1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Nhà Mạc và những bất công mà các sử gia nhà Lê đã quy chụp cho họ

Chủ đề trong 'Lịch sử Văn hoá' bởi txhan, 12/08/2007.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. txhan

    txhan Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    11/07/2004
    Bài viết:
    200
    Đã được thích:
    0
    Nhà Mạc và những bất công mà các sử gia nhà Lê đã quy chụp cho họ

    Mạc Đăng Dung thuộc dòng dõi Mạc Đỉnh Chi, đỗ cử nhân võ và dần dần được thăng dần lên chức thái phó tiết chế các doanh quân thủy bộ. Quyền hành càng ngày càng lớn, Mạc Đăng Dung cuối cùng đảo chánh lật đổ vua Lê Cung Hoàng (1522-1527), tự mình lên làm vua tức Mạc Thái Tổ (1527-1530) lập ra nhà Mạc.
    Nhà Mạc từ Mạc Thái Tổ đến Mạc Mậu Hợp trị vì từ 1562-1592 truyền được năm đời trong 65 năm.
    Họ Mạc bị các sử gia phong kiến (mà chủ yếu là nhà Lê - thế lực phong kiến mà họ Mạc đã lật đổ) lên án về nhiều lỗi lầm trong đó tội nặng nhất mà nhà Lê kết tội họ Mạc là đầu hàng nhà Minh và cắt đất cho nhà Minh (1540). Nhưng thực tế xem xét đánh giá vấn đề này 1 cách chủ quan như các sử gia nhà Lê đã làm có rất nhiều điểm phiếm diện. Có thể đơn cử mấy ví dụ sau:
    Việc đầu hàng nhà Minh và cắt đất xin hàng nếu xem xét lại trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Sau khi nhà Lê mất ngôi, hai vị cựu thần nhà Lê là Trịnh Ngung và Trịnh Ngang chạy qua nhà Minh tố cáo hành động của Mạc Đăng Dung và xin nhà Minh đưa quân qua hỏi tội họ Mạc (1529). Tiếp theo năm 1533, Nguyễn Kim tìm được con của Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, lập lên làm vua là Lê Trang Tông, thì trong lúc đang lưu vong tại Ai Lao Lê Trang Tông lại sai Trịnh Duy Liễu cùng hơn mười người đi đường biển từ Chiêm Thành theo thuyền buôn Quảng Đông tới Trung Hoa xin thỉnh cầu nhà Minh xuất quân đánh nhà Mạc. Đến năm 1536, một lần nữa Lê Trang Tông sai Trịnh Viên yêu cầu nhà Minh đánh họ Mạc.
    Hành động của vua Lê và Nguyễn Kim, kêu gọi người nước ngoài về đánh nước mình, đáng trách hơn rất nhiều nhưng không hề bị các sử gia nhà Lê và Nguyễn phê phán. Hành động này thực tế đã đưa đến kết quả hết sức nguy hiểm là nhà Minh cử Cừu Loan làm tổng đốc, Mao Bá Ôn làm tán lý quân vụ đem binh mã sang ải Nam Quan năm 1540 nhăm nhe sang xâm lược nước ta.
    Trong hoàn cảnh đó, trong thế yếu, muốn tránh một cuộc chiến mà mình nắm phần thất bại nhiều hơn, có thể dẫn dân Việt sẽ một lần nữa bị đặt dưới ách thống trị trực tiếp của ngoại nhân như thời Mộc Thạnh, Trương Phụ, thì hành động của Mạc Thái Tổ (lúc đó đã lên làm thái thượng hoàng), chấp nhận đầu hàng trên danh nghĩa và chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân, lên ải Nam Quan (Lạng Sơn) chịu thuần phục để nước ta trên danh nghĩa là lệ thuộc Trung Hoa, nhưng trong thực tế vẫn độc lập một phương, vua Mạc vẫn cai trị đất đai từ Lạng Sơn trở xuống, có thể hiểu là 1 chính sách ngoại giao không phải là tồi. Ai cũng bảo Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh vì quyền lợi gia đình họ Mạc, nhưng giả thiết, một giả thiết không bao giờ có thể quay lại được, Mạc Đăng Dung chống cự quân Minh như họ Hồ, nước ta bị tái đô hộ, thì nhân dân ta còn khổ biết bao nhiêu nữa. 1 chi tiết nữa nhưng có thể không được kiểm chứng từ các sách vở có xu hương ủng hộ nhà Mạc là Mạc Đăng Dung rất buồn tủi về sự kiện Nam Quan nên về nhà chưa được một năm, ông nhuốm bệnh từ trần năm 1541.
    Ngoài ra nếu phân tích cụ thể thì việc cắt đất nghe ra khá to lớn, nhưng đó chỉ là năm động của những sắc tộc ít người nằm ở vùng biên giới Hoa Việt: Ty Phù, Kim Lặc, Cổ Sậm, Liễu Cát, và La Phù thuộc châu Vĩnh An, ở Yên Quảng. Thực tế cho đến tận thời pháp thuộc những sắc tộc ít người sinh sống dọc biên giới cũng khá tự do không nhất định bị ràng buộc chặt chẽ về bên nào, mà chỉ bên nào mạnh thì họ thuần phục để được yên thân. Do đó, việc cắt đất tuy đáng trách nhưng có vẻ mang tính giấy tờ hơn là chủ quyền thực tế.
    Trong khi đó, nếu nhìn sang nhà Lê, sau khi trở về Thăng Long, năm 1596 vua Lê Thế Tông đã cử người đem hai quả ấn của nhà Mạc và vua Lê lên Nam Quan cho đại diện nhà Minh khám xét, nhưng quan nhà Minh không chịu, bắt vua Lê phải thân hành đến gặp. Vua Lê phải chấp hành, nhưng khi đến nơi đợi lâu quá không được gặp quan nhà Minh, vua Lê đành trở về, rối năm sau (1597) lên một lần nữa mới được hội kiến. Sự kiện nầy chẳng khá gì hơn việc Mạc Đăng Dung lên Nam Quan năm 1540.
    Vì quá ham lên án nhà Mạc, sử gia nhà Lê thường cũng lơ là những tư liệu xúc động về tình cảm của con cháu nhà Mạc với dân tộc. Trước khi từ trần năm 1594, đại tướng nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn để thư lại dặn vua Mạc Kính Cung: ?o...Họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Còn như dân ta là người vô tội, sao lại nỡ để cho dân mắc vào vòng mũi tên hòn đạn lâu mãi như vậy! Chúng ta nên lánh ở nước khác, cốt phải cẩn thận giữ gìn, đừng lại cố sức chiến đấu với họ nữa. Lại dứt khoát chớ có đón rước người Minh kéo sang nước ta để đến nỗi dân ta phải lần than khốn khổ...?
    Đây quả là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn của dòng tộc. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói hào hùng của Lý Đạo Thành, Trần Thủ Độ, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, nhưng ít khi gặp những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn, đầy nước mắt nhưng cũng đầy tình dân tộc.
    Điểm quan trọng nhất là con cháu nhà Mạc đã không kêu xin người Minh đem quân sang đánh nước ta giống như nhà Lê đã làm. Họ chỉ yêu cầu nhà Minh can thiệp cho họ về sinh sống đất Cao Bằng. Chính họ đã góp công phát triển Cao Bằng, góp phần biến Cao Bằng từ 1 vùng man động thành một vùng biên giới với thế đứng vững chắc của người Việt để chống lại Tàu. Công trạng này tuy không rực rỡ như đường về phương nam của chúa Nguyễn, nhưng sử sách cũng không nên quên tuyên dương họ Mạc.

Chia sẻ trang này