1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Paul Carell - Hitler mặt trận miền Đông

Chủ đề trong 'Kỹ thuật quân sự nước ngoài' bởi huytop, 30/10/2015.

  1. 2 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 2)
  1. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    948
    Đã được thích:
    4.348
    Nhưng Hitler và Busch lại nhấn mạnh rằng phòng tuyến phải được giữ vững. Sư đoàn Xung kích 78 của Tướng Traut, một trong những Sư đoàn thiện chiến nhất của người Đức trong khu vực bị áp đảo và phòng tuyến do Quân đoàn XXVII đã bắt đầu oằn lên trước sức tấn công của Hồng quân. Mặc dù tới ngày 24 tháng Sáu, người Đức đã tiêu diệt được 116 xe-tăng Sô-viết kể từ khi người Nga mở màn chiến dịch, chỉ riêng Quân đoàn Panzer XXXIX (39) phá hủy được 30 chiếc ngay trong ngày hôm đó, nhưng cũng bị tổn thất rất nặng. Quân đoàn XXVII đã bị người Nga nghiền nát. Để chữa cháy, Busch ném đơn vị duy nhất mà ông có trong tay – Trung đoàn An ninh Hậu tuyến số 2, một đơn vị được trang bị bằng xe đạp – ra mệnh lệnh phải cầm chân được người Nga trên tuyến đường quốc lộ Pskov-Kiev ở phía tây nam của Orekhovsk, đó là điều Quân đoàn XXVII không thể làm được bởi vì lợi dụng đêm tối, 120 xe-tăng Sô-viết đã phá vỡ phòng tuyến. Trong vùng trách nhiệm do Quân đoàn Panzer XXXIX (39) bảo vệ, mọi việc cũng không tốt hơn là bao, khi Tướng Martinek nhận được tin báo về Sư đoàn Pháo bình 337 lúc này chỉ còn lại một đám tàn quân. Chỉ có các Sư đoàn thuộc Quân đoàn XII do Trung tướng Vincenz Mueller chỉ huy gặp chút ít khó khăn nhưng vẫn còn giữ vững được các vị trí chiến đấu…

    Trong khu vực thuộc Tập đoàn quân IX (Đức), người Nga đã dội màn pháo binh phủ đầu kéo dài tới 90 phút, sau đó phóng ra 2 mũi tấn công chủ lực. Một mũi phía đông bắc Bobruisk vào phòng tuyến do Quân đoàn XXXV bảo vệ, còn phía nam hướng vào Quân đoàn Panzer XLI (41). Mũi tấn công kép này hướng vào mục tiêu duy nhất là cánh phải thuộc Sư đoàn Bộ binh 57 của Trung tướng Trowitz, nằm ở đầu mối giao thông, nơi tiếp giáp giữa 2 Tập đoàn quân IV và IX. Mọi thứ đều sụp đổ, và Hồng quân đã thọc sâu vào phòng tuyến của người Đức. Cụm Tập đoàn quân Trung tâm phản ứng rất nhanh chóng, đặt toàn bộ lực lượng Đức còn lại trong khu vực dưới sự điều hành chung của Tập đoàn quân IX. Busch cũng đưa Sư đoàn Bộ binh 707 của Thiếu tướng Gustav Gihr vào Tập đoàn quân IX với mệnh lệnh phải chặn đứng bước đột phá của người Nga. Đồng thời, ông ta cũng điều Sư đoàn Panzer 20 cho Tập đoàn quân IX, mặc dù lúc này chỉ còn một đơn vị, giúp Tập đoàn quân IX lấy lại sự liên lạc với Tập đoàn quân IV và khôi phục lại phòng tuyến của mình.

    Ban đầu, có vẻ như tình hình được khôi phục được phần nào. Ngày hôm đó, Quân đoàn XXXV đã loại khỏi vòng chiến 80 xe-tăng địch, cuộc phản công của Sư đoàn Bộ binh 707 đã dành một chút thành công bước đầu và tại khu vực phía nam, Quân đoàn Panzer XLI (41) đẩy lùi được một số cuộc tấn công của người Nga; tuy nhiên, quân Sô-viết đã chọc thủng phòng tuyến của người Đức ở phía tây bắc Chechnen, tại các điểm giao cắt của 2 Sư đoàn Bộ binh 35 và 36. Màn đêm đổ xuống, họ đã tạo ra một lỗ thủng rộng 3 dặm ở đầu mũi giáo tấn công và rộng 12 dặm tại phần đuôi, sâu tới 8 dặm vào hậu phương quân Đức. Quân đoàn Panzer XLI (41) báo về họ đang phải chống chọi với 15 Sư đoàn Bộ binh và 3 Sư đoàn tăng Sô-viết . Tướng Jordan buộc phải đối phó với tình hình tuyệt vọng bằng cách chuyển gấp 2 Tiểu đoàn Bộ binh và 5 đơn vị pháo binh từ Quân Đoàn LV (55) bên cánh phải của ông, nơi không phải chịu đựng những cuộc tấn công nặng nề của người Nga. Lúc 22.00 đêm, Jordan đã ra lệnh cho Sư đoàn Panzer 20 quay lại phía nam, để đối phó với mối đe dọa của người Nga với Panzer XLI (41). Tuy nhiên, phải mất một thời gian đáng kể để tái tập kết Sư đoàn và di chuyển từ một cánh thuộc Tập đoàn quân IX đến khu vực đang trong tình trạng nguy kịch….

    Busch gặp Tổng tham mưu trưởng Zeitzler tại Bộ Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân ở Minsk trong ngày 24/6/1944. Lúc này, họ mới xác định được quân Nga đã đồng loạt tấn công trên một chiều dài 430 dặm của phòng tuyến với hơn 200 Sư đoàn, tất cả trong trạng thái hoàn hảo hoặc gần đầy đủ sức mạnh. Cụm Tập đoàn quân Trung tâm đang phải đối mặt với họ trong các khu vực bị tấn công với thành phần vẻn vẹn 28 Sư đoàn, hầu như tất cả trong số đó đều ở trạng thái không đầy đủ sức mạnh. Dĩ nhiên, ngay trong lúc này, vị Thống chế chiến trường không thể đưa ra ngay một lý do thuyết phục để xin phép thực hiện một cuộc rút quân tổng thể nhưng trong sự đắn đo về mọi giải pháp thực hiện của mình, Busch đã yêu cầu xin được phép triệt thoái ra khỏi Vitebsk và kéo Tập đoàn quân Panzer III trở lại theo hướng tây nam. Ngay trong chiều hôm đó, Tổng tham mưu trưởng Zeitzler chuyển lời đề nghị này tới Quốc trưởng nhưng bị từ chối ngay tức thời. Điều mà Hitler làm trong lúc này là ra lệnh cho các Sư đoàn Bộ binh 212 và 290 (từ Cụm Tập đoàn quân Bắc), Sư đoàn Panzer 5 (từ Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraine) cấp tốc tăng viện cho Cụm Tập đoàn quân Trung tâm. Sẽ phải mất vài ngày, số quân này mới tới được. Ngay tối hôm đó, cá nhân Busch đã gọi điện cho Hitler nhưng không thuyết phục được ông chủ của mình: Quân đoàn LIII (53) vẫn phải ở lại Vitebsk…
    meo-u, gaume1, tatpcit4 người khác thích bài này.
  2. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    948
    Đã được thích:
    4.348
    Trong khi ấy, bên trong “pháo đài địa phương” Vitebsk, tình hình xấu đi một cách nhanh chóng. Tại mấu lồi này, diễn ra một câu chuyện quá cũ muôn thưở: mỗi người lính Đức phải bảo vệ quá nhiều đất đai. Ở đây – Vitebsk – Tướng Gollwitzer chỉ có 4 Sư đoàn trong tình trạng kiệt quệ, đó là các Sư đoàn Bộ binh 206 và 246, Sư đoàn Dã chiến Luftwaffe 4 và 6, họ phải bảo vệ một phòng tuyến dài tới 55 dặm. Tổng số quân thuộc 4 Sư đoàn kể trên là 8.123 người, đã cho chúng ta chỉ số trung bình là 150 người/1 dặm trong vùng xảy ra chiến sự hay nói cách khác là mỗi người lính Đức phải bảo vệ 12 mét Anh. Số quân dự trữ của Gollwitzer chỉ còn lại 1 Tiểu đoàn thuộc Lực lượng đặc biệt Luftwaffe, một Tiểu đoàn pháo binh hạng nặng, kết hợp với 2 Đại đội chống tăng hầu như không đủ để chặn đà tiến của 2 Tập đoàn quân hung mạnh Sô-viết. Chỉ vào cuối ngày đầu tiên của chiến dịch, Vitebsk đã bị bao vây tới 2/3….

