1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Lịch sử thành Nam. Các danh nhân văn hoá (mục lục trang 1)

Chủ đề trong 'Nam Định' bởi silver_place, 19/03/2007.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. silver_place

    silver_place Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    10/11/2004
    Bài viết:
    4.817
    Đã được thích:
    3
    He he. Cám ơn thuxanhxanh. Tớ kể chuyện hôm qua của tớ cho mà nghe nhá.
    Sài Gòn chiều qua khoảng hơn 4h. Trời ầm ầm giông gió. Tớ ở nơi làm việc định chờ mưa xong mới về vì tớ biết, Sài Gòn mưa sẽ không mưa lâu. Cùng lắm là khoảng 1h. Ôi, nhưng đợi mãi chẳng thấy mưa trong khi đã 5h20. Thế là tớ quyết định về. Chưa mưa mà khoác áo mưa thì đúng là kỳ cục đúng không? Khổ nỗi, cái tính tớ í, đã khoác áo mưa thì phải khoác từ đầu. Đang đi đường mà mưa là tớ hay để cho ướt luôn đi nếu đang về nhà. Về được nửa quãng đường thì vẫn chưa mưa. Tớ ghé vào một cửa hàng bách hóa mua vài thứ linh tinh. Vậy là trời đổ mưa ào ào xuống.
    Mừa Sài Gòn khi chiều tối, rất đẹp!
    Nếu đứng trú ở đó chắc tớ sẽ không ướt. Nhưng tớ lại lấy áo mưa gói đồ của mình rồi ra dầm mưa về nhà. Hay lắm cơ vì lạnh run lên.
    Thế, hôm nay lên box Nam Định. Lại có người bảo thích thơ cụ Tú làm tớ nhớ đến bài này.
    Áo bông che bạn
    Ai ơi còn nhớ ai không?
    Trời mưa một mảnh áo bông che đầu
    Nào ai có tiếc ai đâu
    Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô?
    Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ.
    Kẻ về khóc trúc, than ngô một mình.
    Non non, nước nước, tình tình
    Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ...
    Lại còn có chuyện một lần Tú Xương đi hát ả đào về, trời mùa đông mưa rét, ông gọi xe lôi đi về nhà. Trên đường đi nói chuyện với nhau, người phu xe tình cờ hỏi ông có biết nhà thơ Tú Xương ở thành Nam mà người phu xe muốn gặp mặt từ lâu. Không ngờ người ngồi trên xe chính là tác giả bài thơ "Áo bông che bạn" mà người phu xe đã đọc và vì nó mà muốn gặp nhà thơ dù chỉ một lần. Tú Xương hỏi lại thì mới biết người phu xe vốn là một ông đồ vì thời cuộc thay đổi, không ai còn học chữ Nho nữa nên phải bỏ làng lên thành Nam làm nghề phu xe. Nghe thấy thế Tú Xương liền xuống xe, đội mưa đi cùng người phu xe mà bàn chuyện văn chương. Về đến nhà ông vẫn kiên quyết trả tiền xe bằng được cho ông đồ hết thời đó. Mà Tú Xương thì cũng có hơn gì khi sống dựa vào người vợ tần tảo chạy chợ nuôi chồng, nuôi con. Thế mới biết rằng có những người dù chỉ tình cờ gặp nhau một lần cũng đã thành tri kỉ, để rồi "Áo bông ai ướt, khăn đầu ai khô?"...
    ...
    Vậy, tặng một câu chuyện của cụ Tú nhà ta.
    Mai tớ sẽ đăng tiếp chuyện Trường Chinh! Chúc buổi chiều vui vẻ hen.
    Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô
    Cổ nhân khuất dạng dễ hồ?
    Nghĩa xưa lưu dấu điểm tô tình đời

    Được silver_place sửa chữa / chuyển vào 13:37 ngày 31/05/2007
  2. silver_place

    silver_place Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    10/11/2004
    Bài viết:
    4.817
    Đã được thích:
    3
    He he. Cám ơn thuxanhxanh. Tớ kể chuyện hôm qua của tớ cho mà nghe nhá.
    Sài Gòn chiều qua khoảng hơn 4h. Trời ầm ầm giông gió. Tớ ở nơi làm việc định chờ mưa xong mới về vì tớ biết, Sài Gòn mưa sẽ không mưa lâu. Cùng lắm là khoảng 1h. Ôi, nhưng đợi mãi chẳng thấy mưa trong khi đã 5h20. Thế là tớ quyết định về. Chưa mưa mà khoác áo mưa thì đúng là kỳ cục đúng không? Khổ nỗi, cái tính tớ í, đã khoác áo mưa thì phải khoác từ đầu. Đang đi đường mà mưa là tớ hay để cho ướt luôn đi nếu đang về nhà. Về được nửa quãng đường thì vẫn chưa mưa. Tớ ghé vào một cửa hàng bách hóa mua vài thứ linh tinh. Vậy là trời đổ mưa ào ào xuống.
    Mừa Sài Gòn khi chiều tối, rất đẹp!
    Nếu đứng trú ở đó chắc tớ sẽ không ướt. Nhưng tớ lại lấy áo mưa gói đồ của mình rồi ra dầm mưa về nhà. Hay lắm cơ vì lạnh run lên.
    Thế, hôm nay lên box Nam Định. Lại có người bảo thích thơ cụ Tú làm tớ nhớ đến bài này.
    Áo bông che bạn
    Ai ơi còn nhớ ai không?
    Trời mưa một mảnh áo bông che đầu
    Nào ai có tiếc ai đâu
    Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô?
    Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ.
    Kẻ về khóc trúc, than ngô một mình.
    Non non, nước nước, tình tình
    Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ...
    Lại còn có chuyện một lần Tú Xương đi hát ả đào về, trời mùa đông mưa rét, ông gọi xe lôi đi về nhà. Trên đường đi nói chuyện với nhau, người phu xe tình cờ hỏi ông có biết nhà thơ Tú Xương ở thành Nam mà người phu xe muốn gặp mặt từ lâu. Không ngờ người ngồi trên xe chính là tác giả bài thơ "Áo bông che bạn" mà người phu xe đã đọc và vì nó mà muốn gặp nhà thơ dù chỉ một lần. Tú Xương hỏi lại thì mới biết người phu xe vốn là một ông đồ vì thời cuộc thay đổi, không ai còn học chữ Nho nữa nên phải bỏ làng lên thành Nam làm nghề phu xe. Nghe thấy thế Tú Xương liền xuống xe, đội mưa đi cùng người phu xe mà bàn chuyện văn chương. Về đến nhà ông vẫn kiên quyết trả tiền xe bằng được cho ông đồ hết thời đó. Mà Tú Xương thì cũng có hơn gì khi sống dựa vào người vợ tần tảo chạy chợ nuôi chồng, nuôi con. Thế mới biết rằng có những người dù chỉ tình cờ gặp nhau một lần cũng đã thành tri kỉ, để rồi "Áo bông ai ướt, khăn đầu ai khô?"...
    ...
    Vậy, tặng một câu chuyện của cụ Tú nhà ta.
    Mai tớ sẽ đăng tiếp chuyện Trường Chinh! Chúc buổi chiều vui vẻ hen.
    Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô
    Cổ nhân khuất dạng dễ hồ?
    Nghĩa xưa lưu dấu điểm tô tình đời

