1. Phiên bản ttvnol.com mới đã chính thức đi vào hoạt động. Trong quá trình sử dụng, nếu phát hiện các lỗi của phiên bản mới, mời mọi người thông báo tại đây.
  2. Các thành viên xem hướng dẫn sử dụng tính năng của diễn đàn tại đây.
  3. Hiện nay hệ thống gặp trục trặc phía server Tìm kiếm nên tạm thời chức năng tìm kiếm bài viết và danh sách bài viết đã viết của thành viên không hoạt động được, bộ phận kỹ thuật đang khắc phục và chậm nhất tới hết ngày 29/7 hệ thống sẽ trở lại hoạt động bình thường.
  4. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

LUẬT BÓNG RỔ VIỆT NAM

Chủ đề trong 'Bóng rổ' bởi kind_monster1999, 31/08/2007.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. kind_monster1999

    kind_monster1999 Thành viên mới

    LUẬT BÓNG RỔ VIỆT NAM

    Em đã cư ngụ ở trên topic này một thời gian dài rồi nhưng quả thật, em vẫn thấy thiếu thiếu cái gì đó. Và vào một ngày thật đẹp, em đi lạc lối thế nào mà em đã vào đc trang web của liên đoàn thể dục thể thao VIỆT NAM, và em đã tìm đc luật bóng rổ. SAU đây, em xin post bài về luật bóng rổ để cả nhà tham khảo và học hỏi. Bài đầu em xin post 2 trương đầu, ngày mai em xin post nốt các chương kòn lại.
    Chương I. TRẬN ĐÁU
    ĐIỀU 1: ĐỊNH NGHĨA
    1.1 Trận đấu bóng rổ.
    Bóng rổ được thi đấu bởi hai đội, mỗi đội 5 đấu thủ. Mục đích của mỗi đội là ném bóng vào rổ đối phương và ngăn cản không cho đối phương giành được bóng hay ném bóng vào rổ của mình.
    1.2 Rổ của đội phòng thủ/rổ của đối phương.
    Rổ bị mội đội tấn công là rổ của đối phương và rổ được phòng thủ bởi một đội là rổ của đội đó.
    1.3 Di chuyển bóng.
    Bóng có thể được chuyền, ném, hất, hay dẫn về bất cứ hướng nào nhưng phải tuân theo qui định của những điều luật.
    1.4 Đội thắng.
    Đội thắng là đội ghi được nhiều điểm hơn sau khi kết thúc thời gian thi đấu của hiệp thứ tư, nếu cần sẽ có thêm một hoặc nhiều hiệp phụ để xác định đội thắng.



    Chương II : KÍCH THƯỚC SÂN BÃI VÀ TRANG THIẾT BỊ
    ĐIỀU 2 : KÍCH THƯỚC SÂN THI ĐẤU VÀ ĐƯỜNG BIÊN
    2.1 Sân thi đấu.
    Sân thi là một mặt phẳng cứng hình chữ nhật, trên mặt sân không có chướng ngại vật (H.1). Trong những giải chính thức của FIBA thì đấu dài 28m, rộng 15m được tính từ mép trong của đường biên.
    Trong những trường hợp khác, được sự chấp thuận của FIBA, tổ chức ở khu vực, các giải Liên lục địa hoặc của liên đoàn quốc gia thì có quyền cho phép được sử dụng những sân thi đấu có kích thước tối thiểu chiều dài là 26m và chiều rộng là 14m.
    2.2 Trần nhà.
    Chiều cao của trần nhà thi đấu hoặc chướng ngại vật treo ở trên phải cách mặt sân thi đấu ít nhất là 7m.
    2.3 Ánh sáng.
    Mặt sân thi đấu được chiếu sáng đều và có ánh sáng thích hợp. Đèn chiếu sáng đều và có ánh sáng được đặt ở vị trí sao cho không làm chói mắt các đấu thủ cũng như gây trở ngại tới việc quan sát của trọng tài.
    2.4 Đường biên.
    Tất cả những đường biên sẽ được vẽ cùng một màu (thưòng là màu trắng), rộng 5cm và được nhìn thấy rõ ràng.
    2.4.1. Đường cuối sân và đường biên dọc.
    Sân thi đấu là khu vực được giới hạn bởi hai đường (hai đường biên dài của sân thi đấu).Những đường biên này không thuộc sân thi đấu.
    Sân thi đấu phải cách mọi chướng ngại vật kể cả băng ghế ngồi của đội ít nhất là 2m.
    2.4.2 Đường giữa sân.
    Đường giữa sân được kẻ song song với đường biên cuối sân, cắt hai đường biên dọc ở điểm chính giữa và được kéo dài thêm ra ngoài sân một đoạn 15cm ở mỗi bên.
    2.4.3 Đường ném phạt, khu vực giới hạn và vị trí ném phạt.
    Đường ném phạt được kẻ song song với đường cuối sân, mép ngoài của đường ném phạt cách mép trong của đường cuối sân là 5,80m. Đường ném phạt dài 3,60m, điểm giữa của đường ném phạt nằm trên đường tưởng tượng nối điểm của hai đường cuối sân.

    Khu vực giới hạn là phần mặt sân được giới hạn bởi đường cuối sân, đường ném phạt và hai đường chéo bắt đầu từ đường cuối sân và cách điểm giữa của đường cuối sân 3m tính từ mép ngoài của hai đường chéo tới đầu của đường ném phạt. Những đường này, bao gồm cả đường cuối sân đều thuộc khu vực giới hạn. Bên trong khu vực giới hạn có thể được sơn màu, nhưng phải sơn cùng màu với vòng tròn giữa sân.
    Khu vực ném phạt là khu vực giới hạn được kéo dài thêm ở trong sân thi đấu bởi nửa vòng còn lại được vẽ trong khu vực giới hạn bằng những đường gián đoạn.
    Những vị trí cho các đấu thủ dọc theo khu vực ném phạt được quy định và thực hiện theo H.2.
    2.4.4 Vòng tròn giữa sân
    Vòng tròn giữa sân được vẽ ở giữa sân thi đấu và có bán kính là 1,80m tính đến mép ngoài của vòng tròn giữa sân được sơn màu thì phải sơn cùng màu với khu vực giới hạn.
    2.4.5 Khu vực 3 điểm (H.3).
    Khu vực 3 điểm của một đội là toàn bộ phần sân thi đấu trừ khu vực gần rổ của đối phương được giới hạn như sau :
    ? Hai đường thẳng song song bắt đầu từ đường cuối sân, cách điểm chiếu của tâm vòng rổ 6,25m. Điểm chiếu của tâm vòng rổ cách mép trong điểm giữa của đường cuối sân 1,575m.
    ? Một nửa vòng tròn có bán kính 6,25m tính đến mép ngoài (có tâm đã được xác định và gặp hai đường thẳng song song).
    2.4.6. Khu vực ghế ngồi của đội (H.1).
    Khu vực ghế ngồi của đội được đặt ở ngoài sân thi đấu cùng bên với bàn thư ký được vẽ như sau :
    Mỗi khu vực ghế ngồi được giới hạn bởi một đường kéo dài từ cuối sân và dài ít nhất là 2m và một vạch khác cũng dài ít nhất là 2m thẳng góc với đường biên dọc và cách đường giữa sân 5m.
    2.5 Vị trí của bàn thư ký và ghế thay người (H.4).
    Sự sắp xếp khu vực ghế ngồi của đội và ghế thay người sau đây là bắt buộc cho những giải chính thức của FIBA và cũng được áp dụng cho tất cả những giải khác.

    ĐIỀU 3 : TRANG THIẾT BỊ
    3.1 Bảng rổ và giá đỡ.
    3.1.1 Hai tấm bảng rổ được làm bằng những chất liệu khác, bảng phải được sơn màu trắng.
    3.1.2 Kích thước của bảng là : Chiều ngang 1,80m và chiều cao 1,05m và mép dưới của bảng rổ cách mặt sân 2,90m.
    3.1.3 Tất cả những đường kẻ trên bảng được vẽ như sau :
    * Màu trắng, nếu bảng trong suốt.
    * Màu đen nếu bảng làm bằng chất liệu khác.
    * Đường kẻ rộng 5cm.
    3.1.4 Mặt trước của bảng phải phẳng và được vẽ như ở hình 5.
    3.1.5 Bảng rổ được đặt chắc chắn như ở hình 6.
    * Ở mỗi đường cuối sân của sân thi đấu và thẳng góc với mặt sân, song song với đường cuối sân .



    ? Điểm giữa chiều ngang của mặt phía trước bảng rổ, được chiếu xuống mặt sân và cách mép trong điểm giữa của đường cuối sân 1,20m, đường kẻ tưởng tượng phải thẳng góc với đường cuối sân.
    ? 3.1.6 Băng đệm của hai bảng được qui định như ở hình 6.
    ? Mặt trước của giá đỡ bảng (kể cả băng đệm) phải cách mép ngoài của đường cuối sân ít nhất là 2m. Được sơn màu trắng tương phản với nền phía sau để các đấu thủ có thể nhìn thấy rõ ràng.
    ? Gía đỡ của bảng được gắn chặt cố định trên sân.
    ? Mặt dưới của giá đỡ ở sau bảng phải được bọc lót một đoạn dài 1,20m tính từ mặt bảng.
    ? Bề dầy tối thiểu của băng đệm là 5cm và cùng giá đỡ phải được bọc lót toàn bộ và phải bọc lót cao tối thiếu 2,15m tính từ mặt sân và phải dầy tối thiểu 2,15m tính từ mặt sân và phải dầy tối thiểu 15cm.
    3.1.8 Sự bọc lót nhằm mục đích không gây ra chấn thương khi úp rổ.
    3.2. Rổ (H.8).
    Rổ gồm có vòng cổ và lưới.
    3.2.1 Vòng rổ được làm như sau :
    * Sắt đặt, đường kính là 45cm tính từ mép trong, sơn màu vàng cam.
    * Sắt làm vòng rổ có đường kính tối thiểu là 1,6cm và tối đa là 2cm, có nhiều móc nhỏ gắn ở bên dưới để treo lưới.
    * Lưới được gắn vào vòng rổ có đường kính tối thiểu là 1,6cm và tối đa là 2cm, có nhiều móc nhỏ gắn ở bên dưới để treo lưới.
    * Lưới được gắn vào vòng rổ ở 2 vị trí cách đều chung quanh vòng rổ. Những móc treo lưới không được có cạnh sắc hoặc không có lỗ hổng cho ngón tay đi qua.
    * Vòng rổ được gắn cố định vào giá đỡ để không cho một lực mạnh tác động vào vòng rổ, nhưng tác động trực tiếp vào bảng.
    * Mặt trên của vòng rổ nằm trên mặt phẳng ngang cách mặt sân 3,05m và cách đều hai cạnh thẳng đứng của bảng.
    * Điểm gần nhất của mép trong vòng rổ cách mặt bảng 15cm.
    3.2.2 Vòng rổ giảm áp : có thể sử dụng.
    3.2.3 Lưới :
    Được làm như sau :
    ? Làm bằng dây màu trắng, treo vào rổ để khi bóng vào rổ, bóng được giữ lại giây lát rồi mới rơi xuống. Chiều dài của lưới không ngắn hơn 40cm và không dài hơn 45cm.
    ? Lưới có 12 vòng dây để treo vào vòng rổ.
    ? Phần trên cao của lưới hơi cứng để ngăn :
    - Lưới bật qua vòng rổ có thể làm vướng
    - Bóng vướng trong lưới khi úp rổ hoặc bật ra khỏi lưới.

    3.3 Bóng rổ.
    3.3.1 Bóng hình cầu có màu cam sáng. Bóng có 8 miếng ghép theo truyền thống và có đường nối màu đen.
    3.3.2 Bề mặt của bóng làm bằng da, da nhân tạo, cao su hoặc bằng chất tổng hợp.
    3.3.3 Bóng được bơm căng sao cho bóng rơi xuống mặt sân từ độ cao 1,80m tính từ phía dưới cảu bóng và bóng được nẩy lên cao từ 1,20m đến 1,40m tính từ phía trên của bóng.
    3.3.4 Chiều ngang đường rãnh của bóng không quá 0,635cm.
    3.3.5 Chu vi của bóng không nhỏ hơn 74,9cm và không lớn hơn 78cm (size 7). Trọng lượng của bóng không nhẹ hơn 567gr và không nặng hơn 650gr.
    3.3.6 Đội chủ nhà (sân đăng cai) phải cung cấp ít nhất hai quả bóng có đủ tiêu chuẩn nói trên để thi đấu. Trọng tài chính là người quyết định tính hợp lệ của quả bóng. Nếu trọng tài chính thử bóng mà bóng không thích hợp, trọng tài chính sẽ chọn một quả bóng khác của đội khách hay một trong những quả bóng của một trong hai đội đang dùng khởi động.
    3.4 Thiết bị kỹ thuật.
    Đội chủ nhà phải cung cấp trang thiết bị kỹ thuật để trọng tài và các phụ tá của trọng tài toàn quyền sử dụng.
    3.4.1 Đồng hồ thi đấu và đồng hồ theo dõi giờ chết.
    3.4.1.1 Đồng hồ thi đấu để tính thời gian thi đấu trong từng hiệp của trận đấu và thời gian nghỉ giữa các hiệp và được đặt vị trí sao cho mọi người có liên quan đến trận đấu kể cả khán giả có thể nhìn thấy rõ ràng.
    3.4.1.2 Một thiết bị thích hợp (Không phải đồng hồ thi đấu) hoặc là đồng hồ dừng được dùng để theo dõi thời gian hội ý.
    3.4.1.3 Nếu đồng hồ thi đấu chính được đặt ở trên cao giữa sân thi đấu thì phải có thêm hai đồng hồ phụ hoạt động đồng bộ được đặt ở trên cao ở hai đầu sân thi đấu đủ để cho mọi người có liên quan kể cả khán giả được nhìn thấy rõ ràng. Mỗi đồng hồ phụ sẽ thông báo thời gian còn lại của trận đấu.
    3.4.2 Đồng hồ 24 giây.
    3.4.2.1 Đồng hồ 24 giây có một bộ phận điều khiển hoạt động với những con số và chi tiết kỹ thuật sau :
    * Số đếm lùi, thời gian thể hiện bằng giây.
    * Thời gian không xuất hiện trên đồng hồ khi không có đội nào kiểm soát bóng.
    * Có khả năng dừng và tiếp tục đếm lùi khi hoạt động trở lại.
    3.4.2.2 Đồng hồ 24 giây được đặt như sau :
    * Hai đồng hồ 24 giây được đặt ở trên cao phía sau mỗi bảng rổ từ 30cm đến 50cm (H.6 và H.9A) hoặc :
    * Có 4 đồng hồ, sẽ đặt ở 4 góc sân và cách mỗi đường biên là (H.9B) hoặc :
    * Có 2 đồng hồ, đặt 2 cái trên đường chéo của 2 góc đối diện, 1 cái đặt ở góc bên trái bàn thư ký và gần với bàn thư ký, cả hai đồng hồ ở sau đường cuối sân và cách đường cuối sân và cách đường cuối sân là 2m và cách đường biên dọc kéo dài là 2m(H.9C).
    4.4.2.3 Mọi người liên quan đến trận đấu kể cả khán giả có thể nhìn thấy rõ ràng những đồng hồ 24 giây.
    4.4.2.3. Tín hiệu âm thanh.
    Có ít nhất hai thiết riêng biệt báo tín hiệu bằng âm thanh, có âm thanh khác rõ ràng :
    ? Một tín hiệu cho người theo dõi thời gian thi đấu. Thiết bị âm thanh của người theo dõi thời gian thi đấu.Thiết bị âm thanh của người theo dõi thời gian thi đấu sẽ tự động báo khi hết giờ thi đấu của một hiệp, hiệp phụ, hoặc kết thúc trận đấu và một tín hiệu âm thanh của thư ký được báo hiệu bằng tay chỉ dùng khi bóng chết để thu hút sự chú ý của trọng tài khi có yêu cầu hội ý, thay người..v.v khi đã hết 50 giây sau khi đã bắt đầu hội ý hoặc khi có trường hợp sửa chữa sai lầm.
    ? Một tín hiệu âm thanh cho người theo dõi đồng hồ 24 giây sẽ tự động báo hiệu khi chấm dứt một đợt 24 giây.
    ? Cả 2 tín hiệu âm thanh phải đủ lớn để dễ dàng nghe được trong tình huống bất lợi nhất trong điều kiện quá ồn ào.
    3.4.4 Bảng báo điểm.
    Có một bảng báo điểm để mọi người có liên quan đến trận đấu, kể cả khán giả có thể nhìn thấy rõ ràng.
    Bảng điểm phải có tối thiểu các thông tin sau :
    ? Thời gian thi đấu.
    ? Điểm.
    ? Số hiệp thi đấu.
    ? Số lần hội ý.
    3.4.5 Tờ ghi điểm.
    Tờ ghi điểm chính thức được FIBA công nhận và được thư ký ghi đầy đủ trước và trong trận đấu theo đúng qui định của Luật.
    3.4.6 Bảng báo lỗi cá nhân.
    Những bảng này được thư ký sử dụng như sau : Những bảng màu trắng có vẽ số, những bảng màu trắng có vẽ số, những số này có chiều cao ít nhất là là 20cm và rộng 10cm.(Từ số 1 đến số 4 màu đen, số 5 màu đỏ).
    3.4.7 Bảng báo lỗi đồng đội.
    Hai bảng báo lỗi đồng đội được thư ký sử dụng như sau :
    Hai bảng màu đỏ, Rộng 20cm, cao 35cm, đặt ở trên bàn thư ký để mọi người có liên quan kể cả khán giả có thể nhìn thấy rõ ràng.
    Có thể sử dụng thiết bị bằng điện hay điện tử, nhưng phải giống màu và được đặt chắc chắn ở trên cao bên ngoài đường biên.

