1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Kho Tàng Trân Bảo Của Bản Tính Nền Tảng

Chủ đề trong 'Yoga - Khí công - Nhân điện - Thiền' bởi Prahevajra, 21/12/2025.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    2. Chủ đề Kim cương thứ tư: Bản tính đơn nhất


    Chủ đề này chứng minh rằng các hiện tượng là trí tuệ bản nguyên tự sinh đơn nhất. Bản thân giáo lý, kết thúc bằng một tuyên bố về tên của chủ đề kim cương, có bốn phần: các điểm chính được tiết lộ, chúng được thể tính hóa, chúng được bao hàm, và có được niềm tin rõ ràng về chúng.


    3. Phần một: những điểm chính được tiết lộ


    Phần này gồm mười khổ thơ. Đầu tiên, khổ thơ chứng minh rằng gốc rễ của mọi hiện tượng là một tính giác.


    1. Và bây giờ bản tính duy nhất (của các hiện tượng) được hiển bày.

    Tính giác duy nhất là nền tảng của mọi hiện tượng.

    Dù có vẻ nhiều đến đâu,

    Chúng cũng không dao động khỏi bản tính duy nhất của mình.

    Như nó được nói vậy. Gốc rễ duy nhất và chỉ một của chúng

    Là trí tuệ bản nguyên tự sinh khởi.

    Trong một số trường hợp nhất định, từ một viên ngọc duy nhất,

    Lửa và nước, khác biệt và phân minh, có thể đều xuất hiện.

    Tuy nhiên gốc rễ của chúng là một, lưu ly thuần khiết quý giá.

    Cũng vậy, mặc dù từ một tính giác, tự nhận thức,

    Niết bàn và luân hồi cùng khởi sinh,

    Gốc rễ của chúng là một, trí giác ngộ tối thượng.

    Sự khác biệt chia tách chúng là ảo tưởng,

    Phát tích từ nhận biết hay không nhận biết về tính giác..

    Longchenpa giờ đây chỉ ra tất cả các hiện tượng, thanh tịnh và bất tịnh, của luân hồi và niết bàn, được thiết lập như là bản tính của một trí tuệ nguyên thủy duy nhất, tự phát sinh và tự nhận thức. Tâm giác ngộ tối thượng, tính giác duy nhất là nền tảng vĩ đại của mọi thứ mà không có ngoại lệ, trong luân hồi và niết bàn. Do đó, mặc dù tại thời điểm này, các hiện tượng vô hạn của luân hồi và niết bàn phát sinh đa dạng, thực tế là chúng chưa từng, không, và sẽ không bao giờ ra khỏi không gian của tính giác tự phát sinh duy nhất, tâm giác ngộ tối thượng. Khẳng định này chứng minh rằng gốc rễ duy nhất của chúng ta là trí tuệ nguyên thủy tự phát sinh. Khi một viên ngọc lưu ly được ánh sáng mặt trời chạm vào, lửa được tạo ra. Khi nó được ánh sáng mặt trăng chạm vào, nước được tạo ra. Lửa và nước, khác biệt và riêng biệt, đều có thể xuất hiện tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể. Tuy nhiên, gốc rễ của chúng là như nhau, viên ngọc lưu ly tinh khiết. Tương tự, mọi hình tướng chẳng là gì ngoài tính giác tự nhận thức duy nhất, tâm giác ngộ tối thượng. Tuy nhiên, khi chúng không được nhận ra là như vậy, chúng xuất hiện như luân hồi và bị lạc vào một chuỗi các hình tướng ảo tưởng không ngừng, bản thân chúng là nguồn gốc của đau khổ bất tận. Tuy nhiên, khi chúng được nhận ra, chúng xuất hiện như niết bàn và sự giải thoát xảy ra trong không gian của cõi giới toàn thiện đơn nhất của tính giác tự nhận thức. Do đó, mặc dù tính giác tự nhận thức duy nhất phát sinh trong nhận thức của chúng sinh như là luân hồi hoặc niết bàn, tùy thuộc vào sự trong sạch hay ô uế của cùng những nhận thức này, thực tế là gốc rễ hay nguồn gốc mà từ đó tất cả những hiện tượng như vật xuất phát ra, chẳng là gì khác ngoài tâm giác ngộ tối thượng, không gian đơn nhất của tính giác. Các đặc điểm (khách quan rõ ràng) của luân hồi và niết bàn không có thực tại nào cả. Như đã nói trong Vua sáng tạo Toàn thể:

    Mọi thứ đều là một trong gốc rễ của chúng,

    Tâm trí giác ngộ.

    Trong tâm giác ngộ này,

    Cốt lõi tinh túy mà chúng xuất phát,

    Chư phật, chúng sinh, thế giới và tất cả những gì nó nắm giữ

    Thế giới hiện tượng trong toàn thể của nó

    Không tồn tại như những thứ riêng biệt nhưng lại là vô số.

    Vì vậy, nếu ai nhận ra bản chất của tính giác, tâm giác ngộ, người đó là một vị phật. Nếu không nhận ra nó, người ta lạc vào trạng thái của một chúng sinh bình thường. Sự khác biệt này giữa nhận ra và không nhận ra chỉ đơn giản là vấn đề về cách thức xuất hiện, tương tự như sự xuất hiện của một con ngựa hoặc một con bò trong một ảo ảnh huyễn thuật. Như đã nói trong trong Mật điển của Phổ Hiền:

    Nền tảng của tất cả là không tổ hợp

    Vượt ngoài mọi diễn tả, nó bao la

    Một không gian bao trùm tất cả.

    Nếu ai nhận ra, người đó là Phật.

    Nếu không nhận ra, người đó mê lầm.

    Thứ hai, điều này chứng tỏ rằng mọi thứ là một không gian tối hậu đơn nhất, là trí tuệ nguyên thủy tự phát sinh duy nhất.

    2. Thế giới hiện tượng, luân hồi và niết bàn,

    Mọi sự xuất hiện trong tính giác,

    Trong khoảnh khắc chúng được nhận thức,

    Chỉ có bản tính của tính không mà thôi.

    Chúng giống ảo ảnh huyễn thuật, các giấc mộng,

    Như ánh trăng phản chiếu trong nước.

    Hoàn toàn không và bản nguyên không,

    Vượt ngoài suy diễn khái niệm,

    Chúng ngụ trong tính giác,

    Như không gian, phi chất thể,

    Nền tảng hình tướng của chúng.

    Vì mọi thứ đều ở trong một sự mở rộng,

    Thanh tịnh nguyên sơ,

    Không có nhị nguyên, không “hai”.

    Tất cả tụ họp trong một cõi duy nhất,

    Pháp thân không có cạnh, góc. Emaho!

    Mọi hiện tượng trong luân hồi và niết bàn đều xuất hiện trong tính giác, và ngoại trừ sự xuất hiện của chúng trong tính giác, chúng không hề tồn tại theo bất cứ cách nào khác. Ngay tại thời điểm được nhận thức, chúng chỉ là những hình tướng: rõ ràng nhưng không tồn tại. Chúng chẳng tách rời khỏi không gian đơn nhất của tính không, bản tính của mọi hiện tượng. Giống như mọi hình ảnh trong mơ đều có bản chất của một trạng thái ngủ, cũng như sự biến hóa của một màn trình diễn ảo thuật là một sự biến hiện của các hình dạng trống rỗng, và cũng như sự phản chiếu của mặt trăng có bản chất duy nhất của nước, các hiện tượng trú ngụ trong một không gian duy nhất của tính giác, nền tảng biểu hiện của chúng, vốn về bản tính là không có thực chất và thuần tịnh như không gian. Chúng trống rỗng nguyên thủy, hoàn toàn trống rỗng, và vượt ngoài sự chế định của tâm trí khái niệm.

    Do đó, mọi hiện tượng xuất hiện trong luân hồi và niết bàn đều thanh tịnh nguyên thủy trong không gian đơn nhất của tính giác, pháp giới. Điều này nghĩa là tính giác trống rỗng và các hiện tượng trống rỗng xuất hiện trong không gian của nó, hai cái không, hòa trộn trong một trạng thái liên tục của tính bình đẳng. Người ta không thể nói rằng các hiện tượng và tính giác là hai (thực thể tách biệt). Gốc rễ của chúng được tập hợp thành một hương vị duy nhất trong không gian của pháp thân phi nhị nguyên, một cõi giới duy nhất không có các cạnh hay góc. Tóm lại, cần phải hiểu rằng chúng là một không gian tối hậu; chúng là một không gian bao la. Chúng có một vị và một gốc rễ. Như đã nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Gốc rễ của mọi hiện tượng

    Là tâm giác ngộ, sáng tạo toàn thể.

    Bất kể mọi thứ phát sinh thế nào, chúng đều dự phần vào bản tính của tôi;

    Bất kể chúng xuất hiện thế nào, chúng chỉ là sự phô diễn của tôi.

    Do đó, mọi hiện tượng là một không gian tối hậu duy nhất của các hình dạng rõ ràng nhưng không tồn tại. Chúng là một không gian bao la duy nhất, thoát khỏi mọi sự xây dựng khái niệm, bên trong bản tính của tính giác. Tính giác và tính không của mọi hiện tượng có cùng một gốc rễ và có cùng một hương vị trong không gian tối hậu của pháp thân bất nhị, một cõi giới duy nhất không có cạnh hay góc. Điều này thật kỳ diệu biết bao. Đây quả thực là một điều tuyệt vời!

    Thứ ba, sự thanh tịnh và bình đẳng (của các hiện tượng) được chứng minh là trí tuệ nguyên thủy tự phát sinh.

    3. Cái xuất hiện như năm yếu tố

    Chính cái đó là tâm giác ngộ.

    Nó không khuyaasy động từ một trạng thái: bình đẳng không sinh.

    Các hình tướng của các chúng sinh hữu tình

    Chẳng là gì ngoài hình dáng trống rỗng của sáu cõi.

    Những hình tướng của nền tảng không tách rời

    Khỏi điều kiện của tính giác.

    Hạnh phúc và đau khổ đều có thể xuất hiện,

    Nhưng chúng đồng thể duy nhất,

    Tâm giác ngộ.

    Chúng không dao động khỏi một và chỉ một

    Trí tuệ bản nguyên tự sinh.

    Cho nên bạn cần hiểu

    Các hiện tượng chẳng là gì ngoài sự mở rộng tối thượng đơn nhất,

    Trạng thái của tính không.

    Chúng không sinh, tâm giác ngộ.

    Trong không gian của trí tuệ bản nguyên, trống rỗng, sáng ngời và tự nhận thức, giống như không gian nhưng lại được ban tặng những phẩm chất tối cao, vũ trụ và tất cả các hình thức đa dạng của nó phát sinh như năm yếu tố. Chúng phát sinh trong tâm giác ngộ, chúng ở lại trong tâm giác ngộ, và cuối cùng chúng lắng xuống trong tâm giác ngộ. Chẳng có hiện tượng nào trong số những hiện tượng này từng di chuyển ra khỏi tâm giác ngộ, đó là gốc rễ của chúng. Chúng chẳng thể tách rời khỏi nhất vị với pháp giới không sinh, trạng thái bình đẳng: tính không được ban tặng những phẩm chất tối cao. Chúng không bao giờ di chuyển ra khỏi trạng thái này.

    Tương tự, toàn bộ sự tồn tại hữu hình, nhiều sinh vật sống xuất hiện trong không gian của tính giác tự nhận thức, tính không nguyên thủy vĩ đại, xuất hiện trong cùng không gian đó; chúng xuất hiện trong đó và lắng xuống trong đó. Vì vậy, chúng sinh trong sáu cõi là những hình tướng trống rỗng trong tự thân chúng. Chúng là những hình dạng của sự tỉnh giác về không gian nền tảng, tức là tính không nguyên thủy vĩ đại. Ngay từ đầu, chúng chưa bao giờ di chuyển ra khỏi trạng thái của trí tuệ bản nguyên, trống rỗng nhưng vẫn tỉnh biết. Điều này được nói trong Mật điển Siêu việt ngôn từ:

    Quả thực, trong tất cả chúng sinh do nhân duyên,

    Chẳng có chúng sinh nào không phải là Phật.

    Bởi vì bản tính của chúng hòa hợp với

    Trí tuệ bản nguyên, tự phát sinh,

    Ngay từ đầu chúng chưa bao giờ lang thang trong luân hồi

    Mỗi và mọi chúng sinh do vậy đều là Phật.

    Theo cách này, mọi thứ xuất hiện trong tính không vĩ đại, không gian bao la của mẹ, toàn bộ thiện và ác, mọi hạnh phúc và đau khổ, đều phát sinh bên trong nền tảng, bản thể, tâm giác ngộ của chúng. Chúng trú ngụ trong đó, và cuối cùng chúng lắng xuống trong đó. Chúng không bao giờ dịch chuyển khỏi trí tuệ bản nguyên tự phát sinh và thanh tịnh từ đầu. Tất cả đều không thể tách rời khỏi tính giác và có cùng một hương vị với nó.

