1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Kho Tàng Trân Bảo Của Bản Tính Nền Tảng

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi Prahevajra, 21/12/2025.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Thứ ba, dòng chảy tự nhiên của tâm trí được tinh túy hóa thành tính bình đẳng vĩ đại.

    11. Khi tâm thức bạn không lo lắng,

    Như một người chẳng còn gì nữa để làm,

    Và, không căng thẳng hay buông lỏng,

    Tâm và thân nghỉ ngơi thư giãn,

    Tỉnh giác, bình đẳng vô tận, trùm khắp,

    Vô nhiễm như không gian,

    Nghỉ ngơi trong pháp giới,

    Không bao giờ tách rời.

    Khi yogi thư giãn ba cửa trong tình trạng tự nhiên, thoát khỏi mọi sắp đặt trong trạng thái khoáng đạt, quân bình và khi họ để mặc tâm trí mình mà không chú ý, họ tự nhiên buông bỏ mọi hoạt động, giống như những người không còn việc gì để làm. Họ giống như những người già ngồi dưới ánh mặt trười, thư giãn sâu, thân khẩu ý của họ được nghỉ ngơi, mọi nhiệm vụ của họ đều đã hoàn thành. Như vậy các đối tượng của giác quan và chính tâm trí đều chìm vào trạng thái bất nhị. Tính giác trống không, sáng ngời, trạng thái đại bình đẳng của pháp thân, được nhận ra. Như chúng ta thấy trong Gặp gỡ ba thân:

    Quả thực nền tảng của mọi thứ

    Là tâm trí giác ngộ.

    Mặc dù đặc trưng phong phú của các hiện tượng

    Không ngừng sinh khởi

    Khi được nhận thức trần trụi

    Bằng công dụng của các giác quan

    Pháp tính rõ ràng

    Trong mọi hình tướng.

    Tâm trí không vướng bận

    Như một nguồi không còn việc gì để làm.

    Khi tâm trí không còn việc gì để làm, khi nó không cẳng cũng không trùng, khi cơ thể và tâm trí nghỉ ngơi thư giãn, không vướng bận và thoải mái, một trạng thái khoáng đạt vô hạn xuất hiện, được cho là giống với tâm trí của các Đấng Chiến Thắng. Đây là tính giác. Nó có bản tính bình đẳng vô hạn, bao trùm toàn thể, giống như bầu trời trong xanh, thoát khỏi ba bất tịnh. Đây là trí tuệ bản nguyên tự nhận thức của con đường, nó an trú bất khả phân trong bản tính nền tảng, pháp giới vượt ngoài mọi cấu trúc khái niệm. Dòng chảy tự nhiên của tâm trí vì vậy được thể tính hóa thành tính đại bình đẳng.

    Thứ tư, dấu hiện chứng ngộ bắt nguồn từ sự tin tưởng vào trạng thái trí tuệ được mô tả như sau:

    12. Khi pháp tính được chứng ngộ, chói lọi và trống rỗng,

    Mọi ràng buộc đều lắng xuống trong sự mở rộng của nó.

    Tính giác được hiển lộ

    Như tính bình đẳng, không gián đoạn, trùm khắp.

    Không bị trói buộc bởi bám chấp, nó siêu việt mọi suy nghĩ.

    Tất cả đều hội tụ trong

    Không gian hoàn toàn bình đẳng và đơn nhất của trí tuệ.

    Hỷ lạc tâm hòa lẫn với lạc thọ bình an

    Trạng thái của tâm giác ngộ

    Nơi mà bên ngoài và bên trong là một vị.

    Khi đó bản tính nền tảng được thấy,

    Pháp tính nơi tất cả đều đến chỗ cạn kiệt.

    Khi tính giác, quang minh và trống không, bản tính tối thường của vạn sự, được chứng ngộ chính xác như nó là, những hình tướng ảo tưởng được nhận thức như khi trường nhìn của một người bị suy giảm, tan biến vào không gian của tính giác trống rỗng, bất sinh. Như khi sương mù và mây tan biến vào trong bầu trời. Bản chất thực sự của tính giác, không có cả ba bất tịnh, trở nên rõ ràng. Khi đó toàn bộ những ràng buộc và cạm bẫy của ảo tưởng sẽ lắng xuống tại vị trí của chúng và tính giác được bộc lộ như tính bình đẳng không ngăn ngại, vô hạn, bao trùm toàn thể, thoát khỏi cấu trúc khái niệm: trạng thái quân bình vĩ đại. Vì những đối tượng xuất hiện bên ngoài không còn được thẩm tra nữa, những đối tượng được nắm bắt giống như vậy sẽ được tịnh hóa ngay tại vị trí của chúng. Và vì tâm trí bên trong không bị cản trở bởi sự dính mắc vào bất cứ thứ gì xuất hiện bên trong nó, nên cũng chính tâm trí này (người nắm bắt) là thanh tịnh nội tại và ban sơ. Các hình tướng và tâm trí hòa quện không thể tách rời trong một trạng thái vượt ngoài mọi lựa chọn (theo nghĩa chấp nhận hoặc từ chối), vượt ngoài mọi suy nghĩ. Lúc đó, tính giác, an trú trong tâm trí, hòa lẫn với nền tảng, tầng nền tảng của pháp tính, trạng thái đại lạc. Mọi thứ được tập hợp thành một không gian bao la, đơn nhất, hoàn toàn bình đẳng của trí tuệ. Đối với những yogi đã đạt được bản tính nền tảng, pháp tính trong đó mọi hiện tượng đều cạn kiệt, sự chứng ngộ mà trong đó họ thực sự thấy pháp tính phát sinh từ bên trong. Tâm trí họ nghỉ ngơi không khiên cưỡng như vốn có, trong trạng thái pháp tính, đại lạc thanh bình. Tâm an lạc của họ hòa nhập không thể tách rời, như câu thơ gốc đã nói, với niềm an lạc thanh bình. Những đối tượng xuất hiện bên ngoài được tịnh hóa trong tính phi nền tảng của chính chúng, trong khi tâm trí nhận thức bên trong lắng xuống trong pháp thân. Cả tâm trí và hình tướng, bình đẳng ngay từ đầu, hòa quện trong nhất vị. Và trong không gian rộng lớn của tâm giác ngộ tối thượng, vương quốc vĩnh cửu của an lạc bất biến đã giành chiến thắng. Bản tính nền tảng, pháp tính trong đó mọi hiện tượng đều cạn kiệt, được nhìn thấy trực tiếp.

    Thứ năm, những khổ thơ trước được đưa tới kết luận:

    13. Ngay lúc đối tượng,

    Chức năng của giác quan và ý đồ của tâm trí gặp nhau,

    Trong sự bình lặng của tâm,

    Các hình tướng rộng mở và an lạc.

    Trong trạng thái chói ngời trong trẻo tự nhiên này,

    Không bị trói buộc bởi bám chấp và dính mắc,

    Điểm mấu chốt của các hiện tượng

    Là chúng được thể tính hóa như sự bình đẳng toàn vẹn.

    Trong khoảnh khắc ba yếu tố: đối tượng bên ngoài của sáu thức, điều kiện chi phối của sáu giác quan bên trong, và điều kiện tức thời có trước của ý định tinh thần, tất cả đều đồng thời xuất hiện, các hình tướng đều được đưa vào con đường. Chúng được thấy rộng lớn và an lạc trong trạng thái đại bình đẳng, bản tính của tâm. Trong trạng thái này, vốn trong trẻo và sáng ngời tự nhiên, ngay từ đầu đã không bị trói buộc bởi những chấp niệm, trí tuệ bản nguyên được tìm thấy, uyên nguyên và trong sáng. Nó thoát khỏi cái bẫy của điều tốt đẹp được gọi là thiền định, và nó không bị lấn át bởi điều xấu gọi là vô minh. Nó không vướng mắc vào cái thấy, thiền định và hành động. Ở đây, cái ngã và đối tượng của nó, như được gọi là chủ thể và đối tượng của nhận thức, không tồn tại. Trong sự vắng mặt nguyên thủy, tự nhiên của cấu trúc khái niệm (thứ mà tâm trí bình thường không bao giờ có thể trải nghiệm), đó là tính bình đẳng không gián đoạn, điểm mấu chốt tối cao do vậy được thể tính hóa.

    3. Phần ba: các hiện tượng được gom vào tính bình đẳng

    Nội dung này được bao gồm trong sáu khổ thơ. Thứ nhất, tính bình đẳng từ khởi thủy được niêm phong bởi không gian kim cương.

    14. Trong không gian nơi mà các đối tượng, tâm trí và sự dính mắc

    Đã được đoạn trừ,

    Tỉnh giác, thoát khỏi ký ức và các ý niệm,

    Ích kỷ, và tức giận,

    Được bao gồm trong tính trong sáng nguyên sơ của sự bình đẳng.

    Đó là vũ điệu kim cương của pháp tính không giới hạn, không gián đoạn

    Sự mở rộng của chân như, trí tuệ bản nguyên của bình đẳng tính

    Được đánh dấu ngay từ đầu với dấu ấn

    Của trí tuệ Phổ Hiền.

    Bất cứ đối tượng nào, bất kỳ trạng thái tâm trí nào, và bất cứ trạng thái bám luyến nào xuất hiện, chúng đều được xua tan tự nhiên trong sự rộng mở và tự do trong tính bao la vô hạn của tính giác bất sinh. Trong khoảng không gian bao la như bầu trời này, những hiện tượng huyễn ảo, tâm trí và đối tượng của nó, giống như sự hồi tưởng về những nơi chốn đã viếng thăm trước đây, tất cả những ý nghĩ thắc mắc, ham muốn tư lợi và sân hận quấy nhiễu tâm, đều vắng mặt ngay từ đầu. Chúng tồn tại trong sự sáng tỏ uyên nguyên của tính giác, trạng thái bình đẳng hiện diện nguyên thủy. Điều này được biết đến là chân lý tối thượng, nguyên lý kim cương bất khả chiến bại, bất khả hủy diệt. Như được nói đến trong Sức mạnh hoàn hảo của sư tử:

    Tính không vĩ đại là kim cương rực sáng, không thể phá hủy

    Kim cương vô nhiễm tỏa sáng mãnh liệt trong những thứ tô và tế.

    Như vậy, đó là tính giác, được bao hàm trong chân lý tối thượng, nguyên lý kim cương bất sinh bất diệt, không khởi sinh như cái gì đó mới. Nó hiện diện nguyên thủy và khởi sinh tự nhiên. Do đó, nên hiểu rẳng bất cứ thứ gì khởi lên (các hình tướng và trạng thái tinh thần) đều là năng lực sáng tạo và phô diễn của kim cương bất hoại tối hậu, và nếu không có chấp nhận hay chối bỏ, người ta có thể để nó tan biến trong tính bao la không gián đoạn, không giới hạn (của tính giác), thoát khỏi mọi tham chiếu, đây được gọi là “vũ điệu kim cương” trong bản tính tối hậu của vạn sự. Bản tính nền tảng được hiện thực hóa như vậy được gọi là pháp tính, không gian của chân như, nguyên lý của trí tuệ bản nguyên về tính bình đẳng vượt ngoài mọi cấu trúc khái niệm. Vì, ngay từ đầu, ngày từ đầu nó đã được đóng dấu với dấu ấn từ trí tuệ bất biến của pháp thân Phổ Hiền.

    Trên bình diện thực hành, nếu yogi nghỉ ngơi trong thiền định quân bình về trí tuệ bản nguyên tối thượng, nơi tâm của mọi Đấng Chiến Thắng suốt ba thời hội nhập thành một, họ sẽ trở nên bất khả phân với trí tuệ này. Vì vậy thực hành này mang lại lợi ích vô hạn.

    Thứ hai, nguyên lý tổng quát của trí giác ngộ được trình bày:

    15. Giống như các giấc mơ đa dạng đều được bao gồm trong giấc ngủ

    Và là những nhận thức trống rỗng, sai lầm của tâm trí,

    Cũng vậy, vũ trụ và chúng sinh

    Toàn thể trong luân hồi và niết bàn

    Được bao gồm bên trong tâm trí.

    Chúng xuất hiện trong sự mở rộng của tâm trí;

    Chúng không có tồn tại đích thực.

    Mọi thứ mà người ta thấy trong giấc mơ, những hình tượng khác nhau, bên ngoài và bên trong, của vũ trụ và chúng sinh, được nhận thức theo cách giống như những thứ trong cuộc sống lúc thức: như dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính. Và người ta bị lừa dối. Tuy nhiên, mọi hình ảnh trong mơ này đều được bao gồm bên trong giấc ngủ của người ta. Chúng là năng lực sáng tạo và phô diễn của giấc ngủ và chẳng là gì khác. Không có thật và không có nhận thức của tâm trí. Tương tự, dựa trên giả định rằng vũ trụ và chúng sinh, các hiện tượng luân hồi và niết bàn, sở hữu một trạng thái chân thực, người ta chiếm hữu chúng dưới dạng “tôi” và “của tôi”. Nhưng bất cứ một trải nghiệm nào người ta có, dù dễ chịu, khó chịu hay trung tính, tất cả đều nảy sinh trong phạm vi rộng lớn của tâm trí; chúng trú ngụ trong tâm trí và tan biến trở lại đó. Vì vậy luân hồi và niết bàn chỉ được bao hàm bên trong tâm trí mà thôi. Chúng xuất hiện như quyền năng sáng tạo và phô diễn trong không gian bao la của tâm trí. Chúng đơn giản là những hiện tượng rõ ràng nhưng không hề tồn tại, biểu lộ như sự phô diễn của tính giác. Chúng không có sự tồn tại dù là nhỏ nhất như những thực thể có đặc tính riêng biệt. Giống như được tìm thấy trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Tất cả những gì được chứa đựng trong thế giới hiện tượng,

    Vũ trụ và cư dân của nó,

    Tất cả những gì được bao gồm

    Nhưng chư phật và chúng sinh

    Được hiện diện trong chính tôi,

    Tâm trí sáng tạo tất cả và giác ngộ.

    Tất cả chỉ đơn giản là tâm trí giác ngộ.

    Thứ ba, nguyên lý của tính bình đẳng được trình bày:

    16. Giống như trong sự rộng mở bao la,

    Vũ trụ và chúng sinh nó chứa đựng,

    Trong tất cả sự bao la vĩ đại đó

    Là tính bình đẳng không gián đoạn

    Vượt ngoài trung tâm và chu vi,

    Cũng vậy bên trong tầm với của tính giác,

    Mọi hình tướng của vật và tâm

    Mọi thứ cả bên ngoài và bên trong đều bình đẳng:

    Mọi nhận thức của tâm trí đều được bao gồm trong tính không.

    Điều này chứng tỏ mọi hiện tượng

    Đều được bao gồm trong tâm giác ngộ

    Rằng sự bình đẳng không nghiêng về bên này hoặc bên kia,

    Vì nó thoát khỏi người nhận biết

    Và các đối tượng bị nhận biết.

    Mọi thứ xuất hiện trong sự mở rộng của không gian trống rỗng. Các thế giới và chúng sinh trong sự rộng lớn và tính đa dạng của chúng, không vượt ngoài phạm vi của chính không gian, vốn không có trung tâm và chu vi. Nó chỉ là năng lực sáng tạo và phô diễn của tính bình đẳng không gián đoạn. Nó được gộp vào cùng nguyên lý bình đẳng. Tương tự, trong không gian tính giác, mọi hiện tượng trong tất cả tính đa dạng không thể nghĩ bàn của chúng (luân hồi và niết bàn, hình tướng của mọi sự và trạng thái tinh thần) đều thoát khỏi mọi đặc trưng, bên ngoài và bên trong, trên và dưới, trung tâm và ngoại vi, ngay từ đầu đã an trụ trong trạng thái đại bình đẳng. Các hiện tượng, là những nhận thức hay kinh nghiệm chủ quan của tâm trí, đều được bao hàm trong không gian chân thực của tính giác thanh tịnh nguyên sơ, trí tuệ bản nguyên của tính không vĩ đại.

    Như được nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Mọi sự vật xuất hiện, cùng với tâm trí,

    Ngay từ khởi đầu đều là một thực tại tối thượng duy nhất.

    Đừng nghĩ về chúng theo luật nhân quả.

    Bởi vậy tính giác đó chính là tính bình đẳng. Điều này có nghĩa mọi hiện tượng được gom vào trong đó, trạng thái bình đẳng của tâm giác ngộ tối hậu. Nó cũng có nghĩa là tính bình đẳng, trạng thái quân bình, không có các đặc tính và nghiêng về một phía, do đó thoát khỏi người nhận thức và đối tượng được nhận thức. Điều đó chứng tỏ rằng các hiện tượng được gom vào nguyên lý kim cương của tính bình đẳng toàn khắp.
  2. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Thứ tư, nó cho thấy nguyên tắc của tính giác là không thể tưởng tượng và không thể diễn đạt.

    17. Tâm giác ngộ bao gồm mọi hiện tượng

    Tự nó được bao gồm trong tính đại bình đẳng,

    Không có mọi cực đoạn và rơi vào một phía.

    Giống như không gian bao la quảng đại,

    Chứa đựng cả vũ trụ và chúng sinh,

    Nó không có trung tâm và ngoại vi.

