    Không thể chạm vào bởi giáo lý tâm tạo của tám thừa,

    Nó chính là đỉnh cao của thừa thứ chín, cái thấy của Đại Toàn Thiện.

    Là chót đỉnh trong các quan điểm của chín thừa, Đại Toàn Thiện tuyên bố rằng tất cả, các hiện tượng trong luân hồi và niết bàn được bao gồm trọn vẹn và hoàn hảo trong không gian của trí tuệ bản nguyên tự sinh duy nhất vốn siêu việt tiến trình nhân quả và cố gắng nỗ lực. Nó không giống với tất cả các giáo lý tạo dựng tinh thần khác của tám thừa. Toàn bộ các phẩm tính của con đường và kết quả của những thừa thấp hơn này là biểu hiện của nó, được chứa đựng và tăng cường bên trong nó như hàng trăm dòng suối chảy bên dưới một cây cầu duy nhất. Đây là tính năng độc đáo và nổi bật của thừa Ati. Như đã nói trong Vua Sáng Tạo Tất Cả:

    Nếu bạn hiểu bản chất của chính tôi, đấng tạo hóa tất cả,

    Mọi thứ được coi là biểu hiện của tôi.

    Khi tính giác, vốn vượt trên tiến trình nhân quả và nỗ lực tích cực được chứng ngộ, nó được coi là vượt trội hay siêu việt tất cả giáo lý của những thừa thấp hơn. Nó vượt ngoài các thực thể và đặc tính của chúng, vượt trên thường hằng và vô thường, vượt xa tồn tại và không tồn tại, giống nhau và khác nhau, vân vân. Nó nằm ngoài phạm vi của lời nói, quan niệm và biểu hiện. Khi nói rằng ông sẽ giải thích vì các đệ tử của mình, những chúng sinh may mắn được hướng dẫn, giáo lý sâu xa và rộng lớn này, đúng như ông đã chứng ngộ, tác giả văn bản hứa sẽ biên soạn, khuyến khích tất cả những ai là người bình thường đích thực, được phú cho những khả năng siêu việt và nhân duyên phù hợp, hãy lắng nghe ông. Điều này được nói trong bản bình luận vĩ đại về Bát Nhã Ba La Mật Đa tám ngàn dòng:

    Những người nỗ lực với niềm đam mê to lớn vì lợi ích tha nhân

    Không bao giờ chùn bước dù mạng sống bị đe dọa

    Thành nhân, đang vác trên vai gánh nặng,

    Không bao giờ chán nản từ bỏ nó.

    Và:

    Thánh nhân không hứa hẹn nhiều.

    Nhưng khi họ cam kết thực hiện một nhiệm vụ khó khăn,

    Thì giống như họ khắc nó lên một tảng đá.

    Dù có thể chết, họ sẽ không chuyển sang một việc gì khác.

    Như những đoạn này nói, các thánh nhân không bao giờ cho phép những việc khác làm họ chệch hướng khỏi những việc gì họ đã hứa.

    Về mục đích bốn phần liên hệ với nhau trong chuyên luận của Longchenpa, chủ đề của nó là tính giác, tâm giác ngộ, nằm ngoài tính trình nhân quả và mọi cố gắng nỗ lực. Mục đích tức thời của nó là giúp những chúng sinh có năng lực cao nhất có được hiểu biết hoàn hảo về điều này. Mục đích tối hậu hay cuối cùng của nó là, trên cơ sở thực hành liên quan đến hiểu biết như vậy, để giúp các yogi đạt được mục tiêu của nó (cụ thể là bản tính nền tảng) và nhờ đó đạt được giải thoát. Mối liên hệ giữa ba yếu tố này đề cập đến thực tế là chúng nhất quán lẫn nhau, mỗi yếu tố sẽ dẫn đến yếu tố tiếp theo.
  5. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    2. GIẢI THÍCH MỞ RỘNG VỀ

    CHUYÊN LUẬN CỦA LONGCHENPA


    Mục này bao gồm một phần trình bày ngắn gọn, theo sau là phần trình bày chi tiết theo bốn chủ đề kim cương.

    Cái thấy tối thượng và tinh túy

    Thuộc về tâm trí, không gian, lớp hướng dẫn cốt lõi

    Nằm trong sự không tồn tại, bình đẳng,

    Hiện diện tự phát, bản tính đơn nhất.

    Mỗi một trong số bốn thứ này lần lượt có bốn khía cạnh:

    Những điểm chính yếu của chúng được tiết lộ, tinh túy hóa, bao gồm,

    Khi đó có được niềm tin rõ ràng về chúng.

    Đoạn thơ này chứng tỏ cái thấy tinh túy, tối thượng của lớp tâm trí bên ngoài, lớp không gian bên trong, và lớp chỉ dẫn cốt lõi bí mật, tức là cái thấy của Đại Toàn Thiện, được tóm lược trong bốn nguyên tắc vĩ đại này, hay các “samaya”.32 Cái thấy này giống như bơ được khuấy từ sữa của thành Pháp. Đầu tiên, các hiện tượng là “không tồn tại”, vì chúng được xác lập rằng chúng là trống không hay vô ngã. Thứ hai, các hiện tượng là bình đẳng hoặc ngang bằng, vì chúng là vô giới hạn và không ngả về bên này hay bên kia. Thứ ba, các hiện tượng xuất hiện là “hiện diện tự phát”, bởi vì chúng không được tạo dựng ra ngay từ đầu, hiện diện bên trong và là của chính chúng. Cuối cùng, các hiện tượng có một “bản tính đơn nhất” trong đó chúng được xác lập không gì khác hơn là tính giác tự sinh khởi. Trong bốn samaya vĩ đại này, cái thấy cuối cùng của Đại Toàn Thiện được tập hợp lại. Hơn nữa, mỗi samaya này phô bày bốn khía cạnh phụ. Đầu tiên, những điểm chính yếu của chúng được “tiết lộ”, có nghĩa chúng được làm sáng tỏ một cách rộng rãi là chân như. Những điểm chính yếu này, được tiết lộ rộng rãi, sau đó được “tinh túy hóa” thành trí tuệ bản nguyên tối hậu, tự sinh. Sau đó, chúng được “gom vào” trong tính giác không sinh siêu việt tư tưởng. Cuối cùng, đạt được một “niềm tin chắc chắn, rõ ràng” hay chắc chắn rằng các hiện tượng nằm ngoài mối quan hệ nhân quả cũng như các hành động và nỗ lực có chủ ý.. Sự phân biệt bốn trường hợp cụ thể cho mỗi một trong số bốn samaya có nghĩa là luận thuyết này bao gồm mười sáu phần giáo lý.

    Ngắn gọn, mọi thứ trong luân hồi và niết bàn chỉ đơn giản là sự phô bày và năng lực sáng tạo của trí tuệ bản nguyên, tự sinh khởi, duy nhất. Thậm chí chẳng có một hạt vi trần nào tồn tại ngoài nó. Năng lực sáng tạo và phô diễn của trí tuệ bản nguyên tự sinh phát sinh ra như sự trang hoàng của cùng trí tuệ này.Bất cứ thứ gì biểu lộ đều chỉ là sự tự kinh nghiệm của trí tuệ bản nguyên, nó không có sự tồn tại ngoài thứ này. Bằng phương tiện của nhiều ví dụ khác nhau minh họa chân lý này, những điểm chính yếu của bốn mật nguyện samaya vĩ đại được “tiết lộ” và giải thích. Sau đó, những điểm được tiết lộ tương tự này được tinh túy hóa như trí tuệ bản nguyên tự sinh, tầng nền tảng của tính bình đẳng. Bất cứ thứ gì xuất hiện sau đó đều được bao gồm trong kinh nghiệm về sự mở rộng trần trụi của trí tuệ tự sinh, hiện diện tự phát. Cuối cùng, một niềm tin rõ ràng được đạt tới, nói cách khác, nó được giải quyết dứt điểm rằng những hình tướng hiện diện tự nhiên không gì khác chính là trí tuệ bản nguyên tự sinh khởi. Mặc dù có nhiều sự phân biệt như vậy, nhưng thật ra tất cả chúng đều được tập hợp trong không gian của trí tuệ nguyên sơ duy nhất. Bốn mật nguyện này có thể được hiểu rõ ràng nhờ ba yếu tố: một ví dụ, ý nghĩa của nó, và một dấu hiệu chứng minh. Như được nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Nếu bạn muốn hiểu chắc chắn ý nghĩa này,

    Hãy lấy bầu trời làm ví dụ.

    Ý nghĩa là bản tính không sinh của các hiện tượng.

    Thực tế rằng tâm trí không bị ngăn trở là một dấu hiệu chứng minh.

    Do vậy những thứ giống như không gian được minh họa

    Bằng bầu trời, đóng vai trò la một ví dụ.

    Và:

    Mọi hiện tượng là tâm trí giác ngộ.

    Mọi vật đều có thể so sánh với không gian;

    Điều này cũng được lấy làm ví dụ cho tâm giác ngộ,

    Vì trong tự thân nó có bản tính như bầu trời.

    Như văn bản này nói, giống như vũ trụ và cư dân của nó xuất hiện trong chiều hướng không gian, mọi vật trong cả luân hồi và niết bàn đều xuất hiện trong một phạm vi rộng lớn của tính giác tự sinh, bên ngoài không có một phần tử đơn độc nào tồn tại. Mọi hiện tượng đều khởi lên từ bên trong tâm giác ngộ tối thượng. Chúng xuất hiện trong tâm trí; chúng được tạo ra bởi tâm trí; nhưng tâm trí giác ngộ này chẳng được tạo ra bởi ai cả. Như Vua Tạo Hóa đã tuyên bố:

    Tâm trí giác ngộ tạo ra mọi thứ nhưng chính nó thì không được tạo.

    Một diễn giải chi tiết

    Văn bản này được cấu tạo theo bốn chủ đề kim cương vừa đề cập: không tồn tại, bình đẳng, hiện diện tự phát, và bản tính duy nhất.

    Chủ đề kim cương thứ nhất: Không Tồn Tại

    Chúng ta bắt đầu bằng việc xác lập chủ đề đầu tiên trong bốn, đó là về sự không tồn tại. Trong bài giảng, kết thúc với một tuyên bố về tên 34 của chủ đề kim cương, có bốn phần: những điểm chính yếu (của chủ đề) được tiết lộ, tinh túy hóa, và bao gồm, sau đó đạt được một niềm tin rõ ràng liên quan đến chúng.

    Phần một: những điểm chính yếu được tiết lộ

    Phần này bao gồm 18 khổ thơ. Đầu tiên, các hiện tượng được chứng minh là không tồn tại thực sự cùng với các đặc tính.

    1. Đầu tiên tôi chứng minh nguyên tắc không tồn tại.

    Không tồn tại nghĩa là sự vắng mặt của bản thể nội tại.

