1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Những kiến thức cơ bản về Y Học.

Chủ đề trong 'Sức khoẻ - Y tế' bởi Milou, 20/07/2002.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Mỡ thừa trong cơ thể dễ gây ra chứng tiền kinh giật

    Thai phụ cần có chế độ ăn uống hợp lý để tránh bị tiền kinh giật.
    Tiền kinh giật là chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ mang thai vào giai đoạn cuối, trong đó có triệu chứng tăng huyết áp đột ngột gây nguy hiểm cho cả mẹ và con. Nguyên nhân của hiện tượng này có thể do một số hóa chất đặc biệt do mô mỡ tiết ra.
    Khi theo dõi hơn 1.000 thai phụ, các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Phụ nữ Magee, Pittsburgh (Anh), nhận thấy có mối quan hệ trực tiếp giữa chỉ số cân nặng của phụ nữ trước khi mang thai và nguy cơ phát triển chứng tiền kinh giật. Khoảng 6% số đối tượng nghiên cứu đã mắc bệnh. Trong đó, so với người có số cân đạt tiêu chuẩn, nguy cơ tiền kinh giật ở những người bị bệnh béo phì trước khi mang thai cao hơn gấp 3 lần, và những người bị thừa cân là 2 lần. Tỷ lệ này ở những phụ nữ thiếu cân chỉ là 1/2.
    Theo các chuyên gia, nguy cơ phát triển chứng tiền kinh giật tăng đều trong suốt quá trình mang thai, song yếu tố quyết định mức độ nguy hiểm lại phụ thuộc vào lượng mỡ tích tụ trước đó. Các hoá chất do mô mỡ sinh ra có thể là thủ phạm của hiện tượng này. Nghiên cứu đã cho thấy tầm quan trọng của việc giữ gìn mức tăng cân hợp lý trong suốt quá trình mang thai, thông qua một chế độ dinh dưỡng hợp lý cùng sự giám sát huyết áp và nước tiểu thường xuyên. Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu sẽ tìm cách nhận diện các hóa chất từ mô mỡ và cách thức gây bệnh của chúng.
  2. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Chữa bệnh về máu bằng bài thuốc Tứ vật thang

    Vị thuốc thục địa
    Bài thuốc này dành cho người bị huyết hư gây thiếu máu, mắt vàng hoặc bớt đen, hâm hấp sốt, lòng bàn chân nóng, da xanh, gầy yếu; mặt nổi trứng cá, ngứa ngáy. Nó cũng có tác dụng đối với các vấn đề về kinh nguyệt, lao tâm, suy nghĩ hại đến nhan sắc.
    Bài Tứ vật thang gồm 4 vị: xuyên khung (8 g) và đương quy (12 g) có tính động là dương; thục địa (12 g) và bạch thược (8 g) có tính tĩnh là âm. Âm - dương phụ trợ, bổ túc cho nhau. Tùy theo bệnh, có thể gia giảm cho thích hợp. Theo Hải Thượng Lãn Ông, nên gia giảm như sau:
    - Máu nóng ở gan (mặt nổi mụn): Thêm vị điều cầm (thứ hoàng cầm thật nhỏ) 6 g.
    - Người gầy có đờm: Thêm chi tử, tri mẫu, hoàng bá (tất cả đều sao đen) 4 g.
    - Người béo có đờm: Thêm nam tinh, bán hạ mỗi thứ 6 g.
    - Huyết ứ: Thêm hồng hoa, đào nhân mỗi thứ 4 g.
    - Phiền táo khó ngủ, khát nước, phát sốt: Thêm chi tử, hoàng liên mỗi thứ 4 g, tăng vị bạch thược lên, bỏ xuyên khung.
    - Kinh nguyệt bế đã lâu: Thêm quế tốt, cam thảo, hoàng kỳ, khương hoạt, hồng hoa, mộc thông mỗi thứ 4 g.
    - Kinh nguyệt ra rỉ rả nhiều tháng: Thêm hoàng kỳ 8 g, a giao, tục đoạn, bách diệp đều sao đen mỗi thứ 4 g.
