1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Phong trào đấu tranh giành độc lập trước cách mạng tháng 8- 1945

Chủ đề trong 'Giáo dục quốc phòng' bởi haohoacongtu, 24/01/2014.

Trạng thái chủ đề:
Đã khóa
  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. haohoacongtu

    haohoacongtu Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Bài viết:
    3.736
    Đã được thích:
    5.410
    1. Khởi nghĩa Trương Định (1859 – 1864)

    Năm 1859, thực dân Pháp chiếm thành Gia Định. Trương Định tổ chức nghĩa quân chống giặc ở Gò Công, Tân An, được triều đình Huế giao chức Lãnh binh. Năm 1862, vua quan nhà Nguyễn hàng giặc, ra lệnh giải binh, nhưng Trương Định cương quyết kháng Pháp đến cùng, được nhân dân suy tôn là Bình Tây đại nguyên soái. Ngày 20/8/1864, Trương Định bị thương nặng đã rút gươm tự sát. Con trai là Trương Quyền tiếp tục chiến đấu đến năm 1867.
    Sau khi Gò Công rơi vào tay giặc. Tri huyện Tân Hòa là Đỗ Trình Thoại vì để mất thành nên bị cách chức, cho lập công chuộc tội. Đỗ Trình Thoại huy động dân binh, đêm 22-6-1861, tấn công quân Pháp đồn trú tại Gò Công. Trung úy Vial bị trọng thương, tên lính Bondiez tử trận. Tri huyện Đỗ Trình Thoại hy sinh trong trận. Danh nghĩa Trương Định lúc bấy giờ là tướng dưới quyền của Đỗ Trình Thoại, nhưng trong thực tế, ông có sẵn lực lượng quân đồn điền và đủ uy tín để chiêu mộ quân nghĩa dũng. Ngày hôm sau Trương Định chỉ huy quân tấn công vào Gò Công lần thứ hai.

    Bước sang năm 1862, những cuộc tấn công của nghĩa quân Trương Định càng quyết liệt hơn.

    Ngày 10-1-1862: nghĩa quân Trương Định tấn công đồn Gia Thạnh (nay thuộc Tân An).

    Liên kết cùng Trương Định, ngày hôm sau, nghĩa quân Thiên Hộ Dương tấn công đồn Rạch Gầm.

    Từ ngày 22-1-1862 đến ngày 28-2-1862, nghĩa quân Trương Định và nghĩa quân Võ Duy Dương ba lần mở cuộc tấn công vào đồn Kỳ Hôn, có lần giặc Pháp phải bỏ đồn tháo chạy, bị nghĩa quân truy đuổi.

    Ngày 23-1-1862, nghĩa quân Võ Duy Dương vây đánh đồn Rạch Gầm. Ngày 28-1-1862, nghĩa quân đồng loạt tấn công bốt đồn Cái Bè, Cai Lậy, Thuộc Nhiêu, Rạch Gầm và tấn công pháo hạm Shamrock.

    Từ ngày 28-2-1862 đến 6-3-1862, nghĩa quân Trương Định hoạt động mạnh ở vùng Chợ Cũ (Mỹ Tho). Pháp nhận thấy lực lượng của chúng không đủ để đóng rải rác quá xa, cũng không thể chống cự lâu dài với hoạt động mỗi ngày một tăng của nghĩa quân. Thiếu tướng hải quân bèn ra lệnh cho quân Pháp rút khỏi đồn Gia Thạch, Kỳ Hôn, Chợ Cũ (Mỹ Tho), Rạch Gầm, Gò Công, Cái Bè. Ngay khi các toán quân của Pháp rút đi, nghĩa quân đã dùng đại bác bắn đuổi theo quyết liệt. Các ban Hương chức Hội tề do thực dân dựng lên cũng hoảng sợ, chạy theo chủ. Một số lính người Tagal(1) đã bán vũ khí cho nghĩa quân, hoặc đào ngũ chạy sang phía nghĩa quân.

    Đêm 6-4-1862, nghĩa quân Trương Định táo bạo đột kích Chợ Lớn, dọc rạch Tàu Hủ tới đồn Cây Mai, đốt cháy đồn Pháp. Sau trận đột kích này, quân Pháp chỉ phản ứng bằng cách tăng cường tuần tiễu vùng Sài Gòn - Chợ Lớn và cho mật thám theo dõi vùng Cần Giuộc, nhưng không dám cho quân tiến xuống Gò Công.

    Bấy giờ, nghĩa quân vẫn cố thủ Ba Giồng, mặc dù Tân Thành đã bị vỡ. Võ Duy Dương rút về căn cứ Bình Cách(2). De Grammont nhận xét: “Những cuộc thất bại của đội quân An Nam không chút ảnh hưởng đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã bị chiếm đóng”. Mọi cơ cấu của Pháp ở vùng chiếm đóng đều bị sụp đổ. Tất cả chỉ là một khoảng trống lớn.

    Trong lúc ấy, đội quân của thực dân Pháp còn bị sa lầy ở Syrie, Mexique, Trung Quốc. Thế nhưng, nhà Nguyễn hình như không nhận thấy thế bất lợi của giặc, tư tưởng “chủ hòa” thắng thế nên triều đình đã chịu ký Hiệp ước năm Nhâm Tuất, ngày 5 tháng 6 năm 1862.

    Với Hiệp ước Nhâm Tuất, ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường rơi vào tay Pháp. Triều đình Huế đã ra lệnh bãi binh trong tỉnh này. Khâm phái Quân vụ Nguyễn Túc Trưng bị triệu về Huế. Trương Định được phong Lãnh binh An Giang, Hà Tiên. Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân tập trung tại Kiến Hòa chờ lệnh.

    Trương Định, Thủ khoa Huân, Thiên hộ Dương rất phân vân, không biết nên theo lệnh của triều đình hay đứng về phía nhân dân. Cuối cùng, Trương Định cưỡng lại lệnh của triều đình, ở lại Gò Công cùng nhân dân kháng chiến, không về An Giang nhậm chức. Ông xây dựng căn cứ Tân Hòa (Gò Công).

    Tháng 7 năm 1862, Trương Định viết thơ gởi Thiên Hộ Dương và Thủ Khoa Huân bàn kế hoạch hợp đồng tác chiến. Tự Đức sai Thị vệ Nguyễn Thi đến Tân Hòa, phong Trương Định chức Bình Tây tướng quân, thống lĩnh chỉ huy quân nghĩa dũng trong ba tỉnh. Nguyễn Thi lại đến Kiến Hòa phong Võ Duy Dương chức Chánh Đề đốc, phong Nguyễn Hữu Huân làm Phó Đề đốc. Sau khi nhận chức, Trương Định phát hịch kêu gọi nhân dân ba tỉnh nhất tề đứng lên chống kẻ thù xâm lược. paulin Vial nhận xét: “Quản Định là linh hồn của mọi phong trào. Những bài hịch kêu gọi của ông ta được trao tay, truyền miệng phổ biến ở khắp mọi nơi. Dường như sau khi Gò Công thất thủ, ông ta lại có ảnh hưởng to lớn”.

    Ngày 5-1-1863, nghĩa quân Trương Định bẻ gãy cuộc càn quét của 50 tên lính địch có pháo binh yểm trợ do Coquet chỉ huy. Trận này nghĩa quân diệt 2 tên kỵ binh và làm bị thương 7 con ngựa chiến.

    Liên tiếp trong ba ngày mồng 5, 6 và 7 tháng giêng năm 1863, nghĩa quân chặn đứng cuộc tập kích vào vùng Gia Thạnh.

    Ngày mồng 5-1-1863, Đại úy Lepès chỉ huy hai cánh quân tấn công căn cứ Gò Công. Lực lượng chia hai cánh quân: cánh theo đường bộ gồm 11 lính thủy, 15 lính thủy quân lục chiến, 5 pháo thủ, 1 đại đội lính người châu Phi và 30 lính mã tà người bản xứ; cánh đi theo đường thủy gồm 1 trung đội thủy quân lục chiến, một số pháo hạm. Quân Pháp từ Sài Gòn tiến xuống, vì bị tập kích liên tục, sáu ngày sau chúng mới tới Cần Đước. Tại đây, chúng bị nghĩa quân của Bùi Quang Diệu (Quản Là) đánh một trận lớn, địch bị thiệt hại nặng nề, phải rút lui, bỏ lỡ cuộc hành quân.

    Từ ngày 23-1 đến ngày 20-1-1863, quân địch tập trung lực lượng tấn công nghĩa quân Võ Duy Dương ở Giồng Cát (Gò Lũy) và Bưng Môn (Cai Lậy). Nghĩa quân chiến đấu rất dũng cảm, nhưng do chênh lệch quá lớn về lực lượng, nghĩa quân rút về xây dựng đồn lũy ở Xoài Tư (Cai Lậy giáp Cái Bè).

    Để phân chia lực lượng địch ra nhiều hướng, Trương Định ra lệnh cho nghĩa quân đánh mạnh ở khắp nơi, phá đường giao thông Sài Gòn - Mỹ Tho và cắt đường dây điện thoại Sài Gòn, Vũng Tàu, Biên Hòa, Bà Rịa. Đồng thời, ngày 17-1-1863, ông ra lời hịch khẳng định lập trường kiên định của mình và kêu gọi dân chúng địa phương hưởng ứng chống giặc.

    Nghĩa quân Trương Định nổi lên khắp mọi nơi, chẳng những ở Gò Công mà còn ở Bà Rịa, Cần Giờ, Chợ Lớn, Hóc Môn… Quân số địch giảm sút, bị bao vây bốn phía, bối rối nhiều mặt, Bonard phải cầu cứu chính quốc. Vì vậy, vào tháng 1 và tháng 2-1863, Chính phủ Pháp gửi sang Nam kỳ hai viễn đoàn lính thủy quân lục chiến. Cũng trong tháng 2, Đô đốc Jaures đưa từ Thượng Hải (Trung Quốc) tiếp viện thêm một tiểu đoàn khinh binh Bắc Phi, nửa tiểu đoàn bộ binh người Algérie, nửa đội pháo binh. Ngoài ra, thực dân Tây Ban Nha cũng đưa tới 800 lính Tagal từ Philippin để hỗ trợ cho quân Pháp.

    Viện binh đến Bonard buộc vua Tự Đức phải gấp rút phê chuẩn thi hành Hiệp ước Nhâm Tuất, để triều đình Huế không còn chính thức giúp đỡ Trương Định. Ngày 7-2-1863, Bonard ra tuyên ngôn kết tội Trương Định, ra lệnh càn quét và hứa thưởng 10.000 quan cho người giết được Trương Định.

    Ngày 16-2-1863, Bonard chỉ huy quân đội trực tiếp xuống Gò Công càn quét. Lực lượng địch chọc thủng hai phòng tuyến Đông Sơn và Vĩnh Lợi (nay đều thuộc Gò Công Tây). Tuy vậy, quân Pháp thương vong rất nhiều, phải ngừng súng, chờ viện binh. Ngày 22-2-1863, viện quân Pháp từ Sài Gòn xuống hơn ba tiểu đoàn và bắt đầu bao vây các căn cứ của nghĩa quân:

    - Tàu L’Européen đậu ở cửa Rạch Lá.

    - Tàu Alame đậu ở rạch Gò Công, trên bờ có một pháo đài.

    - Tàu Circé đậu ở Vàm Láng, sông Xoài Rạp.

    - Lực lượng bộ binh tăng cường hai đồn Chợ Gạo và đồn Mỹ Tho.

    - Tàu Forbin phong tỏa sông Vàm Cỏ.

    - Tàu Cosmao, pháo thuyền 20, chiến thuyền Saint Joseph và 15 chiếc ghe bao vây phía tây.

