1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Những kiến thức cơ bản về Y Học.

Chủ đề trong 'Sức khoẻ - Y tế' bởi Milou, 20/07/2002.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Tìm ra chất tiêu diệt tế bào ẩn giấu virus HIV

    Virus HIV ẩn mình trong một loại tế bào miễn dịch.
    Nguyên nhân gây tái phát HIV là thủ phạm có khả năng ẩn mình trong một loại tế bào miễn dịch đặc biệt, chờ cơ hội tấn công trở lại một cách hung dữ và khôn ngoan hơn. Các nhà khoa học Mỹ vừa tìm ra một độc tố có khả năng tìm diệt những tế bào này.
    Trở ngại lớn nhất trong điều trị triệt để HIV là khả năng thâm nhập của virus vào một loại tế bào miễn dịch T có vai trò như bộ nhớ của hệ miễn dịch. Nhiệm vụ của chúng là lưu giữ thông tin về virus hoặc vi khuẩn thâm nhập vào cơ thể, từ đó giúp hệ miễn dịch nhanh chóng nhận dạng và phản ứng khi kẻ lây nhiễm tấn công trở lại. Khả năng nguỵ trang của virus HIV tinh xảo đến mức cho đến nay chưa có loại thuốc chống tái phát nào có khả năng tìm diệt được.
    Để giải quyết vấn đề trên, nhóm nghiên cứu đến từ Đại học Texas đã phát triển thành công một loại độc tố miễn dịch, bao gồm một kháng thể chuyên nhận dạng tế bào T cất giấu virus và một phân tử có nguồn gốc từ chất độc ricin thần kinh. Nhóm đã tiến hành thử nghiệm trên 24 bệnh nhân HIV và nhận thấy, loại độc tố trên đã làm giảm một lượng lớn các tế bào T nhiễm virus chỉ trong thời gian ngắn.
    Tuy nhiên, theo giáo sư Frances Gotch đến từ trường Imperial London (Anh), nếu loại độc tố trên không được "lập trình" cẩn thận, nó có thể huỷ diệt bất kỳ tế bào miễn dịch nào trong máu và sẽ khiến hệ miễn dịch yếu hơn do các tế bào "bộ nhớ" đã bị tiêu diệt.
    Nhóm nghiên cứu Texas đang kêu gọi sự trợ giúp của các phòng thí nghiệm HIV trên thế giới, nhằm tiến tới một cuộc thử nghiệm lớn hơn về tác dụng của chất độc miễn dịch trên.
    Theo BBC
    -»(¯`»(¯`?´¯)«´¯)«-Có ai từng yêu mà chưa đau đớn một lần--»(¯`»(¯`?´¯)«´¯)«-(-¸,+°´°+,¸.·´¯`·.¸(^ o ^)¸.·´¯`·.,+°´°+,¸Có ai từng yêu mà chưa từng khóc  ¸,+°´°+,¸.·´¯`·.¸(^ o ^)¸.·´¯`·,+°´°+,¸-)
     
     
  2. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Cây sơn tra - vị thuốc quý

    Quả sơn tra.
    Sơn tra còn có tên là cây chua chát, cây gan hay táo mèo, được dùng làm thuốc ở cả phương Đông và phương Tây hàng chục thế kỷ qua. Hiện nó được dùng rộng rãi tại nhiều nước châu Âu để trị bệnh tim mạch. Còn ở Việt Nam,Trung Quốc, sơn tra là thuốc chữa các chứng về đường tiêu hóa.
    Do có tác dụng khá mạnh trên cơ tim nên sơn tra đã được sử dụng trong các trường hợp suy tim, giúp tăng hoạt động của cơ tim. Các amines của cây có tác dụng bổ tim. Còn các flavonoids làm gia tăng lưu lượng máu qua động mạch vành, tăng nhịp tim, giãn mạch. Sơn tra có tác dụng tốt trong các trường hợp tắc mạch vành. Trong các trường hợp xơ vữa động mạch, nó có tác dụng phòng ngừa và chữa trị khá tốt. Thử nghiệm trên thú cho thấy, loại dược thảo này có khả năng làm hạ cholesterol, triglycerides, giảm độ nhầy của máu và fibrinogen. Thuốc rượu sơn tra giúp tăng bài tiết acid mật và làm giảm tổng hợp cholesterol ở chuột.
    Sơn tra được chỉ định trong các trường hợp: suy tim độ 1 và 2, đau thắt ngực, đau tim ở người cao niên, nhịp tim chậm. Có thể tự pha chế trà dược như sau: Khuấy 1 thìa cà phê bột lá và hoa trong 150 ml nước đun sôi; ngâm trong 20 phút, gạn lấy nước, chia thành 1-3 lần uống trong ngày để chữa trị chứng tức ngực.