    Được silver_place sửa chữa / chuyển vào 13:37 ngày 31/05/2007
  3. fortress

    fortress Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    28/04/2007
    Bài viết:
    209
    Đã được thích:
    0
    Trạng Lường Lương Thế Vinh​
    Lương Thế Vinh quê xã Liên Bảo huyện Vụ Bản, 23 tuổi đỗ trạng nguyên, khi ấy là năm 1463 đời vua Lê Thánh Tông. Sinh thời không sách nào không đọc, không môn nào không giỏi, từ văn chương, bơi lội cho đến tính toán đo đạc. Khi còn ít tuổi, người đời gọi ông là thần đồng. Sau khi đỗ trạng thì làm quan trong triều, thăng tiến qua nhiều chức vụ cao cấp mà có nêu tên ra cũng không hiểu là chức gì. Công việc chủ yếu của ông là soạn thảo văn bản ngoại giao với nhà Minh Trung Quốc. Được vua Lê Thánh Tông tin cậy và tín nhiệm, đồng thời do hay chữ nên cũng hay bị vua chơi chữ, được cái vua chơi thì ông chơi lại, không ngán. Có một giai thoại, một lần được cho đi chơi sông, ông bị vua hất văng khỏi thuyền, chán ngán không muốn lên thuyền nữa, ông lặn một mạch lên bờ ngồi nghỉ. Vua không trông thấy tưởng ông bị chìm nên hối hận thúc người xuống vớt, nào ngờ chẳng thấy đâu. Thấy trên thuyền nhốn nháo cả lên, ông lại lặn ra ngoi lên cho vua nhìn thấy. Vua mừng lắm nhưng tức vì mình vừa bị một vố lo hão, bèn nói: Sao không ở dưới ấy luôn còn lên làm gì? Trạng mới thưa, nguyên văn như sau: ?oThần ở dưới nước lâu là vì gặp phải một việc kỳ lạ. Chẳng là thần ở dưới đấy gặp cụ Khuất Nguyên, cụ hỏi thần xuống làm gì. Thần nói dối rằng vì chán đời muốn chết. Cụ tròn xoe mắt mắng là: Mày là thằng điên hay sao, tao gặp phải Sở Hoài Vương và Khoảnh Tương Vương là thứ hôn quân vô đạo, mới phải bỏ nước bỏ dân trẫm mình chết quách. Chứ mày đã gặp minh quân thánh đế, sao không gắng sức phụng sự, lại còn vớ vẩn cái gì. Vừa nói cụ vừa đá vào đít thần bắt thần quay lại ngay, chẳng ngờ làm bệ hạ phải lo phiền?. Vua nghe thấy biết mười mươi là thằng này đang nịnh mình nhưng nịnh khéo quá nên cho người kéo trạng lên rồi thưởng cho rất nhiều vàng bạc và gái đẹp.
    Cuối đời, ông chuyên tâm nghiên cứu toán học, đặt ra thước đo để chia điền thửa rất có ích lợi cho dân. Vì thế người đời gọi ông là Trạng Lường.
  4. fortress

    fortress Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    28/04/2007
    Bài viết:
    209
    Đã được thích:
    0
    Trạng Lường Lương Thế Vinh​
    Lương Thế Vinh quê xã Liên Bảo huyện Vụ Bản, 23 tuổi đỗ trạng nguyên, khi ấy là năm 1463 đời vua Lê Thánh Tông. Sinh thời không sách nào không đọc, không môn nào không giỏi, từ văn chương, bơi lội cho đến tính toán đo đạc. Khi còn ít tuổi, người đời gọi ông là thần đồng. Sau khi đỗ trạng thì làm quan trong triều, thăng tiến qua nhiều chức vụ cao cấp mà có nêu tên ra cũng không hiểu là chức gì. Công việc chủ yếu của ông là soạn thảo văn bản ngoại giao với nhà Minh Trung Quốc. Được vua Lê Thánh Tông tin cậy và tín nhiệm, đồng thời do hay chữ nên cũng hay bị vua chơi chữ, được cái vua chơi thì ông chơi lại, không ngán. Có một giai thoại, một lần được cho đi chơi sông, ông bị vua hất văng khỏi thuyền, chán ngán không muốn lên thuyền nữa, ông lặn một mạch lên bờ ngồi nghỉ. Vua không trông thấy tưởng ông bị chìm nên hối hận thúc người xuống vớt, nào ngờ chẳng thấy đâu. Thấy trên thuyền nhốn nháo cả lên, ông lại lặn ra ngoi lên cho vua nhìn thấy. Vua mừng lắm nhưng tức vì mình vừa bị một vố lo hão, bèn nói: Sao không ở dưới ấy luôn còn lên làm gì? Trạng mới thưa, nguyên văn như sau: ?oThần ở dưới nước lâu là vì gặp phải một việc kỳ lạ. Chẳng là thần ở dưới đấy gặp cụ Khuất Nguyên, cụ hỏi thần xuống làm gì. Thần nói dối rằng vì chán đời muốn chết. Cụ tròn xoe mắt mắng là: Mày là thằng điên hay sao, tao gặp phải Sở Hoài Vương và Khoảnh Tương Vương là thứ hôn quân vô đạo, mới phải bỏ nước bỏ dân trẫm mình chết quách. Chứ mày đã gặp minh quân thánh đế, sao không gắng sức phụng sự, lại còn vớ vẩn cái gì. Vừa nói cụ vừa đá vào đít thần bắt thần quay lại ngay, chẳng ngờ làm bệ hạ phải lo phiền?. Vua nghe thấy biết mười mươi là thằng này đang nịnh mình nhưng nịnh khéo quá nên cho người kéo trạng lên rồi thưởng cho rất nhiều vàng bạc và gái đẹp.
    Cuối đời, ông chuyên tâm nghiên cứu toán học, đặt ra thước đo để chia điền thửa rất có ích lợi cho dân. Vì thế người đời gọi ông là Trạng Lường.
  5. Newfarmmer

    Newfarmmer Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    16/11/2004
    Bài viết:
    1.945
    Đã được thích:
    1
    Lương Thế Vinh có rất nhiều giai thoại, giai thoại bạn đây đưa ra chưa phải là những giai thoại đặc sắc và nổi bật về ông. Nếu như muốn nhấn mạnh ông là Trạng Lường (trạng đo đạc) thì nên giới thiệu về các giai thoại như cân voi, lấy bóng ... (thể hiện sự thông minh trong toán học của ông).
    Ngoài ra giai thoại trên chứng minh 1 điều là trạng ta tuy học cao đỗ đạt nhưng không phải là người được lòng vua nên không làm quan to như hai vị Trinh, Bảo (Bảng Nhãn & Thám Hoa cùng kỳ thi với cụ).
    Vài lời góp ý
  6. Newfarmmer

    Newfarmmer Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    16/11/2004
    Bài viết:
    1.945
    Đã được thích:
    1
    Lương Thế Vinh có rất nhiều giai thoại, giai thoại bạn đây đưa ra chưa phải là những giai thoại đặc sắc và nổi bật về ông. Nếu như muốn nhấn mạnh ông là Trạng Lường (trạng đo đạc) thì nên giới thiệu về các giai thoại như cân voi, lấy bóng ... (thể hiện sự thông minh trong toán học của ông).
    Ngoài ra giai thoại trên chứng minh 1 điều là trạng ta tuy học cao đỗ đạt nhưng không phải là người được lòng vua nên không làm quan to như hai vị Trinh, Bảo (Bảng Nhãn & Thám Hoa cùng kỳ thi với cụ).
    Vài lời góp ý
  7. Newfarmmer

    Newfarmmer Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    16/11/2004
    Bài viết:
    1.945
    Đã được thích:
    1

    Nông paste ra đây bài của Trần Hồng Đức đăng trên báo Nhân Dân viết về Trạng Lường :
    Tài ba Trạng Lường​
    Trạng nguyên Lương Thế Vinh là người chế ra bàn tính gẩy đầu tiên ở nước ta. Ông quê ở thôn Cao Hương, huyện Thiên Bản (nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Ðịnh).
    Năm 23 tuổi, ông đỗ Ðệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) (*) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị giảng, Chưởng viện sự, Nhập thị kinh diên, Tri Sùng văn quán. Phàm các văn thơ, từ lệnh bang giao với nhà Minh đều do ông soạn thảo. Tiếng tăm lừng lẫy Trung nguyên. Sinh thời, không sách nào ông không đọc.
    Từ bé, Lương Thế Vinh nổi tiếng thần đồng, Vinh học rất mau thuộc, mau hiểu, mà chơi cũng rất tài tình. Cậu thích thả diều, câu cá, bẫy chim cùng với lũ trẻ chăn trâu. Diều của Vinh thường lên cao hơn, hình dáng cũng rất lạ, vừa giống "cánh thoi" lại vừa giống "cánh tiên", Vinh làm hẳn một bộ sáo diều to nhỏ bốn chiếc, khi diều thả lên, tiếng trầm xen lẫn tiếng bổng rất du dương vui tai, người lớn trẻ em cũng say mê lắng nghe.
    Dân chúng ca ngợi Trạng nguyên Lương Thế Vinh và gọi ông là Trạng Lường vì ông không chỉ giỏi về văn học mà còn giỏi toán, ông đã có nhiều phát minh khoa học ứng dụng vào đời sống. Ông đã soạn cuốn "Ðại thành toán pháp". Mở đầu cuốn sách Lương Thế Vinh đề bài thơ khuyên mọi người học toán:
    Trước thời biết cách thương lường,
    Tính toán bình phân ở Cửu chương,
    Thông hay mọi nhẽ điều vinh hiển,
    Học lấy cho tinh giúp thánh vương!

