1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Thành lập Tòa án Hiến pháp Việt Nam ?

Chủ đề trong 'Khoa học Pháp lý' bởi khanglawyer, 20/10/2004.

  1. 0 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 0)
  1. khanglawyer

    khanglawyer Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    11/07/2004
    Bài viết:
    186
    Đã được thích:
    0
    Thành lập Tòa án Hiến pháp Việt Nam ?

    Ngày hôm qua, (19/10/2004) Ban chỉ đạo cải cách tư pháp đã họp phiên thứ 9 thảo luận về đề án chiến lược cải cách tư pháp giai đoạn 2006-2020 dưới sự chủ trì của ************* Trần Đức Lương.

    Điểm đáng chú ý của dự thảo đề án là nghiên cứu thành lập Tòa án Hiến pháp, điều chỉnh chức năng của Viện Kiểm sát, chế định thừa phát lại.

    ************* cho rằng cách thức ban hành chiến lược theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo nhưng Đảng không làm thay Nhà nước, vậy nên phải thông qua Quốc hội vì đây là việc lớn của đất nước.

    ************* đề nghị dự thảo chiến lược về cải cách tư pháp là chiến lược dài hạn trong vòng 15 năm tới, vì thế chưa nên quy định rõ ràng nhiệm vụ của toà hiến pháp mà cần phải tiếp tục xem xét dựa trên tình hình thực tế của Việt Nam trong tương lai.

    Dự thảo chiến lược sẽ tiếp tục được lấy ý kiến hoàn thiện trước khi trình lên Bộ Chính trị vào cuối năm nay.

    (Theo báo: Người Lao Động và Thanh Niên và Pháp Luật TP HCM ngày 20/10/2004)

    Mời box Khoa học pháp lý thảo luận về việc thành lập Tòa án Hiến pháp Việt Nam.


    Được khanglawyer sửa chữa / chuyển vào 08:44 ngày 20/10/2004
  2. nquocviet235

    nquocviet235 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    12/08/2004
    Bài viết:
    62
    Đã được thích:
    0
    Tòa án Hiến pháp là một mô hình tư pháp hoàn toàn mới đối với các Nhà nước tổ chức theo mô hình xã hội chủ nghĩa. Theo đó, Tòa án Hiến pháp theo mô hình của Nhà nước Tư bản đây sẽ là một hình thức hiệu quả để check và balance với các cơ quan hành pháp và tư pháp khác. Đối với Việt Nam, theo tôi với những điều kiện về chính trị hay kinh tế và nhất là nền tảng tư pháp hiện tại thì ngay cả hệ thống Tòa hành chính hiện tại cũng còn chưa thật phù hợp, chưa nói đến Hệ thống Tòa Hiến pháp có khả năng áp dụng trong nay mai.
    Về kinh tế, Tòa án còn phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống cơ quan hành pháp. Về chính trị, Toà án là một cơ quan xét xử Nhà nước, nhưng là một cơ quan chịu sự toàn diện lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của cơ quan dân cử cũng như sự giám sát theo vụ việc của Viện kiểm sát. Ở nước ta quyền lực tập trung thống nhất có sự phân công, chứ không phải là check and balance và tất cả đều phải chịu sự lãnh đạo của Đảng. Về mặt nền tảng tư pháp, chưa thể có sự độc lập tuyệt đối, dù chúng ta có quy định khi xét xử thẩm phán và hội thẩm ngang quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nhưng đi vào thực tiễn thì điều này rất khó thực hiện do các mối quan hệ về hành chính . . . hiện nay chúng ta cũng chưa có chế độ bổ nhiệm thẩm phán suốt đời. Thêm vào đó trình độ thẩm phán của ta cũng còn rất hạn chế, rất nhiều vụ án hành chính thì chính thẩm phán do không hiểu được vấn đề lại phải đi hỏi ý kiến từ chính các cơ quan hành chính là bị đơn ?!. Nên tôi cho rằng, sự thành lập Tòa Hiến pháp như mô hình của nước Nga chẳng hạn còn chưa chín muồi trong điều kiện của Việt Nam, ít nhất là 10 -15 năm nữa. Còn đề xuất cá nhân tôi cho rằng có thể thành lập kiểu thanh tra quốc hội (Ombusman) để chế ước các cơ quan hành chính trong điều kiện và giai đoạn hiện nay là đủ.
    Nếu đi vào phân tích sâu thì rất dài, tôi chỉ xin nêu một số ý kiến cá nhân như trên, các bạn góp ý thêm.
  3. nquocviet235

