1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Paul Carell - Hitler mặt trận miền Đông

Chủ đề trong 'Kỹ thuật quân sự nước ngoài' bởi huytop, 30/10/2015.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    1.000
    Đã được thích:
    4.506
    VỤ ÁM SÁT NGÀY 20/7/1944 (ĐIỆP VỤ VALKYRIE)

    Buổi sáng ngày 20/7/1944, Đại tá “Bá tước” Claus von Stauffenberg (*), Tham mưu trưởng Tập đoàn quân Dự bị xuất hiện ở Tổng hành dinh Quốc trưởng tại Rastenburg với một quả bom trong cặp.

    Là một sĩ quan có nguồn gốc quí tộc Đức, đồng thời là một tín đồ Cơ-đốc giáo thuần khiết, “Bá tước” von Stauffenberg hân hoan chào đón sự trỗi dậy của Hitler, vì rất tin tưởng vào lời Quốc trưởng hứa sẽ khôi phục lại kinh tế và đưa Đức quốc thoát ra khỏi sự ràng buộc của Hiệp ước Versailles. Tuy vậy, sự tàn bạo của chế độ Đức quốc xã đã sớm biến anh ta thành một người đối lập với chế độ mặc dầu ban đầu ông không hề có ý định đó. Chỉ sau khi gia nhập vào Bộ tư lệnh Lục quân OKH, bản thân anh đã tìm hiểu và chứng kiến nhiều thảm sát hàng loạt những người Slavs và Do Thái, xem xét lại toàn bộ sự kỳ thị mù quáng của Hitler đối với Cơ-đốc giáo thì anh đã tham gia phe đối lập chống phát xít. " Con người sẽ không bảo đảm được sự tồn tại văn minh nếu như không có một sự giáo dục về tín ngưỡng" Stauffenberg tuyên bố chính xác như vậy…..

    Anh kêu gọi một chính sách quốc gia phải chỉ đạo trên một "nền tảng đạo đức được gắn chặt với tôn giáo. Những ai không biết cầu nguyện thì không xứng đáng sống". Anh còn nói thêm rằng " Cơ-đốc giáo nên một lần nữa trở thành sức mạnh tâm linh lớn nhất cho tương lai". Stauffenberg nhận thấy nhiều người ở Đoàn Sĩ quan có cùng niềm tin và dám mạo hiểm mạng sống của họ vì những đức tin của họ. Tuy trong số các tướng lĩnh cao cấp, anh lại gặp nhiều hơn những người sẵn sàng hy sinh các nguyên tắc và lý tưởng cho sự thăng tiến ,cơ hội sự nghiệp và huy chương...

    Chán nản với một sự nghiệp chắc chắc mà anh ta đang phục vụ tại Berlin, Stauffenberg xin ra chiến trường và đã tới Bắc Phi vào đầu năm 1943 với công việc là Sĩ quan hành quân thuộc Sư đoàn xe-tăng số 10. Tại đây, ngày 7/4/1943, chiếc xe tham mưu Volkswagen đã bị một máy bay chiến đấu Mỹ tấn công. Anh bị thương rất nặng đến mức khi tìm thấy anh , ban đầu người ta dự đoán anh khó có thể sống được. Stauffenberg bị cắt cụt bàn tay phải (đến cổ tay), mắt trái, và ngón tay thứ ba và thứ tư trên tay trái. Sau một thời gian tạm thời bị mất thị lực, phải phục hồi chức năng hoạt động của đầu, mắt và đầu gối, anh được phép xuất viện với một sự thuyết phục cho rằng Quốc trưởng chính là người chống lại đạo Cơ-đốc và Đấng bề trên đã tha cho anh (Stauffenberg) chỉ vì một lý do: hãy giải thoát thế giới ra khỏi bàn tay Adolf Hitler và bè lũ của hắn….

    Trái bom trong cặp của Stauffenberg phát nổ lúc 12:35 chiều ngày 20/7/1944 đã làm bị thương nặng các Tướng Fliers Guenther Korten - Tham Mưu Trưởng Không quân, và Trung Tướng Rudolf Schmundt – Phụ tá chính của Hitler đồng thời còn là Trưởng phòng nhân sự (AHA). Một số sĩ quan cấp cao cũng bị thương, trong đó có Alfred Jodi, Trưởng phòng hành quân Bộ Tư lệnh tối cao, trợ lý của ông ta, tướng pháo binh Walter Warlimont; và Trung tướng Adolf Heusinger, tham mưu phó Bộ tư lệnh Lục quân (OKH). Cả hai màng nhĩ đều bị rách bởi vụ nổ, tóc bị đốt cháy, chân và cánh tay phải của Hitler bị thương nặng. Mặc dù không còn lành lặn như trước, Quốc trưởng đã sống sót sau vụ nổ và ông ta sẽ hạ gục “Chiến dịch Valkyrie” – một cuộc đảo chính quân sự do Stauffenberg thực hiện nhằm chống lại ông. Đại tá von Stauffenberg đã bị hành quyết ngay tức thời theo mệnh lệnh đến từ người chỉ huy của ông ta, Đại tướng Friedrich Fromm, ngay trước nửa đêm ngày 20/7/1944.

    Từ quan điểm của Nazi, một bức tranh đáng sợ - danh sách tử thần - sẽ xuất hiện trong vài ngày tới. Đó là những người liên quan (dù ở mức độ ít hay nhiều) trong âm mưu chống Hitler được xếp gần giống như một cuốn Từ điển Who’s Who của Quân đội Quốc xã. Tiêu biểu là những người sau:
    - Thống chếErwin Rommel: “Cáo già sa mạc”, là một trong những thiên tài quân sự hàng đầu của Thế kỷ XX….
    - Đại tướng Ludwig Beck, cựu Tổng tham mưu trưởng Lục quân Đức (1938)…
    - Đại tướng Erich Hoepner, cựu Tư lệnh Tập đoàn quân Panzer IV…
    - Đại tướng Fritz Fromm, Tư lệnh Tập Đoàn quân Dự bị , người đại diện cho cả 2 phía….
    - Thống chế Hans von Kluge, OB West (tức là Tư lệnh tối cao của Mặt trận miền Tây)
    - Tướng bộ binh Georg Thomas, Chánh văn phòng Kinh tế OKW (Bộ Tư lệnh tối cao quân Lực)…
    - Đô đốc Wilhelm Canaris, cựu Giám đốc Abwehr – Cục tình báo quân sự
    - Thiếu tướng Hans Oster, Trợ lý của Canaris….
    - Thống chế Erwin von Witzleben, cựu Tư lệnh OB West và Cựu Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân D
    - Tướng bộ binh Friedrich Olbricht, Cục trưởng Tổng hợp Thanh tra và đương nhiệm cả chức vụ Phó Tư lệnh Tập Đoàn quân Dự bị…..
    - Thiếu tướng Helmuth Stieff, Trưởng phòng nhân sự OKH ( Bộ Tư lệnh Lục quân ).
    - Tướng Erich Fellgiebel, Cục trưởng Cục thông tin liên lạc và một số thuộc hạ dưới quyền.
    - Trung tướng Hans Speidel, Tham mưu trưởng Cụm Tập đoàn quân B tại Normandy (Là một trong số ít người còn sống sót sau Thế chiến II).
    - Đại tá Eberhard Finckh, phó chánh văn phòng của OB West.
    - Tướng pháo binh Eduard Wagner, Cục trưởng Cục hậu cần và Phó tổng tham mưu trưởng OKH
    - Tướng Pháo binh Franz Lindemann, Cục trưởng Pháo binh OKH và mới lên nắm quyền Tư lệnh Tập đoàn quân XVII.
    - Tướng bộ binh Carl-Heinrich von Stuelpnagel, (Thống đốc) Chỉ huy Ban quân quản tại Pháp…
    - Trung tướng Paul von Hase, Tư lệnh Quân khu Berlin.
    - Thiếu tướng Henning von Treschow, Tham mưu trưởng Tập đoàn quân II và Cựu trưởng phòng hành quân của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm.
    - Đại tá Georg Schulze-Buettger, tham mưu trưởng Tập đoàn quân Panzer IV.
    - Trung tá Hans-Alexander von Voss (sĩ quan tác chiến) thuộc Cụm Tập đoàn quân Trung tâm.
    - Thiếu tướng Hans-Ulrich von Oertzen, Giám đốc đào tạo thuộc Cụm Tập đoàn quân Trung tâm.
    - Thiếu tướng Erwin Lahousen, Trưởng ban Phá hoại thuộc Abwehr – Cục tình báo Quân đội.
    - Đại tá Ritter Albrecht Mertz von Quirnheim, Tham mưu trưởng, dưới quyền Tướng Friedrich Olbricht.

    Và còn rất nhiều người khác …..