    Ông còn chế ra bàn tính gẩy, lúc đầu bằng đất rồi bằng trúc, sau làm bằng gỗ, sơn mầu khác nhau vừa đẹp, vừa dễ tính, dễ nhớ.
    Một lần sứ nhà Minh là Chu Hy sang nước ta. Vua Lê Thánh Tông sai Lương Thế Vinh ra tiếp. Chu Hy nghe đồn nước Nam có ông trạng đã nổi tiếng văn chương, âm nhạc, mà còn tinh thông cả toán học nên có lần mới hỏi Lương Thế Vinh:
    - Có phải ông làm ra sách "Ðại thành toán pháp", định thước đo ruộng đất, chế ra bàn tính của nước Nam đó không?
    - Lương Thế Vinh đáp:
    -- Dạ, đúng thế.
    - Nhân có con voi rất to đang kéo gỗ trên sông. Chu Hy hỏi:
    -- Trạng thử cân xem con voi kia nặng bao nhiêu!
    -- Xin được!
    -Dứt lời, Vinh xăm xăm cầm cân đi cân con voi.
    -- Tôi e chiếc cầu của ông quá nhỏ so với con voi đấy! - Chu Hy cười nói.
    -- Thì chia nhỏ voi ra - Vinh thản nhiên trả lời.
    -- Ông định mổ thịt voi à? Cho tôi xin miếng gan nhé!
    Lương Thế Vinh tỉnh khô không đáp. Ðến bên sông, Trạng chỉ chiếc thuyền bỏ không, sai lính dắt voi xuống. Trạng cho lính lội xuống đánh dấu mép nước bên thuyền rồi dắt voi lên.
    Kế đó, Trạng ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền. Thuyền lại dằm xuống dần cho tới đúng dấu cũ thì ngừng đổ đá.
    Thế rồi Trạng bắc cân lên cân đá. Trạng cho bảo sứ nhà Minh:
    - Ông ra mà xem cân voi !
    Sứ nhà Minh vẫn còn thử tài tiếp:
    - Ông cũng giỏi đấy chứ! Tiếng đồn quả không ngoa! Ông đã cân được voi to, vậy ông có thể đo được tờ giấy này dày bao nhiêu không?
    Sứ nói rồi xé một tờ giấy bản rất mỏng từ một cuốn sách dày đưa cho Lương Thế Vinh, Hy lại đưa luôn một chiếc thước.
    Giấy thì mỏng mà ly chia ở thước lại quá thưa. Vinh nói:
    - Ngài cho tôi mượn cuốn sách!
    Sứ nhà Minh đưa ngay cuốn sách và hỏi kháy:
    - Ông nghĩ sách có dạy cách đo chăng?
    Lương Thế Vinh lấy thước đo bề dày cuốn sách, tính nhẩm một lát, rồi nói bề dày tờ giấy.
    Kết quả rất khớp với con số của sứ nhà Minh ghi sẵn ở nhà. Nhưng sứ nhà Minh nói:
    - Ông đoán mò cũng giỏi đấy!
    - Thưa không. Việc đo này rất dễ, ta chỉ cần đo bề dày cả cuốn sách, rồi chia đều cho số tờ. Việc đó có khó gì đâu!
    Sứ nhà Minh ngửa mặt lên trời than:
    - Nước Nam quả lắm người tài !
    Thời ông sống người ta thường coi những người hát xướng là "xướng ca vô loài". Vậy mà Lương Thế Vinh làm quan to lại rất thích hát tuồng chèo, thi ca nhạc. Ông sáng tác nhiều mà còn trực tiếp biểu diễn nữa. Ông đã viết bộ sách "Hý phường phả lục". Ông cũng được vua Lê Thánh Tông giao cho cùng Thân Nhân Trung, Ðỗ Nhuận chế định ra các lễ nhạc của triều đình.
    Lúc về trí sĩ, ông vẫn thích la cà nơi thôn dã, thích hát ca.
    (*) Khoa thi Quý Mùi (1463) lấy đỗ 44 Tiến sĩ.
  8. Newfarmmer

    Newfarmmer Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    16/11/2004
    Bài viết:
    1.945
    Đã được thích:
    1

    Nông paste ra đây bài của Trần Hồng Đức đăng trên báo Nhân Dân viết về Trạng Lường :
    Tài ba Trạng Lường​
    Trạng nguyên Lương Thế Vinh là người chế ra bàn tính gẩy đầu tiên ở nước ta. Ông quê ở thôn Cao Hương, huyện Thiên Bản (nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Ðịnh).
    Năm 23 tuổi, ông đỗ Ðệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) (*) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị giảng, Chưởng viện sự, Nhập thị kinh diên, Tri Sùng văn quán. Phàm các văn thơ, từ lệnh bang giao với nhà Minh đều do ông soạn thảo. Tiếng tăm lừng lẫy Trung nguyên. Sinh thời, không sách nào ông không đọc.
    Từ bé, Lương Thế Vinh nổi tiếng thần đồng, Vinh học rất mau thuộc, mau hiểu, mà chơi cũng rất tài tình. Cậu thích thả diều, câu cá, bẫy chim cùng với lũ trẻ chăn trâu. Diều của Vinh thường lên cao hơn, hình dáng cũng rất lạ, vừa giống "cánh thoi" lại vừa giống "cánh tiên", Vinh làm hẳn một bộ sáo diều to nhỏ bốn chiếc, khi diều thả lên, tiếng trầm xen lẫn tiếng bổng rất du dương vui tai, người lớn trẻ em cũng say mê lắng nghe.
    Dân chúng ca ngợi Trạng nguyên Lương Thế Vinh và gọi ông là Trạng Lường vì ông không chỉ giỏi về văn học mà còn giỏi toán, ông đã có nhiều phát minh khoa học ứng dụng vào đời sống. Ông đã soạn cuốn "Ðại thành toán pháp". Mở đầu cuốn sách Lương Thế Vinh đề bài thơ khuyên mọi người học toán:
    Trước thời biết cách thương lường,
    Tính toán bình phân ở Cửu chương,
    Thông hay mọi nhẽ điều vinh hiển,
    Học lấy cho tinh giúp thánh vương!