    [​IMG]
    Thực dân Pháp chuẩn bị pháp kích trận tuyến của nghĩa quân Trương Định ở Gò Công
    Công binh còn chuẩn bị 30 chiến thuyền bọc sắt, sẵn sàng ghép lại thành một chiếc cầu, để quân lính vượt bãi lầy.

    Sáng ngày 26-2-1863, quân Pháp do tướng Chaumot chỉ huy bắt đầu tấn công. Đích thân Đô đốc Bonard trên chiến hạm Ondine thị sát trận chiến. Quân thủy bộ từ nhiều hướng tiến vào. Trương Định thấy thế địch mạnh, ra lệnh cho nghĩa quân phục kích đánh tỉa, đồng thời lại ra lệnh cho đại quân rút vào rừng lá bảo toàn lực lượng. Sáng ngày thứ ba, các mũi quân địch tiến dần đến Gò Công. Chúng thấy trong đồn có lửa cháy. Nhưng khi đến gần thì hoàn toàn trống rỗng. Nghĩa quân đã rút an toàn.

    Trước những khó khăn mới, Trương Định chuyển qua rừng Lý Nhơn (nay thuộc Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh), chuẩn bị lương thực, vũ khí, chiêu mộ thêm nghĩa quân và phát lời hịch. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân rộng lớn, từ Gò Công đến Biên Hòa, Sài Gòn, Mỹ Tho, Tây Ninh, Tân An. Trương Định còn cử người theo đường biển ra Bình Thuận tìm cách mua vũ khí, đạn dược.

    Ngày 25-9-1863, hai toán quân Pháp do Gougead và Bélic chỉ huy bất ngờ tấn công vào căn cứ Lý Nhơn. Nghĩa quân chống trả anh dũng, rồi rút trở về hướng Gò Công, đóng quân tại "đám lá tối trời", tức khu vực đồn điền Gia Thuận.

    Ngày 20-4-1864, tên phản bội Huỳnh Công Tấn phát hiện địa điểm Trương Định tại "đám lá tối trời" (Gia Thuận) đem quân bao vây. Trong lúc hỗn chiến, Trương Định bị thương nặng; biết không thoát được, ông trở gươm đâm thẳng vào bụng tuẫn tiết.

    Địch đem xác Trương Định về phơi nắng tại chợ Gò Công để đe dọa tinh thần nhân dân. Nhưng nhờ uy thế của bà Trần Thị Sanh, địch phải cho gia đình đem xác ông về tổ chức tang lễ. Bà Trần Thị Sanh là người tổ chức hậu cần cho cuộc khởi nghĩa. Gia đình bà có quan hệ với họ ngoại vua Tự Đức. Lúc chồng hy sinh, bà biết cách lợi dụng thanh thế của gia đình để đề cao tinh thần yêu nước của anh hùng dân tộc Trương Định, mặc dù có lúc địch đã ngăn cấm, phạt vạ.

    Tự Đức hay tin Trương Định tuẫn tiết bèn truy tặng phẩm hàm(3) cho Trương Định và cho lập đền thờ tại Quảng Ngãi.

    Thực dân Pháp kinh sợ, ép buộc nhà Nguyễn phải giải giới nghĩa quân. Thủ khoa Huân ở An Giang sơ suất để lộ bí mật, bị Pháp phát hiện, buộc Tổng đốc An Giang bắt ông giao nộp cho chúng.

    Sau khi Trương Định tuẫn tiết, Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân chia quân ra nhiều nhóm nhỏ, phân tán hoạt động để đảm bảo đủ lương thực. Thiên hộ Dương cử Thủ Khoa Huân sang An Giang, Hà Tiên tìm cách mua súng đạn. Thủ khoa Huân còn quan hệ với thủ lĩnh chống Pháp người Khmer là Á Xoa (Thạch ****) để liên kết chiến đấu chống kẻ thù chung. Thực dân Pháp hay tin đem tàu chiến bao vây, ép Tổng đốc An Giang phải bắt Thủ Khoa Huân nộp cho chúng.

    2. Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (1861 – 1868)

    Năm 1861, Nguyễn Trung Trực (tức Nguyễn Văn Lịch) nổi dậy ở Tân An, chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu Hy Vọng (Espérance) của giặc Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (12/1861), rồi lập căn cứ kiên trì chống giặc khắp vùng Rạch Giá, Hà Tiên và đảo Phú Quốc. Năm 1868, bị giặc bắt và đưa đi hành hình, ông đã hiên ngang nói thẳng vào mặt chúng: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người nước Nam đánh Tây”.

    3. Khởi nghĩa Ba Đình (1886 – 1887)

    Năm 1886, Đinh Công Tráng cùng một số văn thân, thổ hào yêu nước: Phạm Bành, Nguyễn Khế, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước... lập chiến khu ở Ba Đình (Nga Sơn, Thanh Hóa) tổ chức chống giặc, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Năm 1887, cuộc khởi nghĩa thất bại.

    4. Khởi nghĩa Bãi Sậy (1885 – 1889)

    Nguyễn Thiện Thuật (tức Tân Thuật) dựng cờ khởi nghĩa lập căn cứ kháng Pháp ở Bãi Sậy (thuộc hai huyện Văn Giang và Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên cũ), suốt mấy năm trời kiên trì đánh du kích tiêu hao, diêu diệt địch. Đến năm 1889, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.

    5. Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886 – 1892)

    Tống Duy Tân cùng với Cao Điền dựng cờ khởi nghĩa ở Hùng Lĩnh (Thanh Hóa) cùng lúc với cuộc khởi nghĩa Phạm Bành, Đinh Công Tráng... Sau khi nghĩa quân Ba Đình bị tan rã, Tống Duy Tân tạm thời giấu lực lượng rồi lánh sang Trung Quốc. Năm 1888, ông trở về Thanh Hóa, tổ chức lại nghĩa quân, xây cứ điểm, đánh địch sáu năm ròng, lập nhiều chiến công. Năm 1892, cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, Tống Duy Tân bị giặc bắt và hy sinh anh dũng.

    6. Khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1896)

    Năm 1885, Phan Đình Phùng hưởng ứng "Chiếu Cần Vương", mộ quân đánh Pháp, lập căn cứ ở vùng núi hai huyện Hương Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh), cầm cự với giặc trên mười năm. Cuối năm 1895, Phan Đình Phùng lâm bệnh từ trần. Cuộc khởi nghĩa Hương Khê tàn lụi dần. Đến đây cũng chấm dứt phong trào Văn thân chống Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ (1885 - 1896).

    7. Khởi nghĩa Yên Thế (1887 – 1913)

    Hoàng Hoa Thám (tức Đề Thám) là một cố nông, quê ở làng Dị Chế (Tiên Lữ, Hưng Yên) tham gia khởi nghĩa ở Sơn Tây rồi lên Yên Thế, theo Đề Năm chống Pháp trở thành lãnh tụ của nghĩa quân Yên Thế, bền bỉ chiến đấu suốt 25 năm, gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất. Bọn thực dân Pháp nhiều lần mở những cuộc tiến công lớn, hai lần phải đình chiến và dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ nhưng đều thất bại. Cuối cùng chúng phải lập mưu sát hại Hoàng Hoa Thám (10/12/1913) mới dập tắt được cuộc khởi nghĩa Yên Thế.

    8. Khởi nghĩa Thái Nguyên (1917 – 1918)

    Ngày 30/8/1917, Trịnh Văn Cấn (tức Đội Cấn) lãnh đạo binh lính yêu nước khởi nghĩa ở Thái Nguyên, phá nhà lao thả tù chính trị, làm chủ thị xã trong 6 ngày. Đến ngày 10/1/1918, cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp dập tắt (cuộc khởi nghĩa này có Lương Ngọc Quyến, con trai cụ Lương Văn Can, tham gia lãnh đạo).

    9. Cuộc bạo động Lạng Sơn (1921)

    Mùa Thu năm 1921, Đội Ấn (người Tày) huyện Cao Lộc, Lạng Sơn tổ chức cuộc bạo động, nghĩa binh đánh vào trại lính khố xanh gần Kỳ Lừa, nghĩa quân diệt được tên Cung Khắc Đản, Tuần phủ ở Pắc Lương, huyện Yên Lãng, ít ngày sau cuộc bạo động cũng bị thực dân Pháp dập tát.

    10. Cuộc bạo động Yên Bái (1930)

    Ngày 10/2/1931, cuộc bạo động của Việt Nam Quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy, nổ ra ở Yên Bái và một vài địa phương khác nhưng đã bị thực dân Pháp dập tắt nhanh chóng.

    Hơn 80 năm thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta, nhân dân ta đã liên tục vùng lên đấu tranh để tự giải phóng, song các cuộc khởi nghĩa đó đều bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu và đã thất bại.

    Mặc dù vậy, các cuộc đấu tranh ấy đã biểu thị tinh thần quật cường của dân tộc và góp phần đưa tới thắng lời của cuộc Cách mạng Tháng Tám do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo.
    muamuaha198muamuaha86 thích bài này.
  2. haohoacongtu

    haohoacongtu Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Bài viết:
    3.736
    Đã được thích:
    5.410
    2. Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (1861 – 1868)

    Năm 1861, Nguyễn Trung Trực (tức Nguyễn Văn Lịch) nổi dậy ở Tân An, chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu Hy Vọng (Espérance) của giặc Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (12/1861), rồi lập căn cứ kiên trì chống giặc khắp vùng Rạch Giá, Hà Tiên và đảo Phú Quốc. Năm 1868, bị giặc bắt và đưa đi hành hình, ông đã hiên ngang nói thẳng vào mặt chúng: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người nước Nam đánh Tây”.
    Ngay sau khi nổ súng xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã vấp phải sự phản kháng của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, nhất là giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, trong đó Nguyễn Trung Trực là một trong những người yêu nước tiêu biểu và đặc biệt. Ông đã tham gia chống Pháp từ những năm đầu tiên Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam với hai chiến công lừng lẫy : đốt cháy tàu L’ Espérance- tàu Hy Vọng của Pháp trên sông Nhật Tảo và trận đánh tiêu diệt đồn Rạch Giá, Kiên Giang.


    Nguyễn Trung Trực sinh năm 1837? Thuở nhỏ có tên là Chơn, năm Kỷ Mùi 1859 đổi tên là Nguyễn Văn Lịch, vì tên là Chơn cộng với tính ngay thẳng, nên thầy dạy học đặt tên hiệu là Trung Trực. Ông quê gốc ở xã Vĩnh Hội, Phù Cát, tỉnh Bình Định. Sau khi Pháp tấn công vùng duyên hải Trung Bộ, gia đình ông phiêu dạt vào Nam, định cư tại làng Bình Nhật, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, phủ Tân An (nay thuộc ngaoij ô thị xã Tân An, Long An) sinh sống bằng nghề làm nghề chài lưới vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ.

    [​IMG]

    Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (1837?-1868)

    Năm 1859 thực dân pháp tấn công vào thành Gia Định, ông đã tham gia vào đội nghĩa binh kháng chiến và được cử về hoạt động chống Pháp trên địa bàn phủ Tân An và phối hợp tác chiến với Trương Định. Năm 1861, ông chiêu mộ một số đông nông dân nổi dậy đánh phá các đồn Pháp ở các vùng thuộc phủ Tân An, nhờ lập được nhiều công lao, ông được triều đình Nguyễn phong chức Quản cơ nên còn gọi là Quản Chơn, hay Quản Lịch.