    Trong dược học cổ truyền Trung Hoa, sơn tra được phân chia thành Bắc sơn tra (C. pinnatifida), thu hái tại các tỉnh phía Bắc như Sơn Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc và Nam sơn tra (C.cuenata), thu hái tại Quảng Đông và Quảng Tây.
    Quả sơn tra vị chua/ngọt, tính ấm nhẹ, tác dụng vào các kinh mạch thuộc can, tỳ và vị...Nó được ứng dụng trong các trường hợp sau:
    - Đầy bụng, ăn không tiêu, đau bụng, tiêu chảy.
    - Đau bụng do ứ huyết sau khi sinh.
    - Cao huyết áp.
    -»(¯`»(¯`?´¯)«´¯)«-Có ai từng yêu mà chưa đau đớn một lần--»(¯`»(¯`?´¯)«´¯)«-(-¸,+°´°+,¸.·´¯`·.¸(^ o ^)¸.·´¯`·.,+°´°+,¸Có ai từng yêu mà chưa từng khóc  ¸,+°´°+,¸.·´¯`·.¸(^ o ^)¸.·´¯`·,+°´°+,¸-)
  3. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Phát minh mới giúp đo huyết áp trong tim

    Thiết bị mới chỉ bé bằng hạt gạo, được đưa vào tâm nhĩ trái để đo huyết áp.
    Các nhà khoa học Mỹ vừa phát triển thành công một thiết bị cảm ứng chỉ bé bằng hạt gạo, dùng để đo áp huyết trong tâm nhĩ trái. Dụng cụ mới sẽ chạy bằng sóng vô tuyến thay cho pin và được thiết kế dành riêng cho bệnh nhân suy tim gây xung huyết.
    Suy tim gây xung huyết là hiện tượng tích tụ dịch trong cơ quan nội tạng và các chi, do tim không thể bơm đủ máu đi khắp cơ thể. Trước đây, bệnh thường được điều trị bằng thuốc nhằm bình ổn huyết áp trong tâm nhĩ trái, hoặc phẫu thuật đưa ống thông đường tiểu vào tim qua một động mạch ở tay hoặc chân. Ở một số bệnh nhân, những ca phẫu thuật tốn kém và bất tiện kiểu này đôi khi phải được tiến hành 3 lần/năm.
    Giờ đây, người ta chỉ phải trải qua duy nhất một ca phẫu thuật đơn giản, đưa một thiết bị cảm ứng vào tâm nhĩ trái để đo huyết áp. Thiết bị chỉ bé bằng hạt gạo và là một trong những dụng cụ y tế tiên tiến nhất không chạy bằng pin. Một thiết bị thu phát sóng vô tuyến được đặt gần cơ thể người bệnh sẽ cung cấp năng lượng và theo dõi hoạt động của bộ cảm ứng.
    Ông Nader Najafi, Giám đốc Công ty Hệ thống cảm ứng tích hợp (ISSYS), Michigan (Mỹ) - nơi phát triển thiết bị, cho biết các thử nghiệm trên chó đã cho kết quả rất khả quan, "thiết bị hoạt động cực kỳ chính xác và nhanh chóng".
    Bộ cảm ứng trên đã khắc phục được một trở ngại lớn trong cấy ghép thiết bị vào cơ thể, đó là sự cản trở của các tế bào hoặc protein bám dính quanh thiết bị. Khi bị các lớp tế bào chất bao phủ, bộ cảm ứng vẫn có thể đo huyết áp một cách chính xác thông qua khả năng uốn dẻo của một lớp màng. Tuy nhiên, nhược điểm của thiết bị mới là không thể giám sát tim một cách thường xuyên do không chạy bằng pin. Ngoài ra, nó có thể bị bong và cuốn trôi đến não, gây tắc nghẽn và dẫn đến chứng đột quỵ.
    -»(¯`»(¯`?´¯)«´¯)«-Có ai từng yêu mà chưa đau đớn một lần--»(¯`»(¯`?´¯)«´¯)«-(-¸,+°´°+,¸.·´¯`·.¸(^ o ^)¸.·´¯`·.,+°´°+,¸Có ai từng yêu mà chưa từng khóc  ¸,+°´°+,¸.·´¯`·.¸(^ o ^)¸.·´¯`·,+°´°+,¸-)
  4. bagai

    bagai Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    24/01/2002
    Bài viết:
    1.647
    Đã được thích:
    0
    Bệnh béo phì làm giảm chất lượng sống
    Theo Tổ chức Y tế Thế giới, béo phì (BP) là tình trạng thừa mô mỡ, không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà còn là một nguy cơ lớn cho sức khỏe. Một số nghiên cứu của các bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng gần đây cho thấy, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam từ 15 đến 49 tuổi bị BP khoảng 10,7%. Theo một nghiên cứu khác trong cán bộ viên chức ở Hà Nội thì có 17% thừa cân và BP, trong đó nam chiếm 17,4%; nữ:10,2%. Nghiên cứu trong đối tượng nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế Q1-TPHCM- cho thấy, có tới 20,7% thừa cân.
