1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

SMERSH - VŨ KHÍ BÍ MẬT CỦA STALIN

Chủ đề trong 'Kỹ thuật quân sự nước ngoài' bởi vacbay03, 20/07/2015.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. vacbay03

    vacbay03 Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/08/2007
    Bài viết:
    317
    Đã được thích:
    822
    Ngay trước chiến tranh, Ulrikh, cùng với Andrei Vyshinsky, cựu công tố viên trưởng Liên Xô, nổi tiếng vì các bài phát biểu của mình tại những phiên toà trình diễn (show trial: Những phiên toà mang tính chất trình diễn, thực chất đã được sắp đặt-ND) ở Moscow vào cuối những năm 1930, đã nhấn mạnh việc cần thành lập ba tòa án quân sự cấp cao riêng biệt cho quân đội, hải quân, và NKVD. Stalin đã không đồng ý. Rõ ràng, ông muốn Toà án quân sự tối cao vẫn ở trong cơ cấu chính phủ dân sự để nó có thể tiếp tục được sử dụng cho các phiên toà trình diễn, thu hút sự chú ý rộng rãi của công chúng trên toàn Liên Xô và ở nước ngoài. Các phiên toà trình diễn diễn ra trước những cử toạ được lựa chọn đặc biệt và là tòa án quân sự duy nhất có một công tố viên và luật sư bào chữa (họ bị loại trừ hoàn toàn trong phiên toà kết luận vụ án), mặc dù các luật sư bào chữa không thể tiếp cận bị cáo bên ngoài toà. Tháng 3 năm 1938 phiên toà xét xử Nikolai Bukharin, một đảng viên Bolshevik kỳ cựu, một trong những lý thuyết gia quan trọng nhất của Liên Xô, là ví dụ nổi tiếng nhất.

    Vào năm 1938, một đạo luật mới giới thiệu một hệ thống giám sát lưỡng viện phức tạp và khó hiểu, giám sát các Toà án quân sự bởi Toà án quân sự tối cao và Dân Uỷ Tư pháp. Hệ thống này vẫn được tiếp tục cho đến khi được Stalin tái tổ chức sau chiến tranh năm 1946. Toà án quân sự tối cao tiếp tục là tòa án quân sự cao nhất, phê duyệt án tử hình, xem xét kháng cáo từ tòa án, và giám sát các quyết định của những tòa án cấp thấp hơn, nhưng Dân Uỷ Tư pháp tiếp quản việc quản lý hành chính các tòa án quân sự và đào tạo luật sư quân sự. Đến giữa năm 1940, cơ cấu phòng ban trong Cục Dân Uỷ Tư Pháp của Toà án quân sự gần như mô phỏng theo cơ cấu của Toà án quân sự tối cao. Lãnh đạo của nó, Yevlampii Zeidin, 'là một người thông minh và giàu kinh nghiệm, nhưng thận trọng và hơi khô khan’. Dân Uỷ Tư pháp và NKO cùng ra quyết định chung bổ nhiệm các thành viên tòa án quân sự.

    Trong chiến tranh, Toà án quân sự tối cao giám sát trực tiếp các hoạt động của tòa án tại Phương diện quân. Ulrikh đã đích thân kiểm tra toà án của Phương diện quân Tây bốn lần vào năm 1942, trong khi người phó của ông Matulevich chủ trì Tòa án quân sự của Phương diện quân Nam, và thành viên Toà án quân sự tối cao Leonid Dmitriev chủ trì Tòa án quân sự Phương diện quân Bryansk.


    Tiêu diệt kẻ thù

    Từ 1939-1941, Stalin và Bộ Chính trị phê duyệt tất cả án tử hình. Có một vài thủ tục cho việc này. Đầu tiên, Bộ Chính trị phê duyệt ‘danh sách tử thần' của Beria với tên của những tù nhân mà bản án của họ đã được quyết định và những người NKVD đề nghị án tử hình mà không được kháng cáo. Những tù nhân bị kết án bởi Toà án quân sự tối cao và bị hành quyết ngay sau phiên xét xử. Ví dụ, vào tháng Chín năm 1941, vào thời điểm bắt đầu cuộc chiến, Beria đã gửi cho Stalin bản đề nghị 170 tù nhân, chủ yếu là cựu viên chức cao cấp của Đảng, cần được hành quyết. Quyết định của Bộ Chính trị nêu rõ: 'án tử hình cần được áp dụng cho 170 tù nhân đã bị kết tội khủng bố, gián điệp, phá hoại, và các hoạt động phản cách mạng khác, và chúng phải bị xử bắn. Tòa án quân sự tối cao phải xem xét các tài liệu về vụ án của chúng.’ Tất nhiên, Tòa án quân sự tối cao đã kết án tất cả các tù nhân trong danh sách tội tử hình.

    Danh sách tương tự của các sĩ quan NKVD bị chọn ra để hành quyết, được đích thân Stalin ký, và sau đó gửi đến Ulrikh. Ulrikh sau đó viết bằng tay mệnh lệnh hành quyết ngay lập tức mà không cần thông qua xét xử bởi Tòa án quân sự tối cao.