    Được sự giúp đỡ của hương chức làng Nhật Tảo, ông đã bố trí một kế hoạch để đánh tàu Hi Vọng (pháo hạm L’Espérance) của quân xâm lược Pháp đang hoạt động trên Nhật Tảo (pháo hạm L’Espérance là tàu gỗ được bọc đồng chạy bằng hơi nước có thể ra vào những luồng lạch cạn, được trang bị một đại bác và nhiều vũ khí đa năng, là một trong những tàu thuộc hạng bậc nhất của hải quân Pháp lúc bấy giờ).

    Tham gia trong trận chiến này có Nguyễn Trung Trực và các Phó quản binh Hoàng Khắc Nhượng, Võ Văn Quang, quản toán Nguyễn Học, lương thần Hồ Quang cùng 59 nghĩa quân cảm tử.

    [​IMG]

    Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân đốt cháy tàu L’Espérance trên sông Nhật Tảo, ngày 10/12/1861 (Tranh minh họa)

    Sáng ngày 10 tháng 12 năm 1861, sau khi bố trí lực lượng phục kích trên bờ, nghĩa quân phân tán lên các thuyền nhỏ giả làm thuyền buôn tiến sát pháo hạm L’Espérance của địch và bất thần nhảy lên tiêu diệt địch. Sau khi làm chủ được chiến trường, nghĩa quân lấy búa phá tàu giặc nhưng không phá được nên đổ dầu, châm lửa đốt cháy tàu. Không kịp trở tay toàn bộ lính Pháp bị tiêu diệt. chiếc tàu dần chìm xuống đáy sông. Sau trận đốt cháy pháo hạm L’Espérance của thực dân Pháp, triều đình Huế đã phong Nguyễn Trung Trực chức Quản cơ và hậu thưởng cho nghĩa quân.

    Sau đó, Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân vẫn tiếp tục chiến đấu trên địa bàn Gia Định, Biên Hòa. Khi Hòa ước Nhâm Tuất (1862) đã ký, 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Trung Trực rút quân về hoạt động ở 3 tỉnh miền Tây.

    Năm 1867, ông về lập căn cứ chống Pháp ở Hòn Chông, Rạch Giá (nay thuộc xã Bình An, Huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang). Ở đó sau khi nắm được tình hình của đối phương và tập trung xong lực lượng (trong đó có cả hương chức, nhân dân Việt – Hoa – Khơ me cùng tham gia).

    Đêm ngày 16 tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực dẫn quân từ Tà Niên (nay là xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) đi đánh úp đồn Kiên Giang (Rạch Giá) do trung úy Sauterne chỉ huy. Kết thúc trận đánh, nghĩa quân chiếm được đồn, tiêu diệt 5 viên sĩ quan Pháp, 67 lính, thu được nhiều vũ khí, đạn dược, làm chủ Rạch Giá. Đây là lần đầu tiên lực lượng nghĩa quân đánh đối phương ngay tại trung tâm đầu não của tỉnh. Ngày 21 tháng 6 năm 1868, Pháp phản công, Nguyễn Trung Trực đành phải lui quân về Hòn Chông, rồi ra đảo Phú Quốc lập căn cứ tại Cửa Cạn nhằm chống Pháp lâu dài.

    Tháng 9 năm 1868, Nguyễn Trung Trực bị thực dân Pháp bắt ở Phú Quốc rồi bị đem về Sài Gòn, chúng dụ dỗ ông đầu hàng nhưng vô hiệu. Ngày 27 tháng 10 năm 1868, thực dân Pháp đưa Nguyễn Trung Trực về Rạch Giá và xử tử ông tại dây. Trước khi chết Nguyễn Trung Trực đã dõng dạc nói với quân Pháp “Bao giờ nước Nam hết cỏ, thì mới hết người Nam đánh Tây”.

    [​IMG]

    Tượng Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tại khu di tích Vàm Nhật Tảo, xã Nhật Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

    Những lời bất hủ của ông còn mãi lưu truyền, mãi kích động lòng người dân Nam Bộ và nhân dân cả nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
    muamuaha198muamuaha86 thích bài này.
  3. haohoacongtu

    haohoacongtu Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Bài viết:
    3.736
    Đã được thích:
    5.410
    Cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887)
    Cuộc khởi nghĩa Ba Đình năm 1886-1887 là đỉnh cao của phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX ở Thanh Hóa đã để lại những bài học vô cùng quý giá về trí thông minh, tài sáng tạo và nghệ thuật quân sự. Với ý nghĩa đó, Bác sĩ Trần Văn Lai - người Việt Nam đầu tiên làm Thị trưởng Hà Nội đã
    Vào cuối thế kỷ XIX, triều đình phong kiến nhà Nguyễn lâm vào khủng hoảng, suy vong và trở thành miếng mồi ngon của các nước tư bản phương Tây đang khao khát thuộc địa. Ngày 01-09-1858, thực dân Pháp bất ngờ tấn công vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), rồi tiếp tục đánh chiếm 6 tỉnh Nam Bộ. Sau khi chiếm xong các tỉnh phía Nam , thực dân Pháp tìm mọi cách tấn công ra phía Bắc. Từ năm 1873 đến năm 1885, Pháp liên tục tiến đánh và chiếm miền Bắc. Sau khi thành Hà Nội thất thủ, quan quân triều đình nhà Nguyễn kẻ hàng, người trốn, có những thành như Phủ Lý, Ninh Bình, có đến hàng ngàn quân canh giữ, nhưng chỉ cần 5 - 6 tên lính Pháp đã hạ được thành. Từ sau Hiệp ước ngày 25/ 8/ 1883, triều đình nhà Nguyễn bị phân hóa thành 2 bộ phận: bộ phận chủ hòa và bộ phận chủ chiến. Bộ phận chủ hòa đã trở thành tay sai đắc lực cho thực dân Pháp. Bộ phận chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết đã tập hợp lực lượng, phát động nhân dân các nơi trong nước đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Năm 1885, sau khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi lên chiến khu Tân Sở (Quảng Trị), ra Chiếu Cần Vương, kêu gọi toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Phong trào Cần Vương do các văn thân, sỹ phu yêu nước lãnh đạo phát triển mạnh mẽ, được nhân dân trên khắp cả nước hưởng ứng. Chiếu Cần Vương đã mở ra một giai đoạn mới trong phong trào chống Pháp của nhân dân Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.


    Hưởng ứng Chiếu Cần Vương, phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân cả nước diễn ra sôi sục. Lúc này phong trào ở Thanh Hóa phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các huyện, lôi cuốn những văn thân có tiếng như: Tuần Bát Nô; bố chính Nguyễn Xuân Quỳnh; Tổng đốc Lê Văn Rạng; tiến sỹ Tống Duy Tân; đốc học Phạm Bành; quan huyện Hoàng Bật Đạt; Cử nhân Lê Khắc Thảo, Hà Văn Mao vv...


    Tôn Thất Thuyết cho rằng, Thanh Hóa là yết hầu giữa miền Trung và miền Bắc, là một vị trí chiến lược quan trọng, hình mạch hướng vào, thế lớn nhóm lên, có đủ ba điều lợi cho việc dấy binh tụ nghĩa, mở mang nghiệp lớn, chống giặc cứu nước.


    Biết Đinh Công Tráng là một tướng giỏi thao lược, nhiều mưu kế, đã từng đánh Pháp ở Hà Nam, Ninh Bình và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Tôn Thất Thuyết đã mời ông vào Thanh Hóa bàn quốc sự. Đến cuộc họp ở chùa Trang Các, Phủ Tống Sơn (huyện Hà Trung ngày nay) vào tháng 3 - 1886, Trần Xuân Soạn đã phân tích cái lợi, cái hại và quyết định lập căn cứ Ba Đình và ông khẳng định "Người giữ vùng này, ngoài Đinh Công Tráng không ai đảm nhiệm nổi". Thế là Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, được giao trọng trách xây dựng, bảo vệ vị trí trọng yếu này trong thế trận chung, nhằm biến Thanh Hóa thành một căn cứ kháng chiến vững chắc cho cả nước.


    Ba Đình là một xã đồng chiêm trũng thuộc huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hóa. Phía Bắc giáp Nga Vịnh, Nam giáp Nga Thắng, Đông giáp Nga Văn, Tây giáp huyện Hà Trung. Cách Ba Đình 3km về phía Đông Nam là núi Sa Liễn (núi Sến), xa hơn chút nữa là núi Chiêm Ba, Tam Linh, núi Vân Hoàn nằm bên bờ sông Lèn và bến Thắm, phía Tây có núi Giao Thụy, phía Đông Bắc là dẫy núi Tam Điệp hiểm trở như bức tường thành.


    Căn cứ Ba Đình được xây dựng trên địa bàn ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh. Vào mùa mưa, căn cứ này trông như một hòn đảo nổi giữa cánh đồng nước mênh mông, tách biệt với các làng khác. Căn cứ này gọi là Ba Đình vì mỗi làng có một cái đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia. Mỗi làng chỉ có một con đường độc đạo đi vào.


    Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công Tráng đã họp các tướng lĩnh, trình bầy kế hoạch xây dựng căn cứ Ba Đình. Việc xây thành ông giao cho Đốc Khế chỉ huy. Việc huy động dân phu và nguyên liệu giao cho các tướng khác. Nhân dân ở các làng quanh Ba Đình bao gồm cả hai huyện Nga Sơn và Tống Sơn đã hết lòng ủng hộ nghĩa quân. Mỗi làng góp 30 cái rọ lớn cao 2 m, 100 cây tre tươi còn nguyên cả cành và 10 gánh rơm để nghĩa quân xây dựng công sự. Nhân dân ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh đã nhường lại nhà cửa, vườn tược, chuyển đi ở nơi khác để nghĩa quân xây dựng căn cứ. Nhờ tinh thần yêu nước và sự đóng góp to lớn của nhân dân, chỉ trong vòng một tháng, căn cứ Ba Đình đã được xây dựng thành một cụm cứ điểm chiến đấu hết sức kiên cố, bằng cách triệt để lợi dụng địa hình, địa vật, với một hệ thống công sự hầm, hào, thế trận chặt chẽ, liên hoàn, tập trung hỏa lực, phân tán binh lực, bí mật, bất ngờ. Điều đáng lưu ý là ý thức được tính chất gay go, ác liệt của cuộc chiến đấu sắp tới, nghĩa quân đã tổ chức cho người già và trẻ em đi sơ tán ở những vùng phụ cận, nhằm tránh cho nhân dân những tổn thất không cần thiết.


    Bao bọc xung quanh căn cứ là luỹ tre dày đặc và một hệ thống hào rộng, rồi đến một lớp thành đất cao 3m, chân rộng từ 8-10m, mặt thành có thể đi lại được. Trên mặt thành, nghĩa quân đặt các rọ tre đựng bùn trộn rơm. Phía trong thành có hệ thống giao thông hào dùng để vận chuyển lương thực và vận động khi không chiến đấu. Ngoài thành là 3 vòng hào lũy, vòng trong rộng khoảng 50m cắm chông ngầm bằng tre tươi đẽo vát, xiên về phía ngoài, làm vật cản hoặc sát thương địch. Vòng giữa là lũy tre xanh dầy đặc gai góc, rậm rạp. Vòng ngoài cùng là một tầng cọc tre ngầm, đẽo nhọn và thả những cành tre, ngọn tre bùng nhùng như dàn mướp. Ở những nơi xung yếu đều có công sự vững chắc. Các hầm chiến đấu được xây dựng theo hình chữ "chi", nhằm hạn chế thương vong.