    - Trừ huyết cũ, sinh huyết mới: Thêm cam thảo rồi tán nhỏ hoàn viên với mật mà chiêu bằng giấm thanh.
    Cách chế: Xuyên khung, đương quy, bạch thược, cam thảo phơi khô, tán mịn. Thục địa tẩm rượu, giã nát, chưng mật ong vừa chín tới. Trộn các vị, viên bằng ngón cái, ngày dùng 3-4 lần, mỗi lần 2 viên.
    Theo kinh nghiệm của nhiều lương y, ngoài làm viên, có thể dùng các vị trên sắc uống. Dùng lâu chân huyết sẽ đầy đủ, da dẻ tươi mát, ngăn ngừa được nhiều bệnh. Nếu có điều kiện, nên kết hợp với một số phương pháp khác để thêm phần hữu hiệu như: bơi lội, tập thể dục.
  3. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Bệnh máu khó đông ở trẻ

    Bệnh Hemophilie A thường gặp ở bé trai.
    Nếu trẻ khó cầm máu khi bị đứt tay hoặc có vết tím bầm kéo dài sau mỗi lần ngã nhẹ, hãy nghĩ đến bệnh máu khó đông (Hemophilie A). Đây là hiện tượng rối loạn quá trình đông máu có tính di truyền, thường gặp ở bé trai từ 3 tuổi trở lên.
    Do rối loạn đông máu nội sinh, trẻ xuất hiện tình trạng ưa chảy máu. Mỗi yếu tố gây đông máu khác nhau sẽ sinh ra các thể bệnh khác nhau như Hemophilie A, B, C.
    Bệnh Hemophilie A là thể hay gặp nhất (khoảng 80%), do thiếu yếu tố VIII gây nên. Cấu trúc của yếu tố VIII gồm hai phần khác nhau về chức năng sinh hóa và di truyền:
    - Yếu tố VIIIag quan trọng cho việc cầm máu đầu tiên, có nhiệm vụ phối hợp với tiểu cầu và tổ chức dưới nội mạc tạo thành yếu tố kết dính - nếu không có sự kết dính này thì thời gian chảy máu sẽ kéo dài.
    - Yếu tố VIIIc đại diện cho tính chất đông máu, giảm nhiều trong bệnh Hemophilie A và quyết định mức độ xuất huyết. VIIIc được sản xuất từ một gene của nhiễm sắc thể giới tính nữ (X) và giữ vai trò truyền bệnh. Yếu tố VIIIc giảm rất nhiều ở nam giới nên các bé trai mắc bệnh Hemophilie A nhiều hơn.
    Vì yếu tố VIII của mẹ không qua được rau thai nên bệnh nhi có thể mắc bệnh sớm trong thời kỳ sơ sinh với biểu hiện: chảy máu rốn, vết bầm ở da, xuất huyết não - màng não, chảy máu kéo dài tại các vết tiêm... Tuy nhiên, thông thường bệnh xuất hiện khi trẻ ngoài 2 tuổi với tính chất xuất huyết rất đặc hiệu xảy ra sau sang chấn như chích, đứt tay, nhổ răng, xoa bóp, té ngã, phẫu thuật... và cũng có thể xuất huyết tự nhiên. Khớp gối là nơi dễ bị xuất huyết nhất sau sang chấn, có thể gây tràn dịch khớp gối, dính khớp, phản ứng màng xương...
    Nếu bệnh nhi không được điều trị kịp thời thì rất dễ tử vong. Việc điều trị chủ yếu dựa vào phương pháp truyền máu và huyết tương để bù đắp sự thiếu hụt yếu tố VIII. Tuyệt đối không dùng thuốc Aspirin để giảm đau vì dược liệu này sẽ làm nặng thêm tình trạng xuất huyết. Một điều cần lưu ý là vì phải truyền máu và huyết tương nhiều lần, nên bệnh nhi dễ mắc bệnh tan huyết cấp do bất đồng nhóm máu, nhiễm ký sinh trùng sốt rét, viêm gan B... Vì vậy, cần theo dõi trẻ sát sao để phòng ngừa các chứng bệnh này.
  4. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Trị chứng sốt cao co giật ở trẻ em

    Chanh được dùng như một vị thuốc hạ sốt.