    Phần còn lại của các trường hợp án tử hình, bao gồm các quyết định của tòa án quân sự và kháng cáo của người bị xử, được xem xét bởi Ủy ban Bộ Chính trị đặc biệt về Các Vụ án (chính trị) trước khi chúng được đưa sang Tòa án quân sự tối cao. Chủ tịch Uỷ ban là Mikhail Kalinin, thành viên Bộ Chính trị và Chủ tịch Xô Viết tối cao. Các Ủy viên bao gồm Matvei Shkiryatov, người đứng đầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương (một loại cơ quan giám sát trong Ủy ban Trung ương), Dân Uỷ NKVD Beria hoặc cấp phó của ông và Trưởng công tố viên Liên Xô Bochkov. Tuy nhiên, Bộ Chính trị phê duyệt các quyết định của Ủy ban và đề nghị các trường hợp nào nên được xem xét bởi Tòa án quân sự tối cao. Vào lúc bắt đầu cuộc chiến, Ủy ban đã giảm xuống còn ba thành viên: Kalinin, Shkiryatov, và Merkulov (Phó của Beria và từ năm 1943 là Dân uỷ NKGB). Số lượng án tử hình được xem xét bởi Tòa án quân sự tối cao trong chiến tranh là rất cao. Trong năm 1944 và chỉ trong sáu tháng đầu năm 1945, Tòa án quân sự tối cao đã xét xử hơn 43.000 vụ án trong đó 3.000 bản án tử hình được tuyên bởi các toà án quân sự

    Stalin cũng kiểm soát quyền kháng cáo của người bị kết án tử hình. Ulrikh hoặc Beria làm việc với với Stalin về các kháng cáo trước phiên xử của Tòa án quân sự tối cao. Nếu ông cho phép kháng cáo, người bị xử gửi đơn cho Chủ tịch Đoàn Xô Viết tối cao, nhưng thực chất là Stalin, các thành viên Bộ Chính trị Kalinin, Kaganovich, và Malenkov, và các cộng sự gần gũi của họ Semyon Budennyi và Shkiryatov, những người sẽ quyết định liệu án tử hình nên được giữ nguyên hoặc được chuyển sang án tù 20 năm (sau này là 25 năm) tại các trại lao động.

    Quy trình của Toà án Quân Sự tối cao

    Từ những năm 1930 đến năm 1950, Toà án Quân Sự tối cao xét xử phần lớn các vụ án trong những phiên xử kín tại tòa nhà đường 23 tháng 10 (bây giờ là Nikol'skaya), vẫn còn tồn tại ở trung tâm Moscow, giữa điện Kremlin và Quảng trường Lubyanka. Mỗi vụ xử thông thường chỉ mất mười đến mười lăm phút. Trong những năm 1930 và 1940, Nguyên soái Mikhail Tukhachevsky và bảy đồng bị cáo của ông; 25 Dân ủy Liên Xô (USSR commissars); 19 Dân ủy các nước cộng hòa; 131 chỉ huy lữ đoàn, quân đoàn, và Tập đoàn quân; hơn 100 giáo sư đến từ các trường đại học và các viện khác nhau; và hơn 300 giám đốc các nhà máy công nghiệp quan trọng nhất, trong số những người khác, đã bị kết án tử hình và bị bắn ở dưới tầng hầm bởi đội hành quyết riêng của Toà án Quân Sự tối cao. A.V. Snegov, một cựu viên chức Đảng cấp cao và là một người sống sót hiếm có (Toà án Quân Sự tối cao đã kết án ông 18 năm trong các trại lao động), đã mô tả quy trình như sau:

    Một tù nhân thường được gọi từ phòng giam và được đưa ra sân Trại tù Nội vụ [Lubyanka], ở đó ông được đưa vào trong một chiếc xe buýt được gọi là 'Quạ đen’ (Black Raven – Hình như trong phim Katyn năm 2007 có xe này – ND). Thông thường sẽ có một số tù nhân cùng được đưa đi trên xe. Chiếc xe rẽ trái qua cánh cổng bằng sắt ở phía sau khu phức hợp các tòa nhà GUGB NKVD và ... đi lùi vào cái sân hẹp, kín của Toà án Quân Sự tối cao...

    Các bị cáo được đưa ra khỏi xe từng người một, và được giải lên tầng hai bằng cầu thang phía sau nơi các thành viên Toà án Quân Sự tối cao đang ngồi. Thường thì Luật sư Quân sự Vasilii Vasilievich Ulrikh chủ trì phiên 'xét xử’.

    Buổi xét xử diễn ra ngắn ngủi, chỉ mười phút cho mỗi người. Các bản án, thường là án tử hình bằng xử bắn cho tất cả mọi người đã được chuẩn bị trước. Sau khi công bố bản án, bị cáo được đưa xuống tầng hầm sâu bằng cầu thang lúc đi lên, và bị bắn vào gáy.

    Người làm nhiệm vụ hành quyết là viên chỉ huy trực tại Toà án Quân Sự tối cao. Thi thể được kéo vào góc của tầng hầm, nơi một chiếc giày được lấy ra khỏi chân phải [của xác chết], và một cái thẻ làm bằng gỗ mỏng được gắn vào ngón chân. Số thứ tự hồ sơ điều tra được viết trên thẻ bằng bút chì. Kể từ thời điểm này, tên của người đã chết sẽ không bao giờ được đề cập tới.
    ngthi96, tonkin2007huytop thích bài này.
  2. danngoc

    danngoc Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    24/08/2004
    Bài viết:
    3.656
    Đã được thích:
    1.108
    Về xe "Quạ đen"

    "Trong hầu hết thời gian, các chuyến vận chuyển đường dài chạy theo từng chặng. Nếu đang bị giam trong những nhà tù ở thành phố lớn, đám zek trước tiên sẽ bị đưa vào các đoàn xe tải mà chính thiết kế của chúng nói lên sự ám ảnh của NKVD đối với yêu cầu đảm bảo bí mật. Trông bên ngoài thì những chiếc “Quạ Đen”, chúng được đặt biệt danh như vậy, là những chiếc xe tải hàng hạng nặng rất bình thường. Vào những năm 1930, chúng thường được sơn chữ “bánh mì” ở hai bên sườn, nhưng về sau người ta chuyển sang sử dụng các mưu mẹo tinh vi hơn. Một tù bị bắt năm 1948 nhớ lại mình đã đi trên chiếc xe tải có biển “Thịt thăn Moscow” và một chiếc khác có biển “Rau/Quả”.