    3.4.8 Dụng cụ báo lỗi đồng đội.
    Có một thiết bị thích hợp để báo số lần của đồng đội đã có liên quan đến việc xử phạt (Điều 55 - Lỗi Đồng Đội : Xử phạt).

    em xin để phần 3.5 post vào ngày mai vì số lg ký tự kô cho phép.
  2. fox101

    fox101 Thành viên mới

    cái này có lâu lắm rồi,mà cũng ko hẳn là luật,nó chỉ nói về những cái cơ bản cần thiết để có đc 1 trận đấu thôi,ko nói về luật bắt như nào đâu
  3. kind_monster1999

    kind_monster1999 Thành viên mới

    úi trời, pác cho em hỏi bác đã đọc hết bộ này chưa zậy?? đây là mấy phần đầu, kòn nữa cơ mà bác ơi. !!!
  4. kind_monster1999

    kind_monster1999 Thành viên mới

    SAu đây em tiếp tục post tiếp các phần sau của luật BÓNG RỔ này.
    3.5 Những phương tiện và thiết bị yêu cầu cho những giải quan trọng sau đây của FIBA
    Thi đấu Olympic, Giải Vô địch Thế Giới Nam, Nữ, trẻ, Nam, trẻ Nữ, Thiếu niên Nam và Thiếu niên Nữ; Những giải Vô địch Lục địa Nam, Nữ, trẻ Nam và trẻ Nữ. Những phương tiện và thiết bị này cũng đều được sử dụng cho tất cả những giải khác.
    3.5.1 Tất cả khán giả ngồi cách cạnh ngoài của sân thi đấu ít nhất là 5m.
    3.5.2 Mặt sân thi đấu phải được :
    * Được làm bằng gỗ.
    * Đường biên rộng 5cm.
    * Đường giới hạn được vẽ màu tương phản với mặt sân và rộng ít nhất là 2m (H.10). Màu của đường giới hạn nên cùng màu với vòng tròn giữa sân và khu vực giới hạn.
    3.5.3 Có 4 cây lau sàn, mỗi hiệp sử dụng 2 cây lau sàn.
    3.5.4 Bảng rổ làm bằng kính an toàn cứng.
    3.5.5 Bóng làm bằng da và được ban tổ chức giải chấp thuận. Ban tổ chức phải cung cấp ít nhất 12 quả bóng giống nhau để khởi động.
    3.5.6 Ánh sáng trên sân thi đấu không được nhỏ hơn 1.500 Lux. Được đo cách mặt sân 1,5m.
    Ánh sáng phải đáp ứng tốt cho yêu cầu của truyền hình.
    3.5.7 Sân thi đấu được trang bị thiết bị điện tử như sau và phải được bàn thư ký, sân thi đấu, băng ghế ngồi của đội, và mọi người liên quan đến trận đấu kể cả khán giả được nhìn thấy rõ ràng :
    3.5.7.1 Hai bảng (hình khối) đặt ở trên cao giữa sân thi đấu, cũng cần thiết có thêm 2 bảng đặt ở hai đầu sân.
    * Một bảng (hình khối) đặt ở trên cao giữa sân thi đấu, cũng cần thiết có thêm 2 bảng đặt ở hai đầu sân.
    * Một bảng điều khiển đồng hồ thi đấu cho người theo dõi thời gian thi đấu và một bảng điều khiển riêng cho người phụ tá của thư ký.
    * Những bảng điểm có đồng hồ thi đấu có số đếm lùi và âm thanh rất lớn tự động báo khi hết thời gian thi đấu của một hiệp hoặc hiệp phụ.
    * Đồng hồ thi đấu và điểm của trận đấu hiện trên bảng điểm phải có chiều cao ít nhất là 30cm.
    * Tất cả những đồng hồ hoạt động phải đồng bộ và có tác dụng nhằm thông báo tổng số thời gian còn lại của trận đấu.
    * Ít nhất trong 60 giây cuối của mỗi hiệp, tổng số thời gian còn lại phải được thông báo bằng giây và từ 1/10 của giây.
    * Một trong những đồng hồ này sẽ được trọng tài chính chỉ định là đồng hồ thi đấu.
    * Bảng điểm cũng sẽ thông báo các thông tin : (H.11).
    - Số áo của mỗi đấu thủ và, tốt nhất là có họ tên.

    - Số điểm đã ghi được của mỗi đội và tốt nhất là có số điểm đã ghi của mỗi đấu thủ.
    - Số lỗi đã phạm của đấu thủ của một đội (Thư ký vẫn phải sử dụng các bảng báo lỗi để thông báo số lần lỗi).
    - Số lỗi đồng đội từ 1 đến 5 (có khả năng dừng lại ở số cao nhất là sô 5).
    - Số thứ tự của hiệp thi đấu từ số 1 đến số 4, và chữ E cho một hiệp phụ.
    - Số lần hội ý từ số 0 đến số 2.
    3.5.7.2 Đồng hồ 24 giây (H.12), có hai đồng hồ và một đèn màu đỏ, được đặt ở trên, sau mỗi bảng rổ và cách bảng rổ từ 30 ?" 50cm (H.6).
    * Đồng hồ 24 giây được tự động đếm lùi, thông báo và thời gian bằng giây và có tín hiệu âm thanh rất lớn để thông báo khi kết thúc một đợt 24 giây.
    * Đồng hồ 24 giây được kết nối với đồng hồ thi đấu chính để :
    - Khi đồng hồ thi đấu chính dừng lại, đồng hồ 24 giây cũng sẽ dừng lại.
    - Khi đồng hồ thi đấu chính bắt đầu chạy, đồng hồ 24 giây được bắt đầu chạy bằng điều khiển tay.
    * Màu số đồng hồ 24 giây và đồng hồ thi đấu phải có màu khác nhau.
    * Tất cả những đồng hồ thi đấu phải được mọi người liên cũng như khán giả nhìn thấy rõ ràng.
    * Bóng đèn ở phía trên và ở phía sau mỗi bảng rổ sẽ :
    - Hoạt đồng bộ với đồng hồ 24 giây, đèn đỏ sáng lên khi có tín hiệu âm thanh kết thúc một đợt 24 giây.
    Chương III : NHIỆM VỤ CỦA TRỌNG TÀI, BÀN THƯ KÝ VÀ CỐ VẤN KỸ THUẬT
    ĐIỀU 4 : TRỌNG TÀI, BÀN THƯ KÝ VÀ CỐ VẤN KỸ THUẬT
    4.1 Trọng tài gồm trọng tài chính và trọng tài phụ, giúp việc cho trọng tài có các nhân viên của bàn thư ký và một cố vấn kỹ thuật, nếu có.
    Do yêu cầu của FIBA, cũng như là của tổ chức khu vực hoặc của Liên đoàn quốc gia, có thể áp dụng hệ thống ba trọng tài, gồm một trọng tài chính và hai trọng tài phụ.
    4.2 Nhân viên bàn thư ký gồm : Một thư ký, một trợ lý của thư ký, một người theo dõi giờ thi đấu, và một người theo dõi đồng hồ 24 giây.
    4.3 Có thể có một cố vấn kỹ thuật. Cố vấn kỹ thuật ngồi giữa thư ký và người theo dõi thời gian thi đấu. Nhiệm vụ của cố vấn kỹ trong trận đấu trước tiên là giám sát công việc của bàn trọng tài và giúp cho trọng tài chính và trọng tài phụ điều khiển tốt trận đấu.
    4.4 Không nên quá nhấn mạnh rằng trọng tài chính và trọng tài phụ của một trận đấu không được có mối liên hệ nào với thành viên của các tổ chức của đội đang thi đấu trên sân.
    4.5. Các trọng tài, nhân viên bàn thư ký hoặc cố vấn kỹ thuật điều khiển trận đấu không có quyền thống nhất với nhau để thay đổi những Điều luật này.
    4.6 Đồng phục của trọng tài : Áo thun màu xám, quần tây dài màu đen, giầy bóng rổ màu đen và tất đen.
    4.7 Những giải chính thức của FIBA nhân viên bàn thư ký phải mặc đồng phục.
    ĐIỀU 5 : TRỌNG TÀI CHÍNH : TRÁCH NHIỆM VÀ CÓ QUYỀN HẠN
    Trọng tài chính sẽ :
    5.1 Kiểm tra và chấp thuận mọi thiết bị sử dụng trong trận đấu.
    5.2 Chỉ định đồng hồ thi đấu chính, đồng hồ 24 giây, đồng hồ điều khiển thời gian nghỉ và cũng như chấp thuận các nhân viên của bàn thư ký.
    5.3 Không cho phép bất cứ một đấu thủ nào mang đồ vật có thể gây nguy hiểm cho các đấu thủ khác.
    5.4 Điều khiển cho nhảy tranh bóng ở vòng tròn giữa sân để bắt đầu mỗi hiệp của trận đấu và mỗi hiệp phụ.
    5.5 Có quyền dừng trận đấu khi điều kiện cho phép.
    5.6 Có quyền quyết định cho một đội bỏ cuộc nếu đội đó từ chối thi đấu sau khi được giải thích để dàn xếp một điều gì đó hoặc nếu bằng hành động của họ nhằm ngăn cản trận đấu tiếp tục.
    5.7 Kiểm tra cẩn thận tờ ghi điểm khi kết thúc hiệp thứ hai hoặc hiệp thứ tư hoặc bất kỳ hiệp phụ nào, hay bất cứ lúc nào thấy cần thiết sẽ kiểm tra tờ ghi điểm, chấp thuận số điểm và thời gian còn lại của trận đấu.
    5.8 Có quyết định sau cùng bất cứ khi nào cần thiết hoặc khi các trọng tài bất đồng ý kiến. Để có quyết định cuối cùng, trọng tài chính có tham khảo ý kiến với trọng tài phụ, cố vấn kỹ thuật hoặc với Ban trọng tài.
    5.9 Có quyền quyết định về tất cả các điều không được ghi cụ thể trong những Điều luật này.
    ĐIỀU 6 : TRỌNG THỜI GIAN VÀ VỊ TRÍ CHO NHỮNG QUYẾT ĐỊNH
    6.1 Trọng tài có quyền quyết định đối với những vi phạm luật trong hay ở ngoài đường biên kể cả ở khu vực bàn thư ký, khu ghế ngồi của đội và khu vực sát ngay sau đường biên.
    6.2 Quyền xử phạt có hiệu lực từ khi trọng tài đến sân thi đấu, đó là 20 phút trước khi trận đấu bắt đầu và quyền xử phạt kết thúc cùng với sự kết thúc của trận đấu được chấp thuận của trọng tài. Sự chấp thuận của trọng tài chính và ký vào tờ ghi điểm khi hết thời gian thi đấu cũng sẽ kết thúc nhiệm vụ của trọng tài với trận đấu.
    6.3 Nếu có hành động phản tinh thần thể thao của đấu thủ, huấn luyện viên, huấn luyện viên phó hoặc người đi theo đội xảy ra giữa thời gian kết thúc thời gian thi đấu và trọng tài ký tên vào tờ ghi điểm, trọng tài ký tên vào tờ ghi điểm, trọng tài chính phải ghi được sự việc xảy ra ở bên lề trái của tờ ghi điểm trước khi ký tên trong tờ ghi điểm và cố vấn kỹ thuật hoặc trọng tài chính phải gửi một bản báo cáo chi tiết cho Ban tổ chức giải.
    6.4 Nếu một đội thông báo là có sự phản đối về kết quả của trận đấu, trong vòng một giờ sau khi kết thúc thời gian thi đấu cố vấn kỹ thuật hoặc trọng tài chính phải có văn bản báo cáo sự việc xảy ra cho ban tổ chức giải.
    6.5 Nếu có hiệp phụ, khi xảy ra thực hiện một hoặc nhiều quả ném phạt do một lỗi vi phạm đồng thời hoặc ngay trước khi kết thúc thời gian thi đấu của hiệp thứ tư hoặc một hiệp phụ, như vậy tất cả các lỗi phạm sau tín hiệu âm thanh báo cáo kết thúc giờ thi đấu, nhưng trước khi hoàn tất một hoặc nhiều quả ném phạt thì sẽ được coi như lỗi đã xảy ra trong thời gian nghỉ của trận đấu và được xử phạt theo Điều luật tương ứng.
    6.6 Không một trọng tài nào có quyền bác bỏ hoặc nghi ngờ những quyết định nằm trong giới hạn nhiệm vụ riêng của từng trọng tài như đã ghi trong những Điều luật này.
    ĐIỀU 7 : TRỌNG TÀI : NHIỆM VỤ KHI CÓ SỰ VI PHẠM.
    7.1 Định nghĩa :
    Tất cả những vi phạm luật hoặc phạm lỗi của đấu thủ chính thức, đấu thủ dự bị, HLV,HLV phó, hoặc người đi theo đội đều được coi là những vi phạm các Điều luật.
    7.2 Thủ tục :
    7.2.1 Khi có vi phạm luật hoặc có lỗi, trọng tài sẽ thổi còi và đồng thời làm dấu hiệu thích hợp để dừng đồng hồ thi đấu và bóng trở thành bóng chết (Xem sổ tay của Trọng tài, phần 7, những dấu hiệu và thủ tục).
    7.2.2 Trọng tài sẽ không thổi còi khi bóng vào rổ do ném phạt hoặc bóng vào rổ được tính điểm trong khi đang thi đấu.
    7.2.3 Sau một lỗi hoặc quyết định nhảy tranh bóng, trọng tài phải luôn luôn thay đổi vị trí trên sân.
    7.2.4 Trong tất cả các trận đấu quốc tế, nếu cần thiết phải dùng lời nói để làm rõ quyết định của mình, trọng tài phải sử dụng tiếng Anh.
    ĐIỀU 8 : TRỌNG TÀI BỊ CHẤN THƯƠNG
    Một trọng tài bị thương hoặc vì bất kỳ lý do nào không thể tiếp tục làm nhiệm vụ trong vòng 10 phút, trận đấu sẽ được tiếp tục. Trọng tài kia sẽ làm nhiệm vụ một mình cho đến khi trận đấu kết thúc, trừ khi có khả năng thay thế trọng tài bị thương bằng một trọng tài khác có đủ tư cách. Sau khi trao đổi cố vấn kỹ thuật, trọng tài còn lại sẽ quyết định sự thay thế trên.
    ĐIỀU 9 : THƯ KÝ VÀ TRỢ LÝ CỦA THƯ KÝ : NHIỆM VỤ
    9.1 Thư ký sử dụng tờ ghi điểm chính để :
    * ghi tên và số áo của các đấu thủ thi đấu đầu tiên và các đấu thủ dự bị vào sân thi đấu. Khi có sự vi phạm luật liên quan đến 5 đấu thủ thi đấu tiên, các đấu thủ dự bị hoặc số áo của các đấu thủ, thư ký sẽ thông báo cho trọng tài gần nhất càng sớm càng tốt khi phát hiện sự vi phạm đó.
    * Ghi tóm tắt trình tự thời gian, tổng điểm được ghi và ghi lại những bàn thắng và những quả ném phạt được thực hiện.
    * Ghi lại lỗi cá nhân và lỗi cá nhân và lỗi kỹ thuật của mỗi cá đấu thủ. Thư ký phải thông báo cho trọng tài ngay khi có bất kỳ một đấu thủ nào phạm lỗi lần thứ 5. Tương tự như vậy thư ký sẽ ghi lại những lỗi kỹ thuật của mỗi huấn luyện viên và đồng thời thông báo ngay cho trọng tài khi một huấn luyện và đồng thời thông báo ngay cho trọng tài khi một huấn luyện và đồng thời thông báo ngay cho trọng tài khi một huấn luyện viên bị trục xuất và phải rời khỏi trận đấu.
    9.2 Thư ký cũng sẽ :
    * Thông báo cho trọng tài khi có cơ hội hội ý của đội đã yêu cầu, ghi lại những lần hội ý của đội đã yêu cầu, ghi lại những lần hội ý qua trọng tài thông báo cho HLV khi đã hết lần hội ý trong mỗi hiệp.
    * Thông báo số lần của mỗi đấu thủ . Mỗi lần có lần thủ phạm lỗi, thư ký giơ bảng số lần lỗi của đấu thủ đó để cho cả 2 HLV đều nhìn thấy.
    * Vị trí của bảng báo lỗi đồng đội được đặt ở trên và cuối bàn thư ký gần băng ghế ngồi của đội, ngay khi bóng sống trở lại sau lỗi đồng đội lần thứ tư, do kết quả của lỗi cá nhân hoặc lỗi kỹ thuật của các đấu thủ của đội đó đã phạm trong mỗi hiệp.
    * Cho thay người.
    * Thư ký chỉ báo tín hiệu âm thanh khi bóng đã chết, và trước khi bóng sống trở lại. Tín hiệu âm thanh của thư ký không làm cho bóng trở lại. Tín hiệu âm thanh của thư ký không làm cho trở thành bóng chết.
    9.3 Trợ lý thư ký điều khiển bảng báo điểm và phụ giúp cho thư ký.
    Trong trường hợp có bất kỳ sự khác nhau nào giữa bảng điểm và tờ ghi điểm chính mà không thể giải quyết, tờ ghi điểm chính sẽ là cơ sở và bảng điểm sẽ được sửa theo.
    9.4 Những sai lầm đáng chú ý sau đây có thể xảy ra trong khi ghi điểm :
    * Qủa ném rổ 3 điểm nhưng chỉ ghi 2 điểm.
    * Qủa ném rổ 2 điểm nhưng ghi 3 điểm.
    Nếu sai lầm như trên được phát hiện trong trận đấu, thư ký phải chờ cho đến khi có lần bóng chết đầu tiên mới thông báo cho trọng tài để dùng trận đấu .
    Nếu sai lầm được phát hiện sau khi kết thúc trận đấu, trong khi trọng tài kiểm tra tờ ghi điểm nhưng trước khi trọng tài ký tên vào tờ ghi điểm, trọng tài chính phải sửa chữa sai lầm, và có thể, kết quả trận đấu có thể bị thay đổi, nếu điều này bị ảnh hưởng bởi cùng một sai lầm.
    Nếu sau khi trọng tài ký tên vào tờ ghi điểm mà sai lầm mới được phát hiện. Trọng tài chính không còn được sửa chữa sai lầm mà trọng tài chính phải làm báo cáo trình bày sự việc xảy ra gửi cho Ban tổ chức giải.
    ĐIỀU 10 : NGƯỜI THEO DÕI THỜI GIAN THI ĐẤU : NHIỆM VỤ.
    10.1 Người theo dõi giờ điều khiển đồng hồ thi đấu và đồng hồ theo đõi thời gian nghỉ sẽ :
    * Ghi lại thời gian thi đấu và thời gian dừng.
    * Thông báo cho hai đội và các trọng tài còn ít nhất là 3 phút trước khi hiệp 1 và hiệp thứ 3 bắt đầu.
    * Cho chạy đồng hồ theo dõi thời gian nghỉ và báo tín hiệu âm thanh khi hiệp 1 và hiệp thứ 3 bắt đầu.
    * Cho chạy đồng hồ theo dõi thời gian nghỉ và báo tín hiệu âm thanh khi 50 giây của lần hội ý đã trôi qua.
    * Thông báo bằng tín hiệu âm thanh rất lớn hoặc tự động báo khi kết thúc thời gian thi đấu của một hiệp chính hoặc hiệp phụ. Nếu tín hiệu của người theo dõi giờ bị mất hoặc không nghe thấy thì người theo dõi ngay bị mất hoặc không nghe thấy thì người theo dõi giờ ngay lập tức phải bằng mọi cách có thể được để thông báo cho trọng tài chính.
    Tín hiệu âm thanh của người theo dõi giờ làm cho bóng trở thành bóng chết và đồng hồ thi đấu dừng. Tuy nhiên, tín hiệu âm thanh của người theo dõi giờ thi đấu dừng. tuy nhiên, tín hiệu âm thanh của người theo dõi giờ thi đấu không làm cho bóng chết khi bóng đang bay trong 1 lần ném rổ hoặc ném phạt.
    10.2 Đồng hồ thi đấu bắt đầu chạy khi :
    * Nhảy tranh bóng, bóng được chạm đúng luật bởi người tranh bóng.
    * Sau lần ném phạt bóng không vào rổ và bóng tiếp tục sống, bóng chạm vào một đấu thủ ở trên sân.
    * Phát bóng biên, bóng chạm một đấu thủ trên sân.
    10.3 Đồng hồ thi đấu bắt đầu chạy khi :
    * Kết thúc thời gian thi đấu của một hiệp hoặc hiệp phụ.
    * Một trọng tài thổi còi khi bóng sống.
    * Có tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây trong khi bóng sống.
    * có tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây trong khi bóng sống.
    * Bóng vào rổ ở hai phút cuối của hiệp thứ tư và hiệp phụ.
  5. kind_monster1999