    Có nhiều nguyên nhân khiến trẻ sốt cao. Dù với nguyên nhân nào, cách xử trí cũng là hạ nhiệt, an thần, sau đó đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để được hỗ trợ. Không nên để tình trạng sốt cao kéo dài để tránh co giật cho trẻ.
    Ở gia đình, có thể sử dụng các bài thuốc sau đây:
    - Bạc hà, rau má, câu đằng, cát căn, hoa kinh giới mỗi thứ 8 g, xác ve sầu 4 g, xương bồ 4 g, bán hạ sao vàng 6 g, cam thảo dây 12 g.
    Cho 400 ml nước (2 bát), sắc còn 200 ml, mỗi lần uống 20 ml, cách 30 phút uống một lần đến khi hết co giật.
    - Lá nhài tươi 30 g, lá diếp cá tươi 30 g, ngọn rau dừa nước 50 g, rửa sạch, giã kỹ, cho ít nước sôi để nguội trộn đều, lọc nước uống, còn bã đắp 2 gan bàn chân. Uống và đắp 3 lần/ngày.
    - Nước chanh quả nguyên chất 50 ml (5-10 quả chanh), đường trắng cho vào khuấy đều vừa đủ ngọt. Mỗi lần uống 5-10 ml, cứ 20 phút uống một lần. Bã chanh giã kỹ đắp vào thóp và gan bàn chân, một phần bọc vải đánh dọc 2 bên sống lưng.
    - Hoạt thạch 100 g, cam thảo 15 g, thần sa 8 g, 3 vị tán nhỏ, rây mịn, cho vào lọ nút kín, ngày uống 3 lần, mỗi lần 5-10 g hòa với 50 ml nước sôi để nguội, khuấy đều cho uống.
    - Quế chi 10 g, đại hồi 4 g, xương truật 10 g, 3 vị tán nhỏ, trộn đều hòa nửa chén nước lã và nửa chén rượu trộn đều, xoa vào 2 chân trẻ.
  5. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Gan nhiễm mỡ - một yếu tố gây xơ gan

    Siêu âm là một trong những biện pháp phát hiện gan nhiễm mỡ.
    Phần lớn trường hợp gan nhiễm mỡ là hậu quả của lối sống lười vận động, ăn nhiều chất béo và đường, uống nhiều rượu bia. Bệnh thường không có triệu chứng gì nên rất khó phát hiện, nhiều bệnh nhân chỉ đi khám khi đã có biểu hiện xơ gan.
    Gan nhiễm mỡ là tình trạng mỡ tích tụ trong các tế bào gan, làm trọng lượng gan tăng lên khoảng 5%. Ngoài những nguyên nhân đã nêu, các yếu tố như bệnh tiểu đường type 2, tăng mỡ máu, lao, viêm gan C mạn tính, nhiễm chất đồng, dùng liều cao và kéo dài một số thuốc như corticoid, tétracycline, oestrogen, thuốc chữa ung thư... cũng dẫn đến bệnh này.
    Theo bác sĩ Đinh Dạ Lý Hương, giảng viên Đại học Y Dược TP HCM, mỡ đọng lại trong gan có thể do ruột gia tăng hấp thu chất mỡ, nhất là khi ăn quá nhiều chất béo động vật. Một nguyên nhân khác là chất mỡ ở mô mỡ từ nhiều nơi trong cơ thể được huy động bất thường đến gan. Nhiều trường hợp bệnh nhân ăn nhiều đường, khi chuyển đến gan, một phần đường được gan dự trữ dưới dạng glycogen, phần khác được biết đổi thành mỡ. Mỡ đọng trong gan cũng có thể do tăng tổng hợp chất mỡ tại gan hoặc giảm sự chuyển tải chất mỡ ra khỏi gan (vì thiếu một số chất để chuyên chở mỡ).