    Các chuyên gia cho rằng, khẩu phần ăn hàng ngày của người VN tuy thường ít chất béo nhưng lại nhiều chất bột đường. Ngoài thói quen ăn vặt, ăn xen, ăn đêm, nếu thường xuyên dùng các loại nước giải khát có ga, bia rượu cũng dễ bị BP. Việc ít vận động cũng dẫn tới thừa năng lượng.
    Dư cân và BP là nguy cơ lớn dẫn đến nhiều căn bệnh. Ở người BP, thường lượng mỡ trong máu tăng cao. Chúng không chỉ chuyển thành mỡ tích dưới da mà còn xâm nhập vào thành mạch máu khiến tính co dãn của mạch máu bị yếu đi, dẫn đến xơ cứng động mạch, làm huyết dịch tuần hoàn không thông suốt. Lượng mỡ trong máu cao còn gây chứng tim đau thắt và tắc nghẽn cơ tim hoặc gây hàng loạt bệnh khác như tiểu đường, cao huyết áp, gan nhiễm mỡ, xơ gan, sỏi thận, sỏi mật, suy nhược thần kinh, viêm khớp mạn tính hay chứng ngưng thở khi ngủ khá nguy hiểm. Khoảng 90% các trường hợp tiểu đường type 2 ở phụ nữ là do BP.
    Thừa cân và BP được các chuyên gia y tế xem là một căn bệnh mạn tính vì vậy cần có một chương trình điều trị thích hợp để có thể giảm cân và duy trì kết quả. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, biện pháp hàng đầu là thay đổi thói quen ăn uống phối hợp với tăng vận động. Không nên thay đổi chế độ ăn uống một cách đột ngột hay bất thường, hoặc ăn kiêng quá đáng mà chỉ cần giảm ăn quà vặt, bỏ dần các lần ăn đêm, giảm ăn bột đường và chất béo, tăng cường ăn rau và chỉ ăn vừa đủ. Song song đó, tăng cường hoạt động và chơi thể thao một cách từ từ vừa sức và tăng dần cường độ vận động. Có thể khởi đầu bằng việc đi bộ mỗi ngày 30 phút, sau đó tăng dần thời lượng, hoặc vận động bất cứ lúc nào có thể. Hiện nay, cũng có một số loạïi thuốc hỗ trợ việc giảm cân, nhưng phải có chỉ định và sự theo dõi của bác sĩ.
    QUỐC VĂN

    You make my life complete ...
  5. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Cách chữa bong gân

    Cây ngải cứu.
    Bong gân là trạng thái tổn thương ở dây chằng khớp, xảy ra do sự cử động quá mức, làm khớp xê dịch đột ngột trong khoảnh khắc rồi trở về vị trí. Bệnh nhân không bị sai khớp hay gãy xương. Tổn thương thường xảy ra khi đi giày cao gót bị lật giày, hoặc ngã do chạy nhảy.
    Khi bị bong gân, bệnh nhân cảm thấy đau nhói như điện giật ở vùng khớp bị trẹo, sau đó, khớp tê dại không còn biết đau nữa. Khoảng 1 giờ sau, cảm giác đau nhức dần dần trở lại. Nếu nhẹ nhàng lật khớp lại giống như lúc bị chấn thương, người bệnh sẽ thấy đau nhói như điện giật. Bong gân thường chia ra 3 độ:
    - Độ 1: Dây chằng chỉ bị giãn dài một ít, được coi là nhẹ.
    - Độ 2: Dây chằng bị rách một phần, dấu hiệu nặng.
    - Độ 3: Dây chằng bị đứt hoàn toàn, dấu hiệu rất nặng.
    Cách xử lý: Đắp nước đá hoặc nước lạnh ngay sau khi bị chấn thương nếu không có xây xát da. Để khớp bị bong gân nằm yên, kê càng cao càng tốt. Nếu bong gân độ 1, chỉ cần làm cho hết đau và cho khớp nghỉ ngơi vài ngày là đủ. Nếu bong gân độ 2-3, cần làm cho hết đau, đồng thời giúp dây chằng bị đứt hoặc rách liền lại, nếu không sẽ mang tật suốt đời.