    Do đó chúng ta nên hiểu rằng toàn thể thế giới hiện tượng, luân hồi và niết bàn, điều hiện diện tự phát trong một không gian tối thượng. Chúng ta nên hiểu rằng đó là tâm giác ngộ, giống như không gian và bất sinh, trú ngụ trong tính bao la của tính không vĩ đại, hay tính giác. Đây là điểm then chốt giới thiệu tính thanh tịnh và bình đẳng (của mọi hiện tượng) như là một với trí tuệ bản nguyên.
  2. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Thứ tư, nơi trú ngụ của túinh giác được chỉ ra là không gian bao la.

    4. Bên trong chiều kích tối hậu này,

    Sự mở trống bao la của tính giác, tự nhận thức,

    Ở đó trú ngụ trí tuệ độc nhất

    Của các Đấng chiến thắng, quá khứ, hiện tại và tương lai.

    Đừng nghĩ nó đa dạng,

    Vì nó siêu việt mọi ý nghĩ về nhiều thành phần.

    Nó là cung điện của tinh hoa

    Của giác ngộ không dao động,

    Nơi chẳng có gì ngoài trí tuệ nguyên thủy, tự sinh, trú ngụ.

    Trong vực thẳm bao la của tính giác tự nhận thức, cõi giới tối thượng thuần khiết như không gian, trí tuệ đơn nhất của pháp giới cư ngụ. Đó là tâm trí tuệ của các đấng chiến thắng, an lạc phật suốt ba thời. Trí tuệ này ngự trị ở đó, hòa quyện không thể tách rời trong nhất vị với tính giác tự nhận thức, giống như nước hòa lẫn với nước. Nghĩ rằng tâm trí tuệ của chư Phật ba thời là chia tách và riêng biệt là một sai lầm nghiêm trọng. Vì trí tuệ này không thể được coi là số nhiều, hoàn toàn vượt ngoài khái niệm về các hợp phần. Như đã nói, các Đấng Chiến Thắng là một trong không gian của trí tuệ nguyên sơ. Vua Sáng Tạo Toàn Thể tuyên bố thêm:

    Bản tính của tôi là không thể phân chia,

    Thoát khỏi mọi suy diễn khái niệm.

    Tôi gọi nó là nơi trú ngụ của pháp giới,

    Nơi chẳng có gì ngoài sự giác ngộ.

    Do đó, bản tính của tính giác, trí tuệ nguyên thủy vốn thanh tịnh và trống rỗng ngay từ đầu, không thể tách rời khỏi tâm trí tuệ của các Đấng Chiến Thắng suốt ba thời. Đó là pháp giới, thoát khỏi mọi suy diễn khái niệm. Nó tồn tại không tách rời khỏi phạm vi đơn nhất trong tâm trí tuệ của các ngài. Nó ngự trong bản tính của pháp thân không lay chuyển, thoát khỏi mọi vận hành tinh thần. Nơi đây là cung điện của trí tuệ nguyên sơ trong bản thể giác ngộ tự sinh. Chính ở đó, trí tuệ ban sơ tự sinh an trú bất khả phân, nghĩa là không có sự khác biệt giữa người trú và nơi trú. Nó chẳng ở đâu khác. Vua Sáng Tạo Toàn Thể tuyên bố:

    Vì trong bản tính của tôi, bao trùm toàn thể,

    Không có sự che khuất,

    Đó là không gian sáng ngời,

    Cung điện vô tận của trí tuệ nguyên sơ,

    Nơi không có gì ngoài trí tuệ nguyên sơ này ngự trị.

    Thứ năm, ba thân được chỉ ra là không gian tối hậu nơi mà từ đó luân hồi và niết bàn đều phát sinh ra.

    5. Nó là viên ngọc như ý

    Kho tàng của mọi hiện tượng,

    Cõi Phật của ba thân,

    Hiện diện tự phát.

    Tâm của toàn thể chư Phật, quá khứ, hiện tại, tương lai, pháp giới vĩ đại không thể tách rời khỏi trí tuệ bản nguyên, tính giác tự nhận thức, giống như viên ngọc quý giá ban cho điều ước như ý. Đó là kho tàng bí mật và sâu xa của tất cả các hiện tượng.

    Tất cả các hình tướng huyễn ảo của chúng sinh trong lục đạo luân hồi và tất cả những hình tướng thanh tịnh của niết bàn, tóm lại, tính vô tận như đại dương của các hiện tượng trong luân hồi và niết bàn, thực ra không thể tách rời nhau. Chúng chỉ đơn giản là sự trang hoàng và phô diễn sức mạnh sáng tạo của ba thân hiện diện tự nhiên, cõi Phật của tính thanh tịnh và bình đẳng là kinh nghiệm tự thân của chư phật. Điều này không chỉ ám chỉ đến các hiện tượng vô tận của các cõi thanh tịnh, vì trong thực tế, thân, khẩu, ý của tất cả chúng sinh trong ba cõi không vượt ngoài ba thân. Như mật điển Siêu Việt Ngôn Từ nói:

    Quả thực, vì không ai sống trong tam giới

    Vượt qua thân, khẩu, ý của họ,

    Chẳng cần tìm kiếm ba thân ở nơi nào khác.

    Bởi ngay cả khi tìm kiến, cũng chẳng có cách nào để tìm thấy chúng.

    Hơn nữa, cõi phật thanh tịnh của ngũ gia, lục đạo bất tịnh và cả tam giới đều chẳng là gì khác hơn là thân, khẩu, ý của Phổ Hiền, và toàn thể cõi phật của ngài. Như được nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Tôi là bản thể mà mọi thứ phát sinh ra.

    Và do đó ngũ đại,

    Lục đạo, tam giới

    Chẳng là gì ngoài thân, khẩu, ý của tôi.

    Chúng là bản tính của tôi, biểu hiện của tôi.

    Thứ sáu, điều này chứng minh rằng gỗ rễ của mọi thứ đều là một.

    6. Sự mở rộng vĩ đại duy nhất

    Chẳng được ai tạo ra.

    Mọi sự chẳng ngoại lệ

    Đều hiện ra từ nó

    Là nền tảng căn bản đơn nhất

    Từ đó chúng đến.

    Vì nguyên nhân của nó mà kết quả quay về.

    Nền tảng này là sự bao la

    Của pháp tính sáng và tính không.

    Nó vượt qua mọi giới hạn, mọi chiều hướng;

    Nó ở mọi nơi, như không gian thanh tịnh, không vết nhơ.

    Gốc rễ của mọi hiện tượng, bất tịnh và thanh tịnh, của luân hồi và niết bàn, xuất hiện ra là gì? Chúng biểu hiện chỉ từ tính giác, từ tâm giác ngộ mà thôi. Tính giác đến từ đầu, xứ sở đơn nhất của không gian vĩ đại? Và ai đã tạo ra nó? Không được tạo ra thông qua các nguyên nhân và điều kiện, cũng chẳng được tạo ra bởi bất cứ tác nhân nào, bản tính của tính giác là tính rộng mở bao trùm toàn thể, thoát khỏi mọi suy diễn khái niệm và giống như không gian. Giống như sự phản chiếu của mặt trăng và các vì sao nhìn thấy trên mặt nước, hoặc như cầu vồng xuất hiện trên bầu trời, mọi hiện tượng, cả thanh tịnh lẫn bất tịnh, đều phô bày trong tính giác, tâm giác ngộ tối thượng trân quý. Mọi hiện tượng của luân hồi và niết bàn không có ngoại lệ, xuất hiện từ tâm giác ngộ tối thượng, là nguyên nhân của chúng, xuất hiện như kết quả của tâm đó: tính vô hạn như đại dương của các hiện tượng. Những hình sắc vô tận này đầu tiên xuất hiện trong không gian tính giác. Sau đó, chúng tồn tại trong không gian này và trong cùng không gian này cuối cùng chúng lắng xuống, trở về với nền tảng nơi chúng xuất hiện lần đầu. Nền tảng đó, nơi mà mọi thứ xảy ra, là tính giác duy nhất, trống rỗng và chói ngời.

    Tính giác này, nền tảng suy nhất cho sự hóa hiện của thế giới hiện tượng vô hạn, là pháp tính, trống rỗng và sáng ngời, vượt qua mọi sự khuyếch trương và đo lường. Nó thực sự là tính bao la vĩ đại vượt qua mọi giới hạn và phương hướng (trên, dưới, trung tâm và chu vi). Nó ở khắp mọi nơi giống như không gian vô nhiễm. Chẳng có ranh giới hay ngăn cách, nó không thể quan niệm được.

    Thứ bảy, tính giác đơn nhất được thể hiện là pháp giới.

    7. Đấng tạo ra vạn vật, luân hồi và niết bàn,

    Là một và tự sinh.

    Nhưng gốc rễ của nó, tính giác, không ai tạo ra được.

    Vượt mọi hành động và nỗ lực, nó an trú như không gian.

    Cả ví dụ và thứ được ví dụ xuất hiện

    Là một sự mở rộng quảng đại

    Nơi mọi quy kết và từ chối đều yên lặng.

    Khi nói rằng mọi hiện tượng đều do tính giác tự phát sinh, pháp tính duy nhất bao hàm cả luân hồi và niết bàn, thì ý nghĩa là như thế này. Khi không chứng ngộ được tính giác, vốn vượt ngoài mọi giới hạn và cực đoan, trống rỗng, sáng ngời và giống như không gian, khi kinh nghiệm tự thân về tính giác được coi là một cái gì đó tách biệt với nó, thì luân hồi bất tịnh được tạo ra. Vũ trụ cùng với cư dân của nó xuất hiện. Với sự nối tiếp liên tục của sinh và tử, chúng sinh lang thang, lạc lối từ trạng thái mê lầm này sang trạng thái mê lầm khác. Nhưng khi cùng một tính giác tự sinh này được nhận ra, niết bàn xuất hiện, năm thân, trí tuệ, vân vân, được hiển lộ. Người ta được giải thoát ngay lập tức và cõi giới nguyên thủy được nắm bắt. Do đó, chỉ có tính giác tự sinh này là đấng sáng tạo ra luân hồi và niết bàn. Ngược lại, bản tính của tính giác, gốc rễ của vũ trụ, tự nó là không tổ hợp, không điều kiện, và chẳng do ai tạo ra. Giống như không gian, nó là pháp tính không thể quan niệm được, vượt ngoài hành động và nỗ lực.

    Người ta đạt được một hiểu biết như vậy thông qua ví dụ (không gian), sự vật được minh họa (tính giác không sinh), và dấu hiệu chứng cứ (sự xuất hiện không bị cản trở của các hình sắc bên trong tâm giác ngộ). Như được nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Tôi, vị thầy, người sáng tạo tất cả, là tâm trí giác ngộ.

    Chính tâm giác ngộ này là vị vua sáng tạo ra tất cả.

    Các vị phật của ba thời

    Tất cả đều do tâm giác ngộ tạo ra,

    Chúng sinh của tam giới

    Tất cả đều do tâm giác ngộ tạo ra.

    Và:

    Ở thời nguyên nhân, nó tạo ra năm yếu tố lớn.

    Ở thời kết quả, nó tạo ra chúng sinh của tam giới.

    Ở thời ví dụ, nó biến không gian thành phép loại suy có thể áp dụng được tất cả.

    Ở thời minh họa, nó làm cho mọi thứ không sinh.

    Vào thời dấu hiệu chứng cứ, tâm giác ngộ làm ra tất cả.

    Và:

    Nó làm hài hòa nguyên nhân và kết quả,

    Ví dụ, minh họa, dấu hiệu chứng cứ.

    Ví dụ do đó phù hợp với sự vật được minh họa. Trong một không gian bao la đơn nhất, nơi mà vô số quan niệm sai lầm, sự quy kết và phủ nhận tồn tại, hiểu biết về đặc điểm của các thực thể, hy vọng và sợ hãi, chấp nhận và từ chối, khẳng định và phủ định, tự nhiên lắng xuống, người ta đạt được giải thoát trong không gian bình đẳng của tính giác, tâm giác ngộ.
  3. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    Thứ tám, nó cho thấy tính giác vượt ngoài khái niệm và diễn đạt.

    8. Trong tinh hoa tối thượng

    Siêu việt tồn tại và không tồn tại,

    Bất cứ thứ gì xuất hiện đều không ngừng biểu lộ,

    Bản tính của chúng là không gian không thể tưởng tượng và không thể diễn bày

    Vượt ngoài tính quy ước của cả lời nói và ngôn ngữ.

    Tính giác, tâm giác ngộ, vượt trên các cực đoan của tồn tại và không tồn tại, Đó là tinh hoa tối thượng không thể nghĩ bàn và không thể diễn đạt. Các hiện tượng luân hồi và niết bàn, trong tất cả tính sáng tỏ và khác biệt của sự biểu hiện của chúng, liên tục phát sinh trong không gian quảng đại và bao trùm toàn thể của nó. Chúng giống như sự phản chiếu sáng ngời của các vì sao và hành tinh xuất hiện trên mặt hồ. Tính giác này và sự biểu lộ các hiện tượng phát sinh bên trong nó không thể phân biệt và tách rời khỏi nhau. Bản chất của chúng là một không gian trống rỗng, không thể nghĩ bàn và chẳng thể diễn đạt, là tầng nền tảng của tính thanh tịnh bản nguyên vượt trên bốn và tám cực đoan, ba mươi hai quan niệm sai lầm, vân vân. Nó vượt ngoài lời nói và ngôn ngữ thông thường, và giống như sự rộng mở không thể diễn tả, bao trùm toàn thể của không gian.