    Tại khoa Siêu âm Bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh nhân gan nhiễm mỡ chiếm gần 10% tổng số ca bệnh được phát hiện hằng ngày. Tiến sĩ Lê Thành Lý, Trưởng khoa Nội Tiêu hóa - Gan mật Bệnh viện Chợ Rẫy, cho biết, ở những người bị gan nhiễm mỡ do rượu, bệnh sẽ hồi phục nếu bệnh nhân từ bỏ thứ đồ uống này. Những trường hợp gan nhiễm mỡ không kèm viêm gan thường có một giai đoạn lâm sàng lành tính 10-15 năm. Còn ở những người có kèm viêm gan, có đến 25% sẽ tiến triển đến xơ gan trong cùng thời gian đó.
    Bác sĩ Đinh Dạ Lý Hương cho biết, người bị gan nhiễm mỡ hầu như không có triệu chứng gì. Chỉ có một vài bệnh nhân cảm thấy hơi mệt mỏi và suy nhược, hoặc có cảm giác hơi tưng tức ở vùng dưới sườn bên phải. Do vậy, bệnh thường được phát hiện một cách tình cờ sau một xét nghiệm máu thường quy (thấy men gan tăng) hoặc sau khi được siêu âm. Vì vậy, để phát hiện sớm, nên siêu âm tầm soát bệnh 3 tháng/lần.
    Bác sĩ Hoàng Thu Hương, Phó Khoa Siêu âm bệnh viện Chợ Rẫy khuyên rằng, nếu phát hiện bị gan nhiễm mỡ qua siêu âm, bệnh nhân đừng vội lo lắng, bởi siêu âm chỉ có giá trị gợi ý, độ chính xác tùy thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ. Mặc khác, kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh này không thể cho biết mức độ tổn thương của gan khi đã bị nhiễm mỡ. Vì vậy, bệnh nhân nên đến một bác sĩ chuyên khoa gan mật để được làm thêm một số xét nghiệm máu và chẩn đoán xác định.
    Các quan niệm sai lầm thường gặp về gan nhiễm mỡ
    - Gan nhiễm mỡ chỉ xảy ra cho người ăn uống dư thừa, người ăn uống thiếu thốn thì không bao giờ bị: Thực ra, người suy dinh dưỡng lâu ngày cũng có thể bị tích tụ mỡ trong gan do thiếu một số chất cần thiết để đưa bớt mỡ ra khỏi gan.
    - Trẻ em không bao giờ bị gan nhiễm mỡ: Bác sĩ Hương cho biết, bà từng gặp một em bé 8 tuổi, béo phì, bị bệnh này. Gan nhiễm mỡ gắn liền với bệnh béo phì; vì thế, bất kể trẻ em hay người lớn, nếu bị béo phì thì nên nghĩ tới nguy cơ gan nhiễm mỡ.
    - Để tránh gan nhiễm mỡ, chỉ cần kiêng chất béo: Các bác sĩ cho biết cần giảm cả chất đường, vì đường thừa sẽ được chuyển thành mỡ để dự trữ trong gan. Vận động kèm theo dinh dưỡng đúng cách cũng là cách làm giảm nguy cơ mắc bệnh.
    - Cách điều trị gan nhiễm mỡ tốt nhất là dùng thuốc hạ cholesterol: Thực ra, phải giải quyết nguyên nhân gây gan nhiễm mỡ. Đa số bệnh nhân không liên quan đến việc tăng cholesterol mà liên quan đến một thành phần khác của mỡ gọi là triglycerides. Do vậy, các thuốc làm giảm cholesterol máu chẳng những không chữa khỏi bệnh mà còn có nguy cơ làm tăng men gan.
    - Có thể dùng tỏi hoặc một số loại thảo dược làm mát gan để phòng ngừa gan nhiễm mỡ: Khoa học hiện nay chưa chứng minh được công dụng của tỏi cũng như các loại dược thảo khác trong việc phòng ngừa bệnh này.
    - Gan nhiễm mỡ là bệnh lành tính: Trước đây, người ta nghĩ bệnh này vô hại. Điều này chỉ đúng nếu bị gan nhiễm mỡ đơn thuần, nghĩa là tế bào gan không bị viêm và hư hại do chất mỡ. Nếu gan bị viêm do mỡ, 25% bệnh nhân sẽ tiến triển sang xơ gan với tỷ lệ tử vong là 10%.