    Nó vượt ngoài cả suy nghĩ và mọi sự diễn đạt.

    Như đã được chỉ ra rằng mọi hiện tượng đều được bao gồm trong nguyên lý tính giác, tâm trí giác ngộ, đó là tính bình đẳng không gián đoạn. Nhưng người ta có thể hỏi tiếp, đặc trưng của tính giác này là gì? Nó thoát khỏi mọi cực đoan và không rơi về phía bên này hay bên kia. Nó không có đặc trưng. Nó được bao gồm trong nguyên lý bình đẳng rộng mở không gián đoạn, và được hòa trộn trong nhất vị với pháp giới, thoát khỏi mọi cấi trúc khái niệm. Vũ trụ và chúng sinh được gom vào đâu? Chúng được gom vào vực thẳm bao la của không gian. Tương tự, tính giác được bao gồm trong nguyên lý không gian trí tuệ của Phổ Hiền, tính không vĩ đại như không gian, vượt qua ngôn từ, tư tưởng và diễn đạt. Nó được hòa trộn không thể tách rời với chính nó trong nhất vị. Như được nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Mọi thứ có đặc tính của không gian.

    Đặc tính của không gian là như thực.

    Ba thân tương tự cũng có đặc tính này.

    Thứ năm, nó cho thấy nguyên lý tính giác là nguồn gốc của mọi thứ.

    18. Tính giác là điều kiện lớn của tính bình đẳng.

    Thoát khỏi mọi cực đoan.

    Vạn sự thuộc thế giới hiện tượng,

    Luân hồi và niết bàn,

    Không ngừng xuất hiện trong đó.

    Nhưng khoảnh khắc chúng xuất hiện,

    Tâm trí và mọi hiện tượng

    Không thể xác định được cái này hoặc cái kia.

    Chúng được bao gồm trong sự bình đẳng của pháp tính.

    Trong không gian của tính giác, sự rộng mở của tính bình đẳng, thoát khỏi mọi cực đoan, tồn tại và không tồn tại, cả hai và chẳng cả hai, thường hằng và vô thường, đến và đi, đồng nhất và khác biệt, thực thể và phi thực thể, vân vân, vạn sự trong thế giới hiện tượng, luân hồi và niết bàn với tất cả các đặc tính riêng biệt của chúng, không ngừng biểu hiện. Chúng khởi lên trong tính giác, chúng xuất hiện trong tính giác và chúng lắng xuống trong tính giác. Chúng đều được bao gồm trong tính giác. Vì vậy, khoảnh khắc chúng xuất hiện trong không gian tính giác, cả tâm và pháp đều ngoài bốn hoặc tám cực đoan khái niệm: vượt ngoài sinh, trụ, diệt, vượt qua ba mươi hai quan niệm sai lầm, vân vân. Do đó, không thể chỉ ra chúng bằng ngôn từ và định nghĩa, nói những điều như: “Chúng là như thế này”. Chúng đều được gom vào trong sự bình đẳng của pháp tính, tính giác. Như được nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Tâm trí giác ngộ là một cảnh giới bao la, vĩ đại.

    Chư Phật, chúng sinh, các thế giới và chúng sinh

    Tất cả đều an trú trong đó. Tất cả đều không thể phân chia

    Trong tính thanh tịnh hoàn toàn của pháp tính.

    Tất cả vượt ngoài sự quy kết hay phủ nhận.

    Thứ sáu, sự mô tả về nguyên lý kim cương của Phổ Hiền được kết lại.

    19. Dấu ấn của tâm giác ngộ,

    Vượt ngoài thứ mà không ai có thể đi đến,

    Được sắp đặt nguyên thủy trên mọi hiện tượng

    Bởi sự bao la rộng mở, Phổ Hiền.

    Được gói gọn trong trí tuệ của đạo sư

    Thế tôn của chúng sinh, vua của Pháp.

    Trạng thái thức tỉnh nguyên sơ này

    Được niêm phong bằng ấn ký của bản tính kim cương.

    Ý nghĩa cuối cùng của bí mật phi thường

    Nằm ngoại phạm vi của mọi người

    Ngoài trừ những ai có may mắn bậc nhất

    Nguyên tắc của đỉnh cao kim cương,

    Vượt trên mọi thay đổi và chuyển động

    Không gian vĩ đại của tính giác, tự nhận thức,

    Trạng thái sáng ngời

    Khó được chứng ngộ, dù nó nằm bên trong chính bạn.

    Chỉ thông qua lòng tốt của đạo sư tôn kính,

    Vị thầy, Pháp vương, nó mới được nhận ra.

    Như vậy mọi hiện tượng được cho là

    Được bao gồm trong tính bình đẳng liên tục.

    Mọi hiện tượng đều được gộp vào trong nguyên lý tính giác, Phổ Hiền. Ngay từ đầu, không có gì vào không ai có thể nằm ngoài phạm vi này. Vì ngoài tính giác, tâm giác ngộ, không có hiện tượng nào, nên chính tính giác này đóng dấu ấn lên vạn vật, hay nói cách khác, các hiện tượng được bao gồm trong tính giác.

    Như được nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Ngoài tâm trí ra, không có thứ gì khác.

    Vì các hiện tượng của luân hồi và niết bàn không bao giờ vượt ra ngoài không gian bao la của pháp tính Phổ Hiền, nên mọi hiện tượng đều mang dấu ấn của nó từ khởi thủy. Điều đó được nói tới trong Ngập tràn sáu thức:

    Trong trạng thái của Phổ Hiền, thoát khỏi hành động,

    Luân hồi là Phổ Hiền, niết bàn là Phổ Hiền.

    Người ta có thể hỏi, bằng cách nào có thể hiện thực hóa một bản tính nền tảng thâm sâu như vậy? Nhờ vào năng lực gia trì từ vị thầy tâm linh của hành giả, đấng chí tôn của chúng sinh và Pháp vương, sự chứng ngộ từ tâm trí thầy được chuyển giao sang trò, và trí tuệ bao la quảng đại từ thầy được truyền đạt. Ngay trong trí tuệ này, bản tính nền tảng đã được bao gồm.

    Guhyagarbha nói:

    Ý nghĩa ẩn giấu đến từ bên trong.

    Nó trú ngụ trong trái tim của vị thầy từ bi.

    Tình giác này, được chứng ngộ, hay hiện thức hóa nhờ lòng tốt của vị thầy, là một trạng thái bình đẳng siêu việt các cực đoan của tồn tại và không tồn tại. Như Vua sáng tạo toàn thể tuyên bố:

    Trí tuệ bản nguyên nhạy bén,

    Thoát khỏi mọi ý nghĩ,

    Như một viên ngọc ý hiển lộ

    Nhờ công đức của bậc đạo sư.

    Dường như khi chứng ngộ bản tính nền tảng, nhờ lòng tốt của vị thầy, người ta có vẻ mới làm điều đó lần đầu. Tuy nhiên, bản tính nền tảng đã thức tỉnh ngay từ đầu. Đó là chân lý tối thượng vượt ngoài sinh và tử, biến đổi và vận động; nó được niêm phong với ấn ký của tinh túy kim cương bất hoại từ quang minh. Sự khác nhau giữa chứng ngộ và không chứng ngộ chỉ đơn giản là nhận ra hay không nhận ra nó.

    Sự chứng ngộ “chót đỉnh kim cương” này là sự bảo lưu độc nhất của những người có số mạng cao nhất, những người sở hữu nghiệp báo từ việc huân tập hai tích lũy (công đức và trí tuệ) trong nhiều kiếp từ quá khứ và những nguyện vọng trước đây của họ. Nó không nằm trong tầm với của những người bình thường, thiếu may mắn. Như đã nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Những hành giả có nghiệp may mắn

    Tích lũy từ vô số kiếp trong quá khứ

    Và ai có niềm tin vào ta,

    Tâm giác ngộ và sáng tạo toàn thể ...

    Những lời như vậy cho thấy sự cần thiết của nghiệp báo phù hợp. Ngoài năng lực tinh thần cao nhất, ý nghĩa tận cùng của bí mật vĩ đại này không nằm trong tầm với của chúng sinh. Đó là chân lý tối hậu vượt ngoài sinh và tử, vận động và biến đổi, hư hoại và diệt vong. Đó là nguyên lý chót đỉnh kim cương.

    Mặc dù tính giác tự sinh, đại cõi giới của tinh hoa trí tuệ quang minh, trú ngụ bất khả phân và ngay từ đầu đã ở bên trong chúng, giống như nhiệt của lửa và tính ướt của chúng sinh dưới nước vốn không có khả năng để nhận ra nó. Chúng giống như một người nghèo không biết rằng viên đá trong lò sưởi của mình cũng được làm bằng vàng. Chưa hết, ngay cả trong sự sinh sôi liên tục của những hình tướng ảo tưởng, thực tế, tính giác tự sinh có thể được nhận ra nhờ vào lòng tốt của đấng chí tôn vinh quang, vị thầy của hành giả, đức pháp vương, người chỉ ra nó rõ ràng thông qua sự ban truyền năng lượng gia trì của ông.

    Bởi vậy, mọi sự trong thế giới hiện tượng không bao giờ vượt khỏi phạm vi của tính quân bình, sự bình đẳng không gián đoạn của tính giác toàn khắp, thoát khỏi mọi diễn giải khái niệm. Các hiện tượng do đó, được cho là bao gồm trong xứ sở bao la của nó.
  3. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    3. Phần bốn: có niềm tin rõ ràng rằng mọi hiện tượng là tính bình đẳng không gián đoạn

    Phần này gồm hai khổ thơ. Đầu tiên, đạt được một niềm tin rõ ràng rằng sự không tồn tại của các hiện tượng bên ngoài và bên trong tương ứng với tính bình đẳng của chúng.

    20. Khi đó đạt được niềm tin rõ ràng:

    Tinh túy tối thượng của các hiện tượng

    Là tính bình đẳng.

    Mọi thứ bên ngoài là trống rỗng và không sinh.

    Chúng không ở lại; chúng không đến hoặc đi.

    Chúng vượt ngoài mọi chỉ dấu và diễn đạt.

    Mọi trạng thái bên trong xuất hiện đều liên tục lắng xuống.

    Không tìm thấy chúng

    Như đường chim bay ngang trời.

    Niềm tin rõ ràng về tính bình đẳng ám chỉ bản tính nền tảng, tinh hoa tối thượng của mọi hiện tượng. Những hiện tượng bên ngoài, xuất hiện bên trong tính giác, là các đối tượng xuất hiện đối với sáu thức giác quan, vốn không sinh từ nguyên thủy. Trong không gian của tính không, chúng xuất hiện rõ ràng nhưng không tồn tại. Chúng giống như những hình ảnh phản chiếu trong gương hay cầu vồng trên trời: chúng xuất hiện nhưng không tồn tại trong chân lý. Chúng không ở lại. Chúng không đến từ đâu và cũng không đi đâu cả. Vì vậy chúng vượt ngoài mọi dấu hiệu và biểu hiện. Điều cần giải quyết dứt khoát là phải đạt được niềm tin rõ ràng rằng chúng vượt ngoài sự suy diễn khái niệm và giống như không gian. Các hiện tượng bên trong, cụ thể là các nhận thức được nắm bắt liên quan đến sáu thức, tự chúng sinh và diệt liên tục. Chúng giống như con đường của loài chim bay ngang qua bầu trời. Không tìm thấy dấu vết. Không có căn cứ và gốc rễ.

    Vì vậy, bất kỳ hình tướng nào từ nền tảng khởi sinh lên trong không gian của tính giác bất sinh, đều vượt ngoài mọi tư duy và biểu hiện từ nguyên thủy. Mật điển Xá lợi rực rỡ nói:

    Mặc dù những hình tướng của nền tảng không có bản tính cố hữu,

    Chúng dường như là các hiện tượng có thể

    Được nói tới, nhận thức, biểu hiện.

    Tuy nhiên ngay từ đầu chúng trú ngụ

    Trong tính bình đẳng của ba thời.

    Thứ hai, đạt đến niềm tin rõ ràng rằng tính giác trống rỗng vượt ngoài luật nhân quả.

    21. Giống như các hiện tượng và trạng thái tinh thần,

    Tính giác tự sinh cũng vậy

    Không có sự tồn tại dù chỉ là một cái tên đơn giản.

    Nó vượt ngoài mọi chỉ dẫn và diễn tả,

    Mọi sự suy diễn khái niệm.

    Vì giống như không gian nó không hoạt động,

    Nó là một trạng thái của tính không.

    Thoát khỏi hành động, thoát khỏi mọi nỗ lực,

    Nó vượt trên cả thiện lẫn ác, mọi đức hạnh và tội lỗi

    Nó vượt ngoài luật nhân quả;

    Mười nhân tố của mật tông không có chỗ trong đó.26

    Nó là một không gian rộng lớn, hoàn toàn bình đẳng

    Vượt ngoài mọi chỉ dấu và biểu hiện

    Bên trong tính giác, thiện và bất thiện hạnh

    Là trống rỗng nguyên thủy; chúng chưa bao giờ là như vậy.

    Một sự xác tín rõ ràng như vậy được đạt tới

    Đó là bản tính này, không thể nghĩ bàn, không thể diễn tả,

    Là đại toàn thiện

    Vượt xa tầm với của tâm thức bình thường.

    Cũng giống như các đối tượng xuất hiện và tâm trí nắm bắt chúng vốn không tồn tại, tính giác tự sinh cũng vậy. Khi (người ta cố gắng) xác định nó kỹ lưỡng, nó không tồn tại, thậm chí không có một cái tên. Đây là lý do tại sao tâm tri không thể hình dung ra nó và tại sao nó vượt quá khả năng diễn đạt bằng lời nói. Nó thoát khỏi mọi diễn giải khái niệm. Vì, giống như không gian, nó là một trạng thái trong đó mọi hiện tượng đều đi đến chỗ cạn kiệt siêu việt tâm trí bình thường, nó không hoạt động theo bất cứ cách nào, nó chẳng lạc ra ngoài tính không. Nó vượt trên hành động và nỗ lực, nó siêu việt cả tốt và xấu, cả đức hạnh và tội lỗi. Nó vượt trên tiến trình nhân quả, đó là vì sao nó không thể được thành tựu nhờ nỗ lực và thực hành theo cách mười yếu tố của mật điển. Tính giác tự sinh là một không gian rộng mở bao la; nó không được tạo dựng, một trạng thái hoàn toàn bình đẳng. Trong không gian này, thứ vốn siêu việt mọi dấu hiệu và biểu hiện, mọi đức hạnh và tội lỗi đều trống không từ nguyên thủy. Nó là một trạng thái vượt ngoài diễn hóa khái niệm, chưa bao giờ tồn tại như bất cứ thứ gì, ngoại trừ ý nghĩa giống như không gian. Tính giác trống không, nằm ngoài tiến trình nhân quả, siêu việt mọi khái niệm và biểu hiện, bản chất của nó là tính không. Đó là nền tảng bất nhị theo cách tồn tại vượt trên mọi nhận thức nhị nguyên và vượt khỏi mọi nỗ lực và bám chấp của tâm trí bình thường. Đó là bản tính nền tảng, đại toàn thiện. Điều trọng yếu là phải có lập trường vững vàng để có niềm tin rõ ràng rằng nó là như vậy.

    Tuyên bố cuối cùng về tên của chủ đề kim cương

    Ở đây kết thúc phần bình luận chủ đề kim cương thứ hai về Kho tàng trân bảo của Bản tính nền tảng, xác lập rằng mọi hiện tượng là một trạng thái bình đẳng không gián đoạn.
  4. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    2. CHỦ ĐỀ KIM CƯƠNG THỨ BA: HIỆN DIỆN TỰ PHÁT

    Chủ đề này chứng tỏ rằng mọi hiện tượng đều hiện diện tự phát từ nguyên thủy. Bản thân bài giảng, kết thúc bằng lời tuyên bố về tên của chủ đề kim cương, có bốn phần: những điểm then chốt được tiết lộ, chúng được thể tính hóa (hoặc tinh túy hóa, thiết yếu hóa, ...), chúng được thu gọn lại, đạt được niềm tin rõ ràng về chúng.

    3. Phần một: Những điểm then chốt được tiết lộ

    Phần này bao gồm mười một khổ thơ. Đầu tiên, nó cho thấy hiện diện tự phát giống như một viên ngọc.

    1. Và bây giờ bản chất của sự hiện diện tự phát được tiết lộ.

    Nó tồn tại, không phải do ai tạo ra, ngay từ đầu,

    Giống như viên ngọc cung cấp mọi thứ, tâm trí giác ngộ

    Là nền tảng và nguồn gốc của mọi thứ trong luân hồi và niết bàn.

    Giờ đây tính bình đẳng đó được thiết lập, nguyên lý hiện diện tự phát nguyên thủy của tính giác, tâm trí giác ngộ, suối nguồn của vạn vật, giờ đây được tiết lộ. Mặc dù tính giác không tồn tại như bất cứ thứ gì, nhưng sức mạnh sáng tạo của nó có thể biểu hiện ra như mọi thứ.