    Đầu mỗi làng đều xây dựng chốt gác kiên cố, có bãi chông mìn cẩn mật và súng thần công. Chốt một: Án ngữ con đường phía tây từ Thạch Lễ vào làng Mỹ Khê. Chốt hai: Chặn đường từ Sa Liễn, Nga Thôn, vào làng Mậu Thịnh. Chốt ba: Ngăn chặn từ Tuân Đạo, Điền Hộ từ phía đông và phía đông bắc vào làng Thượng Thọ. Các ngọn núi cao ở bên ngoài căn cứ được đặt các trạm gác và đồn tiền tiêu như: Trạm viễn vọng Nga Châu, trạm gác ở Xa Loan, Thổ trung ở phía đông, trạm Thanh Đồn, Tuân Đạo ở phía bắc, trạm Hang Giơi, núi Răng Cưa (núi Tam điệp) phía đông. Để đánh lạc hướng địch. Nghĩa quân ở các nơi đã tiến đánh, gây rối thu hút lực lượng quân Pháp, tạo điều kiện giữ bí mật cho nghĩa quân Ba Đình xây dựng căn cứ. Xây dựng xong thành lũy, Đinh Công Tráng cho mở cống Hói Cái. Nước thủy triều dâng cao thì lấp cống lại. Ba Đình thành một pháo đài nổi lềnh bềnh giữa biển nước mênh mông. Có thể nói, Ba Đình là căn cứ tiêu biểu nhất, một chiến tuyến phòng ngự quy mô nhất thời kỳ Cần Vương cuối thế kỷ XIX.


    Trong chiến đấu nghĩa quân Ba Đình không bị cô lập. Gần Ba Đình có các đội quân của Nguyễn Kiên đóng ở Bồ Giông, Mậu Yên, Trường Phi Lai. Tống Duy Tân đóng ở Bồng Trung; Cao Điển đóng ở Sơn Thôn; Thanh Xá; Cầm Bá Thước đóng ở Thường Xuân; Trần Xuân Soạn đóng ở Thạch Đằng; căn cứ Mã Cao của Hà Văn Mao; từ Ba Đình nghĩa quân có thể tỏa đi các nơi, chặn đánh các đoàn xe vận tải của địch và tập kích các toán lính hành quân đi qua gần căn cứ.


    Cùng với việc xây thành đắp lũy, kêu gọi nhân dân hưởng ứng, giúp đỡ xây dựng căn cứ, vấn đề tổ chức lực lượng cũng được nghĩa quân hết sức chú ý. Đội ngũ chiến đấu được tuyển chọn kỹ lưỡng từ những người trai tráng ở địa phương và nhiều nơi khác. Lúc đầu nghĩa quân Ba Đình chỉ độ 300 người, nhưng sau đó được bổ sung thêm. Nhân dân Nga Sơn là một trong những nguồn bổ sung lực lượng đông đảo nhất cho nghĩa quân. Nghĩa quân chia làm 10 cơ đội, mỗi cơ đội có 30 tráng binh do một Hiệp quản và một Tắc vị phụ trách. Mỗi cơ đội gồm 3 toán, mỗi toán 10 tráng binh do một suất đội chỉ huy. Tùy theo tình hình và ý đồ tác chiến của bộ chỉ huy, các cơ đội và các toán tráng binh được phân công nhiệm vụ trên các chốt khác nhau, sẵn sàng chiến đấu hoặc chi viện cho nhau. Ngoài lực lượng chính kể trên, còn có hàng trăm người khác, trong đó có nhiều phụ nữ, thiếu niên làm công tác hậu cần, liên lạc, theo dõi tình hình, truyền đạt tin tức, mệnh lệnh trong hàng ngũ nghĩa quân và các mặt đảm bảo chiến đấu trong căn cứ Ba Đình và các vùng trong huyện.


    Để có sức chiến đấu cao, vấn đề kỷ luật được nghĩa quân thực hiện nghiêm túc, người chỉ huy kịp thời thưởng phạt nghiêm minh, kỷ luật quan hệ với nhân dân luôn được nhắc nhở và đề cao. Chính vì vậy, nhân dân đã đoàn kết, tin tưởng và hết lòng ủng hộ nghĩa quân. Bên cạnh đó, nghĩa quân luôn luôn được rèn luyện, tập dượt về chiến thuật và kỹ thuật chiến đấu, như sử dụng thành thạo và có hiệu quả hỏa mai, súng thần công, súng trường, cung nỏ, giáo mác vv...Tinh thần thượng võ truyền thống của dân tộc được cổ vũ phát triển như: vật, côn, quyền. Công tác bảo mật, thông tin liên lạc trong và ngoài căn cứ được nghĩa quân nghiêm chỉnh chấp hành, người ra vào thành phải theo mật khẩu. Truyền đạt mệnh lệnh, tin tức trong ngoài do một đội quân tin cậy đảm nhiệm. Với ý đồ chiến đấu trong một thời gian dài, nghĩa quân đã thực hiện một phương thức tác chiến đúng đắn, bố trí trận địa và điều động binh lực tích cực, linh hoạt. Nghĩa quân chọn Mậu Thịnh làm địa điểm đóng sở chỉ huy, Đồn Trung được đặt ở đây, do Đinh Công Tráng trực tiếp chỉ huy. Đồn Thượng đặt ở Thượng Thọ và Đồn Hạ ở Mỹ Khê. Từ các đồn binh quan trọng đó, một hệ thống hào giao thông tỏa ra các công sự trong và ngoài chiến lũy. Lúc thường nghĩa quân đóng thành các cụm được quy định, khi địch đến, theo hệ thống hào chiến đấu, các cơ đội nhanh chóng vận động chiếm lĩnh trận địa, sẵn sàng tác chiến; quan sát theo dõi và nắm vững tình hình, khi cần thiết, các đồn có thể dùng tín hiệu trống, mõ (ban ngày) ánh lửa (ban đêm) để thông báo về sở chỉ huy. Để động viên tinh thần của binh sỹ trong chiến đấu, các thủ lĩnh nghĩa quân đã tổ chức thường xuyên hai gánh hát chèo chia nhau đến các đồn, công sự để hát, động viên tinh thần quân sĩ.


    Sau khi xây dựng căn cứ và tổ chức lực lượng. Ngày 18-8-1886 nghĩa quân tiến hành lễ thệ quân. Trong buổi lễ thệ quân, Trần Xuân Soạn thay mặt đức vua Hàm Nghi phong chức "Đề đốc chỉ huy sứ bình tây đại tướng quân" và trao quyền thống lĩnh căn cứ địa Ba Đình cho tướng quân Đinh Công Tráng.


    Ngay sau khi xây dựng xong căn cứ Ba Đình, nghĩa quân từ đây tỏa ra đánh địch ở quanh vùng, như Đồn Tam Cao, Ninh Bình, chặn đánh các đoàn quân vận tải trên đường. Những hoạt động của nghĩa quân đã gây cho địch nhiều thiệt hại, các tuyến đường giao thông của địch bị tê liệt.


    Những tin tức về hoạt động của nghĩa quân Ba Đình làm cho giặc Pháp hết sức lo ngại và chúng tìm mọi cách tiêu diệt bằng được căn cứ này. Sau khi tổ chức hai cuộc tấn công thăm dò, nắm tình hình, ngày 18-12-1886 quân Pháp mở cuộc tấn công quy mô lần thứ nhất vào Ba Đình. Lực lượng của địch được chia làm hai cánh: cánh quân thứ nhất do trung tá Métđanhgiê chỉ huy gồm 167 lính, có một cỗ đại bác 80ly yểm hộ tấn công từ phía tây nam, cánh quân thứ hai do trung tá Đốt chỉ huy có 350 lính tiến công từ phía đông bắc. Lần này, cả hai cánh quân của địch đều bị chặn đứng trước những tay súng, tay cung thiện xạ của nghĩa quân. Nhiều tên bị tiêu diệt trước chiến luỹ. Chúng phải dùng đại bác 80ly bắn chặn đường truy kích của nghĩa quân để rút lui, cuộc tấn công lần thứ nhất của giặc Pháp vào căn cứ Ba Đình bị thất bại thảm hại.


    Rõ ràng, căn cứ Ba Đình như là một cái gai án ngữ hai miền Trung và Bắc mà bọn giặc Pháp cương quyết phải nhổ. Cuối năm 1886, Pháp đã huy động về Ba Đình một số lượng tới 2.488 quân, thuộc đủ loại binh chủng, với nhiều sỹ quan cao cấp, trong đó có đại tá Brítxô, một sỹ quan lão luyện thạo nghề công thành của quân đội Pháp, sang chỉ huy mặt trận Ba Đình, với nhiệm vụ cụ thể là tiêu diệt toàn bộ lực lượng khởi nghĩa và đặc biệt phải tiêu diệt bằng được thủ lĩnh Đinh Công Tráng. Ngoài ra, chúng còn điều động các pháo hạm vào yểm trợ cho các đường tiếp tế. Bọn phong kiến tay sai cung cấp cho Pháp 5.000 phu và 3 thuyền lớn để chuyên chở lương thực. Bên cạnh đó, chúng lại được "cha Sáu" (tức Trần Lục) thông thạo địa hình, bày mưu tháo cạn nước cánh đồng Ba Đình và vạch kế hoạch đánh phá nghĩa quân. Lần này, bọn Pháp sử dụng chiến pháp sở trường là: một trận tuyến, một vòng vây, tiến dần từng bước sát vị trí nghĩa quân và tập trung lực lượng công phá.


    Ngày 6-1-1887, thực dân Pháp mở đợt tấn công lần thứ hai: Quân giặc chia làm 3 mũi tiến vào căn cứ sau một hồi pháo kích dữ dội. Lần này chúng tiến được sâu hơn trước, nhưng đến gần thành thì bị nghĩa quân chặn lại. Ở những nơi khác, quân địch bị sa lầy trong bùn nước sâu, lại bị hỏa lực của nghĩa quân bắn rát nên rất hoang mang. Giặc Pháp phải tự thú nhận: "Tình cảnh của chúng ta ở Ba Đình lúc này đã đến mức không thể trông địch hàng, mà phải trông vào sự rộng lượng của họ, một khi chúng ta bại trận". Địch bị tổn thất nặng nề và phải lui quân.


    Sau trận đánh này, địch nhận thấy không dễ dàng tấn công chiếm lĩnh nhanh chóng trận địa của nghĩa quân. Tên chỉ huy Britxô cho bao vây nghĩa quân bằng 2 phòng tuyến, cắt đứt sự chi viện từ bên ngoài. Đồng thời xin tăng thêm viện binh và đại bác. Bọn thực dân Pháp ra lệnh cho Brítxô "phải tiêu diệt Ba Đình bằng mọi giá". Để thực hiện mục đích đó, Y tiến hành bao vây và lấn dần từng bước, nhằm cô lập căn cứ, cắt đứt nguồn tiếp tế của nghĩa quân, ngày càng thắt chặt vòng vây. Ngày 15-1-1887, Britxô hạ lệnh tấn công căn cứ. Quân địch lấy dầu phun lửa đốt cháy luỹ tre, cùng lúc tập trung đại bác bắn dồn dập vào căn cứ. Sáng ngày 20-1, toán công binh của địch đã tiến sát phòng tuyến thứ nhất của chiến luỹ tre bao quanh Ba Đình. Nhưng chúng thấy "khó khăn vẫn còn lớn, những đường hào đầy nước và chơm chởm cọc tre vót nhọn thật sự tạo thành một rừng lao đáng sợ". Công binh Pháp đã phải tưới dầu hỏa vào những cây tre bằng bơm chữa cháy rồi phóng hỏa, nhưng chỉ một phần ít bắt lửa. Bọn địch dẫm bừa lên xác chết để xông vào. Cuộc chiến của Nghĩa quân Ba Đình trở nên vô cùng ác liệt, phải chống chọi với một đội quân được trang bị hiện đại, với số lượng đông hơn ít nhất là mười lần; bệnh dịch tả và kiết lỵ lại bắt đầu xuất hiện bên phía nghĩa quân do nguồn nước bị ô nhiễm.