  6. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Khuẩn Chlamydia có thể khiến đàn ông vô sinh

    Nhiễm khuẩn Chlamydia (màu xanh lục) có thể ảnh hưởng đến sự vận động của tinh trùng.
    Chlamydia, một trong những bệnh lây nhiễm qua đường ******** quen thuộc nhất, có thể gây vô sinh ở nam giới không kém gì nữ giới, một nghiên cứu mới của Thuỵ Điển tiết lộ. Phát hiện này là một lý do thuyết phục nữa cho việc thực hiện *** an toàn.
    Nhóm nghiên cứu, dẫn dầu là giáo sư Jan Olofsson từ Đại học Umeå, đã kiểm tra 244 cặp vợ chồng vô sinh để tìm bằng chứng về chlamydia, một bệnh nhiễm trùng thông thường xuất hiện mà không có triệu chứng.
    Họ ghi nhận đàn ông nhiễm chlamydia (đặc biệt ở những người mà hệ thống miễn dịch đã tiếp xúc với căn bệnh này và đã sinh kháng thể để chống lại bệnh) có cơ hội làm cha thấp hơn 33% so với những người thường.
    Trong khi giới nghiên cứu đã biết từ lâu rằng phụ nữ nhiễm chlamydia dễ phát triển bệnh viêm khung xương chậu và vô sinh, song nguy cơ tương tự ở đàn ông thì chưa được biết đến rộng rãi. Phát hiện này là điều đáng lo ngại, bởi theo các nhà nghiên cứu, hầu hết người nhiễm chlamydia không nhận ra họ đang mắc bệnh. Khoảng 90% nữ giới và gần một nửa số đàn ông nhiễm bệnh không biểu hiện triệu chứng.
    "Công trình của chúng tôi chỉ ra rằng không chỉ phụ nữ cần lo lắng về bệnh chlamydia. Đàn ông cũng cần ý thức rằng đó là nguy cơ nghiêm trọng thực sự với họ", Olofsson nói.
    Nhóm nghiên cứu phỏng đoán tình trạng viêm nhiễm ở nam giới có liên quan với việc giảm khả năng vận động của tinh trùng, nhưng giả thuyết này chưa được kiểm chứng.
    Một chuyên gia về sức khoẻ ******** Australia cho biết, chlamydia có thể ngăn chặn được bằng các phương pháp giao hợp an toàn. "Bạn phải dùng bao cao su", tiến sĩ Christine Read, giám đốc y học của tổ chức FPA Health nhấn mạnh.
    Bà cũng xác nhận đàn ông dễ nhận biết triệu chứng bệnh hơn nữ giới. Đó có thể là đi tiểu khó hoặc tiết ra một ít chất nhờn vào buổi sáng. Điều quan trọng là phải tiến hành chữa trị ngay khi phát hiện, bởi nếu để lâu, bệnh đôi khi có thể gây ra những vấn đề kinh niên
  7. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Sữa mẹ chống béo phì

    Sữa mẹ rất tốt cho sự phát triển của trẻ.
    Các nhà khoa học Mỹ vừa tìm thấy một protein đặc biệt trong sữa mẹ có tên là adiponectin. Càng dùng nhiều chất này, nguy cơ béo phì ở trẻ khi trưởng thành càng nhỏ. Phát hiện một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của sữa mẹ đối với quá trình trao đổi chất.
    "Mức độ tập trung của protein adiponectin trong cơ thể có ảnh hưởng đến khả năng tích mỡ", tiến sĩ Lisa Martin đến từ Trung tâm nhi khoa Cincinnati (Mỹ) khẳng định.
    Tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Nhi khoa ở San Francisco, Martin cho biết, adiponectin là sản phẩm do các tế bào mỡ tiết ra. Nó tác động đến cách xử lý đường và các chất béo trong máu. Ở lượng thấp, protein này sẽ gây ra các bệnh béo phì, tiểu đường type 2, kháng insulin và bệnh mạch vành. Nguy cơ mắc những căn bệnh này sẽ thấp nếu cơ thể sở hữu một lượng lớn adiponectin.
