1. Tuyển Mod quản lý diễn đàn. Các thành viên xem chi tiết tại đây

Tính đến hiện giờ, chụp động mạch máu vành cản quang

Chủ đề trong 'Cuộc sống' bởi anh164953, 10/02/2017.

  1. 1 người đang xem box này (Thành viên: 0, Khách: 1)
  1. anh164953

    anh164953 Thành viên quen thuộc

    Tham gia ngày:
    23/03/2016
    Bài viết:
    205
    Đã được thích:
    0
    Tính đến hiện thời, chụp Thuốc điều trị bệnh cao huyết áp động mạch máu vành cản quang vẫn chính là phương tiện được sử dụng thoáng rộng nhất dùng làm định hình mức độ hẹp của động mạch máu vành. mặc dù được coi như tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bệnh động mạch vành nhưng
    reviews
    Cho tới hiện thời, chụp động mạch máu vành cản quang vẫn chính là phương tiện đc lạm dụng quá rộng thoải mái nhất dùng để đánh giá giai đoạn hẹp của động mạch máu vành. mặc dù được nhìn nhận như tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bệnh động mạch máu vành nhưng chụp động mạch máu vành cản quang vẫn chỉ đơn thuần giúp bác sĩ đánh giá được mức độ hẹp đường kính lòng mạch mà hoàn toàn không replay được câu hỏi liệu tổn hại đó có gây hẹp động mạch máu vành có ý nghĩa sâu sắc về mặt sinh lý bệnh không (1).
    dự trữ lưu lượng động mạch vành (CFR- Coronary Flow Reserve) đc định nghĩa là tỷ số giữa lưu lượng động mạch máu vành tối đa trong điều kiện dãn mạch & lưu lượng động mạch vành thông thường. CFR định hình năng lực gia hạn lưu lượng của động mạch vành thượng tâm mạc bị hẹp and khối hệ thống vi mạch. CFR < 2 là biểu hiện của hẹp có chân thành và ý nghĩa của động mạch máu vành thượng tâm mạc, không bình thường của hệ thống vi mạch hoặc cả hai. các đổi thay huyết động như tần số tim, huyết áp động mạch, kỹ năng co bóp của tim có thể ảnh hưởng đến lưu lượng động mạch vành and bởi vì thế ảnh hưởng đến CFR.
    Phân suất dự trữ lưu lượng (FFR- Fractional Flow Reserve) động mạch vành là 1 chỉ số giúp định hình kỹ năng gây không đủ máu tổng thể cơ tim của một tổn thương gây hẹp lòng động mạch vành and ít bị tác động bởi những nhân tố huyết động
    FFR đc tính bằng tỷ số lưu lượng dòng chảy cao nhất qua nơi hẹp (Qs) chia cho lưu lượng dòng chảy cao nhất thông thường (Qn)..
    Trong điều kiện dãn mạch Gia Công, FFR được tính theo công thức:
    FFR = Qs/Qn= Pd-Pv/Pa-Pv = Pd/Pa
    trong đó Pa là những gánh nặng động mạch máu chủ, đo đc ở đầu ống thông can thiệp; Pd là những áp lực động mạch vành đo được ở phía xa chỗ hẹp, đo được bằng dây dẫn đo áp lực (pressure wire); Pv là những áp lực tĩnh mạch trung tâm, trong ĐK dãn mạch tối đa, Pv gần bằng 0.
    tổn hại hẹp động mạch vành có FFR < 0.75 sẽ là hẹp có ý nghĩa, có tác dụng gây thiếu máu tổng thể cơ tim và nên được tái tưới máu (2-3).
    dụng cụ and cách đo FFR
    Hiện tại có ba hệ thống dây dẫn đo áp lực đang được sử dụng quá trên thế giới (SmartMap và ComboMap của Volcano Corporation; RadiAnalyzer của Radi Medical Systems). Cả ba khối hệ thống này đều dựa trên dây dẫn 0.014 inch, với bộ phận nhận cảm áp lực ở đầy dây dẫn. Dây dẫn đo những gánh nặng này có thể dễ dàng và đơn giản đi ngang qua tổn hại động mạch vành tựa như những loại dây dẫn 0.014 inch dùng trong can thiệp động mạch vành. ống dẫn thông can thiệp 6 French hoặc 7 French thường được sử dụng lúc thực hiện đo FFR.
    Heparin và nitroglycerin đc lạm dụng quá thường quy giống như trong các mẹo nhỏ tim mạch can thiệp. đường ống dẫn thông can thiệp được cài vào lỗ nguồn gốc động mạch vành có thương tổn hẹp. Dây dẫn đo những áp lực được đưa đến đầu xa đường ống thông can thiệp. sau thời điểm điều độ hai khối hệ thống những áp lực của đường ống thông và dây dẫn, dây dẫn được thường xuyên đưa xuyên thẳng qua tổn thương gây hẹp động mạch máu vành. tình trạng dãn động mạch vành cao nhất đc tạo thành bằng cách xịt thuốc dãn mạch trực tiếp vào lòng động mạch vành qua đường ống dẫn thông (IC) hoặc bằng truyền thuốc dãn mạch qua đường tĩnh mạch (IV). lúc đó FFR sẽ được tính auto.
    những thuốc dãn mạch
    Trong thực hành lâm sàng, có thể xịt thuốc dãn mạch trực tiếp vào lòng động mạch máu vành qua đường ống thông can thiệp (IC) hoặc bằng truyền thuốc dãn mạch qua đường tĩnh mạch (IV) để mà thậm chí đạt được tình trạng dãn mạch tối đa của động mạch máu vành. còn nếu như không có dãn mạch cao nhất của động mạch vành, mức độ hẹp của tổn thương sẽ ảnh hưởng đánh giá thấp hơn thực ra.
    các thuốc dãn mạch được lạm dụng rộng rãi bao gồm adenosine (4), adenosine 5-triphosphate (ATP) (5-7)), papaverine (8), dipyridamole (9) & dobutamine (10). một vài nghiên cứu và phân tích cách đây không lâu cũng sử dụng quá sodium nitroprusside (11). so sánh với adenosine IC, sodium nitroprusside IC gây dãn mạch tương đồng nhưng nối dài hơn.
    Nếu Tính đến các tiêu chí an toàn và đáng tin cậy, đơn giản, dễ lạm dụng & Ngân sách rẻ thì adenosine hoặc ATP tiêm trong tâm địa động mạch máu vành hay được dùng nhất. Trong một phân tích đo FFR của De Bruyne & cộng sự (12) trên 39 những người có bệnh, 20-40 mcg adenosine/ ATP IC gây dãn mạch tương dương với 20 mg papaverine IC. tuy vậy chỉ Adenosine/ ATP truyền tĩnh mạch hoặc Papaverine IC thậm chí gây dãn mạch kéo dài, hằng định và điều này rất cần thiết khi đo FFR ở tổn thương động mạch máu vành hẹp dài, lan toả.
    Liều Adenosine/ ATP IC thường sử dụng là 15-20 mcg so với động mạch vành phải & 20-40 mcg đối với động mạch vành trái. tuy nhiên, cho rằng liều như bên trên mà thậm chí không đủ gây dãn mạch vành cao nhất ở một vài những người có bệnh, nghiên cứu của Murtagh and tập sự (13) lạm dụng quá liều cao hơn, 42 mcg Adenosine IC cho cả động mạch vành phải và trái. đối với những người có bệnh có FFR trong khoảng 0.75- 0.80, Adenosine liều cao mà thậm chí cần thiết để đạt đc tình trạng dãn mạch cao nhất, nếu không, mức độ hẹp của tổn thương có thể bị đánh giá giảm hơn thực ra. Casella and cộng sự (14) sử dụng quá liếu Adenosine IC lên tới mức 150 mcg, & nhận ra liều cao như vậy vẫn an toàn và đáng tin cậy, chỉ ghi nhận một số trong những tác dụng phụ so với liều bình thường. Nhóm phân tích này cũng ý kiến đề xuất nên sử dụng Adenosine truyền tĩnh mạch 140 mcg/kg/phút trong những lúc đo FFR, vì liều truyền tĩnh mạch máu này gia hạn trạng thái dãn mạch xuất sắc hơn tiêm trong tâm địa động mạch máu vành.
    phần mềm trong lâm sàng
    định hình thương tổn trung gian