    Thứ chín, nó cho thấy các hiện tượng không xuất phát từ một tính giác duy nhất:

    9. Trong tâm giác ngộ,

    Thể tính mà mọi thứ đều nảy sinh,

    Không có nhị nguyên nhưng lại đa dạng không đếm xuể.

    Chư Phật, chúng sinh, thế giới hiện tượng,

    Thế giới và cư dân của nó hiện diện rõ ràng.

    Tuy nhiên chúng không rời khỏi chân như, pháp tính duy nhất.

    Nền tảng hay thể tính, nơi mọi hiện tượng xuất hiện, là tính giác, tâm giác ngộ. Bản chất của tính giác đơn nhất này không thể bị phân chia theo nhị nguyên (theo cách của hình sắc và tính không, vân vân). Và điều này là chắc chắn, vì tính giác là phạm trù duy nhất vượt ra ngoài mọi diễn đạt và khái niệm. Tuy nhiên, mặc dù nó không tồn tại như bất cứ thứ gì, nó lại có thể biểu hiện như bất cứ thứ gì. Và nếu người ta cố gắng định lượng những biểu hiện như vậy, chúng sẽ vượt ngoài sự đo đếm. Như đã nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Trong tâm giác ngộ,

    Thể tính mà từ đó mọi thứ phát sinh,

    Các hiện tượng không tồn tại riêng lẻ

    Nhưng lại vô số.

    Chư phật, ba thân,

    Chúng sinh với thân và khẩu của họ

    Đều là tâm giác ngộ,

    Nguyên thủy không có người nắm bắt

    Và không có đối tượng để nắm bắt.

    Mặc dù bản tính của tính giác không tồn tại như bất cứ thứ gì, nó có thể tạo ra mọi loại biểu hiện. Do đó, chư phật, chúng sinh, vân vân, vũ trụ hiện tượng của luân hồi và niết bàn, thế giới và tất cả những gì nó nắm giữ, biểu lộ rõ ràng và riêng biệt. Tuy nhiên, bất kể chúng xuất hiện như thế nào, chúng vốn trống rỗng nguyên thủy theo bản chất của chúng. Chúng không bao giờ dao động dù theo cách nhỏ nhiệm nhất ra khỏi chân như, bản tính nền tảng của chúng, tức là tính giác, tâm giác ngộ, không gian của pháp tính duy nhất vượt ngoài suy diễn khái niệm.

    Thứ mười, để kết luận, mọi thứ được chứng tỏ là bao gồm trong tính giác duy nhất.

    10. Vạn sự đều liên kết với một và chỉ một thứ này

    Trong đó chúng được bao gồm hoàn hảo.

    Đây là phẩm tính tối cao của tâm giác ngộ.

    Ngay từ giây phút một thứ xuất hiện trong nó,

    Quan niệm sai lầm rằng nó khác với nó

    Bị loại trừ.

    Nên hiểu rằng những sự vật bên ngoài

    Chẳng là gì ngoài sự phát sáng trống trải

    Của bản tính bất nhị trong tâm trí

    Trong khi những sự vật bên trong tâm trí

    Chỉ là tính giác trần trụi và rộng mở,

    Không một cũng chẳng nhiều.

    Sự chứng ngộ rằng bản tính của chúng

    Là không gian tối thượng, đơn nhất

    Tiết lộ điểm then chốt của tính giác.

    Mọi hiện tượng đều liên kết với tính giác duy nhất. Chúng được bao gồm hoàn hảo trong không gian của nó. Khi các tia sáng mặt trời chiếu vào một viên pha lê, người ta hiểu rằng ánh sáng ngũ sắc được liên kết với viên pha lê và được bao gồm hoàn hảo trong đó sẽ chống lại suy nghĩ rằng chúng là thứ gì đó không liên quan và tách biệt với nó. Tương tự, nếu hiểu rằng các hiện tượng xuất hiện trong phạm vi của tính giác được kết nối không thể chia cắt với nó và được bao gồm hoàn toàn trong đó, người ta có thể bỏ đi suy nghĩ rằng các hiện tượng khác với tính giác.Thực tế là mọi thứ đều được kết nối với tính giác duy nhất này và được gồm hoàn hảo trong đó, vốn là phẩm tính tối cao của tâm giác ngộ tối thượng, tính giác, trí tuệ ban sơ tự phát sinh, đại toàn thiện. Vì vậy, ngay tại thời điểm các hiện tượng xuất hiện trong phạm vi của tính giác, người ta nên loại bỏ quan niệm sai lầm rằng chúng khác biệt và tách biệt với tính giác. Người ta có thể hoàn toàn chắc chắn rằng, cũng như ánh sáng của tinh thể không thể tách rời khỏi chính tinh thể, thì các hình sắc của nền tảng cũng không thể tách rời khỏi nền tảng.

    Các hiện tượng bên ngoài (rõ ràng) đã phát sinh thông qua quyền năng sáng tạo của tính giác, trống rỗng, sáng tỏ và thoát khỏi mọi ranh giới và cực đoan, chỉ đơn giản là sự tỏa rạng của tính không vĩ đại bao trùm cả luân hồi và niết bàn, sử tỏa rạng của bản tính tâm trí, trong đó không có người nắm bắt và chẳng có vật để nắm bắt, không chủ thể, không đối tượng, không bản sắc, không khác biệt. Nhờ hiểu biết rằng chúng không sở hữu chút tồn tại nào trong chính chúng, người ta nhận ra rằng các đối tượng xuất hiện không có thực tại. Tương tự, các hiện tượng tinh thần bên trong, mọi nhận thức của tâm trí đang nắm bắt, được hiểu là không tồn tại ngay cả ở cấp độ của những khoảnh khắc không thể chia nhỏ của ý thức. Bị lột trần trong trạng thái trần trụi và rộng mở của tính giác, giống như một quả cầu pha lê tinh khiết, các nhận thức đang nắm bắt không phải một cũng chẳng phải nhiều trong tính thanh tịnh bản nguyên vĩ đại mà thực tế là bản tính tối thượng vô căn cứ của chúng. Vì vậy, bản tính tối thượng, trạng thái căn bản của tính bình đẳng giữa đối tượng và tâm trí, được hiện thực hóa.

    Khi nhận ra rằng hiện tượng bên ngoài và bên trong là không gian tối hậu duy nhất của sự tự kinh nghiệm, sự hiển lộ của tâm giác ngộ phi nhị nguyên, thì điểm then chốt của mọi hiện tượng được tiết lộ vào thời điểm đó như là tính giác tự sinh duy nhất mà trong đó mọi thứ đều được chứa đựng. Điều này kết thúc mục hiện tại.
  4. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    3. Phần hai: những điểm chính của Bản tính duy nhất được thể tính hóa

    Mọi hiện tượng đều được thể tính hóa như trí tuệ bản nguyên tự phát sinh. Phần này gồm năm khổ tơ. Đầu tiên, các hiện tượng và ý thức được thể tính hóa như trí tuệ nguyên thủy.

    11. Trong nhất vị, mọi thứ đều được thể tính hóa.

    Mọi đối tượng xuất hiện đều hư ảo;

    Chúng là trạng thái của tính không.

    Tuy nhiên chúng xuất hiện,

    Nghỉ ngơi mà không sắp đặt trong tính giác duy nhất.

    Bất kể thứ gì xuất hiện,

    Chỉ duy nhất một tính không sáng ngời xuất sinh.

    Mọi hiện tượng, các hình sắc bên ngoài và nhận thức bên trong, đều được thể tính hóa như hương vị duy nhất của tính giác, tâm giác ngộ, và sau đây là mô tả về cách thức mà điều này xảy ra. Chuỗi hiện tượng không ngừng, xuất hiện như những đối tượng được nắm bắt, phát sinh trong không gian của tính giác, giống như một ảo ảnh huyễn thuật hay một giấc mơ. Mọi thứ xuất hiện đều là một hình thức ảo ảnh, trống rỗng. Sự phát sinh của những hiện tượng như vậy là không ngừng. Tuy nhiên, chúng có thể xuất hiện trong trạng thái trong suốt không tỳ vết, như trong gương, người ta phải tin chắc không có bất cứ sự sắp đặt hay thao túng nào, rằng những hiện tượng này chẳng là gì khác ngoài tính giác, tính bất khả phân giữa hình sắc và tính không. Người ta nên nghỉ ngơi trong trạng thái đó. Khi duy trì trong dòng chảy tự nhiên của tính giác, bất kể đối tượng nào của sáu thức hiện diện, thì chỉ một không gian duy nhất của tính sáng phát sinh. Theo quan điểm về phương diện tính không của nó, nó vượt ngoài mọi diễn giải khái niệm. Theo quan điểm về tính sáng tỏ không ngừng của nó, nó sống động và tỉnh táo. Người ta nên hoàn toàn chắc chắn rằng đây là trạng thái tự nhiên của pháp tính, tâm của mọi Đấng Chiến Thắng, pháp giới, trí tuệ nguyên thủy, đích đến cuối cùng của mọi thứ. Trong một trạng thái hoàn toàn tin tưởng, người ta nên nghỉ ngơi mà không bị phân tâm trong trạng thái cân bằng thiền định. Phat!

    Thứ hai, sự phát sinh và lắng xuống của những suy nghĩ được coi là thể tính của trí tuệ bản nguyên tự hiện.

    12. Những ý niệm, những hình tướng tâm trí,

    Tan biến tự nhiên.

    Bất cứ chuyển động nào đến

    Trong trạng thái tính không,

    Chỉ cần nghỉ ngơi bên trong dòng chảy tự nhiên, thư giãn.

    Thông qua chuyển động và sinh sôi các ý niệm của bạn,

    Trí tuệ của pháp tính sẽ xuất hiện rõ ràng.

    Bất cứ hiện tượng tinh thần nào có thể xảy ra trong tám mươi bốn ngàn loại trạng thái tinh thân, năm độc hay ba độc là ô nhiễm, chẳng hạn, chúng giống như những con sóng, nổi lên trên đại dương nhưng không bao giờ văng ra khỏi nó. Chúng xuất hiện như sự phô diễn và trang hoàng của quyền năng sáng tạo từ đại dương. Chúng xuất hiện như những đám mây cầu vồng xuất hiện trên bầu trời nhưng không bao giờ rời khỏi nó. Chúng không chỉ là sự phô diễn qua quyền năng sáng tạo của bầu trời, mà còn là những vật trang trí, nhờ đó bầu trời trở nên đẹp đẽ. Tương tự, bất cứ trạng thái tinh thần nào có thể xảy ra, nếu một người duy trì trạng thái tỉnh giác tự nhận thức, chúng sẽ tự nhiên biến mất. Biết rằng mọi vận hành của tâm trí xảy ra trong trạng thái của tính không vĩ đại chỉ là màn phô diễn của trí tuệ nguyên thủy tự phát sinh, người ta chỉ nên nghỉ ngơi, thư giãn và tự do trong dòng chảy tự nhiên của chúng. Chính vì thông qua vận hành và sinh sôi của những ý nghĩ mà trí tuệ pháp tính, tính giác bất tuyệt, sáng và rỗng, được biểu lộ rõ ràng. Chuyển động, tĩnh lặng và tính giác hòa quyện thành một, và trí tuệ bản nguyên vĩ đại, tính giác được để nguyên như nó là 64 , được hiện thực hóa. Như có nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Vận hành tinh thần, ký ức, và các ý niệm

    Chưa bao giờ vuột khỏi trạng thái không sinh của chúng.

    Do đó, nếu bạn hiểu rằng

    Bất cứ ý niệm nào xuất hiện cũng đều là thiền định,

    Thì ngay cả khi không thiền định,

    Khi mọi thứ bạn để mặc như lúc chúng xuất hiện,

    Bạn sẽ không bị phân tâm.

    Và cũng được nói trong Sáu Không Gian:

    Trong bản tính của tâm không có sự tập trung tinh thần,

    Mọi chuyển động của tâm đều là các hình sắc thanh tịnh.

    Sự bám chấp tự nhiên lắng xuống và đây được gọi là định.

    Đây là điều mà tôi, Phổ Hiền, dạy.

    Thứ ba, chuyển động và tĩnh lặng được coi là thể tính hóa như bất nhị.

    13. khi bạn thấy các đối tượng giác quan

    Và tâm trí liền mạch giống nhau,

    Khi, không tập trung và tham chiếu,

    Bạn nghỉ ngơi trong trạng thái thanh tịnh tự nhiên không dấu vết.

    Ngay trong sự phát quang mà nó biểu lộ

    Trí tuệ bản nguyên của tuệ giác sâu xa.