    Vì tính giác, tâm giác ngộ, chưa từng được tạo ra bởi bất kỳ nhân tố nào thông qua luật nhân quả, nó không tồn tại như một vật. Chưa hết, vì quyền năng sáng tạo của nó có thể biểu hiện ra như mọi thứ, ngay từ đầu nó đã hiện diện tự nhiên như đấng toàn tác hay đấng tạo hóa. Như Vua sáng tạo toàn thể nói với chúng ta:

    Tâm trí giác ngộ, của vạn sự là cốt lõi,

    Có bản chất, ngay từ đầu, hiện diện tự phát.

    Không cần ở đó để tìm kiếm nó

    Bằng phương tiện của mười yếu tố.

    Ngọc như ý là nền tảng hoặc nguồn cung cấp mọi nhu cầu hoặc mong muốn của con người. Điều này cũng giống với tính giác, tâm giác ngộ tối thượng. Mặc dù nó không tồn tại như bất cứ thứ gì, vì nó trống rỗng, nhưng quyền năng sáng tạo của nó có thể biểu hiện ra mọi thứ. Nó, ngay từ đầu, đã trú ngụ như nền tảng của mọi phẩm chất. Đó là cơ sở để mọi thứ trong thế giới hiện tượng, cả luân hồi và niết bàn, sinh khởi. Như được nói trong Cuộc gặp gỡ Ba Thân:

    Trong không gian hiện diện tự phát

    Nền tảng được tìm thấy nơi mọi thứ sinh khởi

    Những bánh xe của đồ trang sức

    Của thân, khẩu, ý giác ngộ

    Và của mọi phẩm tính và hành động giác ngộ

    Đều xuất phát từ nó trọn vẹn.

    Vì vậy pháp giới là một viên ngọc quý

    Đáp ứng mọi mong ước.

    Không cần phải nỗ lực,

    Vì mọi thứ đều ở đó, hiện diện tự phát.

    Thứ hai, nó cho thấy các hình tướng của nền tảng cấu thành hiện diện tự phát vĩ đại.

    2. Mọi sự xuất hiện trong thế giới hiện tượng

    Tất cả đều biểu hiện trong không gian.

    Tương tự, cả luân hồi và niết bàn

    Không ngừng xuất hiện trong tâm trí giác ngộ.

    Giống như những giấc mơ khác nhau xuất hiện trong lúc chúng sinh ngủ

    Sáu cõi luân hồi và tam giới

    Biểu hiện trong tâm trí.

    Vạn sự, ngay trong khoảnh khắc xuất hiện,

    Tồn tại trong tính giác.

    Chúng là những hình tướng vĩ đại của nền tảng,

    Trống rỗng như hiện diện tự phát.

    Giống như thế giới hiện tượng, vũ trụ vào sự sống của nó, phát sinh không ngừng và rõ ràng trong lòng không gian, mọi hình tướng, dù của luân hồi hay niết bàn, đều phát sinh trong tâm trí giác ngộ. Vì nó cũng giống như những kinh nghiệm khác nhau mà người ta có trong khi mơ về thế giới và những cư dân của nó. Chúng xuất hiện do năng lực sáng tạo của trạng thái ngủ. Tương tự, sự xuất hiện của lục đạo chúng sinh và tam giới khởi sinh tự phát trong trạng thái của tâm giác ngộ tối thượng như sự pho diễn năng lực sáng tạo của chính nó. Tuy nhiên, chúng sinh không nhận ra bản chất thực sự của mình bời vì tâm trí của họ bị vô minh che phủ, kết quả là họ nhận thức chính mình thành “tôi” và “của tôi”. Cho nên, những hình tướng này trên thực tế là ảo tưởng. Tuy nhiên, ngay trong khoảnh khắc những hình tướng này khởi sinh như sự hiển bày của tâm trí, chúng không lạc khỏi trạng thái của tính giác. Chúng là những hình tướng hiện diện tự phát, trống rỗng của nền tảng, trạng thái quân bình vượt khỏi mọi diễn hóa khái niệm. Chúng không thể diễn bày, không thể hình dung và không thể miêu tả được.

    Thứ ba, nó chứng tỏ rằng hiện diện tự phát là không có nền tảng.

    3. Nền tảng và những hình tướng phát sinh ở đó

    Không đồng nhất và cũng không khác biệt

    Những hình tướng của nền tảng là tự hiện diện

    Hiện diện tự phát

    Khởi sinh từ cánh cổng của tính giác.

    Niết bàn và luân hồi, sự phô diễn năng lực sáng tạo của nó,

    Xuất hiện rõ ràng: thanh tịnh hoặc bất tịnh.

    Nhưng ngay trong khoảnh khắc xuất hiện,

    Chúng không tốt cũng không xấu:

    Chúng là sự mở rộng tối hậu đơn nhất.

    Tính giác nền tảng, trống rỗng, tâm giác ngộ rực sáng, được phú bẩm tự nhiên và không ngừng với sự hiện diện tự phát của ba thân. Trong chiều kích của tính giác nền tảng, những hình tướng nảy sinh không ngừng và tự nhiên. Các hiện tượng của luân hồi và niết bàn, sinh khởi thông qua cánh cổng hiện diện tự phát, xuất hiện có thể là tốt hoặc xấu. Tuy nhiên, khởi lên từ cõi bao la của hiện diện tự phát quý giá 55 , chúng không tốt cũng chẳng xấu, không đồng dạng cũng chẳng khác biệt. Là năng lực sáng tạo của trí tuệ nguyên sơ, ngay từ đầu chúng đã hiện diện tự nhiên qua cánh cổng tính giác, trí tuệ bản nguyên vĩ đại. Trong tài liệu Sự chấm dứt ngay lập tức của Ba Thời có nói:

    Tất cả đều được tập hợp trong một thứ, không gian tối thượng duy nhất.

    Trong một thứ vạn sự đều không sinh, pháp giới không sinh.

    Sự hiển lộ được sinh ra trong cõi bất sinh

    Là không bị giới hạn và có thể xuất hiện như bất cứ thứ gì.

    Sự phô bày hiển lộ của tính giác nền tảng, hiện diện tự phát vĩ đại, có thể có khía cạnh của luân hồi (được cho là xấu) hoặc niết bàn (được cho là tốt). Nhưng mặc dù hai khía cạnh này xuất hiện riêng biệt như là thanh tịnh và bất tịnh, trên thực tế, ngay từ khoảnh khắc xuất hiện, chúng chỉ là sự mở rộng đơn nhất của hiện diện tự phát trân quý mà trong đó không có một sợi tóc nào của tính chất tốt hay xấu. Như đã nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Chư Phật, các thân, trí tuệ, các phẩm tính hoàn hảo,

    Toản thể chúng sinh, với thân thể và các khuynh hướng thói quen,

    Tất cả tụ họp lại trong thế giới hiện tượng

    Vũ trụ cùng với chúng sinh mà nó chứa đựng

    Ngay từ đầu đã là tâm giác ngộ.

    Thứ tư, nó chứng tỏ rằng ba thân là hiện diện tự phát vĩ đại.

    4. Khi năm ánh sáng chiếu ra không bị cản trở

    Từ một quả cầu pha lê,

    Những ánh sáng giống nhau này được cảm nhận

    Tùy theo màu sắc khác nhau của chúng.

    Không tốt cũng chẳng xấu,

    Chúng là sự biểu lộ

    Của một quả cầu pha lê duy nhất.

    Nền tảng, tính giác, tự nhận thức,

    Cũng giống như quả cầu pha lê này,

    Tính không của nó là pháp thân,

    Sự phát quang chói lọi của nó là báo thân,

    Và nền tảng không che chướng của nó cho sự hiển lộ

    Là hóa thân.

    Ba thân trong sự mở rộng của nền tảng

    Đều là hiện diện tự phát.

    Khi ánh sáng ngũ sắc xuất hiện rõ ràng và không bị cản trở từ một quả cầu pha lê, chúng được nhận biết theo các màu sắc khác nhau: trắng, vàng, đỏ, lục, lam. Chẳng có màu nào là tốt hoặc xấu. Pha lê và màu sắc bên trong nó chẳng là gì khác hơn chính là pha lê. Không tốt cũng chẳng xấu, chúng chỉ là sự biểu lộ của một quả cầu pha lê duy nhất. Như Longchenpa nói trong bình luận của ông:

    Tính giác, trống rỗng , giống như pha lê, là pháp thân.

    Sự sáng ngời của tính giác, giống như ngũ sắc trong pha lê, là báo thân. Cách thức không bị cản trở mà tính giác có thể hiển lộ, tương tự như khả năng pha lê phát xạ ánh sáng ra ngoài (mà không thực sự làm vậy), là pháp thân.

    Do đó, vì ba thân của nền tảng có một bản tính duy nhất nên chúng thực sự là một, không có bất kỳ phân biệt phẩm chất nào là tốt hay xấu. Tính giác tự nhận thức, nền tảng, với hai khía cạnh song sinh của tính phát quang bên trong và bên ngoài, là trống không, trong trẻo, không bị cản trở, như một quả cầu pha lê. Bản chất của tính giác, giống như không gian, chẳng hiện hữu như bất cứ vật gì, tuy nhiên lại sở hữu sự phát quang dưới dạng ánh sáng năm màu. Đây là báo thân. Cuối cùng, như trong pha lê có năng lực không ngăn ngại đối với ngũ sắc quang để chiếu sáng ra ngoài, tương tự như vậy, sự chiếu sáng chói lọi, trí tuệ bản nguyên tự nhận thức, là nền tảng không chướng ngại của sự biểu lộ. Và đây là hóa thân. Như vậy ba thân của nền tảng chia sẻ chung một bản tính. Cơ sở cho sự quy đồng chính là trí tuệ nguyên sợ tự nhận thức. Điều quan trọng là phải hiểu được điểm mấu chốt này.

    Ba thân hiện diện tự phát trong nền tảng, đó là không gian tính giác vượt khỏi mọi diễn giải khái niệm. Hai sắc thân, cả hai đều khởi sinh trong tính giác, xuất hiện khác biệt để chúng sinh thanh tịnh và bất tịnh được tu luyện,56 tuy vậy, trong chân lý, chúng không lạc khỏi pháp thân. Như được nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Tôi, đấng sáng tạo toàn thể, là ba thân.

    Bản chất của tôi là pháp thân

    Tôi siêu việt vọng tưởng hý luận

    An trú trong bình đẳng vô niệm.

    Tôi cũng là báo thân, đáp ứng mọi ước muốn

    Đặc tính của tôi (là sáng ngời),

    Từ đó sự sinh được hiển bày.

    Và tôi là hóa thân, năng lực nhận biết

    Cái giúp mọi chúng sính phù hợp với nhu cầu của họ.
  5. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Thứ năm, chứng tỏ rằng mọi sự vật đều là tâm giác ngộ hiện diện tự nhiên.

    5. Khi những hình tướng xuất hiện trong nền tảng

    Ba thân thanh tịnh, sự tự kinh nghiệm của chư Phật,

    Cũng như các hiện tượng bất tịnh

    Của cả vũ trụ và chúng sinh

    Tất cả do bản tính của chúng

    Trống rỗng, sáng ngời, và đa dạng.

    Tất cả đều là hiển lộ của pháp thân,

    Của báo thân và hóa thân.

    Các hình tướng biểu hiện của nền tảng (ba thân)

    Đều là hiện diện tự phát

    Tính giác và các kinh nghiệm của nó.

    Đừng tìm kiếm chúng ở nơi khác.

    Khi phân tích này được hiểu chính xác,

    Mọi hiện tượng trong cả luân hồi và niết bàn

    Sẽ được nhận ra như cõi tịnh độ của ba thân

    Hiện diện tự phát trong tâm trí giác ngộ.

    Vì vậy, như đã giải thích ở trên, ba thân hiện diện tự phát và hoàn chỉnh trong chính tính giác nền tảng. Khi những hình tướng của nền tảng, cũng hiện diện tự phát, biểu lộ ra bên ngoài từ bên trong chính tính giác này, bất cứ hình tướng nào xuất hiện, dù thanh tịnh hay bất tịnh, đều không vượt ngoài bản tính của ba thân. Về ba thân thanh tịnh, sự tự kinh nghiệm của chư Phật, sự phô diễn thanh tịnh xuất hiện: pháp thân chư Phật, báo thân chư Phật của năm bộ, và biểu hiện đa dạng hóa thân. Tuy vậy lúc đó cũng có (sự hiển lộ) bất tịnh của thân, khẩu, ý trong luân hồi và chúng cũng khởi sinh như (sự phô diễn) của ba thân. Chúng đều trống rỗng, không gian tối hậu đơn nhất của hiện diện tự phát. Quả thực, bất cứ hình tướng bất tịnh nào của vũ trụ và chúng sinh biểu hiện ra, đều được đánh dấu bằng đặc trưng ba phần: trống rỗng, rực sáng và đa dạng. Chúng là sự biểu lộ của pháp thân, báo thân, hóa thân. Chúng là những hình tướng được hiển lộ từ nền tảng, ba thân.

    Tóm lại, trong bản tính hiện diện tự nhiên của nền tảng, ba thân hợp lại thành một. Những hình tướng của vũ trụ và chúng sinh khởi lên từ trạng thái đó biểu lộ như sự phô diễn của cùng ba thân đó. Chúng là những hình tướng của nền tảng. Khi người ta coi hai yếu tố này (nền tảng và những hình tướng của nền tảng) là một, người ta chắc chắn hiểu rằng bản chất của hiện diện tự phát được gọi là tam thân, hay ba thân. Ba thân thanh tịnh của Phật quả và thân, khẩu, ý bất tịnh của trạng thái luân hồi vốn không tốt cũng chẳng xấu, tất cả là đồ trang sức và hiển bày từ không gian tối thượng của hiện diện tự phát. Như chúng tôi tìm thấy trong Ngập tràn sáu thức:

    Bản tính của tâm trí, hiện diện tự phát, là cõi giới của không gian bất biến.

    Biểu hiện đa dạng của nó là sự hóa hiện của năng lực nhận thức.

    Chẳng có gì không phải là đồ trang sức của sự mở rộng bao la.

    Những trở ngại và khiếm khuyết không được tìm thấy ở nơi khác.

    Do đó, tất cả những hình tướng thanh tịnh và bất tịnh của vụ trụ và chúng sinh đều có bản chất của ba thân hiện diện tự nhiên, và những gì được của là ba thân của sự tự kinh nghiệm về tính giác hiện diện tự phát không nên tìm kiếm ở nơi nào khác. Nếu nắm bắt phân tích này chính xác, người ta sẽ hiểu rằng luân hồi và niết bàn là cõi Phật của tam thân. Hơn nữa, vì trí giác ngộ tối thượng hiện diện tự nhiên như nền tảng hiển lộ của mọi hiện tượng trong luân hồi và niết bàn, nên cần hiểu rằng ngay cả cõi giới tam thân Phật của luân hồi và niết bàn biểu hiện, duy trì và tan biến bên trong trạng thái của tâm trí giác ngộ.

    Thứ sáu, nó chứng tỏ rằnbg mọi thứ là tâm trí giác ngộ.

    6. Các thân và trí tuệ

    Của chư Phật trong ba thời,

    Thân, ngữ, và tâm

    Của chúng sinh trong ba cõi,

    Với nghiệp và phiền não

    Mọi thứ thuộc về thế giới hiện tượng

    Chẳng là gì khác ngoài tâm trí giác ngộ.

    Kinh điển nói rằng mọi Đấng Chiến Thắng đều là một trong không gian của trí tuệ bản nguyên. Thân, khẩu, ý của toàn thể chư Phật suốt ba thời, trí tuệ, các phẩm tính của họ như tri thức, từ ái, năng lực, hai mươi mốt tri kiến vô nhiễm như mười lực, bốn vô úy, và mười tám phẩm chất đặc biệt,57 cùng với (nói ngắn gọn vấn đề) ba mươi bảy phẩm trợ đạo dẫn đến giác ngộ 58 liên quan đến nền tảng, con đường và kết quả, đều là tâm trí giác ngộ. Điều cũng được nói đến là hai mươi lắm yếu tố, cụ thể là thân giác ngộ năm phần, lời giác ngộ năm phần, tâm giác ngộ năm phần, phẩm tính năm phần và hoạt động năm phần (nói cách khác, những hình tướng thanh tịnh của các thân và trí tuệ) đều là tâm giác ngộ. Hơn nữa, thân, khẩu, ý mà chúng sinh trong lục đạo và tam giới tự nhận là của riêng mình cùng với mọi hoạt động tốt, xấu, tính trong sáng của đức hạnh và đen tối của tội lỗi, tất cả những tư tưởng ô nhiễm của họ về tham, sân cùng với tất cả những khuynh hướng thói quen của họ (tóm lại là những thứ hiện hữu mang tính hiện tượng xuất hiện trong kinh nghiệm của chúng sinh), thực tế chẳng là gì khác ngoài chính tâm giác ngộ.