    Ông còn chế ra bàn tính gẩy, lúc đầu bằng đất rồi bằng trúc, sau làm bằng gỗ, sơn mầu khác nhau vừa đẹp, vừa dễ tính, dễ nhớ.
    Một lần sứ nhà Minh là Chu Hy sang nước ta. Vua Lê Thánh Tông sai Lương Thế Vinh ra tiếp. Chu Hy nghe đồn nước Nam có ông trạng đã nổi tiếng văn chương, âm nhạc, mà còn tinh thông cả toán học nên có lần mới hỏi Lương Thế Vinh:
    - Có phải ông làm ra sách "Ðại thành toán pháp", định thước đo ruộng đất, chế ra bàn tính của nước Nam đó không?
    - Lương Thế Vinh đáp:
    -- Dạ, đúng thế.
    - Nhân có con voi rất to đang kéo gỗ trên sông. Chu Hy hỏi:
    -- Trạng thử cân xem con voi kia nặng bao nhiêu!
    -- Xin được!
    -Dứt lời, Vinh xăm xăm cầm cân đi cân con voi.
    -- Tôi e chiếc cầu của ông quá nhỏ so với con voi đấy! - Chu Hy cười nói.
    -- Thì chia nhỏ voi ra - Vinh thản nhiên trả lời.
    -- Ông định mổ thịt voi à? Cho tôi xin miếng gan nhé!
    Lương Thế Vinh tỉnh khô không đáp. Ðến bên sông, Trạng chỉ chiếc thuyền bỏ không, sai lính dắt voi xuống. Trạng cho lính lội xuống đánh dấu mép nước bên thuyền rồi dắt voi lên.
    Kế đó, Trạng ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền. Thuyền lại dằm xuống dần cho tới đúng dấu cũ thì ngừng đổ đá.
    Thế rồi Trạng bắc cân lên cân đá. Trạng cho bảo sứ nhà Minh:
    - Ông ra mà xem cân voi !
    Sứ nhà Minh vẫn còn thử tài tiếp:
    - Ông cũng giỏi đấy chứ! Tiếng đồn quả không ngoa! Ông đã cân được voi to, vậy ông có thể đo được tờ giấy này dày bao nhiêu không?
    Sứ nói rồi xé một tờ giấy bản rất mỏng từ một cuốn sách dày đưa cho Lương Thế Vinh, Hy lại đưa luôn một chiếc thước.
    Giấy thì mỏng mà ly chia ở thước lại quá thưa. Vinh nói:
    - Ngài cho tôi mượn cuốn sách!
    Sứ nhà Minh đưa ngay cuốn sách và hỏi kháy:
    - Ông nghĩ sách có dạy cách đo chăng?
    Lương Thế Vinh lấy thước đo bề dày cuốn sách, tính nhẩm một lát, rồi nói bề dày tờ giấy.
    Kết quả rất khớp với con số của sứ nhà Minh ghi sẵn ở nhà. Nhưng sứ nhà Minh nói:
    - Ông đoán mò cũng giỏi đấy!
    - Thưa không. Việc đo này rất dễ, ta chỉ cần đo bề dày cả cuốn sách, rồi chia đều cho số tờ. Việc đó có khó gì đâu!
    Sứ nhà Minh ngửa mặt lên trời than:
    - Nước Nam quả lắm người tài !
    Thời ông sống người ta thường coi những người hát xướng là "xướng ca vô loài". Vậy mà Lương Thế Vinh làm quan to lại rất thích hát tuồng chèo, thi ca nhạc. Ông sáng tác nhiều mà còn trực tiếp biểu diễn nữa. Ông đã viết bộ sách "Hý phường phả lục". Ông cũng được vua Lê Thánh Tông giao cho cùng Thân Nhân Trung, Ðỗ Nhuận chế định ra các lễ nhạc của triều đình.
    Lúc về trí sĩ, ông vẫn thích la cà nơi thôn dã, thích hát ca.
    (*) Khoa thi Quý Mùi (1463) lấy đỗ 44 Tiến sĩ.
  9. Newfarmmer

    Newfarmmer Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    16/11/2004
    Bài viết:
    1.945
    Đã được thích:
    1

    Chuyên mục danh nhân văn hoá của báo Văn hoá Nam Định cũng có bài giới thiệu về ông như sau :

    Lương Thế Vinh (1441 - ? ) ​
    Lương Thế Vinh là một thiên tài toán học là người soạn giáo trình Toán học đầu tiên ở Việt Nam, quyển "Ðại thành toán pháp", được đưa vào chương trình thi cử suốt 450 năm.
    I. Tiểu sử:
    Lương Thế Vinh tên chữ là Cảnh Nghị , hiệu là Thụy Hiên, người làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam Hạ ( nay là huyện Vụ bản, Hà Nam Ninh ). Đử Trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (1463), đời Lê Thánh Tông. Làm quan các chức: Trực học sĩ viện Hàn lâm, Thị thư, Chưởng viện sự. Ông chẳng những giỏi văn còn giỏi toán nên người đương thời gọi ông là Trạng Lường .
    Từ bé Lương Thế Vinh đã nổi tiếng trong việc học, việc chơi. Vinh học rất mau thuộc, mau hiểu, mà chơi cũng rất tài tình. Cậu rất thích thả diều, câu cá, bẫy chim cùng với các trẻ chăn trâu. Khi thả diều, diều của Vinh thường vẫn lên cao hơn, có hình dáng khác lạ và có tiếng kêu trầm bổng, rất du dương vui tai, người lớn cũng say mê lắng nghe.... Cùng đi câu cá với bạn bè, nhưng bao giờ cậu cũng được nhiều cá hơn. Nhìn chiếc bẫy người lớn bẫy chuột, cậu liền nghĩ ra chiếc bẫy nhỏ xíu để bẫy chim chả khá tinh vi làm người lớn phải ngạc nhiên, thán phục. Người thời đó gọi cậu là "thần đồng" Lương Thế Vinh là một ông quan tài giỏi, thông thạo văn chương, giỏi giang âm nhạc, tinh tường toán pháp. Ông còn nổi tiếng về lòng mến dân và đức tính thẳng thắn, trung thực. Ngay đối với vua, ông cũng hay châm biếm khôi hài, không chịu câu thúc. Ông thường mượn việc để răn dạy từ vua đến quan.
    II. Giai thoại về Lương Thế Vinh:
    1. Trái bưởi - Sức đẩy Archimède:
    Hôm đó, cậu đem một trái bưởi ra bãi tha ma (chử bạn bè thả trâu) làm quả bóng để các bạn cùng chơi. Bửng quả bưởi lăn xuống một trong những cái hố bên mép bãi người ta đào để ngăn trâu bò khỏi phá lúa. Cái hố rất hẹp lại rất sâu không xuống mà cũng không với tay lấy lên được. Bọn trẻ tưởng thế là mất đồ chơi. Nhưng Lương Thế Vinh nghĩ một lát, rồi mới hớn hở rủ bạn đi mượn vài chiếc gầu giai đi múc nước đổ xuống hố. Bọn trẻ không hiểu Vinh làm thế để làm gì. Nhưng lát sau thấy Vinh cúi xuống cầm quả bưởi lên, chúng rất sửng sốt phục tài Vinh.
    Từ đó trẻ con trong làng truyền nhau rằng Lương Thế Vinh là thần, có một câu "thần chú" hay lắm, có thể gọi được những vật vô tri như quả bưởi lại với mình.
    Thực ra thì Vinh trèo cây hái bưởi bên bờ ao, sẩy tay cậu làm rơi quả bưởi xuống nước tưởng mất. Nhưng khi nhìn thấy bưởi nổi trên mặt ao, Vinh đã lấy cành tre khều vào và đem ra bãi chơi. Lúc quả bưởi lăn xuống hố, cậu đã chợt nhớ lại và nghĩ ra cách lấy nước đổ xuống cho bưởi nổi lên. Vốn thích thơ ca, hò, vè nên trong khi cúi xuống chờ bưởi, cậu vui miệng đọc lẩm nhẩm:
    Bưởi ơi bưởi
    Nghe tao gọi
    Lên đi nào
    Đừng quên lối
    Đừng bỏ tao...