    “Tôi có thể làm gì? Tôi có thể làm gì?”, Busch đã nhiều lần đặt câu hỏi với Tham mưu trưởng của ông, Trung tướng Kreb – đó là một công việc bất khả thi trong việc cố gắng cứu vãn tình thế vào tầm kiểm soát của mình. Mọi thứ có lẽ là quá muộn, “pháo đài địa phương” bị vây chặt, người Nga nhanh chóng đẩy bật các lực lượng thuộc Tập đoàn quân Panzer III, Quân đoàn IX và VI ra xa khỏi Vitebsk. Quân đoàn VI bảo vệ cánh phải đang ở trong tình trạng vô cùng thảm hại. Suốt 4 ngày trời, nó liên tục bị Tập đoàn quân Xe-tăng V Sô-viết được yểm trợ bởi 500 khẩu pháo binh hạng nặng tấn công và gần như rơi vào tình trạng bị áp đảo. Tất cả các Sư đoàn đều bị nghiền nát, và Sư Đoàn Bộ binh 299 của Ralph von Oriola đã bị tràn ngập vào sáng ngày 25 tháng Sáu. Lực lượng Quân đoàn VI (bao gồm các Sư đoàn Bộ binh 95, 14, 256, và 299) đã bị đẩy bật vào khu vực tác chiến thuộc Tập đoàn quân IV, cho nên đã chịu quyền chỉ đạo thuộc Tập đoàn quân IV từ giữa trưa. Tư lệnh kỳ cựu của Quân đoàn, Tướng pháo binh Georg Pfeiffer (*), đã bị thương nặng trong một cuộc không kích của máy bay Sô-viết ở bên ngoài Mogilev khoảng 8 giờ tối ngày 28/6/1944 trong lúc đang cố gắng tập hợp đám tàn quân đáng thương bằng sự chỉ đạo của mình. Chắc chắn Georg Pfeiffer không thể làm được điều gì trong các ngày 23, 24 và 25 tháng Sáu để giải nguy cho số phận của Vitebsk…..

    Trong khi trận chiến bùng nổ, Hitler đã ra lệnh cho Luftwaffe cử một sĩ quan tham mưu nhảy dù vào trong Vitebsk, gặp Gollwitzer buộc ông ta phải đảm bảo giữ vững vị trí cho đến người lính cuối cùng. Đương nhiên, Busch, chuyển tiếp lệnh này. Ý tưởng về phi vụ tự sát này đã không bị xếp xó cho đến khi Tướng Reinhardt điện lại cho Busch : “Ngài hãy nói với Quốc trưởng rằng tôi luôn sẵn sàng tuân lệnh, nhưng chỉ có một sĩ quan thuộc Tập đoàn quân Panzer III có thể thực hiện được nhiệm vụ – đó là người chỉ huy. Tôi luôn sẵn sàng thực hiện mệnh lệnh đến từ Fuehrer !”…. Busch chuyển thông điệp này cho OKH. Một giờ sau, Hitler đã hủy bỏ….

    Tối ngày 24 tháng 6, Hitler cuối cùng quyết định cho phép Tướng Gollwitzer được phép triệt thoái ra khỏi Vitebsk với ba trong số bốn sư đoàn của mình, chỉ để lại Sư Đoàn 206 Bộ Binh của Trung Tướng Alfons Hitter ở lại (nhằm mục đích giữ danh dự cho người Đức.ND). Gollwitzer không làm theo tinh thần trong các mệnh lệnh của Hitler và ông ta mang theo phần lớn Sư đoàn Bộ binh 206 khi họ bị cắt đứt đường rút lui trong ngày 25/6/1944. Tuy nhiên, Quân đoàn LIII chỉ di chuyển hơn chục dặm đường trước khi bị rơi vào một vòng vây khác trong ngày hôm sau. Các chỉ huy Sư đoàn Dã chiến Luftwaffe 4 và 6 là Trung tướng Robert Pistorius và Rudolf Peschel đều bị giết khi quân Nga giải quyết xong xuôi túi vây. Cuối cùng Gollwitzer đã chấm dứt chống cự trong buổi sáng ngày 27/6/1944. Ông cùng với 270 người còn lại đã đầu hàng người Nga, 2/3 trong số đó bị thương. Tướng Alfons Hitter cũng buông súng đầu hàng cùng ngày hôm đó. 27.000 người lính đã mất tích, hầu hết trong số họ đã bị bắt trong thời gian phá vây….

    Tại rìa phía nam của nồi hơi, Phương diện quân Belorussian I đã tung toàn bộ lực lượng trong tay vào cuộc tổng công kích trong ngày 24 tháng Sáu. Ngày hôm sau, Tướng Jordan yêu cầu được phép rút toàn bộ Tập đoàn quân IX của mình ra khỏi túi vây nằm giữa 2 con sông Dnieper và Beresina, nhưng Busch trả lời rằng nghĩa vụ của quân đội là phải giữ từng tấc đất và không tự nguyện từ bỏ bất cứ thứ gì. ”Chịu trách nhiệm khi gửi đi một bản báo cáo, chúng ta phải chấp nhận các mệnh lệnh của cấp trên của mình ngay cả khi được thuyết phục hơn theo chiều hướng ngược lại..”. Tướng Jordan viết tiếp trong cuốn nhật ký chiến tranh của Tập đoàn quân IX. "Điều tồi tệ hơn cả là khi biết rằng toàn bộ các thông tin không thỏa đáng từ Cụm Tập đoàn quân gửi xuống không phải là một sản phẩm của người chỉ huy đang cố gắng hết sức để đạt được mục đích mà chỉ là một nỗ lực thực hiện các mệnh lệnh đã trở thành lỗi thời bởi vì tình hình liên tục thay đổi ..”

    …………………………….

    (*) Quân Đoàn VI mất liên lạc với Tập đoàn quân Panzer III trong ngày 25 tháng Sáu và chuyển sang thành phần thuộc Tập đoàn quân IV. Tướng Georg Pfeiffer đã chiến đấu trong Thế chiến thứ nhất và, giống như nhiều sĩ quan trong thời đại của ông, đã trải qua những năm 1920-1935 trong ngành cảnh sát. Ông bắt đầu chỉ huy Trung đoàn pháo binh 37 (1937-39), Bộ chỉ huy pháo binh 105 (1939-40), Sư đoàn Bộ binh 94 (1940-43), Sư đoàn Bộ binh 306 (1943-44), và quyền chỉ huy Quân đoàn VI (20/5/1944). Ông được thăng chức Tướng pháo binh vào ngày 1/5/1944….
    bloodheartvn, meo-u, tatpcit2 người khác thích bài này.
  3. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    948
    Đã được thích:
    4.348
    Jordan đã trì hoãn vài giờ trước khi cam kết tung lực lượng dự trữ đáng kể duy nhất – Sư đoàn xe-tăng 20 – vào trận đánh bên cánh nam của ông, có lẽ vì ông không muốn hy sinh họ một cách vô ích. Sau đó, Sư đoàn lại bị trì hoãn thêm vài giờ nữa bởi vì phải di chuyển trên những con lộ xấu, đã thế lại luôn bị tắc nghẽn bởi vị dòng người tản cư, tỵ nạn đang trong tình trạng hoảng sợ. Khi Sư đoàn bắt đầu phản kích, họ đã tiêu diệt được tới 60 xe-tăng Sô-viết chỉ trong một ngày (25/6/1944), nhưng họ chỉ có 71 xe tăng hoạt động, khoảng một nửa trong số đó là PzKw IV (Panzer IV), một loại xe tăng đã bị các xe-tăng Nga áp đảo tại mặt trận Miền Đông kể từ năm 1944 (1). Đối thủ của họ có tới 300 xe-tăng. Sư đoàn tăng 20 cũng đã mất khoảng ½ số xe-tăng trong trận đánh này. Họ cũng không thể cản nổi mũi đột phá của Hồng quân xuyên qua tuyến phòng thủ thuộc Quân đoàn Panzer XLI (41) của tướng Edmund Hoffmeister với lực lượng thiết giáp cơ động mạnh và hướng thẳng tới Bobruisk. Trong lúc đó, bên sườn trái của Hoffmeister, Quân Đoàn XXXV đã bị xé toạc trong ngày 25/6/1944. Khi màn đêm buông xuống, các Quân đoàn Panzer XLI (41) và XXXV (35) đã loại khỏi vòng chiến tới 120 xe tăng Sô-viết, nhưng các Sư đoàn Bộ binh 134 và 296 đã bị đập nát, Sư Đoàn Bộ binh 35 chỉ còn là đám tàn quân, và những người Nga di chuyển rất nhanh, vòng qua các Sư Đoàn Bộ binh 707 và 134 ở phía tây nam của Buda.