    Ví dụ, hãy xem xét một bức tượng làm bằng vàng quý, là một vật đáng mơ ước, hoặc những đồ trang sức như vòng tay bằng vàng, được coi là đẹp, so sánh chúng với một chiếc bô làm bằng vàng, bị coi là ô uế. Tất cả chúng đều là một và giống nhau ở chỗ được làm bằng vàng. Vì chúng là vàng nên không khác nhau nhiều về phẩm chất tốt hay xấu. Cũng như vậy, các than và trí tuệ thanh tịnh của chư Phật cùng với thân, khẩu, ý bất tịnh của chúng sinh phàm phu, hành dộng, đức hạnh và bất thiện hành của họ, những che chướng và tập khí của họ, bất kể chúng có được dán nhãn thế nào, trên thực tế đều chẳng là gì khác ngoài tâm giác ngộ tối thượng: tính giác, trí tuệ bản nguyên tự sinh.

    Thứ bảy, nó chứng tỏ rằng hiện diện tự phát là một kho tàng cung ứng tất cả.

    7. Trong sự bao la của hiện diện tự phát

    Được tìm thấy từ nền tảng nơi mọi thứ khởi sinh.

    Mọi thứ xuất hiện có hình dạng

    Thế giới bên ngoài và cư dân của nó

    Không thuộc bên này cũng chẳng phải bên kia.

    Tất cả xuất hiện như bánh xe trang hoàng

    Cho thân giác ngộ.

    Âm thanh và ngôn ngữ,

    Xuất sắc, trung bình hay thấp kém,

    Không phân biệt bên này hay bên kia

    Tất cả đều xuất hiện như bánh xe trang hoàng

    Của lời giác ngộ.

    Tâm phàm phu và trí nguyên thủy,

    Giác ngộ và không có giác ngộ,

    Không phân biệt bên này hay bên kia

    Tất cả xuất hiện như bánh xe trang hoàng

    Cho trí giác ngộ.

    Tương tự, các phẩm tính và hành động giác ngộ

    Không thuộc bên này hay bên kia.

    Pháp giới do vậy là viên ngọc quý

    Đáp ứng mọi mong muốn.

    Không cần phải cố gắng

    Vì mọi thứ xuất hiện tự nhiên.

    Đây là lý do nó được gọi

    Là trí tuệ bản nguyên, tự sinh khởi và hiện diện tự nhiên.

    Khái niệm hiện diện tự phát ở đây được áp dụng cho tính giác, tâm trí giác ngộ. Lý do cho điều này là tuy tính giác, tâm giác ngộ, không tồn tại như bất cứ thứ gì, nhưng nó hiện diện tự phát như nền tảng của một năng lực sáng tạo có khả năng phát sinh như bất cứ thứ gì. Đây là lý do tại sao tính giác được nói đến dưới dạng hiện diện tự phát. Ngay từ đầu, nó đã hiện diện tự nhiên như là nguồn gốc phát sinh đa dạng của sức mạnh sáng tạo. Vì các hình tướng thanh tịnh và bất tịnh khởi sinh bên trong không gian của tính giác hiện diện tự nhiên, chính tính giác này là nền tảng và chỗ dựa của chúng. Do đó người ta nói hiện diện tự phát chính là tính giác.

    Do đó, tính giác nền tảng, đại hiện diện tự phát, là một dạng kho báu, nền tảng hay nguồn gốc phát sinh của tất cả các hình tướng cả thanh tịnh lẫn bất tịnh. Thông qua sức mạnh sáng tạo của hiện diện tự phát quý giá, những hình tướng của nền tảng phát sinh theo sáu cách: như năng lực nhận thức, như ánh sáng, như trí tuệ bản nguyên, như các tôn thần, bất nhị, và theo cách không rơi vào bất cứ cực đoan bản thể học nào. Chúng cũng có thể khởi sinh như cánh cửa của trí tuệ bản nguyên thanh tịnh và cánh cửa của luân hồi bất tịnh. Nền tảng khởi sinh của sáu cách và hai cửa này, toàn bộ, tám cửa của hiện diện tự phát, là tính giác, bản thân hiện diện tự nhiên quý giá.59

    Do đó, mọi đối tượng bên ngoài và chúng sinh, mọi thứ xuất hiện có hình thể và thuộc về trường thị giác, đều sinh khởi, không rơi vào bên này hay bên kia về phương diện tốt hoặc xấu, chấp nhận hay bác bỏ, như luân xa trang hoàng vô tận của thân giác ngộ, vốn tự thân có bản tính tỉnh giác, hiện diện tự phát quý giác.

    Theo cách tương tự, trường thính giác, âm thanh và ngôn ngữ, dễ chịu, khó chịu, tốt, kém, hay trung tính, nói cách khác, mọi thứ vang lên, không nghiêng về bên này hay bên kia trên phương diện tốt, xấu, hay trung tính. Nó xuất hiện như luân xa trang hoàng vô tận cho khẩu giác ngộ, có bản tính tỉnh giác, hiện diện tự phát vĩ đại.

    Cũng giống vậy, mọi nhận thức về tâm trí và những biểu hiện của trí tuệ bản nguyên, thuộc về trường năng lực tinh thần, chẳng hạn chứng ngộ hay không chứng ngộ, cũng như các hình tướng ảo tưởng, như hạnh phúc, đau khổ, và trung tính, khởi sinh mà không rơi vào bên này hoặc bên kia. Chúng là luân xa trang hoàng vô tận của ý giác ngộ, có bản tính tỉnh giác, hiện diện tự phát quý giá của trí tuệ bản nguyên.

    Lĩnh hội điều này đúng đắn và thiền định thư giãn trong cái hiểu này là chìa khóa tối thượng. Điều tương tự cũng áp dụng cho những phẩm tính và hành vi giác ngộ. Tóm lại, mọi hình tướng thanh tịnh của thân, khẩu, ý, phẩm tính và hành vi của chư phật và mọi hình tướng bất tịnh trong thân, khẩu, ý và hành vi của chúng sinh mê vọng đều xuất hiện thông qua năng lực sáng tạo của tính giác, hiện diện tự nhiên quý giá, không thiên lệch bên này hoặc bên kia trên phương diện tốt hay xấu. Cũng như mọi nhu cầu và ước muốn của một người được đáp ứng khi cầu nguyện trước sự hiện diện của viên ngọc như ý, giống vậy, mọi sự hoàn hảo đều phát khởi từ hiện diện tự nhiên là tính giác, pháp giới quý giá, mà không cần phải cố gắng để có được nó. Đó là lý do vì sao tính giác được coi là “hiện diện tự phát, trí tuệ bản nguyên tự sinh”.
  6. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Thứ tám, nó chứng tỏ hiện diện tự phát vượt ngoài mọi nỗ lực và thực hành.

    8. Nền tảng, hiện diện tự nhiên,

    Của vạn sự

    Là tâm trí giác ngộ,

    Luôn hiện diện tự phát.

    Do đó, không cần phải

    Tìm kiếm ba thân,

    Vì bạn đã có chúng tự nhiên ở bên trong chính bạn.

    Trong luật nhân quả liên quan đến thiện và ác,

    Bạn không cần phải nỗ lực.

    An trú trong trạng thái tự nhiên,

    Bạn sẽ được coi là một yogi thoát khỏi mọi hành động,

    Thoát khỏi nỗ lực trong chấp nhận hay từ chối.

    Trong sự mở rộng bao la của hiện diện tự nhiên

    Nó là của bạn ngay từ đầu.

    Do đó, đừng tạo ra nỗ lực trong pháp tính!

    Nền tảng hiện diện tự nhiên của toàn thể các hình tướng đa dạng (đối tượng của sáu thức bất tịnh) và của những biến hiện từ trí tuệ bản nguyên thanh tịnh là tâm trí giác ngộ. Tâm giác ngộ tối thượng này, cụ thể là trí tuệ bản nguyên không được tạo lập, ngay từ đầu, luôn hiện diện tự phát như nền tảng biểu hiện của mọi hiện tượng, dù là luân hồi hay niết bàn. Vì vậy, mọi hiện tượng của giai đoạn kết quả (ba thân, năm thân, năm trí tuệ, vân vân) đều ở bên trong không gian tính giác, hiện diện tự phát quý giá, được kế thừa tự nhiên trong mỗi người. Không cần thiết phải tìm kiếm các phẩm tính giác ngộ này, vì chúng vốn hoàn thiện từ nguyên thủy bên trong mỗi người. Đây là lý do tại sao văn bản gốc nói rằng không cần cố gắng chấp nhận sự trong sáng của đức hạnh và chối bỏ sự đen tối của tội lỗi để thành tựu trong tâm trí mình ba thân và những phẩm tính khác của kết quả. Như Vua sáng tạo toàn thể nói với chúng ta:

    Tôi là người sáng tạo toàn thể và đã là như vật ngay từ đầu.

    Tôi không nói rằng giờ đây tôi phải giải thích như vậy.

    Đoàn tùy tùng của tôi sẽ bị khổ sở bởi căn bệnh nỗ lực,

    Và trí tuệ bản nguyên, tự sinh, sẽ bị phủ nhận.

    Mọi khiếm khuyết như vậy sẽ xảy ra sau đó.

    Những ai an trú trong đại hiện diện tự phát, trong trạng thái tỉnh giác tự nhiên vượt ngoài mọi nỗ lực trong tiến trình nhân quả của đức hạnh và tội lỗi, được gọi là “hành giả chân chính thoát khỏi mọi hành động”. Những yogi như vậy, thoát khỏi mọi cố gắng trong việc chấp nhận và chối bỏ, nắm giữ pháo đài nguyên sơ trong sự bao la của tính giác, hiện diện tự nhiên. Họ là những người hiện thực hóa pháp tính nguyên thủy. Ở đó, họ đứng trên tầng nền tảng này và ở lại trong đó. Nghĩ rằng giờ đây người ta phải tạo ra nỗ lực ngay trong khoảnh khắc hiện tại để đạt được mục tiêu như vậy là một chướng ngại cho con đường này. Vì thế, Longchenpa mạnh mẽ khuyến cáo chúng ta đừng tạo dựng, hay chỉnh sửa bất cứ thứ gì.

    Thứ chín, nó cho thấy hiện diện tự phát vượt ngoài mọi hành động.

    9. Ngay cả sự giác ngộ

    Của tất cả đấng chiến thắng, trong quá khứ, hiện tại và tương lai,

    Là hiện diện tự phát

    Như đại lạc của trạng thái tự nhiên.

    Vì vậy, không có khởi nguồn

    Đối với những giáo lý về luật nhân quả

    Được thiết kế cho những người kém may mắn,

    Mà hãy quan sát bản tính như không gian,

    Siêu việt hành động có chủ ý.

    Nếu người ta an trú trong trạng thái tỉnh giác, tâm giác ngộ tối thượng, hiện diện tự nhiên quý giá, thì việc này cũng giống như an trú trong pháp giới, tâm của toàn thể chư Phật trong ba thời. Như Vua sáng tạo toàn thể nói:

    Chư Phật giác ngộ từ xa xưa

    Không tìm kiếm gì khác ngoài tâm trí của họ.

    Chân Như không phải cái gì đó mà họ suy diễn ra.

    Và:

    Điều này cũng đúng với những ai đang sống thời hiện tại

    Và những người sẽ xuất hiện trong tương lai.

    Vì nhờ tính bình đẳng vô niệm

    Họ đạt được thành tựu riêng.

    Mạng lưới huyễn ảo của sự biểu hiện cũng nói:

    Đây là điều chư Phật trong quá khứ đã dạy,

    Chư Phật tương lai cũng sẽ đề ra.

    Chư Phật hoàn hảo của thì hiện tại

    Cũng dạy nó lặp đi lặp lại.

    Tâm trí của toàn thể chư Phật trong ba thời, pháp giới, tâm giác ngộ tối thượng, đều ở trong sự mở rộng bao la của trí tuệ bản nguyên tự nhận thức, như nước hòa lẫn với nước. Đó là sự hợp nhất bất nhị, hiện diện tự nhiên trong trạng thái đại lạc. Việc duy trì trạng thái này, bản tính tối hậu của vạn vật, giống như một viên ngọc như ý. Ngược lại, những lời dạy về luật nhân quả, cùng với nguyên tắc chấp nhận và bác bỏ khi so sánh với giáo lý thâm sâu, giống như những hướng dẫn gia sư dạy cho chúng sinh thơ ngây có số phận thấp kém. Vì dù người ta có cố gắng đến đâu trong việc thực hiện những giáo lý như vậy, cũng giống như đánh bóng vật liệu thông thường rồi cầu nguyện trước nó. Viên đá sẽ không biến thành viên ngọc thần kỳ có thể ban cho người ta mọi điều mong ước. Nếu không nương tựa vào những giáo lý vượt trên luật nhân quả thì người ta sẽ không đạt được giác ngộ cho dù người đó thực hiện những giáo lý đòi hỏi hành động cố gắng phù hợp với tiền trình nhân quả đến mức nào. Những giáo lý này dành cho chúng sinh thơ dại, do đó hành giả không nên trông cậy vào chúng. Như được tìm thấy trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Một người mong muốn có viên ngọc ước muốn

    Có thể đánh bóng mọi thứ anh ta có như một miếng gỗ.

    Nó sẽ không bao giờ biến thành một viên ngọc.

    Và:

    Ngay cả khi những giáo lý này được chỉ dẫn trực tiếp

    Cho những người có chút may mắn,

    Thiếu khuynh hướng nghiệp đúng đắn.

    Họ sẽ không hiểu được chúng.

    Vì họ bị đầu độc bởi sự phấn đấu của mình

    Theo lý nhân quả và các kết quả của họ.

    Và:

    Bởi vậy Đại Toàn Thiệun, siêu việt nhân quả,

    Không phải cảnh giới của những người kém may mắn,

    Những người vốn nên gắn liền với các giáo lý

    Dựa trên luật nhân quả.

    Do vậy những người có may mắn lớn, có khả năng được dẫn dắt bởi những giáo lý vượt qua nỗ lực dựa trên luật nhân quả, sẽ không trông cậy vào những giáo lý dành cho những người kém may mắn hơn. Longchenpa cho họ lời khuyên này: tránh cái bẫy nỗ lực trong tiến trình nghiệp báo của nhân và quả, họ nên quan sát, theo cách không có bất cứ đối tượng quan sát nào, bản tính như không gian nằm ngoài mọi nỗ lực có chủ ý.

    Thứ mười, nó chỉ ra rằng vì hiện diện tự nhiên là nguyên thủy nên không cần phải thành tựu nó ngay bây giờ.

    10. Chân như như nó đang là

    Giờ đây không cần phải thành tựu.

    Bên trong sự hiện diện tự phát,

    Nguyên thủy và không được tạo dựng,

    Hãy từ bỏ hy vọng và sợ hãi bên trong tâm trí bạn

    Liên quan đến việc truyền thừa và tiếp nhận

    (Về năng lượng gia trì của thầy)

    Chỉ chứng ngộ sự mở rộng tối thượng

    Đó là sự hiện diện tự phát

    Và do đó không cần phải tìm kiếm.

    Ngoài việc đạt được độ chắc chắn rằng hiện diện tự phát quý giá, như thực đúng như nó là, tính giác tự nhận thức không ngừng, trống không và sáng ngời, giờ đây hoàn toàn ở trong sở hữu của hành giả, giờ đây không cần phải thành tựu kết quả, pháp thân, như thể nó đến từ một nơi nào khác. Cũng giống như khi mặt trời mọc, không cần phải tìm kiếm tia sáng ở đâu khác. Người ta nên trụ vững trên tính giác mà mình sở hữu tự nhiên ngay từ đầu, tâm giác ngộ, hiện diện tự nhiên vĩ đại không tạo dựng. Người ta phải hoàn toàn tin tưởng rằng điều này là như vậy. Ngay bây giờ, trong chính khoảnh khắc này, người ta nên hoàn toàn cắt đứt mọi hy vọng và sợ hãi về việc liệu ân phúc gia trì (của đạo sư) có được nhận hay không hoặc liệu trí tuệ của ngài có được truyền thừa hay không. Do đó, Longchenpa khuyến khích chúng ta chỉ cần nhận ra và có niềm tin không chút do dự vào pháp giới, vốn hiện diện tự nhiên và không cần hành động hay nỗ lực tìm kiếm.

    Mười một, kết luận, nó cho thấy hiện diện tự phát vượt ngoài hy vọng và sợ hãi là tinh túy của ba thân.

    11. Giống như mỗi và mọi vật

    Là sự phô diễn của pháp thân,

    Báo thân và hóa thân

    (Bộ ba không ngụy tạo

    Của bản tính, đặc trưng, và năng lực nhận biết),

    Cũng vậy, luân hồi và niết bàn tự chúng là ba thân,

    Sự mở rộng của tâm trí giác ngộ,

    Hiện diện tự phát như tính bình đẳng vĩ đại không được tạo dựng,

    Luân hồi, bởi vậy, không cần phải từ bỏ,

    Niết bàn, tương tự, không cần đạt được.

    Sự quy kết và phủ nhận liên hệ đến chúng lắng xuống.

    Luân hồi và niết bàn

    Trú ngụ bên trong tinh túy tối thượng.

    Điều này tiết lộ điểm then chốt:

    Các hiện tượng tồn tại bên trong tâm trí giác ngộ,

    Hiện diện tự nhiên ngay từ đầu.

