1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Lịch Sử Khám Phá Không Gian(Những mốc lớn trong lịch sử chinh phục vũ trụ )

Chủ đề trong 'Thiên văn học' bởi kirpf, 29/01/2004.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. kirpf

    kirpf Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    11/09/2003
    Bài viết:
    582
    Đã được thích:
    0
    Lịch Sử Khám Phá Không Gian(Những mốc lớn trong lịch sử chinh phục vũ trụ )

    Vào ngày 4 tháng 10 năm 1957, thế giới truyền tin rằng, Liên Sô đã thành công đầu tiên đưa vật thể vào qũi đạo của Trái Ðất. Mặt dù đó chỉ khởi bước tiến đầu tiên cho sự khám phá Không gian,nhưng củng là bước đầu tiến triển trong lich sử nhân loại.
    [​IMG]
    Sự khám phá không gian vẫn kéo dài khi nhà phát minh đầu tiên đã đưa những vật thể vào vĩ đạo. Các nhà phát minh khoa học đã nhận định rằng ngoài thế giới con người đang sinh sống cần có sự phát triển về khám phá không gian. Ðầu tiên người ta tìm thấy những tài liệu đã được viết của nhà phát minh không gian Greek Plutarch, vào thế kỷ thứ nhất.

    Với sự phát minh của kiến viển ảnh vào thế kỷ thứ 16, khoa học gia phát minh không gian đã áp dụng lý thuyết của các nhà thiên văn học (Astronomers) Copernicus, Kepler, and Galileo, trong suốt thế kỷ 16 và 17, sự duy chuyển động những thể vật từ mặt đất cho bay vào không gian.

    Sớm nhất là 1232 tại Trung Hoa đã dùng hòa cung tên bắn những đầu lữa được sáng chế bằng bột thuốc súng (gunpowder), hay là còn gọi ?otên lữa bay? để xâm lăng vào lãnh thổ Mongols. Những cung tên lữa đó khởi đầu như vũ khí sớm nhất đưa đến việc cách sáng chế cho tên lữa đạn đạo thế kỷ sau này, cũng là phương cách phát triển đẩy mạnh đến đệ nhị thế chiến trong nhiều năm qua.

    Dr.Goddard và Hỏa tiển :
    Dr. Robert H.Goddard là một trong những người đầu tiên sáng tạo ra những Hỏa tiển.Sinh tại Worcester Massachusetts in 1882 .Lúc 16 tuổi, Ông ta rất thích đọc về truyện Khoa học giả tưởng(science fiction), với những ước mơ được bay vào không gian.Năm 1915 Robert chỉ là người phụ tá giáo sư tai trường Đại Học Clark .Mãi đến năm 1926, ông ta đã bắt đầu thiết kế và phát minh Hỏa tiển.

    Chưa đến thế kỷ 20, nhưng cũng đã phát triển Hoả tiển sự đẩy mạnh phong trào không gian của Dr. Goddard một nhà thiên tài cho Hỏa tiển đi vào không gian rất cực kỳ hữu hiệu và đầy ý nghĩa trong thế giới thiên văn học không gian , đánh dấu khởi sự bước tiến không gian cho nhân loại .

    Dr.Robert H. Goddard , một nhà vật lý học. Ông ta đã thấu hiểu khái niệm đề cương tổng quác lý thuyết ?oSức Sung Kích?(momentum), Mật khối,Thời gian và Tốc độ (mass,time,velocity) để tiếp súc đến việc chế Hỏa tiển lúc bấy giờ.

    Sớm nhất năm 1915,Dr. Goddard hứa hẹn trong công việc dùng lý thuyết cuả sự đẩy hỏa tiển (Rocket propulsion) và sẽ cùng nghiên cứu về khí tượng trên không của Trái đất.

    Dr. Goddard đả cho sử dụng nhiều thí nghiệm những hoả tiển nhỏ với năng lực dùng chất lỏng bằng nhiên liệu (đốt cháy ) để thử phóng vào không gian một Hoả tiển đầu tiên của mình, đã thành công vào ngày 16 tháng 3 năm 1926 tại Auburn, Massachusetts. Đây là cuộc thí nghiệm đầu tiên trong lich sử kỷ thuật không gian(space technology).