    Ở bên trong, đôi khi chiếc xe tải được chia thành “hai dãy chuồng sắt bé tí, đen thui, ngột ngạt”, như lời một tù nhân mô tả.[1] Theo một thiết kế năm 1951, các xe tải đơn giản là có hai hàng ghế dài, tù ngồi chen chúc nhau trên đấy.[2] Đám nông dân và những ai bị chở đi vào đầu của thời kỳ lưu đày hàng loạt từ các quốc gia Baltic và vùng đông Ba Lan phải khổ nhiều hơn vì chúng. Họ thường bị nhét vào các xe chở hàng thông thường, như một cụ già người Lithuania đã mô tả cho tác giả, “lèn như cá trích”: tù đầu tiên xoạc cẳng ra, tù thứ hai ngồi giữa hai chân tù thứ nhất và cũng phải xoạc cẳng mình ra – và cứ thế, cho tới khi chiếc xe đầy người.[3] Những sắp xếp như vậy đặc biệt khó chịu những khi có quá nhiều người bị tập trung, và chuyến đi tới nhà ga kéo dài suốt cả ngày. Trong những cuộc lưu đày diễn ra tại vùng lãnh thổ cũ của Ba Lan vào mùa đông tháng 2/1940, trẻ con lạnh cóng đến chết trước khi đến được tàu hỏa, còn người lớn phải chịu giá ăn trầm trọng, sau đó tay chân họ không bao giờ phục hồi được nữa.[4]
    ..."

    [1] E. Ginzburg, Chuyến đi về Miền gió xoáy, tr. 100.

    [2] GARF, 8466/1/23.

    [3] Người vô danh, qua trò chuyện với tác giả tại Vilnius tháng 9/1991; Fidelgolts.

    [4] Głowacki, tr. 320-405.
    --- Gộp bài viết: 20/06/2017, Bài cũ từ: 20/06/2017 ---
    Điều đó xảy ra, khi chỉ người hấp hối

    Mới mỉm cười vui với an nghỉ vĩnh hằng.

    Leningrad linh hồn đung đưa bên tù ngục

    Như món thêm thừa thãi chẳng ai mang.

    Khi hàng đoàn người đã bị tòa kết án

    Phát điên vì đau khổ, bước trên đàng,

    Và khúc ca chia ly ngắn ngủi

    Được còi tàu bỗng lại tấu vang.

    Những ngôi sao chết chóc treo trên ta

    Còn Nước Nga vô tội đang giãy giụa

    Dưới những gót ủng kia đẫm máu

    Và chiếc "Quạ đen" bịt kín chở tù nhân.

    - Anna Akhmatova,

    Bản Cầu hồn 1935-1940
    huytop, tonkin2007vacbay03 thích bài này.
  3. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    713
    Đã được thích:
    2.670
    Đọc những đoạn trên thấy hơi gai người...Thằng nào cũng dã man như vậy....
  4. vacbay03

    vacbay03 Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/08/2007
    Bài viết:
    317
    Đã được thích:
    822
    Vào cuối ngày, những xác chết bị hành quyết được giấu trong những cái hòm dùng để đựng đạn dược và được vận chuyển đến lò hỏa táng Moscow tại Nghĩa trang Donskoe. Họ bị thiêu trong đêm trong sự hiện diện của viên chỉ huy trực. Ông cũng kiểm tra các vị trí thích hợp đổ tro trong một hố sâu bí mật với những bức tường gạch. Báo cáo chi tiết về việc hỏa táng được gửi đến Aleksandr Poskrebyshev, trưởng ban thư ký của Stalin, người sẽ báo cáo lại Stalin. Việc xử tử cũng được thực hiện ở tầng hầm của tòa nhà bên kia đường. Hiện nay ngôi mộ tập thể tại Nghĩa trang Donskoe trong đó chứa tro cốt của hàng ngàn nạn nhân, vẫn được duy trì như một đài tưởng niệm.

    Hiện nay, toà nhà Toà án Quân Sự tối cao thuộc về một trong những công ty dầu khí và nó gần như đã bị hủy hoại. Hội Tưởng niệm nhân quyền Nga (Russian human-rights Memorial Society) đã không thành công trong việc kêu gọi chính quyền thành phố Moscow biến tòa nhà thành một bảo tàng Tưởng niệm việc đàn áp, nhưng không rõ liệu tòa nhà sẽ tiếp tục tồn tại hoặc nó sẽ bị phá huỷ

    Từ tháng 9 năm 1937 cho đến năm 1940, vì số lượng lớn các bản án tử hình được tuyên bởi Toà án Quân Sự tối cao và các Toà án quân sự khác ở Moscow, các tù nhân bị kết án cũng được hành quyết tại ngôi nhà nông thôn được cấp cho Genrikh Yagoda, cựu Dân Uỷ NKVD đầu tiên. Một đội hành quyết NKVD do Vasilii Blokhin chỉ huy, người đã phục vụ 30 năm ở vị trí Đội trưởng đội hành quyết của NKVD và sau đó là MGB (Bộ an ninh quốc gia), đã bắn các tù nhân bị kết án vào gáy và sau đó chôn cất các thi thể. Địa điểm này hiện nay là một nơi tưởng niệm được gọi là Kommunarka.