    Trong sự mở rộng vĩ đại của tâm trí giác ngộ, giống như không gian,

    Bất cứ thứ gì xuất hiện đều không có bản thể nội tại.

    Vạn sự thuộc về xứ sở của thế giới hiện tượng, luân hồi và niết bàn, chỉ là sự quy kết của tâm trí mê lầm. Quả thực, ngay từ đầu chúng chưa bao giờ tồn tại; bây giờ văn bản chứng minh bản tính nền tảng này của chúng được thành lập như thế nào.

    Mọi hiện tượng về bản chất đều trống rỗng từ nguyên thủy và không có cái ngã. Mọi diễn hóa khái niệm liên quan đến chúng đều im lặng. Các hiện tượng là không sinh và cách thức chúng trống rỗng bản thể nội tại là như sau. Trong tính giác, trạng thái bình đẳng, trống rỗng và tự nhận thức, tâm giác ngộ tối thượng giống như không gian, một không gian rộng mở, bao trùm tất cả, không giới hạn, không bên này cũng chẳng bên kia, những hiện tượng vô tận của vũ trụ bên ngoài và những chúng sinh mà nó chứa đựng, ngay trong khoảnh khắc xuất hiện của chúng, đã không có bản thể nội tại. Cúng là một sự pho diễn không có nền tảng, không có gốc rễ, một trạng thái cởi mở không có bất kỳ tham chiếu khách thể nào. Như Longchenpa sẽ nói sau trong khổ thơ thứ năm:

    Vì vậy hãy hiểu rằng mọi hiện tượng

    Xuất hiện trong tâm trí đều không tồn tại.

    Thứ hai, sự không tồn tại của các hiện tượng được xác minh bằng một ví dụ và ý nghĩa mà nó biểu hiện.

    2. Trong sự mở rộng bao la, tử cung của không gian,

    Vũ trụ, chúng sinh nó chứa đựng,

    Và bốn nguyên tố trong dòng chảy không ngừng

    Chỉ là những hình tướng trống rỗng không có bản tính cố hữu,

    Mọi sự xuất hiện trong tâm trí giác ngộ

    Đều chỉ là nhau.

    Như ví dụ này cho thấy, trong không gian bao la như tử cung (không có trung tâm, chu vi, bên ngoài, bên trong, thiên đỉnh, thiên đế), mọi hệ thống của tam đại thiên thế giới, những chúng sinh sống trong đó, cùng với bốn yếu tố, lúc đầu thành hình, sau đó tồn tại, để rồi cuối cùng bị tiêu diệt bởi bảy đám cháy và một trận lụt. Trong bất cứ thời kỳ nào của kalpa (kiếp), một vũ trụ tồn tại (hình thành, tồn tại, hủy diệt, hoặc trống rỗng) không gian hỗ trợ nó trống rỗng. Nó không có bản thể nội tại. Tương tự, mọi hiện tượng, vũ trụ và chúng sinh được hỗ trở bởi cùng một không gian này, tất cả đều chuyển động và tiến hóa, tất cả đều trải qua cùng những thời kỳ thành, trụ, hoại, và không, cũng không có ngay cả sự tồn tại thực sự của các phần tử nhỏ nhất. Các hiện tượng hỗ trợ và cái được hỗ trợ đều không tồn tại. Chúng trống rỗng. Giống như những hình tướng trống rỗng, không tồn tại mà vẫn xuất hiện này, toàn bộ đều không có cả phần tử nhỏ nhất được phú cho sự tồn tại thực sự, toàn thể thế giới hiện tượng, cả luân hồi và niết bàn, xuất hiện trong tính bao la của tâm giác ngộ tối thượng hay tính giác tự sinh, dường như có thật nhưng thực tế lại không tồn tại. Như chúng ta tìm thấy trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Giống như trong thế giới hiện tượng, vũ trụ và chúng sinh,

    Chẳng có gì mà không ở bên trong không gian rộng mở bao la,

    Sự mở rộng bao la của tâm giác ngộ cũng vậy:

    Chư Phật, chúng sinh, vũ trụ và mọi thứ bên trong, đều ở đó.

    Tất cả đều hiện diện không thể phân chia trong cùng bản tính thanh tịnh này,

    Chẳng có sự quy kết nào về tồn tại hay không tồn tại.

    Thứ ba, các hiện tượng xuất hiện trong tính giác đều không có bản chất có sẵn.

    3. Những phản chiếu huyễn ảo, dù chúng xuất hiện thế nào,

    Đều không thật, trống rỗng trong bản tính.

    Tương tự, mọi sự vật trong thế giới hiện tượng,

    Ngay trong khoảnh khắc xuất hiện,

    Không bao giờ hoạt động ngoài tâm trí giác ngộ,

    Chúng không tồn tại thực sự.

    Một nhà ảo thuật, bậc thầy trong nghề của mình, có khả năng tạo ra cho khán giả của mình một màn trình diễn kỳ ảo đa dạng: các hình thức ảo ảnh đẹp đẽ, tuyệt diệu để xem, về các hòn đảo và vùng đất của một thế giới rộng lớn cùng với mọi chúng sinh sống trong đó: con người, ngựa, gia súc, vân vân. Đồng thời người đó biết rằng tất cả những hình thức dường như có thật này chưa bao giờ tồn tại trong sự thật và về bản chất là trống rỗng và không có một chút thực thể nào. Tương tự, những sự vật biểu hiện trong không gian rộng lớn của tính giác tự nhận thức bao trùm toàn thể, những sự vật bên ngoài và bên trong của thế giới hiện tượng, luan hồi và niết bàn, tất cả, ngay trong khoảnh khắc xuất hiện của chúng, đều không có căn cứ và chẳng có gốc rễ. Chỉ bởi vì người ta bám dính vào cái ngã hiện tượng (nguyên nhân) và vào những suy nghĩ lan man (điều kiện) mà những thực thể xuất hiện tách biệt khỏi tính giác bao trùm toàn thể, nên chúng dường như sinh khởi giống cái gì đó khác biệt, mặc dù chúng là tính giác đang tự kinh nghiệm chính nó.

    Bất kể thứ gì xuất hiện đều chẳng mảy may khác biệt với tâm giác ngộ tối thượng, với tính giác rộng mở, không chướng ngại, tự nhận thức, trạng thái bình đẳng thoát khỏi mọi cấu trúc khái niệm. Thậm chí chẳng có một phần tử nhỏ nhất của cái gọi là hiện tượng được phú cho các đặc tính, tồn tại tách rời và khác biệt với tính giác tự nhận thức. Như chúng tôi tìm thấy trong Vua Sáng Tạo Vạn Vật:

    Thế giới với những cư dân của nó, thế giới hiện tượng

    Mọi thứ trong cả luân hồi và niết bàn

    Về bản chất, không bao giờ rời khỏi tâm giác ngộ.

    Thứ tư, những hình tướng hiện tượng không rời khỏi tính giác hiện diện tự phát.

    4. Những hình ảnh trong mơ, không bao giờ hoạt động ngoài trạng thái ngủ,

    Ngay trong khoảnh khắc chúng được nhìn thấy, hoàn toàn không có thật

    Tương tự, toàn thể thế giới hiện tượng,

    Cả luân hồi và niết bàn,

    Không bao giờ vận động ngoài tâm trí giác ngộ.

    Nó không có thật, không có các đặc tính.

    Những đối tượng nhìn thấy trong mơ: núi, đá, nhà cử, vân vân, thế giới bên ngoài và những sinh vật sống trong đó (chính mình và người khác) được nhận thức riêng biệt và rõ ràng, và (trong mơ) làm nảy sinh cảm giác hạnh phúc, nỗi buồn, hoặc thờ ơ. Người ta bị mê hoặc trong việc bám chấp vào chúng như thế chúng là hình tướng (gặp được) ban ngày. Những giấc mơ nảy sinh trong trạng thái ngủ, trong đó chúng tự diễn ra và cuối cùng lắng xuống. Vì chúng không tồn tại bên ngoài trạng thái ngủ nên hầu như không cần thiết phải chỉ ra rằng những thứ người ta nhìn thấy trong giấc mơ không có sự tồn tại trước đó.Quả thực, ngay cả trong giây phút hiện tại, khi chúng xuất hiện với người đang ngủ, chúng hoàn toàn không có thực tại. Điều này cũng tương tự với thế giới hiện tượng, luân hồi và niết bàn. Chúng không bao giờ rời xa tâm giác ngộ tối thượng, một trạng thái vượt ngoài mọi chuyển động và biến đổi. Tất cả những gì chúng sinh trong sáu cõi nhận thức không bao giờ nằm ngoài không gian của tính giác. Điều tương tự cũng đúng với các hiện tượng của nhận thức thanh tịnh, ba thân, và tương tự. Chúng không bao giờ ra khỏi sự khuyếch trương của tính giác, vốn tự nó thoát khỏi sự trói buộc của người nhận biết và đối tượng được biết. Vì lý do này, chúng hoàn toàn không phải là những thực thể có thật trong tính đúng đắn của chúng, được phú cho những đặc trưng riêng. Như được nói trong Gặp Gỡ Trong Ba Thân:

    Chúng sinh trong sáu cõi, sinh ra theo bốn cách,

    Khởi nguồn từ pháp giới, và quay lại đó.

    Mặc dù người nhận biết và đối tượng được nhận biết

    Tâm trí và đối tượng, cả hai xuất hiện rất rõ ràng,

    Pháp giới là người nhận biết

    Và pháp giới là đối tượng được nhận biết

    Ngoài ra:

    Tất cả những thứ chư Phật trong ba thời hiểu rõ

    Phát sinh từ pháp giới và được gọi là pháp giới.

    Thứ năm, bất cứ thứ gì xuất hiện như một đối tượng bên ngoài đều không tồn tại tách rời khỏi tâm trí.

    5. Mặc dù các hiện tượng xuất hiện trong tâm trí,

    Chúng không phải là tâm trí và không tách rời khỏi tâm trí.

    Chúng không tồn tại

    Tuy nhiên, giống như ảo ảnh, xuất hiện rõ ràng.

    Chúng không thể diễn tả, và không thể tưởng tượng.

    Chúng thách thức sự biểu lộ.

    Do đó hãy hiểu rằng mọi hiện tượng

    Xuất hiện trong tâm trí là không tồn tại

    Ngay trong khoảnh khắc chúng được nhận biết.

    Những đối tượng thường được nhận thức là đối tượng của năm giác quan, nói cách khác, vũ trụ và chúng sinh mà nó bao gồm, xuất hiện rõ ràng trong tâm trí của từng cá nhân. Tuy nhiên những hình tướng này không phải là tâm trí của chúng. Longchenpa nói rằng nếu các hình tướng là tâm trí của chúng thì hậu quả không mong muốn sẽ là nếu các vật thể được cảm nhận là có màu sắc và hình dậng thì tâm trí của họ cũng sẽ có màu sắc và hình dạng tương tự. Ví dụ, nếu một ngọn núi xa xôi bị đốt cháy thì tâm trí của họ cũng sẽ bốc cháy. Nếu tâm trí của họ chuyển động thì ngọn núi cũng sẽ chuyển động. Lý luận có thể đưa ra vô số lời bác bỏ thuộc loại này.