    Thuốc dùng:
    - Lá ngải cứu khô 40 g (hoặc tươi 100 g), tẩm rượu hoặc giấm thanh, bó vào nơi tổn thương; hoặc đem xào cho nóng lên để còn hơi âm ấm, bó vào nơi tổn thương. Ngày 1 lần.
    - Lá tầm gửi 100 g, lá gấc 30 g, gạch non một ít, giã nát, trộn chung, đắp vào vùng tổn thương. Ngày thay một lần.
  6. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Bệnh đau thần kinh tọa
    Căn bệnh này còn được gọi là đau dây thần kinh hông to. Các biểu hiện điển hình là đau cột sống, đau lan xuống mông, mặt sau đùi, tới bắp chân, cổ chân và thậm chí tới gan bàn chân.
    Khoảng 80% trường hợp đau thần kinh tọa là do căn nguyên đĩa đệm cột sống; số còn lại do các bệnh như gai đôi cột sống, trật đốt sống, lao cột sống, u rễ thần kinh, u xương cột sống hoặc chấn thương. Bệnh đau thần kinh tọa chủ yếu được điều trị bằng nội khoa. Những trường hợp không có kết quả mới phải can thiệp bằng phẫu thuật.
    Đau thần kinh toạ do căn nguyên đĩa đệm
    Về chức năng, đĩa đệm được coi như chiếc "lò xo sinh học", làm giảm bớt các lực chấn thương (sinh ra khi đi bộ, chạy, nhảy, mang vác nặng) tác động lên đốt sống. Nhờ vậy, chúng bảo vệ được tủy sống. Ở những người thoát vị đĩa đệm, chức năng "giảm xóc" mất, vận động của cột sống sẽ hạn chế, mất hoặc giảm khả năng mang, vác.
    Đĩa đệm bắt đầu thoái hóa ở tuổi 20-25. Chấn thương cột sống, công việc nặng nhọc, tư thế không đúng... là yếu tố thúc đẩy quá trình này. Khi đĩa đệm thoái hóa, nhân nhầy mất nước, khô lại. Tính đàn hồi và khả năng căng phồng của nhân nhầy mất đi, nó dễ vỡ thành mảnh nhỏ. Các mảnh vỡ sẽ thúc ép làm rách vòng sợi của đĩa đệm, làm suy yếu dây chằng dọc sau, lồi vào trong ống sống và chèn ép vào rễ thần kinh.
    Triệu chứng của bệnh:
    - Lúc đầu, bệnh nhân đau mỏi cột sống, sau một thời gian đau lan xuống mông và bắp chân. Đau tăng lên khi ho, hắt hơi.
    - Cột sống bị lệch vẹo sang bên (do tư thế chống đau).
    - Đi lại đau và có dấu hiệu đi cách hồi (đi được vài trăm mét phải nghỉ một lát vì đau, đoạn đường của lần đi sau sẽ ngắn hơn so với lần đi trước).
    - Giảm cảm giác đau và tê bì mé ngoài cẳng chân hoặc mé ngoài mu bàn chân, khe giữa ngón cái và ngón thứ hai.
    - Yếu sức cơ ngón chân cái, yếu động tác gấp bàn chân về phía mu chân, thậm chí liệt một vài nhóm cơ cẳng chân; khi đi bộ bằng dép không có quai hậu thì hay bị tuột.
    - Cơ mông, cơ cẳng chân bị teo.
    - Cảm giác chân lạnh, có khi phù nhẹ, ra mồ hôi lòng bàn chân.
    - Đôi khi nằm ngửa không duỗi được thẳng 2 chân, phải co chân đau.
    Ngoài các triệu chứng lâm sàng nói trên, để chẩn đoán quyết định, người bệnh cần phải được chụp cắt lớp vi tính cột sống; chụp bao rễ cản quang hoặc chụp cộng hưởng từ.
    Về cơ bản, bệnh đau thần kinh tọa do căn nguyên đĩa đệm được điều trị nội khoa, gồm các biện pháp như: nghỉ ngơi, kéo giãn cột sống; vật lý trị liệu (chiếu đèn hồng ngoại; đắp paraphin; sóng ngắn; điện phân; xoa bóp...). Nếu bệnh nhân không bị viêm loét dạ dày - tá tràng, có thể dùng các thuốc giảm đau chống viêm như voltaren, diclofenac, profenide hoặc tilcotil, uống hoặc tiêm. Nên hạn chế dùng giảm đau chống viêm loại steroide như prednisolone, dexamethasone hoặc solu-Medrol vì có nhiều tác dụng phụ đối với gan, thận, dạ dày và gây loãng xương.