    Tất cả các hiện tượng trong toàn thể luân hồi và niết bàn xuất hiện như sự phô diễn của pháp thân, báo thân, hóa thân, mà bản thân chúng là sự biểu hiện của bộ ba không ngụy tác gồm bản tính, đặc trưng, và năng lực nhận thức. Bản tính trống rỗng là pháp thân, tính sáng là báo thân, và năng lực nhận thức không ngừng sinh khởi trong tính đa dạng của nó là hóa thân. Nếu hiểu đúng rằng các hiện tượng đó là sự chiếu xạ tự nhiên của ba thân, người ta sẽ thấy rằng mọi thứ trong thế giới hiện tượng, toàn thể luân hồi và niết bàn, không vượt ra ngoài tam thân, không gian của tính giác, tâm giác ngộ. Ngược lại, ngay từ đầu, nó đã hiện diện tự nhiên như trạng thái vĩ đại của tính bình đẳng không do an bài. Trong không gian này của tính giác, hiện diện tự phát vĩ đại của tâm giác ngộ, luân hồi và niết bàn siêu việt mọi ý niệm về bất tịnh hay thanh tịnh, về việc điều gì đó là đáng sợ và điều gì đó đáng hy vọng. Cả hai đều hiện diện tự nhiên như ba thân, trí tuệ bản nguyên vĩ đại của tính bình đẳng bao trùm toàn thể. Đây là điểm then chốt cuối cùng.

    Cho nên cái mà chúng ta gọi là luân hồi không phải để bị loại bỏ như một điều gì đó xấu xa, có sẵn những đặc tính cố hữu. Ngược lại, nó trống rỗng, không có nền tảng và gốc rễ. Tương tự, cái chúng ta gọi là niết bàn không tồm tại như thứ gì đó tuyệt với để được tìm kiếm và thành tựu. Đó là trạng thái không tham chiếu của của sự rộng mở không chướng ngại.

    Tất cả các hiện tượng thuộc luân hồi và niết bàn chẳng là gì khác hơn một trạng thái bình đẳng rộng mở vượt ngoài sự suy diễn khái niệm. Chúng vượt ngoài các quan niệm sai của chúng sinh mê lầm. Chúng vượt trên những thứ như sự quy kết, quy kết sự tồn tại cho những thứ không tồn tại, vượt ngoài sự phủ nhận, quy kết sự không tồn tại cho những gì thực sự tồn tại. Mọi khái niệm về tồn tại và không tồn tại hoàn toàn lắng xuống. Các hiện tượng luân hồi và niết bàn tồn tại trong tinh túy tối hậu của chúng, là bản tính nền tảng của chúng. Do đó, điểm mấu chốt của các hiện tượng luân hồi và niết bàn được tiết lộ. Không cần bất cứ nỗ lực nào từ phía chúng ta để khiến chúng được như vậy, chúng đã tồn tại sẵn, hiện diện tự nhiên ngay từ đầu trong tâm giác ngộ tối thượng.
  7. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    3. Phần hai: Điểm then chốt của hiện diện tự phát là Thể tính hóa

    Mục này gồm năm khổ thơ. Đầu tiên là cách mà tâm trí trở thành người thầy.

    12. Vạn sự giờ đây được thể tính hóa

    Là hiện diện tự phát.

    Năm đại nguyên tố,

    Thế giới biểu hiện và cư dân của nó,

    Xuất hiện như những vị thầy, tất cả đều hiện diện tự nhiên,

    Trong trạng thái mà, ngay lúc đầu,

    Đã thoát khỏi mọi suy nghĩ lan man.

    Khi không còn suy nghĩ về ta và người,

    Chúng tự bản chất là thanh tịnh.

    Chúng được thể tính hóa như tâm trí của chính bạn,

    Thoát khỏi mọi hoạt động và nỗ lực.

    Đừng ngăn chặn các hình tướng,

    Mà để mặc sáu thức

    Trong một trạng thái thư giãn.

    Tính giác, là trí tuệ bản nguyên tự sinh, thanh tịnh nguyên thủy, trống rỗng, sáng ngời, như một quả cầu pha lê. Bên trong nó là ánh sáng ngũ sắc có đặc tính sáng tỏ, sự chiếu sáng bên trong của hiện diện tự nhiên, tạo thành cái gọi là các đại nguyên tố. Đây là các nguyên tố bên trong, tinh hoa của ngũ đại. Khi những ánh sáng này phát xạ ra ngoài, chúng hoạt động giống cách ánh sáng bên trong của pha lê xuất hiện ra bên ngoài. Ngay từ đầu, chúng đã bị hiểu là có ngã, chúng trở thành năm yếu tố hư hoại, thứ bị hiểu lầm là vũ trụ và chúng sinh mà nó chứa đựng. Đây là những nguyên tố bên ngoài hoặc thấp hơn.

    Mọi thứ trong thế giới hiện tượng đều được thể tính hóa như là tính giác, hiện diện tự phát vĩ đại. Điều này xảy ra theo cách sau. Khi chúng sinh mê lầm về những hình tướng của hiện diện tự nhiên bên trong quang minh, thì chính lúc đó hàng loạt hình tướng ảo tưởng trong luân hồi xuất hiện, thế giới với những ngọn núi, tảng đá, ngôi nhà, vân vân. Vì vậy, trong tình huống hiện tại của chúng ta, thời điểm của những hình tướng ảo tưởng, khi ngũ đại bên trong và ngũ sắc phát xạ ra từ chúng như ánh sáng tỏa ra bên ngoài được hiểu là bị chiếm hữu bởi cái ngã, như là tồn tại cố hữu, chúng bị giáng cấp thành năm nguyên tố (thông thường), là một tàn dư hư hoại được coi là một hiện tượng của vụ trụ và cư dân của nó. Tuy nhiên, nếu (ngay khoảnh khắc những hiện tượng như vậy được nhận thức) người ta có thể ngưng không nghĩ về chúng theo nghĩa tự ngã và tha nhân, và nếu người ta thư giãn trong tính bình đẳng vĩ đại của tính giác, thì những hiện tượng như vậy, khi người ta không có suy nghĩ về chúng, sẽ trở nên trống trải và dễ chế ngự. Chúng có vẻ mong manh vì thiếu tồn tại thực tế. Chúng được nhận thức, nhưng vì người ta không có suy nghĩ về chúng nên sẽ không bám chấp vào hình tướng ảo tưởng của chúng. Các hiện tượng sẽ sinh khởi và hoại diệt khá tự nhiên. Khi chúng lắng xuống trạng thái bình đẳng, năm nguyên tố xuất hiện như những vị thầy hiện diện tự nhiên giới thiệu một trong năm đặc điểm của tính bình đẳng vô niệm. Như có nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Trong tâm trí hoàn toàn giác ngộ,

    Năm đại nguyên tố trong bản tính của tâm

    Xuất hiện như năm vị thầy của tâm giác ngộ.

    Và,

    Năm vị thầy của tâm giác ngộ

    Nhờ vậy hé lộ bản tính của các hiện tượng.

    Các vị thầy, cụ thể là năm nguyên tố bên ngoài, thể hiện năm đặc điểm của tính bình đẳng vô niệ,. Theo đó, khi người ta kiềm chế việc xem xét năm yếu tố cùng những thứ tương tự theo nghĩa tự ngã và tha nhân, tự chúng (được coi là) thanh tịnh nội tại.Do vậy, điểm mấu chốt của bất cứ thứ gì xuất hiện là nó nhất thiết phải được thể tính hóa như tâm trí của chính mình, vốn không sinh và thoát khỏi mọi hoạt động và nỗ lực. Đó là một trạng thái cởi mở thoát khỏi mọi diễn hóa khái niệm.

    Khi các vị thầy, năm nguyên tố, là kinh nghiệm tự thân của tính giác và biểu hiện bên ngoài của ánh sáng bên trong, xuất hiện với chính mình, năm vị thầy của tâm giác ngộ, cụ thể là, năm nguyên tố mà trong bản tính của chúng là thanh tịnh, chứng tỏ rằng mọi thứ đều là cõi giới và biểu hiện của chân như, bản tính tối hậu của mọi hiện tượng. Mọi hình tướng biểu hiện như những vị thầy hiện diện tự nhiên. Như có nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Trí tuệ nguyên sơ của tâm giác ngộ

    Phát sinh tự nhiên dưới hình thức những vị thầy.

    Họ không dạy bằng lời và âm tiết,

    Nhưng họ tiết lộ tính giác, tự nhận thức.

    Như đã nói, khi người ta không ngăn chặn các hình tướng, tất cả sáu tập hợp tâm thức sẽ xuất hiện như những vị thầy, chính họ là sự tự kinh nghiệm của tính giác. Bất cứ thứ gì nảy sinh tự nhiên đều lắng xuống, vì thế, Longchenpa nói với chúng ta, chỉ nên thư giãn và để mặc nó. Biết cách giới thiệu cái thấy này, niêm phong (với niềm tin) và biết cách thể tính hóa mọi hiện tượng bên trong nó là một điểm mấu chốt.

    Thứ hai, nó chứng tỏ rằng các thức giác quan không bị ô nhiễm bởi các khái niệm sẽ được thể tính hóa như là tính không.

    13. Tính giác, hiện diện tự nhiên,

    Phát quang chói ngời,

    Là nguồn gốc nền tảng của tất cả.

    Điểm chính yếu là để yên

    Không chỉnh sửa năm cửa ngõ giác quan

    Và không có các suy gnhix qua lại.

    Nhận biết trạng thái pháp thân

    Hiện diện tự nhiên, tỉnh giác và trống rỗng.

    Chắc chắn về nó; để tự do

    Khỏi mọi vận hành khái niệm.

    Các hiện tượng bên ngoài và bên trong của thế giới cùng với cư dân của nó đều phát sinh rõ ràng và sống động. Khi điều này xảy ra, tính giác, hiện diện tự phát, nguồn gốc của tất cả những sự vật này, không được đánh mất chính nó trong nhận biết của năm thức giác quan. Thay vào đó, nó phải duy trì ánh sáng rạng rỡ, bao la, quảng đại, hoàn toàn trống rỗng, trần trụi và tự do. Nó không nên đi lạc vào các đối tượng của nhận thức, trộn lẫn với chúng, thay vào đó nên giống như một giọt thủy ngân rơi vào bụi bặm. Vào lúc đó, năm năng lực giác quan được để mặc không chỉnh sửa và ở trong một trạng thái quân bình.60 Các đối tượng của chúng biểu hiện không ngừng. Tuy vậy, bên trong một trạng thái không có sự chuyển động, không có những suy nghĩ qua lại, tính giác vẫn tự do, một không gian rộng lớn liền mạch. Đây là một điểm quan trọng.

    Trạng thái tỉnh giác trống rỗng này, pháp thân, điều kiện của hiện diện tự nhiên quý giá, cần được nhận ra là phương thức hiện hữu không giả tạo và tối hậu trong địa tầng nền tảng của tâm trí. Do đó, người ta đi đến niềm tin quyết định rằng mọi hình tướng, thanh tịnh và bất tịnh, khởi lên nhờ năng lực sáng tạo của hiện diện tự nhiên, chẳng gì khác hơn là tính giác trống rỗng và thoát khỏi vận động khai niệm, trí tuệ bản nguyên của tính bình đẳng. Và nghỉ ngơi với tâm thái thiền trong trạng thái tỉnh giác trống rỗng, sáng ngời này, trạng thái siêu việt mọi tham chiếu, suy nghĩ và cấu trúc khái niệm, một trạng thái nhận biết trần trụi, không gián đoạn, là điểm then chốt quan trọng nhất.

    Mọi thứ đều được thể tính hóa như thiền định nhất tâm tự nhiên.

    14. trong cõi bao la và thanh tịnh

    Của tính giác không bị ngăn trở, tự nhận thức,

    Mọi hình tướng, đối tượng, các trạng thái tinh thần

    Là một trạng thái không gián đoạn của tính bình đẳng.

    Chúng đều được thể tính hóa

    Một sự liền mạch của hiện diện tự nhiên,

    Thiền định nhất tâm tự nhiên.

    Vào mọi lúc như dòng nước mạnh mẽ,

    Trí tuệ bản nguyên,

    Không do tu luyện thông qua thiền định của hành giả

    Mà hiện diện tự phát, không ngừng.

    Tinh hoa cốt tủy của mọi hiện tượng

    Là sự mở rộng, nguyên thủy, tự sinh khởi,

    Mà trong mức độ trọn vẹn của nó

    Tương ứng với trí tuệ thực sự của Phổ Hiền.

    Mọi hiện tượng của các luân hồi và niết bàn đều xảy ra trong không gian bao la của tính giác tự nhận thức. Khi tính giác được để mặc trong một trạng thái tự do và rộng mở, người ta nghỉ ngời thoải mái trong nhận thức về bản tính của những hiện tượng tương tự này mà không cần ngăn chặn chúng. Không có bất kỳ điểm quy chiếu nào, tính giác an trú tự do và thanh tịnh trong trạng thái bình đẳng nơi các hiện tượng sinh khởi và hoại diệt tự nhiên. Do vậy, người ta nói rằng những hiện tượng tương tự này được thể tính hóa như trạng thái rộng mở bao trùm tất cả. Như Sáu không gian tuyên bố:

    Bên trong bản tính của tâm, vượt ngoài chấp nhận và chối bỏ,

    Mọi hình tướng không có sự phân biệt đều tự nhiên lắng xuống.

    Đây là “trạng thái rộng mở toàn khắp”

    Và là điều mà, Tôi, Phổ Hiền, giảng dạy.

    Bất cứ điều gì xuất hiện, dù là đối tượng nhận thức hay trạng thái nhận thức, bên trong sự rộng mở vĩ đại toàn khắp của tính giác tự nhận thức và vô ngại, điểm cốt yếu cần nhận ra rằng những hiện tượng này chỉ đơn giản là tính giác và thực giãn tự nhiên trong nhận biết này. Trong trạng thái bình đẳng không ngăn ngại, vô niệm, không gián đoạn này, tất cả những sự vật như vậy khởi lên và lắng xuống tự nhiên.

    Tương tự, kho một ngưởi nghỉ ngơi thoải mái trong trạng thái rộng mở tự nhiên và không chế định, người ta đang ở trong trạng thái thiền định nhất tâm vốn hiện diện từ nguyên thủy. Điều này được thể tính hóa như sự mở rộng của hiện diện tự phát, không gián đoạn, rộng lớn, nguyên sơ, trống rỗng và sáng tỏ. Trong mọi lúc, thiền định nhất tâm này là không ngừng giống như dòng chảy của một con sông lớn. Dù người không nỗ lực tu luyện nó, trí tuệ bản nguyên, tự sinh và tự phát, vẫn không ngừng như một dòng nước trong suốt.

    Tóm lại, cốt lõi tinh hoa của mọi hiện tượng, dù là luân hồi hay niết bàn, đều không thể tách rời khỏi cõi giới bao la nguyên thủy tự sinh khởi, mà trong mức độ đầy đủ của nó, là trí tuệ tối thượng, bản tính nền tảng, của Phổ Hiền. Điểm cốt yếu là nghỉ ngơi tự nhiên ở trong nó, thiền định nhất tâm tự nhiên, vĩ đại từ trí tuệ bản nguyên của đại lạc.

    Thứ tư, hiện diện tự phát được thể tính hóa như trạng thái mà mọi thứ được để nguyên như chúng là.

    15. Gốc rễ của mọi hiện tượng

    Là tâm trí giác ngộ

    Giống như không gian

    Tính tương tự có thể áp dụng cho tất cả.

    Vạn sự được chứa đựng trong vực thẳm không gian,

    Và tất cả đều thuần khiết trong bản chất

    Không có nỗ lực hay cố gắng.

    Tương tự, một trạng thái vượt ngoài các hành động có chủ ý,

    Vượt xa tầm với của tâm trí bình thường,

    Nơi mọi thứ xuất hiện

    Được để nguyên như chúng đang là

    Nó tại đây được thể tính hóa

    Điểm chính yếu của các hiện tượng,

    Hiện diện tự nhiên

    Cả ngoài và trong.

    Gốc rễ của mọi hiện tượng là tâm giác ngộ tối thượng. Nó được so sánh với không gian, vốn là ví dụ được sử dụng phổ biến. Sự so sánh này được thực hiện theo nghĩa nào? Không gian vượt khỏi sự phân biệt như bên ngoài, bên trong, trên và dưới, trung tâm và chu vi. Nó không có sự chuyển động và biến đổi, bên trong nó những điểm chính và những phương hướng trung gian đều không có ý nghĩa. Tương tự, tâm giác ngộ vượt xa những phân biệt như bên ngoài hay bên trong, vân vân. Quả thực, tất cả các cấu hình rộng lớn và kỳ diệu được tìm thấy trong vũ trụ và những cư dân của nó đều được chứa đựng trong chiều sâu không gian. Về phương thức nền tảng tồn tại của nó, tất cả đều dễ dàng và thuần tịnh tự nhiên, trong khi vẫn giữ được tính cá thể và khác biệt. Tương tự, bất cứ hiện tượng nào, thanh tịnh hay bất tịnh, niết bànm hay luân hồi xuất hiện, đều được chứa đựng trong tính bao la của tâm giác ngộ. Chúng không bao giờ rời xa bản chất tối thượng của mình, vốn nằm ngoài phạm vi của tâm trí bình thường và là sự mở rộng toàn khắp của tính giác siêu việt bất kỳ loại hành động và cố gắng nào. Khi được để yên không chế định như nó đang là, bất kỳ điều gì xuất hiện trong trạng thái tự nhiên của tính bình đẳng hiện diện tự phát này đều trống rỗng, rực sáng và không bị giới hạn. Những hình tướng bên ngoài và bên trong của luân hồi và niết bàn, hiện diện và tự nhiên và tự sinh khởi, được thể tính hóa ở điểm then chốt là để nguyên mọi thứ như chúng đang là. An trú tự do và không có sự sắp đặt trong bản tính tối hậu này của các hiện tượng, chẳng là gì khác hơn ngoài bản tính nền tảng của chúng, là điểm then chốt tối thượng. Như được nói trong mật điển Lời Siêu Việt:

    Đối với mọi ảo tưởng bất tịnh

    Điểm then chốt là để mặc các cánh cửa giác quan không bị quản thúc,

    Để mặc chúng tự do, không thao túng.