    Sau khi sự thành công cuả Dr. Goddard,các nhà khoa học Đức và Nga trỡ nên quan tâm đến vấn đề Hỏa Tiển.Giữa thập niên 1930,các nhà khoa học nhiều quốc gia trên thế giới và Hoa Kỳ đã cho phóng thử những Hỏa tiển bay xa hơn một dạm(1 mile) vào không gian,nhưng ngừơi ta thâu nhận được rằng ,chỉ có Nga(Sôviết) phóng đi với độ cao nhất đến 12 miles trong năm 1936.

    Tuy nhiên sau này Nga không còn quan tâm nhiều đến Hỏa tiển vì tạm thời đả bỏ lỡ chương trình nhiên cứu Hỏa tiển trong một thời gian , cũng không đổi mới chương trình Hỏa tiển của họ từ khi chiến tranh thứ 2 bùng nổ. Tại Hoa Kỳ ,Dr. Goddard muốn nghiên cứu những Hỏa tiển lớn hơn so với Hỏa tiển nhỏ trước đây mà Ông ta đã thí nghiệm, nhưng không có đủ khả năng về mặt tài chánh để hình thành với những Hỏa tiển lớn hơn. Điều này đã hoãn trì lại cho Đức tiếp tục phát triễn trong vị trí khả năng Hỏa tiển phòng không dùng trong Quân sự thời chiến tranh.

    Thông qua đệ nhị thế chiến, Đức đã chế loại hỏa tiển hạn nặng trong cơ quan thí nghiệm tai trạm Peenemunde Đức.Một Hỏa tiển khổng lồ có tên là ?oDeadly V-2? . Hỏa tiển này đã được sử đụng đề đối phó trong cuộc chiến tranh với Anh quốc và các phe đồng minh trên thế giới lúc đang bùng nổ trong những năm chiến tranh.

    Sau khi Đức đã bại trận, cả hai Hoa Kỳ và Nga đã chiếm giử đươc V-2 Rocket dùng nó như là nền tảng cơ bản để phát triển cho sự việc phát minh chế tạo hàn loạt đạn bắn bay xa nhiều cây số, điều kiện này còn có thể giúp cho quá trình phát triển sớm với sự việc phóng Hỏa tiển vào không gian. V-2 Hoa Kỳ đã dùng như dụng cụ vũ khí dẫn đến việc chế tạo Hỏa tiển có thể bắn cao hơn 100 dặm (100 miles) từ mặt đất lên không trung, mang những động cơ vào quĩ đạo để tiềm kiếm những dấu vết về mặt khí tượng trên không.Hoả tiển này được cứu xét như là chiến bay không gian đầu tiên và thâu nhận được những sự kiện không khí bên trên trái đất.

    Không bao lâu thì các nhà khoa học đã thành công hướng dẫn động cơ bay chung quanh trên đường vĩ đạo cuả Trái đất.Rồi từ đó các tin tức truyền hình,báo chí đã thông tin rằng điều kiện không gian sẽ tái thiết và thành lập tiếp súc như Mật độ không khí,Năng lượng mặt trời, và Sức hút .

    Chuyến Bay Sớm Nhất:

    Vào tháng 7 năm 1955,Hoa kỳ thông báo chuẩn bị cho phóng Hoả tiển đưa tàu không gian vào qũi đạo chương trình này còn gọi ?o Project Vanguard?. Ngày 4 tháng 10 năm 1957 trước những tháng Vanguard sẽ chuẩn bị cho phóng đi.Các nhà khoa học Nga cũng đã gửi Sputnik I vào vĩ đạo,theo sau đó 30 ngày sau Sputnik II cũng đưa vào vĩ đạo.