    kind_monster1999 Thành viên mới

    tiếp
    ĐIỀU 11 : NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN ĐỒNG HỒ 24 GIÂY
    Người điều khiển đồng hồ 24 giây sẽ điều khiển như sau :
    11.1 Đây là 24 giây bắt đầu chạy trở lại ngay khi một đấu thủ giành được quyền kiểm soát bóng trên sân.
    11.2 Dừng đồng hồ 24 giây và bấm trở lại về giây đầu tiên nhưng không hoạt động.
    * Trọng tài thổi còi cho một lỗi, nhảy tranh bóng hoặc phạm luật, nhưng khi bóng ra biên mà đội vừa mới kiểm soát bóng được cho phát bóng biên.
    * Một lần ném rổ và bóng vào rổ.
    * Một lần ném rổ, bóng chạm vòng rổ.
    * Trận đấu bị dừng lại do hành động có liên quan với đội đối phương dành được quyền kiểm soát bóng sống trên sân.
    11.3 Trở lại 24 giây và bắt đầu chạy ngay khi đối phương dành được quyền kiểm soát bóng sống trên sân.
    Đối phương chỉ chạm vào bóng thì không bắt đầu một đợt giây mới nếu đội đó vẫn kiểm soát bóng.
    11.4 Đồng hồ 24 giây sẽ được dừng lại nhưng không trở lại từ đầu khi :
    * Bóng ra biên.
    * Lỗi hai bên
    * Trận đấu được dừng lại do 1 hoặc nhiều hành động của đội đang kiểm soát bóng.
    11.5 Đồng hồ 24 giây dừng lại và không hoạt động khi một đội dành được quyền kiểm soát bóng và thời gian thi đấu của một hiệp hoặc hiệp phụ còn ít hơn 24 giây.
    Chương IV : ĐỘI BÓNG
    ĐIỀU 12 : ĐỘI BÓNG.
    12 :1 Định nghĩa :
    12.1.1 Có đủ tư cách để thi đấu là có quyền thi đấu cho một đội, theo điều kiện trong quy địnhcủa ban tổ chức giải. Những giới hạn về tuổi cũng được qui định trong điều lệ.
    12.1.2 Thành viên của một đội được quyền thi đấu khi anh ta được ghi tên trong tờ ghi điểm trước khi bắt đầu trận đấu và miễn là anh ta không bị lỗi trục xuất hoặc không phạm năm (5) lỗi.
    12.1.3 Trong một trận đấu mỗi thành viên của đội có thể là một đấu thủ chính thức hoặc là đấu thủ dự bị.
    12.1.4 Người đi theo đội có thể ngồi ở khu vực ghế ngồi của đội với điều kiện là anh ta có nhiệm vụ đặc biệt như là trưởng đoàn, bác sĩ, săn sóc viên, thống kê, phiên dịch. Một đấu thủ phạm 5 lỗi thì trở thành người đi theo đội.
    12.2 Ghi chú :
    Mỗi đội gồm có :
    ? Không quá 10 người có đủ tư cách thi đấu.
    ? Không quá 12 người có đủ tư cách thi đấu cho những giải mà mỗi đội phải thi đấu hơn ba trận.
    ? Một huấn luyện viên, khi đội có yêu cầu, được thêm một huấn luyện viên phó.
    ? Một đội trưởng là thành viên của đội, có đủ tư cách thi đấu.
    ? Tối đa là 5 người có trách nhiệm đặc biệt đi theo đội.
    ĐIỀU 13 : ĐẤU THỦ CHÍNH THỨC VÀ DỰ BỊ
    13.1 Định nghĩa :
    Một thành viên của đội là đấu thủ chính thức khi ở trong sân thi đấu và được quyền thi đấu. Một thành viên của 1 đội là đấu thủ dự bị khi không thi đấu trên sân hoặc ở trên sân nhưng không được quyền thi đấu bởi vì anh ta đã bị lỗi trục xuất hoặc đã bị phạm 5 lỗi.
    13.2 Ghi chú :
    13.2.1 5 (năm) đấu thủ chính thức của một đội sẽ ở trên sân trong thời gian thi đấu và có thể được thay thế theo đúng qui định trong Điều luật này.
    13.2.2 Một đấu thủ dự bị trở thành một đấu thủ chính thức khi trọng tài cho phép đấu thủ đó vào sân. Đấu thủ chính thức trở thành đấu thủ dự bị khi trọng tài cho phép đấu thủ thay thế vào sân thi đấu.
    13.2.3 Đồng phục của mỗi đội bao gồm :
    * Áo thun ba lỗ phía trước và sau lưng phải cùng một màu.
    Trong trận đấu các đấu thủ (Kể cả nam và nữ) phải bỏ áo trong quần.Được phép mặc ?o Áo liền quần?.
    ? Aó thun có tay không được mặc ở bên trong của áo thun ba lỗ, trừ khi có giấy phép của bác sĩ. Nếu được phép, áo thun có tay phải cùng màu với áo thun ba lỗ.
    ? Quần ngắn phía trước và phía sau phải cùng 1 màu, nhưng không cần phải cùng với màu áo.
    ? Quần lót dài phía dưới quần ngắn có thể được mặc nhưng phải cùng màu với quần ngắn.
    13.2.4 Áo của mỗi đấu thủ phải có số trước ngực và sau lưng, số áo phải rõ ràng, màu số áo tương phản với màu áo.
    Số áo phải được nhìn thấy rõ ràng, và :
    ? Số áo sau lưng cao ít nhất là 20 cm.
    ? Số áo trước ngực cao ít nhất 10 cm.
    ? Chiều rộng của số áo không được nhỏ hơn 2cm.
    ? Sử dụng số áo từ số 4 đến số 15.
    ? Các đấu thủ cùng đội không được mang số áo giống nhau.
    Được phép quảng cáo nhưng phải tuân theo những quy định hướng dẫn riêng của giải và quảng cáo không được che mắt số áo phía trước và phía sau.
    13.2.5 Trọng tài chính không cho phép bất kỳ đấu thủ nào mang vật dụng gây nguy hiểm cho đấu thủ khác.
    * Những vật dụng không được phép mang là :
    - Đồ bảo vệ ngón tay, cổ tay, khuỷu tay, cẳng tay hoặc dây đeo quần bằng da, bằng nhựa, bằng nhựa, bằng nhựa dẻo, bằng kim loại hoặc bất cứ vật cứng nào khác, ngay cả nếu được bao bọc lại bằng vải mềm.
    - Vật dụng có thể cắt đứt da hoặc làm trấy da (Móng tay phải cắt sắt).
    - Kẹp tóc, mũ, đồ trang sức.
    * Những vật dụng được phép mang :
    - Đồ bảo vệ vai, cánh tay, đùi, cẳng chân, những vật liệu bọc lót không gây nguy hiểm cho những đấu thủ khác.
    - Bao chằng đầu gối nếu được bao phủ đúng qui định.
    - Đồ bảo vệ mũi, ngay cả nếu làm bằng vật liệu cứng.
    - Kính đeo mắt nếu không gây nguy hiểm cho đấu thủ khác.
    - Dây buộc tóc rộng tối đa 5cm, không làm trầy da, làm bằng vải một màu, bằng nhựa dẻo hoặc bằng cao su.
    13.2.6 Mọi vật dụng được đấu thủ sử dụng phải phù hợp với bóng rổ. Mọi thiết bị làm tăng chiều cao hoặc tầm với của đấu thủ hoặc, tạo lợi thế không công bằng, đều không được phép.
    13.2.7 Bất kỳ vật dụng khác đề cập trong luật này trước tiên phải được sự đồng ý của Uỷ ban kỹ thuật thế giới của FIBA.
    13.2.8 Các đội phải có ít nhất 2 bộ áo và :
    * Đội được ghi tên trước trong chương trình thi đấu (của đội chủ nhà) sẽ mặc áo màu sáng (thường là màu trắng).
    * Đội được ghi tên thứ hai trong chương trình thi đấu (đội khác) sẽ mặc màu áo đậm.
    * Tuy nhiên, nếu hai đội thống nhất thì họ có thể trao đổi màu áo với nhau.
    13.2.9 Trong những giải chính thức của FIBA, tất cả những đấu thủ của cùng một đội sẽ
    * Mang giầy cùng một màu hoặc cùng có màu pha trộn.
    * Mang tất cùng một màu hoặc cùng có màu pha trộn.
    ĐIỀU 14 : ĐẤU THỦ CHÍNH THỨC BỊ THƯƠNG
    14.1 Trong trường hợp một đấu thủ bị chấn thương, trọng tài có thể dừng trận đấu.
    14.2 Nếu có chấn thương xảy ra khi bóng sống, trọng tài sẽ không thổi còi cho đến khi pha bóng kết thúc, đó là khi đội kiểm soát bóng đá ném rổ, mất quyền kiểm soát bóng, đã từ chối bóng từ cuộc chơi hoặc bóng trở thành bóng chết.
    Tuy nhiên, khi cần thiết để bảo vệ 1 đấu thủ bị chấn thương, ngay lập tức trọng tài có thể dừng trận đấu .
    14.3 Thay thế đấu thủ bị trấn thương :
    * Nếu một đấu thủ bị thương không thể tiếp tục thi đấu ngay (khoảng 15 giây) hoặc nếu cần điều trị, đấu thủ bị thương phải được thay thế trong khoảng 1 phút hoặc ngay khi có thể.
    * Tuy nhiên một đấu thủ bị thương đã được điều trị hoặc bình phục trong vòng 1 phút có thể lại tiếp tục thi đấu, thì đội của đấu thủ bị thương bị tính cho một lần hội ý.
    * Ngoài ra, một đấu thủ bị thương không thể tiếp tục thi đấu, thì đội của đấu thủ bị thương bị tính cho một lần hội ý.
    * Ngoài ra, một đấu thủ bị thương không thể tiếp tục thi đấu và phải được thay trong 1 phút khi đội của anh ta không còn lần hội ý nào.
    Ngoại trừ : đội phải thi đấu ít hơn 5 đấu thủ.
    14.4 Nếu đấu thủ bị chấn thương được ném phạt, người thay thế đấu thủ bị thương sẽ thực hiện ném phạt. Nếu đấu thủ bị chấn thương có liên quan đến nhảy tranh bóng, người thay thế đấu thủ bị chấn thương sẽ nhảy tranh bóng, người thay thế đấu thủ bị trấn thương sẽ nhảy tranh bóng. Người thay thế đấu thủ bị chấn thương không được thay ra cho đến khi anh ta thi đấu trong một pha mà đồng hồ thi đấu chạy lại.
    14. 5 Một đấu thủ được HLV chỉ định thi đấu đầu tiên có thể được thay thế trong trường hợp bị chấn thương, với điều kiện là trọng tài chính biết rõ ràng là có chấn thương thật sự. Trong trường hợp này, đối phương cũng được quyền thay một đấu thủ, nếu có yêu cầu.
    14.6 Trong trận đấu, trọng tài cho phép đấu thủ bị chảy máu hoặc có vết thương hở miệng, được rời khỏi sân thi đấu và đấu thủ này được phép thay người. Đấu thủ chỉ có thể trở lại sân sau khi máu đã ngừng chảy và vùng bị thương hoặc vết thương đã được băng bó an toàn.
    ĐIỀU 15 : ĐỘI TRƯỞNG : NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN
    15.1 Đội trưởng là một đấu thủ, khi cần thiết sẽ là người đại diện cho đội trên sân thi đấu. Đội trưởng có thể tiếp xúc với trọng tài để có những thông tin cần thiết, với thái độ nhã nhặn và chỉ khi bóng chết hoặc đồng hồ thi đấu được dừng lại.
    15.2 Khi đội trưởng rời khỏi sân thi đấu vì bất kỳ lý do nào, đội trưởng sẽ thông báo cho trọng tài chính ai là đội trưởng mới trong sân.
    15.3 Đội trưởng có thể hành động như là 1 HLV.
    15.4 Đội trưởng sẽ chỉ định người nhảy tranh bóng hoặc người ném phạt.
    15.5 Khi kết thúc trận đấu : nếu có một đội có khiếu nại kết quả của trận đấu, ngay lập tức đội trưởng của đội có khiếu nại đó sẽ thông báo với trọng tài chính bằng cách ký vào tờ điểm nơi dành cho chữ ký của đội trưởng của đội có khiểu nại kết quả của trận đấu, ngay lập tức đội trưởng của đội có khiếu nại đó sẽ thông báo với trọng tài chính bằng cách ký vào tờ ghi điểm nơi dành cho chữ ký của đội trưởng của đội có khiếu nại.
    ĐIỀU 16 : HUẤN LUYỆN VIÊN : NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN
    16.1 HLV trưởng hoặc HLV phó là người đại diện của đội bóng có thể tiếp xúc với bàn trọng tài trong trận đấu có thể có các số liệu, với thái độ nhã nhặn lịch sự, trong khi bóng chết và đồng hồ thi đấu đã dừng và không được ngăn cản tiến trình bình của trận đấu.
    16.2 It nhất là 10 phút trước khi trận đấu bắt đầu, mỗi huấn luyện viên hoặc người đại diện sẽ đăng ký với thư ký danh sách gồm tên và số áo của các đấu thủ được quyền thi đấu trong trận đấu đó cũng như tên của đội trưởng, huấn luyện viên và huấn luyện viên phó.
    16.3 It nhất là 10 phút trước trận đấu, cả hai huấn luyện viên sẽ xác định lại sự đồng ý của họ về tên và số áo của đấu thủ mình và huấn luyện viên sẽ ký tên vào tờ ghi điểm. Đồng thời sẽ thông báo năm đấu thủ thi đấu đầu tiên. Huấn luyện viên đội A sẽ làm việc này trước để cung cấp thông tin.
    16.4 Đấu thủ dự bị đến trễ có thể được thi đấu, với điều kiện là huấn luyện viên đã đăng ký trong danh sách cho thư ký trước khi trận đấu bắt đầu 20 phút.
    16.5 Chỉ có huấn luyện viên phó được xin hội ý.
    16.6 HLV trưởng hoặc HLV phó, nhưng không cả hai, được phép đứng trong khi thi đấu. Điều này cũng áp dụng cho đội trưởng thay thế bất kỳ lý do nào.
    16.7 Khi HLV trưởng hoặc HLV phó yêu cầu thay người, đấu thủ dự bị sẽ báo với thư ký và sẵn sàng thi đấu ngay.
    16.8 Nếu có 1 HLV phó được đăng ký trong tờ ghi điểm trước khi trận đấu bắt đầu (HLV phó không cần phải ký tên). HLV phó sẽ đảm đương nhiệm vụ của HLV nếu vì bất kỳ lý do nào mà huấn luyện viên trưởng không thể tiếp tục được.
    16.9 Đội trưởng có thể hành động như HLV nếu không có HLV, hoặc nếu HLV không thể tiếp tục và cũng không có HLV phó đăng ký trong tờ ghi điểm (hoặc HLV phó không thể tiếp tục được). Nếu đội trưởng phải rời sân thi đấu bất kỳ do lý do chính đáng nào, đội trưởng có thể tiếp tục làm HLV. Tuy nhiên nếu đội trưởng phải rời sân thi đấu vì lý do bất kỳ lý do chính đáng nào, đội trưởng phải rời sân thi đấu vì bất kỳ ký do chính đáng nào, đội trưởng có thể tiếp tục làm HLV. Tuy nhiên nếu đội trưởng phải rời sân thi đấu vì bất kỳ lý do chính đáng nào, đội trưởng có thể tiếp tục làm huấn luyện viên. Tuy nhiên nếu đội trưởng phải rời sân thi đấu do lỗi trục xuất hoặc đội trưởng không thể làm HLV vì bị thương thì người thay thế đội trưởng sẽ làm đội trưởng kiêm HLV.
  6. kind_monster1999