    Khi một người nghỉ ngơi trong trạng thái mà các đối tượng xuất hiện (được hiểu là trống rỗng), thì sẽ phát sinh một tính giác đơn nhất, trống rỗng và sáng tỏ. Khi việc này được duy trì, người ta vẫn thư giãn trong dòng chảy tự nhiên của bất cứ kinh nghiệm tinh thần nào phát sinh, bản tính tối hậu của chúng sẽ trở nên rõ ràng. Nếu hai trạng thái này được duy trì đúng cách, đối tượng bên ngoài của nhận thức và tâm trí nắm bắt bên trong sẽ hợp nhất mà không có sự phân biệt trở thành tính bình đẳng liên tục, thoát khỏi tình trạng suy diễn khái niệm. Một trạng thái biểu hiện hoàn toàn trống rỗng, cởi mở và rõ ràng sáng suốt. Giữ gìn trải nghiẹm này và tập trung tâm trí vào nó mà không chuyển động đôi mắt, người ta nghỉ ngơi trong trạng thái rõ ràng minh bạch, không dấu vết, không có mục tiêu hoặc tham chiếu. Khi làm như vậy, người ta sẽ hiện thực hóa bản tính nền tảng hoặc tính giác, và người ta sẽ khám phá ra trong chính mình đại pháp thân, thoát khỏi hoạt động khái niệm. Điều đó được nói trong Quyền năng hoàn hảo của sư tử:

    Khi người ta quan sát như một đối tượng

    Pháp tính, tỉnh giác và sáng tỏ,

    Tính giác, thoát khỏi mọi sự đa dạng,

    Được nhìn thấy bên trong, Khi người ta quan sát

    Mọi hiện tượng giả tạo

    Của rất nhiều đối tượng giác quan,

    Pháp thân vĩ đại thoát khỏi hoạt động nhận thức

    Được khám phá bên trong.

    Khi tâm trí được để mặc theo cách này, không lấy hay bỏ bất cứ thứ gì, tính giác, thoát khỏi mọi ranh giới và cực đoan, được tìm thấy bên trong. Điều này được cho là giác ngộ bao trùm tất cả và vĩ đại. Như được thấy trong Sáu Không Gian:

    Trong bản tính tâm trí không có lấy và bỏ,

    Kinh nghiệm về mọi suy nghĩ lắng xuống

    Được gọi là “giác ngộ vĩ đại và bao trùm toàn thể

    Đây là điều mà tôi, Phổ Hiền, dạy.

    Theo văn bản này nói, khi người ta nghỉ ngơi mà không có mục tiêu hay tham chiếu cụ thể nào trong trạng thái thanh tịnh và không dấu vết tự nhiên, thì trong chính sự tỏa rạng của nó, người đó khám phá ra trí tuệ nguyên thủy của tuệ giác sâu sắc. Người ta nên hoàn toàn chắc chắn rằng điều này không có chút sai lầm nào, trí tuệ của pháp thân Phổ Hiền. Người ta nên duy trì liên tục hình ảnh về khuôn mặt đó. Đây là vấn đề có tầm quan trọng tối cao.

    Thứ tư, các khổ thơ trước được đưa đến kết luận.

    14. Thể tính hóa vào trong một tinh hoa

    Ba điểm chính yếu này

    Rằng chứng ngộ và không chứng ngộ

    Đều bình đẳng từ nguyên thủy,

    Rằng tâm và vật không thể phân chia

    Là bình đẳng trong pháp thân,

    Rằng những lỗi lầm và che chướng là không thể tách rời

    Từ sự bình đẳng của pháp tính

    Bạn không ngừng giữ vững thực tại tối hậu.

    Không từ chối hoặc chấp nhận, bạn sẽ tìm thấy

    Tinh hoa tối thượng.

    Không đến và không đi, bạn an trú

    Trong sự chứng ngộ về pháp tính.

    Tất cả hội tụ trong trạng thái này

    Nơi cả chuyển động và thay đổi đều bị siêu việt.

    Ba điểm chính được nói đến trước đó: “được thể tính hóa thành một điểm tinh túy” có nghĩa là gì? Ba điểm này là: thứ nhất các hiện tượng được để mặc như chúng đang là, thứ hai, tính giác được để mặc như nó đang là, thứ ba, chuyển động và tĩnh lặng là không thể tách rời.

    Xét ba điểm này theo thứ tự, điểm đầu tiên cho thấy rằng vì mọi đối tượng xuất hiện đều không thật, các hiện tượng được để mặc như chúng đang là. Điểm thứ hai cho thấy rằng vì tất cả các trạng thái tinh thần, mọi nhận thức, đều tự nhiên tan biến, nên tính giác được để mặc như nó đang là. Cuối cùng, vì không có khoảng cách giữa các đối tượng giác quan và tâm trí, người có thể về tính không thể phân chia của chuyện động và tĩnh lặng của tinh thần. Do đó, ba điểm chính này được thể tính hóa thành một điểm tinh hoa duy nhất, đó là tính giác.

    Khi, bằng cách để mặc tính giác như nó đang là, người ta an trú trong dòng chảy tự nhiên của bất cứ thứ gì phát sinh trong tâm trí, sẽ có sự biểu lộ, trên cơ sở chuyển động và sinh sôi rõ ràng của nó, một trạng thái trí tuệ dưới dạng tập trung vào pháp tính. Vì trạng thái giác ngộ và trạng thái không giác ngộ vốn bình đẳng nguyên thủy, người ta sẽ khám phá ra một loại trí tuệ thoát khỏi mọi sự đến và đi.

    Khi, bằng cách để mặc các hiện tượng hình sắc như chúng đang là, người ta an định tự nhiên trong một trạng thái mà mọi hiện tượng đều trống rỗng và không thực, người sẽ nhận ra rằng tính không thể phân chia giữa đối tượng và tâm trí là pháp thân vĩ đại. Khi điều này xảy ra, người đó sẽ khám phá ra một trạng thái bình đẳng thoát khỏi mọi sự từ chối và chấp nhận. Khi an trú trong trạng thái tính giác thuần tịnh không dấu vết, thoát khỏi sự tập trung hay tham chiếu, thì khi đó trạng thái tĩnh lặng và chuyển động trở nên vô hình, và trong trí tuệ hiện diện rõ ràng của tuệ giác sâu xa, tĩnh lặng, chuyển động và tính giác sẽ hòa quện vào nhau. Người ta sẽ khám phá ra phương thức bình đẳng tối thượng trong trạng thái pháp tính, một trạng thái mà các sai lầm và che chướng thực sự không thể tách rời. Điều này được gọi là liên tục giữ vững trạng thái của thực tại tối hậu.

    Tóm lại, việc thể tính hóa ba điểm chính được chứng minh ở đây có nghĩa là sự tụ hợp của ý thức phải được để tự do và thư giãn trong không gian quảng đại của tính giác. Nó chẳng có nghĩa gì khác. Điều đó được nói trong Sáu Không Gian:

    Trong bản tính của tâm

    Nơi không có sự chìm đắm hay phấn khích,

    Thiền là trạng thái thăng hoa của tính bình đẳng.

    Cái gọi là thư giãn

    Trong sáu sự tụ hợp của ý thức.

    Đây chính là điều mà tôi, Phổ Hiền, dạy.

    Điều này nghĩa là khi sáu tập hợp của các thức giác quan được thả lỏng và thư giãn, thì bằng cách thể tính hóa ba điểm then chốt này thành tính giác không có mọi chế định tinh thần, không coi thứ này quan trọng hơn thứ kia, người ta sẽ giữ được trạng thái tối hậu của sự cạn kiệt các hiện tượng trong trạng thái vượt ngoài tâm trí bình thường. Mọi hình tướng chỉ đơn giản là một không gian rộng lớn bao trùm toàn thể của tính bình đẳng, vốn ngay từ đầu, vượt ngoài mọi sự chấp nhận và chối bỏ. Điều này cấu thành sự khám phá, hay hiện thực hóa, thể tính tối hậu hay chân lý.

    Kinh tính bình đẳng của ba thời được hiểu là sự vắng mặt trần trụi của tình trạng suy diễn khái niệm bên trong bản thể của tính giác, và khi pháp tính hay chân như thực tại được chứng ngộ rõ ràng trong sự vắng mặt của tất cả các đặc điểm khái niệm, chẳng hạn như đến và đi, thì ngay tại thời điểm đó, người ta an trú trong không gian quảng đại của tính giác, cấp độ của kết quả, thoát khỏi chuyển động và biến đổi. Mọi hiện tượng của luân hồi và niết bàn đều được tập hợp trong một không gian của tính giác, chân lý tối thượng.

    Thứ năm, để kết luận, tất cả được tập hợp vào một nơi chốn của giải thoát.

    15. Như không gian là bao la quảng đại,

    Tâm trí của các Đấng chiến thắng.

    Vượt trên sự loại bỏ và đạt được,

    Đó là sự đại mở rộng, một cõi giới duy nhất.

    Tự do trong chính nó, vượt ngoài mọi trạng thái

    Của giác ngộ và không giác ngộ.

    Nơi sự cạn kiệt của mọi hiện tượng được đạt tới

    Trong tính bình đẳng trùm khắp vượt xa tâm trí bình thường.

    Trên đỉnh ngọn cờ chiến thắng, không bao giờ hạ xuống,

    Mặt trời và mặt trăng chiếu sáng vô số thế giới.

    Nơi chốn cuối cùng của giải thoát, phương thức tối thượng của tồn tại, thân cái bình luôn tươi trẻ là gì? Khi mọi hình tướng của tính giác tự kinh nghiệm tan biến vào không gian tối thượng của tính không nguyên thủy, thì ở đó biểu lộ một không gian bao la bao trùm toàn thể, tính bao la như không gian được đề cập trong văn bản gốc, không có cả phương hướng và giới hạn. Được gọi là bao la vì nó ám chỉ pháp tính thoát khỏi các khái niệm và đặc điểm. Giống như không gian vì nó được minh họa bằng ví dụ về tính bao la của không gian vô hạn. Trạng thái tối thượng của tồn tại này là tâm trí của tất cả các Đấng Chiến Thắng của ba thời, không gian rốt ráo của của trí tuệ bản nguyên tối cao. Nó hoàn toàn không có các đặc điểm khái niệm liên quan đến, ví dụ, các che chướng cần bị loại trù và các kết quả cần đạt được. Thoát khỏi mọi góc cạnh của những suy nghĩ thông thường, nó được mô tả như một quả cầu. Tính giác, trí tuệ nguyên sơ tối cao, thoát khỏi những đặc điểm xác định của luân hồi và niết bàn, là một không gian đơn nhất của chốn giải thoát cuối cùng, thân trẻ trung vĩnh cửu được bao bọc trong một chiếc bình. Như ta thấy trong Sự lắng xuống tự nhiên của các Đặc trưng:

    Không phân biệt hoặc loại trừ, có giải thoát

    Trong không gian rộng lớn của hiện diện tự phát.

    Không gặp gỡ hay chia ly, có giải thoát

    Trong không gian bao la của một quả cầu

    Bất cứ điều gì xẩy ra, có giải thoát

    Trong khôn gian vô định.

    Vì giải thoát xảy ra trong tầng nền tảng của tính giác rộng mở liên tục, nó là giải thoát vĩ đại mà trong đó không có tên của sự giác ngộ hay sự vắng mặt của giác ngộ. Vì trạng thái này là tự do ngay từ đầu, nên nó là tự do nguyên thủy. Vì nó hoàn toàn tự do, nên nó là tự do tuyệt đối. Khi quan sát bản tính của chính mình một cách trần trụi, cùng một tính giác trần trụi này, thoát khỏi mọi ý niệm mê lầm về ba thời, được gọi là cái thấy trần trụi vĩ đại của giải thoát tự nhiên. Như đã được nói trong mật điển Siêu Việt Ngôn Từ:

    Ngay trong cốt lõi của nó có giải thoát

    Mọi nỗ lực đều tiêu tan

    Tự do của nó là nguyên thủy

    Không cần giải thoát nó một lần nữa.

    Tự do của nó là trần trụi

    Ngay nơi bạn nhìn thấy nó, nó giải thoát.

    Tự do của nó là trọn vẹn

    Bản tính của nó là hoàn hảo.

    Khi một người thức tỉnh với tự do nguyên thủy trần trụi của tính giác rộng mở vô ngại, các hình tướng hiện tượng xuất hiện ở trạng thái cạn kiệt. Chúng lắng xuống trong trạng thái bình đẳng, trong tính đồng đều bao trùm toàn thể của trạng thái cạn kiệt của mọi hiện tượng, siêu việt tâm trí bình thường. Khi các đối tượng và điều kiện cho các đối tượng như vậy đạt đến tình trạng cạn kiệt của chúng, chúng tự lắng xuống. Sự lắng xuống là tự nhiên. Và vì không có tứ cú về tồn tại, không tồn tại, cả hai và không cả hai, người ta nói tới sự đại lắng dịu của các cực đoan. Điều đó được nói trong Vòng Ngọc Trai:

    Đó là sự lắng xuống tự nhiên, các đối tượng và điều kiện tiêu biến;

    Đó là sự lắng xuống trần trụi, các hình tướng vô nhiễm;

    Đó là sự lắng xuống của các cực đoan, không có tứ cú.

    Đó là sự lắng xuống thành một, không có số nhiều.

    Khi tính giác rộng mở, không chướng ngại được chứng đắc, người ta đạt được trạng thái cạn kiệt của các hiện tượng trong điều kiện tối hậu của chúng. Đây là sự chứng ngộ thâm sâu về tính bình đẳng vĩ đại của pháp tính. Soi tỏ vô số thế giới hệ, trí tuệ bản nguyên ở tầng bậc quả vị giống như nhật nguyệt mọc trên đỉnh lá cờ chiến thắng, được giương cao, sẽ không bao giờ bị hạ xuống. Bóng tối mà cả luân hồi và niết bàn bị ràng buộc sẽ bị phá tan, và rồi giải thoát diễn ra.
  5. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    3. Phần ba: Mọi hiện tượng được bao hàm trong Tính Giác Đơn Nhất

    Phần này gồm bốn khổ thơ. Đầu tiên, tất cả được thu gọn vào trong một không gian tối thượng duy nhất, trí tuệ bản nguyên tự phát sinh.