    …………………………..
    (*). Claus von Stauffenberg sinh tại Bavaria năm 1907, con trai Đại công tước cuối cùng của Vương triều Wuerttemburg. Ông có thể biết nguồn gốc tổ tiên mình từ năm 1962. Những người nổi nhất trong dòng họ của ông gồm cả Gneisenau và Yorck, những anh hùng quân sự Phổ chính của cuộc chiến tranh Napoleon. Theo truyền thống gia đình, ông gia nhập Trung đoàn Kỵ binh 17 vào năm 1927, được đưa vào hoạt động năm 1933, và trải qua khóa đào tạo thuộc Bộ Tổng Tham Mưu từ 1936 đến 1938. Ông phục vụ trong Sư đoàn Khinh binh số 1 (Tiền thân của Sư đoàn tăng số 6) tại Ba lan và Pháp, nhân viên phòng tổ chức thuộc Bộ tham mưu OKH từ năm 1940-43. Cấp trên trực tiếp của ông ở đây là Tướng Buhle.
    tonkin2007, caonam_vOz, meo-u2 người khác thích bài này.
  2. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    1.000
    Đã được thích:
    4.506
    Hơn nữa, sự xác nhận lòng “không trung thành” dưới con mắt Hitler của các sĩ quan quân đội còn để ý tới cả những người không tham gia vào âm mưu đảo chính, nhưng họ lại biết và không báo cáo lại. Trong số đó có thể kể đến tên các vị Thống chế Erich von Manstein, Walter von Brauchitsch (Cựu Tổng tư lệnh Lục quân cho đến cuối năm 1941), Ewald von Kleist, Georg von Kuechler, và Fedor von Bock(*). Một sĩ quan khác mà hẳn chúng ta đều biết là Đại tướng Kurt Zeitzler (**), người đứng đầu Bộ Tổng Tham Mưu Đức. Chắc chắn là người phó của Zeitzler, đó là Tướng Heusinger, luôn thuyết phục bản thân mình là Sếp của mình thừa biết âm mưu đảo chính (Heusinger không bao giờ tha thứ cho Zeitzler vì đã sắp đặt ông ta làm việc ở trong boong-ke với Hitler trong thời điểm quả bom phát nổ)….Dù thế nào đi nữa, Fuehrer đã sa thải Zeitzler trong ngày 21/7/1944 và thay thế ông ta bằng Đại tướng Heinz Guderian. Trong số những kẻ khác, Fuehrer để mắt tới cả Đại tướng Fried-rich Fromm (***), Tư lệnh Tập đoàn quân Dự bị. Fromm bị bắt, và sau đó bị bắn với lời buộc tội hèn nhát…

    Với cương vị của mình, Hitler đã bổ nhiệm Heinrich Himmler, Thống chế SS (Reichsfuehrer-SS) thay thế chức vụ của Fromm. Còn Tướng Schmundt, sĩ quan tùy tùng Hitler (bị thương nặng và chết sau vụ 20/7) được thay thế bằng một trong những kẻ giết người của Nazi, Trung tướng Wilhelm Burgdorf, người sẽ sớm nhận được biệt danh "Kẻ phu huyệt của Hội Đoàn sĩ quan"…

    Trên thực tế, Guderian không phải là lựa chọn đầu tiên của Hitler và chỉ là một người nắm “quyền phụ trách Bộ tham mưu Lục quân” chứ không phải hoàn toàn là chức vụ “Tổng tham mưu trưởng Lục quân”. Sự lựa chọn đầu tiên của Fuehrer nhắm vào vị Tướng Bộ binh Walter Buhle, là một kẻ Quốc xã cuồng tín nhưng ông ta đã bị thương bởi trái bom của Stauffenberg và chưa thể hồi phục được. Hitler không bao giờ tha thứ cho Guderian vì để “thất bại” trong trận chiến Moscow năm 1941, nhưng giờ đây, ít ra Guderian cũng là một trong số ít những tướng lĩnh thuộc Bộ Tư lệnh Lục quân (OKH), không bị nghi ngờ dính dáng đến âm mưu đảo chính. Vào ngày 20/7/1944 ác mộng, chính Heinz Guderian là người đã thiết lập cấp tốc một Tiểu đoàn xe-tăng để chiếm giữ lại Tổng hành dinh SS tại Fehrbelliner Platz. Ông ta còn nói rõ rằng các vị tướng lĩnh Đức tại mặt trận miền đông chỉ đạt những thành tích nghèo nàn kể từ khi ông ta bị sa thải, và Guderian thường xuyên gắn liền thất bại với những lời buộc tội dành cho Bộ Tổng tham mưu Đức…

    Sau ngày 20/7 ngoài một vài người ngoại lệ, còn lại Hitler đối diện với các vị thống chế và tướng lĩnh của mình với thái độ nghi ngờ, hoang tưởng và căm ghét công khai. Hơn bao giờ hết, nhà độc tài coi các tướng lĩnh quân đội và các sỹ quan trong Bộ Tổng tham mưu như là kẻ thù. Ông chỉ tỏ ra khoan dung sau một thời gian rất lâu sau khi thấy họ thể hiện sự khúm núm và phục tùng mù quáng. Tướng Guderian nhớ lại rằng sau ngày 20/7 sự hoài nghi sâu xa vốn đã có trong con người Hitler đối với mọi người xung quanh nói chung và Hội Sĩ quan tham mưu nói riêng giờ đây trở thành mối thù hận sâu sắc. Những gì cứng rắn thì trở thành ác độc, trong khi xu hướng dối trá đã hoàn toàn ngự trị. Ông thường nói dối một cách không do dự vì cho rằng người khác cũng đang nói dối mình. Ông không hề tin tưởng một ai nữa. Trước đây để đối phó với ông đã là điều khó khăn lắm rồi; nhưng giờ thì nó trở thành sự tra tấn mà sự tồi tệ cứ phát triển đều đặn từ tháng này sang tháng khác. Ông thường xuyên mất hết sự kiểm soát bản thân và ngôn ngữ thì ngày càng bạo lực hơn.

    Trái ngược những gì đã bóng gió nêu trong cuốn hồi ký về sự phục vụ bản thân mình trong Wehrmacht được xuất bản vào thời kỳ hậu chiến, Heinz Guderian đã mưu toan ngay trong ngày đầu có mặt tại văn phòng để ủng hộ Hitler, nhằm tách bạch bản thân với hình ảnh của những người tiền nhiệm và đánh bóng cho minh chứng của sự trung thành tuyệt đối của mình với Quốc trưởng và chế độ. Ông đòi hỏi các sỹ quan của Bộ tổng tham mưu thể hiện thái độ theo Nazi trên tất cả yêu cầu chính trị không thì sẽ bị sa thải ngay ra khỏi Bộ. Heinz Guderian cũng ra lệnh rằng tất cả các sỹ quan đang làm việc tại Bộ tổng tham mưu đều phải dự giờ giảng về Chủ nghĩa Quốc xã cũng như tham gia thuyết trình về chế độ Quốc xã…

    Vào ngày 24/7/1944, Guderian đồng ý với Goering thông qua mệnh lệnh đưa kiểu chào "Heil Hitler!", giờ đây sẽ sử dụng chính thức cho quân đội Đức thay cho kiểu chào truyền thống cũ. Đây là một mệnh lệnh gây ra nhiều sự tranh cãi trong quân đội, cho nên thường được chào đón bằng những biểu hiện căm ghét cũng như khinh thường. Vẫn còn nhiều sĩ quan phổ biến mệnh lệnh của họ, sau đó thì bỏ đi theo kiểu chào truyền thống. Ít nhất, trong quân đội Đức vẫn còn duy trì một sự hợp lý , độc lập của một tổ chức cũ, nhưng cái sự độc lập đó chỉ mang tính biểu tượng hơn là một điều xác thực hiện hình….

    …………………………………

    (*).Thống chế Kleist (Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân A) đã bị buộc phải nghỉ hưu vào tháng 4 năm 1944. Thống chế Bock, cựu chỉ huy Cụm Tập đoàn quân Trung tâm và Nam bị Quốc trưởng sa thải vào tháng 7/1942 và không bao giờ được trọng dụng lại nữa….