    Chương trình thứ 2 của Hoa Kỳ còn gọi là? Explorer?, cũng đã thành công phóng đi ngày 31 tháng 1 năm 1958.Kể từ ngày 17tháng 3 năm 1958, dừơng như 32 năm kể từ ngày Dr. Goddard với sự phóng Hỏa tiển đầu tiên ,Vanguard được đặt trong quỹ đạo.Nó bay vòng quanh đường tròn của trái đất.Ngày nay, về sự dự đoán đời sống qũy đạo có khác nhau từ 200 đến 2,000 năm!

    Một sự khả quan hoàn thành sớm của những năm thời đại không gian đã đến vào tháng 4 năm 1961,thế giới vũ trụ khi tàu không gian Vostok Nga đã mang phi hành gia Yuri Gagarin băng qua một vòng trong qũi đạo duy nhất , rồi trỡ về Trái đất một cách an toàn.Một tháng sau,cơ quan hàng không và quốc gia của Hoa Kỳ(NASA) đã phóng đi Hỏa tiển mang theo taù con thôi có hình thù thiết bị giống cái chuông(a Bell-shaped capsule) được mang tên là Freedom 7.Con tàu này đã đưa phi hành gia Alan Sheppard xa hơn 100 miles từ Trái đất.
    [​IMG]
    Vào tháng 2 năm 1962, một sức mạnh phi thừơng của Hỏa tiển Atlas đã đưa hành gia người Mỹ John H. Glenn,Jr.,với trang bị cho tàu không gian Friendship 7 trong nhiệm vụ vòng quanh ba vòng trên đường quĩ đạo cuả Trái đất.Không giống như những sự trang bị lúc đầu của Nga .Glenn không giống như là người phi hành gia lúc ban đầu khi sư kiện bất ngờ làm dáng điệu anh ta thấy có dấu hiệu thay đổi trong con tàu ,có tất cả 67 hệ thống điều chỉnh trong con tàu để Anh ta sử dụng hay kiểm soát.Giác quan lúc naỳ đã ràn buộc thể xát của Glenn . Anh ta đã truyền tin báo động về sự phản ứng trỡ ngại trên thân thể thay đổi khác thường nên anh ta đã trỡ về Trái đất.

    Phi hành gia Glenn-Trong cả hai cuôc thí nghiệm, cũng là người kinh nghiệm đã chứng minh được con người có nền tảng cao hơn cả bộ máy trong không gian.

    Một nhà khoa hoc gia không gian đã nhấn mạnh rằng,chuyến bay tiêu biểu rằng con người là ?o điạ ngục nhiều hơn so với họp đen dụng cụ của điện tử?.( ý nghiã,người bay sẽ nguy hiểm hơn so với người ngồi điều chỉnh trong phòng tại trạm không gian ở măt đất).

    John Glenn với chuyến bay đầu tiên trên đường qũi đạo tai cơ quan NASA Project Mercury.Trước sự dự trù bao gồm cho năm 1963,cũng có thêm ba hành gia khác như hành gia M.scott Carpenter với 3 vòng quanh Trái đất trong đường qũi đạo cùng Aurora 7; Walter M.Schirra với 6 vòng trong Sigma 7 ;và L. Gordon Cooper với 22 vòng trong Faith 7,Cái mà khởi đầu vào ngày 15 đến ngày 16 năm 1963.

    Nga, Gagarin với chiến bay trước tiên với nhiều phi hành gia khác trong con tàu không gian Vostok.Có một người trong số đó với Vostok 5 , trạm không gian thế giới vũ trụ của Nga có tên ?o Valery Bykovsky? kế hoặch đã thâu nhận được 82 vòng quanh Trái đất theo Quĩ đạo vào ngày 16 đến 19 tháng 6 năm 1963.

    Sự Viêc Xãy Ra Của Phi Thuyền Không Gian :

    Sớm nhất Phi thuyền Sputnik(Nga),Explorers,và Vanguards(Mỹ) đã cho một sự thành công lớn lao, hơn là nghiêm ngoặc trong việc hãn trì tàu không gian.Sự kiện này Hoa Kỳ là một quốc gia đã dẫn đầu rắp đặt dàng viển liên thông tin trên không truyền tin những làng sóng vô tuyến về mặt đất, những lần phóng đều thành công nhiều kinh nghiệm trong Khí tượng học(Meteorology),Thông tin, và Kỹ Hà học.