    16. Mọi thứ được bao gồm

    Bên trong tính giác, duy nhất và tự nhận thức,

    Vạn sự trong thế giới hiện tượng,

    Toàn thể luân hồi và niết bàn,

    Xuất hiện vô cùng, vô tận

    Sinh khởi từ không gian tối thượng.

    Do đó, không gian từ nơi chúng xuất hiện

    Bao gồm chúng.

    Mọi hiện tượng, dù là luân hồi hay niết bàn, đều được bao hàm trong không gian của tính giác tự nhận thức duy nhất. Những hình tướng vô tận, vô hạn của thế giới hiện tượng, luân hồi và niết bàn, xuất hiện từ pháp tính như không gian, là sự rộng mở của tính giác duy nhất. Điều này nghĩa là mọi hiện tượng đều được bao hàm trong không gian của tính giác, pháp giới, nơi chúng phát sinh, nền tảng mà từ đó chúng xuất hiện. Chúng không bao giờ di chuyển ra khỏi không gian tính giác này. Chúng có cùng một hương vị với nó, hòa trộn không thể chia tách.

    Thứ hai, bất kể các hiện tượng xuất hiện thế nào, tất cả đều được bao gồm trong tính giác.

    17. Ngay cả bây giờ, khi nhiều thứ khác nhau xuất hiện,

    Chúng không rời khỏi tính giác lạc đi đâu khác.

    Các hình tướng do vậy được bao hàm

    Bên trong sự mở rộng bao la, tính giác tự phát sinh.

    Tất cả các hiện tượng của luân hồi và niết bàn đều được bao hàm trong không gian của tính giác tự nhận thức. Vì vậy, mặc dù trong chuỗi vô hạn và vô biên của chúng, các hiện tượng xuất hiện ngay trong hiện tại bên trong không gian tính giác tự sinh, không ngừng, rõ ràng, phân minh như những vì sao và hành tinh trên bầu trời, chúng vẫn không bao giờ đi ra khỏi trạng thái của tính giác và đi đến bất kỳ nơi nào khác. Những hình tướng này chỉ là quyền năng sáng tạo và màn trình diễn của tính giác đơn nhất. Các hình tướng và tính giác không phải là hai thứ. Vì vậy, mọi hiện tượng đều được bao gồm trong không gian nguyên thủy của tính giác tự phát sinh. Như trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể nói:

    Về việc tôi là gì,

    Tôi là tâm giác ngộ.

    Về chuyện nơi tôi ở,

    Tôi ở trong không gian pháp tính.

    Về cách tôi chiếu sáng,

    Tôi chiếu sáng trong không gian tính giác.

    Thứ ba, tất cả mọi sự vật cuối cùng đều được bao hàm trong tính giác đơn nhất.

    18. Phát sinh và tan biến liên tục,

    Chúng hòa tan vào sử mở rộng tối thượng.

    Các hiện tượng chẳng là gì khác

    Ngoài tâm giác ngộ.

    Mọi thứ được bao gồm bên trong

    Pháp tính nguyên thủy duy nhất,

    Nền tảng cho sự cạn kiệt của chúng.

    Giống như, cuối cùng, những đám mây trên bầu trời tan biến vào vực thẳm không gian, cũng như những ánh sáng ngũ sắc được hấp thụ trở lại vào tinh thể mà từ đó chúng chiếu ra, và cũng như những con sóng chìm trở lại vào biển cả, tất cả mọi thứ trong sự tồn tại phi thương, biểu hiện từ không gian của tính giác, phát sinh và lắng xuống liên tục, cuối cùng tan hoại và biến mất vào không gian của pháp thân, trống rỗng nhưng vẫn tỉnh biết. Vì chúng không phải là gì khác ngoài không gian của tâm giác ngộ tối thượng, không gian của tính giác tự sinh, chúng không bao giờ tách rời khỏi không gian đó. Như màn trình diễn từ quyền năng sáng tạo của pháp tính (tính giác), mọi hiện tượng xuất hiện, không thể tách rời khỏi chính tính giác đó, đều cạn kiệt trong cùng một không gian pháp tính này. Chúng được bao hàm trong pháp tính nguyên thủy đơn nhất, nền tảng cho sự cạn kiệt của chúng, trạng thái bình đẳng tối thượng vượt ngoài mọi suy diễn khái niệm. Như đã nói trong Sự Lắng Xuống tự nhiên của các Đặc Điểm:

    Tâm trí bị lừa dối

    Nắm bắt cái gì đó khác biệt với nền tảng,

    Tan biến vào cái một

    Chìm lại vào không gian của pháp tính.

    Chướng ngại cho sự giác ngộ của nó

    Sự bám dính của nó vào các nẻo luân hồi

    Thứ này cũng tan biến vào thứ đơn nhất tự phát sinh,

    Vào không gian của trí tuệ nguyên thủy.

    Thứ tư, để kết luận, các hiện tượng được bao hàm trong trí tuệ nguyên thủy.

    19. Được bao gồm trong một tính giác duy nhất,

    Các hiện tượng không bao giờ rời khỏi tính giác,

    Tinh hoa của giác ngộ,

    Vượt trên mọi chuyển động và thay đổi.

    Chúng được bao hàm bên trong tinh hoa tối thượng;

    Chúng ngụ trong sự mở rộng, không thay đổi, không phức hợp.

    Vì mọi hiện tượng của luân hồi và niết bàn đều được chứa đựng trọn vẹn trong một không gian duy nhất của tính giác, chúng được bao hàm trong cùng một tính giác đó. Vua Sáng Tạo Toàn Thể nói:

    Cũng như mọi hiện tượng,

    Vũ trụ và mọi thứ tồn tại trong đó,

    Chẳng có nơi cư ngụ nào khác ngoài vực thẳm bao la của không gian,

    Tương tự, trong không gian bao la của tâm giác ngộ,

    Chư phật, chúng sinh, các thế giới và cư dân của chúng đều an trú.

    Vì vậy, mọi hiện tượng chứa đựng trong thế giới hiện tượng, luân hồi và niết bàn, không bao giờ đi lạc khỏi không gian của tính giác đơn nhất. Chúng không di chuyển ra khỏi nó và sẽ không bao giờ làm vậy. Chúng được bao hàm bên trong không gian của tính giác tối thượng chói ngời, bản thể của sự giác ngộ, vượt ngoài mọi vận động và biến đổi trong suốt ba thời. Chúng được tập hợp trong không gian vĩ đại của Phổ Hiền. Do đó, chẳng có gì có thể khác với tính giác, tâm giác ngộ. Giống như Quyền năng hoàn hảo của Sử Tử đã nói:

    Trong không gian bao la, tử cung của Phổ Hiền Nương,

    Thế giới hiện tượng nằm trọn vẹn trong đó:

    Luân hồi và niết bàn, năm yếu tố.

    Do đó, mọi hiện tượng đều được chứa đựng hoàn toàn trong không gian kim cương bất biến, vô điều kiện của tính giác bất khả hủy diệt, bất khả chiến bại, tức chân lý tối hậu.
  6. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    3. Phần bốn: đạt được một niềm tin rõ ràng rằng mọi hiện tượng là trí tuệ ban sơ tự sinh

    Phần này gồm bốn khổ thơ. Trước tiên, đạt được niềm tin rõ ràng rằng mọi hiện tượng đều là tinh hoa tối thượng, không khởi đầu, không kết thúc.

    20. Một niềm tin rõ ràng đã đạt được

    Rằng mọi hiện tượng là một, duy nhất,

    Trí tuệ nguyên sơ tự sinh khởi,

    Sự không gian tối thượng,

    Vô thủy và vô chung.

    Tất cả được chứa đựng trong đó.

    Mọi chuyển động của tâm trí lắng xuống,

    Và tất cả an trú trong pháp tính, tinh hoa tối thượng.

    Một niềm tin hoặc quyết định rõ ràng cần đạt được liên quan đến trạng thái rốt ráo của thế giới hiện tượng, luân hồi và niết bàn. Nhưng trạng thái rốt ráo này là gì? Phải giải quyết rõ ràng rằng mọi hình tướng đều là tính giác, chỉ có tâm giác ngộ. Vì chính trong không gian của trí tuệ nguyên sơ tự sinh mà các hiện tượng phát sinh ra, tồn tại rồi tan biến, tất cả đều do tự chúng. Mọi hiện tượng đều được chứa đựng trong không gian tối hậu. Tính thanh tịnh bản nguyên vĩ đại này, vô thủy và vô chung, là rộng mở và không có bất kỳ cấu trúc khái niệm nào. Ở đó, vô số mạng lưới hoạt động tinh thần lắng xuống hoặc biến mất, giống như một đám mây cầu vồng tan biến một cách chắc chắn. Mọi hiện tượng đều ngụ trong tinh hoa tối thượng của chúng, tính bình đẳng không có chế định tinh thần, pháp tính, chân như, trong đó hình sắc và tính không là bất khả phân. Đi đến một niềm tin rõ ràng rằng điều này là như vậy, là một điểm chính yếu tinh hoa.

    Thứ hai, một niềm tin rõ ràng đạt được rằng đối được của sự lĩnh hội và chủ thể lĩnh hội là tính giác tự sinh, không tham chiếu.

    21. Do đó, các đối tượng bên ngoài, và tâm trí bên trong,

    Các hiện tượng của cả luân hồi và niết bàn

    Khi thô thiển được phân tích thành vi tế,

    Không còn ý niệm về một phần nào còn lại.

    Do vậy bạn tin tưởng rõ ràng

    Rằng chúng chỉ là sự mở rộng bao la,

    Trống rỗng ngay từ đầu, giống như không gian.

    Mọi hiện tượng của luân hồi và niết bàn, mọi hình tướng của bên ngoài (chiếc bình bên ngoài của vũ trụ) và nội dung bên trong (những chúng sinh sống trong đó, đều được bao gồm trong các phạm trù của đối tượng lĩnh hội và tâm trí lĩnh hội. Những hiện tượng thô thiển, to lớn, các dãy núi, vân vân, được thiết lập từ tập hợp các phần tử vi tế, không thể chia cắt. Nhưng khi những hạt vi trần này chịu chi phối của lý luận phân tích tập trung vào tính định hướng của chúng, vân vân, chúng được chứng minh là trống rỗng. Sự lĩnh hội và bám chấp của tâm trí vào các hiện tượng xuất hiện sẽ dần biến mất.

    Tương tự, tâm trí lĩnh hội trong bản chất của là trống rỗng. Người ta thấy rằng, thứ nhất, không có nơi nào nó đến, thứ hai, chẳng có nơi nào nó trú ngụ, cuối cùng, không có nơi nào nó đi. Khi hiểu rằng các trạng thái tinh thần trước đây, đã chấm dứt, không có sự tồn tại, khi hiểu rằng các ý niệm tương lai chưa phát sinh cũng không có sự tồn tại, và khi hiểu rằng các trạng thái tinh thần hiện thời không có sự tồn tại ngay cả ở cấp độ của những khoảnh khắc tâm thức không thể chia cắt, người ta biết chắc chắn rằng các đối tượng giả định tinh tế của nhận thức là hoàn toàn không có thật, rằng chúng là trống rỗng. Chúng biến mất tự nhiên mà không để lại bất cứ dấu hiệu nào. Tóm lại, khi các đối tượng thô của nhận thức và các trạng thái tinh thần lĩnh hội chúng được phân tích thành các hợp phần nhỏ nhiệm, thì các đối tượng cấu phần không được tìm thấy. Chúng nằm ngoài tầm hiểu biết khái niệm. Người ta phải đi đến một niềm tin hoặc quyết định rõ ràng rằng chúng là tính không nguyên thủy, là, tính thanh tịnh bản nguyên vượt ngoài suy diễn khái niệm, không gian của tính bình đẳng giống như không gian trống rỗng.

    Thứ ba, đạt được niềm tin rõ ràng rằng tính giác thì vượt ngoài trình bày và diễn đạt.

    22. Tâm giác ngộ, khi phân tích,

    Được tìm thấy không có thực chất.

    Nó không có nguồn gốc, không nơi trú ngụ;

    Nó không đến không đi.

    Nó trốn tránh mọi trình bày và diễn đạt.

    Bạn đạt đến một niềm tin rõ ràng

    Rằng đó là không gian trí tuệ

    Nó siêu việt tâm trí bình thường

    Nó không phải là một thực thể với các đặc trưng,

    Để có thể định nghĩa là cái này hay cái khác.

    Không thể biết thông qua các ngôn từ,

    Nó không thể được diễn tả.