    Có lẽ một điều mỉa mai nhất khi cho rằng Quân đội Đức, mà trong năm 1940 đã làm choáng váng thế giới với chiến thuật blitzkrieg (chiến tranh Cơ động), giờ đây lại là Quân đội chủ lực có tính chất Cơ động ít nhất tại châu Âu năm 1944. Trên thực tế, có một sự thật chỉ ra là người Đức không hề bị lạc hậu; hoặc những nước khác bắt kịp và sau đó vượt qua Wehrmacht trong lĩnh vực chiến tranh Cơ động, hoặc các dây chuyền sản xuất hàng loạt tại Anglo-Saxon (chủ yếu là ở nước Mỹ) san bằng thế quán quân quyền lực chống lại nước Đức. Nhưng các đơn vị xe tăng và cơ giới di động của Đức chỉ chiếm khoảng 10,8% tổng số quân đội Đức trong năm 1944, phần lớn các Sư đoàn Đức lại được tạo thành, nâng cấp từ các đơn vị xe ngựa kéo. Điển hình hơn cả là trong một Sư đoàn bộ binh, đơn vị được Cơ giới duy nhất lại là đại đội cứu thương…Đã thế, Hồng quân được cung cấp với số lượng không hạn chế qua Hiệp ước Lend-Lease với Mỹ (đặc biệt là loại xe tải 2,5 tấn) trở thành một trong những Quân đội được Cơ giới hóa nhiều nhất trên thế giới vào năm 1944. (Từ Studebaker sẽ là đồng nghĩa với xe tải lưu hành tại Liên Xô trong nhiều năm tới). Một khi người lính Nga đuổi sát nút các Sư đoàn Bộ binh Đức– như trong thời điểm tháng 6 năm 1944 – thì những người lính chân trần Bộ binh Đức ít có cơ hội thoát thân. Họ chỉ có thể hy vọng đào thoát, và ngay cả điều này phụ thuộc vào đồng đội của họ ổn định được chiến tuyến, để bản thân lính Đức sẽ không phải trải qua một cuộc chạy trốn quá xa đích đến….





    ☆☆☆☆☆☆





    Vào ngày 26 tháng Sáu, Busch bay tới Obersalzburg và gặp Hitler để thuyết phục về chính sách phòng thủ không khoan nhượng của Quốc trưởng, nhưng không đạt được thành công. Đi cùng với vị Thống chế là tướng Jordan, người được lệnh triệu tập tới Tổng hành dinh Quốc trưởng để giải thích những do dự và lúng túng của mình trong việc điều hành Sư đoàn tăng 20. Cuộc gặp đã không đi tới một kết quả nào cả. Vào ngày 27/6/1944, Busch, có thể hành động theo chỉ thị của Hitler, đã sa thải Jordan với lý do lãnh đạo mang tinh thần chủ bại và cử tướng Pháo binh Helmuth Weidling (2), cựu Tư lệnh Quân đoàn Panzer XLI (41) trước kia tiếp nhận. Weidling tạm thời nắm quyền chỉ huy cho tới khi người thay thế chính thức, Tướng xe-tăng Nikolaus von Vormann (3) tới nhận nhiệm vụ…Một lần nữa, mọi thứ trở nên quá muộn: người Nga hầu như đã tiêu diệt được Quân đoàn Panzer XLI (41) trong ba ngày chiến đấu khốc liệt, vòng qua Bobruisk, luồn sâu vào hậu phương thuộc Tập đoàn quân IX. Đúng là Jordan lúc đầu đã ném Sư đoàn tăng 20 quá sớm và quá xa về phía bắc, và sau đó do dự điều chuyển nó trở về vị trí thích hợp. Tuy nhiên, ngay cả khi ông điều chuyển Sư đoàn tăng 20 trở về vị trí thích hợp sớm hơn một ngày và sử dụng theo cách tốt nhất mà ông ta có thể làm được …tình hình vẫn khó thể có sự khác biệt khả dĩ nào cả….

    Trong 100.000 người thuộc Tập đoàn quân IX, chỉ có 30.000 người thoát chết, Hoffmeister nằm trong số những người bị bắt. Quân đoàn XXXV của Trung tướng kỵ binh Kurt-Jurgen von Luetzow (4) có 34.000 đã bị rơi vào túi vây ở Bobruisk, nơi họ phải chịu đựng những cuộc tấn công nặng nề từ đợt sóng thứ hai của quân Nga. Cuối cùng khi Luetzow đầu hàng trong ngày 29/6/1944, chỉ còn có 16.000 người sống sót. Thế là thêm 4 Sư đoàn Đức nữa bị tiêu diệt. Trong quá trình chiến đấu, Các Thiếu tướng Ernst Phillipp và Karl Zutavern, chỉ huy Sư đoàn Bộ binh 134, Sư đoàn Bộ binh Cơ giới 18 thà tự sát còn hơn là đầu hàng người Nga…..

    ……………………………

    (1).Từ giữa năm 1944, PzKw IV (Panzer IV) đã bị áp đảo bởi phiên bản nâng cấp của T-34 là T-34-85, trang bị pháo 85 mm (3,35 in) và vỏ giáp dày hơn. Những xe tăng hạng nặng của Liên Xô như xe tăng IS-2 mang pháo 122 mm (4,80 in) thì có thể dễ dàng tiêu diệt PzKw IV (Panzer IV) ở cự ly khá xa

    (2).Sĩ quan pháo binh, Helmuth Weidling đã chỉ huy Trung đoàn pháo binh 56 và 20 (1939-40), Trung đoàn pháo binh 128 (1940-41), và Sư đoàn Bộ binh 86 (1942-43) trước khi đảm nhận vị trí chỉ huy Quân đoàn Panzer XLI (41). Vào tháng 4 năm 1945, ông được bổ nhiệm làm chỉ huy Quân đoàn xe-tăng LVI (56) và chiến đấu bảo vệ Berlin. Ông đã chấm dứt công cuộc phòng thủ Berlin, đầu hàng người Nga trong ngày 3/5/1945, 4 ngày sau khi Hitler tự sát. Weidling chết trong một nhà tù của Sô-viết vào những năm 1950.

    (3).Nikolaus von Vormann là người xuất thân từ Tây Phổ. Ông là một Sĩ quan tham mưu thuộc Tổng hành dinh Quốc trưởng (1939), tham mưu trưởng Quân đoàn XXVIII (1940-42), chỉ huy Sư Đoàn Xe-tăng 23 (1942-43) và chỉ huy Quân Đoàn Xe-tăng XXXXVIII (1943-44) . Vào cuối chiến tranh, Vormann là chỉ huy của pháo đài Alpine Redoubt nổi tiếng, nhưng chỉ có tên trên giấy tờ mà không tồn tại. Ông sống ở Berchtesgaden sau chiến tranh....