    Nhiều đường quĩ đạo mà các nhà khoa học gia Hoa Kỳ đã đáp ứng trong tàu không gian bao gồm trước tiên phải hoàn thành Đài khí tượng(observatory),khí tượng quĩ đạo Thái dương huệ.(the Orbiting Solar Observatory ?"OSO) ,các điều kiện thông tin cũng có thể giúp phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ từ các con tàu không gian được đặt trên đường quỹ đạo, điều đó dùng cho việc truyền tin trong quân sự từ năm 1963.

    Đối với các nhà khoa học Nga, quĩ đạo là một con số rất lớn có tên thế giới vũ trụ như Elektron,và Polyot.Polyot là con tàu không gian đầu tiên của Nga,cả hai Nga và Hoa Kỳ cũng đã gửi phi thuyền không gian vai chạm vào cung Trăng,sau đó những hiện tượng hình ảnh rất thấy rõ của Mặt Trăng đã gữi về Trái đất từ tín hiệu phi thuyền.

    Một sáng kiến mới khám phá không gian bay và dò xét hành tinh của Hoa Kỳ ,Mariner 2,phóng đi vào ngày 26 tháng 8 năm 1962.Mariner hoạt động 109 ngày,180 triệu miles để bay đến Sao Kim Tinh (Venus).Nhưng chưa qúa 22,000 miles ,hiện tượng bí ẩn của Hành tinh đã được phát hiện gửi tín hiệu về trái đất với hình ảnh rõ .

    Nhiều sự chú ý lớn lao của các nhà khoa hoc trong chuyến bay Mariner 4 kế tiếp cho phóng đi ngày 28 tháng 11 năm 1964,con tàu 570- pound đã bay 228 ngày,325 triệu miles du hành đến Sao tinh ,chỉ bay qua đoạn đdường dài trong vòng 6,000 Miles ,nhưng đã quan sát được bề ngoài của mặt Hành tinh rất rõ thâu nhận từ 21 máy truyền hình bên dưới Trạm không gian.

    Vào ngày 3 tháng 2 năm 1966,phi thuyền du hành cung Trăng 9 của Nga đã đáp xuống cung Trăng ,sau khi đã gửi tín hiệu về Trái đất, đây lần đầu tiên mà người ở Trái đất nhìn thấy hình ảnh của Mặt Trăng .

    Từ năm 1964 và năm 1965,Hoa Kỳ và Nga đã đẩy mạnh sự duy trì phong trào cho các chuyến bay không gian của họ.Ngày 12 tháng 10 năm 1964,Nga đã phóng phi thuyền cùng mang theo 3 người , đó là con tàu 3 người,có tên gọi Voskhod I. Với những phi hành gia Vladimi Komarov,nhà khoa hoc gia trung thành Feoktistov,và một nhà vật lý học Boris Yegorov .Voskhod hoàn tất 16 vòng bay trên đường quĩ đạo và trong không gian mông manh suốt hơn 24 tiếng đồng hồ.

    Vào ngày 23 tháng 3 năm 1965, Hoa Kỳ khai mạc một chương trình không gian mới(the United States inaugurated a new space program) Project Gemini,với sự phóng Virgil I, đưa Grissom và John W.Young bay trong 3 qũi đạo.Nhưng Gemini 3 như là nhiệm vụ đánh dấu đầu tiên tăng người trong chuyến bay cuả Hoa Kỳ.

    Ngày 3 tháng 6 năm 1965, NASA đã phóng Gimini 4,Phi hành gia gồm có như James A.McDivitt và Edward H.White cùng đoàn.White được coi như người phi hành gia đầu tiên của Hoa Kỳ trong ?oPhạm vi không gian?,khi anh ta rời phi thuyền cho 20 phút suốt 4 ngày nhiệm vụ.