    Khi xem xét pháp tính, tính giác, tâm giác ngộ cũng được thấy là không có thực chất. Một sự vắng mặt đơn thuần của các vọng tưởng hý luận, nó hoàn toàn không có nguồn gốc. Nó vượt ngoài luật nhân quả và nỗ lực phấn đấu. Nó không có nơi trú ngụ. Nó giống như bầu trời trong vắt và rộng mở. Nó không đến: nó chẳng thể được diễn tả, chẳng thể quan niệm, và chẳng thể diễn đạt. Nó không đi: nó không có sinh, tử, tan rã và suy tàn. Nó né tránh mọi sự trình bày: nó vượt trên mọi đặc điểm khái niệm và do đó không thể diễn tả, không thể quan niệm và không thể diễn đạt được. Một niềm tin rõ ràng có được rằng tính giác, siêu việt như nó làm với tâm nhị nguyên, là không gian của trí tuệ Phổ Hiền. Trí tuệ nguyên thủy này, vượt trên mọi trình bày và diễn đạt khả thi, là chẳng thể mô tả. Người ta không thể tiết lộ nó bằng cách nói: “Nó giống như thế này”. Nó chẳng phải là một thực thể được ban tặng những đặc điểm được định nghĩa là thế này hay thế kia. Nó chẳng có thực thể giống như không gian. Nó không thể được biết thông qua ngôn ngữ, nó không thể được diễn đạt bằng lời. Một niềm tin rõ ràng đạt được rằng tính giác vượt ngoài sự trình bày và diễn đạt.

    Thứ tư, đạt được niềm tin rõ ràng rằng sự cạn kiệt của các hiện tượng là trạng thái tối cao vượt trên mọi biểu thị.

    23. Bạn đạt được niềm tin rõ ràng

    Rằng mọi thứ trong thế giới hiện tượng

    Thuộc về luân hồi và niết bàn

    Là sự không gian bao la,

    Không có hoạt động tinh thần và đặt tên,

    Bạn đạt đến một niềm tin rõ ràng

    Rằng mọi thứ là không gian quảng đại,

    Tính giác, trống rỗng, và không sinh,

    Trí tuệ ban sơ tự nhận biết.

    Bạn đạt đến một niềm tin rõ ràng

    Răng mọi thứ khởi sinh từ tâm giác ngộ

    Chẳng là gì ngoài sự không gian bao la

    Vượt trên biết và không biết,

    Bạn đạt đến niềm tin rõ ràng rằng mọi hiện tượng,

    Trống rỗng nguyên sơ và hoàn toàn trống không,

    Cấu thành sự không gian quảng đại,

    Bất động và bất biến suốt ba thời.

    Sự mở rộng bao la, vượt trên mọi sự suy diễn trí óc, của cả những từ ngữ và tên gọi, là nền tảng mà từ đó mọi hiện tượng phát sinh. Cuối cùng khi lắng xuống, chúng làm như vậy trong cùng một không gian của tính giác, trống rỗng, không sinh, thoát khỏi mọi cấu trúc khái niệm và biểu thị. Người ta đi đến một niềm tin rõ ràng rằng điều này đúng với các hiện tượng của cả luân hồi và niết bàn. Do đó, trong phân tích cuối cùng, mọi hiện tượng trước hết đều phát sinh trong không gian của hiện tự tự phát quý giá và cuối cùng lắng xuống trong đó. Khi điều này được nhận ra qua sức mạnh của tỉnh giác, giải thoát đạt được trong không gian vượt ngoài sự phân biệt giữa tỉnh giác và thiếu tỉnh giác. Như ta thấy trong Biểu ngữ đại thắng không bao giờ hạ xuống:

    Bằng phương tiện sức mạnh của chính nó,

    Vượt trên cả biết và không biết,

    Trí tuệ bản nguyên vô song biết

    Đại lạc hiện hữu tự phát.

    Các hiện tượng phát sinh chẳng từ nơi nào khác.

    Các hiện tượng lắng xuống không thể chia tách ở nơi chốn chung cuộc của giải thoát, đại không gian của tính giác, trống rỗng và không sinh. Tuy nhiên đối với trí tuệ bản nguyên tự nhân thức, các hiện tượng thông thường vẫn xuất hiện được ban tặng những cái tên riêng của chúng. Tuy nhiên, người ta có, một cách phi nhị nguyên, một niềm tin rõ ràng rằng những hiện tượng tương tự này là trí tuệ nguyên thủy tự nhận thức. Bằng cách minh họa, người ta có thể ra sự khác biệt giữ không gian được bao bọc trong một chiếc bình và không gian chứa trong một ngôi nhà. Nhưng khi chiếc bình bị đập vỡ bằng búa, không gian bên trong nó hòa trộn không thể tách rời với không gian bên ngoài. Tương tự, khi nói về tính không của những thứ riêng lẻ, người ta, như thể, tạo ra các ngăn trống trong tính giác bao trùm toàn thể. Tuy nhiên, trong đại không gian của tính giác, không sinh và trống rỗng, nơi chốn cuối cùng của giải thoát, không gian mẹ của đại tính không, chẳng có khác biệt nào giữa tính giác tự nhận thức và những thứ phát sinh bên trong nó. Như Longchenpa chiến thắng đã tuyên bố:

    Tất cả là không gian tối thượng duy nhất

    Trí tuệ nguyên sơ tự phát sinh.

    Mọi thứ không có ngoại lệ

    Đều thanh tịnh và có một hương vị duy nhất.

    Do đó, nó được xác lập rằng

    Tất cả là một, không hai.

    Đây là những gì được phát biểu trong bình luận quý giá này,

    Giải thích chủ đề thứ tư.

    Bản tính nền tảng sâu xa của mọi hiện tượng, chân lý rốt ráo, là xứ sở đơn nhất của pháp thân. Trong không gian này, cái không bị mê lầm (được gọi là trí tuệ bản nguyên tự nhận thức) không tách rời và khác biệt với cái bị mê lầm (các trạng thái tinh thần của vô minh). Cũng giống như không thể tìm thấy đất và đá thông thường trên một hòn đảo vàng. Có câu nói tương tự:

    Trong không gian của Phổ Hiền Toàn Thiện,

    Chẳng có vật nào là không tốt.

    Chẳng có tốt hay xấu

    Mọi thứ đều bình đẳng.

    Theo những lời này, người ta đi đến một niềm tin rõ ràng rằng mọi hiện tượng phát sinh từ tâm giác ngộ tối thượng đều là không gian bao la của tính bình đẳng, là pháp giới vượt ngoài phạm vi suy diễn khái niệm, trong đó không có tính giác cũng như thiếu thốn tính giác.

    Tính giác, tâm giác ngộ tối thượng, là bản tính nền tảng của mọi hiện tượng. Đó là không gian rộng mở và không trở ngại, thoát khỏi mọi vận động và biến đổi, dù trong quá khứ, hiện tại hay tương lai. Người ta đi đến một niềm tin rõ ràng rằng không gian này của pháp tính trống rỗng nguyên sơ (bản tính của nền tảng, thanh tịnh ngay từ đầu) và các hiện tượng được thiết lập trên con đường là hoàn toàn trống rỗng và nguyên thủy, không thể phân chia trong không gian của tính không nguyên thủy vĩ đại.


    Một tuyên bố kết thúc tên của chủ đề kim cương


    Đến đây kết thức bình luận bằng lời về chủ đề kim cương thứ tư về Kho Tàng Trân Bảo của Bản Tính Nền Tảng, trong đó xác lập mọi hiện tượng là trí tuệ bản nguyên tự nhận thức duy nhất.
  7. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    3. MỘT HƯỚNG DẪN LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG NGƯỜI CÓ THỂ HIỂU ĐƯỢC GIÁO LÝ NÀY


    Phần thứ ba trong văn bản của Longchenpa bao gồm các hướng dẫn liên quan đến những người có thể hiểu và duy trì giáo lý này. Nó được chia thành năm phần: những người được ban tặng giáo lý, vị thầy ban tặng, thái độ ban tặng, bản thân giáo lý, cách thức thực hiện và những lợi ích có được từ đó.

    1. Những người nhận được giáo lý này

    Phần đầu thảo luận về hai loại người: những người mà giáo lý này cần được giữ lại và những người cần được ban tặng giáo lý này.

    Như một lời mở đầu cho cuộc thảo luận này, có một trình bày chung về những người có khả năng tiếp nhận giáo lý. Tiếp theo là một mô tả cụ thể hơn về tính cách của những người tiếp nhận này: thứ nhất, những người không nên nhận giáo lý và thứ hai, những người nên được ban tặng giáo lý.


    Một trình bày chung

    1. Tinh túy của phương tiện thâm sâu nhất này

    Nên được tiết lộ riêng

    Cho những người rõ ràng có

    Cả may mắn và trí thông minh cao nhất.

    Nó nên được giữ lại

    Đối với những người cố chấp bám dính

    Vào những thừa thấp hơn và luật nhân quả,

    Đối với những người kém may mắn và thiếu thông minh.

    Về mật hoa tinh túy của cỗ xe bí mật thâm sâu vô thượng này, nó giống như lời đã nói:

    Từ việc khuấy sữa của thánh Pháp

    Sẽ có tinh chất bơ.

    Nhìn chung, con đường của Đại Toàn Thiện bao gồm ba lớp: lớp tâm trí, lớp không gian và lớp chỉ dẫn cốt lõi. Giáo lý hiện tại thuộc lớp chỉ dẫn cốt lõi bí mật, và đến lượt nó bao gồm bốn chu kỳ giảng dạy: bên ngoài, bên trong, bí mật và vô song. Văn bản hiện tại thuộc lớp cuối cùng trong bốn lớp này, Tâm Yếu Bí Mật.66 Và vì chu kỳ sau là tinh hoa, tinh huyết, từ trái tim của một trăm ngàn không hành mẫu, nên nó được gọi là Tâm Yếu của các Không Hành Mẫu.67

    Những người được truyền đạt giáo lý này phải tích lũy được khối lượng lớn công đức và trí tuệ, được tích lũy trong nhiều kỳ kiếp. Họ phải thuộc truyền thống Đại Thừa, phải có trí thông minh và vận may cao nhất, được ban cho những khả năng cực kỳ sắc bén. Họ phải có một niềm tin vững chắc, không lay chuyển vào con đường này, và họ cần được ban phúc với niềm tin chân thành và tin tưởng vào nó. Thêm vào đó, họ phải thể hiện một nỗ lực không chùng xuống cũng không căng thẳng và nên thấm nhuần từ và bi một cách tự nhiên. Giáo lý này nên được ban cho những chúng sinh như vậy.

    Ngược lại, không nên trao tặng cho những người thuộc về các thừa thấp hơn, những người ngoan cố bám dính vào giáo lý của họ và những người nuôi dưỡng quan điểm sai lầm về Đại Thừa. Mật điển Khối Châu Báu có nói như thế này:

    Đừng thốt ra lời nào của giáo lý này trước mặt các vị Thanh Văn, Duyên Giác, và những người tương tự. Vì họ có đầu óc hẹp hòi. Họ sẽ kinh hãi khi nghe những giáo lý như vậy. Họ sẽ ngất xỉu vì sợ hãi. Họ không cảm thấy sùng mộ Mật Chú. Họ sẽ từ chối nó, và hậu quả chín muồi của sự từ chối như vậy sẽ là kinh nghiệm về Đại Địa Ngục. Chẳng những bạn không được hướng dẫn họ và để họ lắng nghe bạn trong thực tế, bạn thậm chí không được nói về những giáo lý như thế này trước cơn gió đang thổi về phía họ.

    Hơn nữa, trong Chương Trí Tuệ của Con Đường Bồ Tát, có một phần đề cập đến những phản bác của những người bình thường, của Thanh Văn và Duy Thức phái. Đoạn mở đầu phần bác bỏ của Thanh Văn, có hai nghi vấn được đặt ra. Đầu tiên, họ xác định rằng kinh điển Đại Thừa là lời dạy của đức Phật, sau đó chỉ ra rằng con đường Đại Thừa là pháp đối trị (cho những che chướng nhận thức vi tế). Vì Thanh Văn không chấp nhận Đại Thừa là giáo lý của đức Phật, nên khi nêu quan điểm của riêng mình, họ nhắc đến lời khuyên của đức Phật dành cho Ca Chiên Diên, điều mà Long Thọ đã đề cập trong Các khổ thơ gốc về Trung Đạo của ông:

    Trong Lời khuyên dành cho Ca Chiên Diên của mình

    Chí Tôn, thông qua hiểu biết

    Về cả những thứ tồn tại và không tồn tại,

    Đã bác bỏ cả hai quan điểm: “đây là” và “đây không là”.

    Khi bình phẩm về giáo lý này với Ca Chiên Diên, các Thanh Văn nói rằng các đối tượng thô mở rộng không tồn tại thực sự. Tuy nhiên, họ không phủ nhận sự tồn tại của các hạt không có thành phần. Các Thanh Văn cũng nói rằng:

    Sắc giống như bong bóng vỡ.

    Thọ như bọt trên nước

    Tưởng có thể ví như ảo ảnh.

    Các yếu tố điều kiện như ảo ảnh huyễn thuật.

    Người thân của Mặt trời đã nói như vậy.

    Theo đó, các thanh văn khẳng định sự không tồn tại của cái ngã hiện tượng chỉ theo nghĩa của các đối tượng thô mở rộng. Họ chẳng xác nhận tính không bốn, tám hoặc mười tám loại tính không, vân vân, như đã nếu trong các kinh điển Đại Thừa. Quả thực, họ bác bỏ những giáo lý như vậy, họ phỉ báng chúng là quan điểm ghê sợ về chủ nghĩa hư vô. Thậm chí khi các bằng chứng về tính xác thực của các giáo lý Đại Thừa được đưa ra, phản ứng của họ là cho rằng chúng thiếu bằng chứng và các giáo lý như vậy không phải là lời của đức Phật.