    (**).Kurt Zeitzler sinh tại Cossmar vào ngày 9/6/ 1895, và gia nhập quân đội với tư cách là một sĩ quan học việc vào tháng 3/1914 . Được lệnh phục vụ trong lực lượng Bộ binh vào cuối năm, ông đã chiến đấu suốt Thế chiến thứ nhất, và sau Thế chiến I được phép ở lại phục vụ trong Reichsheer (Lực lượng vũ trang Đức thời 1919-25). Ông giữ chức Tham mưu trưởng trong Quân Đoàn XXII của Tướng von Kleist ở Ba Lan khi Thế Chiến II bắt đầu. Ông vẫn giữ chức vụ đó khi mà von Kleis chỉ huy các Cụm Tập đoàn quân Panzer tại Pháp (1940) cũng như Tập đoàn quân Panzer I tại Nga (1941-42). Ngày 1/2/1942, ông được thăng chức Thiếu tướng. Hai tháng sau trở về Pháp phục vụ với chức vụ Tham mưu trưởng Cụm Tập đoàn quân D (Sau đổi thành Mặt trận miền Tây OB West). Mặc dù ông chỉ đeo lon Thiếu tướng, Hitler vẫn bổ nhiệm ông làm Tổng tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Lục quân (OKH) vào ngày 24/9/1942, đồng thời thăng cấp cho ông tương đương với cấp bậc Trung tướng bộ binh. Sau đó, ông đeo lon Đại tướng vào đầu năm 1944. Hitler hy vọng Zeitzler sẽ là một công cụ sẵn sàng phục vụ cho bản thân mình và và Bộ Tư lệnh Tối cao quân lực OKW, nhưng ông ta (Zeitzler) thì không muốn vậy, nên mối quan hệ của họ trở nên rất căng thẳng vào tháng 7/1944.. Tướng Zeitzler không bao giờ được Quốc trưởng sử dụng nữa và bị sa thải, buộc ra khỏi quân đội vào đầu năm 1945. Ông đã về hưu sau chiến tranh và qua đời vào ngày 25/9/1963…

    (***). Các điều tra viên của Hitler không thể chứng minh được tướng Fromm có tham gia vào âm mưu đảo chính hay không, bởi vì Fromm đã xử bắn hết các nhân chứng quan trọng nhất có khả năng tố cáo ông ta vào đêm 20 rạng ngày 21/7/1944. Đó là Tướng Beck và Olbricht và Đại tá von Stauffenberg. Thế nhưng cuối cùng Fromm vẫn bị bắt, xử bắn vì tội hèn nhát vào ngày 12/3/1945…
    tonkin2007, meo-u, ngthi963 người khác thích bài này.
  3. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    1.000
    Đã được thích:
    4.506
    TIẾP TỤC RÚT LUI.




    Trong lúc này, chúng ta hãy quay trở lại với tình hình trên mặt trận miền Đông, nỗi thống khổ của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm vẫn tiếp tục diễn ra. Các lực lượng chủ lực thuộc các Sư đoàn tăng 5, 12 và 20 vẫn tiếp tục rút lui, họ thường xuyên được hỗ trợ bởi các đơn vị phòng không hoạt động trong vai trò chống xe tăng hoặc hỗ trợ trên mặt đất.

    Trong quá trình Cụm Tập đoàn quân Trung tâm bị người Nga hủy diệt, nổi bật lên một đơn vị chiến đấu xuất sắc và thoát khỏi thảm hoạ mà còn nguyên bộ khung, đó là Quân đoàn II Pháo binh Phòng không dưới sự chỉ huy của viên tướng pháo binh Job Odebrecht (*). Được hình thành tại Bobruisk vào tháng 10/1943 từ những gì còn sót lại của Sở chỉ huy phòng không thuộc Quân đoàn Dã chiến Luftwaffe III; bao gồm Sư đoàn Pháo phòng không 12 (Chỉ huy là Thiếu tướng Werner Prellberg) đóng trong vùng Bobruisk; Sư đoàn Pháo phòng không 18 (Thiếu tướng Adolf Wolf) đóng tại Orsha; Sư đoàn Pháo phòng không 23 (Đại tá Hans-Wilhelm Fichter) trong khu vực Minsk; và Lữ đoàn Pháo Phòng không số 10 (Đại tá Guenther Sachs) tập trung xung quanh vùng Vitebsk. Theo như họ cho biết, chỉ riêng bốn đơn vị này đã tiêu diệt hàng trăm xe tăng Liên Xô và xe thiết giáp bọc thép (AFV) nhưng cũng lại phải chịu những tổn thất hết sức nặng nề.

    Lữ đoàn Pháo Phòng không số 10 làm nhiệm vụ yểm trợ cho Tập đoàn quân Panzer III, đang phòng ngự tại Vitebsk. Tại đây, phần lớn Lữ đoàn đã bị thiệt hại nặng và phải chịu rất nhiều thương vong, được rút khỏi chiến trường vào tháng Tám, chuyển về Warsaw, sau đó được lệnh giải thể vào ngày 1/10/1944. Mọi thành phần còn sót lại của Lữ đoàn được sử dụng để hình thành lên Trung đoàn phòng không Cơ giớ số 116, ngay lập tức quay trở lại mặt trận nhằm mục đích hỗ trợ cho Tập đoàn quân IV…

    Sư đoàn Pháo phòng không 18 cũng đang làm nhiệm vụ yểm trợ cho Tập đoàn quân IV. Giống như các đơn vị pháo phòng không khác, họ được chia thành nhiều Cụm chiến đấu nhỏ (kampfgruppen) đóng rải rác trong mọi khu vực hoạt động và phải chiến đấu ở mọi cuộc giao tranh lớn trong khu vực. Do phải hứng chịu rất nhiều thiệt hại nên cuối cùng họ cũng phải rút ra khỏi mặt trận, chuyển về Đông Phổ, nhanh chóng được xây dựng lại, quay trở lại mặt trận với nhiệm vụ hỗ trợ cho 2 Tập đoàn quân Panzer IV cũng như Tập đoàn quân IV…

    Sư đoàn Pháo phòng không 23 ( Chỉ huy sở được thành lập từ đội ngũ nhân viên tham mưu còn sót lại của Sư đoàn Luftwaffe Dã chiến số 22 – đã chấm dứt sự tồn tại của mình từ ngày 10/10/1943). Do bị tổn thất rất nhiều nhân mạng cũng như vũ khí nên họ được phép rút ra khỏi chiến trường. Sau đó, Sư đoàn được gửi đến vùng Radom-Posen của Ba Lan (gần Warsaw) nhằm mục đích xây dựng lại. Sư đoàn không phải quay lại mặt trận bởi vì chiến tranh đã lan tới sát nách họ….

    Còn lại, Sư đoàn Pháo phòng không 12 tiếp tục làm nhiệm vụ yểm trợ cho Tập đoàn quân II và phải hứng chịu ít nhiều thương vong….

    Mặc dù mất rất nhiều khẩu pháo, Luftwaffe vẫn cứ tăng cường Lữ đoàn pháo phòng không số 11 (chỉ huy là Đại tá Alexander Nieper (**)) cho Cụm Tập đoàn quân Trung tâm. Lữ đoàn được tập kết tại Koenigsberg vào ngày 1/6/1944, và chỉ có hai trung đoàn; họ được điều ra mặt trận để hỗ trợ cho Tập đoàn quân Panzer III. Lữ đoàn cũng là cơ sở để hình thành lên Sư đoàn Pháo phòng không 27 vào tháng 9/1944 nhưng không hề được bổ sung thêm quân số cũng như khí tài….

    Sau ngày 14 tháng 7, Hitler đã cho phép Model được phép sơ tán một số “pháo đài địa phương” (kể cả một số địa điểm sau khi Guderian ra chỉ thị phải bảo vệ bằng bất kỳ mọi giá), bởi vì bị người Nga chiếm mất nhiều khu vực họ đang có nhiệm vụ bảo vệ. Các thành phố như Pinsk (bên sông Pripet) và Grodno bị rơi vào tay người Nga trong các ngày 14-16/7/1944, và kẻ thù đã tiếp cận tới biên giới nước Nga- Balan mới (theo quyết định được đưa ra tại Hội nghị Teheran) trong ngày 18/7/1944. Quân Sô-viết tiếp tục làm chủ các thành phốLublin(23/7) – Bialystok (27/7) cũng như Brest-Litovsk đã thất thủ trong ngày 28/7/1944). Hồng quân tiếp tục đè bẹp sức kháng cự của người Đức tại bàn đạp Praga, bờ tây sông Vistula, đe dọa trực tiếp tới thủ đô Warsaw trong ngày 31/7 và ngày 1/8 họ đã giải phóng thành phố Kalvariya chỉ cách biên giới nước Phổ có 15 dặm đường. Sau đó, đà tiến quân của “cơn bão Sô-viết” bắt đầu chậm dần lại, một phần vì do sự khó khăn trong công việc hậu cần của người Nga, và phần quan trọng hơn là Model đã nhận được một số lượng quân tiếp viện đáng kể…..