    Đừng đi lạc khỏi điều này. Đây là hướng dẫn cốt lõi.

    Thứ năm, hiện diện tự phát được thể tính hóa thành sự thiếu vắng của mọi hành động và nỗ lực có chủ ý.

    16. Trong chân như không có khởi nguồn, không kết thúc,

    Không đi không đến (và còn lại).

    Trong Đấng chiến thắng được tụ hợp

    Sự tập trung không dao động

    Của hiện diện tự phát.

    Trong trạng thái này, siêu việt hành động,

    Các hiện tượng được thể tính hóa.

    Trong các hiện tượng luân hồi và niết bàn, chưa từng có hiện tượng nào được sinh ra. Chúng là trạng thái bình đẳng vượt ngoài mọi diễn khái niệm, và vì vậy trong thì hiện tại, chúng không có nguồn gốc. Nhưng dù không sinh, chúng xuất hiện rõ ràng và phân minh như cầu vồng trên trời. Do đó, câu thơ gốc mô tả chúng là không ngừng nghỉ. Xuất hiện ngay lúc đầu từ sự mở rộng của tính giác, các hiện tượng không đến từ nơi nào khác. Và vì vào lúc kết thúc, chúng tự nhiên lắng xuống trong không gian tính giác, chúng không đi nơi khác. Điều tương tự cũng áp dụng cho phần còn lại của tám cực đoan.

    Tóm lại, các hiện tượng vượt ngoài tám khái niệm cực đoan này không bao giờ đi lạc khỏi căn bản của nền tảng. Trong cùng khoảng không gian này, tâm trí tuệ của các Đấng Chiến Thắng trong ba thời được hội tụ hoàn toàn, hòa quện với nó bất khả phân như nước hòa với nước. Khi an trú trong trạng thái chân như này, thành tựu trạng thái này được gọi là “tập trung thanh tịnh, không dao động của hiện diện tự nhiên”, tức là tính giác. Thân thể được để nguyên như vậy, bất động như một ngọn núi. Khả năng ngôn ngữ bị bỏ lại trong im lặng như một tiếng vang đã ngừng vọng lại. Tâm trí được để mặc không suy nghĩ, như không gian bao la, sự trong sáng rộng mởi của hiện diện tự phát. Ở đó, trong trạng thái bình đẳng, không có mọi hành động, mọi hiện tượng đều được thể tính hóa. Như được nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Tâm giác ngộ, bản tính của các hiện tượng

    Vượt ngoài chấp nhận và bác bỏ, giống như không gian.

    Do đó, nó không thể được suy diễn thông qua suy nghĩ và hành động.

    Nó không thể bị cố định vào “cái này” hoặc “cái kia”,

    Và do vậy, người ta không thể thiền định về nó.

    Như không gian, hoàn toàn thanh bình,

    Nó hoàn toàn thoát khỏi mọi bất tịnh.


    Mật điển Sáu không gian cũng nói:

    Trong bản tính của tâm, thoát khỏi mọi khấy động tinh thần,

    Kinh nghiệm tuệ giác sâu xa vô niệm

    Là trí tuệ thoát khỏi đến và đi.

    Đó là thứ mà Tôi, Phổ Hiền, dạy.
  8. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    3. Phần thứ ba: Các hiện tượng được xếp vào Hiện Diện Tự Phát


    Phần này gốm ba khổ thơ. Đầu tiên, mọi thứ được bao hàm trong tính thanh tịnh của hiện diện tự phát.

    17. Vạn sự được bao gồm trong hiện diện tự nhiên.

    Toàn thể thế giới hiện tượng, hiện diện tự phát,

    Là sự tự kinh nghiệm của tính giác.

    Luân hồi và niết bàn,

    Hiện diện tự phát, và sự biểu lộ của tính giác.

    Cũng vậy, tâm giác ngộ, ngay từ đầu,

    Đã hiện diện tự nhiên,

    Mọi hiện tượng chẳng là gì khác

    Ngoài hiện diện tự phát.

    Mọi hiện tượng được bao gồm trong tính giác, tức là hiện diện tự phát vĩ đại. Nó là như vậy theo cách sau. Giống như những hình ảnh trong giấc mơ hiện diện tự phát như trải nghiệm của giấc ngủ, những thứ tô điểm cho vũ trụ và chúng sinh đều là hiện diện tự phát như sự tự kinh nghiệm của tâm giác ngộ tối thượng. Giống như năm ánh sáng chiếu ra từ một viên pha lê là sự phô diễn năng lực sáng tạo của viên pha lê đó, các hiện tượng luân hồi và niết bàn khởi lên tự nhiên như sự phô diễn năng lực sáng tạo của tính giác. Và tính giác, gọi là tâm giác ngộ, hiện diện tự nhiên như sự thức tỉnh thanh tịnh bản nguyên khởi thủy, bản tính rộng mở và tự do ngay từ đầu. Vì vậy, mọi hiện tượng trong cả luân hồi và niết bàn đều chẳng là gì khác ngoài tính giác, hiện diện tự phát vĩ đại. Ngoài ra, không có hiện tượng nào cả. Điều đã được nói trong Sự chấm dứt lập tức của Ba Thời:

    Nền tảng của luân hồi và niết bàn là tâm giác ngộ.

    Nền tảng của tâm giác ngộ hiện diện tự phát.

    Cái hiện diện tự phát là chính nó mà không có sự xác định.

    Các đối tượng là không sinh, tức là hiện diện tự nhiên.

    Và:

    Bản tính của luân hồi và niết bàn là tâm giác ngộ.

    Bản tính của tâm giác ngộ là không kết thúc và không khởi đầu.

    Nền tảng là vô thủy và vô chung,

    Là hiện diện tự nhiên.

    Cái không có kết thúc và khởi đầu

    Là không cần xác định.

    Thứ hai, hiện diện tự phát được xếp vào nhóm không có hành động và nỗ lực.

    18. Hiện diện tự phát

    Là bản tính của tâm trí.

    Và do đó nền tảng hay gốc rễ,

    Tinh hoa (của các hiện tượng),

    Được tụ hợp trong tâm giác ngộ.

    Không cần ở đó để tìm kiếm nó

    Bằng các phương tiện của mười yếu tố.

    Nó hiện diện tự nhiên;

    Không cần cố gắng để có nó

    Bằng phương tiện của cái thấy và thiền định tập trung.

    Không cần đạt được nó bằng các phương tiện ngoại lai,

    Như trong hệ thống nhân quả.

    Không cần bận tâm

    Với hy vọng và sợ hãi về nó.

    Ngay bây giờ trong hiện tại

    Hiện diện tự nhiên là pháp thân nguyên thủy.

    Bản tính của tâm trí, đơn giản, thiếu vắng trần trụi diễn hóa khái niệm, tính bình đẳng của luân hồi và niết bàn, là hiện diện tự phát. Vì vậy, nền tảng hay gốc rễ từ đó mọi hiện tượng luân hồi và niết bàn phát sinh và tinh túy mà từ đó chúng tùy thuộc vào đều được tụ hợp trong tâm giác ngộ tối thượng. Và như văn bản nói, đây là hiện diện tự nhiên. Nó không phải là thứ để được tìm kiếm hay theo đuổi bằng mười yếu tố của cái thấy, thiền định, hành động, quán đỉnh, mandala, vân vân, của mật tông. Không cần phải cố gắng để đạt được nó (thông qua thực hành) cái thấy, thiền định, tập trung, vân vân. Tất cả đều có mặt tự nhiên. Như Vua sáng tạo toàn thể tuyên bố:

    Kye! Bậc thầy của mọi vị thầy,

    Vua sáng tạo toàn thể,

    Ban giáo lý này cho đoàn tùy tùng của ông,

    Những người tâm trí không bị câu thúc.

    Ông nói: “Bạn, những hành giả đã hiểu

    Rằng tất cả không có gì ngoại lệ là không sinh,

    Đừng cố gắng trong mười yếu tố của mật tông!”

    Hơn nữa, điều này không cần thiết phải được thực hiện thông qua tác động của một số nguyên nhân bên ngoài, như trong các thừa thấp, trong đó nguyên nhân và kết quả của chúng được coi là khác nhau và tách biệt. Trạng thái tự nhiên của tính giác, vượt trên mọi nguyên nhân và nỗ lực, là hiện hiện tự phát. Khi tin chắc vào điều này, người ta không cần lo lắng về trạng thái tự nhiên này, hy vọng sẽ tìm thấy nó hoặc sợ rằng sẽ bỏ lỡ nó. Như đã nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Cái thấy và hành động của Đại Toàn Thiện

    Không giống việc thực hành dựa trên nhân và quả.

    Cái thấy và hành động của tâm trí giác ngộ

    Như không gian trong bản tính của chúng.

    Do bản tính nền tảng của hiện diện tự phát, là tâm giác ngộ, trạng thái đại bình đẳng thoát khỏi mọi suy diễn khái niệm, trong chính khoảnh khắc này, chúng ta đang đối mặt với pháp thân Phổ Hiền, vị chúa tể nguyên sơ.

    Thứ ba, một tuyên bố kết luận chứng tỏ rằng hiện diện tự phát là bất biến.

    19. Bản tính của tâm trí là một sự mở rộng vô hạn

    Của không gian vượt trên mọi thay đổi.

    Từ sự mở rộng này mà ba thân,

    Luân hồi và niết bàn tự phát xuất sinh,

    Mặc dù chúng không bao giờ rời khỏi nó.

    Sự biểu lộ của nó vô cùng đa dạng:

    Một kho tàng của những hình tướng huyễn ảo

    Của năng lực nhận thức

    Khởi sinh đơn độc như sự hiện diện tự nhiên:

    Phổ Hiền.

    Ngài do vậy là đạo sư của luân hồi và niết bàn

    Vì chúng chưa bao giờ đi lạc đến nơi nào khác

    Từ đây, sự mở rộng tối hậu.

    Phổ Hiền do vậy là tất cả;

    Chẳng có gì ở đó mà không thể là như vậy.

    Tất cả là sự mở rộng, hiện diện tự nhiên,

    Của bản tính kim cương.

    Mọi sự đều được bao gồm từ nguyên thủy

    Bên trong hiện diện tự nhiên.

    Cõi giới bất biến trong bản tính của tâm trí được phú bẩm tự nhiên với ba thân. Sự rộng mở như không gian bất biến trong bản tính của tâm, trống rỗng, là pháp thân. Tịnh quang của nó là báo thân. Năng lực nhận thức không chướng ngại của nó là hóa thân. Mọi hiện tượng của cả luân hồi và niết bàn dường như khởi lên tự nhiên từ bên trong sự mở rộng quảng đại của ba thân, tuy nhiên ngay từ đầu, chúng chưa bao giờ lạc ra khỏi cùng không gian, tính giác này. Và chắc chắn rằng chúng sẽ không bao giờ bị như bậy vào bất cứ thời điểm nào trong tương lai.

    Trong cõi ba thân không phân chia, vốn là tính giác, hiện diện tự phát, sự phô diễn đa dạng của năng lực sáng tạo của nó diễn ra giống như cầu vồng xuất hiện trên bầu trời. Quả thực, toàn thể tính đa dạng phong phú của những biểu hiện huyễn ảo từ năng lực nhận thức, phát sinh từ kho tàng của hiện diện tự phát quý giá, hay tính giác, tự nó, là hiện diện tự nhiên duy nhất của Phổ Hiền biểu lộ ra bên ngoài. Vì lý do này, mọi hình tướng, thanh tịnh hay bất tịnh, đều có chung một bản tính của Phổ Hiền. Chắc chắn rằng chẳng có gì khác có thể khác đi được. Như ta thấy trong Tràn đầy Lục Thức:

    Bên trong Phổ Hiền, trạng thái vượt ngoài mọi hành động,

    Luân hồi là Phổ Hiền, niết bàn là Phổ Hiền.

    Nhưng bên trong không gian của Phổ Hiền,

    Chưa bao giờ có luân hồi hay niết bàn.

    Hình sắc là Phổ Hiền, tính không là Phổ Hiền.

    Nhưng trong không gian của Phổ Hiền,

    Chưa bao giờ có sắc và không.

    Và,

    Sinh và tử đều là Phổ Hiền

    Hạnh phúc và đau khổ đều là Phổ Hiền.

    Nhưng trong không gian Phổ Hiền,

    Chưa bao giờ có sinh tử,

    Không có hạnh phúc hay đau khổ

    Bản thân và người khác là Phổ Hiền,

    Thường hằng và chấm dứt là Phổ Hiền.

    Nhưng bên trong không gian Phổ Hiền,

    Không có Ta hoặc người, thường và đoạn

    Từng có.

    Cho nên chính tính giác đó, Phổ Hiền, có khả năng làm chủ mọi hình tướng của luân hồi và niết bàn, vốn khởi sinh từ không gian của nó như là sự phô diễn năng lực sáng tạo. Chúng không bao giờ đi lạc khỏi cõi giới vô hạn của hiện diện tự phát, tính giác, Phổ Hiền. Do đó, văn bản gốc nói rằng chúng chưa bao giờ đi lạc lối ở nơi nào khác. Quả thực, chẳng có hiện tượng nào có thể khởi sinh từ bất cứ thứ gì khác ngoài năng lực sáng tạo của Phổ Hiền. Chẳng thứ gì có thể làm được như vậy. Do vậy, mọi sự trong thế giới hiện tượng, ngay từ đầu, chưa bao giờ đi lạc khỏi tính giác, đó là, Phổ Hiền, không gian hiện diện tự phát của tinh túy kim cương. Vì thế, mọi hiện tượng trong luân hồi và niết bàn đều được bao gồm từ nguyên thủy trong tính giác, hiện diện tự nhiên quý giá. Như được nói trong Ngập tràn sáu thức:

    Vĩ đại nhất trong các bậc vĩ đại, Phổ Hiền, pháp giới,

    Giống như vị vua duy trì mọi quyền thống trị của mình.

    Ông cai quản luân hồi và niết bàn, những thứ không bao giờ rời xa mình.

    Như vậy mọi sự đều là Phổ Hiền.

    Điều này là như vậy, cho dù nó có vẻ chẳng phải vậy.

    Vượt trên sự khác biệt về tốt và xấu,

    Tất cả là một trong Phổ Hiền.

    Như vậy nguyên lý hiện diện tự phát được chứng minh.
  9. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    3. Phần bốn: Có niềm tin rõ ràng rằng mọi hiện tượng là hiện diện tự phát

    Mục này bao gồm tám khổ thơ. Đầu tiên, một niềm tin rõ ràng đạt được rằng mọi hiện tượng đều tham gia vào hiện diện tự phát, điều không thể tin được và không thể diễn đạt được.

    20. Một nhận định rõ ràng như vậy đã đạt được

    Về bản tính hiện diện tự phát của chúng.

    Bên trong hiện diện tự phát,

    Siêu việt mọi ranh giới,

    Bên ngoài và bên trong,

    Mọi thứ chỉ là sự tự kinh nghiệm của tính giác.

    Chúng không đi cũng không đến

    Chúng nằm ngoài khẳng định và phủ định,

    Vạn sự là tính bao la trùm phủ toàn thể

    Không có mọi chiều hướng, lên và xuống.

    Hoàn toàn vô định, hoàn toàn vô hạn,

    Không thể tưởng tượng, chẳng thể trình bày,

    Chúng không thể được xác định.

    Nói rằng người ta nên giải quyết dứt điểm hoặc đi đến một niềm tin rõ ràng (về các hiện tượng) có nghĩa là gì? Mọi hình tướng là tính giác, và điều này được coi là bản chất của hiện diện tự phát. Đó là tâm trí giác ngộ, thoát khỏi mọi giải thích khái niệm, một sự trong sáng rộng mở bao la như không gian. Làm sao lại như vậy? Trong cõi giới bao la của tính giác, tâm giác ngộ, nói cách khác, hiện diện tự phát quý giá siêu việt mọi phương hướng, thiên đỉnh và đáy, ngoài và trong, trung tâm và ngoại vi, bên trong cõi giới bao trùm toàn thể, duy nhất này, mọi hiện tượng của luân hồi và niết bàn, sự tự kinh nghiệm của tính giác, khởi sinh sống động và không gián đoạn giống như cầu vồng trải rộng trên bầu trời. Tuy nhiên, trên thực tế, những hiện tượng tương tự này chưa bao giờ đi lạc khỏi không gian của tính giác, đại hiện diện tự nhiên. Chúng vượt trên mọi khẳng định và phủ định, mọi chuyển động và thay đổi, mọi sự đến và đi. Chúng chưa bao giờ dao động khỏi cõi giới như không gian đơn nhất của tính bình đẳng vĩ đại, bao trùm toàn thể, vượt ngoài mọi phương hướng, lên hay xuống. Như được nói trong Gặp gỡ ba thân:

    Trong pháp giới, mọi thứ xuất hiện

    Cả bên ngoài và bên trong.