    Khi nhân nhầy mới chỉ lồi vào ống sống, có thể dùng phương pháp giảm sáp đĩa đệm bằng tia laser qua da. Nếu nguyên nhân chèn ép rễ thần kinh không chỉ do nhân nhầy đĩa đệm mà còn do gai xương, dày dây chằng vàng... thì ít có hiệu quả.
    Về ngoại khoa, có thể mổ đĩa đệm bằng đường vào phía sau cột sống. Chỉ khoảng 20-30% bệnh nhân đau thần kinh tọa do căn nguyên đĩa đệm được phẫu thuật, đó là những trường hợp sau:
    - Thoát vị địa đệm cấp tính sau chấn thương.
    - Thoát vị đĩa đệm gây hội chứng đuôi ngựa (biểu hiện liệt chân, bí tiểu hoặc đái rỉ, mất cảm giác đau xung quanh hậu môn và bộ phận sinh dục).
    - Thoát vị đĩa đệm gây liệt chân (liệt hoàn toàn hoặc liệt một vài nhóm cơ).
    - Đau quá mức, các thuốc giảm đau không hoặc rất ít tác dụng.
    - Các biện pháp điều trị nội khoa không có kết quả, hết thuốc lại đau như cũ.
    - Có biến chứng viêm loét dạ dày do dùng thuốc giảm đau.
  7. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Bất ngờ về tuổi thọ của virus gây bệnh hô hấp

    Trẻ nhỏ là đối tượng tấn công ưa thích của RSV.
    Virus hợp bào hô hấp (RSV) là thủ phạm chính gây viêm phổi và tiểu phế quản ở trẻ nhỏ. Với khả năng ẩn trốn tài tình, nó có thể sống trong cơ thể tới vài năm, thay vì vài ngày như giới chuyên môn vẫn nghĩ.
    Phần lớn trẻ em đều nhiễm RSV trong năm đầu đời. Ở một số em, loại siêu vi trùng này có thể gây viêm phổi, thở khò khè và rất dễ bị hen suyễn.
    Mức độ nguy hiểm của RSV không dừng lại ở đó - một nhóm nghiên cứu đến từ Trường Imperial London (Anh) và Đại học Ruhr Bochum (Đức) nhận định - nó có khả năng "tàng hình" một thời gian dài trong cơ thể và chờ cơ hội tấn công trở lại.
    Nhóm đã cho một số con chuột lây nhiễm RSV, rồi tìm kiếm tác nhân gây bệnh 14 ngày sau đó. Kết quả là các mẫu bệnh phẩm lấy từ đường hô hấp của chuột hoàn toàn sạch bóng virus. Sự "mất tích" này khiến cho không ít người tưởng rằng những con chuột trên đã khỏi bệnh, và RSV không thể sống lâu hơn trong cơ thể.
    Tuy nhiên, giáo sư Peter Openshaw tham gia nghiên cứu tiết lộ, sự thật là các chất liệu gene của virus vẫn tồn tại trong mô phổi hơn 100 ngày sau đó. RSV thực chất là loại virus có đặc tính "tấn công và ẩn trốn", giống như virus HIV và một số siêu vi trùng gây viêm gan. Chúng có tài ẩn mình rất khéo trong các mô, tạm thời ngủ yên một thời gian dài trước khi có được cơ hội tấn công mới.
    Theo giới chuyên môn, nghiên cứu đã giúp con người phát giác ra rằng không thể coi thường khả năng của RSV. Cho dù một số triệu chứng bệnh dường như biến mất nhưng hung thủ vẫn nằm đó - nhẫn nại và nguy hiểm. Điều này giải thích vì sao số người nhiễm bệnh hằng năm không ngừng tăng lên một cách bí ẩn.
  8. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Chữa nhọt, đằng đằng, đinh râu

    Lá dâu có thể dùng để chữa nhọt.
    Nhọt là tổn thương do viêm nang lông toàn bộ gây ra bởi tụ cầu vàng; nang lông hoại tử tạo thành ngòi. Nhọt ở ống tai ngoài được gọi là đằng đằng; nhọt ở cằm mép được gọi là đinh râu.
    Biểu hiện lâm sàng của nhọt là khối viêm đỏ, sưng tấy, đường kính một vài mm, gồ cao, gây đau; số lượng từ một vài cái đến 5-10 cái.
    Nhọt tiến triển qua 3 giai đoạn (8-10 ngày):
    - Giai đoạn sưng đỏ, viêm tấy, đau.
    - Giai đoạn thành ngòi, hóa mủ.