    (4).Xuất thân từ một dòng họ quân đội thuộc nước Phổ cổ xưa, Baron Kurt-Juergen von Luet-zow bước vào phục vụ quân đội trong năm 1914. Trong Thế chiến II, ông là Tư lệnh Trung đoàn Bộ binh 89 (1939-42), Sư đoàn 12 Bộ binh (1942-44), và Quân đoàn XXXV (từ ngày 25 tháng 6 năm 1944, cho đến khi đầu hàng). Ông phải sống trong trại tù binh Sô-viết cho đến năm 1956.
    ngthi96, meo-u, tatpcit2 người khác thích bài này.
  4. MD_2015

    MD_2015 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    14/07/2017
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    Chỉ có Tập đoàn quân Panzer III, phụ trách bảo vệ khu vực sườn bắc thuộc Cụm Tập đoàn quân, có lẽ là yếu hơn 2 Tập đoàn quân kể trên. Vũ khí hạng nặng của họ chỉ có 3 Tiểu đoàn pháo tự hành xung kích và một Tiểu đoàn pháo tự hành săn tăng hạng nặng (gồm pháo tự hành Nashorn mang tên là Hornisse hoặc Hornet – Ong vò vẽ, tên một loại pháo tự hành chống tăng 88 mm). Toàn bộ Tiểu đoàn có từ 60-80 khẩu pháo tự hành chống tăng loại này….

    Em thấy đoạn này 1 tiểu đoàn sao có nhiều pháo thế60-80 khẩu, 3 tiểu đoàn chắc 200 khẩu. Nếu Nga biên chế chắc được 2 sư đoàn pháo tự hành
  5. MD_2015

    MD_2015 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    14/07/2017
    Bài viết:
    26
    Đã được thích:
    4
    38 sư đoàn x 2.000 =76.000/700.000 quân của cụm tập đoàn quân, liệu ước tính này có ổn không?
    Một thống kê cụ thể




    Quân số


    Pháo binh

    Quân đoàn 39


    12.417


    349=248+43 (P88)+58 xe tăng

    Trung bình 1 Sư đoàn

    3104.25


    248/4=62

    Quân đoàn 39 ở phía trước đoạn Orsa-Moghilep trung tâm mặt trận có 1,2 vạn. Em thấy con số nó cứ thế nào ấy các bác ạ
    danngoc thích bài này.
  6. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    948
    Đã được thích:
    4.348
    THÔNG TIN TỪ CÁC NGUỒN NHIỀU LÚC RẤT KHÁC NHAU...ANH CHỈ LÀ NGƯỜI DỊCH...SÁCH GHI NHƯ THẾ NÀO....ANH VIẾT LẠI NHƯ VẬY.....ANH CŨNG XEM QUA CẢ MỘT MỚ TÀI LIỆU VÀ GOOGLE....NHƯNG THÔI, MÌNH CỨ COI NHƯ LÀ OK....ĐƯỢC MD 2015 VÀ ÔNG BẠN GIÀ DANNGOC NHẢY VÀO LÀ ANH VUI RỒI...MỌI NGƯỜI CỨ THƯỞNG THỨC NHÉ...
    danngocMD_2015 thích bài này.
  7. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    948
    Đã được thích:
    4.348
    Trong ngày 25 tháng 6, Tập đoàn quân IV cũng phải đối mặt với một tình huống bi đát. Tại khu vực trung tâm, Quân đoàn Panzer XLI (41) đã bị quân Nga xuyên thủng và áp đảo hoàn toàn. Các Tập đoàn quân láng giềng ở phía nam và bắc – Tập đoàn quân Panzer III và Tập đoàn quân IX – đang trên đà sụp đổ. Tướng von Tippel-skirch tự nhận trách nhiệm về mình và ông ra lệnh rút lui về sông Berezina, mà không cần thông báo về Cụm Tập đoàn quân Trung tâm. Busch phản ứng dữ dội khi biết được tin này, truyền ngay một công văn hỏa tốc cho Tippelskirch, yêu cầu Tập đoàn quân IV phải dừng lại ngay, nhưng Tippelskirch cũng phớt lờ mệnh lệnh này. Ông đã chỉ đạo các tướng Voelkers và Martinek, Tư lệnh các Quân đoàn XXVII và Quân đoàn Panzer XXXIX chỉ để đội chặn hậu bảo vệ các vị trí hiện tại, còn đại bộ phận phải tiếp tục rút lui đồng thời cũng cảnh báo họ hết sức lưu ý những gì họ trình bày trong các bản báo cáo gửi về Cụm Tập đoàn quân. Rõ ràng Tippelskirch đã làm trái với mệnh lệnh của cấp trên, nhưng hai tư lệnh quân đoàn được yêu cầu đã làm theo mệnh lệnh của ông ta chứ không phải là Busch và Tham mưu trưởng, tướng Krebs. “Mệnh lệnh yêu cầu đứng vững đến cùng là những mệnh lệnh mang tính chất hủy diệt của Hitler….sẽ dẫn đến một sự sụp đổ nếu chúng ta chấp hành và phục tùng mệnh lệnh này…”. Tướng Gerd Niepold (*) đã viết tiếp sau đó: ”Đối với các chỉ huy chiến trường, lòng trung thành với quân đội của họ có ý nghĩa nhiều hơn là tuân theo những mệnh lệnh vô nghĩa và lố bịch như vậy….”

    Ngoài việc thể hiện kỹ năng tuyệt vời trong việc đánh lừa kẻ thù, Tippelskirch còn chứng minh được khả năng chiến thuật đáng kể trong cuộc rút lui của mình, mặc dù trên thực tế là Không quân Đỏ đã phóng ra một cuộc không kích ném bom hiếm hoi vào trụ sở Tập đoàn quân trong đêm 26-27 tháng Sáu, phá hủy hầu hết các thiết bị thông tin liên lạc của họ. Ông đã rút lui về Minsk và đã chuẩn bị phá hủy cầu treo bắc qua sông Benezina. Tuy nhiên,Tippelskirch không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải đứng vững tại phía đông của Minsk, hoặc phải bỏ rơi 2 Quân đoàn XXVII và Panzer XXXIX. Khi ông chuẩn bị để bảo vệ thành phố với các đội quân bảo vệ và bất kỳ lực lượng nào mà ông có thể tìm được (gồm 5 Trung đoàn cảnh sát cũng như đám tàn quân thuộc 2 Sư đoàn Bộ binh 31 và 267), để chờ đợi lực lượng tăng viện đầu tiên – cũng là xuất sắc nhất – của Hitler tới được chiến trường (bản đồ 5 cho thấy tình hình chiến sự trong khu vực của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm vào đêm ngày 26 tháng Sáu).

    Hồng quân bắt đầu bao vây Minsk trong ngày 27 tháng Sáu, trùng với thời điểm Sư đoàn xe-tăng 5 tới thành phố. Trước mắt những người lính xe-tăng Đức là một quang cảnh có thể làm mất tinh thần bất cứ một Sư đoàn nào. Tất cả đang trong cơn hoảng loạn. Tất cả các con đường quốc lộ kẹt cứng những người bị tụt hậu, lạc đơn vị, nhiều người trong số họ không hề có vũ khí, tạo thành những đám đông vô tổ chức, chỉ cố gắng đào thoát ra khỏi nước Nga. Tuy nhiên, Sư đoàn xe-tăng 5 không hề tỏ ra hoảng sợ. Sư đoàn là một trong những đơn vị được trang bị tốt nhất của Wehrmacht, đặc biệt được dẫn dắt bởi một chỉ huy dày dạn kinh nghệm là Trung tướng Karl Decker. Những người lính tăng trong Sư đoàn đã từng chiến đấu ở Ba Lan, Bỉ và Pháp và đã trải qua ba năm lăn lộn tại Mặt trận miền Đông. Sư đoàn đúng là một sự phù hợp với tiêu chuẩn Đức, rất mạnh mẽ trong năm 1944 bao gồm 70 Panthers và 55 PzKw IV. Cùng tăng cường cho Sư đoàn là Tiểu đoàn xe-tăng hạng nặng 505, có tới 29 chiếc Tigers loại tối tân nhất (PzKw Vis).Mặc dù những người lính của Sư đoàn có thể giật mình bởi những gì họ đã trông thấy ở Minsk, nhưng điều đó không có nghĩa là họ bị mất tinh thần.