    Trước tình hình trên, để tránh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn, dành sức cho cuộc chiến đấu lâu dài tiếp theo, Phạm Bành và Đinh Công Tráng quyết định rút quân khỏi căn cứ Ba Đình. Đêm ngày 20-1-1887, trong màn sương dày đặc, tiết trời giá rét, đội cảm tử do Đốc Khế chỉ huy bất ngờ tấn công các đồn địch ở phía trong và nghĩa quân do Trần Xuân Soạn chỉ huy cũng tấn công các đồn ngoại vi của chúng. Giữa lúc ấy, đại bộ phận nghĩa quân Ba Đình chia làm hai đội do Đinh Công Tráng và Phạm Bành chỉ huy theo hai hướng khác nhau thoát ra ngoài. Đội quân của Đinh Công Tráng rút theo hướng tây bắc đã vượt qua sông Hoạt, lên Hà Trung rồi về Ma Cao tiếp tục kháng chiến. Cánh quân của Phạm Bành vượt được về làng Gũ (Cự Thôn, Hà Trung) rồi tự phân tán về các địa phương.


    Sáng ngày 21-1-1887, sau những đợt công phá dữ dội của đại bác, giặc Pháp mới dám vào căn cứ Ba Đình, khi tiếng súng của nghĩa quân đã im lặng từ lâu. Tên Brútxô đã trả thù một cách hèn hạ, ra lệnh triệt phá ba làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê. Thực dân Pháp cho người lùng bắt và đàn áp dã man tất cả những ai tham gia cuộc khởi nghĩa, bắt bọn phong kiến Namtriều xóa bỏ tên ba làng ra khỏi bản đồ Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình đã trở thành nỗi khiếp sợ, không chỉ của quân xâm lược Pháp và bè lũ phong kiến tay sai ở mặt trận Ba Đình, mà còn chấn động tới tận sào huyệt của bọn thực dân xâm lược ở chính quốc.


    - Cuộc khởi nghĩa Ba Đình năm 1886-1887 là đỉnh cao của phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX ở Thanh Hóa. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình tiếp tục tô đẹp thêm truyền thống vẻ vang của dân tộc ta trong chiến tranh chống xâm lược. Đó là tinh thần yêu nước nồng nàn, sức mạnh đoàn kết hùng hậu của các tầng lớp nhân dân, tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất trong cuộc chiến tranh vô cùng gian khổ, đầy hy sinh để bảo vệ độc lập dân tộc.


    - Cuộc khởi nghĩa Ba Đình còn để lại những bài học vô cùng quý giá về trí thông minh, sáng tạo và nghệ thuật quân sự. Trên ý nghĩa chiến lược, hình thức tác chiến làng xã được thể hiện đậm nét trong cuộc khởỉ nghĩa Ba Đình. Đó là hình thức tác chiến chủ yếu của nhân dân ta trong lịch sử giữ nước, mà khởi nghĩa Ba Đình là một bước phát triển mới, làng xã được tổ chức lại thành một hệ thống phòng thủ chặt chẽ, khoa học, đảm bảo kỹ thuật, phát huy được chiến thuật của nghĩa quân, hạn chế được binh khí, kỹ thuật hiện đại, nhất là phát huy tối đa tác dụng của vũ khí thô sơ.


    - Cuộc khởi nghĩa Ba Đình là niềm vinh dự, tự hào và là nguồn cổ vũ, động viên lớn lao đối với các thế hệ người dân Nga Sơn, người dân Thanh Hóa, người dân Việt Nam, trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay. Cái tên Ba Đình không những không bị xóa, mà còn mãi mãi lung linh toả sáng trong lịch sử dân tộc Việt Nam.


    Trước tháng 3 năm 1945 các vường hoa, quảng trường , tượng đài, đường phố ở Hà Nội mang tên người Pháp hoặc những người Việt làm tay sai cho chế độ thực dân. Sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), tháng 4-1945, Chính phủ bù nhìn thân Nhật Trần Trọng Kim được dựng lên. Ngày 20-7-1945, Nhật mị dân bằng cách giao việc quản lý hành chính Hà Nội cho người Việt. Bác sĩ Trần Văn Lai được giao làm Đốc lý (Thị trưởng). Là một người yêu nước, giàu tinh thần dân tộc nên ngay sau khi nhậm chức, việc đầu tiên mà cụ làm là “công cuộc tẩy trừ vết tích thực dân Pháp", bằng việc cho hạ tượng tên thực dân Paul Bert cạnh Toà Thị chính, tượng "Mụ đầm xoè" (phiên bản tượng Nữ thần Tự do) ở vườn hoa Cửa Nam, đài kỷ niệm lính khố xanh ở phố Hàng Trống...và các đường phố ở Hà Nội mang tên người Pháp hoặc những người Việt làm tay sai cho chế độ thực dân. Cụ Lai đã dành nhiều thời gian, tâm sức đưa ra một chương trình hành động cấp bách là: “chống kẻ đầu cơ tích trữ - nghiêm trị người gây mất trật tự ngoài đường - nghiêm trị những người gây mất vệ sinh và tìm công ăn việc làm cho những người hành khất” (lúc đó nạn đói vẫn đang hoành hành, người ăn xin từ tứ xứ lên Hà Nội nhiều vô kể). Trong một bài trả lời phỏng vấn ông còn nói đến viễn cảnh sẽ mở mang Hà Nội thêm 50 cấy số, xây những đại lộ rộng 50 thước có dải trồng cây xanh ở giữa rộng đến 10 thước; chỉnh trang lại các cửa ô, di tích lịch sử để làm du lịch, chọn vùng Bưởi làm khu tiểu thủ công nghiệp, vùng Gia Lâm làm khu đại công nghệ, các bãi Cơ Xá, Phúc Xá làm khu giải trí v.v....đổi tên lại toàn bộ các phố ở Hà Nội. Đại lộ Boulevard Carnot được đổi lại thành phố Phan Đình Phùng; phố Boulevard Gambetta được đổi thành phố Trần Hưng Đạo; phố Henri D’ Orleans đổi thành phố Phùng Hưng; phố Francis Ganier đổi hành phố Đinh Tiên Hoàng…Vườn hoa Puginier trước Phủ Toàn quyền được cụ đổi tên thành Vườn hoa Ba Đình để kỷ niệm Khởi nghĩa Ba Đình ở Nga Sơn (Thanh Hoá) - một cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của phong trào Cần Vương chống Pháp.


    Thời gian chỉ đủ để Cụ Trần Văn Lai kịp thời xoá bỏ tên một số vườn hoa quảng trường trong thành phố mang tên các quan chức thực dân Pháp đổi thành những địa danh hay nhân vật lịch sử dân tộc Việt Nam, trong đó có việc đổi tên Vườn hoa Puginier trước Phủ Toàn quyền được cụ đổi thành Vườn hoa Ba Đình. Dưới thời Pháp thuộc, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nơi đây chỉ là một khu đất gồm những bãi đất hoang và hồ ao rộng tới hàng chục hecta cạnh Phủ Toàn quyền Pháp, có tên là Quảng trường Tròn (Rond point Puginier) hay còn gọi là Quảng trường PUGINIER (tên của một Linh mục người Pháp). Một thời gian dài, Quảng trường Tròn đã được các kiến trúc sư người Pháp là HEBRAT và CERRUTI đưa ra các quy hoạch tổng thể và cải tạo lại Quảng trường này.


    Trên thực tế chưa kịp đổi tên các đường phố thì ông đã phải rời khỏi nhiệm sở và một chính quyền mới đã ra đời cùng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày 30/8/1945 Chủ tịch chính phủ Hồ Chí Minh đã mời bác sĩ Trần Duy Hưng làm thị trưởng Hà Nội. Một trong những công việc mà Cụ Trần Duy Hưng thị trưởng Hà Nội làm chính là tiếp tục công việc Cụ Trần Văn Lai đã làm là xây dựng dự án và ra quyết định duyệt y việc đổi tên và đặt tên toàn bộ các đường phố và công trình công cộng của Thủ đô Hà Nội theo nguyên tắc xoá bỏ tàn tích thực dân, tôn vinh các chiến công và danh nhân Việt Nam, bảo tồn các địa danh truyền thống trong đó có tên của các phố, phường trong khu phố cổ và tiếp thu có điều chỉnh những quyết định của người đi trước mình.


    Chỉ hơn một tháng mang tên Vườn hoa Ba Đình. Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945 , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Vườn hoa Ba Đình này. Sau đó, các phương tiện thông tin thế giới đã đồng loạt loan tin "Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà"...


    Sau thời điểm đó, Quảng trường Ba Đình có tên mới là Quảng trường Độc lập. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Pháp chiếm lại Hà Nội đặt tên là Quảng trường Hồng Bàng. Sau hoà bình lập lại, năm 1954, có ý kiến đề nghị lấy tên cũ là Quảng trường Độc lập nhưng Bác Hồ quyết định cứ giữ nguyên tên Quảng trường Ba Đình đến bây giờ.


    Di tích lịch sử chiến khu Ba Đình, cách trung tâm huyện Nga Sơn 4km về phía tây bắc, thuộc xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia, tại Quyết định số 3959 QĐ/BVHTT ngày 02/12/1992 của Bộ Văn hóa - thông tin
    muamuaha198muamuaha86 thích bài này.
  4. haohoacongtu

    haohoacongtu Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Bài viết:
    3.736
    Đã được thích:
    5.410
    Nguyễn Thiện Thuật và khởi nghĩa Bãi Sậy
    7/6/2011

    Nguyễn Thiện Thuật, thủ lĩnh của khởi nghĩa Bãi Sậy, quê ở làng Xuân Đào, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông là con cả của một gia đình nhà nho nghèo, là hậu duệ đời thứ 30 của Nguyễn Trãi.

    Cha ông là tú tài Nguyễn Tuy làm nghề dạy học, các em trai ông là Nguyễn Thiện Dương và Nguyễn Thiện Kế sau này cũng đều tham gia khởi nghĩa Bãi Sậy.

    [​IMG]

    Nguyễn Thiện Thuật

    Năm 1874, khi đã đỗ Tú tài, Nguyễn Thiện Thuật được triều đình nhà Nguyễn cử làm Bang biện do có công đánh giặc ởKinh Môn tỉnh Hải Dương. Năm (Bính Tý) 1876 ông tiếp tục dự kỳ thi nho học và đậu Cử nhân - cùng khoa thi này có Phan Đình Phùng - vào năm sau đỗ Đình nguyên Tiến sĩ. Sau đó Nguyễn Thiện Thuật được thăng chức Tri phủ Từ Sơn tỉnhBắc Ninh. Rồi ông được bổ nhiệm giữ chức Tán tương quân vụ tỉnh Hải Dương (Vì thế nhân dân thường gọi ông là Tán Thuật). Năm 1881, ông giữ chức Chánh sứ sơn phòng tỉnh Hưng Hóa kiêm chức Tán tương quân vụ tỉnh Sơn Tây. Ông làm quan thanh liêm, công minh và có tài cai trị. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai năm 1882-1883, nhà Nguyễn đầu hàng, nhưng Nguyễn Thiện Thuật đã kháng lệnh triều đình nhà Nguyễn, quyết tâm đánh Pháp.

    Đầu năm 1883, ông sang Đông Triều tỉnh Quảng Ninh để chiêu mộ nghĩa quân và liên kết với Đinh Gia Quế, là lãnh tụ của nghĩa quân Bãi Sậy (ngày nay thuộc các huyện: Khoái Châu, Văn Giang, Yên Mỹ, Mỹ Hào của tỉnh Hưng Yên) để chống Pháp. Cuối năm 1883, sau khi ký hiệp ước Harmand, vua Tự Đức ra lệnh bãi binh ở Bắc Kỳ, nhưng Nguyễn Thiện Thuật kháng chỉ và lên Hưng Hóa, Tuyên Quang cùng với Nguyễn Quang Bích tiếp tục kháng chiến.