    Và bọn trẻ cứ nghĩ rằng Vinh đọc "thần chú".
    2. Phương pháp học của ông:
    Lương Thế Vinh là người biết kết hợp rất khéo giữa chơi và học, nên từ nhỏ Vinh học rất thoải mái và lại đạt kết quả cao.
    Vinh học đến đâu, hiểu đến đấy, học một mà biết mười. Khi đã ngồi học thì tập trung tư tưởng rất cao, luôn muốn thực nghiệm những điều đã học vào đời sống. Trong khi vui chơi như câu cá, thả diều, bẫy chim, Vinh luôn kết hợp với việc học. Lúc thả diều, Vinh rung dây diều để tính toán, ước lượng chiều dài, chiều cao. Khi câu cá, Vinh tìm hiểu đời sống các sinh vật, ước tính đo lường chiều sâu ao hồ, chiều rộng sông ngòi... và kiểm tra lại bằng thực nghiệm. Vinh nghĩ ra cách đo bóng cây mà suy ra chiều dài của cây.
    Người đời còn truyền lại câu chuyện sau đây:
    Dạo đó, Lương Thế Vinh và Quách Đình Bảo là hai người nổi tiếng vùng Sơn Nam (Thái Bình- Nam Định bây giờ) về thông minh, học giỏi. Một hôm, sắp đến kỳ thi, Lương Thế Vinh tìm sang làng Phúc Khê bên Sơn Nam hạ để thăm Quách Đình Bảo, toan bàn chuyện cùng lên kinh ứng thí.
    Đến làng, Vinh ghé một quán nước nghỉ chân. Tại đây Vinh nghe người ta nói là Quách Đình Bảo đang ngày đêm dùi mài kinh sử quên ngủ, quên ăn. Chắc chắn kỳ này Bảo phải đứng đầu bảng vàng. Vinh cười nói:
    - Kỳ thi đến nơi mà còn chúi đầu vào quyển sách, cố tụng niệm thêm vài chữ. Vậy cũng gọi là biết học ư? Ta có đến thăm cũng chẳng có gì để bàn bạc - Vinh nói thế rồi bỏ ra về.
    Quách Đình Bảo nghe được chuyện trên, gật gù:
    - Người đó hẳn là Lương Thế Vinh, ta phải đi tìm mới được!
    Thế là Bảo chuẩn bị khăn gói, tìm đến Cao Hương thăm Vinh. Chắc mẩm đến nhà sẽ gặp ngay Vinh đang đọc sách, nhưng Vinh đi vắng, người nhà bảo Vinh đang chơi ngoài bãi.
    Quách Đình Bảo ra bãi tìm, quả thấy Vinh đang thả diều, chạy chơi cùng bạn bè, rất ung dung thư thái. Bảo phục lắm tự nói với mình: "Người này khôi ngô tuấn tú, phong thái ung dung, ta có học mấy cũng không thể theo kịp".
    Quả nhiên sau đó, khoa Quý Mùi năm Quang Thuận thứ tư, đời vua Lê Thánh Tông (1463) Lương Thế Vinh đử Trạng nguyên (đử đầu), Quách Đình Bảo đử Thám hoa (đử thứ 3). Năm ấy Lương Thế Vinh mới hăm hai tuổi.
    3. Cách cân voi và đo bề dày tờ giấy:
    Ngày xưa, vua quan Trung Quốc thường cậy thế nước lớn, coi thường nước ta, cho nước ta là man di, mọi rợ. Về tinh thần bất khuất của cha ông ta thì chúng đã được nhiều bài học. Nhưng về mặt khoa học thì chúng chưa phục lắm.
    Một lần sứ nhà Thanh là Chu Hy sang nước ta, vua Thánh Tông sai Lương Thế Vinh ra tiếp. Hy nghe đồn Lương Thế Vinh không những nổi tiếng về văn chương âm nhạc, mà còn tinh thông cả toán học nên mới hỏi:
    - Có phải ông làm sách Đại thành toán pháp, định thước đo ruộng đất, chế ra bàn tính của nước Nam đó không?
    Lương Thế Vinh đáp:
    - Dạ, đúng thế!
    Nhân có con voi rất to đang kéo gử trên sông, Chu Hy bảo:
    - Trạng thử cân xem con voi kia nặng bao nhiêu!
    - Xin vâng!
    Dứt lời, Vinh xăm xăm cầm cân đi cân voi.
    - Tôi xem chiếc cân của ông hơi nhỏ so với con voi đấy! - Hy cười nói.
    - Thì chia nhỏ voi ra! Vinh thản nhiên trả lời!
    - Ông định mổ thịt voi à? Cho tôi xin một miếng gan nhé!
    Lương Thế Vinh tỉnh khô không đáp. Đến bến sông, trạng chỉ chiếc thuyền bỏ không, sai lính dắt voi xuống. Thuyền đang nổi, do voi nặng nên đầm sâu xuống. Lương Thế Vinh cho lính lội xuống đánh dấu mép nước bên thuyền rồi dắt voi lên. Kế đó trạng ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền, thuyền lại đầm xuống dần cho tới đúng dấu cũ thì ngưng đổ đá.
    Thế rồi trạng bắc cân lên cân đá. Trạng cho bảo sứ nhà Thanh:
    - Ông ra mà xem cân voi!
    Sứ Tàu trông thấy cả sợ, nhưng vẫn tỏ ra bình tĩnh coi thường. Khi xong việc, Hy nói:
    - Ông thật là giỏi! Tiếng đồn quả không ngoa! Ông đã cân được voi to, vậy ông có thể đo được tờ giấy này dày bao nhiêu không?
    Sứ nói rồi xé một tờ giấy bản rất mỏng từ một cuốn sách dày đưa cho Lương Thế Vinh, Hy lại đưa luôn một chiếc thước.
    Giấy thì mỏng mà li chia ở thước lại quá thô, Vinh nghĩ giây lát rồi nói:
    - Ngài cho tôi mượn cuốn sách!
    - Sứ đưa ngay sách cho Lương Thế Vinh với vẻ không tin tưởng lắm.
    Lương Thế Vinh lấy thước đo cuốn sách, tính nhẩm một lát rồi nói bề dày tờ giấy.
    Kết quả rất khớp với con số đã viết sẵn ở nhà. Nhưng sứ chưa tin tài Lương Thế Vinh, cho là ông đoán mò. Khi nghe Vinh nói việc đo này rất dễ, chỉ cần đo bề dày cả cuốn sách rồi chia đều cho số tờ là ra ngay kết quả thì sứ ngửa mặt lên trời than: "Danh đồn quả không sai. Nước Nam quả có lắm người tài!"
    Lương Thế Vinh quả là kỳ tài! Ông nghĩ ra cách cân đo tài tình ngay cả trong lúc bất ngờ, cần ứng phó nhanh chóng. Gặp vật to thì ông chia nhỏ, gặp vật nhỏ thì ông gộp lại. Phải chăng ý tưởng của Lương Thế Vinh chính là mầm mống của phép tính vi phân (chia nhỏ) và tích phân (gộp lại) mà ngày nay là những công cụ không thể thiếu được của toán học hiện đại.
    4. Với vua Lê Thánh tông:
    a. Một cách khen vua
    Lương Thế Vinh thuở bé nghịch ngợm nổi tiếng. Ông hay tắm sông hồ thành thử bơi lội rất giỏi. Lê Thánh Tông biết rõ chuyện ấy, nên một hôm đi chơi thuyền có Lương Thế Vinh và các quan theo hầu, Vua liền giả vờ say rượu ẩy Vinh rơi tòm xuống sông, rồi cứ cho tiếp tục chèo thuyền đi.