    Tippelskirch đã giao nhiệm vụ bảo vệ Minsk và duy trì mối liên kết với Tập đoàn quân Panzer III cho một tướng người Đông Phổ, có uy tín và năng lực cao, đó là Trung tướng Dietrich von Saucken. Người gầy, tóc đen, Saucken thực sự xuất sắc trên cương vị chỉ huy Sư đoàn xe-tăng 4 và cho tới gần đây đã từng giữ chức Phó Tư lệnh Quân đoàn Panzer III. Xuất thân ban đầu là một sĩ quan kỵ binh, ông thường mang bên mình hai thứ; thanh kiếm và cái kính một mắt.

    Tập hợp những người xung quanh, Saucken thành lập ra chiến đoàn von Saucken, bao gồm lực lượng đặc biệt tạ Sở chỉ huy Quân đoàn, rút ra chủ yếu từ các Sĩ quan tham mưu đang làm việc ở phía sau hậu phương Quân đoàn Panzer XXXIX. (Sau khi Quân đoàn này tan vỡ, chiến đoàn von Saucken được nâng cấp và trở thành các nhân viên tham mưu cho Quân đoàn Panzer XXXIX mới). Ông đã bố trí Sư đoàn xe-tăng 5 bảo vệ ga Krupki nằm ở phía đông bắc Minsk, thuộc bờ đông con sông Berezina, nơi mà ông dự kiến đòn tấn công chính của Nga sẽ đánh vào đó. Mục tiêu của Sư Đoàn xe-tăng 5 hết sức rõ ràng: phải giữ các lối thoát hiểm qua sông Berezina càng lâu càng tốt….

    …………………………….

    (*).Gerd Niepold là Tư lệnh Sư đoàn Tăng 12 trong trận chiến Bạch Nga. Ông tốt nghiệp Học viện Chiến tranh và là thành viên của Bộ Tổng Tham Mưu, ông từng chiến đấu ở Ba Lan và Pháp và phục vụ gần bốn năm trên Mặt trận miền Đông trước khi được chuyển đến làm nhân viên của Học viện Chiến tranh lúc gần cuối Thế chiến thứ II. Sau chiến tranh, ông tiếp tục đi học và trở thành kỹ sư xây dựng, trải qua nhiều năm làm kiến trúc sư ở Frankfurt trên sông Main trước khi gia nhập lực lượng vũ trang Tây Đức (Bundeswehr) vào năm 1956. Tại đây, ông chỉ huy một đoàn Lữ đoàn tăng, một Sư đoàn cơ giới hóa, và Quân Đoàn III tại Kolbenz. Cuốn sách Trận chiến tại Bạch Nga lấy nguồn chính trong thời điểm này. Gerd Niepold sinh năm 1913 tại Stargard, Pomerania (nay là một phần của Ba Lan), và gia nhập Trung đoàn Bộ binh 11 với tư cách là một Học viên Sĩ quan vào năm 1932. Ông có một con trai (luật sư) và một con gái (giáo viên hội họa và thiết kế).
    --- Gộp bài viết: 10/11/2018, Bài cũ từ: 10/11/2018 ---
    [​IMG]
    BẢN ĐỒ SỐ 5 : TÌNH HÌNH CHIẾN SỰ THUỘC KHU VỰC TẬP ĐOÀN QUÂN TRUNG TÂM TRONG ĐÊM 26.6.1944.....
    huymaya, ngthi96, tatpcit3 người khác thích bài này.
  8. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    948
    Đã được thích:
    4.348
    Vị trí mà Saucken và Decker (1) dự kiến sắp xếp cho Sư đoàn tăng số 5 thật là hoàn hảo, cũng giống như Quân đoàn xe-tăng Cận vệ III Sô-viết, mũi giáo chủ công của Phương diện quân Belorussian III chuẩn bị tiếp cận tới ga Krupki. Thật không may cho Decker, Trung đoàn tăng số 31 thuộc Sư đoàn (di chuyển bằng đường sắt) chưa đến kịp, nhưng ông ta có Tiểu đoàn xe-tăng hạng nặng 505, Tiểu đoàn tăng trinh sát số 5, Tiểu đoàn Công binh 89, và 2 Trung đoàn Bộ binh Cơ giới số 13 và 31 ở vị trí sẵn sàng khi cú đánh đầu tiên của người Nga đập xuống.

    Tối ngày 28 tháng Sáu, Quân đoàn xe-tăng Cận vệ III Sô-viết đã lao tới địa ngục gần ga Krupki; nó đã bị tàn sát bởi những chiếc Tiger của Tiểu đoàn 505. Mặc dù số lượng tăng nhiều hơn, nhưng thành phần xe-tăng của người Nga toàn là xe tăng M4A2 Sherman, ít có cơ hội chống trả những nòng pháo hạng nặng của Tiger, loại 88 mm có tầm bắn xa hơn so với những khẩu 75 mm trên những chiếc xe tăng do Mỹ sản xuất. Tuy thế, người Nga vẫn tấn công suốt đêm, kết hợp với bóng đêm đã giảm thiểu tầm bắn đang chiếm ưu thế của những chiếc Tiger. Cuối cùng, Hồng quân vẫn chiếm được ga Krupki vào 7.00 sáng hôm sau, nhưng bị thiệt hại hàng chục chiếc xe bọc thép. Đúng là toàn bộ một quân đoàn tăng Sô-viết đã bị trừng phạt bởi một tiểu đoàn được tăng cường của người Đức.

    Với lợi thế chiếm được ga Krupki, người Nga cố gắng vượt sông Berezina tại Borisov và thọc vào sườn Sư đoàn tăng số 5. Nhưng họ chạy vào một cái bẫy phục kích được dựng lên bởi Tiểu đoàn tăng Công binh 89. Bị đánh bật lại, quân Sô-viết vẫn cố gắng tiến xa hơn về hướng bắc, để bắt liên lạc với Quân đoàn xe-tăng XXIX đang muốn vượt qua sông Berezina tại Studenka, nơi có những chốt bảo vệ thuộc Tiểu đoàn tăng trinh sát số 5. Một lần nữa, người Nga buộc phải dừng chân….

    Đúng vào thời điểm này, 5 Sư đoàn Bộ binh cơ giới thuộc Tập đoàn quân Cận vệ XI đã bắt kịp được với đội tiên phong Sô-viết. Tướng Pavel Rotmistrov, tư lệnh Quân Đoàn Tăng V đã ném ngay vào chiến trận gần làng Kostritsa, được Trung đoàn Bộ binh Cơ giới 31 Đức phòng ngự một cách bền bỉ, ngoan cường. Hồng quân buộc phải tạm ngừng đà tiến trong một trận chiến hết sức khốc liệt.