    Năm 1884, thành Hưng Hóa thất thủ, ông rút lên thành Lạng Sơn phối hợp với Lã Xuân Oai, Tuần phủ Lạng Bình (Lạng Sơn, Cao Bằng) kháng Pháp, cho tới khi thành này thất thủ năm 1885, thì trốn sang Long Châu - Trung Quốc.

    Tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương. Nguyễn Thiện Thuật trở về nước, thành lập căn cứ địa Bãi Sậy, tiếp tục sự nghiệp của thủ lĩnh Đinh Gia Quế (do thủ lĩnh Đinh Gia Quế đã mất). Vua Hàm Nghi phong cho ông làm Bắc Kỳ hiệp thống quân vụ đại thần, gia trấn Trung tướng quân, nên nhân dân còn gọi ông là quan Hiệp Thống. Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thiện Thuật, khởi nghĩa Bãi Sậy lan ra khắp tỉnh Hưng Yên và một số tỉnh lân cận như: Hải Dương, Thái Bình.

    Căn cứ Bãi Sậy là khu rừng sậy ở giữa các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ và Mỹ Hào. Vị trí Bãi Sậy hiểm yếu và có nhiều đường thông ra ngoài. Chính nhờ vậy, mà nghĩa quân đã bung ra hoạt động khắp nơi, lan sang các tỉnh lân cận khác như Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Yên...

    Trong 10 năm kháng chiến, khởi nghĩa Bãi Sậy có thể chia ra làm 3 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là từ năm 1883- 1885, do thủ lĩnh Đinh Gia Quế lãnh đạo; Giai đoạn thứ hai từ năm 1885- 1890, do thủ lĩnh Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo và giai đoạn thứ 3 là từ năm 1890- 1892, do thủ lĩnh Nguyễn Thiện Kế lãnh đạo.

    Căn cứ Bãi Sậy ngoài ở vị trí hiểm yếu, tiện phòng thủ, thuận lợi trong tiến công, nơi đây còn làm cho giặc Pháp và quân lính tay sai khiếp sợ vì có rất nhiều hầm hào luồn dưới những thân sậy, lớp nọ chồng lên lớp kia. Rắn độc cũng rất nhiều, nhiều tên lính bò vào căn cứ để trinh sát bị rắn cắn chết. Đã có rất nhiều toán quân Pháp liều chết thọc sâu vào căn cứ thì cả toán không một tên nào sống sót trở về mà không hề có một tiếng súng nổ.

    Tương truyền để lọt vào được căn cứ, phải vượt qua những đám sậy cao tới 3 mét cùng những gai mỏ quạ, cả gai leo, gai dứa cùng những cây lá han đụng vào là sưng tấy nhức buốt đến tận xương. Nếu vượt qua được cây lau sậy và đầm lầy, thì còn vô vàn những con đỉa đói bám lấy giặc Pháp mà hút máu. Quân giặc dò dẫm như đi vào mê hồn trận, đang lúc bàng hoàng chưa biết đi về hướng nào thì cờ đỏ phất lên, lập tức nghĩa quân nấp trong các hầm hào, địa đạo bí mật nổ súng. Ban ngày nghĩa quân ở trong căn cứ, sản xuất lương thực, ban đêm đi tập kích các đồn địch. Nhân dân tự động làm công tác trinh sát, phát hiện các cuộc càn quét của giặc báo cho nghĩa quân, nên nghĩa quân đã kịp thời đón đánh chúng.

    Nghĩa quân không chỉ đánh giặc khi chúng xâm phạm vào căn cứ, mà còn tấn công các đồn binh như: Bình Phú, Lực Điền, Thuỵ Lân (Yên Mỹ), đồn Bần, đồn Thứa (Mỹ Hào), đồn Phủ Ân Thi, đồn Ứng Lôi (Phù Cừ), các đồn ở huyện Văn Giang và phục kích quân Pháp trên đường số 5, đường 39. Bọn cầm đầu quân sự Pháp ở Trung - Bắc Kỳ phải thú nhận:Nhờ căn cứ Bãi Sậy “Nghĩa quân vẫn thật sự cai trị các làng, còn bọn quan cai trị Pháp đặt ở các phủ huyện để cai trị dân thì tỏ ra bất lực và hoảng sợ trước sự phát triển của nghĩa quân, chúng bỏ trốn vào các tỉnh lỵ. Phần đông các tổng lý lại có cảm tình hoặc ủng hộ quân khởi nghĩa”

    Tháng 10 năm 1885 Thống tướng người Pháp là Roussel de Courcy giao cho thiếu tướng François de Négrier, trung tá Donnier cùng Hoàng Cao Khải mở cuộc càn quét lớn vào căn cứ Bãi Sậy. Được tin, Nguyễn Thiện Thuật lệnh cho các tướng bí mật tấn công vào các đồn địch, chặn đường địch hành quân. Sau đó, ông nhử địch vào sâu căn cứ nơi đặt trận địa mai phục. Khi quân Pháp biết bị mắc lừa định rút lui thì quân Bãi Sậy nổ súng và dùng đoản đao, mã tấu đánh giáp lá cà. Nhiều quân Pháp bị giết, tướng Négrier chạy thoát.

    Thống tướng De Coursy bị bãi chức, Charles-Auguste-Louis Warnet sang thay. Warnet thực hiện càn quét quy mô lớn bằng chiến lược phân tán quân đội, lập các đồn nhỏ để dễ tuần tiễu, đồng thời chuyển chế độ cai trị bằng quân sự sang dân sự, nhưng cũng không thành công.

    Ngày 9 tháng 2 năm 1888, em Nguyễn Thiện Thuật là Nguyễn Thiện Dương bị tử trận trong cuộc đụng độ với quân Pháp do viên đội Fillipe chỉ huy. Được tin em chết, ngay đêm đó Nguyễn Thiện Thuật lệnh cho Tuần Vân, Đề Tính tấn công đồn Ghênh và đồn Bần Yên Nhân để trả thù, giết chết 21 quân địch.

    Ngày 11 tháng 11 năm 1888, Hoàng Cao Khải cùng giám binh Ney chỉ huy đồn Mỹ Hào đưa lính về gặt lúa ở Liêu Trung tổng Liêu Xá, muốn buộc dân hết lương phải ra đầu thú, xa rời quân Bãi Sậy. Nguyễn Thiện Thuật được tin, lệnh cho các tướng Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Văn Sung, Vũ Văn Đồng đem 800 quân trong đó có 400 tay súng giả dạng phu gặt để phục kích. Quân Bãi Sậy nổ súng giết chết 31 quân địch, trong đó có giám binh Ney, Bang tá Nguyễn Hữu Hào. Hoàng Cao Khải trốn thoát về Mỹ Hào rồi nhờ giáo dân Kẻ Sặt đưa đường chạy về Hải Dương.

    Tháng 6 năm 1889, Thống sứ Bắc Kỳ ra lệnh thành lập đạo quân Tuần cảnh do Hoàng Cao Khải với chức Khâm sai Bắc Kỳ làm Tư lệnh trưởng, Muselier làm Cảnh sát sứ. Quân Bãi Sậy giao chiến quân Tuần cảnh suốt 8 tháng, gây cho địch khá nhiều thiệt hại. Trận Đông Nhu, quân Bãi Sậy giết viên quản khố xanh Leglée; ngày 24 tháng 7 giết chết viên quản khố xanh Escot ở làng Hoàng Vân. Ngày 18 tháng 10 Nguyễn Thiện Thuật bắn viên quản Montillon bị trọng thương. Ngày 11/4/1891 quân của Hai Kế và Đề Vinh bị vây ở Mậu Duyệt, hai bên bắn nhau, viên quản Desmot bị giết, giám binh Lambeet bị thương. Nhiều lần không thắng được, người Pháp phải tặng Nguyễn Thiện Thuật danh hiệu "Vua Bãi Sậy”.

    Từ sau khi vua Hàm Nghi bị bắt (1888) và lưu đày ở châu Phi, phong trào Cần vương bắt đầu suy yếu. Sức mạnh của quân Bãi Sậy cũng suy yếu dần. Quân Pháp thiết lập được nhiều đồn quanh căn cứ Bãi Sậy, các tướng: Lãnh Điều, Lãnh Lộ, Lãnh Ngữ, Đề Tính cùng một số tướng lĩnh khác tử trận, số còn lại bị truy kích. Hoàng Cao Khải nhân danh vua Đồng Khánh chiêu dụ Nguyễn Thiện Thuật ra hàng và hứa khôi phục chức tước. Ông đã viết vào tờ sớ dụ này 4 chữ “Bất khẳng thụ chỉ” (Không chịu nhận chỉ). Sau đó, ông giao quyền lãnh đạo cho em là Nguyễn Thiện Kế rồi sang Trung Quốc mưu tính cuộc vận động mới.

    Sự nghiệp chưa thành, thì ông mất vì bệnh ngày 25 tháng 5 năm 1926 và được an táng trên quả đồi thuộc hương Quan Kiều, ngoại vi thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Bia mộ khắc dòng chữ “Việt Nam cách mạng. Cố tướng quân Nguyễn Công Thiện Thuật - Chi mộ”. Vào năm 1990, Việt kiều ở Trung Quốc đã di chuyển phần mộ Nguyễn Thiện Thuật từ đồi hương Quan Kiều về đồi hương Đại Lĩnh, phía nam thành phố Nam Ninh, cùng khu vực nghĩa trang của bộ đội, thương binh Việt Nam sang Trung Quốc điều trị và mất tại đây.

    Ngày 30/1/2005 tỉnh Hưng Yên đã phối hợp với địa phương và dòng họ của lãnh tụ khởi nghĩa Bãi Sậy Nguyễn Thiện Thuật, đưa hài cốt của ông về an táng tại quê hương Xuân Dục, huyện Mỹ Hào. Cũng trong năm 2005, tỉnh Hưng Yên đã xây dựng nhà bia tưởng niệm Nguyễn Thiện Thuật trong khu di tích lăng mộ của ông gần với cây đề cổ thụ, vọng gác tiền tiêu của nghĩa quân Bãi Sậy năm xưa.