    Không ngờ Lương Thế Vinh rơi xuống, liền lặn một hơi đi thật xa, rồi đến một chử vắng lên bờ ngồi núp vào một bụi rậm chẳng ai trông thấy. Lê Thánh Tông chờ mãi không thấy Vinh trồi đầu lên, bấy giờ mới hoảng hồn, vội cho quân lính nhảy xuống tìm vớt, nhưng tìm mãi cũng chẳng thấy đâu. Vua hết sức ân hận vì lối chơi đùa quá quắt của mình, chỉ muốn khóc, thì tự nhiên thấy Vinh từ dưới nước ngóc đầu lên lắc đầu cười ngất. Khi lên thuyền rồi, Vinh vẫn còn cười. Thánh Tông ngạc nhiên hỏi mãi, cuối cùng Vinh mới tâu:
    "Thần ở dưới nước lâu là vì gặp phải một việc kỳ lạ và thú vị. Thần gặp cụ Khuất Nguyên (*), cụ hỏi thần xuống làm gì?. Thần thưa dối là thần chán đời muốn chết. Nghe qua, cụ Khuất Nguyên tròn xoe mắt, mắng thần: "Mày là thằng điên!. Tao gặp Sở Hoài Vương và Khoảng Tương Vương hôn quân vô đạo, mới dám bỏ nước bỏ dân trầm mình ở sông Mịch La. Chứ mày đã gặp được bậc thánh quân minh đế, sao còn định vớ vẩn cái gì?". Thế rồi cụ đá thần một cái, thần mới về đây!".
    Lê Thánh Tông nghe xong biết là Lương Thế Vinh nịnh khéo mình, nhưng cũng rất hài lòng, thưởng cho Vinh rất nhiều vàng lụa.
    (*) Khuất Nguyên - nhà thơ nổi tiếng, một vị trung thần nước Sở - do can ngăn vua Hoài Vương không được, đã uất ức ôm đá gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Hôm ấy đúng ngày mồng Năm tháng Năm. Thương tiếc người trung nghĩa, mửi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (chủ ý khiến cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông ném bánh xuống cúng Khuất Nguyên.
    b. Ứng đáp với vua
    Vua Lê Thánh Tông đi kinh lý vùng Sơn Nam hạ, ghé thăm làng Cao Hương, huyện Vụ Bản, quê hương của Trạng Nguyên Lương Thế Vinh, lúc bấy giờ cũng đang theo hầu Vua.
    Hôm sau vua đến thăm chùa làng. Khi ấy, sư cụ đang bận tụng kinh. Bửng sư cụ đánh rơi chiếc quạt xuống đất. Vẫn tiếp tục tụng, sư cụ lấy tay ra hiệu cho chú tiểu cúi xuống nhặt, nhưng một vị quan tùy tòng của Lê Thánh Tông đã nhanh tay nhặt cho sư cụ. Vua Lê Thánh Tông trông thấy vậy, liền nghĩ ra một vế đối, trong bữa tiệc hôm đó đã thách các quan đối.
    Vế ấy như sau:
    Ðường thượng tụng kinh sư sử sứ...
    Nghĩa là: Trên bục tụng kinh sư khiến sứ ( nhà sư sai khiến được quan)
    Câu nói này oái ăm ở ba chữ sư sử. Các quan đều chịu chẳng ai nghĩ ra câu gì.
    Trạng nguyên Lương Thế Vinh cứ để họ suy nghĩ chán chê. Ông ung dung ngồi uống rượu chẳng nói năng gì. Vua Lê Thánh Tông quay lại bảo đích danh ông phải đối , với hy vọng đưa ông đến chử chịu bí. Nhưng ông chỉ cười trừ.
    Một lúc ông cho lính hầu chạy ngay về nhà mời vợ đến . Bà trạng đến, ông lấy cớ quá say xin phép vua cho vợ dìu mình về.
    Thấy Vinh là một tay có tài ứng đối mà hôm nay cũng đành phải đánh bài chuồn, nhà vua lấy làm đắc ý lắm, liền giục:
    " Thế nào? Ðối được hay không thì phải nói đã rồi hẵng về chứ?"
    Vinh gãi đầu gãi tai rồi chắp tay ngập ngừng:
    - Dạ... muôn tâu, Thần đối rồi đấy ạ!
    Vua và các quan lấy làm lạ bảo Vinh thử đọc xem. Vinh cứ một mực:" Ðối rồi đấy chứ ạ!" hoài. Sau nhà vua gạn mãi, Vinh mới chỉ tay vào người vợ đang dìu mình, mà đọc rằng:
    Ðình tiền túy tửu, phụ phù phu.
    Nghĩa là: Trước sân say rượu, vợ dìu chồng.
    Nhà vua cười và thưởng cho rất hậu.
    c. Lời tiên đoán
    Một hôm, lúc chầu trong triều, vua hớn hở nói với Vinh:
    - Trẫm có nhiều con trai, việc thiên hạ không việc gì phải lo ngại nữa!
    Lương Thế Vinh tâu:
    - Lắm con trai là lắm giặc. Không lo sao được!
    Vua lấy làm lạ hỏi:
    - Ta không rõ sao lại thế?
    Trạng tâu không úp mở:
    - Ngôi báu chỉ có một. Bệ hạ có nhiều con trai càng có nhiều sự tranh giành ngôi báu. Như vậy phải lo lắm chứ!
    Đúng như lời tiên đoán của ông. Sau đó con cháu nhà vua tranh giành ngôi thứ, chém giết lẫn nhau, làm cho triều chính đổ nát, trăm họ lầm than. Chỉ ba chục năm sau khi Thánh Tông mất, Mạc Đăng Dung đã nhân cơ hội mà cướp ngôi nhà Lê.
    5. Răn dạy các quan
    Lương Thế Vinh rất ghét những viên quan hống hách, hà hiếp nhân dân. Ông có nhiều học trò giỏi đử cao, làm quan lớn. Với học trò nào ông cũng dạy về lòng yêu dân, đức khiêm tốn. Có lần, một viên quan huyện hách dịch đã bị ông cho một bài học, làm trò cười cho thiên hạ.
    Bữa ấy, ông đi thăm bạn bè, ngồi nghỉ chân ở quán nước bên đường. Bửng thấy một đoàn rước quan huyện đi qua. Dân trong vùng đều biết viên quan này thường hay bắt người dọc đường khiêng cáng, bèn bảo nhau trốn chạy cả. Vì không biết lệ đó nên ông cứ ung dung ngồi nghỉ đến khi tên lính hầu của quan huyện bắt ra khiêng cáng.
    Lương Thế Vinh khúm núm bước lại ghé vai khiêng cáng. Khi cáng quan đi đến chử bùn lội, ông làm như vô tình trượt chân văng cáng, hất quan huyện ngã chỏng gọng giữa vũng, áo, mũ, cân đai bê bết bùn.
    Quan huyện đỏ tím mặt mày vì giận, đang toan định đổ cơn thịnh nộ lên đầu kẻ hầu hạ mình thì trạng vẫy người đi đường, nói lớn:
    - Bác gọi hộ anh học trò tôi là thám hoa Văn Cát ra khiêng hầu võng quan huyện thay thầy.
    Quan huyện xanh xám mặt mày, cuống quýt quỳ mọp xuống bùn lạy như bổ củi, xin quan trạng tha tội cho.
    Lương Thế Vinh nhẹ nhàng lấy lời răn dạy, từ đó viên quan huyện chừa thói hống hách với dân.
  10. Newfarmmer