    Nếu như Tippelskirch có trong tay 5-6 Sư đoàn có sức mạnh và chất lượng tương tự như Sư đoàn tăng số 5 thì ông ta có thể chiến thắng trong trận Minsk. Nhưng trong tay ông ta không hề có, và Sư đoàn không thể giăng ra nhiều nơi trong cùng một lúc. Đêm 29 tháng Sáu, Quân đoàn xe-tăng XXIX kết hợp Quân đoàn Cơ giới hóa Cận vệ III Sô-viết đã thọc sâu vào sườn Sư đoàn tăng số 5, vượt qua phía bắc con sông Berezina gần Borisov. Phía nam Borisov, hai Sư đoàn Bộ binh thuộc Tập đoàn quân Cận vệ XI Sô-viết đã đánh bại các Trung đoàn cảnh vệ của Tippelskirch và đang tìm cách băng qua dòng sông….Ở phía nam, Tập đoàn quân XXXI Sô-viết đã loại bỏ những đám tàn quân thuộc các Sư đoàn 31 và 267 Đức và tiến hành vượt sông tại một số điểm. Thế là quá đủ cho tướng Decker. Ông ra lệnh cho Trung đoàn Bộ binh Cơ giới 31 triệt thoái về Borisov, và sau đó ông ta vượt sông trở về với phần lớn lực lượng của Sư đoàn (riêng Chiến đoàn von Saucken, được tăng cường thêm quân của Sư đoàn tăng số 5 đã bảo vệ một cây cầu nối với bờ đông tại Shukovets cho tới tận đêm mồng 2 rạng ngày 3/7/1944) ..Khi người Đức rút lui, một mũi tiên phong của Hồng quân đã hung hăng đuổi theo, cố gắng chớp thời cơ để chiếm đoạt cây cầu còn nguyên vẹn. Các công binh xe-tăng Đức vẫn bình tĩnh chờ đợi khi một số lớn quân cùng với 2 xe-tăng Sherman ở bên trên mới điểm hỏa cho nổ tung cầu hất toàn bộ mọi thứ xuống sông…

    Khi Sư đoàn tăng số 5 chuẩn bị cho cuộc phản kích tiếp theo, tình cờ bắt được một bức điện từ các lãnh đạo Hồng quân, đã dành một sự tôn trọng cao nhất khó có thể tưởng tượng được từ kẻ thù. Bức điện có ghi : ” Một khi bạn chạm trán với Sư đoàn tăng số 5, hãy cố gắng đi vòng qua chúng…”

    Vào ngày 28 tháng Sáu, Busch ra lệnh cho Tippelskirch quay trở lại phía sau sông Berezina. Thực sự ông ta còn trụ tại đây trong thời điểm này, nhưng ông đã để mất 130.000 trong số 165.000 binh sĩ, sĩ quan của mình, Ông buộc phải bỏ rơi 2 Quân đoàn XXVII và XII, đang bị mắc kẹt trong một túi vây lớn hình thành ở phía đông thành phố Minsk. Theo mệnh lệnh đến từ Hitler, Tập đoàn quân IV đã phải rút lui về phía sau làm cho Sư đoàn Xung kích 78 của Trung tướng Hans Traut (2), đang làm nhiệm vụ bảo vệ “pháo đài địa phương” Orsha bị rơi vào tình trạng hợp vây, buộc phải đầu hàng trong ngày 27 tháng Sáu. Tập đoàn quân IX buộc phải bỏ lại Sư đoàn Bộ binh 12 (Trung tướng Rudolf Bamler), (3) nhóm quân phòng vệ thành phố Mogilev (Thiếu tướng Gottfried von Erdmannsdorff)(4). Sau vài ngày chống cự tuyệt vọng, cả hai đã bị bắt làm tù binh trong ngày 30 tháng Sáu (Sau đó Stalin đã treo cổ Erdmannsdorff). Và như vậy, do Tippelskirch buộc phải phục tùng Busch, cũng như Busch phục tùng Hitler, làm cho Tập đoàn quân IV hoàn toàn bị xóa sổ. Tại thời điểm này, cả 2 Tập đoàn quân IV và IX chỉ còn lại phiên hiệu, Tập đoàn quân Panzer III chỉ còn lại có 3 Sư đoàn với vẻn vẹn 70 khẩu pháo…

    Mức độ thảm họa thật là khủng khiếp. Mặc dù Cụm Tập đoàn quân Trung tâm đã nhận được viện binh lớn trong ngày 15 tháng Bảy, nhưng rõ ràng nó hoàn toàn bị sụp đổ. Một số nhóm chiến đấu đặc biệt được hình thành dưới quyền chỉ huy của Trung tướng Hermann Floerke và Thiếu tướng Friedrich Stephan (5), những chỉ huy thuộc các Sư đoàn 14 và 267 chỉ tồn tại trên giấy tờ cũng lần lượt chịu số phận tương tự. Họ cố gắng kiểm soát, khôi phục đám tàn quân bằng nhiều mệnh lệnh cấp tốc nhưng đạt được kết quả khác nhau. Cần phải lưu ý rằng, với thành phần đầy đủ thuộc 4 Tập đoàn quân, bao gồm 15 Sư đoàn Bộ binh, 2 Sư đoàn bảo vệ hậu tuyến, 3 Sư đoàn tăng hoặc Bộ binh Cơ giới chỉ được liệt kê rất đơn giản bằng dòng chữ “chưa xác định vị trí hiện tại” trong ngày 15/7/1944. Toàn bộ Cụm Tập đoàn quân Trung tâm có tới 36 Sĩ quan cấp tướng bị giết, tự sát hoặc đầu hàng (theo số liệu mới nhất khác với số liệu của cuốn Hitler-Mặt trận miền Đông) giúp cho bạn đọc hiểu rõ về tầm quan trọng của thảm họa xảy ra như thế nào…

    Trong số các lực lượng bị rơi vào thảm họa thuộc Tập đoàn quân IV thì có Sư đoàn Bộ binh Cơ giới 60 đã bị hy sinh một cách không cần thiết. Tối ngày 25 tháng Sáu, khoảng 100 xe tăng Nga đã tràn ngập các vị trí của họ tại Sukhari, trên sông Dnieper. Tướng Steinkeller (6) đã trốn thoát qua sông với đám tàn quân dưới quyền nhưng sau đó bị bắt làm tù binh gần Berezina. Chỉ có một số ít người còn sống sót thuộc Sư đoàn Bộ binh Cơ giới Feldherrnhalle (FHH) là trốn thoát khỏi thảm họa. Tướng Martinek (7) vẫn lên phòng tuyến chỉ huy trong ngày 28/6 và bị giết vào buổi chiều hôm đó. Người thay thế ông là Trung tướng Otto Schuenemann (8) của Sư đoàn Bộ binh 337 gắng sức chọc thủng vòng vây để chạy về phía tây, nhưng đã quá muộn. Ngày hôm sau, Otto Schuenemann bị giết gần Pagost, Quân đoàn Panzer XXXIX tan rã, các Sư đoàn của nó không còn tồn tại trên thực tế nữa…

    Sau đó, Hitler đã ra lệnh sa thải Busch vào ngày 28/6/1944 và cử Thống chế Model thay thế. Viên chỉ huy Cụm Tập đoàn quân bị thất nghiệp đã tạm trú tạm thời tại Trại huấn luyện Neuhammer, nơi đó, khoảng ngày 9/7/1944, ông ta được Đại úy (??)Alexander Stahlberg đến thăm theo lệnh của OKH (Bộ Tư lệnh Lục quân). Đại úy mở một tấm bản đồ tình hình và trải nó lên một tấm bàn lớn. Khi Busch “nhìn thấy những gì còn lại thuộc Cụm Tập đoàn quân Trung tâm vài ngày sau kể từ khi ông ta bị sa thải” - Stahlberg bồi hồi nhớ lại – “ông ta úp cả hai bàn tay lên mặt, khóc nấc lên rồi thả bịch cả cơ thể khổng lồ của mình xuống tấm bản đồ…”…

    Busch (9) cảm thấy bị tổn thương sâu sắc bởi mệnh lệnh sa thải, vì chính ông ta luôn là người phục tùng mệnh lệnh từ Quốc trưởng. Điều này cũng đúng đắn, nhưng trong quá trình thi hành mệnh lệnh, ông ta đã để mất hơn 300.000 người thuộc 28 Sư đoàn, cũng như 215 xe-tăng cùng trên 1.500 khẩu pháo. Đương nhiên, hầu hết các đơn vị trốn thoát chỉ là những đơn vị hậu cần, tiếp vận hoặc là phục vụ tại hậu phương. Các đơn vị thuộc tuyến đầu đã bị loại bỏ một cách không thương tiếc trong các trận chiến khốc liệt. Đó là thảm họa lớn nhất mà người Đức phải gánh chịu ở Mặt trận miền Đông trong năm 1944. Hiện tại, Walter Model, được mệnh danh là “người lính cứu hỏa của Fuehrer”, sẽ phải cố gắng để cứu được một thứ gì đó từ trong đống đổ nát hoang tàn…..