    nquocviet235 Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    12/08/2004
    Bài viết:
    62
    Đã được thích:
    0
    Tòa án Hiến pháp là một mô hình tư pháp hoàn toàn mới đối với các Nhà nước tổ chức theo mô hình xã hội chủ nghĩa. Theo đó, Tòa án Hiến pháp theo mô hình của Nhà nước Tư bản đây sẽ là một hình thức hiệu quả để check và balance với các cơ quan hành pháp và tư pháp khác. Đối với Việt Nam, theo tôi với những điều kiện về chính trị hay kinh tế và nhất là nền tảng tư pháp hiện tại thì ngay cả hệ thống Tòa hành chính hiện tại cũng còn chưa thật phù hợp, chưa nói đến Hệ thống Tòa Hiến pháp có khả năng áp dụng trong nay mai.
    Về kinh tế, Tòa án còn phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống cơ quan hành pháp. Về chính trị, Toà án là một cơ quan xét xử Nhà nước, nhưng là một cơ quan chịu sự toàn diện lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của cơ quan dân cử cũng như sự giám sát theo vụ việc của Viện kiểm sát. Ở nước ta quyền lực tập trung thống nhất có sự phân công, chứ không phải là check and balance và tất cả đều phải chịu sự lãnh đạo của Đảng. Về mặt nền tảng tư pháp, chưa thể có sự độc lập tuyệt đối, dù chúng ta có quy định khi xét xử thẩm phán và hội thẩm ngang quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nhưng đi vào thực tiễn thì điều này rất khó thực hiện do các mối quan hệ về hành chính . . . hiện nay chúng ta cũng chưa có chế độ bổ nhiệm thẩm phán suốt đời. Thêm vào đó trình độ thẩm phán của ta cũng còn rất hạn chế, rất nhiều vụ án hành chính thì chính thẩm phán do không hiểu được vấn đề lại phải đi hỏi ý kiến từ chính các cơ quan hành chính là bị đơn ?!. Nên tôi cho rằng, sự thành lập Tòa Hiến pháp như mô hình của nước Nga chẳng hạn còn chưa chín muồi trong điều kiện của Việt Nam, ít nhất là 10 -15 năm nữa. Còn đề xuất cá nhân tôi cho rằng có thể thành lập kiểu thanh tra quốc hội (Ombusman) để chế ước các cơ quan hành chính trong điều kiện và giai đoạn hiện nay là đủ.
    Nếu đi vào phân tích sâu thì rất dài, tôi chỉ xin nêu một số ý kiến cá nhân như trên, các bạn góp ý thêm.
  4. No-fear

    No-fear Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    30/11/2001
    Bài viết:
    2.120
    Đã được thích:
    0
    Theo tôi, việc thành lập Toà án Hiến pháp ở Việt Nam là không phù hợp - thậm chí là không hợp hiến.
    Toà án HP thực chất là một thiết chế tư pháp, được thành lập nhằm ra pháp quyết các hành vi của QH, CP hay các văn bản do các cơ quan hành pháp, lập pháp có hợp hiến hay ko hợp hiến. Nhưng theo HP VN thì bộ máy nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc không phải là tam quyền mà là tập trung quyền lực trong đó phân công phân nhiệm.
    Toà án HP chỉ thực sự hoạt động hiệu quả và khi tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập, mà ở đó nhánh tư pháp đủ mạnh để có thể làm đối trọng với nhánh lập pháp.
    Trong tình hình hiện nay, để xây dựng một cơ chế bảo hiến ngon nghẻ, trước hết phải nghiên cứu và có nhận thức đúng đắn về cơ sở của chế độ bảo hiến. Sửa đổi HP Vn theo hướng rõ ràng hơn về dân quyền trong HP, về nguồn gốc của quyền lập hiến (quyền nguyên thuỷ phát sinh ra các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp).
    Theo tôi, nên thành lập một mô hình Uỷ ban bảo hiến (tôi dịch ko chuẩn lắm) theo mô hình của Pháp bao gồm các đại diện cho QH, ************* và CP. Uỷ ban này được thành lập nhằm giúp đỡ QH trong hoạt động bảo vệ HP và tránh những hành vi ko hợp hiến của các chủ thể. Như thế thì hay hơn là nghiên cứu thành lập toà án HP.
    Túm lại để có một cơ quan bảo hiến hoạt động ngon nghẻ và hiệu quả, quan trọng nhất là cần phải thay đổi HP hiện hành, ban hành thêm về Luật trưng cầu dân ý, quy định chi tiết dân quyền trong HP, cũng như thay đổi một số điều trong HP quy định về sửa đổi HP, hiểu rõ về cơ sở lý luận của chế độ bảo hiến là những công việc cần phải làm càng sớm càng tốt.
  5. No-fear