    Newfarmmer Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    16/11/2004
    Bài viết:
    1.945
    Đã được thích:
    1

    Chuyên mục danh nhân văn hoá của báo Văn hoá Nam Định cũng có bài giới thiệu về ông như sau :

    Lương Thế Vinh (1441 - ? ) ​
    Lương Thế Vinh là một thiên tài toán học là người soạn giáo trình Toán học đầu tiên ở Việt Nam, quyển "Ðại thành toán pháp", được đưa vào chương trình thi cử suốt 450 năm.
    I. Tiểu sử:
    Lương Thế Vinh tên chữ là Cảnh Nghị , hiệu là Thụy Hiên, người làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam Hạ ( nay là huyện Vụ bản, Hà Nam Ninh ). Đử Trạng nguyên khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (1463), đời Lê Thánh Tông. Làm quan các chức: Trực học sĩ viện Hàn lâm, Thị thư, Chưởng viện sự. Ông chẳng những giỏi văn còn giỏi toán nên người đương thời gọi ông là Trạng Lường .
    Từ bé Lương Thế Vinh đã nổi tiếng trong việc học, việc chơi. Vinh học rất mau thuộc, mau hiểu, mà chơi cũng rất tài tình. Cậu rất thích thả diều, câu cá, bẫy chim cùng với các trẻ chăn trâu. Khi thả diều, diều của Vinh thường vẫn lên cao hơn, có hình dáng khác lạ và có tiếng kêu trầm bổng, rất du dương vui tai, người lớn cũng say mê lắng nghe.... Cùng đi câu cá với bạn bè, nhưng bao giờ cậu cũng được nhiều cá hơn. Nhìn chiếc bẫy người lớn bẫy chuột, cậu liền nghĩ ra chiếc bẫy nhỏ xíu để bẫy chim chả khá tinh vi làm người lớn phải ngạc nhiên, thán phục. Người thời đó gọi cậu là "thần đồng" Lương Thế Vinh là một ông quan tài giỏi, thông thạo văn chương, giỏi giang âm nhạc, tinh tường toán pháp. Ông còn nổi tiếng về lòng mến dân và đức tính thẳng thắn, trung thực. Ngay đối với vua, ông cũng hay châm biếm khôi hài, không chịu câu thúc. Ông thường mượn việc để răn dạy từ vua đến quan.
    II. Giai thoại về Lương Thế Vinh:
    1. Trái bưởi - Sức đẩy Archimède:
    Hôm đó, cậu đem một trái bưởi ra bãi tha ma (chử bạn bè thả trâu) làm quả bóng để các bạn cùng chơi. Bửng quả bưởi lăn xuống một trong những cái hố bên mép bãi người ta đào để ngăn trâu bò khỏi phá lúa. Cái hố rất hẹp lại rất sâu không xuống mà cũng không với tay lấy lên được. Bọn trẻ tưởng thế là mất đồ chơi. Nhưng Lương Thế Vinh nghĩ một lát, rồi mới hớn hở rủ bạn đi mượn vài chiếc gầu giai đi múc nước đổ xuống hố. Bọn trẻ không hiểu Vinh làm thế để làm gì. Nhưng lát sau thấy Vinh cúi xuống cầm quả bưởi lên, chúng rất sửng sốt phục tài Vinh.
    Từ đó trẻ con trong làng truyền nhau rằng Lương Thế Vinh là thần, có một câu "thần chú" hay lắm, có thể gọi được những vật vô tri như quả bưởi lại với mình.
    Thực ra thì Vinh trèo cây hái bưởi bên bờ ao, sẩy tay cậu làm rơi quả bưởi xuống nước tưởng mất. Nhưng khi nhìn thấy bưởi nổi trên mặt ao, Vinh đã lấy cành tre khều vào và đem ra bãi chơi. Lúc quả bưởi lăn xuống hố, cậu đã chợt nhớ lại và nghĩ ra cách lấy nước đổ xuống cho bưởi nổi lên. Vốn thích thơ ca, hò, vè nên trong khi cúi xuống chờ bưởi, cậu vui miệng đọc lẩm nhẩm:
    Bưởi ơi bưởi
    Nghe tao gọi
    Lên đi nào
    Đừng quên lối
    Đừng bỏ tao...