    ………………………..

    (1).Karl Decker sinh ra ở Pomerania năm 1897 và gia nhập quân đội với tư cách là một Sĩ quan Học viên một vài tuần sau khi Thế Chiến thứ nhất nổ ra. Là một sĩ quan Thiết giáp tuyệt vời đồng thời là một người lãnh đạo mẫu mực. Đầu tiên, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn Chống Tăng 1 (1936-40), Trung Đoàn tăng 1/3 (1940-41), Trung Đoàn xe-tăng số 3 (1941-43), Lữ đoàn tăng số 21 (1943), Sư đoàn tăng 5 (1943-44), và Quân đoàn Panzer XXXIX (1944-45). Ông được thăng chức nhanh chóng: Trung tá (1939), Đại tá (1942), Thiếu tướng (1943), Trung tướng (ngày 1 tháng 6 năm 1944), và Tướng xe-tăng (1/1/1945). Bị mắc kẹt trong” túi” Ruhr và cảm thấy tuyệt vọng vì nỗi thất trận của nước Đức, Tướng Decker đã tự lấy mạng sống của mình vào ngày 21 tháng Tư năm 1945, thay vì đầu hàng người Mỹ…..

    (2).Hans Traut phục vụ trong quân đội Hoàng gia trên tư cách là một Sĩ quan Học viên. Sauk hi phục vụ trong Thế chiến thứ nhât và là Sĩ quan của các lực lượng vũ trang Đức sau chiến tranh (1919-1935), ông ta làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Bộ binh 90 (1937-40), Trung đoàn Bộ binh 40 (1940-42), và Sư đoàn Bộ binh 263 (1942-43). Ông nắm quyền chỉ huy Sư đoàn Xung kích 78 (1/4 đến 1/11/1943)…đó là ngày ông ta bị thương. Sau đó lành vết thương (15/2/1944), ông ta tiếp tục sự nghiệp chỉ huy cho đến khi bị bắt làm tù binh (12/7/1944)…Ông phải trải qua thân phậm bị giam giữ cho đến năm 1955. Sau đó, ông ta về sống tại Darmstadt .

    (3).Rudolf Bamler là sĩ quan tham mưu thuộc Quân khu VII (1939), XX (1939-40), Quân đoàn Panzer XLVII (1940), and Tập đoàn quân tại Nauy (1942-44). Chức vụ quyền Tư lệnh Sư đoàn Bộ binh 12 (1/6/1944) là chức vụ chỉ huy đầu tiên của ông trong thế chiến thứ II cho đến khi đầu hàng vào ngày 27/6/1944. Tức giận vì nghĩ rằng bị hy sinh tính mạng một cách vô ích cũng như bị thúc đẩy bởi tham vọng chính trị, ông đã nhận lời làm việc cho người Nga. Từ năm 1946 cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1962, ông là một sĩ quan cảnh sát của Đông Đức. Tướng Rudolf Bamler qua đời vào năm 1972. Ôngtừng là một sĩ quan pháo binh và chỉ huy Trung Đoàn Pháo Binh 74 trước Thế chiến….

    (4). Gottfried von Erdmannsdorff trước từng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Bộ binh 171 (1939-42) và Sư Đoàn Trù bị 465 (1942-44). Ônglên nắm quyền chỉ huy lực lượng phòng vệ thành phố Mogilev trong tháng 4/1944. Bị kết án là tội phạm chiến tranh, ông bị Stalin ra lệnh treo cổ tại Minsk vào năm 1946…

    (5). Hermann Floerke được tạm quyền chỉ huy Quân đoàn năm 1945. Còn Friedrich Stephans được sinh ra ở Danzig năm 1892. Ông chỉ huy Trung đoàn Bộ binh 467 (1939-1942) trước khi chịu trách nhiệm về Sư đoàn Bộ binh 267 (tháng 1/1942). Sau đó, ông được chỉ huy Sư đoàn Khinh binh hạng nhẹ số 104 (1945) nhưng đã bị báo cáo mất tích trong trong chiến đấu vào cuối năm đó.

    (6.)Friedrich-Carl von Steinkeller gia nhập quân đội với tư cách là một Sĩ quan Học viên Kỵ binh vào năm 1914. Ông giải ngũ vào năm 1919 nhưng trở lại làm nhiệm vụ với tư cách là một Rittmeister (đội trưởng kỵ binh) vào năm 1934. Ông đã trải qua toàn bộ cuộc chiến trong đội hình xe tăng và cơ giới với tư cách là Phụ trách Mô-tô số 7 (1939-42), Trung đoàn Bộ binh Cơ giới 7((1942-44). Được phong cấp bậc Thiếu tướng vào ngày 1/6/1944 và trải qua 11 năm trong các nhà tù Sô-viết….

    (7).Robert Martinek sinh ra ở Áo năm 1889 và gia nhập quân đội Áo-Hung với tư cách là một Sĩ quan học viên vào năm 1907. Ông ta vẫn phục vụ trong quân đội Áo cho đến khi bị sát nhập vào Đế chế thứ ba trong năm 1938. Chấp nhận gia nhập Wehrmacht, ông là chỉ huy pháo binh thuộc Quân khu XVIII khi chiến tranh nổ ra. Sau đó ông chỉ huy Arko 7 [Chỉ huy pháo binh số 7] (1940-41), Tạm quyền chỉ huy Sư đoàn 267 Bộ binh (cuối năm 1941), Sư đoàn Sơn cước số 7 (1942), và Quân đoàn Panzer XXXIX (từ ngày 1/12/ 1942).

    (8).Otto Schuenemann gia nhập quân đội vào năm 1906 trên tư cách cá nhân. Ông ta bắt đầu chiến đấu trên chiến trường vào năm 1915 nhưng không được giữ lại trong quân số 100.000 người khi WW I kết thúc. Sau đó ông gia nhập cảnh sát vào năm 1920 nhưng lại trở lại phục vụ trong quân ngũ với cấp bậc Thiếu tá vào năm 1936. Trong suốt WW II, ông là Tư lệnh của Trung đoàn Bộ binh 184 (1939-42), Tư lệnh Sư đoàn Bộ binh 337 ((1942-44) trước khi nắm tạm quyền chỉ huy Quân đoàn Panzer XXXIX…

    (9).Nhờ ân sủng lớn của Quốc trưởng, Ernst Busch trở lại làm việc vào ngày 20/3/1945 với chức vụ Tham mưu trưởng thuộc Bộ chỉ huy khu vực Tây Bắc nước Đức (OB Northwest). Khu vực hoạt động của ông bao gồm bờ Biển Bắc, Schleswig-Holstein và rìa phía đông nước Hà Lan. Mặc dù ông đã cố gắng để giữ vững phòng tuyến của mình bằng cách tổ chức các Tòa án Quân sự lưu động, nhưng nhiệm vụ trở thành bất khả thi vì ông ta không còn lực lượng để ngăn cản quân Anh và Canada dưới sự chỉ huy của Thống chế Sir Bernard Law Montgomery. Ông đầu hàng “Monty” vào ngày 4/5/1945. Bị dẫn giải đến Anh Quốc như một tù nhân chiến tranh, ông qua đời vào ngày 17 tháng 7 năm 1945…..
    huymaya, bloodheartvn, danngoc1 người khác thích bài này.
  9. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    948
    Đã được thích:
    4.348

    CHƯƠNG II - ĐỂ MẤT UKRAINA




    Model lại đến “chữa cháy” – Chiến sự tại Minsk – Thảm họa vẫn tiếp diễn – Cụm Tập đoàn quân Bắc bắt đầu rút chạy – Vụ ám sát ngày 20 tháng Bảy – Tiếp tục rút lui - Chiến sự tại Bắc Ukraina – Nước Ukraina trong Thế chiến thứ hai – Reichskommissar Erich Koch - Sư đoàn tình nguyện Ukraine – Trận chiến Brody….