    No-fear Thành viên rất tích cực

    Tham gia ngày:
    30/11/2001
    Bài viết:
    2.120
    Đã được thích:
    0
    Theo tôi, việc thành lập Toà án Hiến pháp ở Việt Nam là không phù hợp - thậm chí là không hợp hiến.
    Toà án HP thực chất là một thiết chế tư pháp, được thành lập nhằm ra pháp quyết các hành vi của QH, CP hay các văn bản do các cơ quan hành pháp, lập pháp có hợp hiến hay ko hợp hiến. Nhưng theo HP VN thì bộ máy nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc không phải là tam quyền mà là tập trung quyền lực trong đó phân công phân nhiệm.
    Toà án HP chỉ thực sự hoạt động hiệu quả và khi tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập, mà ở đó nhánh tư pháp đủ mạnh để có thể làm đối trọng với nhánh lập pháp.
    Trong tình hình hiện nay, để xây dựng một cơ chế bảo hiến ngon nghẻ, trước hết phải nghiên cứu và có nhận thức đúng đắn về cơ sở của chế độ bảo hiến. Sửa đổi HP Vn theo hướng rõ ràng hơn về dân quyền trong HP, về nguồn gốc của quyền lập hiến (quyền nguyên thuỷ phát sinh ra các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp).
    Theo tôi, nên thành lập một mô hình Uỷ ban bảo hiến (tôi dịch ko chuẩn lắm) theo mô hình của Pháp bao gồm các đại diện cho QH, ************* và CP. Uỷ ban này được thành lập nhằm giúp đỡ QH trong hoạt động bảo vệ HP và tránh những hành vi ko hợp hiến của các chủ thể. Như thế thì hay hơn là nghiên cứu thành lập toà án HP.
    Túm lại để có một cơ quan bảo hiến hoạt động ngon nghẻ và hiệu quả, quan trọng nhất là cần phải thay đổi HP hiện hành, ban hành thêm về Luật trưng cầu dân ý, quy định chi tiết dân quyền trong HP, cũng như thay đổi một số điều trong HP quy định về sửa đổi HP, hiểu rõ về cơ sở lý luận của chế độ bảo hiến là những công việc cần phải làm càng sớm càng tốt.
  6. legislation