    Trong cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy - do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo kéo dài 6 năm( 1883-1890). Ngoài tinh thần anh dũng bất khuất của nghĩa quân, thì gia đình danh nhân Nguyễn Thiện Thuật là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh kháng Pháp đến cùng. Hai người cháu ruột của Nguyễn Thiện Thuật bị triều đình tay sai nhà Nguyễn xử tử; hai người em ruột của ông là: Nguyễn Thiện Dương, Nguyễn Thiện Kế đều hy sinh vì nước; hai người con trai, Nguyễn Thiện Tuyển, Nguyễn Thiện Thường hy sinh anh dũng. Sau khi Bãi Sậy tan vỡ, anh hùng Nguyễn Thiện Tuyển về chiến khu Yên Thế tiếp tục chiến đấu, sau bị giặc bắt và bị xử chém tại Bần Yên Nhân vào tháng 4-1909.
    muamuaha198muamuaha86 thích bài này.
  5. haohoacongtu

    haohoacongtu Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Bài viết:
    3.736
    Đã được thích:
    5.410
    KHỞI NGHĨA HÙNG LĨNH 1886 - 92[​IMG]
    KHỞI NGHĨA HÙNG LĨNH 1886 - 92:
    khởi nghĩa hưởng ứng chiếu Cần vương do Tống Duy Tân, Cao Điền lãnh đạo tại Hùng Lĩnh (Thanh Hoá). Sau khi căn cứ Ba Đình, Mã Cao thất thủ (1887), bị quân Pháp truy lùng, Tống Duy Tân phải lánh sang Trung Quốc. Đầu 1889, ông trở về tây nam Thanh Hoá, lập căn cứ ở Vân Động, phát động phong trào chống Pháp ở các vùng Yên Định, Vạn Lại, Nông Cống, Thọ Xuân, vv. Cùng với hoạt động tác chiến, nghĩa quân đã chú ý tới công tác địch vận và tuyên truyền đoàn kết lương giáo. Pháp phải tập trung nhiều quân, liên tục đánh dẹp. Từ tháng 2 đến tháng 4.1891, nghĩa quân bị bao vây và liên tiếp bị thất bại trong nhiều trận. Tháng 10.1892, Tống Duy Tân bị bắt và bị giết, Cao Điền chuyển lên vùng Yên Thế, KNHL chấm dứt.
    muamuaha198muamuaha86 thích bài này.
  6. haohoacongtu

    haohoacongtu Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Bài viết:
    3.736
    Đã được thích:
    5.410
    1885-1895 :Khởi nghĩa Hương Khê.[​IMG]
    [​IMG]
    Đây là cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhất, độc đáo nhất và kéo dài nhất trong phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX. Cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo với sự trợ giúp của Cao Thắng, Ngô Quảng, Cao Đạt, Hà Văn Mỹ, Nguyễn Chanh, Nguyễn Trạch… Địa bàn hoạt động của nghĩa quân bao gồm 4 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, trong đó địa bàn chính vẫn là Nghệ An - Hà Tĩnh.

    Đây là cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhất, độc đáo nhất và kéo dài nhất trong phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX. Cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo với sự trợ giúp của Cao Thắng, Ngô Quảng, Cao Đạt, Hà Văn Mỹ, Nguyễn Chanh, Nguyễn Trạch…

    Địa bàn hoạt động của nghĩa quân bao gồm 4 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, trong đó địa bàn chính vẫn là Nghệ An - Hà Tĩnh.

    Phan Đình Phùng đã chia địa bàn 4 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình thành 15 quân thứ, xây dựng những chiến tuyến cố định, mạnh kết hợp lối đánh du kích với lối đánh lớn chuyến tuyến cố định, cuộc khởi nghĩa Hương Khê đã gây cho Pháp nhiều tổn thất lớn. Những chiến thắng của Phan Đình Phùng như: trận đánh úp thành Hà Tĩnh, bắt sống Tri phủ Đinh Nho Quang 1892, trận Vạn Sơn tháng 3-1893, trận tập kích Hà Tĩnh lần thứ hai năm 1894 và trận Vụ Quang tháng 10-1894 được coi là một thành tựu của nghệ thuật quân sự Việt Nam lúc đó.

    Phó tướng Cao Thắng, là người có tài chế súng theo kiểu năm 1874 của Pháp. Thực dân Pháp phải huy động một lực lượng quân đội lớn, với nhiều vũ khí hiện đại chúng tấn công thành Ba Đình. Cao Thắng hy sinh lúc mới 30 tuổi. Phan Đình Phùng tạ thế ở núi Quạt (Hà Tĩnh) ngày 28-12-1895. 23 bộ tướng của ông cũng bị giặc Pháp bắt và sử tử tại Huế.

    Đầu năm 1896, những tiếng súng cuối cùng của phong trào Cần Vương cũng kết thúc.
    muamuaha198muamuaha86 thích bài này.
  7. ngaongantuhai

    ngaongantuhai Thành viên gắn bó với ttvnol.com Đang bị khóa

    Tham gia ngày:
    16/12/2012
    Bài viết:
    348
    Đã được thích:
    705
    Cóp ở đâu đấy bạn ơi, đưa cái link cho rồi
  8. haohoacongtu

    haohoacongtu Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Bài viết:
    3.736
    Đã được thích:
    5.410
    1883-1913 :Phong trào nông dân Yên Thế.[​IMG]
    [​IMG]
    Phong trào nông dân Yên Thế, là sự kiện quan trọng nhất của phong trào nông dân khởi nghĩa thời cận đại. Cuộc khởi nghĩa kéo dài trong 30 năm , từ thời Cần Vương qua đầu thế kỷ XX, luôn là ổ đề kháng quan trọng mà nhiều lực lượng chính trị phải tìm kiếm.

    Phong trào nông dân Yên Thế, là sự kiện quan trọng nhất của phong trào nông dân khởi nghĩa thời cận đại. Cuộc khởi nghĩa kéo dài trong 30 năm , từ thời Cần Vương qua đầu thế kỷ XX, luôn là ổ đề kháng quan trọng mà nhiều lực lượng chính trị phải tìm kiếm.

    Người đầu tiên có công xây dựng căn cứ khởi nghĩa ở vùng Yên Thế (tây bắc, tỉnh Bắc Giang) là Đề Nắm (Lương Văn Nắm). Năm 1892 ông mất, sự nghiệp được giao lại cho phó tướng Đề Thám (Trương Văn Thám).

    Cuộc chiến đấu của nghĩa quân Yên Thế chủ yếu là những trận đánh đầy mưu mẹo, nghĩa quân đánh phá cuộc tấn công lớn đầu tiên của Pháp vào Phồn Xương tháng 8-1894…

    Từ tháng 11-1909 đến 1913, thực dân Pháp tập trung lực lượng tấn công quyết liệt vào căn cứ nghĩa quân. Tuy vậy, trong vòng 10 tháng cuối cùng, nghĩa quân Yên Thế đã đánh thắng nhiều trận liên tiếp như trận Chợ Gồ tháng 1-1909, trận Sơn Quả tháng 2-1909, trận Rừng Phe tháng 2-1909, trận Hàm Lợn tháng 3-1909, trận Núi Sáng tháng 10-1909…

    Do sức phản công của thực dân Pháp quá mạnh, cộng với sức cùng lực kiệt, nghĩa quân của Đề Thám dần bị suy yếu. Bản thân Đề Thám bị Pháp trêu đầu ở Nhã Nam ngày 12-10-1913. Phong trào nông dân Yên Thế chấm dứt.
    muamuaha198muamuaha86 thích bài này.
  9. haohoacongtu

    haohoacongtu Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Bài viết:
    3.736
    Đã được thích:
    5.410
    Khởi Nghĩa Thái Nguyên
    Chi tiết

    25 08 2011

    Lượt xem: 1706


    SocButtons v1.5



    [​IMG]
    Đêm 30 tháng 8 năm 1917, hơn 300 binh sĩ do Đội Cấn chỉ huy đã phát động khởi nghĩa tại Thái Nguyên. Chỉ huy Đội Cấn tên thật là Trịnh Văn Cấn hay Trịnh Văn Đạt, quê ở làng Yên Nhiên, phủ Vĩnh Tường, nay thuộc huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc, là viên đội lính khố xanh trong cơ binh Pháp đóng ở Thái Nguyên (vì thế gọi là Đội Cấn). Diễn biến cuộc khởi nghĩa bắt nguồn từ vụ Hà Thành đầu độc năm 1908 vỡ lở và âm mưu đưa vua Duy Tân ra ngoài, khởi nghĩa năm 1916 thất bại, xã hội Việt Nam ngày càng sôi động mặc dầu chính quyền Bảo hộ cố dập tắt các phong trào kháng cự và bắt giam nhiều người.


    Trong số những người phải thụ án giam ở Thái Nguyên là Lương Ngọc Quyến, con cụ Cử Lương Văn Can, hiệu trưởng của Đông Kinh Nghĩa thục. Lương Ngọc Quyến cũng là thành viên của Việt Nam Quang phục Hội và qua ông, trại lính khố xanh canh phòng ở Thái Nguyên hưởng ứng lời kêu gọi nổi dậy chống lại chỉ huy người Pháp. Mọi người tôn ông là quân sư.

    Đội Cấn chỉ huy lực lượng 175 người lính giết giám binh người Pháp, Noël, đoạt khí giới đạn dược, rồi phá ngục, giết cai ngục Loew, giải cứu Lương Ngọc Quyến cùng 203 tù nhân. Nghĩa quân sau đó cướp kho bạc và làm chủ toàn tỉnh lỵ, trừ đồn lính khố đỏ cố thủ ở bên bờ sông Cầu. Trong sáu ngày từ đêm 30 Tháng Tám đến ngày 5 Tháng Chín, quân của Đội Cấn trấn giữ thành Thái Nguyên, lại thu nạp thêm các dân phu mỏ và dân địa phương nâng quân số lên khoảng hơn 600 người. Thành phần lực lượng khởi nghĩa gồm khoảng 130 lính vệ binh, hơn 200 tù nhân, 300 dân phu và dân địa phương. Theo gợi ý của Lương Ngọc Quyến, Đội Cấn chia lực lượng khởi nghĩa thành hai tiểu đoàn, tiểu đoàn thứ nhất gồm các lính vệ binh cũ, tiểu thứ hai gồm tù nhân và dân quân, chỉ huy là Ba Chi. Trang bị của đội quân này gồm 92 súng hỏa mai và 75 súng trường mà quân nổi dậy thu được từ kho vũ khí của Pháp

    Nghĩa quân lấy lá cờ có 5 ngôi sao lớn đề 4 chữ ” Nam binh phục quốc ” làm quân kỳ. Tuyên bố Thái Nguyên độc lập, đặc quốc hiệu là Đại Hùng. Đêm 30 rạng sáng 31, nhân dân Thái Nguyên lần đầu tiên được nghe bản Tuyên ngôn và Lời kêu gọi ” Chúng ta hãy mau chóng lợi dụng cơ hội ngàn năm có một, cơ hội thật hiếm có để rửa nhục, để trả thù “. Họ truyền hịch, đợi các nơi hưởng ứng nổi dậy cùng ngoại viện từ bên Tàu và Nhật đến vì tin rằng Việt Nam Quang phục Hội có lực lượng đợi sẵn để trợ lực. Lãnh tụ cuộc khởi nghĩa cũng tuyên bố độc lập, lấy quốc hiệu là “Đại Hùng”. Họ trương cờ “Ngũ tinh liên châu” (cờ vàng với năm ngôi sao tròn xếp hình X) của Việt Nam Quang phục Hội trên cửa thành.

    Vào ngày 2 Tháng Chín năm 1917 thì quân Pháp bắt đầu phản công với đội quân 2.700 người và đến ngày 5 Tháng Chín thì đánh vào tỉnh lỵ. Lương Ngọc Quyến trúng đạn ở đầu chết. Đội Cấn phải triệt thoái khỏi Thái Nguyên chạy về phía bắc. Đến trưa ngày mồng 5 thì Pháp tái chiếm được thành. Số thương vong bên nghĩa quân là 56 người; quân Pháp thiệt mạng 107 người.

    Đội Cấn sau đó dẫn quân chạy lên Đại Từ, Tam Đảo rồi xuống Vĩnh Yên, trước khi trở lại vùng Thái Nguyên nhưng lực lượng hao mòn dần. Tại núi Pháo, thuộc huyện Đại Từ, trong cuộc đánh trả các cuộc tấn công của địch, Đội Cấn bị thương nặng và không để rơi vào tay giặc, 21 giờ ngày 5 tháng 1 năm 1918, ông đã tự sát. Bốn nghĩa binh còn lại đã lo chôn cất chủ tướng của mình chu đáo. Đó là ngày 11 Tháng Giêng năm 1918. Quân Pháp tiếp tục càn quét tàn quân của cuộc khởi nghĩa tới tháng 3 thì xong, với một chiến thuật mà họ sử dụng rất hiệu quả là bắt giữ thân nhân của quân khởi nghĩa để buộc họ phải ra hàng. Một số người bị bắt bị kết án tử hình, những người khác bị kết án và đày ra Côn Đảo. Cuộc khởi nghĩa chấm dứt.

    Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên kéo dài hơn 4 tháng đã làm rung chuyển chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, chấn động dư luận thế giới, đã viết lên một trang sử vàng oanh liệt chống thực dân Pháp xâm lược.
    muamuaha198muamuaha86 thích bài này.
  10. haohoacongtu

    haohoacongtu Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/05/2006
    Bài viết:
    3.736
    Đã được thích:
    5.410
    Khởi nghĩa Yên Bái[​IMG]
    [​IMG]
    1. Khởi nghĩa Yên BáiTừ đầu tháng 2 năm 1929, nhân vụ án Badanh, thực dân Pháp ra sức truy lùng, bắt bớ những người yêu nước và phá vỡ hàng loạt các cơ sở cách mạng của Việt Nam quốc dân đảng ở Hà Nội và các tỉnh.

    1. Khởi nghĩa Yên Bái

    Từ đầu tháng 2 năm 1929, nhân vụ án Badanh, thực dân Pháp ra sức truy lùng, bắt bớ những người yêu nước và phá vỡ hàng loạt các cơ sở cách mạng của Việt Nam quốc dân đảng ở Hà Nội và các tỉnh. Số phận của VNQDĐ đang mấp mé bên bờ vực thẳm.

    Trước tình thế nguy cấp, những người lãnh đạo Tổng bộ cho rằng không thể cứ ngồi yên chịu chết, mà phải đứng lên sống mái với quân thù. Từ cách nhìn nhận đó, Nguyễn Thái Học đã quyết định triệu tập hội nghị đại biểu toàn quốc của VNQDĐ ngày 17-9-1929 tại Lạc Đạo (Hải Dương) để bàn bạc và thống nhất kế hoạch khởi sự. Trong hội nghị này, xuất hiện hai phái: Phái cải tổ(l) và phải khởi nghĩa. Phái chủ trương khởi nghĩa do Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu đứng đầu chiếm ưu thế trong hội nghị. Tiếp theo hội nghị đại biểu toàn quốc, VNQDĐ còn tổ chức một cuộc họp nữa ở Bắc Ninh để hoạch định thời gian và phương thức tiến hành khởi nghĩa. Theo kế hoạch đã được thống nhất, VNQDĐ sẽ tổ chức khởi nghĩa ở các nơi và cùng lúc đánh vào các đô thị lớn là những trung tâm quân sự của Pháp. Lực lượng khởi nghĩa chủ yếu gồm anh em binh lính là người của Đảng trong quân đội của Pháp, đồng thời phối hợp với lực lượng của Đảng ở bên ngoài. Vũ khí một phần do các cơ sở của Đảng chế tạo phần còn lại phải cướp từ tay giặc. Thời gian khởi nghĩa ấn định vào ngày 9-2-1930. Theo phân công của Đảng, Nguyễn Thái Học trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa ở ba tỉnh đồng bằng: Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An; còn Nguyễn Khắc Nhu chịu trách nhiệm tố chức cuộc khởi nghĩa ở ba tỉnh trung du Sơn Tây, Phú Thọ, Yên Bái.

    Sau hai hội nghị ở Lạc Đạo và Bắc Ninh, công tác chuẩn bị khởi nghĩa được triển khai và đẩy mạnh ở các địa phương. Các xưởng chế bom được lập ra tại các tỉnh Bắc Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, và đã sản xuất được hàng nghìn quả bom xi măng. Ngoài ra, VNQDĐ còn tổ chức rèn dao, kiếm, mã tấu và đưa đi cất giấu Ở những nơi kín đáo chờ ngày khởi sự. Các cơ sở may cờ, quân phục và in truyền đơn cũng làm việc liên tục ngày đêm.

    Giữa lúc công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa đang được tiến hành khẩn trương thì một số biến cố đã xảy ra, gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động của VNQDĐ. Điển hình là vụ nổ bom do sơ suất khi chế tạo đã làm chết 3 đảng viên VNQDĐ ở Bắc Ninh (ngày 8-9-1929), và nhất là vụ phản bội của Phạm Thành Dương (tức Đội Dương) ngày 25-12-1929 tại hội nghị Võng La (Phú Thọ) . Những sự cố này đã buộc Pháp cảnh giác, tăng cường các cuộc lùng sục, khủng bố, đẩy VNQDĐ đến nguy cơ khởi nghĩa non.

    Để đối phó với tình hình, ngày 26-1-1930, Nguyễn Thái Học lại triệu tập một cuộc họp khẩn cấp tại làng Mỹ Xá (Nam Sách, Hải Dương) để khẳng định lại chủ trương khởi nghĩa, đồng thời kiểm tra và thúc đẩy tiến độ thực hiện các công việc chuẩn bị khởi nghĩa. Trên cơ sở phần tích tình hình của Đảng, Nguyễn Thái Học nhận xét: "Đảng chúng ta (tức VNQDĐ - TG) có thể tiêu ma hết lực lượng. Một khi lòng sợ sệt đã chen vào đầu óc quần chúng khiến họ hết hăng hái, hết tin tưởng thì phong trào cách mạng có thể nguội lạnh như đám tro tàn, rồi người của Đảng cũng sẽ liên tiếp bị bắt dẩn, vô tình đã xô đẩy anh em vào cái chết lạnh lùng mòn mỏi ở các phòng ngục trại giam, âu là chết đi để thành cái gương phấn đấu cho người sau nối bước. Không thành công thi cũng thành nhân"(l).

    Căn cứ vào kết quả chuẩn bị khởi nghĩa ở các địa phương, Nguyễn Thái Học đã bàn bạc với các đổng chí, quyết định hoãn thời gian khởi nghĩa tại ba tỉnh miền xuôi đến ngày 15-2-1930.

    Đúng như kế hoạch đã định, đêm ngày 9 rạng ngày 10-2-1930, cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ ở Yên Bái. Quân khởi nghĩa đã chiếm được trại lính cơ số 5 và 6, giết được một số sĩ quan và hạ sĩ quan người Pháp. Nhưng họ vẫn không lôi kéo được toàn bộ lính khố xanh, và không làm chủ được tình hình chiến sự ở Yên Bái.

    Sáng ngày 10-2, Pháp tập trung lực lượng (có máy bay yểm trợ) tố chức phản công chiếm lại các căn cứ bị mất, đẩy nghĩa quân vào tình trạng tan rã.

    Tại Lâm Thao (Phú Thọ), nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Phạm Nhận đã nhất loạt nổ súng và nhanh chóng chiếm được huyện đường. Tri phủ Đỗ Kim Ngọc bỏ trốn. Nghĩa quân treo cờ và đốt lửa báo tin thắng lợi.

    Cũng đêm 9-2-1930, Nguyễn Khắc Nhu dẫn một toán nghĩa quân đến đánh đồn Hưng Hóa, nhưng không đạt kết quả. Sáng hôm sau, quân Pháp từ Phú Thọ kéo lên phản công quyết liệt, quân khởi nghĩa bị đánh tan, Nguyễn Khắc Nhu bị thương sau đó bị bắt, rồi tự sát để giữ tròn khí tiết .

    Tại Sơn Tây, cuộc tấn công đánh đốn chùa Thông cũng không giành được thắng lợi do kế hoạch khởi nghĩa bị lộ. Sáng ngày 10-2, người phụ trách có khởi nghĩa ở đây là Phó Đức Chính đã bị bắt.

    Sau khi các cuộc nổi dậy ở các tỉnh miền ngược do Nguyễn Khắc Nhu đã thất bại thì tại các tỉnh miền xuôi kế hoạch khởi nghĩa mới bắt đầu được triển khai. Đêm ngày 14 rạng 15 tháng 2 năm 1930, VNQDĐ đã nổi dậy khởi nghĩa ở Phả Lại, Vĩnh Bảo (Hải Dương), Kiến An và Phụ Dực (Thái Bình), nhưng đều không thu được kết quả.

    Tại Vĩnh Bảo, dưới sự chỉ huy của Trần Quang Diệu, nghĩa quân đã từ Cổ Am kéo lên đánh phá huyện đường, giết tri huyện Hoàng Gia Mô, rồi tự giải tán: ở Phụ Dực nghĩa quân đánh chiếm phủ huyện, đốt hết giấy tờ sổ sách, sau đó tự giải tán.

    Tại Kiến An, do kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, thực dân Pháp đã tức thời bắt giam toàn bộ số lính khố đỏ, và tố chức canh phòng cẩn mật. Biết không thể khởi nghĩa thắng lợi, nghĩa quân nhanh chóng tự giải tán trước khi bi quân Pháp phản công.

    Riêng ở Hà Nội, ngay đêm nổ ra cuộc khởi nghĩa Yên Bái (10-2), một số đảng viên VNQDĐ (đều là học sinh trường Bách Nghệ) đã ném bom vào nhà tên Giám đốc sở mật thám ác nu (Arnoux ), vào nhà tù Hỏa Lò và Sở cảnh sát. Nhưng các vụ ném bom này ít gây tổn hại cho Pháp, không có tiếng vang lớn trong dân chúng.

    Như vậy, chỉ trong vòng một tuần lễ, cuộc khởi nghĩa vũ trang quy mô lớn do VNQDĐ phát động đã bùng nổ ở nhiều nơi và mau chóng đi tới thất bại. Cuộc khởi nghĩa tuy không đạt được kết quả (do công tác tổ chức thiếu chu đáo, kế hoạch rất chủ quan, còn Pháp thì đang mạnh), nhưng đã có tiếng vang cả trong và ngoài nước. Tại Thủ đô Paris (Pháp), sinh viên và Việt kiều đã tổ chức biểu tình ủng hộ khởi nghĩa Yên Bái và chống việc khủng bố các chiến sĩ VNQDĐ.

    Khởi nghĩa Yên Bái với những hành động quả cảm của các nghĩa quân VNQDĐ đã thể hiện tinh thần yêu nước, chí khí quật cường của dân tộc ta, góp phần thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước trong các tầng lớp nhân dân. Từ đó, thấy rõ mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Pháp đã trở nên vô cùng gay gạt.

    Tuy nhiên, thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái cũng chứng tỏ sự bồng bột, hăng hái nhất thời của tầng lớp tiểu tư sản. Đó cũng là thất bại của giai cấp tư sản dân tộc trong cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam

    Đồng chí Lê Quẩn - nguyên Tổng bí thư ********************** nhận định: "Khởi nghĩa Yên Bái chi là một 'cuộc bạo động bất đắc dĩ, một cuộc bạo động non, để rồi chết luôn không bao giờ ngóc lên nổi. Khẩu hiệu “Không thành công thì thành nhân" biểu lộ tính chất hấp tấp tiểu tư sản, tính chất hăng hái nhất thời và đồng thời cũng biểu lộ tính chất không vững chắc, non yếu của phong trào tư sản.

    Từ sau cuộc bạo động Yên Bái, VNQDĐ hoàn toàn tan rã, khuynh hướng cách mạng dân tộc hoàn toàn thất bại, hệ tư tưởng tư sản cũng hoàn toàn bất lực trước các nhiệm vụ lịch sử của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Ngọn cờ cách mạng đã chuyển hẳn sang tay giai cấp vô sản. Từ đây trở đi, trên dải đất Việt Nam, phong trào chống đế quốc, giành độc lập dân tộc chỉ là những phong trào do giai cấp vô sản lãnh đạo"
    muamuaha198muamuaha86 thích bài này.
Trạng thái chủ đề:
Đã khóa

Chia sẻ trang này