    Sau này, khi viết về các chiến dịch trong mùa hè năm 1944, Thiếu tá Gerhard Friedrich, Tư lệnh Trung đoàn Bộ binh Cơ giới 13 (Sư đoàn tăng số 5) đã hồi tưởng lại: Đó là cuộc chiến khốc liệt nhất mà chúng tôi đã từng trải qua. Chúng tôi luôn phải ngụy trang, bắn vào kẻ thù với bất cứ loại vũ khí nào có trong tay, liên tục rút lui, và sau đó tiếp tục tấn công người Nga từ một hướng khác. Điều này có nghĩa là tất cả mọi người…phải cố gắng, tung hết sức mình…Không hề có lúc nào được chợp mắt. Trong những ngày này, chủ nghĩa anh hùng, sự hy sinh dũng cảm cũng như sự thiếu thốn mọi thứ không thể được diễn tả bằng lời…..Sẽ rất sai lầm khi chỉ đề cập tới cá nhân hoặc đơn vị chiến đấu bởi vì tất cả những người lính Wehrmacht đã làm được những điều tốt nhất trong khả năng mà họ có thể làm được…

    …………………
    (*). Job Odebrecht (1892-1982) gia nhập đội ngũ sĩ quan hải quân năm 1909. Được giao nhiệm vụ làm sĩ quan cờ hiệu năm 1912, ông phục vụ trên tàu phóng lôi, tàu chiến trước khi được gửi tới Đông Phi. Khi Đại chiến thế giới lần thứ nhất bùng nổ, ông chỉ huy một đại đội lính thủy đánh bộ đặc nhiệm. Bị người Bỉ bắt làm tù binh năm 1916 khi miền đông châu Phi (chịu ảnh hưởng của quân Đức) rơi vào tay Đồng minh. Sau chiến tranh, ông trở về Đức và gia nhập cảnh sát, nơi ông sẽ phục vụ với quân hàm Thiếu tá. Ông trở lại hoạt động trong Luftwaffe vào năm 1935 và được thăng chức đại tá vào cuối năm. Các chức vụ chỉ huy mà ông từng giữ bao gồm: Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Pháo binh Phòng không số 11(1935-36); Tiểu đoàn Pháo binh Phòng không 71 (1937-38); Trung đoàn Pháo binh Phòng không I/ 34 (1938); Trung đoàn Pháo binh Phòng không 25 (1938); Trung đoàn Pháo binh Phòng không 8 (1938-39); Chỉ huy Lực lượng Phòng vệ trên không số 5 (1939-40) và số 6 (1940-1941); Sư đoàn Pháo binh Phòng không số 6 ((1941-42); Sư đoàn Meindl(Tiền thân của Sư đoàn Không quân Dã chiến 21 – 1942); và Quân đoàn Không quân Dã chiến III ((1942-43). Ông tiếp tục lãnh đạo Quân đoàn Pháo binh Phòng không số II cho đến khi kết thúc chiến tranh…Ông được thăng Thiếu tướng Pháo binh vào ngày 1/12/1942….


    (**). Đại tá Alexander Niepertạm thời thay thế vị trí sĩ quan chỉ huy của Trung tướng Walter Kathmann – Tư lệnh Sư đoàn Pháo binh Phòng không 27 mới thành lập. Sau khi Đại tá Oskar Vorbrugg lên nắm quyền chính thức, thì ngày 24/10/1944 Alexander Nieper lại quay lại thay thế và đạt được nhiều thành công…..
    tonkin2007, tatpcit, caonam_vOz2 người khác thích bài này.
  4. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    1.000
    Đã được thích:
    4.506
    Tại mặt trận miền bắc nước Nga trong khu vực Kaunas, Tập đoàn quân Panzer III của Reinhardt phải đối mặt với 18 Sư đoàn Bộ binh Sô-viết, 3 Quân đoàn xe-tăng, 1 Quân đoàn cơ giới và 3 Lữ đoàn tăng độc lập. Đối lại, Reinhardt chỉ có 4 Sư đoàn bộ binh không đầy đủ sức mạnh cùng với 1 Sư đoàn tăng. Vào ngày 18/7/1944, người Đức bị tấn công bởi 3 Tập đoàn quân Nga. Đó là; Tập đoàn quân Cận vệ II, Tập đoàn quân Xe-tăng Cận vệ V và Tập đoàn quân XXXIII (33)… Ngày 22/7/1944, Quân số thuộc Tập đoàn quân Panzer III giảm xuống còn có 13.850 tay súng. Reinhardt yêu cầu cho phép rút lui, nhưng Model ra lệnh cho ông ta cố gắng cầm chân người Nga 2 đến 3 ngày nữa.. Tuy vậy, Hitle sau đó từ chối, không cho phép Reinhardt rút quân trên toàn mặt trận….

    Vào ngày 30/7/1944, sườn trái thuộc Tập đoàn quân Panzer III cuối cùng đã bị Hồng quân chọc thủng. Đích thân Reinhardt ra lệnh rút lui, trực tiếp vi phạm mệnh lệnh đến từ Quốc trưởng. Quân Sô-viết ào ạt tràn qua lỗ thủng như nước vỡ bờ và ngày hôm sau họ đã tới vịnh Riga, cắt đứt đường rút của Cụm Tập đoàn Bắc và cách ly người Đức trong túi vây Courland. Số quân Đức trong vòng vây lúc này chỉ được tiếp tế bằng đường biển. Trong lúc đó, số còn lại thuộc Tập đoàn quân Panzer III, bị hất ngược trở lại biên giới Đông Phổ. Các nhân viên tham mưu tập trung tại Schlossberg, sau đường biên giới thuộc Đế chế. Những người lính, cũng giống như những người dân tản cư đã trông thấy được Sở chỉ huy tiền phương nằm trong một “Thành phố nhỏ bé rất ngăn nắp, trật tự theo kiểu Đức gần như không thể hiểu nổi sau ba năm chiếm đóng Liên-xô”

    Mặc dù vậy, Reinhardt thấy kinh hoàng khi phát hiện ra Erich Koch (*) – Toàn quyền Đông Phổ, là người chịu trách nhiệm về các biện pháp bảo vệ cho các công dân trong khu vực, thậm chí không có trong tay lấy một bản phác thảo cho kế hoạch sơ tán những phụ nữ cũng như trẻ em sơ tán ra khỏi những khu vực nóng bỏng. Thiếu tướng Otto Heidkaemper (**), Tham mưu trưởng Tập đoàn quân Panzer III đã nói với Sếp của mình rằng; ngày nào ông cũng liên tục thông báo tình trạng này bao giờ cũng bị cấp trên lờ tịt đi; chắc là Koch đã làm theo chỉ thị
    của Fuehrer – Heidkaemper đưa ra kết luận như vậy…

    Ông ta nói :”Sẽ có hàng chục nghìn người dân phải bỏ mạng, cũng như chúng ta phải chịu trách nhiệm về số lượng chưa từng có các vụ hiếp dâm sắp xảy ra trong các tuần lễ tiếp theo “….

    Giờ đây, tại mặt trận miền Nam, Thống chế Model vẫn giữ chức Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraine, mặc dù vị phó của ông , Tướng xe-tăng Josef Harpe (***) toàn quyền xử lý công việc tác chiến hàng ngày. Như vậy, Model, hơn bất kỳ một vị tướng Wehrmacht nào đó trước đây, trên thực tế đã trở thành người Chỉ huy tối cao của Mặt trận miền Đông. Từ ngày 22/6/1944 đến giữa tháng Bảy năm 1944, người “lính cứu hỏa cho Quốc trưởng” đã điều chuyển tới 3 Sư đoàn tăng và 2 Sư đoàn Bộ binh từ Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraine sang Cụm Tập đoàn quân Trung tâm, mặc dù Tướng Josef Harpe cũng được gia cố một số Sư đoàn chưa kinh qua thử thách….

    Vào ngày 6/7/1944 bắt đầu mở đợt tấn công lớn vào khu vực do Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraine bảo vệ, cụ thể là phía đông Kovel và Lvov (tên tiếng Đức - Lemberg) do Phương diện quân Ukraina I tiến hành. Lực lượng của họ bao gồm 10 Tập đoàn quân (chủ lực là các Tập đoàn quân Xe-tăng Cận vệ I, III và Tập đoàn quân xe-tăng IV); bao gồm 7 Quân đoàn xe-tăng, 3 Quân đoàn Cơ giới, 72 Sư đoàn Bộ binh và 6 Sư đoàn kỵ binh; tổng cộng lên tới hơn 1.000.000 người được hỗ trợ bởi 1.500 xe tăng, 450 khẩu pháo tự hành, 16.000 khẩu pháo các loại cũng như 3.000 máy bay yểm trợ từ trên không. Đối mặt với cuộc tấn công dữ dội của người Nga, Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraine có 900.000 người, 900 xe tăng và pháo tự hành, 6.000 khẩu pháo các loại cùng với 700 máy bay làm nhiệm vụ hỗ trợ, nhưng hầu như không có loại máy bay chiến đấu trong thành phần….