    Suốt ngày 21 đến ngày 29 tháng 8,Gemini 5 trong sự chờ đợi cho chuyến không gian 8 ngày bay đưa phi hành gia L.Gordon Cơper và charles Conrad.Cooper cũng người đầu tiên trong 2 chuyến bay vào quĩ đạo.

    Kế đến Gemini 7,đã mang 2 phi hành gia Frank Borman và James A.Lovell,Jr.vào quĩ đạo,nhiệm vụ đã đuợc hoàn tất trong 14 ngày, vaò ngày 18 tháng 12 năm 1965,sau khi du hành 5.7 triệu miles. Điều đáng chú ý nữa Gemini 7 cuộc gặp gỡ với phi thuyền đồng bạn là Gemini 6 vào ngày 15 tháng 12,Phi công Walter schirra cùng thuyền trưỡng Thomas P.Stafford trong Gemini 6 cách xa vài mét từ con tàu Gemini 7,rồi thì hơn 20 tiếng sau cả hai con tàu cùng cấu tạo sự hoạt động trong đường quĩ đạo không cách xa qúa 100 mét.

    Trong những cuộc hoàn thành phi thường của những năm sớm nhất,tuy nhiên đó chỉ là bước nhỏ so với cái gì sẽ đến trong tương lai ,Một trong những của chúng ta là sống sau những năm của thế kỹ 20 sẽ nhân chứng một công cuộc mạo hiểm lớn lao nhất bất cứ thời điểm nào khi nhân lọại đi xa hơn và thật xa tận trong sự khám phá không gian cho ngày mai?
    -------------------

    (trích dịch từ Man?Ts Conquest of space, National science ?"Little Pen
    September 7, 2003)



    ------------------------------
  2. phuthuy26vn

    phuthuy26vn Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    29/07/2002
    Bài viết:
    355
    Đã được thích:
    0
    Những mốc lớn trong lịch sử chinh phục vũ trụ


    Trung Quốc đã trở thành quốc gia thứ ba đưa người vào vũ trụ, sau Liên bang Nga và Mỹ. Nhân sự kiện này, chúng ta hãy cùng điểm lại những mốc quan trọng trong lịch sử chinh phục vũ trụ của loài người.
    Ngày 04/10/1957: lần đầu tiên con người bước vào công cuộc hinh phục vũ trụ với vệ tinh nhân tạo Spoutnik 1 của Nga.
    Ngày 03/10/1957: chú chó Nga Laika, sinh vật sống đầu tiên được đưa vào vũ trụ và chết sau vài ngày trên phi thuyền Spoutnik 2.
    Ngày 31/01/1958: Mỹ phóng vệ tinh Explorer 1 đầu tiên của mình
    Ngày 15/05/1958: Spoutnik 3 của Nga trở thành phòng thí nghiệm đầu tiên trong không gian
    Ngày 01/10/1958: Nasa được thành lập
    Ngày 02/01/1950: Luna 1, vệ tinh đầu tiên của Nga hướng về Mặt Trăng, thắng được lực hút của Trái đất. Vào tháng 3, Mỹ cũng đạt được thành công này với Pionnier 4.
    Ngày 12/09/1959: tên lửa được điều khiển từ xa Luna 2 tiếp cận được Mặt Trăng và chỉ cách địa điểm đã định 250 km.
    Ngày 07/10/1959: thiết bị thăm dò Luna 3 truyền những hình ảnh đầu tiên của phần Mặt Trăng bị che khuất.
    Ngày 11/03/1960: Mỹ phóng vệ tinh nhân tạo Mặt trời đầu tiên mang tên Pionnier 5, sau đó là vệ tinh khí tượng đầu tiên, Tiros 1.
    Ngày 12/04/1961: Iouri Gagarine, nhà du hành vũ trụ người Nga trở thành người đầu tiên bay vào vũ trụ với phi thuyền Vostok 1. Gagarine đã quay quanh Trái đất 1 vòng và hạ cánh sau 1h48 phút.
    Ngày 05/05/1961: Alan Shepard, trở thành người Mỹ đầu tiên bay vào không gian (chuyến bay kéo dài 15 phút). J.F. Kennedy tuyên bố chương trình Apollo với mục tiêu đưa người lên Mặt Trăng.
    Ngày 20/02/1962: John Glenn, người Mỹ bay quanh Trái đất 3 vòng.
    Ngày 27/08/1962: Mỹ thực hiện thành công chuyến phóng tên lửa tới sao Kim. Vào tháng 11 năm 1962, Nga phóng tên lửa đầu tiên tới Sao Hoả.
    Ngày 16/06/1963: Valentina Terechkova trở thành người phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ.
    Ngày 18/03/1965: Alexis Leonov, phi hành gia người Nga trở thành người đầu tiên bước ra ngoài vũ trụ.
    Ngày 15/12/1965: hai phi thuyền Gemini của Mỹ thực hiện thành công chuyến gặp gỡ trong không gian. Mỹ bắt đầu giai đoạn vượt Nga trong lĩnh vực hàng không vũ trụ.
    Ngày 27/01/1967: đội bay của phi thuyền Apollo gặp nạn trong cuộc thử nghiệm dưới mặt đất tại trung tâm Cap Canaveral.
    Ngày 23/04/1967: Vladimir Komarov, phi hành gia đầu tiên tử nạn sau khi quay trở về Trái đất do phi thuyền Soyouz-1 bị nổ.