    Cũng có một phòng đặc biệt được dành cho các phiên xét xử của Toà án Quân Sự tối cao trong nhà tù Lefortovo ở Moscow. Những bị cáo bị kết án tử hình trong các phiên xét xử đó đã bị bắn trong nhà tù này. Trong một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như vào tháng 2 năm 1940 phiên xử cựu Dân Uỷ NKVD Nikolai Yezhov đã diễn ra tại nhà tù Sukhanovo, nơi mà vào năm 1938 đã trở thành nhà tù điều tra bí mật nhất của Moscow. Nó thậm chí còn được trang bị một lò hoả táng nhỏ riêng. Một số phiên xét xử của Toà án Quân Sự tối cao cũng được tiến hành tại nhà tù Lubyanka ở Moscow và ở những Quân khu khác nhau.

    Uỷ Ban đặc biệt NKVD

    Việc bổ nhiệm công tố viên trưởng Viktor Bochkov tháng 8 năm 1940 không chỉ là một đòn bẩy mới trong việc kiểm soát hệ thống pháp luật của chế độ. Ngay lập tức Bochkov và Dân Uỷ Tư pháp Liên Xô Nikolai Rychkov đã ký hai Nghị định (Instruction) chung trao cho NKVD quyền phán quyết cuối cùng đối với các quyết định của tòa án quân sự. Theo đó, nếu tình cờ một tòa án tha bổng các bị cáo, ông ta phải quay trở lại nhà tù cho đến khi tòa án bảo đảm rằng NKVD đã phê chuẩn việc tha bổng, mà thường dẫn đến việc mở lại một cuộc điều tra mới đối với ông ta và tuyên án, thường là 5-10 năm trong trại lao động, bởi OSO (Uỷ Ban Đặc biệt) của NKVD.

    OSO là một phát minh kiểu Kafkaesque đặc biệt của hệ thống Xô Viết. Được thành lập vào năm 1934, OSO là một tòa án ngoài vòng pháp luật, nằm trong NKVD nhưng không được đề cập đến trong Hiến pháp Liên Xô. Nó gồm Dân Uỷ NKVD và hai cấp phó của ông ta. Công tố viên trưởng Liên Xô hoặc cấp phó của ông ta tham dự phiên xét xử, được tiến hành mà không có mặt bị cáo. OSO xem xét các vụ án được điều tra bởi NKVD theo các Điều luật 58 và 59, những vụ án không được xét xử tại các toà án dân sự hay quân sự vì ‘lý do trong công tác điều hành’ . Điều này có nghĩa rằng các vụ án thiếu chứng cứ đến nỗi chúng không thể đứng vững trong một phiên tòa công khai và NKVD không muốn lộ danh tính các chỉ điểm viên bí mật được sử dụng trong các vụ án. Ngoài ra, OSO cũng tự động kết án các thành viên gia đình (chsiry) của những người đã bị kết án tử hình bởi Toà án Quân sự tối cao vì tội 'phản bội', 'gián điệp', vv

    Trước khi xét xử, Ban thư ký OSO đánh máy các quyết định, dựa trên bản cáo trạng được chấp thuận trước do các điều tra viên NKVD viết. Cho đến khi chiến tranh bắt đầu, OSO không có quyền đưa ra án phạt tử hình, mà chủ yếu tuyên án từ 5-10 năm tù. Nó làm việc hai lần một tuần, xét xử 200-300 vụ án, về sau nhiều lên đến 980 vụ cho mỗi phiên xử. Các quyết định của OSO là không được kháng cáo.

    Trong tháng 11 năm 1941, sáu tháng sau khi chiến tranh bắt đầu, Beria báo cáo cho Stalin rằng 10.645 tù nhân bị kết án tử hình, chủ yếu là do các tòa án quân sự, vẫn còn ở trong các trại giam điều tra của NKVD trong cả nước, chờ đợi các lãnh đạo Đảng và Toà án Quân sự Tối cao phê duyệt bản án. Để giúp giải quyết việc tồn đọng này, Stalin chấp thuận đề nghị của Beria rằng OSO được trao quyền kết án tử hình đối với tù chính trị bị bắt điều tra theo Điều luật 58 và 59. Ngoài ra, Beria đã ra lệnh tất cả các vụ án đã hoàn thành việc điều tra theo Điều luật 58 của NKVD trung ương và địa phương phải được gửi đến OSO

    Bây giờ Viktor Abakumov, chỉ huy bộ phận phản gián quân đội (lúc đó gọi là UOO), hoặc người đại diện của ông trình bày các vụ án của OO tại phiên toà của OSO. Do Beria bị quá tải với các nhiệm vụ khác nhau, trong chiến tranh, những cấp phó của ông ta, Merkulov, Sergei Kruglov, Ivan Serov, và Bogdan Kobulov chủ trì các phiên xét xử của OSO.

    Hồi ký của Nikolai Mesyatsev, một điều tra viên tại Cục Điều tra của UOO, người đã làm việc trong thời kỳ 1942-43, đã mô tả độc đáo các thủ tục quan liêu của OSO như sau:
    Tại Ban Thư ký của Cục Điều tra ... tôi được lệnh đánh máy một mẫu đơn đặc biệt của Uỷ Ban đặc biệt, trong đó có một số cột.

    Trong cột đầu tiên tôi đánh vào thông tin tiểu sử của các bị cáo, người mà tôi sẽ gọi là 'N': họ, tên, tên họ cha; năm sinh và nơi sinh; quốc tịch; tình trạng hôn nhân; nơi làm việc cuối cùng; ngày bị bắt giữ.

    Trong cột tiếp theo, tôi ghi các tội danh đã được mô tả trong bản cáo trạng mà tôi đã ký. Nó cũng đã được ký bởi Cục trưởng Cục Điều tra [Boris Pavlovsky], và được phê chuẩn bởi Cục trưởng Cục Đặc biệt NKVD [Viktor Abakumov] và một công tố viên.