    legislation Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    26/03/2004
    Bài viết:
    131
    Đã được thích:
    0
    Chủ đề hay như thế này mà các bác chả bác nào tham gia nhỉ, thôi để em hầu tiếp các bác...
    1.Sự hình thành thiết chế giám sát Hiến pháp trên thế giới
    Trong ngôn ngữ pháp lý, ?ogiám sát HP? được hiểu là hoạt động giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm tra tính phù hợp với Hiến pháp của các văn bản do cơ quan nhà nước ban hành.
    Trong lịch sử nhà nước và pháp luật của thế giới, tư tưởng giám sát Hiến Pháp (bảo hiến) được hình thành ở Anh vào thế kỷ thứ 17. Theo đó, Hội đồng cơ mật có quyền tuyên bố văn bản do cơ quan lập pháp của các thuộc địa Anh ban hành trái với luật của Nghị viện Anh hay pháp luật chung, vì vậy văn bản đó không thể có hiệu lực và cần phải bãi bỏ.
    Tuy nhiên, tư tưởng giám sát Hiến Pháp theo nghĩa hiện hành lần đầu tiên được đề cập tại Hội nghị Lập hiến Hoa Kỳ năm 1787, và đặc biệt trong cuộc vận động phê chuẩn Hiến Pháp1787 tại hội nghị lập hiến. Bằng đa số phiếu tuyệt đối, Hội nghị đã thông qua đề nghị về việc trao cho Tổng thống (không có sự tham gia của Toà án) quyền phủ quyết đối với những dự luật do Quốc hội liên bang thông qua.
    Sau đó, Wilson một trong những đại biểu tham dự hội nghị lập hiến đã lên tiếng đề nghị Hội nghị bổ sung vào nghị quyết về sự cần thiết phải trao cho cả đại diện của cơ quan tư pháp liên bang quyền bãi bỏ dự luật do Quốc hội thông qua. Theo Wilson, thẩm quyền mà Hiến Pháptrao cho thẩm phán trong quá trình xem xét các vụ án cụ thể chưa thật đầy đủ, ?obởi lẽ, trong trường hợp khi các đạo luật lại chính là Hiến Pháp, nhưng không công bằng, không mang tính xây dựng, thuyết phục thì htẩm phán không thể gây ảnh hưởng tới những đạo luật này. Trong trường hợp thẩm phán được tham gia vào việc thực hiện quyền kiểm tra, họ sẽ có khả năng phát hiện ra những hạn chế của các đạo luật đó và bày tỏ quan điểm của mình trước những quan điểm sai trái của các nhà lập pháp?.
    Ủng hộ quan điểm của Wilson, đồng thời làm xoa dịu nỗi lo lắng về khả năng tăng cường thầm quyền quá mức cho cơ quan hành pháp và tư pháp. T.Madison khẳng định: ?oMặc dù được bổ sung cho những thẩm quyền giám sát, vẫn không thể có cơ sở cho sự tăng cường quyền lực quá mức cho cơ quan hành pháp hay cơ quan tư pháp liên bang, ngược lại, cho dù có sự hợp tác giữa hành pháp và tư pháp trong việc thực hiện quyền giám sát tìh Quốc hội liên bang vẫn mạnh hơn tất cả?.
    Bác bỏ quan điểm cho rằng, việc tạo ra một cơ chế, dù trực tiếp hay gián tiếp, liên minh giữa hai nhánh quyền hành pháp và tư pháp là vi phạm nguyên tắc phân quyền, Madison tuyên bố: ?oSự liên minh giữa hai nhánh quyền hành pháp và tư pháp trong việc thực hiện quyền giám sát không vi phạm nguyên tắc phân quyền, ngược lại sự liên minh này lại là phương tiện bảo vệ cần thiết phù hợp với nguyên tắc phân quyền. Kinh nghiệm cho thấy, nguyên tắc phân quyền chỉ được tuyên bố trong Hiến Pháp không thôi là chưa đủ, cái cần thiết ở đây là phải tạo ra sự cân bằng giữa các nhánh quyền lực và các lợi ích. Sự cân bằng này sẽ đảm bảo cho những nguyên tắc được tuyên bố trên giấy tờ trở thành hiện thực. Vì vậy tốt nhất là thay vì nỗ lực đưa vào Hiến Pháp tư tưởng mỗi nhánh quyền cần phải có vị thế độc lập, bằng việc trao cho các nhánh quyền đó một số quyền hạn nhất định tự bảo vệ. Những quyền hạn này sẽ bảo đảm hiện thực hoá tư tưởng phân quyền trong cuộc sống. Như vậy, chúng ta khkôgn hoà trộn toàn bộ các nhánh quyền với nhau, chúng ta chi rtạo ra hàng rào để bảo đảm cho các nhánh quyền được phân chia một cách độc lập?. Để chứng minh cho lập luận trên, Madison đã viện dẫn Hiến Pháp Anh, coi đây là một mô hình của cơ chế hoạt động của nguyên tắc phân quyền, trong đó mỗi nhánh quyền trong phạm vi nhất định có khả năng kiểm soát nhánh quyền khác, như vậy cũng sẽ đồng thời tham gia vào thực hiện một số quyền hạn của nhánh quyền đó. Madison còn lưu ý các đại biểu rằng, Hội nghị đã thông qua điều khoản cho phép cơ quan hành pháp tham gia vào quá trình lập pháp. Bởi vậy, bất cứ ý kiến nào phản đối sự tham gia của thẩm phán vào hoạt động giám sát đều không xác đáng chống lại quyền phủ quyết của tổng thống, trong trường hợp ngược lại sẽ dẫn đến việc từ bỏ tư tưởng giám sát.