    Ngoài ra, nhóm nghiên cứu phát hiện ra sữa mẹ còn chứa một protein khác gọi là leptin, cũng tham gia vào quá trình điều tiết lượng mỡ trong cơ thể. Tuy nhiên, vai trò của leptin mờ nhạt hơn so với adiponectin.
    "Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ" - Martin khẳng định - "Bằng cách kéo dài thời gian bú sữa mẹ, cơ thể trẻ sẽ tích tụ được càng nhiều thành phần thiết yếu cho sự phát triển lành mạnh và sinh tồn".
  8. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Điều trị bệnh nhân tâm thần bằng ''cơ chế mở''

    Một nữ bệnh nhân đang tập dệt chiếu.
    Phòng Điều trị hội họa của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 có nhiều bức tranh kỳ lạ. Một bức màu chói chang, vẽ ông mặt trời đè bẹp một thân người bé nhỏ. Tác giả là bệnh nhân Lê Đức Tuấn, người suốt ngày kêu "trời sập" và chạy tìm chỗ nấp. Những bức tranh giúp bác sĩ hiểu anh đang gặp vấn đề gì để giúp đỡ ngay.
    Một bức tranh của bệnh nhân khác vẽ thân cây cụt đầu, không một chiếc lá, chỉ có một con cú vọ hình hài xấu xí. Qua hình vẽ, các bác sĩ "đọc" được sự trầm cảm rất ghê gớm ở chủ nhân bức tranh, biết rằng người này có thể tự sát nếu không được chăm sóc kịp thời.
    Điều trị bằng hội họa là một trong nhiều liệu pháp được áp dụng tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2. Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, Giám đốc bệnh viện, cho biết, cơ sở này đang áp dụng điều trị toàn diện với các liệu pháp tâm lý - tái thích ứng xã hội cho bệnh nhân, không dùng thuốc. Chúng chiếm 50% quy trình điều trị và thay thế cho kiểu quản lý "cầm tù" người bệnh vừa không hiệu quả vừa thiếu nhân bản đã tồn tại gần 100 năm qua.
    Theo cách điều trị mới, người bệnh không còn bị nhốt, bị trói mà được áp dụng các liệu pháp lao động, thể dục thể thao, văn hóa, đặc biệt là các liệu pháp có tính nghệ thuật như âm nhạc, hội họa... Cách chữa mới đã tỏ ra có hiệu quả rất cao.
    Từ 6 tháng nay, tòa nhà 2 tầng với hàng rào bê tông cao quá đầu và dây thép gai chằng chịt phía trên, nơi dùng để nhốt bệnh nhân nặng, đã bị bỏ hoang và đang chờ đập bỏ. Bác sĩ Nguyễn Gia Khanh, người phụ trách "những vấn đề mới" trong phương pháp điều trị của bệnh viện, cho biết: "Trước đây, người ta quan niệm đối với bệnh nhân tâm thần là phải xiềng xích, cùm trói; khu nhà này được xây dựng không khác gì một xà lim. Bây giờ quan điểm điều trị của chúng ta đã khác nên không cần giữ lại kiến trúc này". Ngay cạnh khu nhà nói trên, một "khu sinh thái" rộng 4 hecta với mô hình vườn cây xanh cho bệnh nhân lao động, nhà quan sát cho khách tham quan... đang được xây dựng.
    Bác sĩ Khanh cũng cho biết, mấy năm gần đây, Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 áp dụng liệu pháp nhóm cho bệnh nhân. Mỗi nhóm (10-15 người) được quản lý bằng phương pháp sinh động để vừa đánh giá được sự tiến bộ của bệnh nhân vừa xem xét được trách nhiệm của người quản lý nhóm. Hầu hết các phòng đều mở toang cửa, bệnh nhân tự do nằm, ngồi, chơi, ngủ hoặc xem ti vi. Họ vẫn được quản lý rất sát sao mà không biết.