    Trong Gương Tâm của Phổ Hiền có nói: “Những người nói rằng các hình tướng là tâm trí thì trái ngược với tôi”. Chúng tôi tìm thấy trong mật điển Hiện Thân Giáo Lý Tối Hậu của Đại Toàn Thiện:

    Kẻ thiếu trí không hiểu lời dạy sau cùng

    Nói rằng những gì xuất hiện là tâm trí của chính họ.

    Nhưng đây là lấy đồng thay vàng.

    Điều này có thể bị phản đối vì cho rằng nó mâu thuẫn với những kinh điển nói các hiện tượng là tâm trí. Truy nhiên, chuyện này không phải như vậy, vì khi người ta khẳng định các hiện tượng là tâm trí, nghĩa là chúng không tách rời khỏi trạng thái của tính giác. Điều này được nói ra để chỉ ra rằng các hiện tượng khởi lên như vật trang trí cho sự phô diễn và năng lực sáng tạo của tính giác. Nó giống như dùng từ mặt trời để ám chỉ ánh sáng mặt trời. Những hình tướng không phải là tâm trí, nhưng chúng cũng không khác tâm trí. Khi bản tính của chúng được xác lập dứt khoát, những thứ bên ngoài rõ ràng được biểu lộ giống như những ảo ảnh huyễn thuật hoặc hình ảnh trong mơ. Về phía mình, chúng không có một chút tồn tại độc lập nào với tâm trí. Khi các hiện tượng, dường như khác với tâm trí, được chứng minh là không có ngã, các phần tử vô cùng nhỏ không thể phân chia của chúng cũng bị loại bỏ. Chúng được hiển thị là trống rỗng và không tìm thấy gì. Tuy nhiên, điều này chẳng có nghĩa là các hiện tượng đơn giản là không có gì hết, như khi người ta nói không có trà, không có nước, hay khi lửa tắt và nước cạn, hay như sừng thỏ, vân vân. Ngược lại, các hiện tượng xuất hiện rõ ràng mặc dù chúng không tồn tại. Chúng giống như những ảo ảnh huyễn thuật. Như được nói:

    Bản thể của tính không là tịnh quang.

    Tiềm năng nhận thức của tính sáng là không bị ngăn trở.

    Xuất hiện rõ ràng nhưng không tồn tại, các hiện tượng dường như tồn tại và có thật. Tuy nhiên trong chân lý, ngay thời khắc vừa xuất hiện, chúng chỉ là ảo tưởng, ảo ảnh huyễn hoặc. Vào chính khoảnh khắc chúng dường như tồn tại thực sự, chúng vượt ngoài tám cực đoan khái niệm.35 Chúng không thể diễn tả được, không thể suy lường được và không thể diễn tả được. Chúng vô căn cứ và không có gốc rễ. Chúng chỉ là một trạng thái mở rộng, không có bất kỳ tham chiếu nào.
  6. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Bây giờ khi nói rằng các hiện tượng không phải là tâm trí, cũng không khác với tâm trí, cái tâm trí đang được nói đến không nên hiểu là tâm trí giác ngộ tối thượng. Điều này được thể hiện rõ ràng từ giáo lý của Longchenpa. Ví dụ ông nói:

    Ngày này, một số người tuyên bố đã hiểu Đại Toàn Thiện và nói rằng các hình tướng là tâm trí. Đây là một sai lầm quan trọng xuất phát từ việc không phân biệt đúng đắn giữa tâm trí bình thường và tâm trí giác ngộ, vốn không giống nhau. Tâm trí bình thường bao gồm tám tâm bất tịnh cùng với các tâm sở khởi lên ngẫu nhiên trong ba cõi. Ngược lại, tâm trí giác ngộ (bản tính của tâm trí) chính là tính giác, trí tuệ tự sinh, không tồn tại thực sự và không có các đặc tính. Nó là sự mở rộng tối thượng của cả luân hồi và niết bàn. Nói rằng toàn thể thế giới hiện tượng, phát sinh như năng lực sáng tạo hay sự phô diễn của tâm trí giác ngộ, thì tâm giác ngộ ở đây là lấy tên của kết quả đặt cho nguyên nhân. Khi đã hiểu rằng những hình tướng của luân hồi và niết bàn là năng lực sáng tạo của tính giác, người ta hiểu rằng tính giác không tồn tại như luân hồi hay niết bàn mà đúng hơn là nền tảng không ngừng biểu lộ ra của chúng.
    Đây là những lời 36 của chính Longchenpa. Ông tiếp tục:

    Khi nhận ra rằng các đối tượng, xuất hiện rõ ràng nhưng không tồn tại, không phải là tâm trí cũng không tách rời khỏi tâm trí, rằng chúng trống rỗng, sáng tỏ, không có nền tảng, và thanh tịnh bản nguyên, thì cùng những hình tướng như vậy sẽ lắng xuống. Vào thời điểm đó, khi năng lực sáng tạo không có nền tảng và sự phô diễn của tính giác tự nhiên tan biến, nó sẽ giống như lúc người ta tỉnh dậy từ một giấc mơ. Tính giác tự nhận thức không ra ngoài không gian căn bản khởi nguyên của pháp thân bất biến, và người ta hiểu rằng các thực thể và đặc tính của chúng là thanh tịnh.37 Ngày nay, tôi là người duy nhất phân biệt được điều này. Chẳng ai khác làm được. Một số người nói rằng các hiện tượng là tâm trí; một số nói chúng khác với tâm trí, và ngoài hai lựa chọn này, không có gì khác được nói đến.
    Longchenpa cũng nói trong Kho Tàng của Pháp Giới:

    Ngày nay một số con bò bị câm tuyên bố thực hành Ati.

    Họ nói rằng các suy nghĩ chuyển động là tâm trí giác ngộ.

    Những người ngu này ở trong bóng tối lớn

    Xa rời Đại Toàn Thiện Tự Nhiên.

    Nếu họ không biết năng lực sáng tạo khác như thế nào

    Với cái đến từ năng lực sáng tạo này

    Làm sao họ có thể biết được tâm trí giác ngộ?

    Trong phần tự bình luận, khổ thơ này có phần giải thích sau:


    Về năng lực sáng tạo của tính giác, tóm lại, khi hình tướng của một đối tượng xuất hiện sáng tỏ và rõ ràng bên trong tính giác, giống hình phản chiếu trong một tấm gương, năng lực sáng tạo của tiềm năng nhận thức là loại hiểu biết trần trụi, trong trẻo và không tích cực nhận thức các đối tượng. Năng lực sáng tạo kiểu này cần thiết tiếp diễn liên tục. Khi năng lực sáng tạo phát sinh và tính giác không rời khỏi tầng bậc nền tảng tịnh quang, hoạt động nhận biết sẽ không đi lạc vào đối tượng. Năng lực sáng tạo chỉ được nói đến từ quan điểm biểu hiện không ngừng của nó. Trên thực tế, năng lực sáng tạo và tính giác không phải là hai thứ tách biệt. Hoạt động nhận biết đi lạc vào đối tượng của năng lực sáng tạo được giải thích là sự pho diễn của chính năng lực sáng tạo đó. Mặt khác, đây không phải là trí tuệ bản nguyên tự sinh, bời vì trừ khi nó được chế ngự bằng những phương tiện thiện xảo, nếu không nó sẽ tạo ra nghiệp và phiền não, dẫn đến luân hồi. Hơn nữa, hoạt động khám phá và phân biệt rõ ràng của hiểu biết không vượt ngoài trạng thái luân hồi bị chi phối bởi người nhận thức và đối tượng được nhận thức. Như được nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Trí tuệ bản nguyên, tự sinh, là cái biết nguyên thủy.

    Nhưng “trí tuệ bản nguyên” nhận biết một đối tượng

    Phát sinh từ đối tượng đó thì không phải là tự sinh.

    Hơn nữa, trong thừa phổ thông có nói:

    Tâm và các nhân tố tinh thần là những nhận thức

    Gán sự tồn tại vào tam giới.

    Và Trần Na cũng nói:

    Tư tưởng, trạng thái vô minh này,

    Khiến chúng ta rơi vào đại dương của luân hồi.


    Trong phần tự bình luận về Kho Tàng của Bản Tính Nền Tảng,38 Longchenpa cũng nói:

    “Năng lực sáng tạo” là năng lực của tính giác, qua đó luân hồi và niết bàn biểu lộ riêng lẻ. Nó giống như ánh sáng mặt trời ban ngày làm cho hoa sen nở ra, và hoa huệ nở về đêm khép lại. “Phô diễn” chỉ đơn giản là tính giác hiển lộ qua sự tỏa sáng của chính nó giống như một ngọn lửa hiển thị qua ánh sáng mà nó tỏa ra, và mặt trời (hiện ra) thông qua ánh sáng của chính nó. “Vật trang trí” ám chỉ thực tế là khi bất cứ thứ gì xuất hiện và được nhận biết đầy đủ, hình tướng này là một vật trang trí cho tính giác vốn tự sinh. Nó giống như cầu vồng, mặt trời, mặt trăng, các hành tinh và ngôi sao, là những vật trang trí cho chính bầu trời.
    Vì tất cả những lý do này, nên hiểu rằng mọi hiện tượng xuất hiện trong tâm trí không tồn tại ngay từ khoảnh khắc đầu tiên chúng được nhận biết.
  7. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Thứ sáu, tính giác không tồn tại như bất cứ thứ gì.

    6. Giống như các đối tượng bề ngoài về bản thể là không tồn tại

    Chủ thể, tâm trí giác ngộ cũng vậy

    Giống như không gian, không có tồn tại về bản chất của nó.

    Không thể diễn tả, không thể suy lường và không thể diễn tả

    Đó là điều mà bạn nên hiểu.


    Giống như những ảo ảnh huyễn thuật, không nền tảng, không gốc rễ của vũ trụ và nội dung sống động của nó, những đối tượng xuất hiện của sáu thức, phát sinh như năng lực sáng tạo của tính giác, chẳng ra ngoài trạng thái không tồn tại. Chủ thể (tâm trí giác ngộ), tự nó là nền tảng cho sự biểu hiện của thế giới hiện tượng, luân hồi và niết bàn, cũng giống như vậy. Nó không có sự tồn tại nào hết. Nó như không gian. Vua Sáng Tạo Tất Cả tuyên bố:

    Tâm trí giác ngộ có bản tính như không gian,

    Và mọi thứ là tâm trí giác ngộ.

    Một ví dụ phục vụ cho tất cả.

    Như không gian cũng là bản tính của các hiện tượng.