    Cuối cùng, bằng đa số phiếu tán thành, Hội nghị đã thông qua sửa đổi do Wilson đề nghị, trao cho toà án chức năng giám sát.
    Halmiton cũng bác bỏ quan điểm rằng việc cho phép toà án tuyên bố tính hợp hiến của văn bản luật đồng nghĩa với việc trao cho nó thẩm quyền lập pháp như Quốc hội liên bang. A. Hamilton cho rằng, trong quá trình xem xét các vụ việc cụ thể, toà án có trách nhiệm phải tuân thủ đạo luật cao nhất của nhà nước và có quyền từ chối áp dụng những văn bản trái với đạo luật cao nhất đó. Trong điều kiện của nhà nước liên bang Mỹ, đạo luật cao nhất đó là Hiến Pháp, văn bản thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân về các nguyên tắc của chế độ chính trị và nhà nước, trong khi đó các thường luật do cơ quan đại diện thông qua chỉ là văn bản của những người đại diện tạm thời của nhân dân được trao cho những quyền hạn hạn chế, trong đó không có quyền thay đổi và sửa đổi chính Hiến Pháp.
    Việc chuyển hoá tư tưởng giám sát tư pháp Hiến Pháp từ những quy định trong Hiến Pháp vào thực tiễn có sự đóng góp đặc biệt quan trọng của John Marshall. Năm 1803, trong vụ án William Marbury chống James Madison, John Marshall, lúc bây giờ là chánh án Toà án tối cao Hoa Kỳ, đã phán quyết xác lập quyền của Toà án tối cao xem xét lại tính hợp hiến của bất kỳ văn bản luật nào của Quốc hội liên bang hay của cơ quan lập pháp các tiểu bang, bằng tuyên bố Hiến Pháp liên bang là đạo luật cao nhất của đất ước và vì vậy bất cứ văn bản luật nào do Quốc hội ban hành trái với Hiến Pháp, có thể bị toà án tuyên bố là không hợp hiến (Theo từ điển về chính quyền và chính trị hoa kỳ - NXB CTQG 2002 ?" tr 556-557).
    Theo gương Hoa kỳ, các nước Brazil (1891), Urugoay (1917) lần lượt xác lập quyền bảo hiến của toà án.
    Ở châu Âu, trước chiến tranh thế giới thứ hai, theo mô hình của Hoa Kỳ, các nước như Na Uy, Hy Lạp và một số bang của Thuỵ sỹ cũng thiết lập quyền bảo hiến của toà án.
    Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, các nước châu âu đã xây dựng mô hình giám sát tư pháp Hiến Pháp riêng của mình. Người khởi xướng mô hình giám sát tư pháp Hiến Pháp đó là luật sư người Đức Hans Kelsen.
    Quan điểm của H. Kelsen đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng Hiến Pháp nước Cộng hoà Áo 1920. Các học giả Áo đã gắn tên tuổi của H. Kelsen với sự xuất hiện trong Hiến Pháp Áo năm 20 thiết chế giám sát tư pháp tính hợp hiến của các đạo luật ?" toà án Hiến Pháp.
    Để xây dựng mô hình của thiết chế giám sát tư pháp Hiến Pháp, các học giả Âu châu dựa trên nền tảng của 3 luận thuyết cơ bản sau:
    Luận thuyết về tính thống nhất
    Luận thuyết về tính hệ thống
    Luận thuyết về pháp luật tự nhiên (luận thuyết khế ước xã hội).
    Tuy nhiên ở đây cần phải nhận thấy rằng, sự cần thiết phải thiết lập thiết chế giám sát Hiến Pháp xuất phát từ tính chất thứ bậc của các quy phạm pháp luật, mà tính thứ bậc của các quy phạm này lại phụ thuộc phần nhiều vào tính thứ bậc của hệ thống các cơ quan nhà nước có thầm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
    Một điểm đáng lưu ý nữa là thiết chế giám sát Hiến Pháp chỉ có thể được thiết lập ở những nước có pháp luật thành văn, Hiến Pháp với tư cách là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn đối với các văn bản quy phạm pháp luật khác.
    Được constancy sửa chữa / chuyển vào 19:51 ngày 02/03/2006
  7. legislation