    Hiện Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 có hơn 1.500 người điều trị, vượt gần gấp đôi chỉ tiêu số giường bệnh mà Bộ Y tế giao. Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ cho biết, số bệnh nhân tâm thần ngày một tăng và đây là một hiện tượng tự nhiên do tăng cường độ lao động và dân số. Để đảm bảo chất lượng điều trị, ngoài việc áp dụng các liệu pháp mới, bệnh viện đang từng bước hiện đại hóa các khoa Chẩn đoán hình ảnh, Xét nghiệm, Hồi sức cấp cứu... với những máy móc thiết bị hiện đại. Dự án cải tạo gần như toàn diện bệnh viện vốn tổng dự toán hơn 70 tỷ đồng cũng đã được Bộ Y tế phê duyệt.
  9. thanh_ala

    thanh_ala Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    15/05/2002
    Bài viết:
    4.820
    Đã được thích:
    3
    Ảnh hưởng của bia đối với sức khoẻ
    Một tờ báo khoa học nước ngoài từng đăng bài viết tựa đề: "Mỗi ngày uống một lon bia, khỏi cần đi bác sĩ"; nhiều nghiên cứu cũng khẳng định lợi ích của bia. Nhưng trên các lon bia thường có dòng chữ: "Đừng uống trên 1 lít", nghĩa là bia cũng có thể gây hại nếu uống nhiều.
    Bia đã được các công dân thành Babylone sáng chế ra từ 8.000 năm trước công nguyên. Khoảng 2.000 năm sau, người Ai Cập cũng biết cách lên men bia và chứa trong những bình lớn.
    Nhà bác học Antonius Van Leeuvenkoek (thế kỷ 17) là người đầu tiên quan sát các yếu tố cấu tạo nên bia. Nhà bác học Louis Pasteur (1822-1895) đã thành công trong việc chứng minh sự lên men bia không phải chỉ là phản ứng hóa học, mà còn có sự tham gia của các vi sinh vật kỵ khí, đó chính là men bia. Men bia có tên khoa học Saccharomyces cerevisia, là loại nấm đơn bào đa công dụng dùng sản xuất bia, rượu, rượu vang, bánh mì...
    Men bia sống thường được sử dụng làm thuốc trong các trường hợp cơ thể mệt mỏi, kiệt sức, thiếu máu, kém ăn, chậm tăng trưởng, stress, rối loạn thần kinh. Khi kết hợp với selen, nó tạo thành phân tử selen hữu cơ, có tác dụng gia tăng hiệu năng chống các gốc tự do, làm chậm quá trình lão hóa và là một yếu tố quan trọng trong nhóm các chất chống oxy hóa cần thiết cho sức khỏe. Selen cũng là chất bảo vệ tế bào gan, bảo vệ tim mạch, cải thiện các bệnh ngoài da do gan suy yếu.
    Men bia sống còn có tác dụng chống nhiễm trùng bằng cách tăng cường hệ miễn dịch. Các loại thuốc uống chứa men bia thường kết hợp men bia 400 mg với men bia - selen 75 mg, silice 25 mg, giúp tăng cường sức khỏe, chống nhiễm trùng (trong các trường hợp bị cảm, ho, nóng sốt). Men bia còn được dùng làm thực phẩm bổ sung cho phụ nữ mang thai và cho con bú.
    Men bia sống dùng làm thuốc thường có khoảng 20 tỷ tế bào sống Saccharomyces cerevisiae/1 g, chứa trong hai viên nang với hàm lượng 16 acid amin, 17 vitamin, 14 muối khoáng. Nó được xem là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và là véc tơ dẫn đường cho sự hấp thu các loại vitamin khác vào cơ thể.
    Men bia cũng giúp tái tạo những vi khuẩn cần thiết cho sự tiêu hóa ở đường ruột, thường được dùng cùng lúc hay sau một đợt điều trị bằng kháng sinh, hoặc khi bị loạn khuẩn ruột. Men bia còn có tác dụng lên da, tóc và móng.
    Vì sao uống nhiều bia lại bị say?
    Vì trong bia có cồn với hàm lượng thay đổi tùy loại. Nếu uống bia tươi, bạn sẽ càng mau say hơn. Mức độ say phụ thuộc vào nồng độ chất rượu trong máu:
    - 0,05% rượu trong máu: Mất khả năng xét đoán, suy nghĩ, tính chủ động, huyết áp tăng.