    Trong vụ án rõ ràng này, [nó được nói như vậy] bị cáo 'N' bị buộc tội tiến hành hoạt động gián điệp ở hậu phương Hồng quân cho tình báo Đức ở dạng thế này thế kia và bị phạt theo Điều 58-6. Trong cột tiếp theo, tôi viết rằng bị cáo đã nhận tội hoạt động gián điệp và lời khai của ông đã được khẳng định bởi dữ liệu hoạt động, tài liệu, lời khai của các nhân chứng, vv.

    Mỗi đơn như vậy (những đơn khác được viết bởi các điều tra viên từ các phòng ban khác của NKVD) được đánh số và khoảng 250-300 đơn được kẹp lại với nhau trong một hồ sơ.

    Mesyatsev cũng mô tả cuộc họp của OSO (phiên xét xử-ND):

    Các cuộc họp của Uỷ Ban Đặc biệt diễn ra trong một văn phòng trên Tầng của toà nhà được gọi là Narkoms [ví dụ, nơi văn phòng lớn của Dân ủy Beria được đặt ở đó]. Văn phòng nhỏ với các bức tường được sơn một màu đỏ thẫm. Rèm cửa trên cửa sổ bị đóng lại.

    Bên trái từ cửa sổ, có hai cái bàn đặt vuông góc với nhau; đèn trên bàn được bật sáng. [Sergei] Kruglov, Phó Dân ủy NKVD, ngồi đằng sau một cái bàn và [Viktor] Bochkov, Trưởng Công tố viên Liên Xô, ngồi ở cái bàn kia...

    Có một hàng ghế ở phía trước những cái bàn dành cho các điều tra viên, những người sẽ trình bày các vụ án của họ ... Mỗi người cầm một tờ giấy (một số người cầm vài tờ) được đánh số tương ứng với con số trong hồ sơ đang nằm trên bàn của hai thành viên Uỷ Ban Đặc biệt.

    Khi Phó Dân ủy gọi đến con số của tôi (tương tự như khi đến lượt các điều tra viên khác), tôi bị buộc phải nói như sau: "N" bị buộc tội theo Điều 58-6 Bộ luật hình sự Liên bang Nga về tội làm gián điệp cho tình báo Đức. Ông ta đã nhận tội, đã được xác nhận bởi các tài liệu điều tra như thế, như thế…. "

    Phần trình bày của tôi mất không quá một phút. Phó Dân ủy đề nghị kết tội 'N' 10 năm tù. Công tố viên Trưởng đồng ý, và số phận của bị cáo 'N' đã được định đoạt. Tôi rời khỏi phòng.'
    --- Gộp bài viết: 21/06/2017, Bài cũ từ: 21/06/2017 ---
    Phần này nói về toà án nên hơi khô khan. Chương sau nói về hoạt động của NKVD lúc Liên Xô tiến vào Ba Lan và chiến tranh Phần Lan nên sẽ hay hơn....
    tonkin2007 thích bài này.
  5. danngoc

    danngoc Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    24/08/2004
    Bài viết:
    3.656
    Đã được thích:
    1.108
    [​IMG]
    Trụ sở Trung ương KGB tại Quảng trường Lubyanka ngày nay
  6. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    713
    Đã được thích:
    2.670
    Trụ sở này Bắn người ở giữa sân...mở nhạc phóng thanh to bên ngoài là zời biết...Danngoc nhỉ.....Vạc dịch đoạn khô khan này nghe ngon quá còn gì......
  7. danngoc

    danngoc Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    24/08/2004
    Bài viết:
    3.656
    Đã được thích:
    1.108
    Anh nhầm rồi, Chekist không bắn giữa sân, họ bắn trong hầm nhà thế này (xem từ phút thứ 7):



    Phim do Liên Xô làm năm 1991, khi Liên Xô vẫn còn.
  8. huytop

    huytop Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    16/11/2014
    Bài viết:
    713
    Đã được thích:
    2.670
    Không nhầm đâu...Anh nói đùa thôi....Anh thừa biết mang xuống hầm để bắn....Đấy là một câu nói đùa mà....
    danngoc thích bài này.
  9. vacbay03

    vacbay03 Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/08/2007
    Bài viết:
    317
    Đã được thích:
    822
    Các vụ án do OSO xét xử được chuẩn bị không chỉ bởi NKVD trung ương tại Moscow, mà còn được Chỉ huy NKVD (Dân ủy) của các nước cộng hòa, lãnh đạo các chi nhánh UNKVD khu vực và lãnh đạo OO của các Quân khu gửi đến Moscow. Nội dung các quyết định (tuyên án-ND) là ngắn và được đánh máy theo một mẫu đơn đặc biệt. Ở đây có một mẫu đơn gốc, là một ví dụ về một quyết định từ Hồ sơ điều tra Lưu trữ về một người cộng sản Mỹ Isai (Isaiah) Oggins bị kết tội làm gián điệp trong năm 1940:

    Trích từ Nghị định [bản sao] số 1 của Uỷ Ban đặc biệt thuộc Dân Ủy Nội vụ Nhân dân, 05 tháng một năm 1940
    Phiên toà: Hồ sơ vụ án số 85 của Cục điều tra GUGB, NKVD buộc tội Oggins Isai Samoilovich, sinh năm 1898 tại Massachusetts (Mỹ), công dân Mỹ.
    Quyết định: Tuyên án Oggins Isai Samoilovich 8 năm tù vì tội gián điệp. Bản án có hiệu lực từ ngày 20 tháng hai năm 1939 [ngày bắt Oggins]. Hồ sơ [Điều tra] sẽ được gửi đến bộ phận lưu trữ [NKVD].