    legislation Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    26/03/2004
    Bài viết:
    131
    Đã được thích:
    0
    Chủ đề hay như thế này mà các bác chả bác nào tham gia nhỉ, thôi để em hầu tiếp các bác...
    1.Sự hình thành thiết chế giám sát Hiến pháp trên thế giới
    Trong ngôn ngữ pháp lý, ?ogiám sát HP? được hiểu là hoạt động giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm tra tính phù hợp với Hiến pháp của các văn bản do cơ quan nhà nước ban hành.
    Trong lịch sử nhà nước và pháp luật của thế giới, tư tưởng giám sát Hiến Pháp (bảo hiến) được hình thành ở Anh vào thế kỷ thứ 17. Theo đó, Hội đồng cơ mật có quyền tuyên bố văn bản do cơ quan lập pháp của các thuộc địa Anh ban hành trái với luật của Nghị viện Anh hay pháp luật chung, vì vậy văn bản đó không thể có hiệu lực và cần phải bãi bỏ.
    Tuy nhiên, tư tưởng giám sát Hiến Pháp theo nghĩa hiện hành lần đầu tiên được đề cập tại Hội nghị Lập hiến Hoa Kỳ năm 1787, và đặc biệt trong cuộc vận động phê chuẩn Hiến Pháp1787 tại hội nghị lập hiến. Bằng đa số phiếu tuyệt đối, Hội nghị đã thông qua đề nghị về việc trao cho Tổng thống (không có sự tham gia của Toà án) quyền phủ quyết đối với những dự luật do Quốc hội liên bang thông qua.
    Sau đó, Wilson một trong những đại biểu tham dự hội nghị lập hiến đã lên tiếng đề nghị Hội nghị bổ sung vào nghị quyết về sự cần thiết phải trao cho cả đại diện của cơ quan tư pháp liên bang quyền bãi bỏ dự luật do Quốc hội thông qua. Theo Wilson, thẩm quyền mà Hiến Pháptrao cho thẩm phán trong quá trình xem xét các vụ án cụ thể chưa thật đầy đủ, ?obởi lẽ, trong trường hợp khi các đạo luật lại chính là Hiến Pháp, nhưng không công bằng, không mang tính xây dựng, thuyết phục thì htẩm phán không thể gây ảnh hưởng tới những đạo luật này. Trong trường hợp thẩm phán được tham gia vào việc thực hiện quyền kiểm tra, họ sẽ có khả năng phát hiện ra những hạn chế của các đạo luật đó và bày tỏ quan điểm của mình trước những quan điểm sai trái của các nhà lập pháp?.
    Ủng hộ quan điểm của Wilson, đồng thời làm xoa dịu nỗi lo lắng về khả năng tăng cường thầm quyền quá mức cho cơ quan hành pháp và tư pháp. T.Madison khẳng định: ?oMặc dù được bổ sung cho những thẩm quyền giám sát, vẫn không thể có cơ sở cho sự tăng cường quyền lực quá mức cho cơ quan hành pháp hay cơ quan tư pháp liên bang, ngược lại, cho dù có sự hợp tác giữa hành pháp và tư pháp trong việc thực hiện quyền giám sát tìh Quốc hội liên bang vẫn mạnh hơn tất cả?.
    Bác bỏ quan điểm cho rằng, việc tạo ra một cơ chế, dù trực tiếp hay gián tiếp, liên minh giữa hai nhánh quyền hành pháp và tư pháp là vi phạm nguyên tắc phân quyền, Madison tuyên bố: ?oSự liên minh giữa hai nhánh quyền hành pháp và tư pháp trong việc thực hiện quyền giám sát không vi phạm nguyên tắc phân quyền, ngược lại sự liên minh này lại là phương tiện bảo vệ cần thiết phù hợp với nguyên tắc phân quyền. Kinh nghiệm cho thấy, nguyên tắc phân quyền chỉ được tuyên bố trong Hiến Pháp không thôi là chưa đủ, cái cần thiết ở đây là phải tạo ra sự cân bằng giữa các nhánh quyền lực và các lợi ích. Sự cân bằng này sẽ đảm bảo cho những nguyên tắc được tuyên bố trên giấy tờ trở thành hiện thực. Vì vậy tốt nhất là thay vì nỗ lực đưa vào Hiến Pháp tư tưởng mỗi nhánh quyền cần phải có vị thế độc lập, bằng việc trao cho các nhánh quyền đó một số quyền hạn nhất định tự bảo vệ. Những quyền hạn này sẽ bảo đảm hiện thực hoá tư tưởng phân quyền trong cuộc sống. Như vậy, chúng ta khkôgn hoà trộn toàn bộ các nhánh quyền với nhau, chúng ta chi rtạo ra hàng rào để bảo đảm cho các nhánh quyền được phân chia một cách độc lập?. Để chứng minh cho lập luận trên, Madison đã viện dẫn Hiến Pháp Anh, coi đây là một mô hình của cơ chế hoạt động của nguyên tắc phân quyền, trong đó mỗi nhánh quyền trong phạm vi nhất định có khả năng kiểm soát nhánh quyền khác, như vậy cũng sẽ đồng thời tham gia vào thực hiện một số quyền hạn của nhánh quyền đó. Madison còn lưu ý các đại biểu rằng, Hội nghị đã thông qua điều khoản cho phép cơ quan hành pháp tham gia vào quá trình lập pháp. Bởi vậy, bất cứ ý kiến nào phản đối sự tham gia của thẩm phán vào hoạt động giám sát đều không xác đáng chống lại quyền phủ quyết của tổng thống, trong trường hợp ngược lại sẽ dẫn đến việc từ bỏ tư tưởng giám sát.