    Trong quá khứ, hai nhà sư Ấn Độ tu tập mười hai hạnh từ bỏ đã đến gặp Atisa và yêu cầu giáo lý. Lúc đầu, Atisa đã đưa cho họ những chỉ dẫn thuộc về Tiểu Thừa và các nhà sư rất vui mừng. Tuy nhiên khi Atisa tiếp tục nói với họ về bốn tính không và những giáo lý khác của Đại Thừa, họ lấy tay bịt tai lại và yêu cầu ông đừng nói những điều như vậy. Do đó, Đại Thừa nằm ngoài tầm với của những người coi quan điểm Tiểu Thừa là tối cao. Hơn nữa, những người có chấp trước thiên kiến vào những giáo lý về luật nhân quan, những người nhìn mọi thứ theo lý nhân quả, nói cách khác, những chúng sinh có tâm trí hẹp hòi và ít may mắn, không nên tiếp nhận những giáo lý sâu sắc và phi thường của Đại Thừa. Vì nếu những giáo lý như - không gian như vậy được ban cho những người thiếu chuẩn bị thích hợp, họ sẽ hiểu lầm và phản đối chúng, và kết quả là họ sẽ phải trải qua những đau khổ trong các cõi thấp hơn. Đây là lý do vì sao giáo lý này phải được giữ tuyệt mật và che giấu từ những người kém may mắn. Như được nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Nếu Tôi, Đấng Vĩ Đại, dạy những điều này

    Cho những người giữ vững nhân thừa,

    Thì cũng giống như giáo lý về luật nhân quả thế gian

    Ngoài ra, trong cùng văn bản có nói:

    Giáo lý này, Tôi, đấng sáng tạo toàn thể, sẽ không ban cho

    Những người bám dính vào thừa nhân quả,

    Vì nếu tôi trình bày

    Họ sẽ đáp lại rằng hành động, tốt hoặc xấu,

    Tạo ra nghiệp quả cho họ.

    Bởi vậy tôi, Đấng Toàn Thiện, họ sẽ chê bai.

    Và do đó, tôi, Người Hoàn Hảo,

    Họ sẽ không được gặp trong nhiều thời đại.

    Làm sao lý do cho sự che giấu như vậy lại có thể là vì giáo lý bí mật sâu xa này theo một nghĩa nào đó là sai lầm? Ngược lại, lý do trọng yếu để giữ nó cực kỳ ẩn mật là để ngăn chặn những người kém may mắn có quan điểm sai lầm về nó.
  8. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    3. Một mô tả cụ thể về những người cần phải giữ lại giáo lý này

    2. Tránh xa những người chỉ trích thầy mình,

    Những người tỏ ra hung dữ với những thân tộc kim cương của họ

    Những người phản bội bí mật, nói về nó công khai,

    Không thành thật và keo kiệt, có tính tình xấu xa,

    Những người say mê những sự vật thế tục

    Hãy giữ giáo lý bí mật đối với tất cả những người này.

    Lòng tốt của một vị thầy là gấp đôi nếu ông ban truyền quán đỉnh và giải thích mật điển. Lòng tốt của ông là gấp ba nếu, ngoài ra, ông còn ban những giáo lý sâu xa về chỉ dẫn cốt lõi. Thay vì đề cập đến cả ba điều này cùng nhau, nếu ai đã nhận được chỉ một trong số chúng, người đó cũng không bao giờ nên, ngay cả khi phải trả giá bằng mạng sống của mình, quay lưng lại với thầy mình dù chỉ trong ý niệm, hoặc nói về ngài bằng những lời chỉ trích. Trong Lời thú nhận về mười bốn sự sa sút của Mật chú của đạo sư Sura, nói rằng:

    Thành tựu của Kim cương trì

    Được cho là đến từ vị thầy.

    Vì vậy, sự suy thoái trước hết

    Là do có thái độ coi thường và khinh miệt đối với thầy.

    Và trong mật điển Tính Giác Tự Sinh, nói rằng:

    Không tỏ lòng tôn kính và sùng bái

    Đối với thầy, đạo sư của bạn,

    Bỏ qua mọi lòng tốt mà ông biểu hiện ...

    Và:

    Một người cầu học chưa qua kiểm tra

    Là kẻ thù của vị thầy.

    Đừng giải thích các giáo lý của Đại Toàn Thiện

    Cho những người không thực hành chúng.

    Một lần nữa, Vua Sáng Tạo Toàn Thể tuyên bố:

    Bây giờ tôi nói về loại ác,

    Của những kẻ là bình chứa không xứng đáng.

    Họ thích thú danh tiếng và sự vật thế gian,

    Kiêu ngạo, và đối với các bậc thánh

    Tỏ ra không tôn kính.

    Và khi nản lòng, họ không thể kiên trì.

    Hơn nữa, nếu có ai chỉ trích một vị thầy, ngay cả người chỉ giải thích chỉ một câu thơ về giáo lý sâu xa của Mật Chú và nếu người đó không coi ngài là thầy mình, lỗi lầm đó là cực kỳ nghiêm trọng. Như đã nói:

    Do không coi người đã dạy một câu thơ là thầy mình,

    Người đó sẽ làm chó, trong một trăm kiếp

    Rồi sau đó sẽ sinh ra trong một gia đình xấu.

    Nuôi dưỡng lòng sân hận với người bạn đạo của mình cũng là một lỗi lầm nghiêm trọng. Những người đã cùng nhau nhận được những quán đỉnh thâm sâu về Mật Chú, đặc biệt là các quán đỉnh chín muồi và những chỉ dẫn Đại Toàn Thiện, giống như anh em song sinh. Nếu người này có lòng thù địch với người kia, thì lỗi lầm rất nghiêm trọng. Đạo sư Sura đã nói:

    Cảm thấy tức giận với kim cương hữu

    Và nói về những hành vi sai trái nhỏ nhặt của họ

    Là (tội lỗi) thứ ba.

    Hơn nữa, người ta không nên phản bội, bằng cách không tuân thủ đúng đắn, các cấp độ khác nhau của những giới nguyện samaya đã được giải thích bởi vị thầy khi ngài giới thiệu người đó vào các giáo lý thâm sâu bí mật. Những giáo lý sâu xa cần được kinh nghiệm thông qua những phương pháp hết sức bí mật không bao giờ được công bố hoặc truyền đạt cho những người có samaya không trong sạch hoặc thiếu phúc lành cần thiết, nếu chưa có sự đồng ý từ thầy của người đó. Điều đó được nói trong mật điển Sự hợp nhất của mặt trời và mặt trăng:

    Mật Chú không sai lầm,

    Và nó được giữ bí mật cao nhất vì lợi ích chúng sinh.

    Vì bí mật được giữ sẽ đảm bảo cho sự thành tựu

    Vì vậy người ta nói về “Mật Chú”.

    Và đạo sư Sura nói:

    Sự sa sút thứ bảy là nói những điều bí mật

    Với những người chưa sẵn sàng.

    Và điều này được chứng thực bởi Tính Giác Tự Phát Sinh, bắt đầu bằng những từ:

    Thực hành Mật Tông không đúng cách ...
    Vì vậy, như những văn bản này nói, người ta không bao giờ được nói về những chỉ dẫn sâu xa cho những ai không tuân thủ các thệ nguyên samaya của những quán đỉnh sâu xa hoặc cho những người không đủ tư cách để thọ nhận những chỉ dẫn cốt lõi sâu xa. Vì dù người ta có thể chỉ dạy nhiều đến đâu cho những người thiếu niềm tin vững chắc vào những giáo lý sâu xa, thì những phẩm chất tinh thần sẽ không phát sinh trong tâm trí những người đó. Những chỉ dẫn sâu xa này thuộc về dòng truyền thừa của sự ban phúc. Nếu thiếu niềm tin và lòng sùng kính, thì không thể có những phẩm chất nhỏ nhất của kinh nghiệm và sự chứng ngộ xuất hiện trong tâm trí chúng sinh.

    Nếu vì lòng tham và tính keo kiệt mà người ta không hào phóng với sự nghiệp của Pháp và vị thầy, dù có thể sở hữu bao nhiêu của cải, thì người đó sẽ không có khả năng buông bỏ những xiềng xích trói buộc mình, cụ thể là sự bám chấp vào tài sản của mình. Những người như thế này là những bình chứa không đủ tư cách cho giáo lý.

    Nuhwxng người có tính cách xấu xa và xuất thân thấp hèn cũng là những người không thích hợp để truyền bá giáo lý. Giống như các thầy Kadampa trong quá khứ đã từng nói, những lỗi lầm của một đệ tử có thể được sửa chữa, nhưng rất khó để sửa chữa tính cách của một người. Những người có tính cách đê tiện và thấp hèn không trân trọng Pháp, vị thầy và đạo hữu. Họ không tôn trọng cũng như quý mến những người này. Vì lý do này, họ có khả năng chống lại thầy của mình. Giáo lý sâu sắc không nên truyền cho những người như vậy, vì họ là những người không thích hợp.

    Những người không thể vượt qua xiềng xích của việc ngộ nhận về sự tồn tại đích thực của những gì mà trên thực tế chỉ là các hình tướng huyễn ảo của cuộc đời, cũng là những bình chứa không phù hợp, và đối với họ, giáo lý cũng không nên được tiết lộ. Ngược lại, những chỉ dẫn này cần được giữ cực bí mật, vì những người như vậy không có cơ hội để có thể thực hành chúng một cách đúng đắn. Quả thực, chẳng những không có lợi ích gì mà còn có khả năng gây ra tác hại lớn cho cả thầy và trò.
  9. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    2. Những người cần được dạy giáo lý


    Mục này được chia thành hai phần: tính cách của đệ tử đủ tiêu chuẩn và cách cử xử của họ.


    3. Tính cách của đệ tử đủ tiêu chuẩn

    3. Những người có phẩm chất cao nhất, được phú cho nhiều may mắn,

    Là vật chứa phù hợp cho Đại Toàn Thiện.

    Họ tôn trọng các vị thầy mình và có kiến thức sâu rộng.

    Họ vui vẻ và cởi mở,

    Là những người bạn trung thành và hào phóng.

    Họ không có tư tưởng tham vọng

    Và có rất ít bám chấp.

    Họ từ bỏ mọi mối bận tâm cho cuộc sống hiện tại

    Và quyết tâm đạt được giác ngộ.

    Được phú cho niềm tin và tính siêng năng,

    Họ có khả năng giữ bí mật.

    Đây là những người mà

    Giáo lý nên được ban cho.

    Những chúng sinh may mắn là những người với phúc nghiệp hoàn hảo; họ là những đệ tử tốt nhất. Những người đặc biệt có năng khiếu làm bình chứa của Đại Toàn Thiện là những người may mắn có lòng tôn trọng đặc biệt đối với giáo lý này, với vị thầy của họ và với cộng đồng đạo học. Họ phải có sự phân biệt sắc sảo và nhanh chóng cùng với kiến thức cho phép họ tiếp thu, ghi nhớ những chỉ dẫn của vị thầy. Họ có tâm trí rộng mở và có khả năng tiếp thu giáo lý. Hơn nữa, họ vui vẻ, là người bạn lâu năm và trung thành. Họ dễ chịu, có thể cống hiến bất cứ thứ gì họ có cho sự nghiệp của Pháp và vị thầy của họ. Như được nói trong Vua Sáng Tạo Toàn Thể:

    Họ có niềm tin lớn, các giới nguyên samaya, tinh tấn,

    Từ bi, hoan hỷ, và chán ngán lối sống thế gian.

    Họ không chìm đắm trong nhiều suy tư

    Và không dinh mắc vào thân thể của họ,

    Con cái, vợ chồng, người hầu, tài sản.

    Họ cúng dường tất cả với tín tâm và hoan hỷ.

    Những phẩm chất này là dấu hiệu của niềm tin và samaya thanh khiết.

    Mong sao tất cả những người như vậy được ban tặng giáo lý tinh yếu.

    Hơn nữa, những đệ tử như vậy không kiêu ngạo và tự phụ. Họ không chứa đầy những ý niệm tham vọng hay khao khát trở nên vĩ đại. Họ không dính mắc nhiều vào vẻ bề ngoài của cuộc sống này. Tất cả những đặc điểm này đều cần thiết cho những người là bình chứa thích hợp cho giáo lý Đại Toàn Thiện. Tính Giác Tự Sinh liệt kê các phẩm chất cần thiết như sau:

    Niềm tin mạnh mẽ, rất siêng năng,

    Kiến thức sâu rộng, ít bám luyến,

    Rất tôn kính, và thực hành Mật Chú,

    Không xao lãng, thoát khỏi mọi phân tâm,

    Giới nguyên samaya thanh tịnh, và nỗ lực thực hành ...