    Trưởng Ban thư ký Uỷ Ban Đặc biệt thuộc Dân Ủy Nội vụ Nhân dân.
    (Ivanov)

    Đóng dấu NKVD

    Trên thực tế, từ năm 1928, Oggins không làm gián điệp chống lại Liên Xô, nhưng lại làm gián điệp cho Liên Xô -lúc đầu cho Uỷ Ban Quốc tế cộng sản (Quốc tế Cộng sản, tổ chức quốc tế của các Đảng Cộng sản có trụ sở chính tại Moscow), sau đó cho Cục tình báo Đối ngoại NKVD ở châu Âu, Hoa Kỳ, và Trung Quốc . Về Vladimir Ivanov, người đã ký Quyết định trên, ông là Trưởng Ban Thư ký OSO của NKVD/MVD từ năm 1939 cho đến năm 1946, Trưởng Ban Thư ký OSO của MGB trong thời kỳ 1946-1947, và sau đó là Trưởng Ban Thư ký OSO của MVD mới của Beria từ tháng bảy đến tháng 11 năm 1953

    Quan chức nhà tù công bố quyết định của OSO cho tù nhân trong khi họ vẫn còn ở trong nhà tù điều tra (Nơi giam giữ trong khi điều tra-ND). Tù nhân bị buộc phải ký vào một bản sao của quyết định, nhưng không có sự khác biệt gì nếu họ từ chối ký. Sau đó, tù nhân được chuyển tới một nhà tù trung chuyển, và từ đó họ được đưa đến một trại lao động. Đối với tù nhân bị án tử hình, họ bị hành quyết trong vòng hai mươi bốn giờ, với việc tù nhân được biết về việc mình bị hành quyết chỉ một vài phút trước khi nó diễn ra.

    Theo báo cáo của MVD gửi Nikita Khrushchev tháng mười hai năm 1953, trong năm 1940, OSO đã kết án 42.912 người theo Điều 58, và trong thời gian chiến tranh, con số này có thay đổi. Để so sánh, con số bị kết án về những tội trong Điều 58 của Toà án Quân sự Tối cao cùng năm được đưa ra:

    Năm OSO Toà án Quân sự Tối cao

    1941 26 534 28.732
    1942 77.548 112.973
    1943 25.134 95.802
    1944 10.611 99.425
    1945 14.652 135.056

    Tổng 243.954 471.988

    Trong thực tế, số người bị kết án bởi OSO, đặc biệt là trong chiến tranh, có thể cao hơn từ hai đến ba lần. Các hồ sơ lưu trữ khác cho thấy chỉ tính riêng trong năm 1943, SMERSH, NKGB, và NKVD đã trình 51.396 bản án cho OSO, và 681 bị cáo đã bị kết án tử hình, trong khi năm 1944 OSO kết án tổng cộng 27.456 người tù. Không rõ lý do vì sao năm 1953, báo cáo của MVD chỉ nói đến 10.611 người kết án vào năm 1944, và không đề cập đến 27.456 người này. Tương tự như vậy, báo cáo cho biết con số 14.652 người bị kết án năm 1945, trong khi nhà sử học Nikita Petrov cho biết con số này là 26.518 người trong năm đó.

    Những con số sau đây, chỉ trong năm 1945, đã khắc họa quy mô của cuộc đàn áp mà dân chúng Nga đã phải chịu đựng:

    899.613 người bị kết án bởi tòa án dân sự và các toà án quân sự
    357.007 người bị kết án bởi các tòa án quân sự (trong số này, 134.956 người bị kết án về tội phản cách mạng)
    297 người bị kết án bởi Tòa án Quân sự Tối cao
    26.581 người bị kết án bởi OSO

    Cũng giống như các bản án tử hình được tuyên bởi Tòa án Quân sự Tối cao trong những phiên xử kín, án tử hình được tuyên bởi các OSO vẫn là bí mật quốc gia. Ngày 29 tháng 9 năm 1945 Beria đã ký một chỉ dẫn về việc làm thế nào để trả lời các thắc mắc liên quan đến tình trạng của những người đã bị kết án tử hình bởi OSO và bị hành quyết trong thời chiến. Ông ra lệnh tiếp tục tuyên bố rằng các tù nhân 'đã bị kết án 10 năm tù và bị tước quyền viết thư và nhận đồ thăm nuôi'.

    OSO trong NKVD/MVD đã tồn tại cho đến tháng Bảy năm 1950. Tuy nhiên, trong tháng 11 năm 1946, theo lệnh của Abakumov, một OSO thứ hai trong MGB được thành lập để xem xét các vụ án chính trị trong thời kỳ 1947-1953. Nó được tái tổ chức sau cái chết của Stalin và cuối cùng bị giải tán vào tháng 9 năm 1953.

    Nikolai Mesyatsev, người đã được đào tạo về kiến thức pháp luật, đã viết vào năm 2005: ‘Uỷ ban Đặc biệt ... là một sự nhạo báng những quyền lợi đương nhiên của mỗi cá nhân trong việc công khai bảo vệ sự vô tội của bản thân và công khai tham gia vào quy trình thiết lập những đánh giá về tội trạng của mình’. Tài liệu lưu trữ của OSO chưa bao giờ được giải mật, và danh sách tên những người bị kết án và số lượng chsiry và người nước ngoài bị kết án vẫn chưa được biết. Nhưng thậm chí nếu các hồ sơ của OSO cuối cùng có được giải mật, sẽ không dễ dàng để kiểm tra chúng: gần đây tất cả hồ sơ của OSO đã được chuyển từ Trung tâm Lưu trữ FSB ở Moscow đến cơ quan lưu trữ chi nhánh của nó ở thành phố Omsk ở Siberia.