    Tuy nhiên trong không gian vượt trên mọi hành động,

    Chưa từng có bên ngoài hay bên trong.

    Vượt trên cả trong lẫn ngoài, bản tính của mọi hiện tượng

    Là một không gian mở và không bị cản trở.

    Trạng thái này không thể bị chia cắt

    Và trong đó mọi hoạt động đều được tìm thấy.

    Điều này nghĩa là mọi hiện tượng đều có bản chất tính giác của chúng. Chúng không thể suy lường, không thể diễn đạt, bất nhị, hoàn toàn không xác định và không bị giới hạn. Chúng là một trạng thái bình đẳng không nghiêng về bên này hay bên kia, một trạng thái vượt trên mọi sự xây dựng khái niệm. Chính vì lý do này mà chúng không thể được xác định bằng ngôn từ và cách diễn đạt. Chúng không thể được biểu thị bằng các dấu hiệu và phép loại suy, vân vân. Bản tính của chúng vượt xa cả suy nghĩ và các biểu đạt. Như Cõi chiếu sáng toàn thể tuyên bố:

    Bản tính không chướng ngại tương đương không tồn tại.

    Vì không theo dõi nó, nên nó không được nhìn thấy hay tìm thấy.

    Thứ hai, đạt được một niềm tin rõ ràng rằng hiện diện tự phát là tinh hoa tối thượng.

    21. Bởi vì các pháp,

    Do bản tính, thanh tịnh khởi nguyên,

    Vì, do đặc tính, chúng là hiện diện tự nhiên,

    Thoát khỏi mọi cực đoan:

    Tồn tại, không tồn tại, thường hằng, gián đoạn.

    Đây là bản tính bất nhị, tâm giác ngộ.

    Bản chất của thế giới hiện tượng, luân hồi và niết bàn, là thanh tịnh bản nguyên. Đặc trưng của nó là tính sáng. Như Sáu không gian cho ta biết:

    Về bản chất, chúng thanh tịnh nguyên sơ;

    Về đặc trưng, chúng hiện diện tự nhiên.

    Như trích dẫn này tuyên bố, các hiện tượng là không tồn tại. Nhờ đức hạnh trong tính thanh tịnh nguyên sơ của mình, chúng trống rỗng. Nhưng chúng không phải là không tồn tại, vì chúng có đặc điểm hiện diện tự nhiên. Như vậy chúng lần lượt thoát khỏi những cực đoan của tồn tại và thường hằng; của không tồn tại và gián đoạn. Được giải phóng theo cách này khỏi những cực đoạn của bốn hoán đổi liên quan đến phương thưc hiểu biết của chúng, các hiện tượng tự sinh khởi và hiện diện tự nhiên. Đây là cách hiện hữu tối thượng của tính giác, vốn thanh tịnh nguyên thủy và vượt ngoài cả khẳng định và phủ định, vượt trên cả chuyển động và biến đổi. Đây là bản tính tối thượng của tâm giác ngộ, bất nhị. Như đã nói trong Sức mạnh hoàn hảo của sư tử:

    Phật quả, vượt khỏi bốn cực đoan,

    Là tính giác, tự nhận thức.

    Vượt trên tồn tại, vượt trên không tồn tại,

    Vượt trên cả thường hằng và gián đoạn,

    Đó là pháp thân.

    Thứ ba, trình bày chi tiết hơn về luận điểm trước đó.

    22. Do bản tính, thanh tịnh bản nguyên

    Không tồn tại như bất cứ thứ gì.

    Đặc điểm của nó giống như không gian

    Và thanh tịnh từ nguyên thủy,

    Trong chính nó, hiện diện tự phát

    Không được tạo ra bởi bất cứ ai.

    Sự khởi sinh của nó là không ngừng,

    Và bất cứ cái gì cũng có thể biểu hiện.

    Nó là cội nguồn của cả luân hồi và niết bàn.

    Nó không có khởi đầu trong quá khứ,

    Và trong tương lai nó không có kết thúc.

    Tính giác, bản chất của tính thanh tịnh nguyên sơ, không nằm trong các cực đoan bản thể học, chẳng hạn như tồn tại hay không tồn tại. Đó là một trạng thái bình đẳng, thoát khỏi mọi suy diễn khái niệm, nó là thứ không thể tưởng tượng, chẳng thể diễn bày. Sáu không gian cho ta biết:

    Thoát khỏi mọi suy diễn khái niệm,

    Tính thanh tịnh nguyên thủy của các hiện tượng

    Là vẻ mặt vô nhiễm của nền tảng tinh yếu.

    Vượt ngoài ngôn từ và các âm tiết,

    Chẳng mô tả nào xác định được nó.

    Và,

    Không có chư phật, không có chúng sinh.

    Không có các hiện tượng;

    Không có nhận thức về cái tương tự.

    Không có gì, không có gì,

    Không có bất cứ điều gì.

    Theo văn bản này tuyên bố, bản chất của tính giác vốn không tồn tại như bất cứ thứ gì cả. Giống như bâu trời khi thoát khỏi ba thứ bất tịnh, bản chất của tính giác có một trạng thái thanh tịnh từ nguyên thủy. Đây là trí tuệ nguyên sơ của tính bình đẳng, vốn là bất nhị và hiện diện tự nhiên như nền tảng mà từ đó cả luân hồi và niết bàn biểu lộ. Không có ai tạo ra nó, nó rộng mở và không bị cản trở như không gian. Tuy nhiên, mặc dù tính giác, hiện diện tự phát, là nền tảng tự nhiên cho sự sinh khởi của cả luân hồi và niết bàn, bản chất của tính giác tự nó không phải là luân hồi hay niết bàn. Sau này là sự phô diễn năng lực sáng tạo của tính giác, nó khởi lên không ngừng dưới dạng những hình tướng thanh tịnh hay bất tịnh có thể được nhận biết. Mật điển Vẻ đẹp cát tường nói:

    Trong tôi không có ảo tưởng. Ảo tưởng xuất hiện do năng lực sáng tạo. Tính giác tự nhận thức không ngừng phát sinh bên trong nền tảng bất biến. Nhưng vì năng lực nhận thức không được xác định nên vô minh, thiếu tỉnh giác xuất hiện. Nó giống như những đám mây trên trời không có tồn tại thực sự, vì chúng xuất hiện ngẫu nhiên. Tương tự, nền tảng không có vô minh: chỉ khi năng lực nhận thức khởi lên trong nền tảng thì vô minh mới xuất hiện. Đây là điều được biết đến là tính căn bản của nền tảng hiện diện tự nhiên.

    Mặc dù nền tảng, hiện diện tự phát quý giá, vốn không do ai tạo ra, vượt trên mọi suy diễn khái niệm, đặc trưng (chiếu sáng) của nó không ngừng biểu lộ. Mọi loại hình tướng không ngừng xuất hiện thông qua năng lực nhận thức của tiềm năng nhận thức. Do đó, nền tảng được phú cho tám cách phát sinh, và điều này được cho là bản tính nền tảng của chiều kích quý báu. Những cách phát sinh này được cho là nguồn gốc của luân hồi và niết bàn. Vì cái biểu lộ qua cửa bất tịnh là luân hồi, còn cái biểu hiện qua cửa thanh tịnh là niết bàn. Tóm lại, bất cứ hình tướng nào của luân hồi hay niết bàn xuất hiện và dù chúng xuất hiện thế nào trong quá khứ hay tương lai, chúng vẫn làm như vậy mà không bao giờ ra khỏi trạng thái của tính giác, vốn không khởi đầu, không kết thúc. Như đã nói trong Ngập tràn sáu thức:

    Từ không gian của tam thân

    Luân hồi và niết bàn biểu hiện,

    Nhưng chúng không ra khỏi không gian này.

    Thứ tư, đạt được niềm tin chắc chắn rõ ràng về hiện diện tự phát của tất cả những gì sinh khởi.

    23. Hiện diện tự nhiên vô định, vô sinh

    Là nền tảng tối hậu. Cách mà mọi thứ khởi sinh,

    Vô thủy vô chung,

    Không thể ngăn chặn.

    Cách mọi thứ là, không có bản thể tự tính

    Không thể được xác định.

    Cách thức mọi thứ lắng xuống, không có đặc tính cố hữu

    Không thể bị gián đoạn.

    Niềm tin rõ ràng như vậy đã đạt được

    Rằng sau đó cũng vậy

    Vạn sự trú ngụ trong nền tảng

    Từ đó chúng khởi sinh.

    Điều này được gọi là “tan biến trong pháp thân,

    Cạn kiệt trong sự mở rộng tối thượng”.

    Các hiện tượng xuất theo nhiều cách khác nhau nhờ năng lực sáng tạo của tính giác bất sinh, hiện diện tự nhiên, giống như những hành tinh và ngôi sao, xuất hiện phản chiếu sống động trên mặt nước. Tuy nhiên trên thực tế, chúng chưa bao giờ rời xa cõi giới của nền tảng tối hậu: tính giác, hiện diện tự phát, không sinh và tự nhận thức. Đầu tiên, các hiện tượng biểu hiện không ngừng trong hiện diện tự phát, không gian của tính giác, không bị giới hạn và không rơi vào bất cứ cực đoan nào. Sau đó, những hiện tượng tương tự này tồn tại trong cùng tính giác này. Cuối cùng, chúng lắng xuống trong cùng không gian tính giác, tâm giác ngộ. Chúng không thể được tìm thấy ở nơi khác. Sự phát sinh không có khởi đầu và kết thúc của mọi hiện tượng không thể được nắm bắt. Các hiện tượng phát sinh và hoại diệt toàn bộ do bởi chính chúng.

    Theo cách tương tự, không bao giờ ra khỏi hiện diện tự phát vĩ đại, cõi giới của tính giác, các hiện tượng (hiện hữu không tách rời với chính tính giác này) tồn tại trong một trạng thái rộng mở không bị ngăn trở. Chúng không tồn tại như một cái gì đó khác với tính giác. Cách hiện hữu tối hậu của tình giác và mọi hiện tượng không thể được đồng nhất là cái này hay cái kia. Đó là tính rộng mở không chướng ngại vượt ra ngoài mọi tham chiếu.

    Tương tự, mặc dù các hiện tượng sinh khởi không ngừng trong không gian tính giác trống rỗng, hiện diện tự nhiên, trên thực tế, chúng không có đặc tính cố hữu dù là nhỏ nhất. Các hiện tượng phát sinh rồi tự lắng xuống. Cũng giống như cách các cơn sóng nổi lên từ biển mà không khác gì biển, các hình tướng đa dạng, phát sinh từ không gian tính giác, không ngừng lắng xuống trong tiến trình vĩ đại của tự sinh khởi và tự hoại diệt.

    Bất kể các hiện tượng xuất hiện sinh, trụ, diệt như thế nào, chúng không bao giờ lạc khỏi cõi giới hiện diện tự nhiên, trí tuệ bản nguyên, không gian tối hậu của nền tảng. Người ta cho rằng chúng vẫn giữ bản tính của mình trong pháo đài bất biến, hay nói cách khác là hiện diện tự phát, tức là tính giác. Điều này cũng được gọi là sự hội tụ trong quả cầu duy nhất của pháp thân không có các cạnh và góc. Trong Sự chấm dứt lập tức của ba thời, Garab Dorje tuyên bố:

    Một sự mở rộng vô hạn và vô tận

    Là pháo đài của nền tảng,

    Trong đó các hướng chính và trung gian,

    Lên và xuống, là liên tục suôn sẻ.

    Do đó, chư phật nói về

    Một pháo đài treo lơ lửng trong không khí

    Nơi tất cả các giá trị này kết hợp với nhau.

    Chứa đựng tất cả, không nghiêng về bên này hay bên kia,

    Quang cảnh giống như một pháo đài,

    Thành trì của tính giác

    Thành lũy của tâm giác ngộ.

    Nơi này là cõi của pháp giới không sinh.

    Danh hiệu là trí tuệ nguyên thủy, tự sinh, vượt trên tất cả

    Vũ khí là lưỡi dao cạo

    Của sự phát sinh tự nhiên, vô xác định.

    Người ta đạt được một niềm tin chắc chắn và rõ ràng rằng mọi hình tướng của hiện diện tự phát, tức là mọi sự vật biểu hiện, sau đó cũng trụ trong nền tảng mà từ đó chúng đã phát sinh ra. Như vậy người ta ta về sự tan biến của chúng vào pháp thân, không gian nơi (các hiện tượng) đã cạn kiệt.

    Khi bất cứ hình tướng hiện diện tự phát nào khởi lên, nếu người ta tỉnh giác rằng những hiện tượng huyễn ảo này, không có bất kỳ khác biệt nào giữa chúng, là sự tự kinh nghiệm của tính giác, thì cuối cùng khi niêm phong trong cơ thể người ta vỡ ra, nó cũng sẽ được tìm thấy vào thời điểm sau đó nơi những hình tướng này trú ngụ trong nền tảng, là pháp tính, giống như người mẹ mà từ đó chúng được sinh ra lần đầu. Người ta đi đến một sự chắc chắn dứt khoát về điều này. Khi nhận ra những hình tướng hiện diện tự phát của nền tảng là sự tự kinh nghiệm của tính giác, điều này giống như việc gặp gỡ giữa người mẹ và đứa con của mình.

    Hơn nữa, nếu các hình tướng huyễn ảo của tâm trí tự kinh nghiệm bị hủy diệt bởi những hướng dẫn như dao cạo về cách làm sao để nhận ra bản tính của chúng, sự tan hoại của những hình tướng này trong không gian của khối cầu đơn nhất bao trùm toàn thể của pháp thân, nền tảng vô thủy, được coi là tan biến vào pháp thân, không gian nền tảng của sự cạn kiệt.
  10. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Thứ năm, đạt được một niềm tin rõ ràng về sự tan hoại của các hiện tượng.

    24. Như những đám mây tan vào bầu trời từ nơi chúng đến

    Và như ánh sáng pha lê rút vào trong pha lê,

    Luân hồi và niết bàn

    (Những hình tướng của nền tảng

    Khởi sinh từ nền tảng)

    Giữ vững bản tính thanh tịnh, nguyên sơ của chúng

    Trong nền tảng tối hậu.

    Một niềm tin rõ ràng đã đạt được

    Rằng vạn pháp được tập hợp

    Trong tính bao la của địa tầng căn bản

    Của sự hiện diện tự nhiên.

    Mọi vận hành tinh thần tan biến tự nhiên

    Trong sự mở trống không có hoạt động nhận thức.

    Những đám mây, trắng hoặc đen, xuất hiện trên bầu trời cuối cùng tan biến, tan vào vực thẳm không gian nới chúng lần đầu xuất hiện. Khi tia nắng mặt trời chiếu vào một viên pha lê, ánh sáng ngũ sắc của nó xuất hiện sống động. Khi tia nắng chấm dứt, ánh sáng lại được rút vào trong tinh thể. Điều này cũng tương tự với những hình tướng thanh tịnh và bất tịnh khác nhau của luân hồi và niết bàn, những hình tướng của nền tảng, khởi lên từ không gian của hiện diện tự nhiên quý giá (tính giác nền tảng) và không tách rời hay khác biệt với chính nền tảng này. Nếu nhờ vào cái thấy, người ta chắc chắn quả quyết về điều này và nếu người ta duy trì cái thấy này trong thiền định, tránh con đường nguy hiểm (của nhị nguyên) liên quan đến hành vi của mình, người ta sẽ hiện thực hóa và biểu lộ bản tính nền tảng đích thực vượt trên hy vọng và sợ hãi. Những hành giả đạt được điều này sẽ tiếp tục sống trong các hình tướng thân thể và chúng bị hạn chế. Nhưng khi phong ấn trên thân thể của họ bị phá vỡ, hình tướng ảo tưởng của người nhận thức và các sự vật được nhận thức sẽ tan biến vào tình trạng đích thực của nó. Trong năm ngày,62 hành giả chỉ nhận thức được những hình tướng của niết bàn: các cõi phật, những vị thần và các loại trí tuệ nguyên sơ. Khi nhận ra những kinh nghiệm này là sự tự kinh nghiệm của tính giác, mọi hình tướng của ánh sáng tỏa chiếu ra bên ngoài (các vị thần và linh ảnh của trí tuệ nguyên sơ) tan biến vào không gian tối thượng bên trong. Giống như những đám mây tan vào bầu trời và giống như những ánh sáng tụ lại vào trong pha lê, mọi hình tướng của nền tảng, nghĩa là những hình tướng của hiện diện tự phát, tan biến trong trí tuệ nguyên sơ tinh tế của nội quang minh, nền tảng tối hậu. Chúng giữ đặc tính của mình trong không gian thanh tịnh bản nguyên, pháp thân.