    Mở đầu, người Nga nhắm vào Kovel, nằm trên sườn bắc thuộc Cụm Tập đoàn quân. Sáu con đường quốc lộ chính hội tụ cả vào trong thành phố, được các Sư đoàn Bộ binh 26-342-131 và 253 (thứ tự từ bắc xuống nam) trực tiếp bảo vệ với sự tăng cường của Chiến đoàn Ober-sturmbannfuehrer Muehlenkamp do Trung tá SS Johan-nes Rudolf “Hannes” Muehlenkamp (****) chỉ huy. Đó là một người đẹp trai, chuyên hút xì-gà đang là Tư lệnh Trung đoàn tăng SS số 5 (Sư đoàn tăng SS Viking). Sư đoàn này vừa hoàn thành xong công việc chuyển đổi và tái trang bị tại Căn cứ huấn luyện Heidelager thuộc Ba-lan, nơi mà Sư đoàn Viking được nâng cấp từ Sư đoàn Bộ binh Cơ giới chuyển hóa lên Sư đoàn xe-tăng…..

    ……………………..

    (*). Erich Koch chạy trốn khỏi Đông Phổ vào năm 1945, khi người Nga xuất hiện tại đó. Sau đó ông ta biến mất, nhưng có ai đó đã nhận được mặt vào tháng 5/1949 và thông báo cho người Anh bắt giữ. Đầu năm 1950, bị dẫn độ sang Ba-lan nhưng không hề bị đưa ra tòa án xét xử cho tới tận năm 1958. Bị kết án tử hình năm 1959, nhưng Erich Koch không bị hành quyết; Ông đã sống một cuộc sống đầy đủ tiện nghi ở Barczewo, Ba Lan, cho đến khi qua đời vào ngày 12 /11/1986….

    (**). Thiếu tướng Otto Heidkaemper là một sĩ quan kỹ thuật, dành toàn bộ sự nghiệp của mình trong chiến tranh trên mọi cương vị của một sĩ quan tham mưu. Sinh năm 1901, bắt đầu phục vụ trong quân đội từ năm 1922 và khi chiến tranh kết thúc, ông mới có 44 tuổi.. Ông phục vụ trong Bộ tham mưu Bộ Tư lệnh biên phòng Eifel (1938) và Sư đoàn Khinh binh số 2 (1939), tiếp theo Sư đoàn tăng số 7 (1939-40), Trưởng phòng tác chiến Sư đoàn tăng số 4 (1940-42); Tham mưu trưởng Quân đoàn XXIV Panzer Corps (1942-43) trước khi trở thành Tham mưu trưởng Tập đoàn quân Panzer III (Tháng 5/1943).Ông cũng bị huyền chức sau khi Reinhardt bị Hitler sa thải vào tháng 1/1945. Otto Heidkaemper tiếp tục chỉ huy Sư đoàn Bộ binh 464 (cuối tháng 4/1945) cho đến khi chiến tranh kết thúc. Ông được phong Trung tướng vào ngày 9/11/1944. Khi chiến tranh kết thúc, ông đầu hàng người Mỹ nhưng được thả vào ngày 25/5/1945. Ông mất tại Bueckeburg năm 1969…….

    (***). Tướng Josef Harpe bắt đầu phục vụ trong quân đội trên tư cách là một Sĩ quan Bộ binh học việc từ năm 1909 và đến năm 1935, ông chỉ huy Trung đoàn Kỵ binh số 12. Ông liên tiếp thành công trên các cương vị lãnh đạo như Trung đoàn tăng số 3 (1935); Lữ đoàn tăng số 1 (1939); Trường huấn luyện xe-tăng (1940); Sư đoàn tăng 12 (1940); Quân đoàn xe tăng XLI (cuối 1942); Tập đoàn quân IX (11/1943) và Tập đoàn quân Panzer IV (18/5/1944). Được phong Đại tướng vào ngày 1/4/1944. Josef Harpe bị huyền chức Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân A (theo cách gọi mới của Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraina) vào ngày 27/1/1945, sau khi người Nga chiếm được bàn đạp Bavarov. Ông ta tiếp tục làm Tư lệnh Tập đoàn quân Panzer V (9/3/1945) và buộc phải đầu hàng quân Mỹ trong túi Ruhr (4/1945). Ông được các sĩ quan cấp cao của Đức tôn trọng, kính nể mặc dù ông là người ủng hộ chủ nghĩa phát-xít. Ông được thưởng Huân chương Hiệp sĩ Thập tự với Thanh kiếm cùng lá sồi đính kèm. Ông bị người Mỹ cầm tù cho đến năm 1948. Josef Harpe mất tại Nuremberg năm 1968…..

    (****). Trung tá SS Hannes Muehlenkamp sinh 9/10/1910 tại Metz (bấy giờ thuộc Đức), là con trai của một công chức. Ông ta gia nhập SS năm 1934 và tham gia Trường huấn luyện SS tại Brunswick. Sau khi tham gia huấn luyện tại Sư đoàn tăng số 2, ông ta bắt đầu chính thức phục vụ SS vào năm 1938 với vai trò làm Trung đội trưởng trong 1 đại đội moto thuộc Trung đoàn Germania. Mueh-lenkamp tiếp tục làm Đại đội trưởng trong các chiến dịch chinh phục Ba-lan và Pháp, làm trợ lý trong một thời gian ngắn cho Tướng Waffen-SS Paul Hausser trước khi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trinh sát Das Reich ( sau đó đổi tên thành Tiểu đoàn Trinh sát thuộc Tiểu đoàn xe tăng SS số 2) tại Nam tư và Nga. Ông ta lên nắm quyền Tiểu đoàn tăng SS số 5 (1942) và vẫn là tư lệnh sau khi được nâng cấp thành trung đoàn vào năm 1943 …..
  5. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    1.000
    Đã được thích:
    4.506
    Tướng Hossbach(*), chỉ huy quân đoàn, tập kết trung đoàn xe-tăng SS mới tăng cường tại làng Maciejow, bởi vì Muehlenkamp đã thuyết phục ông rằng bọn Đỏ sẽ tấn công qua vùng đầm lầy ở phía bắc tuyến đường sắt Kovel-Lublin và để rồi hướng thẳng phía con sông Bug. (Khu vực đầm lầy này thường không thể đi qua nhưng sẽ dễ dàng vượt qua được trong mùa hè nóng bức 1944). Muehlenkamp còn dự đoán, mục tiêu của người Nga sẽ là chiếc cầu vượt sông Bug thuộc phía tây Luboml.

    Đòn tấn công thăm dò đầu tiên của Hồng quân bắt đầu vào buổi chiều - một thời điểm khá bất thường đối với người Nga — và khiến cho những người lính SS hoàn toàn bất ngờ. Có 3 người: Trung úy SS Lichte, một thiếu úy, và một trung sĩ đang ngâm mình tắm trong một cái ao gần đó khi xe-tăng của Hồng quân áp sát. Chỉ mặc bộ đồ lót, họ cố gắng xoay xở, bò ngược lại Sở chỉ huy, nhưng chỉ thấy nó đang bùng cháy dưới hỏa lực pháo binh hạng nặng của người Nga. Họ định lăn xuống 1 cái hố ẩn nấp nhưng buộc phải bò ra khi ba chiếc T-34 tiến đến, cách họ chỉ có 50 thước Anh. May mắn làm sao, các chỉ huy xe tăng của Nga lại dừng lại và cùng đứng trên tháp pháo xe-tăng bàn luận. Vì vậy, họ không trông thấy những người lính SS trong tình trạng gần như “trần như nhộng” lẻn thoát được – đúng là không ai có thể nghi ngờ về tình trạng trớ trêu của họ. Đóng nắp đậy, cả ba chiếc T-34 tăng tốc tiến lên, lao luôn vào họng pháo của một cặp Panther được ngụy trang rất hoàn hảo, và xe tăng Đức nhanh chóng thổi bay cả 3 chiếc T-34 tung ra từng mảnh….

    Đòn tấn công chủ lực của Hồng quân được tiến hành vào ngày hôm sau – 7/7/1944 – dẫn đầu là một mũi giáo với trên 100 chiếc xe-tăng. Đòn trinh sát của Hồng quân đã thất bại trong việc phát hiện ra có sự xuất hiện của Cụm tăng Muehlenkamp (gần làng Maciejow), nên xe-tăng SS không bị tấn công bởi các máy bay ném bom thuộc Không quân Nga. Đúng như Muehlenkamp dự đoán, các xe-tăng Nga giờ đây đang ập xuống con đường quốc lộ theo đội hình hành quân, phơi 2 bên sườn tăng trước hỏa lực pháo binh Đức. Mở màn, là cơn bão lửa từ 2 bên đường ập xuống thật khủng khiếp. Chỉ trong khoảng khắc, hàng chục xe-tăng Sô-viết bị hủy diệt. “Ở khắp nơi, toàn là những khối thép đang chìm trong lửa cùng với những mảnh vỡ đang cháy âm ỉ!”. Peter Strass-ner hồi tưởng lại…Trận hủy diệt tăng kéo dài trong 90 phút. Vào thời điểm người Nga rút lui, họ phải bỏ lại trên chiến trường gần 100 (???) xe-tăng bị phá hủy hoàn toàn cùng với hàng chục chiếc khác bị hư hại. Chỉ riêng Trung đội 1 Panther, do Trung sĩ SS Alfred Grossrock (**) phụ trách, đã loại khỏi vòng chiến đấu 26 xe-tăng Nga, ngoài ra Trung đội của Trung úy người Phần lan Olin đánh gục thêm hàng chục chiếc tăng khác nữa….