    thương tổn gây hẹp 40-70% đường kính lòng động mạch máu vành thỉnh thoảng rất khó xác định trên Hình ảnh chụp động mạch vành cản quang. Đo FFR là một trong biện pháp giúp phân biệt một tổn hại như vậy sự thật có ý nghĩa sâu sắc gây thiếu máu toàn cục cơ tim hay không. Trong nghiên cứu được xem là nền tảng của FFR do Pijls & cộng sự thực hiện vào năm 1996 (2), FFR < 0.75 liên quan ngặt nghèo với tình trạng thiếu máu toàn thể cơ tim and có sự đối sánh tương quan có ý nghĩa sâu sắc với các phương pháp chẩn đoán không cung cấp đủ máu tổng thể cơ tim không xâm nhập khác như trắc nghiệm gắng sức bằng xe đạp, xạ ký cơ tim bằng thallium & siêu âm tim gắng sức bằng dobutamine, với độ nhạy 88%, độ chuyên biệt 100% và tài năng tiên đoán đúng mực 93%.
    kết quả theo dõi 5 năm của nghiên cứu DEFER (15) có phát ngôn năm 2007 trên những người mắc bệnh có tổn hại trung gian của động mạch vành cũng cho biết sự an toàn của việc không can thiệp qua da động mạch vành ở các tổn thương có FFR # 0.75. Nhóm những người mắc bệnh này có tỉ lệ tử trận tim mạch & nhồi máu cơ tim cực thấp, < 1% năm.
    FFR ở những người có bệnh đái tháo đường
    Ở những người mắc bệnh đái tháo đường, thương tổn khối hệ thống vi mạch mà thậm chí làm thay đổi đáp ứng dãn mạch của mạch máu so với thuốc dãn mạch, và hệ quả là đo FFR có thể không phản ánh đúng đắn mức độ thiếu máu tổng thể cơ tim ở nhóm những người mắc bệnh này. tuy nhiên, môt nhóm phân tích ở Nhât phiên bản đặt ra các dữ liệu cho biết giới hạn dưới 0.75 của FFR vẫn an toàn và đáng tin cậy để phát hiện thiếu máu tổng thể cơ tim. Yanagisawa and cộng sự (16) đối chiếu FFR & Ảnh SPECT trong công việc bắt gặp không đủ máu cục bộ cơ tim ở Thuốc điều trị sau đặt stent mạch vành những những người mắc bệnh đái tháo đường với HbA1c bằng 7.3%. kết quả cho biết FFR < 0.75 vẫn an toàn với độ nhạy and độ chuyên biệt lần lượt bằng 83% và 75%.

Chia sẻ trang này