    Những người là bình chứa giáo lý nếu có thể cũng nên tránh xa các hoạt động của cuộc sống này, và từ bỏ tám mối quan tâm thế gian, để lại chúng phía sau như một cái gì đó nằm chết trên đường. Ngay và đêm, họ nên nỗ lực thực hành dẫn đến giác ngộ, giống như những người đói khát thèm muốn thức ăn và đồ uống. Với niềm tin không lay chuyển, họ nên nhìn thấy các vị thầy của mình là những vị Phật bằng xương bằng thịt và không ngừng tưởng nhớ tới họ với tình cảm tha thiết. Họ nên thực hành các chỉ dẫn với tính siêng năng như các cung thủ, không quá căng cũng không quá chùng khi kéo dây cung. Một lần nữa ta thấy trong Tính Giác Tự Sinh:

    Nghĩ đến thầy của bạn với tình cảm sâu sắc và không đổi,

    Hãy tỉnh tảo nhưng vẫn thư giãn trong thiền định.

    Hành động theo lời thầy của bạn

    Và với thệ nguyện samaya thanh khiết,

    Hãy cư xử hòa hợp với người khác.

    Và:

    Hành động hài hòa với cảm nhận của người khác,

    Xem thầy mình và Như Lai

    Là như nhau, không khác biệt,

    Vì đây là dấu hiệu thực sự của một đệ tử.

    Thêm vào, người ta phải có khả năng giữ bí mật, không nói về giáo lý sâu xa và bí mật với những người không phải là bình chứa phù hợp. Một lần nữa, trong Tính Giác Tự Sinh có nói:

    Hành động đúng đắn vì lợi ích của chính mình

    Giữ gìn những bí mật được giao phó,

    Không vi phạm giáo lý kim cương.

    Việc ban tặng và truyền bá dần dần những giáo lý phi thường cho các đệ tử may mắn có những phẩm chất đặc biệt này là điều có ý nghĩa cao cả nhất, vì họ là những chiếc bình xứng đáng nhất.

    3. Cung cách mà các đệ tử này nên cư xử

    4. Với quà tặng họ nên làm hài lòng các vị thầy của mình,

    Và với một tinh thần cam kết

    Họ nên hết lòng yêu cầu hướng dẫn.

    Khi lời dạy đã được ban ra,

    Họ nên thực hành nó chính xác

    Và đạt đến trình độ cạn kiệt các hiện tượng

    Trong bản tính nền tảng.

    Trước khi yêu cầu những giáo lý tinh túy, các đệ tử là những bình chứa phù hợp theo cách vừa giải thích nên làm vui lòng thầy của họ bằng những lễ vật và bằng nhiều cách khéo léo. Sau đó, không quan tâm đến cuộc sống hiện tại này, họ nên hứa sẽ thực hiện bất cứ chỉ dẫn bí mật và thâm sâu nào mà thầy của họ sẽ truyền đạt, thực hành chúng với quyết tâm mạnh mẽ và kiên trì mặc dù điều đó có thể khiến họ mất mạng. Chính trong trạng thái tinh thần này mà nọ nên hết lòng đưa ra thỉnh cầu của mình. Điều đó được nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Nếu tôi nhận được những lời dạy tinh túy này,

    Những sự vật thế gian còn gì quan trọng đối với tôi?

    “Nếu nhận được chúng, tôi sẽ chịu đựng mọi gian khổ”

    Hãy ban giáo lý cho những người

    Thực hiện lời hứa này trọn vẹn.

    Như văn bản này nói, để nhấn mạnh tính vĩ đại của giáo lý siêu phàm, các đệ tử nên thực hiện cam kết tinh thần để cúng dường nhữ thứ quý giá như vàng, thân thể, tài sản của chính họ, và thậm chí là cả mạng sống của mình. Không chút do dự, họ nên cúng dường toàn bộ tài sản của mình, lớn hay nhỏ, nhà cửa, đất đai, vân vân. Mặc dù họ không cần những thứ như vậy, các vị thầy nên chấp nhận những lễ vật này, dâng chúng lên tam bảo, nhờ đó cho phép đệ tử tích lũy công đức. Vua sáng tạo toàn thể tuyên bố:

    Tóm lại, bạn nên bày ra

    Thân thể và tính mạng của bạn,

    Không cần tính đến đồ đạc của bạn,

    Gia súc và của cải của bạn.

    Và mặc dù họ không cần chúng,

    Chư thánh nên nhận chúng,

    Cúng dường chúng cho tam bảo.

    Điều đó cũng được nói trong Tính giác tự sinh:

    Vị thầy ban tặng những chỉ dẫn cốt lõi,

    Nên được phục vụ bằng những lễ vật

    Của thân thể, báu vật, mọi thứ quý hiếm nhất.

    Và mật điển Siêu Việt Ngôn Từ:

    Đối với những vị thầy ban tặng chỉ dẫn và truyền trao

    Bạn nên cúng dường cha, mẹ, chú, mắt của bạn

    Trang sức, con cái, báu vật của cải của bạn,

    Bất cứ thứ gì bạn yêu thích và trân trọng nhất.

    Các vị thầy nên ban tặng toàn bộ những chỉ dẫn sâu xa mà họ có cho những đệ tử đủ tư cách như thế này, bảo vệ họ bằng sự chăm sóc quý mến. Về phần mình, các đệ tử nên thực hành những lời dạy này đúng đắn, không quan tâm đến những sự vật của cuộc sống này, và với lòng kiên trì mạnh mẽ cộng với quyết tâm, họ nên sẵn sàng chịu đựng bất cứ khó khăn gian khổ nào có thể nảy sinh. Trong chính thân thể này, họ cần có khả năng tiến triển đến cấp độ thứ mười sáu được gọi là Trí Tuệ Vô Song,69 chứng đắc trạng thái cạn kiệt của các hiện tượng trong pháp tính, bản tính nền tảng. Nói cách khác, họ cần có khả năng đạt được giải thoát trong thân cái bình trẻ trung.
  10. Prahevajra

    Prahevajra Thành viên quen thuộc Staff Member

    Tham gia ngày:
    04/09/2015
    Bài viết:
    299
    Đã được thích:
    0
    1. Những phẩm chất của người thầy truyền đạt giáo lý

    5. Các vị thầy phải có học thức,

    Có đủ các phẩm chất cần thiết.

    Những vị thầy truyền bá Mật Chú phải được phú cho học thức uyên bác cũng như lòng từ bi tự nhiên. Họ không được để các giới nguyện samaya, đã thọ nhận trong lễ quán đỉnh, suy giảm. Tâm trí của họ phải được giải thoát thông qua sự chứng ngộ của họ, và họ phải có cả khả năng và kỹ năng trong việc giải thoát tâm trí của người khác một cách từ bi. Tất cả những phẩm chất cần thiết này họ phải sở hữu đầy đủ. Tính giác tự sinh đã nói thế này về những vị thầy có thể ban tặng những chỉ dẫn cốt lõi của Đại Toàn Thiện Quang Minh:

    Họ không dao động khỏi cái thấy;

    Họ từ bỏ mọi hoạt động, bên ngoài, bên trong, bí mật.

    Họ tận hưởng kho tàng vô tận những phẩm tính hoàn hảo,

    Giống như những viên ngọc quý.

    Và ta cũng thấy trong mật điển Siêu Việt Ngôn Từ:

    Những vị thầy có đủ phẩm chất

    Chính họ là nguồn của những phẩm tính hoàn hảo

    Và nắm giữ nền tảng của Phật quả toàn thiện.

    Như điều này ngụ ý, những vị thầy như vậy phải tự mình nhận được quán đỉnh ngôn từ quý giá từ tính thanh tịnh nguyên thủy, và họ cần tuân thủ samaya của cái chẳng có gì để giữ.70 Nhờ cái thấy và thiền định hoàn toàn thanh tịnh của họ, họ phải hoàn toàn đạt được cấp độ cạn kiệt các hiện tượng, bản tính nền tảng giống như không gian tối thượng. Cuối cùng, họ phải có lòng từ bi và khả năng đào tạo củng cố những người khác lên tới cùng trình độ như chính họ. Đây là tất cả những đặc điểm không thể thiếu.

    1. Cung cách ban tặng giáo lý

    Họ nên khảo sát các đệ tử của mình

    Và dần dần ban truyền những chỉ dẫn quan trọng.

    Nhưng họ nên giữ những giáo lý này

    Tránh xa những người nhận không phù hợp.

    Họ nên đóng dấu chúng bằng niêm phong bí mật

    Và giấu chúng bằng niêm phong của sự ủy thác cho họ.

    Những vị thầy đủ tiêu chuẩn phải kiểm tra đệ tử của mình một cách đúng đắn để xem họ có phải là những chiếc bình phù hợp hay không. Sau đó, dần dần họ nên ban cho họ những điểm chính của giáo lý tùy theo sự nhạy bén về mặt tinh thần của đệ tử. Nếu các vị thầy không khảo sát đệ tử của mình đúng cách, giáo lý của họ sẽ không phù hợp với khả năng tinh thần của đệ tử. Nếu họ ban giáo lý sâu sắc vào lúc bốc đồng cho bất kỳ ai họ gặp, những người không phù hợp với yêu cầu của những giáo lý như vậy sẽ làm sai lệch chúng và sức mạnh gia trì của chính những giáo lý đó sẽ biến mất. Những điều này và những thứ tai hại khác sẽ xảy ra. Giống như khi một chiếc bình bị vỡ: đồ chứa của nó bị đổ ra ngoài. Ngay cả những vị thầy có chứng ngộ cao cũng không nên ban nhiều giáo lý sâu sắc cùng một lúc, bỏ qua thứ tự thích hợp của chúng khi xét đến khả năng của đệ tử. Nếu một người tiêu thụ trong một ngày lượng thức ăn của cả một năm, dạ dày của người đó sẽ không thể tiêu hóa được. Tương tự, ngay cả đối với các bình chứa thích hợp với giáo lý, nếu các đệ tử chưa trưởng thành thông qua thực hành, hậu quả xấu của cách truyền đạt giáo lý như vậy sẽ là các đệ tử trở nên không thấm nhuần được chúng. Trong tác phẩm Một cuộc kiểm tra về điển then chốt của tính kịp thời, Liên Hoa Sinh đã nói:

    Không phải tất cả một lúc mà dần dần

    Chiếc bình phải được xem xét tỉ mỉ.

    Giáo lý phải được truyền đạt từng bước

    Và được giấu kín, che đậy, từ những người

    Dính mắc vào thứ này, cuộc sống hiện tại của họ.

    Đối với những vị thầy có đủ phẩm chất, hạnh phúc và đau khổ đều như nhau, vàng và đất như nhau, không gian và lòng bàn tay như nhau. Họ không cần của cải thế gian, nhưng để nhấn mạnh tính vĩ đại của Pháp cao cả và như một phương tiện để kiểm tra tâm trí của các đệ tử, họ phải chấp nhận các lễ vật. Khi nói đến việc cúng dường và tỏ lòng tôn kính, những người là bình chứa thích hợp, những người được phú cho lòng kính trọng và sùng mộ đối với Pháp, sẽ không quan tâm đến bản thân minh hoặc cuộc sống hoặc tài sản của mình. Họ sẽ cống hiến hết mình cho Giáo lý sâu sắc. Ngược lại, những người là bình chứa không thích hợp, chỉ nói suông bằng những lời hoa mỹ nhưng sẽ không cống hiến hết mình cho giáo lý. Do đó, điều quan trọng nhất là các đệ tử phải được thẩm tra. Như được nói trong Vua sáng tạo toàn thể:

    Những đệ tử tốt, một khi đã được khảo sát,

    Hãy khẩn cầu với những lễ vật quý giá,

    Và nhờ đó lòng tin của họ có thể được nhận ra.

    Nhưng những người kiêu ngạo và bám chấp mạnh mẽ,

    Sự quan tâm của họ dành cho người khác không chân thành

    Đối với họ, Vua sáng tạo toàn thể không được tiết lộ.

    Vì vậy, những giáo lý này phải được giữ bí mật tuyệt đối với những người không phải là bình chứa phù hợp. Chúng thậm chí không được nói đến trong cơn gió thổi theo hướng của họ. Nên ra lệnh cho những người bảo vệ giáo lý Đại Toàn Thiện đặt lên chúng niêm phong bí mật, niêm phong kho báu, niêm phong che giấu, niêm phong huyền bí, niêm phong giao phó, niêm phong của thân, khẩu, ý giác ngộ. Người ta không nên cảm thấy xiêu lòng mà giải thích giáo lý bí mật cho những ai không phù hợp. Không nên phát âm một chữ nào cho họ. Không nên đưa các văn bản vào tay họ. Phải giữ bí mật chúng. Longchenpa tuyên bố rằng chúng phải được niêm phong như những giáo lý bí mật và không được tiết lộ cho những ai không phù hợp. Ngược lại chúng phải thực sự được dạy cho những người phù hợp, che giấu chúng một cách nghiêm ngặt bằng niêm phong ủy thác. Như ta thấy trong Tính giác tự sinh:

    Những chỉ dẫn cốt lõi của Đại Toàn Thiện

    Không nên đổ vào những chiếc bình thấp kém và tầm thường.

    Nếu tinh túy nghĩa là chỉ dành cho một ít người trung thành

    Đổ vào một chiếc cốc tồi hoặc tầm thường,

    Nó sẽ bị mất, và cả thầy lẫn trò

    Sẽ bị rơi xuống vực thẳm.

    Do đó, giáo lý này nên được giữ lại

    Đối với những người có tâm trí hạ tiện, thấp hèn.
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này