    kind_monster1999 Thành viên mới

    Chương V : QUI ĐỊNH VỀ THỜI GIAN THI ĐẤU
    ĐIÈU 17 : THỜI GIAN THI ĐẤU, ĐIỂM HOÀ VÀ NHỮNG HIỆP PHỤ
    17.1 Một trận đấu gồm có bốn hiệp mỗi hiệp 10 phút.
    17.2 Thời gian nghỉ giữa hiệp 1 và hiệp 2, nghỉ giữa hiệp 3 và hiệp 4 và trước mỗi hiệp 2, nghỉ giữa hiệp 3 và hiệp 4 và trước mỗi hiệp phụ là 2 phút.
    17.3 Thời gian nghỉ giữa hiệp 2 và hiệp 3 là 15 phút.
    17. Nếu có tỷ số điểm hoà nhau khi kết thúc thời gian thi đấu của hiệp thứ tư, trận đấu sẽ tiếp tục bằng một hiệp phụ 5 phút hoặc bằng nhiều hiệp phụ 5 phút để có kết quả thắng thua.
    17.5 Trong tất cả những hiệp phụ hai đội sẽ tiếp tục thi đấu theo hướng rổ như ở hiệp thứ 3 và hiệp thứ 4.
    ĐIỀU 18 : BẮT ĐẦU TRẬN ĐẤU
    18.1 Trong tất cả những trận đấu, đội thứ nhất ghi trong chương trình thi đấu (đội chủ nhà) sẽ được chọn rổ và băng ghế ngồi.
    Sự chọn lựa này được thông báo cho trọng tài chính ít nhất là 20 phút trước khi trận đấu bắt đầu.
    18.2 Trước hiệp thứ nhất và hiệp thứ ba, hai đội được quyền khởi động trên nửa sân có rổ của đối phương.
    18.3 Hiệp thứ ba hai đội sẽ đổi rổ.
    18.4 Trận đấu không thể bắt đầu nếu một trong hai đội không có 5 đấu thủ sẵn sàng thi đấu trên sân.
    18.5 Trận đấu chính thức bắt đầu bằng nhảy tranh bóng ở vòng tròn giữa sân, khi bóng được chạm hợp lệ bởi người nhảy tranh bóng.
    ĐIỀU 19 : TÌNH TRẠNG CỦA BÓNG
    Bóng có thể là bóng sống hoặc bóng chết.
    19.1 Bóng trở thành bóng sống khi :
    * Nhảy tranh bóng, bóng được chạm hợp lệ bởi người nhảy tranh bóng.
    * Ném phạt, khi trọng tài đặt bóng ở vị trí thuộc quyền sở hữu của người ném phạt.
    * Phát bóng biên, khi trọng tài đặt bóng ở vị trí thuộc quyền sở hữu của người phát bóng biên.
    19.2 Bóng trở thành bóng chết khi :
    * Bóng vào rổ hoặc ném phạt vào rổ.
    * có tiếng còi của trọng tài khi bóng sống.
    * Chắc chắn bóng không vào rổ từ 1 quả ném phạt, mà sau đó có :
    - Một hoặc nhiều quả ném phạt khác.
    - Một xử phạt khác (ném phạt hoặc phát bóng biên).
    * Có tín hiệu âm thanh báo kết thúc thời gian thi đấu của một hiệp hoặc một hiệp phụ.
    * Có tín hiệu âm thanh của người điều khiển đồng hồ 24 giây trong khi bóng sống.
    * Bóng bay trên không trong một lần ném rổ và bóng được chạm bởi một đấu thủ của 1 trong 2 đội sau khi :
    - Trọng tài thổi còi.
    - Kết thúc thời gian thi đấu của một hiệp hoặc hiệp phụ.
    - Có tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây.
    19.3 Bóng không trở thành bóng chết và bóng được tính điểm, nếu thực hiện khi :
    * Bóng bay trong lần ném rổ và trọng tài thổi còi hoặc có tín hiệu âm thanh của đồng hồ thi đấu hoặc có tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây.
    * Bóng bay trong 1 lần ném phạt khi một trọng tài thổi còi vì bất kỳ sự vi phạm luật khác không phải của người ném phạt.
    * Đối phương phạm lỗi trong khi bóng vẫn ở trong quyền kiểm soát của đấu thủ có tác động ném rổ và chấm dứt động tác ném rổ của mình bằng một sự chuyển động tiếp tục trước khi có lỗi xảy ra.
    ĐIỀU 20 : VỊ TRÍ CỦA ĐẤU THỦ VÀ CỦA TRỌNG TÀI
    20.1 Vị trí của một đấu thủ được xác định bởi vị trí mà đấu thủ đang chạm mặt sân. Trong khi một đấu thủ nhảy lên trên không, đấu thủ sẽ giữ lại vị trí giống như vị trí mà đấu thủ đã chạm mặt sân, đường 3 điểm, đường ném phạt và những đường giới hạn của khu vực ném phạt.
    20.2 Vị trí của trọng tài được xác định giống như cách của đấu thủ.
    Khi bóng chạm trọng tài, giống như bóng chạm sân ở vị trí của trọng tài.
    ĐIỀU 21 : NHẢY TRANH BÓNG
    21.1 Định nghĩa :
    21.1.1 Một lần nhảy tranh bóng được thực hiện sau khi trọng tài tung bóng giữa hai đấu thủ của hai đội.
    21.1.2 Hai bên cùng giữ bóng khi có một hoặc nhiều đấu thủ của cả 2 đội có một hoặc cả 2 bàn tay giữ chặt bóng mà không có đấu thủ nào giành được bóng trừ khi có sự tho bạo trái luật.
    21.2 Ghi chú :
    21.2.1 Khi bắt đầu 1 hiệp hoặc hiệp phụ sẽ cho nhảy tranh bóng ở vòng tròn giữa sân giữa 2 đấu thủ bất kỳ của 2 đội.
    21.2.2 Khi thổi còi hai bên cùng giữ bóng hoặc khi hai bên cùng lỗi và kết quả là tranh bóng, lần nhảy tranh bóng sẽ được thực hiện giữa hai đấu thủ có chiều cao tương đương do trọng tài chỉ định.
    21.2.3 Khi trận đấu được tiếp tục bằng nhảy tranh bóng trong bất kỳ tình huống khác. Điều 21..2.1 hoặc 21.2.2 ở trên, kể cả khi bóng sống kẹt ở bảng rổ, nhảy tranh bóng sẽ được thực hiện ở vòng tròn gần nhất giữa hai đấu thủ bất kỳ.
    21.2.4 Khi không xác định được vòng tròn gần nhất để cho nhảy tranh bóng thì nhảy tranh bóng sẽ được thực hiện ở vòng giữa sân.
    21.3 Quy định :
    21.3.1 Trong khi nhảy tranh bóng hai đấu thủ nhảy tranh bóng sẽ đứng cả hai chân trong nửa vòng tròn gần rổ của đội mình với một bàn chân gần tâm của đường thẳng ở giữa vòng tròn.
    21.3.2 Trọng tài sẽ tung bóng lên cao (thẳng đứng) giữa hai đấu thủ, bóng được tung lên đến điểm cao nhất mà đấu thủ có thể với tới khi nhảy lên và bóng rơi xuống giữa hai đối thủ.
    21.3.3 Bóng được chạm bởi một hoặc nhiều bàn tay của một hoặc hai người nhảy tranh bóng sau khi bóng lên đến điểm cao nhất.
    21.3.4 Hai đấu thủ nhảy tranh bóng không được rời vị trí của mình cho đến khi bóng được chạm đúng luật.
    21.3.5 Đấu thủ nhảy tranh bóng không được bắt bóng hoặc chạm bóng hơn hai lần cho đến khi bóng được chạm một trong tám đấu thủ không nhảy tranh bóng, bóng chạm sân, bóng chạm rổ hoặc chạm bảng.
    21.3.6 Những đấu thủ khác sẽ ở ngoài vòng tròn cho đến khi một trong hai đấu thủ nhảy tranh bóng chạm vào bóng.
    21.3.7 Nếu bóng không được chạm bởi một hoặc cả hai đấu thủ nhảy tranh bóng chạm mặt sân mà không có ít nhất 1 đấu thủ nhảy tranh bóng chạm bóng thì sẽ cho nhảy tranh bóng lại.
    21.3.8 Các đấu thủ cùng một không được chiếm vị trí liền kề nhau ở chung quanh vòng tròn nếu như có một đấu thủ đối phương đứng chen vào một trong những vị trí đó.
    21.3.9 Nếu đấu thủ nhảy tranh bóng bị chấn thương phạm lỗi thứ 5 hoặc bị trục xuất, người thay anh ta sẽ nhảy tranh bóng. Nếu không còn người thay, đội trưởng se xchỉ định đấu thủ nhảy tranh bóng.
    Vi phạm những Điều 21.3.1, 21.3.3, 21.3.4, 21.3.5 và 21.3.6 là phạm luật.
    ĐIỀU 22 CÁCH CHƠI BÓNG
    22.1 Trong bóng rổ, chỉ chơi bóng banừg tay.
    22.2 Cầm bóng chạy, cố ý đá bóng hoặc chặn bóng bằng bất kỳ phần nào của chân hoặc đấm bóng bằng nắm tay là phạm luật.
    22.3 Vô tình đá bóng hoặc chạm bóng bằng chân trên mặt sân thì không phạm luật.
    ĐIỀU 23 : KIỂM SOÁT BÓNG
    23.1 Một đấu thủ kiểm soát bóng khi đấu thủ đang giữ bóng, dẫn bóng hoặc có bóng sống ở vị trí thuộc quyền sử dụng.
    23.2 Một đội kiểm soát bóng cho đến khi một đối phương giành được quyền kiểm soát bóng hoặc, bóng trở thành bóng chết hoặc bóng rời khỏi tay đấu thủ ném rổ hoặc người ném phạt.
    ĐIỀU 24 : ĐỘNG TÁC NÉM RỔ CỦA ĐẤU THỦ
    24.1 Một đấu thủ có động tác ném rổ khi đấu đó bắt đầu chuyển động bình thường trước khi rời bóng và theo nhận định của trọng tài đấu thủ đã bắt đầu cố gắng ghi điểm bằng cách ném, hất hoặc đẩy bóng về hướng rổ của đối phương. Động tác ném rổ được tiếp tục cho đến khi bóng đã rời khỏi tay của người ném rổ.
    24.2 Trong trường hợp một đấu thủ ném rổ ở trên sân không thì động tác ném rổ được tiếp tục cho đến khi động tác ném rổ hoàn thành (bóng đã rời khỏi tay của đấu thủ ném rổ) và cả hai bàn chân của người ném rổ chạm mặt sân.
    Tuy nhiên, quyền kiểm soát bóng của đội kết thúc khi bóng rời tay của người ném rổ.
    24.3 Một lỗi được nhận định là phạm vào đấu thủ có động tác ném rổ.
    Chuyển động liên tục là :
    ? Bắt đầu khi một hoặc hai tay của đấu thủ cầm bóng và chuyển động ném rổ hướng lên trên đã bắt đầu.
    ? Có thể bao gồm 1 hoặc hai 2 cánh tay hoặc chuyển động của cơ thể cố gắng để ném rổ.
    ? Nếu qui định chuyển động liên tục như trên thì đấu thủ như thế được xem là có tác động ném rổ.
    ĐIỀU 25 : BÓNG TÍNH ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA ĐIỂM
    25.1 Định nghĩa :
    25.1.2 Bóng được tính điểm là khi bóng sống lọt vào rổ từ phía trên và ở trong rổ hoặc lọt qua rổ.
    25.1.2 Bóng được công nhận là nằm trong rổ khi bóng nằm trong vòng rổ và ở bên dưới phần cao nhất của vòng rổ.
    25.2 Ghi chú :
    25.2.1 Đội tấn công ném bóng vào rổ đối phương sẽ được tính điểm như sau :
    * Một quả ném phạt được tính 1 điểm.
    * Bóng vào rổ từ khu vực 2 điểm, được tính 2 điểm.
    * Bóng vào rổ từ khu vực 3 điểm, được tính 3 điểm.
    25.2.2 Nếu một đấu thủ vô tình ném bóng vào rổ của mình, điểm sẽ được tính cho đội trưởng của đội đối phương.
    25.2.3 Nếu một đấu thủ cố tình ném bóng vào rổ của mình là phạm luật và bóng không được tính điểm đồng thời phạt một lỗi kỹ thuật cho Huấn luyện viên của đội vi phạm.
    25.2.4 Nếu một đấu thủ ném bóng vào rổ từ phía dưới, là phạm luật.
    ĐIỀU 26 : PHÁT BÓNG BIÊN
    26.1 Những nguyên tắc chung :
    26.1.1 Bất cứ khi nào bóng vào rổ hoặc ném phạt vào rổ nhưng không được tính điểm thì sẽ cho phát bóng biên dọc ở vị trí đường ném phạt kéo dài.
    26.1.2 Sau một hoặc nhiều quả ném phạt do lỗi kỹ thuật, lỗi phản tinh thần thể thao hoặc lỗi trục xuất, bóng sẽ được phát vào sân từ điểm giữa của đường biên dọc đối diện với bàn thư ký, cho dù là quả ném phạt cuối cùng có vào rổ hay không vào rổ.
    26.1.3 Sau một lỗi cá nhân của đội đang kiểm soát bóng sống hoặc đội được quyền phát bóng, thì đội không phạm lỗi sẽ được phát bóng biên gần nơi phạm lỗi nhất.
    26.1.4 Trọng tài có thể tung bóng hoặc chuyền bóng bật đất cho người phát bóng biên với điều kiện :
    * Trọng tài đứng cách người phát bóng biên không qua 3 đến 4 mét.
    * Người phát bóng biên điều chỉnh vị trí theo hướng dẫn trọng tài.
    * Đội phát bóng biên không được có một lợi thế trái luật nào.
    26.2 Sau một lần bóng vào rổ hoặc quả ném phạt cuối vào rổ :
    26.2.1 Bất cứ một đối phương nào của đội bị ghi bàn thắng sẽ được phát bóng vào sân từ bất kỳ thời điểm nào ở ngoài đường biên cuối sân nơi bóng vào rổ.
    Điều này cũng được áp dụng sau khi trọng tài trao bóng hoặc đặt bóng ở vị trí thuộc quyền sử dụng của đấu thủ phát bóng biên sau một lần hội ý, hoặc trận đấu bị dừng lại vì bất kỳ lý do nào.
    26.2.2 Đấu thủ phát bóng biên có thể di chuyển dọc theo đường cuối sân hoặc lùi về phía sau hoặc có thể chuyền bóng giữa đồng đội ở trên hoặc ở sau đường cuối sân, nhưng bắt đầu tính năm (5) giây ngay sau khi đấu thủ phát bóng biên cầm bóng ở vị trí phát bóng trên.
    26.2.3 Đối phương của đấu thủ phát bóng biên không được chạm bóng sau khi bóng vào rổ. Có thể chạm bóng do vô tình hoặc do thói quen, nhưng nếu trận đấu bị trì hoãn hoặc chậm trễ bởi sự can thiệp vào bóng đó thì coi là phạm lỗi kỹ thuật.
    26.3 Sau một vi phạm hoặc dừng trận đấu vì lý do nào :
    26.3.1 Đấu thủ được phát bóng biên ở gần nơi vi phạm nhất theo chỉ định của trọng tài hoặc nơi mà trận đấu đã dừng lại, ngoại trừ ngay sau bảng rổ.
    26.3.2 Trọng tài phải trao bóng, chuyền bóng hoặc đặt bóng ở vị trí thuộc quyền sử dụng của người phát bóng biên.
    26.4 Ghi chú :
    26.4.1 Người phát bóng biên không được :
    * Chạm bóng trên sân trước khi bóng chạm một đấu thủ khác.
    * Bước vào trong sân trước hoặc trong khi bóng rời tay.
    * Cầm bóng quá 5 giây trước khi bóng rời tay.
    * Sau khi bóng rời khỏi tay đấu thủ phát bóng biên, bóng chạm ngoài biên trừ khi đấu trong sân chạm bóng.
    * Ném bóng trực tiếp vào rổ.
    * Từ vị trí được trọng tài xác định, đấu thủ phát bóng biên không được di chuyển sang hai bên trước hoặc trong khi rời bóng. Tuy nhiên, tuỳ theo tình huống, cho phép đấu thủ di chuyển về phía sau thẳng góc với đường biên.
    26.4.2 Những đấu thủ còn lại không được :
    * Có bất kỳ phần thân thể nào vượt qua khỏi đường biên trước khi bóng được chuyền qua đường biên.
    * Đứng gần người phát bóng biên ít hơn 1 mét, khi khu vực không có chướng ngại vật ở ngoài đường biên ít hơn 2 mét.
    Vi phạm Điều 26.4 là phạm luật.
    26.5 Xử phạt :
    Cho đối phương phát bóng biên ở nơi vừa mới phát bóng vào sân.
    ĐIỀU 27 : XIN HỘI Ý
    27.1 Định nghĩa :
    Hội ý là một sự gián đoạn của trận đấu được yêu cầu bởi HLV của một đội.
    27.2 Ghi chú :
    27.2.1 Thời gian của mỗi lần hội ý là một (1) phút.
    27.2.2 Cơ hội cho một lần hội ý bắt đầu khi :
    * Bóng trở thành bóng chết và đồng hồ thi đấu dừng lại, khi trọng tài kết thúc việc báo lỗi cho bàn thư ký.
    * Bóng vào rổ của đội có yêu cầu xin hội ý trước hoặc sau khi bóng vào rổ.
    27.2.3 Cơ hội cho một lần hội ý kết thúc khi :
    * Trọng tài có bóng vào vòng tròn cho nhảy tranh bóng.
    * Trọng tài có bóng hoặc không có bóng bước vào khu vực ném phạt cho ném quả phạt thứ nhất chỉ có một quả ném phạt.
    * Bóng được đặt ở vị trí thuộc quyền sử dụng của người phát bóng biên.
    27.2.4 Trong ba hiệp đầu mỗi đội được hội ý một (1) lần cho mỗi hiệp, hiệp thứ tư mỗi đội được hội ý hai lần và mỗi hiệp phụ mỗi đội được hội ý (1) lần.
    27.2.5 Một lần hội ý sẽ được áp dụng cho đội mà HLV đã có yêu cầu trước, trừ khi cho hội ý khi bóng vào rổ bởi đôí phương và không có lỗi xảy ra.
    27.2.6 Trong thời gian hội ý, các đấu thủ có thể rời khỏi sân thi đấu và ngồi ở băng ghế của đội và những người được phép ở trong khu vực ghế ngồi của đội.
    27.3 Quy định :
    27.3.1 HLV trưởng hoặc HLV phó có quyền xin hội ý. Huấn luyện viên sẽ đến bàn trọng tài và nói rõ ?o Xin hội ý ?T?Tvà làm dấu hiệu xin hội ý với thư ký.
    27.3.2 Thư ký sẽ thông báo cho trọng tài bằng tín hiệu âm thanh ngay khi có điều kiện cho hội ý.
    Nếu bóng vào rổ của đội có yêu cầu xin hội ý, ngay lập tức người theo dõi thời gian thi đấu cho dừng đồng hồ và báo tín hiệu âm thanh.
    27.3.3 Lần hội ý bắt đầu khi trọng tài thổi còi và làm dấu hiệu hội ý.
    27.3.4 Lần hội ý chấm dứt khi trọng tài thổi còi và vẫy tay cho 2 đội vào sân.
    27.4 Những giới hạn :
    27.4.1 Không cho hội ý giữa hai quả ném phạt hoặc sau một (nhiều) quả ném phạt của 1 lần xử phạt, cho đến khi bóng trở thành bóng chết lần nữa sau khi đồng hồ thi đấu chạy lại.
    Ngoại trừ :
    ? Có lỗi xảy ra giữa những quả ném phạt. trong trường hợp này sẽ cho ném xong những quả phạt và cho hội ý trước khi tiến hành xử phạt lỗi mới.
    ? Có lỗi xảy ra trước khi bóng sống trở lại sau quả ném phạt cuối hoặc chỉ có một quả ném phạt. trong trường hợp này sẽ cho hội ý trước khi tiến hành xử phạt lỗi mới.
    ? Một vi phạm bị thổi trước khi bóng sống trở lại sau quả ném phạt cuối hoặc chỉ có một quả ném phạt, mà xử phạt là nhảy tranh bóng hoặc phát bóng biên.
    Trong trường hợp có nhiều đợt ném phạt do xử phạt nhiều lỗi, mỗi đợt ném phạt sẽ được xử lý riêng biệt.
    27.4.2 Không cho đội ghi điểm hội ý khi bóng vào rổ và đồng hồ thi đấu dừng lại ở 2 phút cuối của hiệp thứ tư hoặc của hiệp phụ.
    19.3.3 Những lần hội ý không sử dụng của 1 hiệp thì không được chuyển sang hiệp tiếp theo hoặc hiệp phụ.
  7. kind_monster1999