    Như trong văn bản này nói, tâm giác ngộ giống như không gian. Nó không sinh, không trụ, không diệt. Nó vượt ngoài tám khái niệm cực đoan, ba mươi hai quan niệm sai lầm, vân vân. Do đó, cần phải hiểu rằng nó là không thể diễn tả được, không thể suy nghĩ được và không thể trình bày được.

    Thứ bảy, cách thức mà tính giác không tồn tại.

    7. Bởi vì trong trí tuệ bản nguyên tự sinh khởi,

    Tinh hoa tối thượng,

    Không có nhân chẳng có quả,

    Vực thẳm bao la của luân hồi được vượt qua.

    Bởi vì chẳng có tốt hay xấu,

    Nên luân hồi và niết bàn đều giống nhau.

    Bởi vì không sai lệch cũng chẳng che chướng,

    Ba hiện hữu đều được hiểu rõ ràng.


    Bản tính nền tảng, tịnh quang tinh hoa và tối thượng, rộng mở, không chướng ngại, là trí tuệ bản nguyên tự sinh. Nó thoát khỏi các hiện tượng quy ước về nguyên nhân và kết quả của chúng, và giống như không gian, nó thoát khỏi mọi diễn hóa khái niệm. Đây là lý do vì sao vực thẳm của những kinh nghiệm ảo tưởng, niềm vui và nỗi buồn của luân hồi, được vượt qua ngay từ đầu. Sự xuất hiện của luân hồi xảy ra qua việc biểu hiện không ngừng của nhân và quả. Nhưng vì trong chính bản chất của tính giác không có nguyên nhân hay kết quả nào được tìm thấy nên không có sai lệch, không có che chướng, không có tốt cũng chẳng có xấu. Do vậy, bất kể cả hiện tượng luân hồi và niết bàn xuất hiện như thế nào, chúng đều giống nhau, có trạng thái bình đẳng, trong bản tính của tính giác. Như đã nói trong Tính tức thời trực tiếp của Tính Giác:

    Trong sự mở rộng tối thượng, thật và không thật là như nhau.

    Trong sự mở rộng tối thượng, chư Phật và chúng sinh là như nhau.

    Trong sự mở rộng tối thượng, tương đối và tuyệt đối là như nhau.

    Trong sự mở rộng tối thượng, xuất sắc và khiếm khuyết là như nhau.

    Trong tính bao la quảng đại của sự mở rộng tối thượng, cao và thấp đều như nhau.


    Sự xuất hiện của luân hồi và niết bàn chưa bao giờ tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào. Chúng bình đẳng về trạng thái. Tuy nhiên, vì thế chúng đã sinh khởi trong tính giác (cái mà trong tự thân không tồn tại như bất cứ thứ gì cả), và dù chúng duy trì trong đó thế nào đi nữa, chúng cũng không tồn tại; chúng bình đẳng trong sự mở rộng và tự do nguyên thủy. Trạng thái an trú trong cảnh giới tỉnh giác như vậy được gọi là Phật quả. Tuy nhiên, việc này không hàm ý rằng có một sự cải thiện đã xảy ra, bởi vì người ta không bao giờ rời xa bản tính tối thượng giống như không gian. Vì vậy, do không có sai lệch hay che chướng nào xảy ra, nên tất cả các hình tướng ảo tưởng của ba cấp độ tồn tại được hiểu rõ ràng chỉ là tính giác, thứ mà tự thân không có nền tảng và gốc rễ. Như đã nói trong Cảnh giới Chiếu Sáng Toàn Thể:

    Trong một cảnh giới duy nhất của đại viên mãn

    Sai lệc và không sai lệch chẳng phải là hai thứ khác biệt

    Sai lệch là hoàn toàn thanh tịnh trong bản chất.


    Và:

    Cái thấy, thiền định, hành động và kết quả

    Cả bốn điều này ngay từ đầu

    Là trí tuệ bản nguyên tự sinh.

    Không có sai lệch và không có che chướng

    Xuất hiện do tập hợp các nguyên nhân và điều kiện.

    Thứ tám, tính giác siêu việt giáo lý của các thừa thấp hơn và thoát khỏi các đặc trưng khái niệm của chúng.

    8. Trong bản tính của tâm trí, giác ngộ, giống như không gian,

    Không có các mặt, không phương hướng, không chia tách.

    Trong đó không có cái thấy, không có thiền định,

    Và không có thệ nguyện để tuân thủ.

    Trong đó không có hoạt động nỗ lực;

    Không có bức màn nào che chắn trí tuệ nguyên thủy.

    Không có tu tập về nền tảng, không có con đường để đi qua.

    Không có “thứ vi tế”;

    Vì (thô và tế) không phải là hai,

    Không có liên kết nào giữa chúng.

    Quy kết về tồn tại hay không tồn tại đều bị siêu vượt;

    Như vậy không có tốt hay xấu.

    Tất cả là một sự mở rộng, trong đó như trên một hòn đảo vàng,

    Không có sự khác biệt.

    Bản tính tự sinh khởi của tâm trí,

    Giống như không gian phi hiện hữu,

    Bất chấp sự mô tả và biểu lộ.


    Tính giác tối thượng, tự sinh, siêu việt giáo lý của các thừa thấp hơn. Trong chiều sâu của không gian, không có trên hay dưới, không có trung tâm hay chu vi. Cũng giống như vậy, bản tính của tâm trí, tâm giác ngộ vô thượng, hiện hữu giống như không gian, không có cấu trúc khái niệm. Như được nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Bản tính của tôi giống như không gian,

    Ví dụ áp dụng cho mọi thứ

    Trong không gian thanh tịnh không có sự cố gắng;

    Trong không gian thanh tịnh không có gì để cố gắng vì nó.

    Khôn gian hoàn toàn vượt ngoài mọi hành động, nỗ lực và cố gắng.


    Như Palgyi Yeshe 39 đã nói:

    Tính giác, tự nhận thức và hiện diện tự phát,

    Vượt ngoài tâm trí.

    Bản tính của tâm trí

    Là không gian vượt ngoài cả trung tâm và chu vi.

    Nó không thể được nhận biết bằng tám thức.

    Đó là bản tính của tính giác tự sinh.


    Như điều này cho thấy, tâm giác ngộ tối thượng như không gian thì không có các bên hay chiều hướng, không có nhị nguyên hay bất nhị, vân vân. Nó thoát khỏi mọi đặc tính khái niệm và đã như vậy ngay từ đầu. Vua Sáng Tạo Toàn Thể nói:

    Bời vì hình dạng của tôi thâm nhập tất cả,

    Từ đâu không có cái gọi là nhị nguyên.

    Vì tôi là trí tuệ nguyên sơ tự sinh ngay từ đầu,

    Chẳng có gì nhờ đó tôi được xác nhận.


    Giống vậy, tâm giác ngộ tối thượng không thể được phân biệt thông qua bất cứ quan điểm nào. Nó không thể được tu luyện qua bất cứ loại thiền (có sắp đặt) nào. Đúng như Vua Sáng Tạo Toàn Thể tuyên bố:

    Tương tự, tôi, tâm trí giác ngộ, bản thể và tác nhân trong mọi thứ,

    Siêu việt mọi phạm vi và đối tượng của kinh nghiệm.

    Cho nên, ngay từ đầu, không có cái nhìn thấy tôi

    Và chẳng có gì để thiền.


    Vì, như những văn bản này ngụ ý, tính giác không có bất cứ sự tồn tại nào, khi các mật nguyện về không có gì để nắm giữ được hiện thực hóa,40 các giai đoạn phát sinh và thành tựu, được phú cho những đặc tính, không còn cần thiết nữa. Không có giới nguyện tư tưởng nào cần tuân thủ, không có hoạt động nào cần thực hiện với nỗ lực cao độ. Không có kết quả; không có thành tích nào được ban tặng. Ngoài bản thân tính giác, một mặt không có trí tuệ bản nguyên “tốt”, mặt khác không có các che chướng “xấu”. Như Vua Sáng Tạo Toàn Thể tuyên bố:

    Bản tính này hiện diện tự nhiên ngay từ đầu,

    Và do đó không cần cố gắng hay thành tựu.

    Vì trí tuệ nguyên sơ tự sinh khởi không bị che chướng,

    Tính giác, tự nhận thức, không bị kết xuất ánh sáng.


    Bởi vì bản tính của tính giác là không có sự suy diễn khái niệm, không có sự tu tập trên nền tảng và con đường. Cũng không có một con đường để tiến bộ thông qua sự tăng trưởng dần dần những phẩm chất tốt đẹp. Vua Sáng Tạo Toàn Thể nói:

    Vì mọi thứ lưu trú trong cấp độ của tôi,

    Không có cơ sở nào cho ý tưởng thăng hạng nhờ tu luyện.


    Bởi vì tính giác từ nguyên thủy đã thoát khỏi sự vi tế và thô thiển, nghĩa là, người nhận biết và một đối tượng được nhận biết, nên bây giờ nó không thể được mô tả là “một thứ vi tế”. Và vì “vi tế” và “thô thiển” không có tính thực tế, dù tách biệt hay cùng nhau, làm sao có thể có mối quan hệ giữa chúng? Một lần nữa, trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể chúng tôi tìm thấy:

    Vì từ đầu tôi đã thoát khỏi người nhận biết và cái gì đó được nhận biết,

    Nhãn mác “tinh tế” không thể áp dụng cho tôi.


    Hơn nữa, vì tính giác siêu nghiệm mọi loại quy kết hoặc phủ nhận thông qua quan niệm sai lầm về tồn tại hay không tồn tại cái này hay cái kia, các hiện tượng không tốt cũng không xấu. Chính vì lý do này mà bất cứ điều gì sinh khởi, bất cứ thứ gì xuất hiện, đều là sự tự kinh nghiệm của tính giác, sự hiển lộ của trí tuệ nguyên sơ. Như một phương tiện đưa chúng ta tới kết luận rõ ràng rằng mọi thứ là thanh tịnh bản nguyên, trạng thái rộng mở và tự do, mà Longchenpa đã đưa ra ví dụ về hòn đảo vàng. Khi đến một nơi như vậy, người ta không thể tìm thấy đất và đá thông thường, vì mọi thứ đều được nhận ra là vàng mà không có bất cứ sự khác biệt nào. Theo cách tương tự, mọi hình tướng ở trong tính bao la của pháp thân vĩ đại mà không bao giờ lạc khỏi nó. Chúng ở lại trong sự mở rộng nguyên thủy của pháp tính, không có sự phân biệt tốt hay xấu. Nói cách khác, chúng an trú trong tính giác, bản tính tự sinh khởi của tâm trí, giống như không gian, thoát khỏi mọi cực đoan. Khi tìm kiến bản tính của tâm trí, người ta không thể sử dụng một phương pháp không cởi mở và tự do. Người ta không thể tìm kiếm nó bằng cách chấp nhận cái này và bác bỏ cái kia hoặc thông qua thực hành có chủ ý về cái thấy, thiền định, hành động và kết quả. Nó không thể được chỉ ra bằng những ví dụ, trình bày bằng ngôn từ, vân vân. Nó vượt xa tầm với của tất cả những thứ đó. Trong Gặp Gỡ Ba Thân có nói:

    Vượt ngoài những cực đoan của sinh và diệt,

    Thoát khỏi mọi hành động có chủ ý là sự khuyếch trương vĩ đại

    Không có sự đa dạng như hòn đảo vàng.