    Chương 5
    Phân chia châu Âu


    Giai đoạn từ giữa năm 1939 đến giữa năm 1941 là thời gian của sự thông hiểu lẫn nhau giữa hai nhà độc tài, Stalin và Hitler, và sự phân chia của họ về châu Âu. Kết quả là, Đức thâu tóm một phần Ba Lan và hầu hết các nước Tây Âu, trong khi Liên Xô chiếm một phần lãnh thổ khác của Ba Lan và chiếm đóng các quốc gia vùng Baltic, một phần Rumani và cố gắng để chinh phục Phần Lan. Tuyên truyền Xô viết gọi việc sáp nhập này vào Liên Xô là 'các biện pháp hỗ trợ' những người Ukraine, Belorussia được cho là bị áp bức và những thành phần nhân dân lao động khác. Ngay cả bây giờ, hầu hết người Nga đều không coi những sự chiếm đóng này là một phần của Chiến tranh Thế giới II và nghĩ rằng cuộc chiến chỉ bắt đầu vào ngày 22 Tháng Sáu 1941, ngày Đức tấn công Liên Xô.

    Trong giai đoạn bành trướng này của Liên Xô, phản gián quân đội nói chung và Viktor Abakumov nói riêng đã tích luỹ được những kinh nghiệm quý báu. Những phương pháp loại bỏ tất cả các phe đối lập tại các vùng lãnh thổ mới do NKVD và Cục Đặc biệt của nó (OO) xây dựng lúc đầu, sau đó đã được tiếp tục và hoàn thiện bởi SMERSH.
    danngoc thích bài này.
  10. vacbay03

    vacbay03 Thành viên gắn bó với ttvnol.com

    Tham gia ngày:
    07/08/2007
    Bài viết:
    317
    Đã được thích:
    822
    Thoả thuận bí mật

    Trong tháng 5 năm 1939, Stalin thay Maxim Litvinov, một người Do Thái, Dân Uỷ Ngoại giao có xu hướng thân Anh, bằng Vyacheslav Molotov. Vladimir Dekanozov người của Beria trở thành phó Dân ủy. Đây là những bước nhằm hướng tới việc đạt được một thoả thuận với Hitler.

    Ngày 23 Tháng 8 1939, Hiệp Ước không xâm lược lẫn nhau Molotov-Ribbentrop khét tiếng, chứa đựng một thỏa thuận bí mật phân chia Đông Âu giữa Đức và Liên Xô, đã được ký kết tại Moscow. Hai nước đã thoả thuận phân chia Ba Lan, và Đức đồng ý rằng Phần Lan, Estonia, Latvia nằm trong khu vực quyền lợi của Liên Xô. Việc phân chia Ba Lan được coi như hành động cuối cùng trong vụ xung đột trong quá khứ giữa Stalin và Nguyên soái Tukhachevsky, bây giờ đã chết: Hitler nhận Warsaw, nơi mà quân của Tukhachevsky đã gần như chiếm được vào năm 1920, trong khi đó Stalin có được Lvov, nơi mà ông đã không thành công khi cố gắng chinh phục nó trong thời gian đó.

    Hiệp ước với Đức quốc xã phát xít, kẻ tử thù của những người Cộng sản Đức, đã làm được những gì mà thậm chí cuộc Đại thanh trừng đã không làm được-nó khiến cho hàng triệu người cộng sản tận tuỵ nhưng ngây thơ trên toàn thế giới cuối cùng đã buông bỏ sự ủng hộ của họ đối với Liên Xô của Stalin. Tạp chí Time đã bày tỏ sự phẫn nộ của nhiều người trên toàn thế giới khi họ gọi thỏa thuận là ‘Hiệp ước Cộng Sản-Quốc Xã' (Communazi Pact) và gọi các bên ký kết (Hiệp ước-ND) là ‘communazis' (tạm dịch là những kẻ theo chủ nghĩa Cộng Sản-Quốc Xã-ND). Hai tuần lễ sau khi ký Hiệp ước, Stalin đã giải thích cho Georgi Dimitrov, người đứng đầu Uỷ ban Quốc tế cộng sản (Comintern), lý do xảo quyệt của mình trong việc ký kết thoả thuận (một đoạn văn bản được thêm vào):

    'Một cuộc chiến tranh sẽ xảy ra giữa hai nhóm quốc gia tư bản ... để tái phân chia thế giới, để thống trị thế giới!. Chúng tôi thấy không có gì sai khi chúng đánh nhau khốc liệt và làm suy yếu lẫn nhau. Sẽ tốt nếu dưới bàn tay của Đức, vị trí của các nước tư bản giàu nhất (đặc biệt là nước Anh) sẽ bị lung lay. Hitler, dù không hiểu điều đó hay mong muốn điều đó, đang làm lung lay và phá hoại hệ thống tư bản chủ nghĩa...

    Chúng ta có thể dùng mưu mẹo, kích động một bên chống lại bên kia để làm chúng đánh nhau càng dữ dội càng tốt. Hiệp ước không xâm lược là nền tảng ở mức độ vững chắc để giúp nước Đức. Thời gian tới chúng ta sẽ thúc đẩy phía bên kia....

    Bây giờ [Ba Lan] là một quốc gia phát xít ... Việc hủy diệt quốc gia đó trong điều kiện hiện tại có nghĩa là có ít hơn một quốc gia phát xít tư sản mà chúng ta phải đối mặt!. Có hại gì nếu như do kết quả của sự bén rễ tại Ba Lan mà chúng ta có thể mở rộng hệ thống xã hội chủ nghĩa trên các vùng lãnh thổ và các vùng cư dân mới?'

    Lời giải thích này rõ ràng cho thấy kế hoạch dài hạn của Stalin cho việc Soviet hoá (Sovietizing) châu Âu, bắt đầu bằng việc phân chia Ba Lan và tiếp tục sau khi Thế chiến II với sự thành lập khối Xô Viết.