    - 0,08%: Huyết áp tiếp tục tăng, khó kiềm chế cử chỉ, cử động không bình thường.
    - 0,1%: Mất tự chủ, hay đi đi lại lại, miệng nói lắp bắp lung tung.
    - 0,2: Thần kinh bị tác động nghiêm trọng, đi bắt đầu lảo đảo, nói to, không mạch lạc, nếu lái xe dễ gây ra tai nạn.
    - 0,3%: Vùng não bị tổn thương tạo nên nhiều ý nghĩ sai lầm.
    - 0,4%: Nếu ngủ, khó đánh thức; không chủ động trong hành động.
    - 0,5%: Ngất, trung khu thần kinh điều khiển sự hô hấp và tuần hoàn tim bị ngưng lại, dẫn đến tử vong.
    Vì thế, khi uống đến lúc nồng độ rượu/máu lên đến 0,2%, con người thường dễ bị "bổ ngửa".
    Không chỉ gây say, việc uống bia nhiều có thể dẫn đến nhiều điều hại khác. Chẳng hạn, bạn sẽ bị "nở vòng eo" vì tích mỡ ở bụng do thừa năng lượng. Khi đã quá chén, nếu hoạt ******** và thụ thai, bào thai sẽ bị rượu gây tác động xấu. Đó là chưa kể nhiều ông chồng hay "đòi hỏi" khi đã say xỉn sẽ tạo tâm lý ức chế nơi người vợ, dẫn đến tình trạng lãnh cảm, cuộc sống lứa đôi mất hạnh phúc.
  10. vanyeuminhem

    vanyeuminhem Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    21/06/2003
    Bài viết:
    3.649
    Đã được thích:
    1
    Stress cũng có lợi​

    Đừng lo lắng! Một chút căng thẳng sẽ tốt cho sức khỏe của bạn.
    Thật bất công khi người ta tẩy chay stress và tất cả những gì liên quan đến nó. Thực ra, một chút căng thẳng cũng không đáng sợ - nó sẽ giúp bạn tăng cường khả năng miễn dịch. Tuy nhiên đừng để tình trạng đó đi quá xa.
    Stress vẫn luôn bị định kiến nặng nề trong thế giới hiện đại, song về bản chất, một liều stress vừa đủ lại rất tốt cho sức khỏe - hai tiến sĩ Suzanne Segerstrom và Gregory Miller đến từ Đại học Kentucky (Mỹ) và Đại học British Columbia (Canada) khẳng định, sau khi phân tích tổng hợp khoảng 300 báo cáo khoa học liên quan đến gần 19.000 người.
    Theo nhóm tác giả, hiện tượng trên đã tiết lộ về một bản chất đặc trưng của loài người khi đối mặt với các loài thú ăn thịt, xuất hiện từ thời nguyên thuỷ. Những tình huống gây căng thẳng trong một thời gian ngắn đã kích thích một phản ứng được gọi là "đánh trả hay bỏ chạy", gồm chuỗi phản xạ giúp tăng cường khả năng phòng thủ tự nhiên của con người trước những cú cào, cắn của con mồi.
    Tuy nhiên, lo lắng kéo dài sẽ gây phản tác dụng. Stress triền miên khiến cho "pháo đài bảo vệ" đó sụp đổ và gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khỏe. Trong cuộc sống hiện đại, những sự kiện thất tình, mất bạn đời, hoặc bị lạm dụng ******** khi còn nhỏ... sẽ làm cho hệ miễn dịch kiệt sức, hậu quả là cơ thể dễ nhiễm bệnh hơn.
    Một số người đặc biệt nhạy cảm với stress như người già hoặc mắc bệnh. "Đó là vì thể lực hay trí lực của họ đã không còn khả năng chống trả" - tiến sĩ Miller cho biết - "Tuy nhiên, ở chừng mực nào đó, stress sẽ giúp tăng cường khả năng kháng bệnh. Và một chút áp lực trong cuộc sống sẽ thúc đẩy con người nỗ lực vượt qua những tình huống thử thách, cho dù đó là sự đối mặt với nanh vuốt của hổ dữ hay chỉ là một cuộc phỏng vấn xin việc".

Chia sẻ trang này