    kind_monster1999 Thành viên mới

    ĐIỀU 28 : THAY NGƯỜI
    28.1 Ghi chú :
    28.1.2 Một cơ hội thay người bắt đầu khi :
    * Bóng chết, đồng hồ thi đấu dừng lại và khi trọng tài làm xong thủ thục báo lỗi cho bàn thư ký.
    * Bóng vào rổ trong hai phút của hiệp thứ tư hoặc của bất kỳ hiệp phụ nào mà đội bị bóng vào rổ có yêu cầu thay người.
    Một cơ hội thay người kết thúc khi :
    ? Trọng tài cầm bóng đi vào vòng tròn cho nhảy tranh bóng.
    ? Một trọng tài có bóng hoặc không có bóng đi vào khu vực ném phạt cho ném quả phạt đầu tiên hoặc chỉ có một quả phạt.
    ? Bóng ở vị trí thuộc quyền sử dụng của người phát bóng biên.
    28.1.3 Đấu thủ chính thức đã được thay ra không thể trở lại trận đấu ngay và đấu thủ dự bị đã trở thành đấu thủ chính thức cũng không được rời trận đấu ngay, cho đến khi đồng hồ thi đấu chạy.
    Ngoại trừ :
    ? Một đội có ít hơn 5 đấu thủ.
    ? Một đấu thủ đã liên quan đến việc sửa chữa sai lầm đang ở trong khu ghế ngồi của đội sau khi được thay ra đúng luật.
    ? 28.2 Qui định :
    28.2.1 Đấu thủ dự bị có quyền yêu cầu thay người. Anh ta đến báo cho thư ký và nói rõ ràng xin thay người, hai tay làm dấu hiệu thay người.
    28.2.4 Đấu thủ chính thức được thay ra không phải báo cho thư ký hoặc trọng tài. Anh ta được phép đi thẳng về phía ghế ngồi của đội.
    28.2.5 Thay người phải được thực hiện càng nhanh càng tốt. Đấu thủ phạm lỗi thứ 5 hoặc lỗi trục xuất phải được thay trong vòng 30 giây. Nếu theo nhận định của trọng tài có sự chậm trễ không lý do, sẽ tính cho đội vi phạm một lần hội ý.
    28.2.6 Nếu có yêu cầu thay người trong khi hội ý, đấu thủ dự bị phải báo cáo cho thư ký và được trọng tài gần nhất cho phép trước khi vào thi đấu.
    28.2.7 Việc xin thay người có thể được huỷ bỏ chỉ trước khi thư ký báo hiệu âm thanh cho thay người.
    28.3 Không được phép thay người :
    28.3.1 Sau một lần vi phạm, đội không được quyền phát bóng biên.
    Ngoại trừ :
    ? Đội phát bóng biên có thay người.
    ? Một trong hai đội phạm lỗi.
    ? Trọng tài dừng trận đấu.
    28.3.2 Giữa hoặc sau những quả ném phạt của một lần xử phạt cho đến khi bóng chết lần nữa và khi đồng hồ thi đấu đã chạy lại.
    Ngoại trừ :
    ? Có lỗi xảy ra giữa những quả ném phạt. Trong trường hợp này, trọng tài cho thực hiện hoàn tất những quả ném phạt và cho thay người trước khi tiến hành xử phạt lỗi mới.
    ? Có lỗi xảy ra trước khi bóng sống trở lại sau quả ném phạt cuối hoặc chỉ có một quả ném phạt. Trong trường hợp này sẽ cho thay người trước khi tiến hành xử phạt lỗi mới.
    ? Có một vi phạm xảy ra trước khi bóng sống trở lại sau quả ném phạt cuối hoặc chỉ có một quả ném phạt, mà xử phạt là nhảy tranh bóng hoặc phát bóng biên.
    Trong trường hợp có nhiều đợt ném phạt do xử phạt nhiều lỗi, mỗi lần xử phạt sẽ được xử lý riêng biệt.
    28.3.3 Đấu thủ nhảy tranh bóng, hoặc người ném phạt.
    Ngoại trừ :
    ? Bị chấn thương.
    ? Phạm lỗi lần thứ 5.
    ? Bị lỗi trục xuất.
    28.3.4 Trong 2 phút cuối của hiệp thứ 4 hoặc của hiệp phụ. Khi đồng hồ thi đấu dừng lại và bóng vào rổ mà đội vừa ghi điểm có yêu cầu thay người.
    Ngoại trừ :
    ? Trong khi hội ý.
    ? Đội bị bóng vào rổ cũng có yêu cầu thay người.
    ? Trọng tài cho dừng trận đấu.
    28.4 Thay thế người ném phạt :
    Đấu thủ đã ném một hoặc nhiều quả phạt có thể được thay thế với điều kiện là :
    ? Thay người đã được yêu cầu trước khi cơ hội thay người kết thúc của quả ném phạt do xử phạt nhiều lỗi, mỗi lần xử phạt sẽ được xử lý riêng biệt.
    ? Bóng trở thành bóng chết sau quả ném phạt cuối hoặc chỉ có một quả ném phạt. Nếu người ném phạt được thay, đối phương cũng có thể được cho thay một người với điều kiện là đã có yêu cầu thay người trước khi bóng trở thành bóng sống của quả ném phạt cuối hoặc chỉ có một quả ném phạt.
    ĐIỀU 29 : KHI MỘT HIỆP HOẶC TRẬN ĐẤU KẾT THÚC
    29.1 Một hiệp, hiệp phụ hoặc trận đấu sẽ kết thúc khi có tín hiệu âm thanh của người theo dõi giờ thi đấu báo kết thúc thời gian thi đấu.
    29.2 Nếu một lỗi xảy ra khi hoặc đúng trước khi có tín hiệu âm thanh báo kết thúc bất kỳ một hiệp nào hoặc hiệp phụ, bất kỳ có một hoặc nhiều quả ném phạt do xử phạt lỗi đó, những quả ném phạt này sẽ được thực hiện.
    ĐIỀU 30 : ĐỘI XỬ THUA BỞI TƯỚC QUYỀN THI ĐẤU
    30.1 Ghi chú:
    Một đội sẽ bị xử thua bởi tước quyền thi đấu nếu :
    ? Từ chối thi đấu sau khi được trọng tài giải thích về sự việc xảy ra.
    ? Có hành động ngăn cản trận đấu.
    ? 15 phút sau khi trận đấu bắt đầu, đội không có mặt hoặc không đủ 5 đấu thủ sẵn sàng thi đấu trên sân.
    30.2 Xử phạt :
    30.2.1 Đối phương sẽ thắng với số điểm là 20/00 điểm. Nói cách khác, đội bị tước quyền thi đấu sẽ nhận 00(không) điểm trong bảng xếp hạng.
    30.2.2 Trong hai trận đấu (sân nhà và sân khách) toàn bộ số điểm của lượt đi và lượt về đều bị xử thua (thi đấu 3 trận), đội bị tước quyền thi đấu trong trận thứ nhất, thứ nhì hoặc thứ ba sẽ bị thua ở lượt đi và lượt về hoặc bị xử thu vì ?o Bị tước quyền thi đấu ?T?T. Điều này không áp dụng khi một đội thi đấu 5 trận trở lên.
    ĐIỀU 31 : ĐỘI BỊ XỬ THUA VÌ BỎ CUỘC
    31.1 Ghi chú :
    Một đội sẽ bị xử thua vì bỏ cuộc nếu, trong trận đấu một đội có ít hơn 2 đấu thủ ở trên sân.
    31.2 Xử phạt :
    Nếu đội đang dẫn điểm được xử thắng cuộc thì sẽ giữ nguyên số điểm ở lúc trận đấu dừng lại. Nếu đội đang thua điểm lại được xử thắng cuộc thì điểm sẽ được ghi là 2/0. Nói cách khác đội khác đội bỏ cuộc sẽ được 1 điểm trong bảng xếp hạng.
    31.3 Trong hai trận đấu ( sân nhà và sân khách ) thì tổng số điểm thắng thua của đội bỏ cuộc trong lượt đi hoặc lượt về sẽ bị mất điểm vì ?o Bỏ cuộc ?T?T.
    Chương VI : PHẠM LUẬT
    ĐIỀU 32 : PHẠM LUẬT.
    32.2 Quy định :
    Khi quyết định một vi phạm luật, trọng tài sẽ chú ý và sẽ cân nhắc ngay theo những nguyên tắc căn bản sau :
    ? Tinh thần và mục đích của luật và cần phải giữ tính trung thực của trận đấu.
    ? Trước sau như một trong việc áp dụng khả năng phán đoán chung cho mỗi trận đấu, những khả năng của các đấu thủ có liên quan cũng như thái độ và đạo đức của họ trong thi đấu.
    ? Trước sau như một trong việc duy trì sự cân bằng giữa điều khiển trận đấu và tính liên tục của trận đấu, phải có ?o cảm giác ? là thành viên trong trận đấu đang cố gắng làm cái gì và thổi cái gì thì tốt cho trận đấu.
    32.3 Xử phạt :
    32.3.1 Cho đối phương phát bóng biên ở vị trí gần nơi phạm luật, không được phát bóng biên ở ngay sau bảng rổ.
    Ngoại trừ Điều 26.5, 41.3, 57.4.6 và 57.5.4.
    ĐIỀU 33 : ĐẤU THỦ Ở NGOÀI ĐƯỜNG BIÊN VÀ BÓNG Ở NGOÀI ĐƯỜNG BIÊN
    33.1 Định nghĩa :
    33.1.1 Một đấu thủ hoặc một người khác ở ngoài biên.
    * Một đấu thủ hoặc một người khác ở ngoài biên.
    * ở ngoài sân hoặc vật gì ở ngoài sân, ở trên đường biên, ở trên cao hoặc ở ngoài đường biên.
    * Gía đỡ bảng, mặt sau của bảng hoặc chạm vật gì ở trên cao hoặc ở sau bảng rổ.
    33.2 Ghi chú :
    33.2.1 Bóng ra biên bởi đấu thủ sau cùng chạm bóng, ngay cả nếu bóng ra biên bởi chạm một vật khác không phải là đấu thủ.
    33.2.2 Nếu bóng ra ngoài đường biên bởi chạm một đấu thủ ở trên đường biên hoặc ở ngoài đường biên, như vậy đối thủ này làm bóng ra biên.
    ĐIỀU 34 : DẪN BÓNG
    34.1 Định nghĩa :
    34.1.1 Một lần dẫn bóng bắt đầu khi một đấu thủ giành được quyền kiểm soát bóng sống trên sân, ném, lăn hoặc dẫn bóng trên mặt sân và chạm bóng một lần nữa trước khi bóng chạm một đấu thủ khác.
    - Lần dẫn bóng kết thúc khi đấu thủ chạm bóng đồng thời bằng cả 2 tay hoặc bóng nằm trong 1 hoặc cả 2 tay.
    - Trong khi dẫn bóng có thể ném bóng vào không khí, với điều kiện là bóng chạm mặt sân trước khi tay của đấu thủ dẫn bóng chạm bóng lần nữa.
    - Không có giới hạn số bước khi bóng không tiếp xúc với tay của người dẫn bóng.
    34.1.2 Người dẫn bóng vô tình mất bóng và giành lại được quyền kiểm soát bóng sống trên sân được xem như là vụng về với bóng.
    34.1.3 Những trường hợp sau đây không coi là dẫn bóng :
    * Ném rổ liên tục.
    * Vụng về với bóng khi bắt đầu hoặc kết thúc lần dẫn bóng.
    * Cố gắng giành quyền kiểm soát bóng bằng cách hất bóng trong khi tranh giành bóng với đấu thủ khác.
    * Hất bóng từ quyền kiểm soát bóng của các đấu khác.
    * Chặn bóng từ một đường chuyền và lại bắt bóng.
    * Tung bóng từ tay này sang tay kia và bắt bóng trước khi bóng chạm mặt sân, nhưng không được phạm luật chạy bước.
    34.2 Ghi chú :
    Một đấu thủ không được dẫn bóng lần thứ 2 sau khi kết thúc lần dẫn bóng thứ nhất, trừ khi anh ta mất quyền kiểm soát bóng sống trên sân do :
    ? Một lần ném rổ.
    ? Bị đối phương chạm vào bóng.
    ? Chuyền bóng hoặc bóng chạm một đấu thủ khác.
    ĐIỀU 35 : CHẠY BƯỚC
    35.1 Định nghĩa :
    35.1.1 Chạy bước là di chuyển trái luật trong bất kỳ hướng nào của một hoặc hai bàn chân vượt quá những giới hạn đã được nói đến trong điều luật này khi cầm bóng sống trên sân.
    35.1.2 Một chân trụ được xác định khi một đấu thủ cầm bóng sống trên sân bước một hoặc nhiều bước về bất kỳ hướng nào với cùng một chân, trong lúc chân kia được giữ ở điểm tiếp xúc với mặt sân thì gọi là chân trụ.
    35.2 Ghi chú :
    35.2.1 Hình thành chân trụ :
    * Một đấu bắt bóng khi cả hai bàn chân ở trên mặt sân có thể dùng một trong hai bàn chân làm chân trụ. Ngay khi một bàn chân được nhấc lên thì bàn chân kia trở thành bàn chân trụ.
    * Một đấu thủ bắt bóng trong khi di chuyển hoặc dẫn bóng có thể dừng lại và hình thành chân trụ như sau :
    Nếu một bàn chân chạm bàn chân trụ trước khi bàn chân kia chạm mặt sân.
    + Bàn chân đó trở thành bàn chân trụ trước khi bàn chân kia chạm mặt sân.
    + Đấu thủ có thể nhảy lên bằng bàn chân đã chạm mặt sân và đồng thời rơi xuống bằng cả hai bàn chân, như vậy không có bàn chân nào là bàn chân trụ.
    Nếu cả hai bàn chân rời mặt sân và đấu thủ :
    + Rơi xuống mặt sân đồng thời bằng cả hai bàn chân, như vậy một trong hai bàn chân có thể là bàn chân trụ. Khi một bàn chân nhấc lên thì bàn chân còn lại trở thành bàn chân trụ.
    + Rơi xuống mặt sân bằng một chân, đấu thủ có thể nhảy lên bằng bàn chân đã rơi xuống đồng thời bằng cả hai bàn chân, như vậy không có bàn chân nào có thể là bàn chân trụ
    35.2.2 Di chuyển với bóng :
    * Sau khi bàn chân trụ được hình thành có quyền kiểm soát bóng sống trên sân :
    - Một lần chuyền bóng hoặc một lần ném rổ, bàn chân trụ có thể được nhấc lên nhưng không được chạm trở lại mặt sân trước khi bóng rời khỏi tay.
    - Khi bắt đầu dẫn bóng, bàn chân trụ không được nhấc lên trước khi bóng rời khỏi tay.
    * Sau lần dừng lại mà không có bàn chân nào là chân trụ thì :
    - Một lần chuyền bóng hoặc ném rổ, một hoặc cả hai bàn chân có thể được nhấc lên nhưng không được chạm lại mặt sân trước khi bóng rời khỏi tay.
    - Khi bắt đầu dẫn bóng, không bàn chân nào được nhấc lên trước khi bóng rời khỏi tay.
    35.2.3 Đấu thủ bị ngã, hoặc ngồi trên sân.
    Hợp lệ khi một đấu thủ cầm bóng, ngã xuống mặt sân hoặc, trong khi nằm trên sân hoặc ngồi trên sân, giành được quyền soát bóng.
    Phạm luật nếu đấu thủ này trượt, lăn, hoặc cố đứng dậy trong khi cầm bóng.
  8. kind_monster1999