    Cuối cùng, bằng đa số phiếu tán thành, Hội nghị đã thông qua sửa đổi do Wilson đề nghị, trao cho toà án chức năng giám sát.
    Halmiton cũng bác bỏ quan điểm rằng việc cho phép toà án tuyên bố tính hợp hiến của văn bản luật đồng nghĩa với việc trao cho nó thẩm quyền lập pháp như Quốc hội liên bang. A. Hamilton cho rằng, trong quá trình xem xét các vụ việc cụ thể, toà án có trách nhiệm phải tuân thủ đạo luật cao nhất của nhà nước và có quyền từ chối áp dụng những văn bản trái với đạo luật cao nhất đó. Trong điều kiện của nhà nước liên bang Mỹ, đạo luật cao nhất đó là Hiến Pháp, văn bản thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân về các nguyên tắc của chế độ chính trị và nhà nước, trong khi đó các thường luật do cơ quan đại diện thông qua chỉ là văn bản của những người đại diện tạm thời của nhân dân được trao cho những quyền hạn hạn chế, trong đó không có quyền thay đổi và sửa đổi chính Hiến Pháp.
    Việc chuyển hoá tư tưởng giám sát tư pháp Hiến Pháp từ những quy định trong Hiến Pháp vào thực tiễn có sự đóng góp đặc biệt quan trọng của John Marshall. Năm 1803, trong vụ án William Marbury chống James Madison, John Marshall, lúc bây giờ là chánh án Toà án tối cao Hoa Kỳ, đã phán quyết xác lập quyền của Toà án tối cao xem xét lại tính hợp hiến của bất kỳ văn bản luật nào của Quốc hội liên bang hay của cơ quan lập pháp các tiểu bang, bằng tuyên bố Hiến Pháp liên bang là đạo luật cao nhất của đất ước và vì vậy bất cứ văn bản luật nào do Quốc hội ban hành trái với Hiến Pháp, có thể bị toà án tuyên bố là không hợp hiến (Theo từ điển về chính quyền và chính trị hoa kỳ - NXB CTQG 2002 ?" tr 556-557).
    Theo gương Hoa kỳ, các nước Brazil (1891), Urugoay (1917) lần lượt xác lập quyền bảo hiến của toà án.
    Ở châu Âu, trước chiến tranh thế giới thứ hai, theo mô hình của Hoa Kỳ, các nước như Na Uy, Hy Lạp và một số bang của Thuỵ sỹ cũng thiết lập quyền bảo hiến của toà án.
    Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, các nước châu âu đã xây dựng mô hình giám sát tư pháp Hiến Pháp riêng của mình. Người khởi xướng mô hình giám sát tư pháp Hiến Pháp đó là luật sư người Đức Hans Kelsen.
    Quan điểm của H. Kelsen đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng Hiến Pháp nước Cộng hoà Áo 1920. Các học giả Áo đã gắn tên tuổi của H. Kelsen với sự xuất hiện trong Hiến Pháp Áo năm 20 thiết chế giám sát tư pháp tính hợp hiến của các đạo luật ?" toà án Hiến Pháp.
    Để xây dựng mô hình của thiết chế giám sát tư pháp Hiến Pháp, các học giả Âu châu dựa trên nền tảng của 3 luận thuyết cơ bản sau:
    Luận thuyết về tính thống nhất
    Luận thuyết về tính hệ thống
    Luận thuyết về pháp luật tự nhiên (luận thuyết khế ước xã hội).
    Tuy nhiên ở đây cần phải nhận thấy rằng, sự cần thiết phải thiết lập thiết chế giám sát Hiến Pháp xuất phát từ tính chất thứ bậc của các quy phạm pháp luật, mà tính thứ bậc của các quy phạm này lại phụ thuộc phần nhiều vào tính thứ bậc của hệ thống các cơ quan nhà nước có thầm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
    Một điểm đáng lưu ý nữa là thiết chế giám sát Hiến Pháp chỉ có thể được thiết lập ở những nước có pháp luật thành văn, Hiến Pháp với tư cách là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn đối với các văn bản quy phạm pháp luật khác.
    Được legislation sửa chữa / chuyển vào 01:16 ngày 23/10/2004
  8. khanglawyer