    Gốc rễ để đoạn diệt

    Bóng tối và các cực đoan

    Là tâm trí giác ngộ.

    Bên trong tâm trí giác ngộ,

    Bốn cực đoan là không tránh được,

    Nhưng nó không bị ảnh hưởng bởi những cực đoan như vậy.

    Vì vậy, ngầm định rằng, nó thoát khỏi các sai lệch.
  8. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Thứ chín, tính giác vượt ngoài nhân quả, siêu việt thiện và ác.

    9. Bởi vì tinh hoa tối thượng

    Tính giác, mở rộng, không bị ngăn ngại

    Không thể được tạo dựng,

    Nó không được cải thiện bằng đạo hạnh,

    Nó không thể bị thay đổi,

    Nên cái ác không thể làm hại nó.

    Bởi vì không có hành động cũng như kết quả của nó,

    Không có sự chín muồi của niềm vui và nỗi buồn.

    Vì trong đó không có tốt và xấu,

    Không có gì để lấy hay bỏ,

    Không có luân hồi, không có niết bàn.

    Bởi vì không có suy nghĩ và không có biểu hiện,

    Tỉnh giác là một không gian thiếu vắng những phiền phức như vậy.

    Vì không có tiền kiếp hay hậu kiếp,

    Dòng tái sinh chỉ là sự quy kết.

    Cái gì sinh? Ai được sinh ra và ở đâu?

    Có hoạt động gì ở đó? Kết quả chín muồi của nó là gì?

    Mọi thứ giống như không gian.

    Hãy nghĩ về nó và nghiền ngẫm về nó.

    Bản tính nền tảng của mọi sự vật, trí tuệ bản nguyên tối thượng, bản tính kim cương của tịnh quang, là tính giác rộng mở, không bị cản trở, pháp thân trần trụi, tính không của sử trống rỗng. Tính không ban sơ vĩ đại này chẳng thể được tạo ra thông qua những nguyên nhân và điều kiện, đó là vì sao lòng nhân đạo, thực hành thập thiện, không cải thiện được nó. Tính giác trống không được làm cho tốt hơn nhờ đức hạnh; nó là một trạng thái hoàn toàn tự do và rộng mở của trí tuệ bản nguyên.

    Theo cách như vậy, tính giác trống rỗng, trí tuệ bản nguyên, thâm nhập tất cả và không bị ngăn ngại như không gian, chẳng thể bị sửa đổi ngay cả khi tam giới trỗi dậy chống lại nó như kẻ thù. Bất kể hành động đen tối tiêu cực nào được thực hiện, chúng cũng không thể làm tổn hại đến tính giác, vì nó là kim cương tối thượng bất khả hủy diệt. Người ta có thể đạt được niềm tin vào điều này bằng phương tiện của “mười hai tiếng cười vang kim cương”, được nói đến trong mật điển Khối Châu Báu:

    Kye! Tinh hoa của Lời Phật, hãy chứng kiến cái thấy: trí tuệ bản nguyên, tự sinh khởi. Nó kỳ diệu làm sao! Nó siêu việt cả tội lỗi và đức hạnh, cả cái thấy và thiền định. Nền tảng là không biến đổi. Bất cứ hành động nào được thực hiện từ thân và lời, bản thân nền tảng không giúp cũng không hại. Ha ha!
    Tương tự, vì các đời quá khứ và tương lai, cũng như tiến trình nghiệp báo của nhân và quả, không có sự tồn tại của trí tuệ bản nguyên (vốn trụ ngụ trong nền tảng của pháp thân, trống rỗng, tỉnh giác tự nhận thức, trí tuệ bản nguyên hoàn toàn rộng mở và tự do), cũng không có kết quả chín muồi nào của hạnh phúc và đau khổ. Tuy nhiên, đối với những người chưa chứng ngộ bản chất của tính giác, chuỗi nghiệp báo của nguyên nhân và kết quả chín muồi của chúng về niềm vui và nỗi buồn vẫn thực sự tồn tại. Và nó vẫn tiếp tục tồn tại cho đến khi chấm dứt nhận thức nhị nguyên. Mặt khác, đối với những hành giả đã chứng ngộ “sự cản kiệt tối hậu” của các hiện tượng trong pháp tính thanh tịnh nguyên sơ, trống rỗng, không còn hành động nghiệp báo, không nguyên nhân, và không kết quả chín muồi của hạnh phúc và đau khổ. Mật điển Khối Châu Báu nói:

    Hãy xem cách thức căn bản của các hiện tượng! Thật kỳ diệu: các hình tướng không biến đổi và màu sắc của chúng không thay đổi. Bất kể hạnh phúc hau đau khổ được cảm nhận, trên thực tế chẳng có thay đổi nào. Ha ha!
    Bởi vì không có sự suy diễn khái niệm nào trong không gian bí mật, không chướng ngại của tính giác, vượt ngoài mọi lợi ích và tổn hại, nên không có chư Phật, chẳng có chúng sinh, hay bất cứ thứ gì khác. Không có tốt cũng chẳng có xấu. Không chấp nhận cũng chẳng từ chối. Không có đặc trưng nào cả, dù là luân hồi hay niết bàn. Khi đã hiểu rằng không gì có thể gây ô nhiễm hoặc hoen ố thể tính của tính giác và rằng bản thân tam giới chỉ là tính thanh tịnh bản nguyên vĩ đại, mọi hiện tượng trở thành tính bao la không thể tưởng tượng và không thể diễn bày vượt ngoài mọi cấu trúc khái niệm. Khi các hành giả đạt được mức chứng ngộ này, an định trong trạng thái tỉnh giác, thì bất kể họ thực hiện hành động nào, dù tích cực hay tiêu cực, những hành động như vậy chẳng mảy may mang lại lợi ích hay tổn hại nào cho họ. Vì những hành giả này là một với tính giác. Mật điển Khối Châu Báu nói:

    Ngay cả khi bạn cầm lấy một vũ khí sắc bén và giết mọi chúng sinh trong một khoảnh khắc, điều này sẽ không ảnh hưởng đến dòng tâm thức của bạn một chút nào. Ha ha!
    Vì những hành giả có mức độ chứng ngộ như vậy thì không có tiền kiếp hay hậu kiếp. Mọi sự xuất hiện của các kiếp sống chỉ là vấn đề của những cái tên, không hơn một sự quy kết. Những chúng sinh này nhận ra rằng tam giới luân hồi trên thực tế là tính thanh tịnh bản nguyên vĩ đại. Họ được nói là “biến chiều sâu của luân hồi thành pháp giới”. Quả thực, khi tính thanh tịnh bản nguyên, trạng thái tự do và mở rộng nguyên thủy, được chứng ngộ trên thực tế, sự tái sinh nào có thể xảy ra? Vì mọi hình tướng và kinh nghiệm trong các kiếp quá khứ và tương lai đều tan biến vào trong sự mở trống của pháp tính. (Từ quan điểm này) người nào ở đó và người đó sẽ đi đâu? Vì không ra khỏi nền tảng, nơi chốn luân hồi và chúng sinh luân hồi cùng tan biến không phân chia vào nền tảng. Và vì không có hành động nào, trong trắng hay đen tối, được thực hiện, nên những kết quả chín muồi nào từ những hành động này có thể xảy ra? Mọi thứ đều lắng xuống không phân biệt vào không gian bao la như bầu trời , trạng thái tự do và rộng mở nguyên thủy, của tính bình đẳng vượt ngoài mọi suy diễn khái niệm. Đây là thứ mà người ta nên suy nghĩ và quán chiếu về nó, vì nhờ nó mà người ta sẽ nhận ra bản tính nền tảng và chân thực của vạn sự.

    Thứ mười, những phần tử không thể phân chia của vật chất và khoảnh khắc không thể phân chia của tâm thức luôn luôn không tồn tại.

    10. Dù bạn có thể khảo sát bằng suy luận,

    Cân nhắc, suy ngẫm hết lần này tới lần khác,

    Các hợp phần của mọi sự vật đều không có thực tại.

    Vì không có một phần tử đơn lẻ nào được tìm thấy,

    Chẳng có khoảng khắc nào không phân chia,

    Không có thứ được nhận biết và không có chủ thể nhận biết,

    Ngay trong khoảnh khắc này, mọi thứ an định

    Trong bản tính nền tảng tinh túy.

    Khi khảo sát, vạn sự không tồn tại.

    Tương tự, khi bỏ qua khảo sát,

    Chúng cũng không có sự tồn tại.

    Ngay cả ở mức độ thông thường,

    Vì chẳng có gì được tìm thấy,

    Mọi hiện tượng trong tất cả các khía cạnh và mọi lúc

    Không có sự tồn tại.

    Hãy hiểu rằng chúng giống như ảo ảnh huyễn thuật,

    Thiếu vắng mọi thực tại.

    Như đã giải thích về không có thiện hạnh và ác hạnh, không nguyên nhân và kết quả. Tuy nhiên một lần nữa, thông qua khảo sát nhiều lần và suy ngẫm, như khi xem xét ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai, không có gì được tìm thấy. Một phân tích về các hiện tượng bên ngoài, bên trong và trung gian cho thấy không có gì được tìm ra ngoài pháp tính, nó vượt trên mọi cấu trúc khái niệm. Các hiện tượng bên ngoài và bên trong (vũ trụ và cư dân của nó) đều có thể được quy giản thành các phần nhỏ, xuống đến các hạt vô cùng nhỏ. Và ngay cả những hạt này cũng có thể được chứng minh là không có thật. Vì vậy, cái gọi là nguyên nhân và kết quả của chúng, đức hạnh và thói xấu, được chứng minh là không có một mảnh nhỏ nhất tồn tại thực sự nào. Chúng trống rỗng trong tự thân. Bên ngoài pháp tính, tỉnh giác, trống rỗng, vô điều kiện, và thoát khỏi mọi diễn hóa khái niệm, chẳng có gì hết.