    Nói đúng ra, việc phân chia châu Âu là một bước trong học thuyết Chiến tranh tấn công của Stalin, tức là, sự cần thiết phải nhanh chóng tiến hành cuộc chiến tranh vào trong lãnh thổ đối phương và giành chiến thắng với 'giá thấp’, được lặp lại trong Điều lệnh Chiến trường của Hồng quân (Red Army’s Field Regulations) (Ustav) từ năm 1929 trở đi. Trong vô vọng, Valentin Trifonov-một trong những người sáng lập Hồng quân và Chủ tịch đầu tiên của Toà án Quân sự tối cao (trước Vasilii Ulrikh) – đã cố gắng kêu gọi Stalin chú ý đến chiến lược phòng thủ. Ngày 17 Tháng 6 năm 1937, bốn năm trước cuộc tấn công của Hitler, Trifonov đã viết thư cho Stalin: 'Có khả năng nhất, Đức sẽ là kẻ thù hùng mạnh của chúng ta trong cuộc chiến tranh tương lai và [Đức] sẽ có lợi thế nghiêm trọng khi tấn công bất ngờ. Lợi thế này có thể được vô hiệu hóa chỉ bằng cách xây dựng một hệ thống phòng thủ hiệu quả dọc theo biên giới ... Phòng thủ là phương pháp mạnh nhất trong việc tiến hành cuộc chiến và, do đó, một kế hoạch bảo vệ biên giới của đất nước chúng ta sẽ ít tốn kém hơn so với một kế hoạch cho một cuộc chiến tranh tấn công.' Năm ngày sau, Trifonov bị bắt, và bị hành quyết vào ngày 15 tháng 3, năm 1938. Ustav năm 1939 lặp lại học thuyết Chiến tranh tấn công.

    Ba Lan

    Ngày 01 tháng 9 năm 1939, quân Đức xâm lược Ba Lan, và Thế chiến II đã bắt đầu. Một tuần sau, chín ngày trước khi Hồng quân tiến vào Ba Lan, Beria ra lệnh thành lập hai nhóm hành động NKVD ở Kiev và Minsk, mỗi nhóm bao gồm 300 sĩ quan NKVD người Ucraina và Bêlarút được tuyển lựa và các toán hành động NKVD khác từ Moscow và Leningrad. Mục tiêu của họ rất đơn giản: thanh trừng tất cả phe đối lập ở Ba Lan phục vụ cho việc tiếp quản bằng quân sự của Liên Xô. Họ được đặt dưới sự chỉ huy của Dân ủy NKVD Ivan Serov của Ukraine và Lavrentii Tsanava của Belorussia, những người chuyên thanh trừng những vùng lãnh thổ Liên Xô chiếm đóng kể từ thời điểm này cho đến khi Thế chiến II kết thúc. Các nhóm nhận được sự hỗ trợ hành động bổ sung từ các đơn vị biên phòng NKVD.

    Để phối hợp các hoạt động của NKVD tại các vùng lãnh thổ mới chiếm được, người Phó thứ nhất của Beria, Vsevolod Merkulov đã được đưa đến Kiev và Viktor Bochkov (vào thời điểm đó, vẫn lãnh đạo OO), đến Minsk. Văn bản chính thức đề cập gián tiếp đến hoạt động này là ‘biện pháp kết hợp với việc huấn luyện quân sự đang diễn ra’.

    Công văn ngày 15 tháng 9 năm 1939 của Beria, làm rõ kế hoạch: 'Đi theo sau quân đội sau khi chiếm đóng các đô thị, các nhóm quân quản tạm thời ... sẽ được thành lập; Thủ trưởng các nhóm hành động NKVD sẽ được bao gồm (trong nhóm quân quản-ND).'

    Ngày 16 tháng 9 năm 1939, quân Đức đã chiếm hầu hết các phần lãnh thổ Ba Lan của họ theo quy định trong Hiệp ước không xâm lược, mặc dù Warsaw đã phòng thủ dũng cảm. Ngày hôm sau, Hồng quân xâm lược Ba Lan với lý do mập mờ là để bảo vệ những người Belorussia và Ukraine đang sinh sống trên đất Ba Lan. Quân Đức và Liên Xô gặp nhau gần Lvov, Lublin, và Bialystok vào cuối tháng Chín, và thậm chí đã tổ chức một cuộc diễu hành chung tại thành phố Brest. Giám sát cuộc diễu hành, Tướng xe tăng Đức Heinz Guderian và Kombrig (Lữ đoàn trưởng) Liên Xô Semyon Krivoshein (một chỉ huy xe tăng nổi tiếng trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha, trớ trêu thay lại là một người Do Thái), đã nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Họ đã gặp nhau trước đây vào năm 1929, khi Guderian đến thăm Trường huấn luyện xe tăng Kazan ở Liên Xô. Hai năm sau đó, trong cuộc xâm lược của Đức, Guderian đã sử dụng biệt thự Yasnaya Polyana của Lev Tolstoy làm trụ sở.

    Ngày 28 tháng 9 năm 1939, Warsaw đầu hàng. Cùng ngày Merkulov báo cáo với Moscow rằng nhóm hành động NKVD số 1 đã bắt giữ 923 người Ba Lan là sĩ quan, cảnh sát, chủ đất, ‘đại diện của giai cấp tư sản,’ những người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraina, và vân vân, trong vùng lãnh thổ mới chiếm. Nhóm hành động NKVD số 2 bắt giữ thêm 533 người. Việc bắt bớ hàng loạt và đưa đi lưu đày công dân Ba Lan vẫn tiếp tục trong năm 1940. Một cơ quan mới, UPVI ((NKVD Directorate for POWs and Interned Persons - Cục tù binh chiến tranh và những người bị giam giữ của NKVD), được thành lập hai ngày sau khi Liên Xô xâm lăng Ba Lan để quản lý tù nhân mới. Nó có hệ thống các trại tập trung riêng của mình.

Chia sẻ trang này