1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Tác nhân sinh trưởng bám dính

Chủ đề trong 'Khoa học công nghệ và môi trường' bởi huy765, 14/05/2016.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. huy765

    huy765 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    14/04/2016
    Bài viết:
    28
    Đã được thích:
    0
    Các vi khuẩn tạo thành bazo từ chuỗi thức ăn thông qua hoạt động của vật chất hữu cơ trong nước thải đã được xử lý. Các chất hòa tan tăng lên một cách nhanh chóng trong khi các phân tử chất keo bị sụt giảm tạo thành các lớp sền sệt. Tại đó, chúng trải qua quá trình gắn kết với enzym ngoại bào, giải phóng một lượng nhỏ phân tử mà chúng chuyển hóa được. Hệ vi khuẩn gồm có các thực vật hoại sinh sơ cấp và thứ cấp, giống như trong hệ thống tác nhân sinh trưởng lơ lửng, bao gồm các loài: Achromobacterium, Alcaligenes, Flavobacterium, Pseudomonas, Sphaerotilus và Zooglea. Tuy nhiên, không hoàn toàn giống như trong hệ thống tác nhân sinh trưởng lơ lửng, sự phân bố các loài này có thể thay đổi vị trí trong các phản ứng. Tác nhân tăng trưởng bám dính cũng bao gồm vi khuẩn nitrat hóa, như các loài Nitrosomonas Nitrobacter, với xu hướng được phát hiện ở những vùng của các tầng có nồng độ các chất hữu cơ lơ lửngthấp.

    Vi sinh vật hiện diện trong hệ thống bùn hoạt tính:
    Thành phần của vi sinh vật hiện diện trong hệ thống bùn hoạt tính chứa 70-90% chất hữu cơ; 10-30% chất vô cơ. Vi khuẩn, nấm, protozoa, rotifer, metazoa hiện diện trong hệ thống bùn hoạt tính.

    Vi khun chiếm ưu thế (90%) trong hệ thống xử lý. Sự phát triển của vi khuẩn phụ thuộc điều kiện môi trường, các yếu tố về thiết kế, vận hành hệ thống và tính chất của nước thải. Vi khuẩn có kích thước trung bình từ 0,3 – 1 m. Trong hệ thống bùn hoạt tính có sự hiện diện của vi khuẩn hiếu khí tuyệt ñối, vi khuẩn tùy nghi và vi

    khuẩn kị khí. Một số vi khuẩn dị dưỡng thông trường trong hệ thống bùn hoạt tính gồm có:Achromobacter, Alcaligenes, Arthrobacter, Citromonas, Flavobacterium, Pseudomonas, and Zoogloea. (Jenkins, et al., 1993). Hai nhóm vi khuẩn chịu trách nhiệm cho việc chuyển hóa amonia thành nitrat là: vi khuẩn nitrobacter và nitrosomonas.

    Nm là cấu tử thuộc hệ thống bùn hoạt tính. Các vi sinh vật đa bào này tham gia vào quá trình trao đổi chất và cạnh tranh với vi khuẩn trong môi trường hoạt động. Chỉ có một lượng nhỏ nấm có khả năng oxy hóa NH3 thành nitrit và nitrat. Các loại nấmthôngthườnglà:SphaerotilusnatansvàZoogloeasp (Curtis,1969).

    Protozoa: Là vi sinh vật có kích thước 10 – 100 micron được phát hiện trong hệ thống bùn hoạt tính. đây là nhóm vi sinh vật chỉ thị cho hoạt động của hệ thống xử lý nước thải. Trong hệ thống bùn hoạt tính, protozoan được chia làm 4 nhóm chính: Protozoa; amoebae, flagellates, and ciliates(dạng bơi tự do, dạng bò trườn, dạng có tiêmmao).

    - Amoebae thường xuất hiện trong nước thải đầu vào, nhưng không tồn tại lâu tại các bể hiếu khí. Amoebae chỉ sinh trưởng nhanh trong các bể hiếu khí có tải cao. Chúng di chuyển chậm và khó cạnh tranh thức ăn, nhất là khi nguồn thức ăn bị hạn chế nên chúng chỉ chiếm ưu thế tại các bể hiếu khí trong một khoãng thời gian ngắn. Thức ăn của Amoebae là các chất hữu cơ kích thước nhỏ. Hệ thống bùn hoạt tính xuất hiện nhiều amoebae chứng tỏ đang bị sốc tải . Khi đó DO thấp (amoebae tồn tại được trong môi trường có DO rấtthấp).

    - Flagellates: Ngay sau khi amoebae bắt đầu biến mất, nhưng nước thải vẫn còn chứa hàm lượng hữu cơ cao, thì flagellates xuất hiện. Phần lớn Flagellates hấp thu các chất dinh dưỡng hoà tan. Cả flagellates và vi khuẩn đều sử dụng các chất hữu cơ làm nguồn thức ăn. Tuy nhiên, khi thức ăn giảm Flagellates khó cạnh tranh thức ăn với vi khuẩn nên giảm số lượng. Nếu Flagellates xuất hiện nhiều ở giai đoạn ổn định chứng tỏ nước thải vẫn còn chứa một lượng đáng kể các chất hữu cơ hòa tan.