    Khi khoảnh khắc không thể phân chia được phân tích logic, nó không được tìm thấy. Khi khảo sát thời gian quá khứ, hiện tại, và tương lai, quá khứ đã diệt, tương lai chưa sinh, còn thời điểm hiện tại của tâm trí diệt ngay lập tức. Và không có thời gian ở giữa tất cả những thời điểm như vậy, thời gian không được tìm thấy. Ngay cả khi khoảnh khắc không thể phân chia của tâm thức được thiết lập hợp lý (theo hệ thống giáo lý Vaibhasika, Phân biệt thuyết, và Sautrantika, Kinh lượng bộ), cái gọi là tiến trình nhân quả của thiện và ác cũng không được tìm thấy. Khi đối tượng được nhận thức và tâm trí nhận thức được phân tích, khảo sát và suy ngẫm, không có gì tồn tại cả. Mọi thứ tan biến vào sự mở rộng của pháp tính, thoát khỏi suy diễn khái niệm, không gian của tính bình đẳng vĩ đại. Ngay trong khoảnh khắc này, nó an trú trong tính giác, bản tính nền tảng, trạng thái tịnh quang tinh túy, và chẳng ở đâu khác.

    Khi phân tích, khảo sát và suy ngẫm, các hiện tượng được thấy là không tồn tại. Điều tương tự cũng đúng khi chúng không được phân tích, khảo sát và suy ngẫm như vậy. Vì những thứ được đưa ra phân tích như vậy là không tồn tại một cách nguyên thủy. Chúng không có nền tảng và không có gốc rễ. Chúng là một chiều hướng rộng mở không tham chiếu và bao trùm toàn thể.

    Các hiện tượng không chỉ không tồn tại ở cấp độ tối hậu. Dù ở mức tương đối, ngay cả một hạt vi trần cũng không tồn tại. Ví dụ, khi một người ảo ảnh có vẻ đang hành động đức độ hoặc tội lỗi, người ảo ảnh sẽ không tự mình trải nghiệm kết quả chín muồi cho hành động của anh ta bởi vì một người ảo ảnh không phải là người thực sự. Do đó, trong khi chẳng có cái gì là sự chín muồi trên tiến trình nhân quả của thiện và bất thiện đối với bất cứ ai, yogi sẽ không nghĩ về nó ngay cả dưới dạng là một ảo tưởng. Vì trong mọi thời điểm (ở cả mức độ tối thượng và tương đối), các hiện tượng luân hồi và niết bàn trên mọi phương diện đều không có thật. Bởi vì mọi hiện tượng đều không tồn tại thực sự và giống như những ảo ảnh huyễn thuật, chúng không tồn tại như những thứ có thật. Nên hiểu rằng chúng là sự trình diễn của tính không vĩ đại, trạng thái của đại không duy nhất, chiều kích bao trùm toàn thể của một tính không vĩ đại.
  9. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Thứ mười một, giải thoát đến từ việc chứng ngộ sự không tồn tại của các hiện tượng.

    11. Ngay trong khoảnh khắc đối diện

    Những giấc mơ và ảo ảnh huyễn thuật,

    Chúng sinh non trẻ bám dính một cách ngu dại

    Vào tồn tại giả định của chúng

    Và bị chúng dẫn dắt.

    Nhưng những ai đã hiểu bản chất của chúng

    Chẳng thể bị lừa dối theo cách đó.

    Trong cùng cách thức như vậy, những người không biết

    Vạn sự không tồn tại

    Bám luyến vào mọi thứ như thể có thật,

    Và bị chúng kiểm soát, họ quay cuồng trong luân hồi.

    Yogi thành thạo trong hiểu biết chân như thực tại

    Xác dịnh rằng mọi thứ đều thiếu vắng sự tồn tại đích thực

    Ngay trong khoảnh khắc họ nhận biết chúng.

    Do đó, họ tìm thấy sự tự do

    Trong không gian pháp tính vượt ngoài

    Luật nhân và quả của nghiệp báo.

    Những thứ được nhìn thấy trong các giấc mơ và ảo ảnh huyễn thuật là trống rỗng và không tồn tại, nhưng khi nhiều kinh nghiệm ảo ảnh khác nhau xuất hiện, những đứa trẻ vô minh lại nghĩ rằng chúng là thật. Bị chúng lừa dối và dính mắc mạnh mẽ vào sự tồn tại giả định của chúng. Mặt khác, những người già dặn biết rằng các ảo ảnh huyễn thuật là giả tạo, nên không được chấp nhận. Theo cách tương tự, mặc dù các hiện tượng xuất hiện với chúng ta là không tồn tại, người kém trí không hiểu rằng những hiện tượng mà họ nhận thức rõ ràng chỉ là những hình tướng hư ảo, trống rỗng. Họ chẳng nhận ra các hiện tượng là không tồn tại. Họ bám vào danh tính giả định của chúng, hay “cái tôi” và bị lừa dối. Họ coi các hiện tượng là có thật. Vì vô minh và si mê, họ lưu chuyển trong luân hồi.

    Mặt khác, những yogi lão luyện sẽ hiểu và nhận ra chân như, bản tính nền tảng của mọi hiện tượng. Họ tin chắc rằng các sự vật của thế giới hiện tượng hoàn toàn không tồn tại, của luân hồi và niết bàn, ngay trong khoảnh khắc được nhận biết, chúng chẳng là gì ngoài những hình tướng trống rỗng, xuất hiện rõ ràng nhưng lại huyễn ảo. Kinh Tala Quý Giá có nói:

    Mọi hiện tượng giống như sugata.

    Những người có tâm trí trẻ thơ

    Bám dính vào chúng như có thật

    Do đó, trong các thế giới khác nhau,

    Kinh nghiệm những thứ không tồn tại.

    Tuy nhiên những người đã tu luyện cái thấy,

    Hiểu được bản tính (của những sự vật này).

    Kim Cương Cực Hỷ nói trong Sự Chìm Lắng Tự Nhiên của các Đặc Tính:

    Pháp tính, bản tính rộng mở, bất nhị của mọi sự trong luân hồi,

    Không được nghĩ đến trong các thừa thấp hơn;

    Nhưng dê núi có thể leo lên vách đá dễ dàng

    Một kỳ tích không thể thực hiện đối với các loài thú khác, thì lại có thể đối với chúng.

    Những người đã chứng ngộ pháp tính, bản tính nền tảng của vạn sự, đã nhận ra sự không tồn tại của các hiện tượng làm ra tiến trình nhân quả: hạnh phúc và đau khổ là kết quả chín muồi của những hành động, vân vân. Họ đạt được giải thoát trong bản tính nền tảng, trong sự bao la của pháp tính, thoát khỏi mọi suy diễn khái niệm. Trí tuệ bản nguyên hiển lộ trọn vẹn với họ, và họ chẳng bao giờ bị mê lầm nữa.

    Mười hai, tinh hoa cốt lõi của không tồn tại được hiển thị.

    12. Bản tính giác ngộ của tâm trí

    Không thường hằng cũng chẳng gián đoạn.

    Đó là nơi trú ngụ tự nhiên của trí tuệ nguyên thủy

    Không có chủ thể nhận biết và đối tượng được nhận biết.

    Tỉnh giác, trần trụi và không có nguyên nhân và kết quả,

    Là nơi trú ngụ của cõi giới đơn nhất đó

    Trong đó không có đức hạnh và tội lỗi.

    Tỉnh giác, mở rộng, không bị cản trở, thoát khỏi trung tâm và ngoại vị,

    Là nơi trú ngụ của tuệ tâm

    Của pháp thân Phổ Hiền.

    Tinh hoa cốt lõi của sự không tồn tại,

    Tỉnh giác, tự nhận thức và giác ngộ,

    Được hiển lộ rõ ràng.

    Nó hoàn toàn thanh tịnh và không có đối tượng,

    Trí tuệ bản nguyên của Đấng Chiến Thắng.

    Tính giác, rộng mở và không bị ngăn trở, vượt ngoài tiến trình nhân quả thiện ác, không thường hằng. Vì nó trống không; nó chẳng tồn tại như bất cứ thứ gì hết. Nhưng nó cũng không gián đoạn, vì nó hiểu biết rõ ràng và chiếu sáng mọi sự vật của thế giới hiện tượng, vốn là sự phô diễn của chính nó. Trong chương thứ 119 của mật điển Hiện Thân Giáo Lý Tối Hậu của Đại Toàn Thiện, chúng tôi tìm thấy:

    Nó không gián đoạn; nó sáng chói, tỉnh giác.

    Nó không thường hằng; nó không tồn tại thực sự.

    Nó không phải là hai; nó không có bản sao.

    Nó không phải là một; vì nó thâm nhập khắp nơi.

    Bất kỳ đối tượng của nhận thức nào xuất hiện trong bản tính nền tảng của tâm trí, tức là chân như, tâm giác ngộ tối thượng, lắng xuống bất nhị trong sự mở rộng của tính giác. Tương tự, mọi nhận thức và suy nghĩ của tâm trí (người nhận thức) phát sinh và chìm lắng tự nhiên trong đó. Đối tượng được nhận thức và người nhận thức hòa quyện không thể tách rời trong một trạng thái bình đẳng vĩ đại. Nó không xảy ra theo bất kỳ cách nào khác. Người nhận thức và đối tượng được nhận thức đều chìm lắng tự nhiên và như nhau trong trạng thái trí tuệ bản nguyên tự nhận thức. Chúng không bao giờ trượt ra ngoài sự mở rộng bao la này. Khi thoát khỏi sự ngăn che của những tư tưởng về quá khứ, hiện tại và tương lai, sự tỉnh giác, trần trụi, không che đậy, không có đặc tính của tiến trình nhân quả và nỗ lực hành động, chẳng phải là cái gì có thể được tăng cường nhờ đức hạnh hay bị tổn hại bởi tội lỗi. Nó là một trạng thái rộng mở, không bị ngăn ngại, thoát khỏi mọi diễn giải tinh thần, một trạng thái không bị cản trở bởi các góc và cạnh của nhận thức và suy nghĩ thông thường. Các hiện tượng luân hồi và niết bàn đều tồn tại bất nhị trong sự bao la đơn nhất của tính giác. Như Vairosana đã nói:

    Tính giác, không thể diễn tả và không bị ngăn trở

    Một trạng thái siêu việt tư tưởng

    Trong đó phiền não của tâm trí được tịnh hóa

    Quả thực là trí tuệ bản nguyên tự sinh.

    Mọi thứ xảy ra ở đó sinh khởi

    Như sự trang hoàn của pháp thân.

    Ở lại trong đó mà không khuấy động là an trú trong tính giác không chướng ngại như không gian, vượt ngoài thiên đỉnh và thiên đế, vượt ngoài trung tâm và chu vi. Đây là ý nghĩa (an trú bên trong) tâm trí tuệ của pháp thân Phổ Hiền. An trú tự nhiên trong pháp tính nền tảng theo cách này không có nghĩa nào khác hơn là có một sự xác thực mang tính quyết định về nó. Langdro Konchok Jungne 41 đã nói:

    Bên trong tâm trí

    Có một kinh nghiệm không thể tưởng tượng,

    Trần trụi, tự tỏa sáng.

    Nó bao trùm cả luân hồi và niết bàn.

    Nó là tâm trí tuệ của Đấng Chiến Thắng,

    Quá khứ, hiện tại và tương lai.