    - Giai đoạn thoát mủ, thoát ngòi, lành sẹo.
    Ở người bị suy giảm miễn dịch, mắc bệnh lao, tiểu đường, nhọt thường mọc thành cụm đứng gần nhau, gọi là nhọt bầy.
    Cũng có những đặc điểm lâm sàng như nhọt thường nhưng đằng đằng gây đau đớn mạnh, còn đinh râu có thể gây nhiễm khuẩn huyết, rất nguy hiểm.
    Về điều trị; trong giai đoạn sưng đỏ, viêm tấy, đau (nhọt còn non), bệnh nhân không nên chích nặn. Nên bôi cồn iod 5% hoặc cồn Ichthyol cho tan nhọt. Uống hoặc tiêm kháng sinh một đợt. Ở giai đoạn hóa mủ, tạo ngòi, cần đợi cho thành ngòi hoàn toàn mới chích nhọt, giúp nhọt mau lành và tránh sẹo xấu. Thay băng hằng ngày và cho uống hoặc tiêm kháng sinh. Với đinh râu, cho kháng sinh liều cao và phối hợp một số loại kháng sinh. Tuyệt đối không chích nặn, chỉ bôi cồn iod 3-5%. Với nhọt bầy, cho dùng kháng sinh từng đợt, kết hợp nâng cao thể trạng, chữa bệnh kết hợp.
    Có thể dùng các bài thuốc Nam sau để chữa nhọt:
    - Củ ráy tươi 80-100 g, củ nghệ 60 g. Củ ráy và nghệ rửa sạch, gọt vỏ, giã nát, cho dầu vừng vào nấu nhừ, thêm dầu thông và sáp ong, khuấy tan, để nguội, phết lên giấy, dán vào chỗ mụn nhọt.
    - Lá mã đề 1 nắm, lá dâu 1 nắm. Hai thứ rửa sạch, giã nát với ít muối, đắp vào chỗ mụn nhọt, ngày 1 lần.
  9. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Đạo dẫn - một phương pháp dưỡng sinh trường thọ

    Một đạo sĩ đang luyện dưỡng sinh trường thọ.
    Các đạo sĩ thời xưa thường dùng phép này để giúp cơ thể cường tráng, tinh thần minh mẫn, tránh được tật bệnh, kéo dài tuổi thọ. Đạo dẫn gồm 12 động tác kích thích lục phủ ngũ tạng, các huyệt, tuyến, cơ và khớp chủ yếu.
    Phương pháp tập luyện khá đơn giản, ít động tác, có thể thực hiện trước khi đi ngủ và lúc ngủ dậy, thích hợp cả với người cao tuổi, người vướng bận nhiều công việc. Sau đây là hướng dẫn cụ thể:
    1. Hai hàm răng đập vào nhau 36 lượt: Hai hàm răng cắn đập vào nhau theo một nhịp điệu nhất định sẽ giúp cân bằng âm dương, lưu thông khí huyết, thông thoáng kinh lạc, bảo vệ hàm răng vững chắc, củng cố các cơ hàm, hạn chế hiện tượng móm, kích thích bài tiết nước bọt, tăng cường khả năng tiêu hóa thức ăn và chống vi khuẩn làm hại răng.
    2. Lấy đầu lưỡi liếm lên hàm ếch cho nước bọt tiết ra đầy miệng, rồi chia nuốt dần làm 36 lần. Khi làm phải mím miệng, mím môi lại.
    Nước bọt từ miệng tiết ra, qua họng sẽ dẫn tới gan, thận, tập trung ở vùng rốn, chuyển hóa thành tinh khí, có tác dụng tốt cho dạ dày, lách, thận... (ngũ tạng). Nước bọt còn có tác dụng cầm máu, tiêu độc và phòng chống mụn nhọt.
    Ngày nay, người ta đã phát hiện trong nước bọt có nhiều yếu tố hữu ích cho cơ thể như chất đạm, các enzym tiêu hóa, sinh tố, các yếu tố vi lượng, yếu tố diệt khuẩn và cả Lysozyme, Ribonuclease...
    3. Lấy hai bàn tay xát vào nhau cho nóng rồi ấp lên mặt xát như rửa mặt. Khi làm phải nín thở, mím miệng và xát thật nhiều lần.
    Khuôn mặt có thể xem như một cơ thể con người thu nhỏ (cũng như tai và chân), có liên quan mật thiết tới toàn bộ cơ thể. Việc kích thích các huyệt và kinh lạc ở mặt sẽ giúp khí huyết lưu thông, đầu óc minh mẫn, sáng tai, sáng mắt, da mặt hồng hào, hết mệt mỏi, buồn ngủ, rầu rĩ, điều hòa não bộ, an thần kinh, tăng cường trí nhớ, giảm quá trình lão hóa. Nó còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng.