    khanglawyer Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    11/07/2004
    Bài viết:
    186
    Đã được thích:
    0
    Vì vào thời điểm mở topic, các báo điện tử chưa đưa tin. Nay để đảm bảo tính chính xác thông tin, xin post các links để tham khảo:
    Báo Người Lao động:
    Lập tòa án hiến pháp, mở chế định thừa phát lại
    Báo Thanh niên:
    ************* Trần Đức Lương: Cải cách nhằm hoàn thiện công tác tư pháp
    Ngoài ra báo Tuổi trẻ cũng đưa tin:
    Chủ tịch Trần Đức Lương: Cải cách tư pháp để chủ động hội nhập
    Pháp luật TP HCM chưa có báo điện tử.
    Được constancy sửa chữa / chuyển vào 15:18 ngày 19/12/2005
  9. khanglawyer

    khanglawyer Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    11/07/2004
    Bài viết:
    186
    Đã được thích:
    0
    Vì vào thời điểm mở topic, các báo điện tử chưa đưa tin. Nay để đảm bảo tính chính xác thông tin, xin post các links để tham khảo:
    Báo Người Lao động:
    Lập tòa án hiến pháp, mở chế định thừa phát lại
    Báo Thanh niên:
    ************* Trần Đức Lương: Cải cách nhằm hoàn thiện công tác tư pháp
    Ngoài ra báo Tuổi trẻ cũng đưa tin:
    Chủ tịch Trần Đức Lương: Cải cách tư pháp để chủ động hội nhập
    Pháp luật TP HCM chưa có báo điện tử.
    Được khanglawyer sửa chữa / chuyển vào 09:24 ngày 24/10/2004
  10. khanglawyer

    khanglawyer Thành viên mới

    Tham gia ngày:
    11/07/2004
    Bài viết:
    186
    Đã được thích:
    0

    Trước khi trao đổi về thành lập Toà án Hiến pháp Việt Nam thiết nghĩ nên có các tài liệu liên quan.
    Nội dung dưới đây được trích từ cuốn sách " "Vụ án Đảng Cộng sản Liên Xô" tại Toà án Hiến pháp" của PH.M. Rudinxki. Sách đã được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm 2001.
    Mặc dù sách được xuất bản công khai nhưng vì vấn đề quyền tác giả và nội quy của diễn đàn, các nội dung đưa ra sẽ chỉ bao gồm tóm tắt vụ án và một số văn kiện liên quan.
    Theo quan điểm nhấn mạnh pháp quyền trong việc xây dựng nhà nước. Một yêu cầu đặt ra là bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào đều phải hoạt động tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật. Một cơ chế đảm bảo cho điều đó là cần thiết. Đặc biệt yêu cầu cải cách toàn diện của Việt Nam ngày càng trở nên cấp bách hơn. Sẽ thảo luận kỹ hơn sau.

Chia sẻ trang này