    Không hề đếm xỉa tới thiệt hại, người Nga tung ra tới 10 Sư đoàn Bộ binh, 1 Quân đoàn xe-tăng và 2 Lữ đoàn tăng độc lập trong trận chiến Kovel. Một trận chiến phòng thủ đẫm máu trong 4 ngày liền diễn ra, nổi bật lên những đơn vị chiến đấu đặc biệt quên mình là: Cụm xe-tăng Muehlenkamp, Sư đoàn 26 Bộ binh Rhineland-Westphalian (Đại tá Frommberger), và Sư đoàn Bộ binh 342 Rhine-Mosel (Trung tướng Heinrich Nickel). Vào thời điểm người Nga tạm thời dừng các cuộc tấn công vào Kovel trong ngày 11/7/1944, họ đã mất tới 295 xe-tăng…

    Chiến thắng tại Kovel đã dẫn đến việc đưa Tướng Hossbach lên kế nhiệm Kurt von Tippelskirch (***) làm Tư lệnh Tập đoàn quân IV vào ngày 18/7/1944. Không rõ liệu Tippelskirch có bị thương, gặp thương tích trong một tai nạn bất ngờ, hay ngã bệnh, nhưng ông sẽ không trở lại vị trí chỉ huy cho đến tận mùa đông. Dù sao đi nữa, Hossbach là một chỉ huy chiến trường tốt, mặc dù ông ta là người có tính khí cực kỳ độc lập. Hossbach về phe ủng hộ Hitler từ năm 1938, thậm chí ông to tiếng với cả Quốc trưởng khi còn đang đeo lon Đại tá. Là một sĩ quan có trình độ, một nhà chiến lược gia tài năng, nhưng ông rất cố chấp; thỉnh thoảng, ông ta còn bỏ qua ngay cả những mệnh lệnh hợp lý từ các chỉ huy xuất sắc như Reinhardt cho nên sẽ rất khó cho bất kỳ sĩ quan cấp cao nào làm việc cùng với Hossbach.

    Tất nhiên, Hồng quân không hề nản lòng với thất bại tạm thời tại Kovel. Ngày 13/7/1944, một lần nữa, họ lại tổng công kích vào Kovel cùng lúc với một đòn tấn công chủ lực vào phía đông thành phố Lvov (Lemberg), thuộc khu vực do Quân đoàn Panzer III của Tướng Breith phụ trách, được bảo vệ bằng 2 Sư đoàn Bộ binh 349 và 357 yếu kém. Thiếu tướng Werner Friebe (****) cùng Sư đoàn tăng số 8 cố gắng phản công nhưng đã bị tàn sát bởi Không quân Sô-viết. Đến ngày 14/7/1944, rõ ràng là cuộc tấn công của Hồng quân có 2 trọng tâm nhắm vào Kovel, đầu tiên là trong vùng trách nhiệm của tướng Harpe với Tập đoàn quân Panzer IV bên cánh phải; tiếp theo tại Ternopol, thuộc khu vực của Tướng xe-tăng Erhard Raus với Tập đoàn quân Panzer I bên cánh trái. Ngoài ra còn có một đợt tấn công hỗ trợ (hướng chính diện) hướng thẳng vào Lvov. Các địa điểm do Cụm Tập đoàn quânBắc Ukraine dần dần rơi vào tay Hồng quân cho đến ngày 17/7/1944, ngày mà người Đức bắt đầu rút lui về phòng tuyến gọi là Prinz Eugen, tình hình vẫn chưa hề được cải thiện và khó có thể xuất hiện rõ rệt trên bản đồ.

    Đến đây, chúng ta hãy tạm ngừng diễn biến với tình hình chiến sự, để phân tích câu chuyện về đất nước Uk-raina trong Thế chiến thứ II, cũng như hình ảnh của những người lính tình nguyện phương Đông đầu quân vào lực lượng Wehrmacht của Đức, tiêu biểu là Sư đoàn Bộ binh Cơ giới 14 SS mang tên là “Galicia”…

    ………………………………

    (*). Friedrich Hossbach nhập ngũ vào năm 1910, là sĩ quan phụ tá trong quân đội Hitler cho đến năm 1938, khi ông ta bị sa thải vì đã thông báo cho Đại tướng Baron Werner von Fritsch, Tổng tham mưu trưởng quân đội, cho rằng SS và SD đang âm mưu thải hồi ông ta bởi vì Hossbach liên quan đến đồng tình luyến ái. Sau đó, ông ta lại tiếp tục phục vụ trong quân đội, kinh qua các chức vụ; Tư lệnh Trung đoàn bộ binh 82 (1938-39); Tham mưu trưởng Quân Đoàn XXX (1939); trở về làm Tư lệnh Trung đoàn bộ binh 82 một lần nữa (1939-42); tạm quyền chỉ huy Sư đoàn Bộ binh 31(1942); chỉ huy Sư đoàn Bộ binh 82(1942-43); chỉ huy Sư đoàn Bộ binh 31 lần thứ hai (1943); Quân đoàn phó Quân đoàn Panzer LVI-56 (1943); Quân đoàn trưởng Quân đoàn Panzer LVI-56 (1943-44); tư lệnh Tập đoàn quân IV (1944-45)….

    (**). Grossrock, sinh tại Ludwigsburg, Wuerttemberg, vào ngày 2/1/1918, được trao tặng Hiệp sĩ Thập tự. Do bị thương nặng nên đã bị người Nga bắt trong chiến dịch tại Hungary và qua đời trong khi bị giam cầm ngày 5/4/1945….

    (***). Kurt von Tippelskirch trở lại làm nhiệm vụ vào cuối tháng 10/1944 với tư cách là phó Tư lệnh Tập đoàn quân I đóng tại Pháp (1944). Sau đó, ông chuyển sang làm phó Tư lệnh Tập đoàn quân XIV tại nước Ý (1944-45) và Tư lệnh Tập đoàn quân XXI )1945. Tippelskirch có thời gian ngắn chỉ huy Cụm Tập đoàn quân Vistula (1945). Sau chiến tranh đã qua đời tại Lueneburg năm 1957…..

    (****). Người kế nhiệm tiếp theo của Friebe, là Thiếu tướng Gottfried Froelich, đến nắm quyền chỉ huy trong ngày 21/7/1944. CònFriebe sau đó chuyển sang làm Tham mưu trưởng Wehrkreis (Quân khu) III (Tháng 9 /1944 – 4/1945) và qua đời tại Stuttgart năm 1962.
    --- Gộp bài viết: 14/07/2019, Bài cũ từ: 14/07/2019 ---
    [​IMG]
    Thống chế Walter Model (phải), người liên tiếp chỉ huy Sư đoàn Sư đoàn tăng số 3 (1940-1941), Quân đoàn Panzer XXXXI-41 (cuối 1941-1942), Quân đoàn IX (đầu 1942-1944), tạm quyền chỉ huy Cụm Tập đoàn quân Bắc (9/1/1944); Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraine (31/3/1944) và đương nhiệm thêm cả Cụm Tập đoàn quân Trung tâm (29/6/1944). Ông trở thành Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân B ở Mặt trận phía Tây vào ngày 17 tháng 8 năm 1944 và ở vị trí này cho đến khi bị Đồng minh tiêu diệt trong Trận chiến vùngRuhr (năm 1945). Thay vì đầu hàng, Thống chế Walter Model đã tự sát gần Duisburg vào ngày 21/4/1945 ( Tài liệu của viện Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ)……
    tatpcit, caonam_vOz, Naungmi2 người khác thích bài này.
  6. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    1.000
    Đã được thích:
    4.506
    UKRAINA TRONG THẾ CHIẾN THỨ HAI


    Ukraina thời điểm đó có một lịch sử chính trị nóng bỏng và phức tạp. Bước vào thế kỷ hai mươi, Ukraine được chia thành hai phần: Tây Ukraina (hay còn được gọi là Galicia), là một phần của Đế chế Áo-Hung, và phía đông thuộc Ukraina lớn hơn rất nhiều, vốn bị chiếm đóng bởi Sa hoàng nước Nga. Trong suốt Thế chiến thứ nhất, vùng đất này bị tàn phá bởi những người lính thuộc Quân đội Hoàng gia Đức, những người được chào đón như những chiến sĩ giải phóng. Tuy nhiên, cả hai phần đất của Ukraina, đều mong muốn điều tương tự: một nước Ukraina tự do và thống nhất. Năm 1918, Đế chế Áo-Hung sụp đổ và với nước Nga đang ở trong tình trạng hỗn loạn, người Ukraina đã có cơ hội để thiết lập cái điều mọi người đều mong muốn: một nước Ukraina tự do và độc lập. Chính vì vậy, họ nhanh chóng tuyên bố nền độc lập của nước mình…..