    Mặc dù những hiện tượng như tiến trình nghiệp báo, đức và vô đức cùng với những hậu quả chín muồi và khuynh hướng thói quen của chúng, đều trống rỗng và vượt khỏi mọi tham chiếu, nhưng chúng không hoàn toàn chẳng có gì, giống như sừng thỏ. Cốt yếu của sự không tồn tại (của chúng) trên thực tế là tính giác, tâm giác ngộ tối thượng.Và chính trong sự bao la của tâm giác ngộ vô thượng này mà mọi hiện tượng đều được tịnh hóa thành trạng thái không đối tượng, rộng mở, không chướng ngại. Chính trong sự bao la rộng mở này mà pháp giới thanh tịnh nguyên sơ, tâm trí tuệ của các Đấng Chiến Thắng, quá khứ, hiện tại, tương lai, siêu việt mọi khái niệm và khuấy động của tâm bình thường, được hiển lộ đầy đủ. Đúng như Palgyi Yeshe, một trong 25 đệ tử của Guru Rinpoche đã nói:

    Tính giác, tự nhận thức và hiện diện tự nhiên,

    Vượt ngoài tâm trí.

    Bản tính của tâm trí

    Là không gian vượt ngoài trung tâm và chu vi.

    Nó không thể được nhận biết bởi tám thức.

    Đó là bản tính của tính giác tự phát sinh.
  10. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Thứ mười ba, đây là ý nghĩa của việc chứng ngộ sự không tồn tại.

    13. Trong trường hợp của những yogi ảo tưởng,

    Kinh nghiệm tự có về tính giác

    Phát sinh như sự trình diễn không ngừng của những sự vật không tồn tại

    Những yogi đó tin tưởng rằng trong thời điểm xuất hiện,

    Các hiện tượng không có sự tồn tại.

    Do đó họ không tạo ra chút nỗ lực nào

    Chấp nhận cái này, từ chối cái kia.

    Với tâm trí khoáng đạt không chút bận tâm,

    Họ nghỉ ngơi trong trạng thái để mặc

    Mọi thứ như chúng là.

    Đối với các yogi đã chứng ngộ mọi hiện tượng là sự tự kinh nghiệm như ảo ảnh của tính giác, bất cứ thứ gì xuất hiện, đối tượng của sáu thức, chẳng gì khác hơn là tính giác kinh nghiệm chính nó, phát sinh ngay khoảnh khắc nó được nhận thức là sự phô diễn của cái không tồn tại. Những yogi như vậy hoàn toàn chắc chắn và tuyệt đối rằng những thứ như vậy không tồn tại. Tuy nhiên, các hiện tượng chẳng đơn giản là một cái không trống rỗng (như khi chúng ta nói “không có trà; không có nước”). Những hiện tượng không tồn tại có thể xuất hiện theo mọi cách có thể. Chúng phát sinh không ngừng. Và yogi chỉ đơn giản là để mặc sự phô diễn biểu lộ như nó đang là, không cần sắp đặt gì cả. Họ đóng lên đó (những hình tướng như vậy) dấu ấn nguyên thủy (của sự không tồn tại). Nhờ niềm tin chắc chắn rằng các hiện tượng, ngay lúc chúng xuất hiện, không tồn tại, nhưng yogi này không thực hiện bất kỳ nỗ lực có chủ ý nào để chấp nhận một số hiện tượng này và bác bỏ những hiện tượng khác. Họ không có hy vọng hay sợ hãi về vấn đề của mình; họ không khẳng định một số này và phủ nhận một số khác. Với những người mà bất cứ cái gì xuất hiện chỉ đơn giản là sự hiển thị của những thứ không tồn tại sẽ luôn an trú trong trạng thái vĩ đại của việc để mặc mọi thứ như chúng là, với tâm trí khoáng đạt, vô tư và thư giãn. Họ đắm mình trong tỉnh giác, trí tuệ bản nguyên tự phát sinh. Điều này là như vậy đối với những người đã chứng ngộ bản tính nền tảng như nó thực sự là, và do đó vô tư và thư giãn. Ngược lại, nhưng người không có sự chứng ngộ như vậy và những người chỉ biết nói, và giả vờ đóng dấu sự không tồn tại lên các hình tướng, hoặc lại nữa, những người chỉ thắc mắc về tồn tại hay không tồn tại của các hiện tượng, đã rơi vào cạm bẫy của những kẻ thông minh. Họ không vượt lên trên cấp độ của chúng sinh bình thường. Mật điển Đại Garuda nói:

    Những người rơi vào bẫy của sự thông minh

    Sẽ không vượt ngoài tam giới.

    Nhưng những người nghỉ ngơi

    Thư giãn trong nhận thức của mình, đơn giản, không sắp đặt,

    Không trú ngụ trong luân hồi hay niết bàn.

    Thứ mười bốn, không chứng ngộ tính không tồn tại của các hiện tượng là khiếm khuyết của các thừa thấp hơn.

    14. Chúng sinh non tẻ, bị lôi cuốn bởi những thứ không tồn tại,

    Giống những con thú đang khát đi tìm nước trong ảo ảnh.

    Mong tìm thấy chân lý trong những học thuyết giả tạo, sai lầm

    Họ bị lừa dối trong những giáo lý khác nhau,

    Tưởng rằng chúng là chân thật.

    Bây giờ nếu sai lầm này của tri thức thông thường,

    Thuộc về các thừa tiệm tiến, tổng cộng có tám,

    Nó không được loại trừ, tinh hoa tối thượng không được nhận ra.

    Bởi vì họ không chứng ngộ bản tính nền tảng của mọi hiện tượng (nghĩa là sự không tồn tại của chúng), những chúng sinh khờ dại, non trẻ, bị mê hoặc bởi ảo tưởng về người nhận thức và những thứ được nhận thức, như những con nai trên đồng bằng rộng lớn phía bắc. Khi nhìn thấy ảo ảnh, chúng nhầm nó với nước và chạy theo nó không mệt mỏi với hy vọng làm dịu cơn khát hành hạ mình, vì vậy, những chúng sinh non trẻ coi tất cả những hiện tượng quy ước mà họ có thể nhận thức được như những thứ thực sự tồn tại. Họ bám chặt vào những lý thuyết sai lầm và mong đợi chúng biểu hiện bản tính nền tảng. Cho nên họ bị tám thừa thấp hơn lừa gạt, cho rằng chúng là rất thật. Bị ảnh hưởng theo cách này, họ không thể đạt được (sự chứng ngộ) bản tính nền tảng tối hậu và chân thực của mọi hiện tượng.

    Sai lầm của tâm trí bình thường bao gồm việc bám chặt, như thể bám chặt vào chân lý tối hậu, vào những học thuyết được suy diễn ra bằng tri thức về cái thấy, thiền định, hành động và kết quả được đưa ra trong tám thừa nối tiếp nhau. Nếu sai lầm này không được loại trừ, sẽ không thể chứng ngộ bản tính nền tảng, tinh hoa tối thượng, cái thấy chân thực không bị tạo dựng của thừa kết quả thuộc Atiyoga. Longchenpa nói trong bản tự bình luận của mình:

    Về điều này, cái ngã cá nhân ám chỉ đến các quá trình suy nghĩ của tâm trí bình thường, nó tự động giả định thực tại về đối tượng và chủ thể nhận thức, ưa và ghét. Hiện tượng bản ngã là sự cụ thể hóa của cái không tồn tại. Nó cũng bao gồm việc tuân thủ mạnh mẽ, thiếu sáng suốt vào cái thấy, thiền định, hành động và kết quả của nhiều học thuyết khác nhau được sáng chế ra bằng tri thức và được coi là chân lý cuối cùng.

    Thứ mười lăm, tính không tồn tại được thể hiện là bản tính thực sự.

    15. Atiyoga là sự mở rộng tối thượng,

    Siêu việt từng phạm trù.

    Không có bất cứ thứ gì, chỉ là bản tính như không gian.

    Ngay trong khoảnh khắc này không có chuyển động nào dù là nhỏ nhất

    Từ cảnh giới nền tảng của pháp thân.

    Khi bạn nghỉ ngơi trong sự mở rộng nguyên sơ,

    Đại lạc tự nhiên sẽ trình diện chính nó.

    Atiyoga, Đại Toàn thiện, siêu việt mọi phạm trù: tồn tại và không tồn tại, nhị nguyên và bất nhị, thường hằng và gián đoạn, là hoặc không là cái gì đó, giống và khác, vân vân. Nó là sự mở rộng vĩ đại, tối thượng, toàn khắp của tính bình đẳng, trống rỗng và tỉnh giác. Bên trong nó không có gì cả, không nhân cũng không quả, không thiện cũng không ác, không chấp nhận hay bác bỏ. Đại Toàn Thiện có bản chất của không gian. Như đã nói trong mật điển Khối Châu Báu:

    Ở đây, không có ngoài không có trong,

    Không có chỗ để nhìn, trên, dưới.

    Trong tất cả các hướng chính và trung gian,

    Không có thứ gì dù nhỏ nhất để người ta có thể nắm bắt.

    Và:

    Ở đó không có gì được thực hiện

    Và chẳng có gì được hoàn thiện ở đó.

    Nó vượt ngoài chuyện ở lại hay không ở lại;

    Đến hay không đến.

    Nó an trụ trong chân như trống rỗng, vĩ đại nguyên sơ.

    Nếu an trú, không bao giờ rời khỏi, trong pháp tính như không gian, thì ngay trong khoảnh khắc này người ta không rời khỏi tầng nền tảng của pháp thân. Tầng nền tảng này phải được hiểu theo nghĩa là việc nghỉ ngơi trong tính thanh tịnh bản nguyên vĩ đại, sự mở rộng tối thượng, ban sơ. Nói cách khác, nếu an trú trong trạng thái trí tuệ bản nguyên tự sinh, vốn chẳng tồn tại như bất cứ thứ gì, và là trạng thái trống rỗng nhưng hiện diện tự phát chói ngời, thì người ta hòa nhập bất khả phân với tầng nền tảng của pháp thân. Và khi an định trong cảnh bao la này mà không dao động khỏi nó, trạng thái này được mô tả là nghỉ ngơi trong pháp tính trống rỗng, nguyên sơ, mở trống tối thượng. Mật điển Khối Châu Báu nói:

    Bạn không an định bây giờ, nhưng ngay từ đầu

    Bạn nghỉ ngơi trong nền tảng vốn đã từng như vậy

    Những người lấy cảnh này làm nơi trú ngụ của họ

    Được ca ngợi bởi toàn thể chư Phật.

    Và:

    Đây là chỗ ở của trí tuệ bản nguyên vô trụ

    Của vị Phật nguyên thủy ngay từ đầu.

    Do vậy người ta nên an trú trong cảnh bao la nguyên thủy này: tầng nền tảng của pháp thân. Nếu bây giờ người ta để yên cho tính giác tự nhận thức trong trạng thái tự nhiên không bị sắp đặt của nó, nếu người ta an trú trong trạng thái đại lạc tự nhiên, nhị nguyên và bất nhị sẽ tự động hợp nhất thành một vị duy nhất, như khi người ta đổ nước vào trong nước.