    Otto Moritz Walter Model là một trong những tướng lĩnh Nazi hữu hiệu nhất, và lại một lần nữa, Hitler luôn phải vời ông ta hết lần này đến lần khác, điều ông ta tới những nơi nóng bỏng nhất trong Đế chế đang trên đà vụn vỡ để cứu vãn những tình huống vô vọng. Tên tuổi các Thống chế Nazi khác, thường liên quan đến các địa danh cụ thể: Ví dụ như Paulus, làm cho chúng ta nhớ tới Stalingrad, Rundstedt với Mặt trận phía Tây, von Bock với Moscow, Weichs với vùng Balkans, Kesselring với Italian, Dietl với phương Bắc xa xôi, Rommel với sa mạc Bắc phi và Normandy, Manstein với miền nam nước Nga, vv…vvv. Walter Model được nhắc đến nhiều từ giai đoạn sau của cuộc chiến. Ông ta chỉ đến nhận nhiệm vụ tại những nơi khó khăn và nguy hiểm nhất.

    Thống chế Model tất nhiên bề ngoài trong ra dáng như một vị tướng Phổ: cứng rắn, thấp hơn so với chiều cao trung bình, đôi chút mập mạp, cắt tóc ngắn gần như sát chân tóc, và tất nhiên không thể thiếu cái kính một mắt mà ông ta luôn mang theo bên người. Tuy nhiên, ông lại sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp hạ trung lưu, chứ không phải thuộc dòng dõi con nhà lính – tất nhiên không thuộc tầng lớp quí tộc Junker của nước Phổ. Ông sinh ra tại Genthin, gần Magdeburg, vào ngày 24 tháng Giêng năm 1891, con trai của một giáo viên dạy nhạc ở trường nữ sinh địa phương. Trong những ngày cuối cùng bi thương của Thế chiến thứ hai, ông đã ra lệnh đốt sạch các giấy tờ và chứng thư cá nhân nên giờ đây mọi người ít được biết nhiều về thời thơ ấu của ông, xem ra họ chỉ biết gần như là gia đình muốn ông trở thành một nhà giáo, giáo viên, thậm chí là một nông dân hay là một ông chủ quán trọ chứ không phải theo nghiệp sĩ quan nhà binh. Ông lớn lên trong một gia đình sùng đạo Luther (hình thành từ phong trào cải cách bên trong đạo Cơ đốc giáo), luôn đi lễ nhà thờ, thiếu tiền liên tục và thường xuyên phải di chuyển (rõ ràng cha anh đã không có một công việc ổn định). Tuy thế, thời trẻ, Walter Model là một sinh viên có năng lực. Ông theo học một trường học dạy xã hội nhân văn tại Erfurt, và ở đây ông học xuất sắc trong các môn tiếng Hy-lạp, Latin, môn lịch sử và là thành viên một tổ chức xã hội về văn học tại địa phương. Lý do tại sao ông lại quyết định tham gia Quân đội Hoàng gia Phổ là điều chúng ta không được biết đến. Vào ngày 27 tháng Hai năm 1909, ông gia nhập Trung đoàn Bộ binh 52 (Brandenburger) trong một vai trò là sĩ quan học viên, phần lớn dựa vào sự giúp đỡ của một ông chú, một chủ ngân hàng có vị thế. Ông tham dự Kriegsschule (Trường dự bị quân đội) tại Neisse và - mặc dù ông gần như học rất ít – nhưng vẫn được phong chức Thiếu úy vào ngày 22 tháng 8 năm 1910.

    Thời trẻ trong quân ngũ, Model được biết đến như một sĩ quan đầy tham vọng, háo thắng, có năng lực và luôn làm cho cấp dưới cảm thấy khó chịu bởi vì ông ta không có sự khéo léo và không hề ngần ngại bày tỏ ý kiến của mình, ngay cả với cấp trên. Ông làm việc rất chăm chỉ, tràn đầy năng lượng một cách đáng kinh ngạc, và gần như không có lấy một tình bạn thân thiết. Những đặc điểm này đã tồn tại trong suốt cuộc đời của Model. Khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, ông phục vụ trên Mặt trận phía Tây với tư cách phụ tá Trung đoàn và bị thương nặng gần Sedan vào năm 1915. Sau khi ông từ bệnh viện trở về, tư lệnh sư đoàn, Hoàng tử Oskar xứ Phổ (một trong sáu người con trai của Hoàng đế), đề cử ông theo học một khóa huấn luyện ngắn thuộc Bộ Tổng tham mưu Đức. Ông trở lại tiền tuyến vào năm 1916, phục vụ với chức danh là một Lữ đoàn phó, sau đó là chỉ huy đại đội. Ông bị thương nhiều lần (trong đó có lần bị thương nặng) được ban thưởng huân chương Chữ Thập sắt hạng nhất dành cho sự can đảm, và một số huy chương khác. Ông ta đã kết thúc Thế chiến thứ nhất khi đang phục vụ Bộ Tổng tham mưu Tối cao tại Berlin. Model được phép ở lại phục vụ cho Reichsheer (Lực lượng phòng vệ Đế chế nhưng bị giới hạn bởi quân số) năm 1919, được nắm quyền chỉ huy Trung đoàn bộ binh số 2 tại Allenstein, ở Đông Phổ. Năm 1920, ông được giao nhiệm vụ bảo đảm an ninh và tham dự các chiến dịch thanh trừng đẫm máu các cuộc nổi dậy của công nhân cộng sản trong các cuộc đình công lớn. Trong một lần thực hiện nhiệm vụ tại Eberfeld-Barmen (nay gọi là Wuppertal) thuộc vùng kỹ nghệ Ruhr, sở chỉ huy dã chiến của ông được tạm thời đặt ở nhà cô Herta Huyssen; họ phải lòng nhau và dẫn đến kết hôn vào năm sau. Liên minh này tạo ra ba đứa con, trong đó có một vị tướng Tây Đức tương lai. Rất kỳ lạ, Model ghét những câu chuyện chiến tranh và không bao giờ thảo luận chủ đề chiến tranh và chính trị ở nhà hoặc với người vợ của ông ta.

    Không giống như một số sĩ quan, Model đã không và sẽ không bao giờ cho phép bản thân mình liên quan đến chính trị trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Ông chỉ cảm thấy sự nghiệp chuyên nghiệp của mình như là một nghề nghiệp cao quí và tin rằng đó là nghĩa vụ của một sĩ quan để giữ nguyên chế độ chính trị và liên quan đến chính bản thân chỉ có một mục đích mà mình phải theo đuổi: phục vụ cho Nhà nước. Vốn là một người liêm khiết, Walter Model thể hiện các giá trị điển hình của một người Đức về gia đình, tôn giáo, sự cống hiến, kết hợp với những hiểu biết về khả năng kỹ thuật, có nghị lực và đầy tham vọng; sự kết hợp này cho phép ông ta đạt được danh tiếng là tinh hoa của một Sĩ quan Phổ trong thời đại nhiễu nhương Weimar. Tuy nhiên, sau đó, trong thời kỳ Hitler lên nắm quyền, ông đã chấp nhận tầm nhìn thế giới mới của Đức Quốc xã, ngày càng bành trướng với một tham vọng tàn nhẫn. Ông tin vào chủ nghĩa bảo thủ, sự phục tùng mệnh lệnh, đặt niềm tin vào sự phục vụ cá nhân trong một nhà nước kết hợp với chính sách chính trị của Hitler đã làm hỏng kỹ năng quân sự của ông trở thành một điều gì đó không đáng để chúng ta khâm phục nữa. Nhưng điều này đang đi trước vào câu chuyện của chúng ta…..

Chia sẻ trang này