    Đúng thời điểm đó, tình hình chính trị quốc tế đã đối nghịch lại với một quốc gia còn non trẻ, và Ukraina sớm bị tấn công bởi các nước Nga và Ba-lan mới hồi sinh, họ lại được ủng hộ bởi các đồng-minh phương Tây, đặc biệt là người Pháp. Năm 1920, nền độc lập của Ukraina không còn tồn tại nữa. Ba Lan sáp nhập vùng Galicia, trong khi những người Bolshevik chinh phục miền đông Ukraine. Galicia đã phải chịu một loạt các chiến dịch "bình định" tàn nhẫn, trong đó người Ba Lan ra sức tìm cách đàn áp văn hóa cũng như mọi bản sắc dân tộc Ucraina. Họ đã phạm một số tội ác tàn bạo và thậm chí thiết lập hai trại giam giữ các tù nhân chính trị Ucraina, tại vùng Bereza Kar-tuska và Biala Podlaska.

    Thế nhưng, các chiến dịch "bình định" của người Ba Lan lại có vẻ nhẹ hơn khi so sánh với cách đối xử của Liên Xô tại miền đông Ukraine. Mặc dù nó không bao giờ phổ biến trong các nhà biện hộ cho chủ nghĩa xã hội tại nước Mỹ và những người lầm lạc khác nhưng vẫn có nhà văn dám đứng lên chỉ trích chủ nghĩa cộng sản – những người anh em đồng đạo trí tuệ của họ - rằng ông có bằng chứng chỉ ra rằng Hồng quân đã gây ra hàng loạt các cuộc thảm sát cũng như một nạn đói kinh hoàng làm hàng triệu người bỏ mạng…

    Với một số lượng lớn các vụ đàn áp tàn khốc, những hành vi tàn bạo do những người Bolshevik thực hiện tại Ukraina trong đầu những năm 1930 có thể so sánh với thảm họa Holocaust (sự diệt chủng người Do-thái) trong nỗi kinh hoàng của người dân. Đến khi Hồng quân tiến vào miền đông Ba Lan vào tháng 9/1939, nền khủng bố trong sự cai trị của Stalin cũng được mở rộng sang cả vùng Galicia. Mọi nhà thờ đều bị đóng cửa, các trang trại đều bị tịch thu, vô số các nhà lãnh đạo, các thành viên trong giới thượng lưu bị sát hại hàng loạt. Chỉ trong vòng có 2 năm, hơn 600.000 người Ukraina bị “trục xuất” mà không bao giờ được nhìn thấy mặt một lần nữa. Ngay cả khi buộc phải rút lui trước sức mạnh của cuộc “Đông tiến” do Hitler khởi xướng vào tháng Sáu năm 1941, Liên-xô vẫn tiếp tục giết những người không hề có chút khí giới tự vệ. Khi lính Đức vào một nhà tù tại Lvov hồi tháng 6/1941, họ tìm thấy một số lượng thi hài trong số 2.400 tù nhân Ukraina, tất cả đều bị bắn vào cổ. "Những góa phụ khóc lóc, lũ trẻ em mồ côi của những nạn nhân này đứng bâu quanh một phần các xác chết cha và chồng họ tạo nên một cảnh tượng khủng khiếp!" Tiến sĩ Hans Frank (*), được coi là một tay phát-xít cuồng tín đã nhớ lại như vậy….

    Nhiều vụ thảm sát tương tự cũng xảy ra tại Stryi, Stanyslaviv, Ternopil, Sambir, Zolochiv, Lutsk hoặc nhiều nơi khác. Một sự ngạc nhiên nho nhỏ khi người dân Ukraina đã đổ xô ra chào đón người Đức như là những người giải phóng trong thời gian đầu của cuộc xâm lược nước Nga năm 1941. “Trong mỗi ngôi làng mà chúng tôi tới đều được các cô gái đẹp ôm những bó hoa tươi thắm ra đón tiếp, thậm chí còn nhiều hơn khi chúng tôi tiến vào Thủ đô Vienna” – trích nhật ký của một lính Đức viết vào tháng 6/1941. Tướng Guderian (lúc đó đang là Tư lệnh Tập đoàn quân Panzer II) cảm thấy mình như là một tù nhân trong niềm hạnh phúc bởi sự chào đón của các người dân ngụ cư trong một ngôi làng tại Ucraina. Họ từ chối để ông ra đi cho tới khi họ thấy ông đã được vinh danh một cách thích đáng. Dân làng và nông dân chào đón quân đội Đức với bánh mì và muối ở các buổi tiệc dân dã (món ăn truyền thống Ukraina dành cho những vị khách danh dự), trong âm điệu của đàn balalaika, được cung cấp mọi thức ăn và đồ uống, với những chiếc cổng chào được dựng lên mang khẩu hiệu như: “Người dân Ucraina cảm ơn những người giải phóng - quân đội Đức dũng cảm. Heil Adolf Hitler – Hitler muôn năm! ”….

    …………………………

    (*). Là luật sư riêng của Hitler trong suốt thời kỳ Đảng quốc xã lên nắm quyền lực, Tiến sĩ Hans Frank (sinh năm 1900) là người phải chịu trách nhiệm về cái chết của hàng chục ngàn người Do Thái và Ba Lan. Ông trở nên thất vọng với chế độ mà ông ta đang phục vụ vào cuối năm 1942,khi Đức quốc xã bắt giữ và hành quyết người bạn thân của mình - Tiến sĩ Karl Lasch – nguyên Giám đốc Học viện Luật Đức. Khi Frank giận dữ kêu gọi xem xét lại hiến pháp, Hitler đã tước bỏ tất cả mọi vị trí danh dự trong Đảng Quốc xã của ông, mặc dù ông vẫn giữ chức Đại diện toàn quyền Đức tại Ba-lan. Frank thú nhận tội lỗi của mình tại tòa án Nuremberg, lên án Hitler, và cầu xin lòng thương xót trên cơ sở của sự cải đạo gần đây của ông sang Kitô giáo. Tuy thế, ông vẫn nhận án tử hình và bị hành quyết vào ngày 16/10/1946, cùng với Rosenberg, Streicher, Keitel, Jodi, và nhiều nhân vật quan trọng khác…
    --- Gộp bài viết: 17/07/2019 lúc 01:34, Bài cũ từ: 17/07/2019 lúc 01:25 ---
    [​IMG]
    ẢNH ; TIẾN SĨ HANS FRANK (1900-1946)
    ngochai12a2, tatpcit, Naungmi4 người khác thích bài này.
  7. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    1.000
    Đã được thích:
    4.506
    NGÀY HÈ MỌI NGƯỜI BIẾN ĐÂU HẾT RỒI NHỈ...MÌNH CỨ KỲ CẠCH GÕ BÀN PHÍM MÀ CHẢ THẤY MỘT CÁI LIKE HƯỞNG ỨNG CHÚT NÀO.....:-(:-(:-(:-(:-(......
    caonam_vOz, Naungmi, viagraless5 người khác thích bài này.
  8. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    1.000
    Đã được thích:
    4.506
    Đó là thời điểm trước khi họ gặp Erich Koch, Tân Đại diện toàn quyền Đức tại Ukraine. Vốn là một cựu thư ký ngành đường sắt và là bạn thân của Martin Bormann xảo quyệt, Erich Koch đã là thành viên của Đảng quốc xã từ năm 1922, được bổ nhiệm làm toàn quyền Đông Phổ năm 1928 theo lời giới thiệu của nhà chính trị gia với tư tưởng bài trừ Do thái khét tiếng Ju-lius Streicher . Ông ta rất tàn nhẫn, tàn bạo nhưng là một tay tham nhũng có hạng khi được Hermann Goering đề cử vào chức vụ Đại diện toàn quyền của Đế chế trước khi cuộc xâm lược tháng sáu năm 1941 nổ ra. Về mặt lý thuyết, Erich Koch vẫn là cấp dưới của Alfred Rosenberg, người mới được bổ nhiệm đặc trách về các vấn đề tại Đông Âu, nói cụ thể là Bộ trưởng các lãnh thổ bị chiếm đóng thuộc phía đông. Nhưng Koch đã nói rõ ràng trước khi cuộc xâm lược bắt đầu là ông ta có ý định bỏ ngoài tai tất cả những gì mà Rosenberg nói. Rosenberg phản đối bằng toàn bộ sức mạnh quyền lực của bản thân, nhưng vô ích….