    Ngày 20/07/1969 (21/07 theo giờ GMT): Apollo 11 đưa Neil Armstrong và Edwin Aldrin lên Mặt Trăng. Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên vệ tinh tự nhiên của Trái đất.
    Ngày 11-15/04/1970: do lỗi kĩ thuật, Apollo 13 không thể tiếp cận được với Mặt Trăng, ba phi hành gia quay về Trái đất an toàn.
    Ngày 10/11/1970: thiết bị thăm dò Lunakhod của Nga được đặt lên Mặt Trăng.
    Ngày 19/04/1971: phóng trạm quĩ đạo Saliout 1 đầu tiên của Nga.
    Ngày 29/06/1971: ba nhà du hành trên phi thuyền Soyouz-11, Gueorgui Dobrovolsky, Vladimir Volkov và Viktor Patsaïev đã tử nạn do giải điều áp khi phi thuyền hạ cánh.
    Ngày 14/05/1973: trạm Skylab của Mỹ được đặt lên quĩ đạo.
    Ngày 31/05/1975: thành lập ESA (Cơ quan hàng không Châu Âu).
    Tháng 7/1975: hai phi thuyền Apollo-Soyouz của Mỹ và Nga gặp nhau trong vũ trụ.
    Ngày 24/12/1979: phi thuyền Arian đầu tiên của Châu Âu được phóng lên. Châu Âu trở thành đối thủ đáng gờm trong công cuộc chinh phục vũ trụ.
    Ngày 12/04/1981: chuyến bay đầu tiên của phi thuyền Columbia.
    Ngày 24/06/1982: Jean-Loup Chrétien trở thành người Pháp đầu tiên bay vào vũ trụ.
    Ngày 28/01/1986: 7 phi hành gia người Mỹ đã thiệt mạng trên phi thuyền Challenger. Các chuyến bay bị hoãn lại 2 năm sau đó.
    Ngày 19/02/1986: phóng trạm không gian MIR thế hệ thứ ba của Nga. Trạm vũ trụ này ngừng hoạt động vào tháng 3 năm 2001.
    Ngày 25/04/1990: kính thiên văn vũ trụ Hubble được đưa lên quĩ đạo.
    Ngày 02/11/2000: hai phi hành gia của Nga và một của Mỹ trở thành cư dân đầu tiên của trạm ISS.
    Ngày 17/01/2003: một quan chức của Trung Quốc tuyên bố về chuyến phóng Thần Châu V.
    Ngày 01/02/2003: phi thuyền Columbia của Mỹ bị nổ, cướp đi sinh mạng của 7 phi hành gia.

    Ngày 08/09/2003
    : truyền hình Trung Quốc chính thức xác nhận chuyến bay của phi thuyền Thần Châu V vào ngày 15/10.
    Theo Vitinfo

Chia sẻ trang này