    Giờ đây, mặc dù sắc thân hiện diện tự nhiên như ánh sáng chói chang của tính giác, pháp thân, nhưng nó không thể được nhận biết khi hành giả vẫn còn ở trong thân vật lý. Ngay khi phong ấn của thân thể vỡ ra, mọi hình tướng hiện tượng được tập hợp vào trong không gian tối thượng, tầng nền tảng của hiện diện tự phát quý giá. Điều này ám chỉ các hình tướng hiện tượng nắm giữ thành trì của tự do nguyên thủy trong không gian pháp tính. Khi sự kiện này được nhận ra, người ta đi đến kinh nghiệm rốt ráo, có tính quyết định về các hiện tượng. Hàng trăm ngàn mạng lưới cấu trúc khái niệm hòa tan dễ dàng và hoàn toàn tự nhiên vào pháp tính, nó thoát khỏi hoạt động nhận thức và là cảnh giới trong sự cạn kiệt của các hiện tượng. Nhờ vậy bản tính tối thượng của trí tuệ nguyên sơ của con đường được thành tựu. Việc này được mô tả là nắm bắt được cõi giới vĩnh cửu của tính rộng mở và giải thoát của nền tảng.

    Sáu, hai loại niềm tin vào tính không tồn tại (của các hiện tượng) được chứng minh.

    25. Khi mọi thứ lúc này xuất hiện

    Mọi đối tượng của sáu thức giác quan

    Tan biến vào địa tầng căn bản, pháp thân,

    Bạn sẽ hoàn toàn tin rằng

    Cả bên ngoài và bên trong hòa quện với nhau

    Trong sự mở rộng bao la: hiện diện tự phát.

    Bạn sẽ hoàn toàn tin rằng

    Cả luân hồi và niết bàn,

    Tự kinh nghiệm của tính giác,

    Là tâm giác ngộ, không có hình dạng,

    Trạng thái tỉnh thức biểu lộ.

    Tương tự, nếu bạn để mặc các hình tướng và hoạt động tinh thần

    Trong trạng thái tự nhiên của chúng, không gian chói ngời,

    Không tạo ra khác biệt giữa chúng,

    Giữ vững dòng chảy tự nhiên không suy diễn ý niệm,

    Bạn sẽ hoàn toàn tin rằng

    Chúng là trống rỗng, phát quang chói ngời

    Của tính giác, hiện tại và tức thời

    Đây được gọi là “trụ vững trong cõi báu”.

    Đối với những yogi có năng lực cao nhất, những người đã đạt được giải thoát trong hiện kiếp, cách mà mọi hình sắc của các đối tượng lắng xuống trong bản tính của chúng, tự do và rộng mở nơi chúng hiện diện, mà không bị từ bỏ, như sau. Các hiện tượng được phát hiện bởi sáu thức giác quan xuất hiện thông qua những khuynh hướng bất thiện mà chúng sinh đã huân tập từ vô thủy. Những yogi này hoàn toàn chắc chắn về tính không thực của các hiện tượng như vậy và họ nắm bắt được thành trì của chiều kích bí mật thuộc về tịnh quang bên trong, tầng nền tảng của tính giác không bị ô nhiễm bởi sự vận hành, tạo lập và thao túng của tinh thần. Bất cứ thứ gì phát sinh đều lắng xuống, tan biến vào pháp thân. Do đó, các hình sắc của tịnh quang tỏa ra bên ngoài hòa tan vào không gian bên trong, với kết quả là bên ngoài và bên trong hòa trộn với nhau. Điều này mang lại niềm tin rõ ràng rằng những hình sắc này là sự tỏa sáng tự phát của tính giác bên trong không gian tối thượng được ban tặng sáu điểm đặc biệt.63 Những yogi này đạt được niềm tin rõ ràng rằng luân hồi và niết bàn, sự tự kinh nghiệm của tính giác, là tâm giác ngộ tối thượng không có hình tướng, phạm vi của trí tuệ ban sơ tinh tế của tịnh quang bên trong, mặc dù hấp thụ bên trong, vẫn không bị che lấp. Chính tại đây, trong chiều không gian này, những yogi này đạt được giác ngộ thực sự của họ ngay trong đời này.

    Hoặc là, trạng thái giải thoát đạt được vào lúc chết thông qua niềm tin rõ ràng vào tính giác. Điều này xảy ra theo cách sau. Tất cả các hình sắc và quá trình tinh thần phát sinh vào lúc chết phải được để mặc trong trạng thái tự nhiên của chúng mà không có sự sắp đặt hay thao túng. Đối tượng của thiền định, không gian tối thượng bên ngoài của tịnh quang, không gian không có sự phát triển khái niệm, tính giác là bản tính tối hậu, giống như một bà mẹ. Tác nhân của thiền định, không gian tối thượng bên trong của tịnh quang pháp tính, tính giác là năng lực nhận thức, như một đứa con. (Vào thời điểm chết) chúng đến với nhau, giống như bà mẹ gặp đứa con của mình. Hai không gian hòa quện vào nhau thành một. Và khi nghỉ ngơi trong đó, người ta không còn bị cản trở bởi một cơ thể là kết quả của những khuynh hướng thói quen, và không có sự phân biệt nào được tạo ra giữa hai không gian. Người đó vẫn ở trong một dòng chảy tự nhiên, thoát khỏi mọi suy diễn khái niệm. Điều này, khi xảy ra được gọi là sự cân bằng thiền định trong sự trống rỗng và sáng ngời tỏa rạng (của tính giác). Điều này nghĩa là, vào lúc chết, người đó đạt được niềm tin rõ ràng rằng tính giác trong tính tức thời hiện tại của nó là sự hợp nhất không thể chia cắt của tính giác và không gian tối thượng. Điều này ám chỉ một hướng dẫn cốt lõi cực kỳ sâu sắc gọi là nơi an trú vững vàng trong chiều kích của hiện diện tự phát quý giá.

    Ngắn gọn, lời chỉ dạy cốt lõi này như sau. Không gian tối thượng bên ngoài (tức là, tâm trí của các Đấng Chiến Thắng suốt ba thời, đại pháp giới) và không gian tối thượng bên trong (tức là tính giác tự nhận thức trong tính tức thời hiện tại của nó) được liên kết với nhau thông quan cánh cửa của đôi mắt, thông qua một trạng thái sáng suốt và tỉnh táo của tính giác. Khi niêm phong của cơ thể bị xé toạc, những không gian bên ngoài, bên trong và trung gian này hòa trộn với nhau không thể chia cắt trở thành một. Có nói trong Cõi chiếu sáng toàn thể:

    Không gian bên trong căn phòng của một người

    Và không gian thanh tịnh trong tính giác của người đó, tự nhận thức

    Thông qua chỗ mở không bị cản trở của cánh cửa

    Vừa rõ ràng vừa không bị che khuất.

    Khi tính giác trùm khắp được chiếu qua đôi mắt của một người vào trong không gian và cõi bao la tối thượng (mẹ) và tính giác (con) hòa quện vào nhau, giải thoát sẽ diễn ra. Cách đạt được giải thoát này tuân theo truyền thống của các hướng dẫn cốt lõi vốn hết sức bí mật và thâm sâu. Nó được gọi là nơi an trú vững vàng trong chiều kích hiện diện tự phát quý giá. Có nói trong Cõi chiếu sáng toàn thể:

    Tính giác đóng lại bên trong chiếc vỏ của các thói quen

    Và tính giác trú ngụ trong không gian bên ngoài

    Hai thứ này được liên kết với nhau

    Thông qua cánh cửa của trí tuệ nguyên thủy.

    Khi thân thể phát sinh từ những khuynh hướng thói quen

    Không còn cản trở bạn nữa,

    Hai thứ này trở thành một sự rộng mở không thể tách rời.

    Và:

    Khi bạn đạt được sự chứng ngộ với ý nghĩa to lớn như vậy,

    Bạn giống như một con sư tử, chỉ với một bước nhảy lớn,

    Bao trùm toàn bộ trái đất.

    Trí tuệ tối cao, rộng mở và không bị cản trở

    Đột phá vào khu vực quý báu.

    Không có khởi đầu, chẳng có kết thúc của trạng thái trung ấm,

    Vì bạn đang an trú trong trí tuệ bản nguyên vĩ đại.

    Cách thức mà sự giải thoát xảy ra có thể được mô tả như sau. Tính giác nền tảng, trống rỗng, sáng ngời và không sinh (tịnh quang mẹ của hiện diện tự phát) và trí tuệ nguyên thủy, trong trẻo, không sinh, trống rỗng và tự phát sinh, cái mà người ta thiền định trên con đường (tức là, tịnh quang con tự phát sinh) có thể hòa trộn với nhau không thể tách rời do thực tế là cả hai đều trong trẻo và sáng ngời. Vì vậy, vào thời điểm khi niêm phong của cơ thể vật chất bị phá vỡ, tịnh quang mẹ và con hòa trộn vào nhau, và có sự giải thoát.

    Thứ bảy, một hướng dẫn cốt lõi về tầm quan trọng của việc có một niềm tin rõ ràng.

    26. Nếu giờ đây bạn thiếu niềm tin minh bạch

    Trong địa tầng căn bản của bao la tối thượng,

    Không phải sau này bạn sẽ tìm thấy

    Tự do trong nền tảng nguyên thủy.

    Nếu tự do trong nền tảng rộng mở mà bạn không đạt được,

    Sự thiền định cứng nhắc của bạn không dẫn đến giải thoát

    Mà dẫn đến những cõi trời bậc cao.

    Cho nên bây giờ điều tối quan trọng

    Là ấp ủ niềm tin minh bạch

    Về loại tập trung

    Nơi bạn nghỉ ngơi tự nhiên

    Bên trong tính uyên nguyên của sự mở rộng tối cao.

    Nếu ở thời điểm hiện tại, người ta không có một niềm tin rõ ràng, đạt được bằng cách duy trì thiền định tĩnh lặng tự nhiên, trong tính giác sáng tỏ, trống rỗng của không gian tối thượng bên trong, tầng nền tảng của tính thanh tịnh nguyên thủy, tâm trí sẽ tiếp diễn trong các tiến trình thông thường của nó. Mặc dù nó có thể được làm ổn định thông qua việc thực hành an trú tĩnh lặng, nhưng nó sẽ không đạt được giải thoát sau đó trong không gian của nền tảng nguyên thủy. Hơn nữa, nếu người ta không đạt được giải thoát trong không gian của tịnh quang mẹ của nền tảng thì bất kể người tu luyện an trú tĩnh lặng vô niệm hay trong trạng thái thiền định được sắp đặt chặt chẽ đến mức nào mà vẫn đi kèm với thái độ chấp nhận hoặc chối bỏ, khẳng định hay phủ định, thì người ta sẽ chẳng đạt được gì hơn là tái sinh lên thiên giới của những cõi cao hơn. Người ta sẽ không bao giờ thành tựu giải thoát ở nơi có tự do vĩnh cửu. Như được nói trong Dòng khẩu truyền:

    Bạn biết cách thiền định nhưng không đạt được giải thoát.

    Vậy thì bạn khác gì một chư thiên chìm đắm trong nhập định?

    Và:

    Nếu không có sự sáng suốt sắc bén của tuệ giác thâm sâu,

    Ngay cả một số loài thú cũng có thể an trú tĩnh lặng.

    Đó là vì sao lúc này trong hiện tại, điều quan trọng là phải tin tưởng và chắc chắn về thể loại của sự tập trung nơi người ta nghỉ ngơi tự nhiên ở không gian uyên nguyên bên trong, trống rỗng, sáng ngời, và không bị cản trở. Nếu bây giờ, trong khi đang tu luyện trên đạo lộ, người ta thiền định theo cách nhấn mạnh đến tịnh quang của không gian bên trong, thì khi cơ thể bị bỏ lại một bên, tịnh quang này sẽ hòa trộn vô hình với hiện diện tự nhiên quý giá, pháp thân, và hai sắc thân sẽ phấn đấu vì lợi ích của chúng sinh, vĩnh viễn, toàn khắp và tự phát.

    Vào thời điểm chết, hơi cuối cùng được thở ra với âm “Ha”. Người ta không thể hít vào lại với âm “Hu”. Tính giác tách rời khỏi khí bên trong. Và vì tâm trí bình thường của các khuynh hướng thói quen không còn hiện diện nữa, nên trạng thái giống như không gian của pháp thân không sinh xuất hiện, và ngay tại khoảnh khắc đó, phật quả được đạt tới.Những chú chim non garuda, vua của các loài chim, phát triển đầy đủ sức mạnh của chúng khi vẫn còn trong trứng. Do đó, khi nở, chúng có thể bay ngay lập tức lên không trung. Không loài chim nào khác có khả năng này, chỉ mỗi garuda mới có. Tương tự, các yogi phát triển sức mạnh của sự giác ngộ khi vẫn còn bên trong lớp vỏ cơ thể của họ. Ngay khi thứ này mở ra, họ trở nên không thể tách rời khỏi chiều không gian giống như không gian của pháp thân, không gian tối thượng của nền tảng. Giải thoát đạt được ngay lập tức. Phẩm chất phi thường này là độc nhất đối với Atiyoga. Không có trong tám thừa khác.

    Ngoài ra, ngay cả khi vẫn còn trong trứng, những con non garuda có sức mạnh vượt trên loài rồng. Tương tự, mặc dù các yogi tạm thời sống trong thân hình vật chất, họ vẫn vượt qua tám thừa thấp hơn bằng sức mạnh của sự chứng ngộ về bản tính tối hậu của mọi hiện tượng. Như được tìm thấy trong Sự Tan Rã Tự Nhiên của các Đặc Tính:

    Ví dụ, garuda vĩ đại, vua các loài chim,

    Khi còn trong trứng, nắm các loài rồng trong quyền lực của mình

    Khi còn trong trứng, đôi cánh của nó phát triển đầy đủ,

    Và ngay khi nở ra, nó bay vút lên khỏi mặt đất.

    Giờ đây, làm sao các loài chim khác có thể dễ dàng đạt được điều này?

    Chỉ garuda mới có quyền năng này

    Nó bay lên trời một cách dễ dàng.

    Và:

    Không có giác ngộ và

    Không có sự thiếu vắng giác ngộ

    Có giải thoát,

    Không có đời này và không có đời sau

    Có tính bình đẳng

    Không có gián đoạn mọi thứ tồn tại

    Trong trạng thái bình đẳng

    Những người nghĩ rằng giải thoát đạt được

    Thông qua chín thừa

    Những người nghĩ rằng nó đạt được thông qua tu luyện,

    Thông qua từ bỏ và thông qua chuyển hóa

    Tất cả những người như vậy đều an tâm trong Đại thừa.

    Và:

    Trong thân thể của những khuynh hướng thói quen này,

    Sức mạnh của (kim cương) bản tính đã trọn vẹn.

    Một khi thân thể bị từ bỏ,

    Không có sinh, không có tử, không có trung ấm,

    Tính giác đơn lẻ và duy nhất

    Không tách rời khỏi mọi thứ.

    Và:

    Điều này không thể thực hiện được ở những thừa thấp hơn.

    Điểm then chốt này của kết quả

    Được cho là chỉ có thể thực hiện được duy nhất ở Vô Thượng.

    Tám, phần hiện tại được đưa đến kết luận:

    27. Bạn sẽ đi đến niềm tin rõ ràng

    Rằng mọi thứ là tính giác

    Hiện diện tự phát.

    Bạn sẽ đến niềm tin rõ ràng

    Rằng hiện diện tự phát

    Là địa tầng căn bản

    Của tính thanh tịnh bản nguyên.

    Bạn sẽ đến niềm tin rõ ràng

    Rằng thanh tịnh bản nguyên là thoát khỏi

    Tham chiếu, tư tưởng, biểu đạt.

    Đây là niềm tin rõ ràng, dứt khoát

    Về hiện diện tự phát.

    Bởi vì mọi hiện tượng của cả luân hồi và niết bàn đều phát sinh từ không gian hiện diện tự phát vĩ đại hay là tính giác, và bởi vì chúng tất yếu và chung cuộc sẽ tan biến vào trong đó, nên người ta sẽ đi đến một niềm tin rõ ràng rằng chúng tính giác, hiện diện tự phát. Người ta sẽ đi đến một niềm tin rõ ràng rằng hiện diện tự phát, tính giác, là pháp thân vĩ đại, tính thanh tịnh bản nguyên, tầng nền tảng của không gian tối thượng bên trong. Người ta sẽ đi đến một niềm tin rõ ràng rằng tính thanh tịnh ban sơ, pháp thân vĩ đại, là sự vắng mặt đơn gian của hoạt động nhận thức, thoát khỏi mọi tham chiếu, suy nghĩ và biểu hiện. Niềm tin có tính quyết định về trạng thái tối thượng và thực hành về pháp tính tương ứng với niềm tin rõ ràng, dứt khoát về hiện diện tự phát, tính giác.


    Một tuyên bố kết thúc tên của Chủ đề Kim cương


    Đến đây kết thúc chú giải bằng lời về chủ đề kim cương thứ ba của Kho tàng trân bảo của Bản tính nền tảng, trong đó xác định rằng ngay từ đầu, các hiện tượng là hiện diện tự phát.
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này