    - Ciliates: Thức ăn của ciliates là vi khuẩn và các chất đặc trưng. Ciliate cạnh tranh nguồn thức ăn với rotifer. Sự hiện diện của ciliates chứng tỏ bùn hoạt tính tốt, đã tạo bông và phần lớn các chất hữu cơ đã được loại bỏ. Có 3 loại Ciliate: Các Ciliate bơi tự do xuất hiện khi flagellate bắt đầu biến mất, số lượng vi khuẩn tăng cao; chính vi khuẩn là nguồn thức ăn của các ciliate bơi tự do này. Các loài Ciliate trườn, bò: khi kích thước bùn lớn và ổn định, loài ciliate này chui vào trong bùn, cạnh tranh thức ăn với loại ciliate bơi tự do là nhờ vào khả năng này. Các loài Ciliate có tiêm mao: xuất hiện ở bùn đã rất ổn định, trong các loại bùn này thì chúng và các loài ciliate trườn, bò cạnh tranh nhau về thức ăn. Ciliates hiện diện trong hệ thống bùn hoạt tính là aspidisca costata; Carchesium polypinum, Chilodonella uncinata, Opercularia coarcta and O. microdiscum, Trachelophyllum pusillum, Vorticella convallariaand

    V. microstoma. (Curds and ****burn, 1970). Ciliates có nhiệm vụ loại bỏ Escherichia coli bằng cách ăn hoặc tạo cụm. Trong thực tế, bùn hoạt tính có thể khử 91-99%E.Coli.

    - Rolifer là động vật đa bào có hai bộ tiêm mao chuyển động xoay tròn, làm cho hình dạng của chúng như hai bánh xe xoay đối nhau. Chúng di động nhanh trong nước, có khả năng xáo trộn mạnh nguồn nước tìm nguốn thức ăn, giống protozoa. đây là vi sinh vật hiếu khí tuyệt đối, khá nhạy cảm với độc tính của nước thải. Chúng thường xuất hiện trong hệ thống bùn hoạt tính đã ổn định, nước có hàm lượng hữu cơ thấp. Rotifer hiếm khi được phát hiện với số lượng lớn trong các hệ thống xử lý nước thải. Vai trò chính của rotifer là loại bỏ vi khuẩn và kích thích sự tạo bông của bùn. Chính rotifer sử dụng vi khuẩn không tạo bông, làm giảm độ đục của nước thải. Các màng nhầy được rotifer tiết ra ở miệng và chân giúp bùn kết bông dễ dàng. Rotifer cần thời gian khá dài để thích nghi trong quá trình xử lý.

    Virus cũng được phát hiện trong hệ thống bùn hoạt tính và việc loại bỏ virus nhờ cơ chế đối kháng sinh học, sự hấp phụ, quá trình khử các chất lơ lững, các chất keo, quá trình thổi khí,….

    Vi sinh vật trong thiết bị lọc sinh học nhỏ giọt:


    Theo những nghiên cứu của S. Winogradsly (1890), sau khi quan sát dưới kính hiển vi lớp màng lọc trong bể lọc sinh học nhỏ giọt, đã tìm thấy rất nhiều vi khuẩn zoogleal, các vi khuẩn hình que, vi khuẩn hình sợi, nấm sợi, protozoa và một số động vật bậccao.

    Một trong những nghiên cứu nhằm ước lượng các loại vi khuẩn trong hệ thống lọc sinh học nhỏ giọt được tiến hành bởi M. Hotchkiss năm 1923. Kết quả là đã tìm thấy nhiều loại vi khuẩn khác nhau ở các độ sâu khác nhau trong bể lọc. Các nhóm vi khuẩn bao gồm: vi khuẩn khử nitrat, sulfat tạo thành từ protein, phân hủy albumin, khử sulfat, oxy hóa sulfit, … Một lượng lớn vi khuẩn nitrat phân bố ở phần trên của bể và ở độ sâu khoảng 1,6m; có rất ít vi khuẩn khử nitrat được phát hiện ở độ sâu từ 0,3 – 1m; sulfit được tạo thành từ các protein nhiều nhất là ở độ sâu 0,3m và giảm dần qua lớp lọc; khử sulfat cao nhất là ở bề mặt và oxy hóa sulfua nhiều nhất ở độ sâu 1,6m; các dạng nitrit gia tăng theo độ sâu và có số lượng lớn hơn các dạng nitrat. Năm 1925, S. L. Neave và A. M. Buswell đã tiến hành những thí nghiệm tiếp theo và tìm thấy một số chủng vi khuẩn: phân hủy pepton, phân hủy gelatin, dạng nitrat, dạng nitrit, và khử nitrat. Có thể nhận thấy rằng, các vi khuẩn phân hủy hiện diện nhiều nhất ở phần trên của bể lọc và các vi khuẩn oxy hóa có nhiều ở tầng dưới bể lọc. Protozoa là loài được tìm thấy nhiều nhất trong hệ thống này: Sarcodina, Mastigophera, Suctoria, Psychoda,…

    R. H. Holtje (1943) đã đưa ra bảng tóm tắt các vi sinh vật hiện diện trong bể lọc sinh học nhỏ giọt. Loài vi khuẩn đầu tiên phát hiện được là dạng vi khuẩn zoogleal với các vi khuẩn nitrat hóa xảy ra trong hệ thống lọc sinh học thấp tải. Vi khuẩn dạng sợi dễ dàng phát hiện hơn vi khuẩn zoogleal, bao gồm Beggiatoa Sphaerotilus. Beggiatoa dễ dạng phát hiện khi chúng là các vi khuẩn oxy hóa sulfua dạng sợi. Các loại nấm thông thường là Fusarium Leptomitus. Ngoài ra còn có tảo lục, Stigeoclonium, và tảo xanh lục, Oscillatoria. Các loài nấm thường xuất hiện ở trên bề mặt của bể lọc nơi có ánh sáng. Protozo Amip, Protozoa flagellated, Protozoa.
    có mao bơi tự do, Protozoa có mao dạng thân, được tìm thấy ở những phần khác nhau trong bể lọc.
    nguồn: gree-vn.com
    Cty Môi Trường Tầm Nhìn Xanh
    Công ty môi trường,xử lý nước thải,xử lý khí thải

Chia sẻ trang này