    kind_monster1999 Thành viên mới

    ĐIỀU 36 : LUẬT 3 GIÂY
    36.1 Ghi chú :
    36.1 Ghi chú :
    36.1.1 Một đấu thủ của đội kiểm soát bóng sống trên sân và đồng hồ thi đấu đang chạy không đượcở trong khu vực giới hạn của đối phương liên tục quá 3 giây.
    36.1.2 Cho phép thừa nhận một đấu thủ :
    * Cố gắng rời khỏi khu vực giới hạn.
    * Ở trong khu vực giới hạn khi anh ta hoặc một đồng đội của anh ta có động tác ném rổ và bóng đang rời khỏi tay hoặc chỉ mới rời khỏi tay của người ném rổ.
    * Ở trong khu vực giới hạn chưa đến 3 giây, được phép dẫn bóng ném rổ.
    36.1.3 Để xác định một đấu thủ ở ngoài khu vực giới hạn, anh ta phải đặt cả hai bàn chân ở khu vực giới hạn.
    ĐIỀU 37 : ĐẤU THỦ BỊ KÈM SÁT
    37.1 Định nghĩa :
    Một đấu thủ đang cầm bóng sống trên sân bị kèm sát khi một đối phương có vị trí phòng thủ tích cực với khoảng cách không hơn 1 mét.
    37.2 Ghi chú :
    Đấu thủ kèm sát phải chuyền, ném rổ hoặc dẫn bóng trong vòng 5 giây.
    ĐIỀU 38 : LUẬT 8 GIÂY
    38.1 Ghi chú :
    38.1 Ghi chú :
    38.1.1 Bất cứ khi nào một đấu thủ giành được quyền kiểm soát bóng sống ở trên phần sân sau của anh ta, trong vòng 8 giây, đội của anh ta đưa bóng sang phần sân trước.
    38.1.2 Phần sân sau của một đội bao gồm rổ của đội đó, phần phía trước của bảng và phần sân này được giới hạn bởi đường cuối sân ở phía sau rổ của đội đó, hai đường biên dọc và đường giữa sân.
    38.1.3 Phần sân trước của một đội bao gồm rổ của đối phương, phần phía trước của bảng và phần sân này được giới hạn bởi đường cuối sân ở phía sau rổ đối phương, hai đường biên dọc và cạnh của đường giữa sân gần với rổ của đối phương.
    38.1.4 Bóng ở phần sân trước của đội khi bóng chạm sân trước hoặc chạm một đấu thủ hoặc chạm trọng tài một phần cơ thể tiếp xúc với sân trước.
    ĐIỀU 39 : LUẬT 24 GIÂY
    39.1 Ghi chú :
    39.1.1 Bất cứ khi nào một đấu thủ giành được quyền kiểm soát bóng sống ở trên sân, trong vòng 24 giây đội đó phải ném rổ.
    Để được công nhận là một lần ném rổ, những điều kiện dưới đây phải được tuân theo:
    ? Bóng phải rời khỏi tay của người ném rổ trước khi có tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây.
    ? Sau khi bóng đã rời khỏi tay của người ném rổ, bóng phải chạm vòng rổ trước khi có tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây.
    39.1.2 Nếu đội kiểm soát bóng không ném rổ trong vòng 24 giây thì đồng hồ 24 giây sẽ báo tín hiệu âm thanh.
    39.1.3 Khi gần kết thúc một đợt 24 giây, ném rổ được thực hiện và có tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây trong khi đang bay trên không sau khi bóng rời khỏi tay của người ném rổ và vào rổ, bóng được tính điểm.
    39.2 Qui định :
    39.2.1 Nếu đồng hồ 24 giây đã bấm trở lại sai, khi phát trọng tài có thể dừng trận đấu ngay lập tức, miễn là không đặt một trong hai đội vào tình huống bất lợi.
    Thời gian trên đồng hồ 24 giây sẽ được sửa lại và quyền sở hữu bóng sẽ cho trở lại đội đã kiểm soát bóng trước đó.
    39.2.2 Nếu tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây báo sai trong khi một đội có quyền kiểm soát bóng, ngay lập tức trọng tài sẽ dừng trận đấu. Cho đội đã có quyền kiểm soát bóng trước đó khi có tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây được phát bóng biên và cho một đợt 24 giây mới.
    Tất cả những giới hạn có liên quan đến ngăn cản bóng vào rổ và can thiệp vào bóng sẽ được áp dụng.
    39.2.3 Nếu tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây báo sai trong khi không có đội nào kiểm soát bóng, trận đấu sẽ được tiếp tục bằng nhảy tranh bóng.
    ĐIỀU 40 : BÓNG TRỞ VỀ SÂN SAU
    40.1 Định nghĩa :
    40.1.1 Bóng trở về sân sau của đội khi :
    * Bóng chạm sân sau.
    * Bóng chạm một đấu thủ hoặc một trọng tài có phần cơ thể tiếp xúc với sân sau.
    40.1.2 Bóng được xem là trở về sân sau của đấu thủ của đội kiểm soát bóng:
    * Chạm bóng sau cùng ở phần sân trước của anh ta, và một đấu thủ của cùng đội đó chạm bóng đầu tiên.
    - Sau khi bóng chạm phần sân sau, hoặc
    - Nếu đấu thủ này tiếp xúc với phần sân sau.
    * Bóng chạm ở phần sân sau của đội, sau đó chạm sân trước, và một đấu thủ của đội đó tiếp xúc với sân trước, rồi lại tiếp xúc với phần thân sau là người đầu tiên chạm bóng.
    Giới hạn này được áp dụng cho tất cả các trường hợp ở phần sân trước của một đội kể cả phát bóng biên.
    40.2 Ghi chú
    Một đấu thủ kiểm soát bóng sống ở phần sân trước không được đưa bóng trở về sân sau của đội anh ta.
    Không áp dụng phát bóng biên bất cứ khi nào có một hoặc nhiều quả ném phạt mà sau đó là phát bóng biên ở điểm giữa của đường biên dọc.
    ĐIỀU 41 : CAN THIỆP VÀO BÓNG
    41.1 Định nghĩa :
    41.1.1 Một lần ném rổ là khi bóng được giữ trong một hoặc hai bàn tay và rồi ném lên trên không hướng về rổ của đối phương.
    Vỗ bóng là khi bóng được điều khiển bằng một hoặc hai bàn tay hướng về rổ của đối phương.
    Úp rổ là khi bóng được dùng sức mạnh hoặc cố gắng dùng sức đưa bóng đi xuống vào trong rổ của đối phương bằng một hoặc cả hai tay.
    Vỗ bóng và úp rổ cũng được xem là ném rổ.
    41.1.2 Ném rổ bắt đầu khi bóng rời khỏi tay của đấu thủ có động tác ném rổ.
    41.3 Ném rổ kết thúc khi bóng :
    * Vào rổ trực tiếp từ phía trên và nằm trong rổ hoặc lọt qua rổ.
    * Không còn có khả năng vào rổ trực tiếp hoặc sau khi bóng chạm vòng rổ.
    * Được chạm hợp lệ bởi một đấu thủ sau khi bóng chạm vòng rổ.
    * Bóng chạm mặt sân.
    * Trở thành bóng chết.
    41.2 Ghi chú :
    41.2.1 Ngăn cản bóng vào rổ xảy ra trong một lần ném rổ khi :
    * Một đấu thủ chạm bóng bay xuống và bóng hoàn toàn ở phía trên vòng rổ.
    * Một đấu thủ chạm bóng sau khi bóng chạm bảng và bóng hoàn toàn ở phía trên vòng rổ.
    Những giới hạn này chỉ áp dụng cho đến khi bóng không còn có khả năng vào rổ trực tiếp hoặc sau khi bóng chạm vòng rổ.
    41.2.2 Can thiệp vào bóng xảy ra trong một lần ném rổ khi :
    * Một đấu thủ chạm bảng trong khi bóng tiếp xúc với vòng rổ.
    * Một đấu thủ đưa tay qua rổ từ phía dưới và chạm vào bóng.
    * Người phòng thủ chạm bóng hoặc chạm rổ trong khi bóng ỏ trong rổ.
    * Người phòng thủ không được làm rung bảng hoặc vòng rổ, theo nhận định của trọng tài hành động như vậy là ngăn cản bóng vào rổ.
    41.2.3 Trong khi bóng đang bay của lần ném rổ và sau khi trọng tài thổi còi hoặc sau khi có tín hiệu âm thanh của đồng hồ thi đấu hoặc của đồng hồ 24 giây, tất cả những điều khoản về ngăn cản bóng vào rổ và can thiệp vào bóng sẽ được áp dụng.
    41.3 Xử phạt :
    41.3.1 Nếu người tấn công vi phạm bóng sẽ không được tính điểm. Cho đối phương phát bóng biên dọc nơi đường ném phạt kéo dài.
    42.3.2 Nếu người phòng thủ vi phạm, đội đối phương được :
    * Hai điểm khi bóng được ném rổ ở khu vực hai điểm.
    * Ba điểm khi bóng được ném ổ ở khu vực 3 điểm.
    Cho đội bị tính điểm được phát bóng biên ngang như là bóng vào rổ.
    41.3.3 Nếu đấu thủ của cả hai đội vi phạm cùng một lúc, bóng không được tính điểm. Trận đấu được tiếp tục bằng nhảy tranh bóng.
    Chương VII : LỖI CÁ NHÂN
    ĐIỀU 42 : LỖI
    42.1 Định nghĩa :
    Lỗi là sự vi phạm những điều luật liên quan đến va chạm cá nhân với đối phương hoặc liên quan đến đạo đức tác phong phản tinh thần thể thao.
    42.2 Ghi chú :
    Lỗi được tính cho người phạm lỗi và được xử phạt theo những điều luật thích hợp.
    ĐIỀU 43 : VA CHẠM
    4.3.1 Định nghĩa :
    43.1.1 Trong một trận đấu bóng rổ, khi mười đấu thủ di chuyển với tốc độ nhanh trong trong một không gian giới hạn thì va chạm cá nhân không thể tránh khỏi.
    43.1.2 Để xác định có hoặc không có xử phạt khi va chạm, trong mỗi trường hợp xảy ra trọng tài sẽ cân nhắc và lưu ý đến những nguyên tắc cơ bản sau :
    * Tinh thần và mục đích của những điều luật và cần phải giữ tính trung thực của trận đấu.
    * Trước sau như một trong việc áp dụng khái niệm ?o Lợi thế/ không lợi thế ?T?T, do đó trọng tài không nên ngăn cản tiến trình của trận đấu một cách không cần thiết, để xử phạt va chạm cá nhân do vô tình gây ra sẽ không cho người gây ra va chạm một lợi thế hoặc không đặt đối phương của anh ta vào thế bất lợi.
    * Trước sau như một trong việc áp dụng khả năng phán đoán chung cho mỗi trận đấu, ghi nhớ những khả năng của những đấu thủ có liên quan và thái độ, đạo đức của các đấu thủ trong thi đấu.
    * Trước sau như một trong việc duy trì sự cân bằng giữa điều khiển trận đấu và tiến trình của trận đấu, phải có ?o sự cảm nhận ?T?T là những người tham gia đang cố gắng làm cái gì và thổi cái gì thì tốt cho trận đấu.
    ĐIỀU 44 : LỖI CÁ NHÂN
    44.1 Định nghĩa :
    44.1.1 Lỗi cá nhân là lỗi của một đấu thủ có liên quan đến va chạm trái luật với đối phương, không kể là bóng sống hoặc bóng chết.
    Đấu thủ không được nắm giữ, chặn người, đẩy, chặn, ngang, ngáng chân, làm trở ngại sự xoay trở của đối phương bằng cách giơ bàn tay, dang cánh tay, đánh vai, đưa hông, đưa chân, đưa đầu gối hoặc bàn chân, cũng không được cúi người một cách ?o không bình thường ?T?T (ở ngoài chiều cao thẳng đứng của anh ta), cũng không được có hành động thô lỗ hoặc lối chơi thô bạo.
    44.1.2 Cản người là va chạm cá nhân trái luật ngăn cản sự xoay trở của đối phương có bóng hoặc không có bóng.
    44..1.3 Chặn ngang là va chạm cá nhân khi có bóng hoặc không có bóng, bởi đẩy hoặc di chuyển vào phần thân trên của đối phương.
    44.1.4 Cản người trái luật từ phía sau là đấu thủ phòng thủ va chạm từ phía sau đối phương. Đơn thuần là người phòng thủ đang cố gắng lấy bóng thì cũng không biện minh được cho sự việc gây ra va chạm của người phòng thủ với đối phương phía sau.
    44.1.5 Nắm giữ là va chạm cá nhân với đối phương nhằm cản trở sự di chuyển tự do của đối phương. Nắm giữ có thể xảy ra với bất kỳ phần nào của cơ thể.
    44.1.6 Cản người trái luật là cố gắng nhằm trì hoãn trái phép hoặc ngăn cản đối phương không có bóng di chuyển đến một vị trí mong muốn ở trên sân thi đấu.
    44.1.7 Dùng tay trái luật là hành động của người phòng thủ trong tình huống phòng thủ và tay được sử dụng để tiếp xúc đối phương nhằm ngăn cản sự xoay trở của đối phương.
    44.1.8 Đẩy người là va chạm cá nhân với bất kỳ phần nào của cơ thể khi một đấu thủ dùng sức mạnh để tránh vị trí của đối phương có bóng hoặc không có bóng.
    44.2 Xử phạt :
    Trong mọi trường hợp một lỗi cá nhân sẽ tính cho người phạm lỗi, và :
    44.2.1 Nếu lỗi phạm vào đấu thủ không có động tác ném rổ :
    * Trận đấu sẽ tiếp tục bằng phát bóng biên của đội không phạm lỗi ở gần nơi xảy ra phạm lỗi.
    * Nếu xử phạt lỗi đồng đội thì lúc đó Điều 55 (lỗi đồng đội : Xử phạt) được áp dụng.
    44.2.2 Nếu lỗi phạm vào đấu thủ có động tác ném rổ thì :
    * Bóng vào rổ được tính điểm và được ném thêm 1 quả phạt.
    * Nếu ném rổ ở khu vực 3 điểm, bóng không vào rổ sẽ được ném 3 quả phạt.
    * Nếu có lỗi xảy ra khi hoặc trước khi có tín hiệu âm thanh của đồng hồ thi đấu báo kết thúc một hiệp hoặc hiệp phụ hoặc khi có tín hiệu âm thanh của đồng hồ 24 giây trong khi bóng vẫn còn nằm trong tay của đấu thủ có động tác ném rổ và bóng vào rổ, bóng sẽ không được tính 2 hoặc 3 điểm, nhưng sẽ cho ném phạt.
    44.3 Nguyên tắc hình trụ :
    Nguyên tắc hình trụ được xác định bởi khoảng không gian trong hình trụ tưởng tượng được chiếm giữ bởi một đấu thủ trên sân. Hình trụ này bao gồm khoảng không gian ở trên đấu thủ và được giới hạn như sau :
    ? Phía trước bởi lòng bàn tay.
    ? Phía sau bởi mông, và
    ? Hai bên bởi cạnh ngoài của cánh tay và chân.
    Hai bàn tay và hai cánh tay có thể được đưa ra phía sau trước của phần thân trên không xa hơn vị trị trí của hai bàn chân với cánh tay được gập ở khuỷu tay như vậy chỉ có cẳng tay và bàn tay được đưa ra. Khoảng cách giữa hai bàn chân của đấu thủ sẽ theo tỷ lệ chiều cao của đấu thủ(H.13).