    Mệnh lệnh chính thức đầu tiên khi Erich Koch lên nắm quyền là đóng cửa tất cả các trường học địa phương, và tuyên bố: ”Trẻ em Ukraina không cần trường học. Những gì chúng học sau này sẽ do những ông chủ Đức quốc đến dạy bảo...”. Ông ta nhanh chóng phát động một chiến dịch xóa bỏ nền văn hóa, phá hủy cũng như cướp bóc các viện bảo tàng hoặc thư viện tại Ucraina, điển hình phải kể đến tất cả các thư viện thuộc các trường đại học, thư viện của Viện hàn lâm khoa học Ucraina đặt tại Kiev. Viên Đại diện toàn quyền chủ trương nói rõ cho mọi người, là hoàn toàn không đếm xỉa ngoài việc khinh thường chủng tộc Slavic Untermenschen (thấp hèn); trong một bài diễn văn khai mạc, Erich Koch đã nói với các thuộc hạ :”Thưa các quí ông! Mọi người thấy tôi như một con sói dữ dằn. Chính vì thế, tôi mới được Quốc trưởng bổ nhiệm làm Đại diện toàn quyền của Đế chế tại Ukraina. Nhiệm vụ của chúng ta là lấy từ vùng đất này tất cả mọi thứ tốt nhất mà ta có thể mang đi được, không cần quan tâm đến cảm xúc hoặc vật chất của dân tộc này....”. Sau đó, Koch còn nói: “Chúng ta là chủng tộc thượng đẳng, các Ngài phải nhớ rằng, những công nhân Đức là tầng lớp thấp nhất về mặt chủng tộc và sinh học nhưng họ vẫn có giá trị gấp 1.000 lần so với những người dân ở đây…!”.

    Cuộc khủng hoảng đầu tiên xảy ra vào ngày 30/6/1941, khi Tổ chức Quốc dân Ukraina (hay còn gọi là Tổ chức những người theo Chủ nghĩa dân tộc Ukraina) thuộc phe Bandera (Viết tắt theo chữ Latin là OUN/B) bất ngờ tạo nên một cuộc bạo động tại Lvov, thủ phủ Đông Galicia, vừa bị Wehrmacht chiếm được. Những người bạo động tuyên bố thành lập một nhà nước độc lập dưới sự lãnh đạo của Yaroslav Stetsko, một viên Trung úy trung thành tuyệt đối với Stephen Bandera (*), nhà lãnh đạo lâu năm của những người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraine, sau đó đang bị lưu đày ở Paris. Trước một sự việc đã rồi như vậy, quân Đức đã coi cuộc nổi loạn là sự kiện mang tính “hấp tấp, vụng về” và không mấy nguy hiểm…

    Thật ấn tượng khi Tiểu đoàn “Chim Sơn ca” của OUN/B đã dám tổ chức một cuộc nổi dậy ngay sau khi chiến dịch Barbarossa bắt đầu. Bởi vì, họ đang ở các địa điểm bị Bộ Dân ủy Nội vụ Liên-xô (NKVD), một tổ chức bảo vệ an ninh của Đảng Cộng sản đàn áp đẫm máu. Khi Hồng quân rút lui, họ đã ra sức tiến hành các cuộc thanh trừng, thảm sát vô độ nhằm loại bỏ hết những kẻ chống cộng, Ba-lan, Do Thái. Thế nhưng, Erich Koch và lực lượng Cảnh sát bảo vệ Đức lại không tỏ ra mặn mà lắm tới toàn bộ sự kiện này….

    Vào ngày 2/7/1941, lực lượng SD bắt đầu bắt giữ những người ủng hộ phe Bandera, và ba ngày sau chính phủ Stetsko bị chính quyền Đức giải tán. Stetsko bị bắt trong ngày 12/7/1941, và cùng Bandera bị giam lỏng trong một nhà tù đầy đủ tiện nghi tại Berlin. Tuy vậy, vào tháng 9/1941, Bandera với viên trung úy thân cận bị đưa tới trại tập trung Sachsenhausen. Và như để nhấn mạnh quan điểm rằng người Ukraina sẽ không có tiếng nói gì trong việc cai trị, Koch đã cho di dời hàng ngàn dân làng ra khỏi quận Zuman, nơi mà sau đó ông ta sẽ chuyển đổi thành một khu vực săn bắn tư nhân rộng 175.000 mẫu Anh dành cho chính mình.

    Koch (**) đồng ý với Goering khi cho rằng "điều tốt nhất sẽ là giết tất cả những người đàn ông Ukraina trên 15 tuổi, và sau đó sẽ gửi các con tuấn mã SS tới…”. Ông sớm thực hiện một thỏa thuận không chính thức với Thống chế Đế chế và Himmler theo đó, bên SS sẽ được trao một bàn tay tự do trong giải pháp hủy diệt, để đổi lại lấy việc phân bổ các nguồn lực kinh tế và “cướp bóc tài sản ” cho Goering. Cả hai, lần lượt, sẽ hỗ trợ Koch chống lại kẻ thù không đội trời chung của mình - Alfred Rosenberg. Họ đã thực hiện một chế độ tam quyền xấu xa nhưng lại rất hiệu quả. Sở trường đặc biệt của Koch, là để cho các tù nhân bị đánh đến chết trong các quảng trường, công viên hoặc công cộng, nhằm dập tắt ý chí phản kháng của mọi người dân Ukraina. Thế nhưng, những hành vi như vậy lại phản tác dụng, mang hiệu quả ngược lại. Bởi vì chính sách “Đức hóa” đàn áp, giết người, tận thu của cải do Erich Koch khởi xướng, khu vực quản lý của ông sớm bị quân du kích nhẩy vào quấy phá. Thậm chí, Quân đội Đức cũng coi thường Koch, vì thế họ đã từ chối đem quân bảo vệ khu vực săn bắn của ông ta trước sự xâm nhập của du kích, và cuối cùng buộc phải đốt cháy; còn trên thực tế, vào tháng 9/1942,một tay súng trong trang phục sĩ quan Đức đã có thời cơ mưu sát Koch, nhưng bị bỏ lỡ và may mắn trốn thoát được trên chiếc xe Mercedes. Thời gian sau, Erich Koch bị buộc tội chịu trách nhiệm thảm sát bốn trăm ngàn người Ba Lan, cũng như hàng chục ngàn người Do Thái và người Ukraina.

    Quả thật, chính quyền của Koch ở miền đông Ukraine quá tàn nhẫn và hung bạo……
    ………………………..
    (*). Stepan Bandera (1/1/1909-15/10/1959) là một nhà cách mạng Ukraina yêu nước và chống Đảng Cộng sản khét tiếng.Tất nhiên, ông cũng không phải là người cộng tác với chủ nghĩa phát xít. Vì thế, Bandera bị Gestapo bắt giữ vào tháng 9/1941 vì đã từ chối hủy bỏ tuyên bố ngày 30/6/1941. Trong thời gian WW II, ông phải trải qua nhà tù nổi tiếng Prince Albert Place của Gestapo hoặc trong trại tập trung Sachsenhausen. Cả hai anh em của Bandera đều chết ở Auschwitz. Cha ông là Andriy Bandera cũng bị Bộ Dân ủy Nội vụ Liên-xô (NKVD) hành quyết vào ngày 10/7/1941 tại Kiev. Sau chiến tranh, ngày 15/10/1959, Stepan Bandera bị điệp viên Bohdan Stashynsky thuộc Cơ quan An ninh Liên xô KGB ám sát tại Munchen (Đức) bằng súng bắn chất độc xyanua……

    (*). Erich Koch tuy bị người Ba-lan kết án tử hình năm 1959, nhưng ông ta lại không bị hành quyết; Ông đã sống một cuộc sống đầy đủ tiện nghi ở Barczewo, Ba Lan, cho đến khi qua đời ngày 12 /11/1986….Nhiều người cho rằng có thể Erich Koch nắm được rất nhiều thông tin về các báu vật bị Đức quốc-xã cướp phá, chính điều này đã giúp ông mặc cả với chính quyền đương thời về số phận của mình....????
    --- Gộp bài viết: 21/07/2019 lúc 00:00, Bài cũ từ: 20/07/2019 lúc 23:53 ---
    [​IMG]

    STEPAN BANDERA (1909-1959) - NHÀ LÃNH ĐẠO THEO CHỦ NGHĨA DÂN TỘC UKRAINA

    [​IMG]

    ERICH KOCH (1896-1986) - TOÀN QUYỀN ĐỨC TẠI UKRAINA VÀ ĐÔNG PHỔ
    tatpcit, ngthi96, MuahoaLekima2 người khác thích bài này.

Chia sẻ trang này