    4. Hai bàn tay che bịt tai, rồi dùng ngón trỏ đè lên ngón giữa, đập vào xương não hậu (xương chẩm), hai bên phải trái 24 lần.
    Tai có 40 huyệt kinh lạc liên quan mật thiết tới lục phủ, ngũ tạng và 12 hệ thống kinh mạch trong cơ thể, nhất là thận. Gáy có huyệt phong trì, á môn, y minh. Hai bên thái dương có huyệt thái dương. Kích thích các huyệt này sẽ giúp khí huyết lưu thông, điều hòa thần kinh, điều hòa lục phủ ngũ tạng, cân bằng âm dương.
    5. Vặn chuyển vai 14 lần: Giúp phát triển các cơ bắp ở lưng, thân, vai, ngực, tay, vận chuyển những đốt xương của cột sống và các khớp vai. Động tác này cũng giúp giãn nở ***g ngực, cải thiện hô hấp, điều hòa lưu thông khí huyết để nuôi dưỡng lục phủ ngũ tạng và não bộ; làm cho da dẻ hồng hào, tâm trí minh mẫn, cơ thể khang kiện.
    6. Nín hơi, tay trái duỗi thẳng, tay phải làm như kéo dây cung ngang tầm vai. Hai mắt nhìn vào tay phải. Sau đó đổi bên. Cả hai tay trái phải đều làm 3 lượt. Trong quá trình tập phải nín thở, tập trung sức kéo từ từ, mắt tập trung nhìn vào tay. Động tác này giúp tập trung khí lực và tư tưởng, hợp nhất được sức mạnh vật chất và tinh thần để tạo thành một lực tổng hợp.
    7. Nắm hai tay lại, mũi hít không khí, vận xuống đan điền (dưới rốn), rồi giơ tay lên trời, xong hạ tay xuống, để lên đầu gối. Động tác này sẽ làm nở ***g ngực, tăng lượng dưỡng khí hít vào, cải thiện hô hấp. Vùng bụng là vùng của lục phủ, ngũ tạng, nơi phát nguồn khí huyết, âm dương. Tập trung vận dưỡng khí xuống đan điền sẽ giúp củng cố lục phủ ngũ tạng, làm các cơ quan này hoạt động mạnh mẽ hơn.
    8. Tay trái đỡ thận nang (vùng thận sau lưng), tay phải xát đan điền 16 lượt. Động tác này giúp tăng tuần hoàn máu, lưu thông khí huyết, dưỡng thần kinh, làm tăng nhu động ruột, dạ dày, chống táo bón, đầy hơi, béo phì. Thận có liên quan tới tinh tủy, não bộ, xương cốt. Người cao tuổi thận hư nhược nên hay đau lưng, mỏi gối, xương giòn. Việc nâng đỡ thận, xát đan điền sẽ làm tăng tinh tủy, mạnh xương cốt, điều hòa não bộ, an tâm thần.
    9. Lấy hai tay vặn cho nóng, rồi đưa tay ra sau lưng xát mạnh môn (xương sống vùng thận) trái phải mỗi bên 16 lượt, chú ý nín thở khi thực hiện. Mạnh môn là bể của tinh và huyết, là gốc của các tạng phủ. Khí âm và dương của 5 tạng sẽ không phát sinh được khi mạnh môn suy yếu.
    10. Ngồi xếp bằng, để chân trái lên đùi phải. Tay trái nắm chặt ống chân trái, tay phải xát gan bàn chân 36 lượt. Chuyển sang chân phải cũng xát 36 lượt.
    Sáu mươi huyệt ở chân có liên quan mật thiết tới 12 kinh lạc của lục phủ ngũ tạng, trong đó có huyệt dũng tuyền ở chỗ lõm của gan bàn chân. Xoa chân có tác dụng cân bằng âm dương, bài tiết độc tố, tăng thân nhiệt, tăng tuần hoàn máu các chi dưới, lợi gan, tinh mắt, hạ huyết áp, nhuận tràng, thông tiểu, giúp ngủ say, giảm mệt mỏi, tăng khả năng sinh lý (nói chung là chữacác chứng suy nhược của tuổi già).
    11. Xát huyệt giáp tích ở dưới đốt cuối xương sống, phía trên hậu môn, giúp tăng tuần hoàn máu vùng hậu môn, phòng được bệnh trĩ, viêm ruột mãn tính, táo bón, phục hồi nhanh chóng cơ năng của hậu môn sau khi đại tiện.