    44.4 Nguyên tắc chiều cao thẳng đứng :
    44.4.1 Trên sân bóng rổ, mỗi đấu thủ đều có quyền chiếm 1 vị trí ( không gian hình trụ) trên sân nơi mà chưa có đối phương chiếm giữ.
    44.4.2 Nguyên tắc này bảo vệ khoảng không gian ở trên mặt sân mà đấu thủ này bảo vệ khoảng không gian ở phía trên của đấu thủ khi anh ta nhảy thẳng đứng trong khoảng không gian đó.
    44.4.3 Khi đấu thủ rời khỏi vị trí chiều cao thẳng đứng (không gian hình trụ) của mình mà va chạm vào cơ thể của đối phương đã hình thành vị trí chiều caothẳng đứng (khoảng không gian hình trụ), đấu thủ đã rời khỏi chiều cao thẳng đứng của mình (khoảng không gian hình trụ) sẽ chịu trách nhiệm về việc va chạm.
    44.4.4 Người phòng thủ không bị phạt do nhảy thẳng lên (trong khoảng không gian hình trụ) sẽ chịu trách nhiệm về việc va chạm.
    44.4.5 Đấu thủ tấn công, dù ở trên mặt sân hoặc ở trên không, sẽ không được va chạm với người phòng thủ ở trong vị trí phòng thủ đúng luật bởi :
    * Dùng cánh tay để tăng thêm khoảng không gian cho mình (không bị cản).
    * Đưa chân hoặc cánh tay ra gây va chạm trong hoặc ngay sau khi ném rổ.
  9. kind_monster1999

    kind_monster1999 Thành viên mới

    44.5 Vị trí phòng thủ đúng luật :
    44.5.1 Người phòng thủ có vị trí phòng thủ đúng luật khi :
    * Đối diện với đối phương, và
    * Có hai bàn chân ở trên mặt sân.
    44.5.2 Vị trí phòng thủ đúng luật được sử dụng theo chiều cao thẳng đứng phía trên theo chiều cao thẳng đứng ở phía trên của đấu thủ (khoảng không gian hình trụ). Đấu thủ được giơ tay lên cao khỏi đầu hoặc nhảy lên nhưng phải duy trì cánh tay lên cao khỏi đầu hoặc nhảy thẳng lên nhưng phải duy trì cánh tay trong vị trí chiều cao thẳng đứng bên trong khoảng không gian hình trụ tưởng tượng.
    44.6 Phòng thủ đấu thủ có bóng ;
    44.6.1 Khi phòng thủ một đấu thủ có bóng (đấu thủ đang giữ bóng hoặc đang dẫn bóng) thì những yếu tố thời gian và khoảng cách không được áp dụng.
    44.6.2 Đấu thủ có bóng phải biết mình bị phòng thủ và phải biết mình bị phòng thủ và phải chuẩn bị dừng hoặc đổi hướng di chuyển bất cứ khi nào có đối phương chiếm vị trí phòng thủ đúng luật ở phía trước người có bóng, ngay cả nếu điều này được làm trong một phần của bước thứ 2.
    44.6.3 Người phòng thủ phải có vị trí phòng thủ đúng luật, không được gây va chạm với cơ thể của đối phương chiếm vị trí.
    44.6.4 Ngay khi người phòng thủ đã có vị trí phòng thủ đúng luật, thì người phòng thủ có thể di chuyển phòng thủ đối phương, nhưng không được dang cánh tay, đưa vai, hông hoặc chân để ngăn cản người dẫn bóng vượt qua.
    44.6.5 Khi nhận định một tình huống cản người hoặc chặn ngang đấu thủ có bóng thì trọng tài sẽ xử dụng những nguyên tắc sau:
    * Người phòng thủ phải có vị trí phòng thủ ban đầu đúng luật bằng cách đối mặt với đấu thủ có bóng và có cả hai bàn chân ở trên mặt sân.
    * Người phòng thủ có thể đứng tại chỗ, nhảy thẳng lên hoặc di chuyển sang bên cạnh hoặc di chuyển lùi về phía sau để duy trì vị trí phòng thủ đúng luật.
    * Di chuyển để duy trì vị trí phòng thủ, một hoặc hai bàn chân có thể rời khỏi mặt sân trong chốc lát, hoặc di chuyển sang một bên di chuyển lùi về phía sau, nhưng không được hướng về người có bóng.
    * Nếu va chạm xảy ra ở phần trên, lúc đó người phòng thủ sẽ được xem là chiếm vị trí trước.
    * Người phòng thủ đã hình thành vị trí phòng thủ đúng luật có thể xoay người trong khoảng không gian hình trụ của anh ta để làm giảm bớt cú va chạm hoặc chánh trấn thương.
    Trong trường hợp xảy ra như trên, lỗi sẽ được tính cho đấu thủ có bóng.
    44.7 Đấu thủ ở trên không :
    44.7.1 Một đấu thủ nhảy lên trên không từ một vị trí ở trên mặt sân thì phải rơi xuống trên cùng một vị trí đó.
    44.7.2 Đấu thủ được quyền rơi xuống trên cùng một vị khác ở trên sân, với điều kiện là giữa hướng nhảy lên và vị trí rơi xuống, và vị trí rơi xuống của anh ta chưa có đối phương chiếm giữ khi anh ta nhảy lên.
    44.7.3 Nếu một đấu thủ nhảy lên và rơi xuống, nhưng đà rơi xuống làm đấu thủ va chạm với đối phương đã có vị trí phòng thủ đúng luật gần vị trí rơi xuống, như vậy lúc này người nhảy lên sẽ chịu trách nhiệm về việc va chạm.
    44.7.4 Một đối thủ không được di chuyển vào vị trí của đối phương sau khi đối phương đã nhảy lên trên không.
    44.7.5 Di chuyển phía dưới một đấu thủ đang ở trên không mà va chạm, thì thường là một lỗi phản tinh thần thể thao và chắc chắn trong những trường hợp này có thể là lỗi trục xuất.
    44.8 Phòng thủ một đấu thủ không có bóng :
    44.8.1 Một đấu thủ không có bóng được quyền di chuyển tự do trên sân và chiếm giữ bất cứ một vị trí nào mà chưa có một đấu thủ khác chiếm giữ.
    44.8.2 Khi phòng thủ một đấu thủ không có bóng, những yếu tố thời gian và khoảng cách sẽ được áp dụng. Người phòng thủ không được chiếm vị trí quá gần hoặc quá nhanh trong hướng di chuyển của đối phương đến mức đối phương không có đủ thời gian hoặc khoảng cách để có thể dừng hoặc thay đổi hướng di chuyển. Khoảng cách bằng tỷ lệ tương xứng với tốc độ của đối phương, không ít hơn một bước và không nhiều hơn hai bước bình thường.

    Nếu một đấu thủ không để ý tới yếu tố thời gian và khoảng cách khi chiếm vị trí phòng thủ hợp lệ mà xảy ra va chạm với đối phương thì đấu thủ đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc va chạm.
    44.8.3 Khi người phòng thủ đã có vị trí phòng thủ đúng luật thì người phòng thủ đó không được ngăn cản đối phương đi qua bằng cách dang tay, đưa vai, đưa hông hoặc đưa chân trong hướng di chuyển của đối phương. Tuy nhiên người phòng thủ có thể thay đổi hoặc để tay ở trước ngực và gập cánh tay gần cơ thể của người phòng thủ, trong khoảng không gian hình trụ của anh ta để không bị chấn thương.
    44.9 Cản người đúng luật và cản người trái luật :
    44.9.1 Cản người xảy ra khi một đấu thủ cố gắng trì hoãn hoặc ngăn cản đối phương không có bóng di chuyển đến một vị trí mong muốn ở trên sân.
    44.9.2 Cản người đúng luật khi đấu thủ đang cản đối phương là :
    ? Đứng tại chỗ (bên trong khoảng không gian hình trụ) khi va chạm xảy ra.
    ? Có cả hai bàn chân ở trên mặt sân khi va chạm xảy ra.
    44.9.3 Cản người trái luật khi đấu thủ đang cản đối phương :
    * Đã di chuyển khi va chạm xảy ra.
    * Không có khoảng cách thích hợp trong tình huống cản người tầm quan sát của đối phương đang đứng tại chỗ khi va chạm xảy ra.
    ? Không tôn trọng yếu tố thời gian và khoảng cách trong hướng di chuyển của đối phương khi có va chạm xảy ra.
    ? 44.9.4 Nếu cản người được đặt ở trong tầm quan sát của đối phương đứng tại chỗ (ở phía trước hoặc bên cạnh) thì người cản có thể có vị trí cản người sát đối phương như anh ta mong muốn, với điều kiện là không có va chạm xảy ra.
    ? 44.9.5 Nếu cản người được đặt ở ngoài tầm quan sát của đối phương đứng tại chỗ, người cản phải cho phép đối phương bước một bước bình thường về phía người cản mà không xảy ra va chạm.
    44.9.6 Nếu đối phương đang di chuyển thì yếu tố thời gian và khoảng cách sẽ được áp dụng. Người cản phải để khoảng cách sẽ được áp dụng. Người cản phải để khoảng trống thích hợp cho người bị cản có khả năng để dừng hoặc thay đổi hướng di chuyển.
    44.9.7 Một đấu thủ cản người đúng luật thì đấu thủ bị cản người phải chịu trách nhiệm về bất kỳ sự va chạm nào với đấu thủ cản người.
    44.10 Cản người :
    44.10.1 Một đấu thủ đang cố gắng cản người sẽ phạm lỗi cản người xảy ra va chạm khi đấu thủ đó đang di chuyển và đối phương của anh ta đứng tại chỗ hoặc di chuyển theo đấu thủ.
    44.10.2 Nếu đấu thủ không chú ý đến bóng, đối diện với đối phương và thay đổi vị trí của đấu thủ vì đối phương thay đổi vị trí thì đấu thủ này sẽ chịu trách nhiệm về bất kỳ va chạm nào xảy ra sau đó, trừ khi có nhân tố khác liên quan đến.
    Sự diễn tả ?o trừ khi có những nhân tố khác có liên quan ?T?Tlà nói đến cố tình đẩy, xô hoặc nắm giữ của đấu thủ bị cản.
    44.10.3 Đấu thủ phòng thủ đúng luật được dang tay hoặc khuỷu tay ở khoảng không hình trụ để chiếm vị trí trên sân, nhưng cánh tay và khuỷu tay phải được cử động ở bên trong khoảng không gian hình trụ của anh ta khi đối phương cố gắng đi qua. Nếu cánh tay hoặc khuỷu tay ở ngoài khoảng không hình trụ của anh ta và có va chạm xảy ra, thì đó cản người hoặc nắm giữ.
    44.11 Bàn tay hoặc cánh tay va chạm đối phương
    44.11.1 Bàn tay va chạm đối phương, tự bản chất, không coi là một sự vi phạm.
    44.11.2 Trọng tài sẽ quyết định đấu thủ đã gây va chạm có giành được lợi thế không. Nếu đấu thủ gây va chạm làm giới hạn bất kỳ hướng di chuyển tự do nào của đối phương thì va chạm đó là một lỗi.
    44.11.3 Dùng tay hoặc giơ cánh tay trái luật xảy ra khi người phòng thủ có tư thế phòng thủ đặt vào người của đối phương mà vẫn duy trì sự tiếp xúc với đối phương có hoặc không có bóng.
    44.11.4 Lặp đi lặp lại động tác tay chạm đối phương hoặc cánh tay ?o chọc đẩy ?T?T đối phương có hoặc không có bóng là lỗi va chạm như vậy có thể dẫn đến lối chơi thô bạo.
    44.11.5 Lỗi của đấu thủ tấn công có bóng :
    * ?o Thúc ? cánh tay, choàng cánh tay hoặc khuỷu tay quanh người phòng thủ để giành được lợi thế.
    ? Đẩy người phòng thủ để lấy bóng hoặc không cho người phòng thủ lấy bóng để tạo một khoảng cách lớn hơn giữa người tấn công và người phòng thủ.
    ? Trong khi dẫn bóng, dang cẳng tay hoặc bàn tay ngăn cản đối phương để bảo vệ bóng.
    44.11.6 Lỗi xô đẩy của đấu thủ tấn công không có bóng để :
    * Tự do nhận bóng.
    * Ngăn cản người phòng thủ để lấy bóng hoặc ngăn cản để lấy bóng ngăn cản người phòng thủ đang cố gắng phá bóng.
    * Tạo khoảng trống hơn nữa giữa anh ta và người phòng thủ.
    44.12 Lối chơi đứng tại chỗ :
    44.12.1 Nguyên tắc không gian thẳng đứng được áp dụng khi đứng tại chỗ không được được áp dụng khi đứng tại chỗ.
    Người tấn công ở vị trí đứng tại chỗ và đối phương phòng thủ phải tôn trọng quyền về chiều cao thẳng đứng (khoảng không gian hình trụ) của mỗi đấu thủ.
    44.12.2 Người phòng thủ trong tư thế đứng tại chỗ không được đưa vai hoặc hông của mình ra khỏi vi trí hoặc giơ khuỷu tay, cánh tay, đầu gối hoặc những phần khác của cơ thể để ngăn cản sự tự do di chuyển của đối phương.
  10. kind_monster1999