    Thứ mười sáu, Phật quả không thể đạt được qua quá trình gây dựng.

    16. Nếu tính giác, trạng thái bí mật của trí tuệ,

    Bạn không chứng ngộ,

    Bạn sẽ không tìm thấy giải thoát

    Thông qua những hành động thiện hạnh bạn có thể gây dựng.

    Bạn không hiểu sao?

    Mọi thứ có điều kiện (các pháp hữu vi) đều biến mất,

    Định mệnh sẽ tan rã.

    Làm sao nút thắt chặt này

    Của thân, lời và tâm trí

    Có thể tiếp xúc với

    Tinh hoa tối thượng và bất hoại?

    Trạng thái bí mật, sâu xa của pháp thân, nói cách khác, tính giác tự nhận thức, vượt ngoài phạm vi khảo sát tri thức và thực hành bằng nỗ lực. Nó phải được thực hiện trực tiếp. Người ta không bao giờ có thể được giải thoát nhờ thiện hạnh được gây dựng, nhờ những cố gắng có chủ ý của suy nghĩ, lời nói và hành động và bằng cách thanh lọc các che chướng. Longchenpa hỏi chúng ta, có phải rằng các pháp hữu vi là vô thường và thoáng chốc, như những cột trụ và những cái nồi, đều bị hoại diệt? Đây là điều mà chúng ta phải hiểu. Mặt khác, tính giác, trạng thái bí mật của trí tuệ, không phải cái gì đó được tạo ra bởi nguyên nhân và điều kiện, trong khi mọi thiện hạnh đều là sản phẩm từ sự kiến tạo của thân, khẩu, ý. “Tạo” trái ngược với “không tạo”. Nếu một cái gì đó được tạo ra, nó nhất thiết “có thể bị hoại diệt”. Nếu nó không được tạo ra, thì nó vượt ngoài sự phân biệt thông thường là có thể bị hoại diệt và không thể bị hoại diệt.

    Bây giờ, nếu ba phạm trù (chủ thể, đối tượng, và hành động) được coi là thực sự tồn tại, bất cứ hành động tích cực nào của thân, ngữ, tâm được thực hiện, chúng sẽ chỉ mang lại kết quả tạm thời:hạnh phúc của các cõi trời và người. Trạng thái của pháp thân, sự giải thoát khỏi hiện hữu luân hồi, sẽ không đạt được. Hơn nữa, mọi công hạnh do tổ hợp hoặc có điều kiện, được tạo ra từ các nỗ lực của thâm, khẩu, ý, là một nút thắt chặt chẽ mà trong đó, tính giác, pháp thân, bị trói buộc. Làm sao nó có thể đạt được tinh hoa sáng ngời bất hoại, vượt ngoài sinh tử và giống như hư không, thoát khỏi mọi chướng ngại? Điều đó là hoàn toàn không thể. Như được nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Ngay cả mọi suy nghĩ chính xác cũng bất lực trong việc tạo ra nó

    Do nút thắt ràng buộc chặt chẽ cả lời nói và hành động,

    Rất khó để với tới pháp tính.

    Thứ mười bảy, chúng ta được khuyên không nên dao động khỏi tầng nền tảng của không tồn tại.

    17. Vì vậy, nếu bạn mong ước chứng ngộ

    Bản tính nền tảng tuyệt luân của mọi hiện tượng,

    Hãy từ bỏ mọi thứ như trò chơi trẻ con,

    Chúng trói buộc và làm bạn kiệt sức

    Trong thân, khẩu, ý của bạn

    Trạng thái không tồn tại, sự mở rộng

    Không có hoạt động của tâm trí, là bản chất của mọi hiện tượng.

    Đó là pháp tính, nơi trú ngụ

    Của Đại toàn thiện tự nhiên.

    Trong trạng thái toàn khắp này không có hành động,

    Vốn vượt ngoài mọi suy nghĩ,

    Hãy chứng kiến tính bình đẳng vĩ đại và không được tạo dựng

    Sự xác thực tuyệt đối sẽ đến, nó siêu việt

    Nhân quả và gắng sức.

    Do đó, nếu muốn trưởng dưỡng kinh nghiệm của mình về bản tính nền tảng tối thượng như được giải nghĩa trong Đại Toàn Thiện chói ngời. Và nếu mong ước nắm giữ vương quốc của pháp thân ngay trong đời này, (người ta nên hiểu rằng) mọi hành động chấp nhận và chối bỏ, mọi loại nỗ lực, chẳng hạn như thực hành thiện hạnh và kiềm chế những hành vi tiêu cực của thân, ngữ, tâm, chẳng đạt được gì ngoài sự kiệt sức và mệt mỏi của chính mình. Đây thực sự là những việc làm cản trở tính giác. Giống như con tằm tự giam cầm mình bằng nước bọt của chính nó, mọi hành động của ba cửa, được thi hành với hy vọng đạt được tính giác, vốn là trạng thái nằm ngoại mọi hành động có chủ ý như vậy, chỉ thành công trong việc ràng buộc tính giác và không hỗ trợ nó bằng bất cứ cách nào. Nó giống như quét những mảnh vụn trên mặt đất với hy vọng làm quang đãng bầu trời đầy mây. Những hoạt động và nỗ lực của ba cửa không bao giờ kết thúc, và sự mệt mỏi mà chúng tạo ra đều vô ích. Chúng giống như những trò chơi mà trẻ con chơi. Người ta nên từ bỏ chúng hoàn toàn.

    Các hiện tượng ngay trong bản thể của chúng là không tồn tại. Chúng là sự bao la của tính không thiếu vắng mọi hoạt động tinh thần; chúng vượt ngoài luật nhân quả. Chúng vượt trên chấp nhận và từ chối, vượt ngoài cố gắng hành động và nỗ lực suy nghĩ. Người ta nên giống như một người già ngồi thoải mái dưới ánh mặt trời, để mặc mọi thứ như chúng đang là. Người ta nên an nghỉ trong đại lạc của pháp tính, trạng thái viên mãn tự nhiên vĩ đại.

    Khi nghỉ ngơi theo cách này, với hiểu biết rằng tính giác tự sinh trong tính tức thời hiện tại của nó, vượt khỏi mọi hành động và suy nghĩ có chủ ý, trong trạng thái thâm nhập toàn thể như không gian đó, người ta sẽ chứng kiến tính bình đẳng nội tại, tự nhiên, không được tạo dựng của cả luân hồi và niết bàn. Một sự xác thực sẽ nảy sinh từ bên trong rằng tính giác tự sinh này siêu việt nhân quả, vượt ngoài mọi hành động và nỗ lực.

    Thứ mười tám, giải thích về những điểm cốt yếu về tính không tồn tại của các hiện tượng được sử dụng để kết luận.

    18. Trong tâm tỉnh giác, không có đối tượng bên ngoài nào để nhận biết

    Không có chủ thể bên trong nhận biết.

    Khi tỉnh giác, không có thời gian và không gian.

    Sự tỉnh giác vượt qua các hiện tượng sinh và diệt.

    Nó thanh tịnh như không gian

    Chẳng loại xe cộ nào dẫn bạn tới được đó.

    Mọi suy nghĩ về nó đều sai lầm,

    Vì họ theo đuổi các hiện tượng với một nhân dạng.

    Hãy vứt bỏ nền tảng này vì sự chệch hướng và các mức màn che chướng.

    Hãy tin rằng mọi thứ không có sự phân biệt

    Có bản tính của Phổ Hiền,

    Trạng thái toàn khắp và vĩ đại của tính không.

    Hãy giữ trạng thái của pháp tính

    Vượt trên mọi biến đổi và vận động.

    Bằng cách này, bạn bay lên giữa không gian như bầu trời của cái thấy,

    Sự mở rộng nguyên thủy vốn nghỉ ngơi không có cực biên

    Tất cả những điểm then chốt về sự không tồn tại của mọi hiện tượng

    Đều được trình bày ở đây.

    Bất kể người nhận biết và đối tượng được nhận biết như thế nào, các hiện tượng bên trong và bên ngoài của vũ trụ và chúng sinh (luân hồi và niết bàn), có thể xuất hiện, thực tế là ngay lúc xuất hiện, chúng chỉ là những hình tướng trống rỗng của chủ thể kinh nghiệm, là tâm trí. Chúng hoàn toàn không tồn tại. Bản tính của chúng là tính giác tự sinh, vượt ngoài cả thời gian và địa điểm.

    Như được nói trong Sáu Cảnh Bao La:

    Không có nơi trú ngụ, không có ngay cả tính không.

    Không có phương tiện thiện xảo, cũng không có ai nghe.

    Không có đối tượng, và không có hiện tại, quá khứ hoặc tương lai.

    Tính giác siêu việt mọi hiện tượng sinh và diệt. Nó thanh khiết như bầu trời, trong trẻo, không có trung tâm hay chu vi. Vì vậy, người ta không thể được dẫn dắt đến đó bằng phương tiện (giáo lý của) những thừa tạm thời. Trong bối cảnh này, ngay cả tên của các hệ thống giáo lý khác nhau cũng không được tìm thấy. Như đã nói, “Không có sự khẳng định nào ở đó, và không có hệ thống giáo lý nào”.

    Những ý nghĩ mê lầm không nhận ra được cách tồn tại tối thượng của mọi sự như chúng đang là, và coi một vật tồn tại là thứ không tồn tại, gán cho nó một danh tính. Đây là cơ sở và nèn tảng của mọi sai lệch và che chướng. Hãy vứt bỏ tất cả những ý nghĩ như vậy vào không gian bao la tối hậu, trống rỗng nhưng tỉnh giác, người ta phải tin chắc rằng hoàn toàn rằng vũ trụ và chúng sinh, luân hồi và niết bàn, không phân biệt về tính thanh tịnh và bất tịnh, chúng không bao giờ rời xa pháp giới, tâm trí của pháp thân Phổ Hiền, sự rộng mở của tính không thâm nhập khắp nơi. Nếu an định trong chính nơi này và nếu nghỉ ngơi với sự an tâm cao độ trong pháp tính (tâm tỉnh giác vượt ngoài mọi hoạt động tinh thần, vượt khỏi mọi chuyển động và biến đổi), Longchenpa nói rằng người ta “sẽ bay vút lên trên những không gian như bầu trời của cái thấy”, sự mở rộng của tính không nguyên thủy vĩ đại, không ở trong bất cứ cực đoan nào. Có sự xác tín rằng mọi hiện tượng là trống rỗng, chúng là các hiện tượng không tồn tại. Những điểm than chốt trong sự không tồn tại của chúng được bộc lộ trên thực tế là trong trạng thái xuất hiện rõ ràng, chúng không có nền tảng và không có gốc rễ.
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này