    Và bọn trẻ cứ nghĩ rằng Vinh đọc "thần chú".
    2. Phương pháp học của ông:
    Lương Thế Vinh là người biết kết hợp rất khéo giữa chơi và học, nên từ nhỏ Vinh học rất thoải mái và lại đạt kết quả cao.
    Vinh học đến đâu, hiểu đến đấy, học một mà biết mười. Khi đã ngồi học thì tập trung tư tưởng rất cao, luôn muốn thực nghiệm những điều đã học vào đời sống. Trong khi vui chơi như câu cá, thả diều, bẫy chim, Vinh luôn kết hợp với việc học. Lúc thả diều, Vinh rung dây diều để tính toán, ước lượng chiều dài, chiều cao. Khi câu cá, Vinh tìm hiểu đời sống các sinh vật, ước tính đo lường chiều sâu ao hồ, chiều rộng sông ngòi... và kiểm tra lại bằng thực nghiệm. Vinh nghĩ ra cách đo bóng cây mà suy ra chiều dài của cây.
    Người đời còn truyền lại câu chuyện sau đây:
    Dạo đó, Lương Thế Vinh và Quách Đình Bảo là hai người nổi tiếng vùng Sơn Nam (Thái Bình- Nam Định bây giờ) về thông minh, học giỏi. Một hôm, sắp đến kỳ thi, Lương Thế Vinh tìm sang làng Phúc Khê bên Sơn Nam hạ để thăm Quách Đình Bảo, toan bàn chuyện cùng lên kinh ứng thí.
    Đến làng, Vinh ghé một quán nước nghỉ chân. Tại đây Vinh nghe người ta nói là Quách Đình Bảo đang ngày đêm dùi mài kinh sử quên ngủ, quên ăn. Chắc chắn kỳ này Bảo phải đứng đầu bảng vàng. Vinh cười nói:
    - Kỳ thi đến nơi mà còn chúi đầu vào quyển sách, cố tụng niệm thêm vài chữ. Vậy cũng gọi là biết học ư? Ta có đến thăm cũng chẳng có gì để bàn bạc - Vinh nói thế rồi bỏ ra về.
    Quách Đình Bảo nghe được chuyện trên, gật gù:
    - Người đó hẳn là Lương Thế Vinh, ta phải đi tìm mới được!
    Thế là Bảo chuẩn bị khăn gói, tìm đến Cao Hương thăm Vinh. Chắc mẩm đến nhà sẽ gặp ngay Vinh đang đọc sách, nhưng Vinh đi vắng, người nhà bảo Vinh đang chơi ngoài bãi.
    Quách Đình Bảo ra bãi tìm, quả thấy Vinh đang thả diều, chạy chơi cùng bạn bè, rất ung dung thư thái. Bảo phục lắm tự nói với mình: "Người này khôi ngô tuấn tú, phong thái ung dung, ta có học mấy cũng không thể theo kịp".
    Quả nhiên sau đó, khoa Quý Mùi năm Quang Thuận thứ tư, đời vua Lê Thánh Tông (1463) Lương Thế Vinh đử Trạng nguyên (đử đầu), Quách Đình Bảo đử Thám hoa (đử thứ 3). Năm ấy Lương Thế Vinh mới hăm hai tuổi.
    3. Cách cân voi và đo bề dày tờ giấy:
    Ngày xưa, vua quan Trung Quốc thường cậy thế nước lớn, coi thường nước ta, cho nước ta là man di, mọi rợ. Về tinh thần bất khuất của cha ông ta thì chúng đã được nhiều bài học. Nhưng về mặt khoa học thì chúng chưa phục lắm.
    Một lần sứ nhà Thanh là Chu Hy sang nước ta, vua Thánh Tông sai Lương Thế Vinh ra tiếp. Hy nghe đồn Lương Thế Vinh không những nổi tiếng về văn chương âm nhạc, mà còn tinh thông cả toán học nên mới hỏi:
    - Có phải ông làm sách Đại thành toán pháp, định thước đo ruộng đất, chế ra bàn tính của nước Nam đó không?
    Lương Thế Vinh đáp:
    - Dạ, đúng thế!
    Nhân có con voi rất to đang kéo gử trên sông, Chu Hy bảo:
    - Trạng thử cân xem con voi kia nặng bao nhiêu!
    - Xin vâng!
    Dứt lời, Vinh xăm xăm cầm cân đi cân voi.
    - Tôi xem chiếc cân của ông hơi nhỏ so với con voi đấy! - Hy cười nói.
    - Thì chia nhỏ voi ra! Vinh thản nhiên trả lời!
    - Ông định mổ thịt voi à? Cho tôi xin một miếng gan nhé!
    Lương Thế Vinh tỉnh khô không đáp. Đến bến sông, trạng chỉ chiếc thuyền bỏ không, sai lính dắt voi xuống. Thuyền đang nổi, do voi nặng nên đầm sâu xuống. Lương Thế Vinh cho lính lội xuống đánh dấu mép nước bên thuyền rồi dắt voi lên. Kế đó trạng ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền, thuyền lại đầm xuống dần cho tới đúng dấu cũ thì ngưng đổ đá.
    Thế rồi trạng bắc cân lên cân đá. Trạng cho bảo sứ nhà Thanh:
    - Ông ra mà xem cân voi!
    Sứ Tàu trông thấy cả sợ, nhưng vẫn tỏ ra bình tĩnh coi thường. Khi xong việc, Hy nói:
    - Ông thật là giỏi! Tiếng đồn quả không ngoa! Ông đã cân được voi to, vậy ông có thể đo được tờ giấy này dày bao nhiêu không?
    Sứ nói rồi xé một tờ giấy bản rất mỏng từ một cuốn sách dày đưa cho Lương Thế Vinh, Hy lại đưa luôn một chiếc thước.
    Giấy thì mỏng mà li chia ở thước lại quá thô, Vinh nghĩ giây lát rồi nói:
    - Ngài cho tôi mượn cuốn sách!
    - Sứ đưa ngay sách cho Lương Thế Vinh với vẻ không tin tưởng lắm.
    Lương Thế Vinh lấy thước đo cuốn sách, tính nhẩm một lát rồi nói bề dày tờ giấy.
    Kết quả rất khớp với con số đã viết sẵn ở nhà. Nhưng sứ chưa tin tài Lương Thế Vinh, cho là ông đoán mò. Khi nghe Vinh nói việc đo này rất dễ, chỉ cần đo bề dày cả cuốn sách rồi chia đều cho số tờ là ra ngay kết quả thì sứ ngửa mặt lên trời than: "Danh đồn quả không sai. Nước Nam quả có lắm người tài!"
    Lương Thế Vinh quả là kỳ tài! Ông nghĩ ra cách cân đo tài tình ngay cả trong lúc bất ngờ, cần ứng phó nhanh chóng. Gặp vật to thì ông chia nhỏ, gặp vật nhỏ thì ông gộp lại. Phải chăng ý tưởng của Lương Thế Vinh chính là mầm mống của phép tính vi phân (chia nhỏ) và tích phân (gộp lại) mà ngày nay là những công cụ không thể thiếu được của toán học hiện đại.
    4. Với vua Lê Thánh tông:
    a. Một cách khen vua
    Lương Thế Vinh thuở bé nghịch ngợm nổi tiếng. Ông hay tắm sông hồ thành thử bơi lội rất giỏi. Lê Thánh Tông biết rõ chuyện ấy, nên một hôm đi chơi thuyền có Lương Thế Vinh và các quan theo hầu, Vua liền giả vờ say rượu ẩy Vinh rơi tòm xuống sông, rồi cứ cho tiếp tục chèo thuyền đi.
    Không ngờ Lương Thế Vinh rơi xuống, liền lặn một hơi đi thật xa, rồi đến một chử vắng lên bờ ngồi núp vào một bụi rậm chẳng ai trông thấy. Lê Thánh Tông chờ mãi không thấy Vinh trồi đầu lên, bấy giờ mới hoảng hồn, vội cho quân lính nhảy xuống tìm vớt, nhưng tìm mãi cũng chẳng thấy đâu. Vua hết sức ân hận vì lối chơi đùa quá quắt của mình, chỉ muốn khóc, thì tự nhiên thấy Vinh từ dưới nước ngóc đầu lên lắc đầu cười ngất. Khi lên thuyền rồi, Vinh vẫn còn cười. Thánh Tông ngạc nhiên hỏi mãi, cuối cùng Vinh mới tâu:
    "Thần ở dưới nước lâu là vì gặp phải một việc kỳ lạ và thú vị. Thần gặp cụ Khuất Nguyên (*), cụ hỏi thần xuống làm gì?. Thần thưa dối là thần chán đời muốn chết. Nghe qua, cụ Khuất Nguyên tròn xoe mắt, mắng thần: "Mày là thằng điên!. Tao gặp Sở Hoài Vương và Khoảng Tương Vương hôn quân vô đạo, mới dám bỏ nước bỏ dân trầm mình ở sông Mịch La. Chứ mày đã gặp được bậc thánh quân minh đế, sao còn định vớ vẩn cái gì?". Thế rồi cụ đá thần một cái, thần mới về đây!".
    Lê Thánh Tông nghe xong biết là Lương Thế Vinh nịnh khéo mình, nhưng cũng rất hài lòng, thưởng cho Vinh rất nhiều vàng lụa.
    (*) Khuất Nguyên - nhà thơ nổi tiếng, một vị trung thần nước Sở - do can ngăn vua Hoài Vương không được, đã uất ức ôm đá gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Hôm ấy đúng ngày mồng Năm tháng Năm. Thương tiếc người trung nghĩa, mửi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (chủ ý khiến cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông ném bánh xuống cúng Khuất Nguyên.
    b. Ứng đáp với vua
    Vua Lê Thánh Tông đi kinh lý vùng Sơn Nam hạ, ghé thăm làng Cao Hương, huyện Vụ Bản, quê hương của Trạng Nguyên Lương Thế Vinh, lúc bấy giờ cũng đang theo hầu Vua.
    Hôm sau vua đến thăm chùa làng. Khi ấy, sư cụ đang bận tụng kinh. Bửng sư cụ đánh rơi chiếc quạt xuống đất. Vẫn tiếp tục tụng, sư cụ lấy tay ra hiệu cho chú tiểu cúi xuống nhặt, nhưng một vị quan tùy tòng của Lê Thánh Tông đã nhanh tay nhặt cho sư cụ. Vua Lê Thánh Tông trông thấy vậy, liền nghĩ ra một vế đối, trong bữa tiệc hôm đó đã thách các quan đối.
    Vế ấy như sau:
    Ðường thượng tụng kinh sư sử sứ...
    Nghĩa là: Trên bục tụng kinh sư khiến sứ ( nhà sư sai khiến được quan)
    Câu nói này oái ăm ở ba chữ sư sử. Các quan đều chịu chẳng ai nghĩ ra câu gì.
    Trạng nguyên Lương Thế Vinh cứ để họ suy nghĩ chán chê. Ông ung dung ngồi uống rượu chẳng nói năng gì. Vua Lê Thánh Tông quay lại bảo đích danh ông phải đối , với hy vọng đưa ông đến chử chịu bí. Nhưng ông chỉ cười trừ.
    Một lúc ông cho lính hầu chạy ngay về nhà mời vợ đến . Bà trạng đến, ông lấy cớ quá say xin phép vua cho vợ dìu mình về.
    Thấy Vinh là một tay có tài ứng đối mà hôm nay cũng đành phải đánh bài chuồn, nhà vua lấy làm đắc ý lắm, liền giục:
    " Thế nào? Ðối được hay không thì phải nói đã rồi hẵng về chứ?"
    Vinh gãi đầu gãi tai rồi chắp tay ngập ngừng:
    - Dạ... muôn tâu, Thần đối rồi đấy ạ!
    Vua và các quan lấy làm lạ bảo Vinh thử đọc xem. Vinh cứ một mực:" Ðối rồi đấy chứ ạ!" hoài. Sau nhà vua gạn mãi, Vinh mới chỉ tay vào người vợ đang dìu mình, mà đọc rằng:
    Ðình tiền túy tửu, phụ phù phu.
    Nghĩa là: Trước sân say rượu, vợ dìu chồng.
    Nhà vua cười và thưởng cho rất hậu.
    c. Lời tiên đoán
    Một hôm, lúc chầu trong triều, vua hớn hở nói với Vinh:
    - Trẫm có nhiều con trai, việc thiên hạ không việc gì phải lo ngại nữa!
    Lương Thế Vinh tâu:
    - Lắm con trai là lắm giặc. Không lo sao được!
    Vua lấy làm lạ hỏi:
    - Ta không rõ sao lại thế?
    Trạng tâu không úp mở:
    - Ngôi báu chỉ có một. Bệ hạ có nhiều con trai càng có nhiều sự tranh giành ngôi báu. Như vậy phải lo lắm chứ!
    Đúng như lời tiên đoán của ông. Sau đó con cháu nhà vua tranh giành ngôi thứ, chém giết lẫn nhau, làm cho triều chính đổ nát, trăm họ lầm than. Chỉ ba chục năm sau khi Thánh Tông mất, Mạc Đăng Dung đã nhân cơ hội mà cướp ngôi nhà Lê.
    5. Răn dạy các quan
    Lương Thế Vinh rất ghét những viên quan hống hách, hà hiếp nhân dân. Ông có nhiều học trò giỏi đử cao, làm quan lớn. Với học trò nào ông cũng dạy về lòng yêu dân, đức khiêm tốn. Có lần, một viên quan huyện hách dịch đã bị ông cho một bài học, làm trò cười cho thiên hạ.
    Bữa ấy, ông đi thăm bạn bè, ngồi nghỉ chân ở quán nước bên đường. Bửng thấy một đoàn rước quan huyện đi qua. Dân trong vùng đều biết viên quan này thường hay bắt người dọc đường khiêng cáng, bèn bảo nhau trốn chạy cả. Vì không biết lệ đó nên ông cứ ung dung ngồi nghỉ đến khi tên lính hầu của quan huyện bắt ra khiêng cáng.
    Lương Thế Vinh khúm núm bước lại ghé vai khiêng cáng. Khi cáng quan đi đến chử bùn lội, ông làm như vô tình trượt chân văng cáng, hất quan huyện ngã chỏng gọng giữa vũng, áo, mũ, cân đai bê bết bùn.
    Quan huyện đỏ tím mặt mày vì giận, đang toan định đổ cơn thịnh nộ lên đầu kẻ hầu hạ mình thì trạng vẫy người đi đường, nói lớn:
    - Bác gọi hộ anh học trò tôi là thám hoa Văn Cát ra khiêng hầu võng quan huyện thay thầy.
    Quan huyện xanh xám mặt mày, cuống quýt quỳ mọp xuống bùn lạy như bổ củi, xin quan trạng tha tội cho.
    Lương Thế Vinh nhẹ nhàng lấy lời răn dạy, từ đó viên quan huyện chừa thói hống hách với dân.

Chia sẻ trang này