    kind_monster1999 Thành viên mới

    ĐIỀU 45 : LỖI HAI BÊN
    45.1 Định nghĩa :
    Lỗi hai bên là trường hợp hai đối thủ phạm lỗi va chạm nhau gần như cùng một thời điểm.
    45.2 Xử phạt :
    45.2.1 Tính một lỗi cá nhân mỗi đấu thủ phạm lỗi. không có ném phạt.
    45.2.2 Trận đấu sẽ được tiếp tục như sau :
    ? Nếu bóng vào rổ cùng với thời điểm xảy ra lỗi, bóng được tính điểm, đối phương của đội ném bóng vào rổ được phát bóng biên ở đường cuối sân.
    ? Cho đội đang kiểm soát bóng hoặc đội được quyền phát bóng biên khi xảy ra lỗi hai bên được phát bóng biên gần nơi phạm lỗi.
    ? Nếu không có đội nào kiểm soát bóng cũng không được quyền phát bóng biên khi xảy ra lỗi hai bên, cho hai đấu thủ phạm lỗi nhảy tranh bóng ở vòng tròn gần nơi phạm lỗi.
    ĐIỀU 46 : LỖI PHẢN TINH THẦN THỂ THAO
    46.1 Định nghĩa :
    46.1.1 Lỗi phản tinh thần thể thao là lỗi cá nhân của một đấu thủ mà theo nhận định của trọng tài, đấu thủ đó đã cố ý phạm lỗi vào đối phương.
    46.1.2 Lỗi phản tinh thần thể thao, phải được hiểu một cách nhất quán xuyên suốt trong toàn bộ trận đấu.
    46.1.4 Để xem xét một lỗi có là phản tinh thần thể thao không, trọng tài nên áp dụng những nguyên tắc sau:
    ? Nếu một đấu thủ gây va chạm mà không nhằm mục đích cản phá bóng thì đó là lỗi phản tinh thần thể thao.
    ? Nếu một đấu thủ cố gắng cản phá bóng, gây ra va chạm quá mức (lỗi nặng) va chạm sẽ bị coi là lỗi phản tinh thần thể thao.
    ? Một đấu thủ nắm giữ, đụng, đạp hoặc cố ý xô đẩy đối phương, là lỗi phản tinh thần thể thao.
    ? Nếu đấu thủ phạm lỗi trong khi cố gắng chính đáng nhằm cản phá bóng ( chơi bóng rổ bình thường), thì không phạm lỗi phản tinh thần thể thao.
    ? 46.2 Xử phạt ;
    ? 46.2.1 Ghi một lỗi phản tinh thần thể thao cho người phạm lỗi.
    ? 46.2.2 Cho đội không phạm lỗi được ném một hoặc nhiều quả phạt và sau đó được phát bóng biên.
    Số quả ném phạt được tính như sau :
    ? Nếu lỗi phạm vào đấu thủ không có động tác ném rổ thì cho ném hai quả phạt.
    ? Nếu lỗi phạm vào đấu thủ có động tác ném rổ thì bóng vào rổ được tính điểm và cho ném thêm một quả phạt.
    ? Nếu lỗiphạm vào đấu thủ có động tác ném rổ nhưng bóng không vào rổ thì tuỳ theo vị trí ném rổ mà cho ném hai hoặc ba quả phạt.
    ĐIỀU 47 LỖI TRỤC XUẤT
    47. 1 Định nghĩa :
    47.1.1 Bất kỳ đấu thủ chính thức, đấu thủ dự bị, HLV, HLV phó hoặc người đi theo đội nào động phản tinh thần thể thao một cách trắng trợn thì đều là lỗi trục xuất.
    47.1.2 Một HLV cũng sẽ bị trục xuất khi :
    ? Phạm hai lỗi kỹ thuật (C) do hành động phản tinh thần thể thao.
    ? Có tổng cộng ba lỗi kỹ thuật do hành động phản tinh thần thể thao của HLV phó, đấu thủ dự bị hoặc người đi theo đội ở trong băng ghế của đội (B) hoặc có ba lỗi kỹ thuật mà trong đó có một lỗi kỹ thuật do chính bản thân của HLV (C).
    ? 47.1.3 HLV đã bị trục xuất sẽ được thay thế bởi HLV phó đã đăng ký trong tờ ghi điểm. Nếu không có HLV phó, đội trưởng sẽ thay thế.
    47.2 Xử phạt :
    47.2.1 Ghi một lỗi trục xuất cho người phạm lỗi.

    47.2.2 Người bị trục xuất sẽ ở trong phòng thay quần áo của đối phương suốt trận đấu hoặc nếu muốn sẽ được rời khỏi nhà thi đấu.
    47.2.3 Đội không phạm lỗi được ném phạt và phát bóng biên ở giữa đường biên dọc. Số quả ném được tính biên ở giữa đường biên dọc.Số quả ném phạt được tính như phạt lỗi phản tinh thần thể thao, Điều 46.2.2.
    ĐIỀU 48 : NHỮNG ĐIỀU LUẬT VỀ ĐẠO ĐỨC
    48.1 Định nghĩa :
    48.1.1 Điều khiển chính xác trận đấu đòi hỏi sự hợp tác toàn diện trung thực của tất cả các thành viên của hai đội (đấu thủ chính thức, đấu thủ dự bị, HLV, HLV phó và người đi theo đội) với trọng tài, các nhân viên của bàn thư ký và cố vấn kỹ thuật.
    48.1.2 Cả hai đội được quyền làm những điều tốt nhất để giành thắng lợi, nhưng những điều này phải theo đúng tinh thần thể thao và trung thực.
    48.1.3 Bất kỳ những hành động cố tình hoặc lặp đi lặp lại không tuân theo tinh thần của Điều luật này sẽ bị xem là lỗi kỹ thuật và được xử phạt theo quy định của các Điều luật tương ứng.
    48.1.4 Trọng tài có thể ngăn chặn lỗi kỹ thuật bằng cách nhắc nhở các thành viên của đội ngay cả khi giám sát những vi phạm này rõ ràng là cố ý và không có ảnh hưởng trực tiếp đến trận đấu, trừ khi có sự lặp lại cùng một vi phạm và được nhắc nhở.
    48.2 Ghi chú :
    Những hành động thô bạo có thể xảy ra trong trận đấu trái ngược với tinh thần thể thao và sự trung thực (Fair play). Ngay lập tức trọng tài phải ngăn chặn những hành động này và nếu cần thiết sử dụng lực lượng bảo vệ để duy trì trật tự chung.
    48.2.1 Bất cứ khi nào có những hành động thô bạo xảy ra giữa các đấu thủ, đấu thủ dự bị, HLV và những người đi theo đội, trọng tài sẽ có hành động cần thiết để ngăn cản họ.
    48.2.2 Bất kỳ người nào nói ở trên có những hành động gây hấn trắng trợn với đối phương hoặc với trọng tài, ngay lập tức sẽ bị trục xuất ra khỏi trận đấu. Sau đó trọng tài phải báo cáo ngay cho Ban tổ chức giải.
    48.2.3 Lực lượng bảo vệ có thể vào sân khi nào có yêu cầu của trọng tài. Tuy nhiên, có thể khán giả vào trong sân thi đấu với mục đích rõ ràng là gây bạo động, ngay lập tức lực lượng bảo vệ phải ngăn chặn để bảo vệ trọng tài và các đấu thủ.
    48.2.4 Tất cả những khu vực khác bao gồm lối ra, hành lang, phòng thay quần áo v.v? đều nằm dưới quyền kiểm soát của Ban tổ chức và lực lượng bảo vệ nhằm duy trì trật tự chung.
    48.2.5 Trọng tài không cho phép những hành động tự nhiên của đấu thủ, đấu thủ dự bị, HLV, HLV phó và những người đi theo đội có thể làm hư hỏng tới các thiết bị của trận đấu.
    Trọng tài không cho phép những hành động tự nhiên của đấu thủ, đấu thủ dự bị, HLV, HLV phó và những người đi theo đội có thể làm hư hỏng tới các thiết bị của trận đấu.
    Trọng tài quan sát hành động tự nhiên này và ngay lập tức nhắc nhở HLV của đội vi phạm.
    Nếu hành động này được lặp lại, ngay lập tức phạt lỗi kỹ thuật cá nhân liên quan. Nếu tên của cá nhân này không đăng ký trong tờ ghi điểm, sẽ phạt lỗi kỹ thuật cho HLV và được ghi là ?o B ?.
    Quyết định của trọng tài là quyết định cuối cùng không được coi thường hoặc tranh cãi.
    ĐIỀU 49 : LỖI KỸ THUẬT CỦA ĐẤU THỦ CHÍNH THỨC
    49.1 Định nghĩa :
    49.1.1 Lỗi kỹ thuật khi một đấu thủ chính thức không quan tâm đến những lời nhắc nhở của trọng tài hoặc sử dụng những thủ đoạn như là :
    ? Tiếp xúc hoặc có lời nói thiếu tôn trọng với trọng tài, cố vấn kỹ thuật, các nhân viên ở bàn thư ký hoặc đối phương.
    ? Dùng lời nói hoặc hành động xúc phạm, kích động khán giả.
    ? Chọc ghẹo đối phương hoặc ngăn cản tầm nhìn của đối phương bằng cách khua tay ở gần mắt của đối phương.
    ? Trì hoãn trận đấu bằng cách ngăn cản tầm nhìn của đối phương bằng cách khua tay ở gần mắt của đối phương.
    ? Không giơ tay đúng cách sau khi được trọng tài yêu cầu khi được trọng tài yêu cầu khi có lỗi xảy ra.
    ? Thay đổi số áo mà không báo cho thư ký và trọng tài.
    ? Rời sân để tạo lợi thế không chính đáng.
    ? Theo người trên vòng rổ để thể hiện sức mạnh của đấu thủ.
    Trong trường hợp úp rổ, đấu thủ có thể :
    - Nắm vòng rổ rồi bỏ ra ngay và không cố ý.
    - Nắm vòng rổ, nếu theo nhận định của trọng tài là đấu thủ đó đang cố gắng tránh gây chấn thương cho chính anh ta hoặc cho một đấu thủ khác.
    49.2 Xử phạt :
    49.2.1 Ghi một lỗi kỹ thuật cho đấu thủ phạm lỗi.
    49.2.2 Cho đối phương ném một quả phạt và phát bóng biên giữa đường biên dọc.
    ĐIỀU 50 : LỖI KỸ THUẬT CỦA HUẤN LUYỆN VIÊN PHÓ, ĐẤU THỦ DỰ BỊ HOẶC NGƯỜI ĐI THEO ĐỘI
    50.1 Định nghĩa :
    50.1.1 Huấn luyện viên, huấn luyện phó, đấu thủ dự bị hoặc người đi theo đội không được có lời nói thiếu tôn trọng khi tiếp xúc với trọng tài, cố vấn kỹ thuật, các nhân viên của bàn thư ký hoặc đối phương.
    50.1.2 Huấn luyện viên, huấn luyện viên phó, đấu thủ dự bị và người đi theo đội phải ở trong khu vực ghế ngồi của đội, trừ khi :
    ? Huấn luyện viên, huấn luyện viên phó hoặc người đi theo đội có thể vào sân thi đấu để săn sóc đấu thủ bị thương sau khi được phép của trọng tài.
    ? Bác sĩ có thể vào sân mà không được phép của trọng tài nếu theo nhận định của bác sĩ, đấu thủ bị thương đang trong tình trạng nguy hiểm và có yêu cầu được săn sóc ngay.
    ? Đấu thủ dự bị có thể yêu cầu thay người ở bàn thư ký.
    ? Huấn luyện viên hoặc huấn luyện viên phó có thể yêu cầu hội ý.
    ? Trong khi hội ý, huấn luyện viên, HLV phó hoặc những người đi theo đội có thể vào sân để trao đổi với các thành viên của đội mình với điều kiện là những người này ở trong vùng lân cận thuộc khu vực ghế ngồi của đội.
    ? Tuy nhiên, HLV có thể chỉ đạo các đấu thủ của mình khi đang thi đấu, miễn là HLV ở trong khu vực ghế ngồi của đội ông ta.
    ? Khi đồng hồ thi đấu dừng, huấn luyện viên hoặc HLV phó có thể đi tới bàn thư ký để lấy thông tin. Điều này phải được thực hiện với thái độ nhã nhặn lịch sự và không gây trở ngại cho tiến trình bình thường của trận đấu.
    50.2 Xử phạt :
    50.2.1 Cho đối phương ném hai quả và phạt được phát bóng biên ở giữa đường biên dọc.
    ĐIỀU 51 : LỖI KỸ THUẬT TRONG THỜI GIAN NGHỈ CỦA TRẬN ĐẤU
    51.1 Định nghĩa :
    Nhiều lỗi kỹ thuật có thể bị thổi phạt trong thời gian nghỉ của trận đấu.
    Thời gian nghỉ của trận đấu là khoảng thời gian trước khi trận đấu bắt đầu (20 phút), thời gian nghỉ giữa mỗi hiệp và thời gian nghỉ trước mỗi hiệp phụ.
    Thời gian nghỉ của trận đấu bắt đầu là 20 phút trước khi bắt đầu trận đấu hoặc khi có tín hiệu âm thanh báo kết thúc thời gian thi đấu của một hiệp.
    Thời gian nghỉ của trận đấu là khoảng thời gian trước khi trận đấu kết thúc khi nhảy tranh bóng ở vòng tròn giữa sân, khi bóng được chạm hợp lệ bởi người nhảy tranh bóng để bắt đầu hiệp tiếp theo.
    51.2 Xử phạt :
    Nếu thổi phạt lỗi kỹ thuật cho :
    ? Một thành viên của đội được quyền thi đấu thì lỗi được tính cho thành viên của đội như là lỗi của đấu thủ chính thức và cho đối phương ném hai quả phạt.
    Lỗi đó sẽ tính vào một lỗi đồng đội.
    ? Huấn luyện viên, huấn luyện viên phó, hoặc người đi theo đội thì lỗi được tính cho huấn luyện viên và cho đối phương ném hai quả phạt.
    ? Lỗi này không tính vào một lỗi đồng đội.
    ? Nếu có nhiều lỗi kỹ thuật bị thổi phạt, xem Điều 56(những trường hợp đặc biệt).
    51.3 Quy định :

    Sau khi thực hiện xong những quả ném phạt, trận đấu, mỗi hiệp hoặc hiệp phụ sẽ được bắt đầu bằng nhảy tranh bóng ở vòng tròn giữa sân.

Chia sẻ trang này