    12. Chân trái đứng vững, rồi giơ chân phải 7 lần. Xong thay chân kia, cũng tiến hành như vậy. Động tác này làm bền chắc cơ bắp chi dưới cũng như các khớp vận động, có tác dụng tốt đến hệ thống thăng bằng của cơ thể
  10. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Dùng thuốc điều trị bệnh động kinh
    Nên cân nhắc khi quyết định dùng thuốc chống động kinh vì thuốc chỉ chữa triệu chứng, không ảnh hưởng quyết định tới tiến triển của bệnh. Khi đã dùng thuốc, phải dùng hằng ngày và lâu dài, đủ liều lượng được chỉ định. Nếu không, bệnh nhân có thể gặp tai biến và biến chứng.
    Có ba loại thuốc chống động kinh:
    - Loại có tác dụng với mọi thể động kinh (bao gồm các cơn vắng ý thức điển hình) như: benzodiazepin, acid valproic...
    - Loại có tác dụng với mọi cơn động kinh (trừ các cơn vắng ý thức điển hình), thường dùng là phenobarbital, diphenylhydantoin...
    - Loại chỉ có tác dụng với một vài thể loại động kinh như Suxinimid, oxazolidin, sultiam.
    Trên nguyên tắc, phải điều trị mọi trường hợp mắc động kinh bằng thuốc vì:
    - Việc dùng thuốc chống động kinh mang lại hiệu quả chắc chắn (hơn 70% trường hợp khỏi cơn lâu dài).
    - Thuốc chống động kinh là phương thức duy nhất để bảo vệ bệnh nhân khỏi có cơn động kinh.
    - Ở trẻ nhũ nhi, điều trị chống động kinh nhiều khi là một yêu cầu cấp cứu, dự phòng các nguy cơ di chứng do động kinh gây ra.
    Vịêc điều trị động kinh cần tuân theo một số nguyên tắc:
    - Thầy thuốc điều trị sau khi chẩn đoán sẽ chọn lựa loại thuốc chống động kinh thích hợp cho tình trạng bệnh lý của bệnh nhân.
    - Liều lượng thuốc chỉ định phải căn cứ vào thể bệnh, loại cơn lâm sàng, thể trạng bệnh nhân. Phần lớn chỉ dùng một loại thuốc nhất định với điều kiện đạt được nồng độ có hiệu quả lâm sàng. Thuốc dùng uống là chủ yếu.
    - Thuốc điều trị phải được dùng hằng ngày, đúng và đủ liều quy định, bệnh nhân không được tự ý tăng, giảm hoặc ngừng thuốc đột ngột.
    - Theo dõi diễn biến lâm sàng của bệnh và các biểu hiện thứ phát của thuốc để kịp thời thông báo cho thầy thuốc điều trị biết nhằm điều chỉnh liều lượng.
    - Không được kết hợp hai thứ thuốc cùng loại với nhau. Ví dụ: phenobarbital với primidon, seduxen với mogadon...
    - Có kế hoạch kiểm tra máu, các chức năng gan, thận của bệnh nhân.
    - Tùy theo từng trường hợp, ngoài thuốc, bệnh nhân cần có chế độ ăn uống, sinh hoạt, lao động nghỉ ngơi, giải trí thích hợp.
    Động kinh là một trạng thái bệnh lý kéo dài và có thể mạn tính nên phải điều trị lâu dài và kiên trì. Trong một số trường hợp, hoàn cảnh cho phép đặt vấn đề ngừng điều trị động kinh. Ví dụ:
    - Chưa có chẩn đoán chắc chắn là động kinh thì có thể cẩn thận giảm dần liều rồi đi đến cắt bỏ thuốc chống động kinh, đồng thời cảnh giác với cơn động kinh.
    - Có cơn kịch phát ở vùng đỉnh, động kinh cơn nhỏ ở trẻ em.
    - Động kinh toàn bộ nguyên phát dạng cơn lớn ở trẻ em (chỉ xảy ra 2-3 lần một năm).
    - Động kinh toàn bộ nguyên phát dạng cơn lớn ở tuổi thiếu niên, động kinh sau chấn thương không tiến triển và không nặng lắm...
    Việc ngừng điều trị này phải do thầy thuốc chuyên khoa cân nhắc và quyết định. Nói chung, sau 3-4 năm điều trị đều đặn mà không thấy cơn động kinh tái phát thì có thể ngừng thuốc với các thể nói trên. Tiến hành ngừng điều trị bằng cách giảm dần liều trong thời gian kéo dài hàng tháng, mặt khác tiếp tục theo dõi điện não đồ và nội khoa nói chung.

Chia sẻ trang này